Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hành vi vi phạm quảng cáo hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Pháp luật Việt Nam về hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Luận văn Thạc sĩ “Pháp luật Việt Nam về hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh” là công trình nghiên cứu về các quy định pháp luật hiện hành trong lĩnh vực quảng cáo vi phạm cạnh tranh không lành mạnh tại Việt Nam.
Luận văn bắt đầu bằng việc xác định những khái niệm cơ bản về hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, và đánh giá thực trạng quy định pháp luật hiện hành tại Việt Nam, đặc biệt là các văn bản quan trọng như Luật Cạnh tranh 2018, Luật Quảng cáo 2012 và các văn bản pháp luật liên quan. Mặc dù đã có những bước tiến quan trọng trong việc điều chỉnh hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, nhưng hệ thống pháp luật vẫn còn nhiều bất cập. Các văn bản pháp luật đôi khi thiếu tính nhất quán, mâu thuẫn về quy định xử phạt và chưa có sự đồng bộ giữa các cơ quan thực thi pháp luật. Ngoài ra, vấn đề lớn là mức xử phạt đối với hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh vẫn còn thấp, chưa đủ sức để răn đe đối các đối tượng vi phạm.
Để hoàn thiện pháp luật về hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, các đề xuất được đã được đưa ra với mục đích đảm bảo sự thống nhất và hiệu quả giữa Luật Cạnh tranh với các luật liên quan, đồng thời học hỏi kinh nghiệm từ các nước phát triển để điều chỉnh và nâng cao tính minh bạch, hiệu quả trong pháp luật Việt Nam.
Từ khóa: vi phạm quảng cáo, cạnh tranh không lành mạnh, quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh, pháp luật Việt Nam.
ABSTRACT Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hành vi vi phạm quảng cáo.
The master’s thesis “Vietnamese Law on Advertising Violations for Unfair Competition” studies the current legal regulations governing advertising violations related to unfair competition in Vietnam.
The thesis begins by identifying the basic concept of unfair competition in advertising, which is reflected in the use of misleading information, deceptive practices, or negative competitive tactics aimed at gaining an advantage in the market. The thesis assesses the current legal regulations in Vietnam, focusing on key documents such as the 2018 Competition Law, the 2012 Advertising Law, and related legal texts. Although significant progress has been made in regulating unfair competition in advertising, the legal system still exhibits several shortcomings. Legal documents are sometimes inconsistent and conflicting in terms of penalties, and there is a lack of coordination among law enforcement agencies. Furthermore, a major issue is that the fines imposed for advertising violations remain low, failing to effectively deter violators.
To improve the legal framework addressing advertising violations aimed at unfair competition, the author proposes ensuring consistency between the Competition Law and related laws while learning from the experiences of developed countries. These adjustments aim to enhance the transparency and effectiveness of Vietnam’s legal system.
Keywords: advertising violations, unfair competition, advertising for unfair competition, Vietnamese law.
LỜI MỞ ĐÂU
1. GIỚI THIỆU
1.1. Đặt vấn đề
Tại Việt Nam, hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh đang trở thành một vấn đề đáng lo ngại trong quá trình hội nhập kinh tế với nhiều thách thức phải đối mặt, với sự gia tăng của những chiến lược quảng cáo không lành mạnh đến từ các chủ thể kinh doanh. Các hình thức quảng cáo không lành mạnh này không chỉ làm mất lòng tin của người tiêu dùng, khách hàng mà còn làm biến tướng môi trường cạnh tranh, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển bền vững của thị trường kinh doanh.
Luận văn nghiên cứu đề cập đến quy định của pháp luật hiện hành về hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, để từ đó đưa ra đánh giá những ưu điểm, những hạn chế mang tính bất cập trong quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam. Trên cơ sở đó, tác giả sẽ đề xuất một số giải pháp mang tính khoa học góp phần hoàn thiện pháp luật về hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh tại Việt Nam trong thời gian tới.
1.2. Tính cấp thiết của đề tài Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hành vi vi phạm quảng cáo.
Sự hội nhập cũng như phát triển mạnh mẽ của kinh tế Việt Nam đã và đang mở ra cơ hội và thuận lợi cho đất nước phát triển và cải thiện đời sống của người dân. Tuy nhiên, đối với sự chuyển đổi mạnh mẽ của nền kinh tế và quan hệ kinh tế ngày càng phát triển đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước, nhằm đảm bảo ổn định kinh tế và tạo môi trường thuận lợi cho các quan hệ kinh tế phát triển, trong đó bao gồm việc thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh. Thế nhưng, mặt trái của việc này cũng gây ra nhiều thách thức khi vi phạm về cạnh tranh không lành mạnh diễn biến phức tạp, cụ thể là trong quảng cáo, với tính chất ngày càng tinh vi và sử dụng công nghệ cao.
Trong bối cảnh này, nghiên cứu pháp luật Việt Nam về hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh không chỉ là cần thiết mà còn đặc biệt quan trọng. Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế và tham gia vào các hiệp định thương mại quốc tế, đặc biệt là Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), đã cam kết tuân thủ chặt chẽ các quy định về cạnh tranh công bằng và quảng cáo lành mạnh. Do đó, việc nghiên cứu và phân tích sâu hơn về các quy định pháp luật hiện hành, cũng như đề xuất biện pháp cần thiết để củng cố hệ thống pháp luật về quảng cáo trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.
Mặc dù đã có những nỗ lực từ phía cơ quan quản lý để kiểm soát và hạn chế hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, tuy nhiên, hiệu quả của các biện pháp này vẫn còn hạn chế. Cụ thể trong 5 năm tính từ 2018 – 2023, theo Báo cáo thường niên của Cục CT&BVNTD và Báo cáo thường niên của UBCTQG công bố trên website của Bộ Công thương – Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia (https://www.bvntd.gv.vn/) vẫn thường xuyên xuất hiện những trường hợp khiếu nại giữa các chủ thể kinh doanh về hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh; hoặc thời gian gần đây là tình hình kéo dài chưa giải quyết dứt điểm các quảng cáo không đúng sự thật về các sản phẩm đa chức năng được “thần thánh hóa” gây ảnh hưởng đến các doanh nghiệp kinh doanh chân chính. Qua đó cho thấy thực trạng tồn tại các hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh trong nhiều năm qua, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết trong việc hoàn thiện pháp luật để nâng cao hiệu quả xử lý và phòng ngừa các hành vi vi phạm này.
Bên cạnh đó, công tác giám sát và xử lý vi phạm trong lĩnh vực quảng cáo vẫn chưa đạt được mức độ mong muốn, cùng với đó là sự thiếu sót trong việc định rõ và thực thi các quy định pháp luật liên quan đến hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh. Đơn cử như tình hình của UBCTQG, mặc dù LCT 2018 quy định thẩm quyền giải quyết các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh thuộc về cơ quan này, nhưng UBCTQG chỉ bắt đầu hoạt động đầy đủ từ đầu năm 2023. Trước thời điểm này, các vụ việc liên quan đến cạnh tranh không lành mạnh được xử lý bởi Cục CT&BVQLNTD, điều này gây nên sự mâu thuẫn trong quy định và khả năng thực thi.
Do đó, nghiên cứu pháp luật Việt Nam về hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh là cấp thiết và có ý nghĩa quan trọng để ngăn chặn và xử lí những hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, đưa ra các đề xuất nhằm cải tiến chính sách pháp luật và tạo điều kiện cạnh tranh công bằng trong thị trường kinh doanh của Việt Nam. Từ các vấn đề thực tiễn trên, đề tài “Pháp luật Việt Nam về hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh” đã được tác giả lựa chọn để thực hiện. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hành vi vi phạm quảng cáo.
2. TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU
- Một số công trình nghiên cứu có liên quan dưới đây đã được nghiên cứu:
Luận án Tiến sĩ “Pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam hiện nay” (Hồ Thị Duyên, 2016) đã triển khai phương pháp luận bao gồm việc hệ thống hóa cơ sở lý luận, tiến hành khảo sát, thực hiện so sánh, phân tích chi tiết, đưa ra bình luận và so sánh với pháp luật của các quốc gia. Trong quá trình này, luận án đã tổng kết tình trạng thực tế đang diễn ra tại thời điểm hoàn thành và đề xuất các giải pháp nhằm cung cấp đóng góp quan trọng để hoàn thiện pháp luật liên quan đến hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
Luận văn Thạc sĩ “Cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay” (Nguyễn Ngọc Tân, 2019) đã tiến hành phân tích và nhận diện các nguyên nhân, mâu thuẫn, chồng chéo và những điểm chưa rõ ràng hoặc bất hợp lý trong các quy định pháp luật về hoạt động quảng cáo. Những hạn chế này gây cản trở đến khả năng thực thi trong thực tế, ảnh hưởng đến việc duy trì cạnh tranh lành mạnh. Trên cơ sở những phát hiện này, tác giả đã đưa ra các kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam, cùng với các quy định pháp luật về quảng cáo.
Tuy hai bài luận án và luận văn kể trên dựa trên LCT 2004 nhưng có đối tượng nghiên cứu gần giống với đề tài nghiên cứu này nên có thể dùng làm tài liệu tham khảo. Bên cạnh đó còn có:
Luận văn Thạc sĩ “Pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, qua thực tiễn Thành phố Đà Nẵng” (Trần Thị Thúy Hằng, 2023) làm rõ cơ sở làm rõ những khái niệm, bất cập của hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh tại Thành phố Đà Nẵng, để từ đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
Ngoài ra còn có các bài đăng tạp chí như: “Giải pháp hạn chế cạnh tranh không lành mạnh trong nền kinh tế thị trường” (Nguyễn Hoàn Hảo, 2019); “Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh trong doanh nghiệp và một số kiến nghị” (Vũ Ngọc Tuấn, 2019);…
Qua tìm hiểu, nhận thấy đã có nhiều công trình nghiên cứu về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo bằng pháp luật hiện hành từ những góc độ khác nhau. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu này thường chỉ giới hạn ở một số khu vực hoặc trường hợp cụ thể, chưa thực sự bao quát được toàn bộ tình hình trên phạm vi toàn quốc. Đặc biệt, sau khi LCT 2018 được ban hành và có hiệu lực, với những điểm mới mang tính đột phá, việc nghiên cứu toàn diện về hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh vẫn chưa được thực hiện một cách đầy đủ và hệ thống. Điều này dẫn đến một khoảng trống nghiên cứu quan trọng, khi mà những thay đổi trong Luật Cạnh tranh năm 2018 có thể ảnh hưởng sâu rộng đến việc áp dụng pháp luật và thực tiễn xử lý các hành vi vi phạm này.
Chính vì vậy, việc lựa chọn nghiên cứu vấn đề này trong bối cảnh hiện nay không chỉ góp phần làm rõ hơn những điểm mới của LCT 2018 mà còn cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn để đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả của pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo tại Việt Nam và xử lí, ngăn chặn các hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh. Đây vừa là một thuận lợi khi đề tài còn nhiều khía cạnh mới mẻ để khai thác, vừa là thách thức đòi hỏi sự nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và mang tính thực tiễn cao để giải quyết các vấn đề còn tồn đọng và đóng góp tích cực vào hệ thống pháp luật cạnh tranh nước nhà.
3. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hành vi vi phạm quảng cáo.
3.1. Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận của pháp luật về các hành vi vi phạm quy định về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo bằng pháp luật dân sự, luật cạnh tranh, luật quảng cáo và các luật có liên quan, luận giải thực trạng quản lý và chính sách pháp đối với hành vi vi phạm quy định về quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh đã được trình bày, để từ đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật và hiệu quả thực hiện pháp luật về quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam.
3.2. Mục tiêu cụ thể
Luận văn tập trung nghiên cứu các mục tiêu cụ thể như sau:
- Phân tích, luận giải các lý luận, khái niệm về “hành vi vi phạm quy định về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo”.
- Đánh giá thực trạng quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật đối với các “hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh” để xứ lý, ngăn chặn hành vi vi phạm tại Việt Nam.
- Làm rõ những tồn tại, hạn chế và đề xuất, kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện các “quy định của pháp luật đối với các hành vi vi phạm quy định về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo” của Việt Nam để xứ lý, ngăn chặn hành vi vi phạm.
4. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
- Câu hỏi 1: Nhà nước quy định như thế nào về “pháp luật đối với các hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh” ở Việt Nam hiện nay?
- Câu hỏi 2: Những điểm hạn chế và bất cập trong việc áp dụng “quy định xử lý đối với các hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh” trên thực tiễn hiện nay có những hạn chế, bất cập gì?
- Câu hỏi 3: Cần có kiến nghị gì để khắc phục những hạn chế, bất cập của “pháp luật đối với các hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh” ở Việt Nam để xứ lý, ngăn chặn hành vi vi phạm?
5. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
5.1. Đối tượng nghiên cứu Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hành vi vi phạm quảng cáo.
Đề tài nghiên cứu các quy định pháp luật về hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam hiện nay.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Nghiên cứu những vấn đề lý luận đối với các hành vi vi phạm quy định về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo nhằm xử lí, ngăn chặn hành vi vi phạm qua việc tìm hiểu, đánh giá nội dung của các quy định pháp luật về hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh. Nghiên cứu chủ yếu dựa trên quy định của LCT 2018, ngoài ra các quy định trong LQC 2012 và các luật liên quan cũng được xem xét.
Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật đối với các hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh trong quảng cáo trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
Về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu trong vòng 5 năm gần nhất, từ khi LCT 2018 được sửa đổi đến năm 2023, và có tham khảo số liệu của các năm trước đó để làm dẫn chứng.
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để hoàn thành nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu sau đây đã được sử dụng một cách đồng bộ:
Tại Chương 1, luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, phương pháp diễn dịch nhằm làm rõ, hệ thống hóa cơ sở lý luận của pháp luật Việt Nam về hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
Tại Chương 2, luận văn sử dụng phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp và phương pháp đánh giá để chỉ rõ thực trạng pháp luật về hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh tại Việt Nam. Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích thực trạng của pháp luật Việt Nam đối với các hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, nhận xét, đánh giá về những ưu điểm, hạn chế, những bất cập trong các quy định và quá trình áp dụng pháp luật hiện nay đã được đưa ra. Từ đó làm có sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật ở Chương 2 của bài nghiên cứu nhằm ngăn chặn các hành vi vi phạm.
7. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hành vi vi phạm quảng cáo.
Bên cạnh phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn được kết cấu 2 chương:
Chương 1. Lý luận và Pháp luật về hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
Nội dung chương này trình bày các khái niệm về quảng cáo, cạnh tranh không lành mạnh để từ đó rút ra nhận xét về hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh và phân tích làm rõ thực trạng quy định của pháp luật điều chỉnh hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh đối với các chủ thể liên quan.
Chương 2. Thực tiễn áp dụng pháp luật đối với hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh và một số kiến nghị hoàn thiện.
Nội dung chương này trình bày về các nhóm các hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh theo pháp luật Việt Nam và các hình thức chế tài xử lý hiện hành.
Đồng thời, những đánh giá chung về pháp luật đối với hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, những ưu điểm và hạn chế khi áp dụng pháp luật vào thực tiễn cũng được thảo luận trong chương này.
Bên cạnh đó, một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật đối với các các hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh nhằm ngăn chặn các hành vi vi phạm cũng sẽ bao gồm trong Chương 2.
8. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
- Về phương diện lý luận:
Đóng góp về khoa học: Bài nghiên cứu mong muốn góp phần làm sáng rõ thêm các vấn đề lý luận của pháp luật về các hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế. Nghiên cứu cũng đảm bảo sự thống nhất giữa quy định của BLDS 2015, LCT 2018 , LQC 2012, và các nghị định, văn bản hướng dẫn liên quan.
Những đề xuất của luận văn góp phần vào việc hoàn thiện các quy định của pháp luật cũng như hiệu quả áp dụng pháp luật đối với các hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh trong tình hình Việt Nam hội nhập nền kinh tế hiện nay.
Về phương diện thực tiễn: Đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo dành cho các đối tượng tìm hiểu về pháp luật đối với các hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh và góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong lĩnh vực quảng cáo nhằm giảm thiểu cạnh tranh không lành mạnh.
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ HÀNH VI VI PHẠM QUẢNG CÁO NHẰM CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
1.1. Khái quát về hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
1.1.1. Khái niệm về quảng cáo Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hành vi vi phạm quảng cáo.
Theo định nghĩa của Hiệp hội Quảng cáo Mỹ (AMA), “quảng cáo là hoạt động truyền bá thông tin trong đó nói rõ ý đồ của quảng cáo, tuyên truyền hàng hóa, dịch vụ của quảng cáo trên cơ sở thu phí quảng cáo, không trực tiếp nhằm công kích người tiêu dùng” (Kurian, 2013). Còn theo Từ điển tiếng Việt thì “quảng cáo là nói nhà buôn hay cơ quan kinh doanh làm cho mọi người biết đến hàng hóa của mình” (Hoàng Phê, 2006). Qua đó có thể giải nghĩa quảng cáo là sự trình bày để giới thiệu rộng rãi cho nhiều người biết về sản phẩm nhằm tiếp cận được nhiều khách hàng. Theo đó, bản chất của quảng cáo là phổ biến thông tin liên quan tới hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng đó, để đem về lợi nhuận thông qua hình ảnh, thông điệp hay sức thuyết phục về sản phẩm hay dịch vụ của người bán. Trong đó, chủ thể của hoạt động quảng cáo là nhà kinh doanh, còn chủ thể tiếp nhận quảng cáo là người tiêu dùng.
Dưới góc độ pháp lý, khái niệm “quảng cáo” được quy định tại Điều 2 LQC 2012 “quảng cáo là việc sử dụng các phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có mục đích sinh lợi; sản phẩm, dịch vụ không có mục đích sinh lợi; tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ được giới thiệu, trừ tin thời sự, chính sách xã hội; thông tin cá nhân” (Quốc hội, 2012), và Điều 102 LTM 2005 (sửa đổi và bổ sung năm 2017, 2019) “quảng cáo thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân để giới thiệu với khách hàng về hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của mình” (Quốc hội, 2015). Từ những định nghĩa trên có thể hiểu, quảng cáo là việc thông qua phương tiện nhằm giới thiệu sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ của mình đến công chúng, đến khách hàng, qua đó kích thích nhu cầu mua sản phẩm, dịch vụ của họ, và việc giới thiệu này có thể nhằm mục đích lợi nhuận hoặc không nhằm mục đích lợi nhuận.
1.1.2. Khái niệm về cạnh tranh không lành mạnh
Từ điển ngôn ngữ tiếng Anh định nghĩa “cạnh tranh” (competition) là “một sự kiện hoặc cuộc đua, theo đó các đối thủ ganh đua để giành phần hơn hay ưu thế tuyệt đối về phía mình” (Đại học Quốc gia Hà Nội, 2020). Tương tự, Từ điển tiếng Việt mô tả “cạnh tranh” là “cố gắng giành phần hơn, phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm những lợi ích như nhau” (Hoàng Phê, 2006). Có thể nói, cạnh tranh là một quy luật tất yếu của một nền kinh tế và là một trong những phương thức quan trọng để thúc đẩy sự phát triển kinh tế cũng như điều tiết thị trường. Cạnh tranh không chỉ tạo động lực cho các doanh nghiệp đổi mới, sáng tạo trong hoạt động sản xuất kinh doanh, mà còn thúc đẩy họ nỗ lực không ngừng nhằm thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng và thị trường.
Về bản chất, cạnh tranh từ góc độ kinh tế là sự ganh đua giữa các thương nhân nhằm giành giật khách hàng. Kết quả của cuộc cạnh tranh thường dẫn đến việc bên chiến thắng mở rộng thị trường và tăng lợi nhuận, trong khi bên thua cuộc bị giảm thiểu khách hàng và thậm chí phải rút lui khỏi thị trường. Đây là một phần tất yếu, buộc các nhà kinh doanh phải không ngừng cải tiến và nâng cao nguồn lực để có thể tồn tại trên thị trường. Tuy nhiên, cạnh tranh chỉ diễn ra khi có ít nhất hai doanh nghiệp cùng cung cấp ra thị trường những sản phẩm tương tự nhau, hướng đến cùng một đối tượng khách hàng. Ví dụ, khó có thể bắt gặp một doanh nghiệp sản xuất giấy cạnh tranh với một doanh nghiệp sản xuất ô tô. Do đó, cạnh tranh xuất hiện khi các chủ thể kinh doanh là đối thủ của nhau và thể hiện sự tranh giành khách hàng thông qua nhiều cách thức khác nhau, trong đó quảng cáo là một hình thức phổ biến.
Tuy nhiên, không phải cạnh tranh nào cũng sẽ nhằm thúc đẩy hoạt động kinh doanh phát triển theo hướng tích cực, mà trên thực tế không ít những cuộc cạnh tranh gây tác động tiêu cực cho nền kinh tế, và đó gọi là “cạnh tranh không lành mạnh”. Theo Điều 10 của Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp năm 1883 (được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1900, 1911, 1925, 1934, 1958, 1967 và tổng sửa đổi năm 1979) định nghĩa về “cạnh tranh không lành mạnh” là “bất cứ hành động nào trái với tập quán trung thực trong công nghiệp và thương mại đều bị coi là hành động cạnh tranh không lành mạnh” (Công ước Paris, 1883).
1.1.3. Khái niệm, đặc điểm về hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hành vi vi phạm quảng cáo.
Trong lĩnh vực quảng cáo, hành vi vi phạm nhằm cạnh tranh không lành mạnh có thể được hiểu là sự kết hợp giữa các hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh và yếu tố đặc thù của hoạt động quảng cáo. LQC 2012 không đưa ra định nghĩa cụ thể về hành vi vi phạm này mà chỉ liệt kê tại Điều 8 các hành vi bị cấm trong hoạt động quảng cáo, trong đó có Khoản 12 đề cập đến “quảng cáo có nội dung cạnh tranh không lành mạnh theo quy định của pháp luật về cạnh tranh” (Quốc hội, 2013). Như vậy, để hiểu và xác định cụ thể, ta cần tham khảo các quy định tại LCT hiện hành.
Dựa vào LCT 2018 và thực tế áp dụng thì hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh có thể được chia thành hai nhóm như sau:
Nhóm “hành vi lợi dụng ưu thế của doanh nghiệp khác” và “hành vi công kích hoặc gây trở ngại”: Nhóm hành vi này thường liên quan đến việc xâm phạm bí mật kinh doanh, hoặc lợi dụng thành quả của người khác để tạo ra lợi thế cho mình,…
Các doanh nghiệp uy tín trên thị trường thường là mục tiêu của những hành vi này. Nhóm này bao gồm những hành vi tấn công trực tiếp vào đối thủ cạnh tranh, nhằm làm suy giảm lợi thế cạnh tranh của đối thủ. Ví dụ, doanh nghiệp có thể tác động đến uy tín của đối thủ thông qua các chiến dịch truyền thông tiêu cực hoặc lan truyền thông tin sai lệch.
Nhóm “hành vi lôi kéo khách hàng”: Đây là nhóm hành vi khá phổ biến trong thị trường cạnh tranh hiện nay. Doanh nghiệp thực hiện các chiến lược để thu hút khách hàng từ đối thủ, thông qua các chương trình khuyến mại, giảm giá hoặc các chiến dịch quảng cáo sáng tạo.
Những hành vi vi phạm này không chỉ gây hại cho các doanh nghiệp bị ảnh hưởng mà còn làm xấu đi môi trường kinh doanh, do đó cần được xử lý và ngăn chặn kịp thời theo quy định của pháp luật.
Áp dụng định nghĩa này vào lĩnh vực quảng cáo, các hành vi bị xem là vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh bao gồm việc công kích, cố ý hạ thấp đối thủ cạnh tranh, lôi kéo khách hàng, sử dụng thông tin sai lệch hoặc gây nhầm lẫn về sản phẩm để đạt được lợi ích không chính đáng, làm trái với đạo đức kinh doanh.
Từ các phân tích trên, có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản của hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh như sau: Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hành vi vi phạm quảng cáo.
Thứ nhất, mục tiêu kinh tế rõ ràng là đặc điểm nổi bật, khi các hành vi vi phạm được thực hiện bởi doanh nghiệp với mục đích tối đa hóa lợi ích kinh tế cho chính mình. Điều này thường được thực hiện thông qua các chiến lược quảng cáo sai lệch, gian dối hoặc bôi nhọ đối thủ, nhằm thu hút khách hàng, mở rộng thị phần hoặc tạo ra lợi thế cạnh tranh không chính đáng. Các doanh nghiệp thực hiện những hành vi này thường đặt lợi nhuận và mục tiêu kinh doanh lên trên các giá trị đạo đức và chuẩn mực thị trường.
Thứ hai, hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh có tính chất đối lập với các nguyên tắc và thông lệ kinh doanh lành mạnh. Những hành vi này thường vi phạm các quy định pháp luật, đi ngược lại những chuẩn mực về trung thực, thiện chí và tập quán thương mại được công nhận lâu dài trên thị trường. Đặc biệt, trong bối cảnh nền kinh tế ngày càng phát triển, sự cạnh tranh trở nên gay gắt hơn, làm gia tăng tần suất các hành vi không lành mạnh dưới hình thức quảng cáo. Việc doanh nghiệp lợi dụng các khoảng trống pháp lý hoặc sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng để thực hiện quảng cáo sai lệch đã và đang làm suy yếu sự công bằng và minh bạch trong kinh doanh.
Thứ ba, tác động tiêu cực sâu rộng của hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh gây thiệt hại môi trường cạnh tranh lành mạnh trên thị trường. Những hành vi này không chỉ gây thiệt hại trực tiếp cho các đối thủ cạnh tranh, làm giảm doanh thu, uy tín hoặc thị phần của họ, mà còn ảnh hưởng đến quyền lợi của người tiêu dùng khi thông tin quảng cáo sai lệch dẫn đến những quyết định tiêu dùng không chính xác. Hơn nữa, việc tồn tại các hành vi vi phạm quảng cáo còn làm suy giảm niềm tin của công chúng vào thị trường, gây mất ổn định môi trường kinh doanh và ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế.
Các hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh không chỉ xâm phạm các nguyên tắc đạo đức kinh doanh mà còn đi ngược lại các quy định pháp luật, gây bất ổn cho môi trường kinh doanh. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với việc hoàn thiện khung pháp lý để xử lý hiệu quả và ngăn chặn các hành vi này trong bối cảnh kinh tế ngày càng phát triển.
1.2. Pháp luật về hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hành vi vi phạm quảng cáo.
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của pháp luật về hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
1.2.1.1. Khái niệm pháp luật về hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
Quảng cáo đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sản phẩm, dịch vụ đến với người tiêu dùng, giúp doanh nghiệp nâng cao nhận diện thương hiệu và gia tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường. Tuy nhiên, trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt, một số doanh nghiệp đã lợi dụng quảng cáo như một công cụ để thực hiện các hành vi không lành mạnh, gây tổn hại đến quyền lợi của đối thủ cạnh tranh, người tiêu dùng và làm suy giảm tính minh bạch của thị trường. Pháp luật về hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh được xây dựng nhằm ngăn chặn những hành vi này, tạo dựng một môi trường kinh doanh lành mạnh, công bằng và minh bạch.
Bên cạnh đó, vai trò của cạnh tranh trong việc cân bằng thị trường cũng rất cần thiết, tạo động lực cho các doanh nghiệp phát triển và đổi mới không ngừng. Tuy nhiên, một số doanh nghiệp đã lợi dụng điều này để thực hiện những hành vi vượt ngoài khuôn khổ, gây ra cạnh tranh quá mức. Nhà nước vừa phải có trách nhiệm không tạo ưu thế hay gây bất lợi cho các đối thủ cạnh tranh, vừa phải kịp thời ngăn chặn các thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh. Vì thế, LCT ra đời nhằm ngăn chặn các hành vi của doanh nghiệp nhằm tạo lợi thế cạnh tranh không chính đáng trước các đối thủ khác, đảm bảo một môi trường kinh doanh công bằng và lành mạnh.
Năm 2004, Quốc hội ban hành LCT đầu tiên với khái niệm tại Khoản 4 Điều 3 “hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng” (Quốc hội, 2014). Điều này đã chứng tỏ sự quan tâm đến từ Nhà nước đối với thị trường đồng thời là sự ảnh hưởng của hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh lên hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nói riêng và môi trường kinh doanh nói chung. Nhận thấy, định nghĩa về hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh trong LCT 2004 tương tự với định nghĩa của Điều 10bis Công ước Paris 1883 về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và định nghĩa về hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh được thể hiện qua những điểm chính như: (i) Hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh do các chủ thể kinh doanh trên thị trường thực hiện; (ii) Hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh phải nhằm mục đích cạnh tranh; (iii) Hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh là hành vi trái với chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, đó là những hành vi đi ngược lại với pháp luật, thông lệ, tập quán kinh doanh;
Hành vi vi phạm cạnh tranh không lãnh mạnh phải gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích của doanh nghiệp khác hoặc của người tiêu dùng. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hành vi vi phạm quảng cáo.
Đến năm 2018, tại Khoản 6 Điều 3 LCT 2018 định nghĩa về hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh đã có sự kế thừa những quy định phù hợp của LCT 2004 và được phát triển, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn. Cụ thể, quy định “hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi của doanh nghiệp trái với nguyên tắc thiện chí, trung thực, tập quán thương mại và các chuẩn mực khác trong kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác” (Quốc hội, 2018). Đây dường như là một khái niệm mở rộng hơn, nhằm phản ánh sự đa dạng của các phương thức cạnh tranh không lành mạnh trong bối cảnh nền kinh tế ngày càng phát triển. Yếu tố đánh giá về tính lành mạnh của hành vi cạnh tranh tại LCT 2018 đã được quy định cụ thể và chi tiết hơn so với LCT 2004. Cụ thể, thay vì chỉ quy định chung các chuẩn mực đạo đức kinh doanh, LCT 2018 đã nhấn mạnh nguyên tắc thiện chí, trung thực và tập quán thương mại. Hơn nữa, định nghĩa mới trong LCT 2018 tập trung vào việc xem xét tác động của hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh đối với các doanh nghiệp khác, thay vì bao gồm cả tác động đến người tiêu dùng và trật tự quản lý của Nhà nước như trong LCT 2004.
Sự khác biệt về định nghĩa “hành vi cạnh tranh không lành mạnh” giữa LCT 2004 và LCT 2018 được thể hiện qua việc: mở rộng đối tượng thực hiện hành vi, cụ thể hóa khái niệm đạo đức kinh doanh của LCT 2004 trên nguyên tắc “thiện chí, trung thực”, tập quán thương mại và những hành vi ứng xử chuẩn mực của một tổ chức kinh tế là doanh nghiệp hoặc cá nhân kinh doanh và hậu quả của hành vi này chỉ tác động đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác, còn lợi ích của Nhà nước và quyền lợi của người tiêu dùng không còn được quy định.
Tóm lại, pháp luật cạnh tranh ở nước ta đã đưa ra định nghĩa về hành vi cạnh tranh không lành mạnh được thể hiện rất rõ ràng trong LCT hiện hành. Tại định nghĩa này, tiêu chí đánh giá quan trọng nhất về tính lành mạnh hoặc không lành mạnh của một hành vi cạnh tranh không lành mạnh được thể hiện qua chủ thể thực hiện, mục đích thực hiện, cách thức thực hiện hành vi và hậu quả của hành vi gây ra.
Như vậy, có thể hiểu rằng “hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh là các hành vi cụ thể do các chủ thể kinh doanh thực hiện, với mục tiêu cạnh tranh gây tổn hại cho khách hàng, đối thủ cạnh tranh hoặc môi trường kinh doanh”.
Theo LCT 2018, hành vi vi phạm quảng cáo được xem là không lành mạnh khi nó đi ngược lại các nguyên tắc về thiện chí, trung thực, và tập quán thương mại, gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp khác. Các hành vi phổ biến bao gồm quảng cáo gây nhầm lẫn về chất lượng, giá cả hoặc xuất xứ sản phẩm; quảng cáo so sánh thiếu cơ sở nhằm bôi nhọ uy tín của đối thủ; và quảng cáo gian dối để lừa dối người tiêu dùng. Từ đó có thể thấy hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh thường biểu hiện qua các hình thức sau:
Quảng cáo gây nhầm lẫn: Đây là hành vi cung cấp thông tin sai lệch, không đầy đủ hoặc gây nhầm lẫn về sản phẩm/dịch vụ, như về chất lượng, giá cả, xuất xứ, hoặc tính năng. Ví dụ, một doanh nghiệp quảng cáo sản phẩm là “hàng nhập khẩu chính hãng” trong khi thực tế là hàng giả mạo hoặc nội địa kém chất lượng.
Quảng cáo so sánh không lành mạnh: So sánh trực tiếp hoặc gián tiếp sản phẩm/dịch vụ của mình với đối thủ nhằm hạ bệ đối thủ một cách thiếu cơ sở, không trung thực. Ví dụ, một doanh nghiệp tuyên bố sản phẩm của mình tốt hơn sản phẩm của đối thủ mà không đưa ra bất kỳ bằng chứng đáng tin cậy nào. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hành vi vi phạm quảng cáo.
Quảng cáo gian dối: Đây là hành vi sử dụng các chiêu trò để lừa dối người tiêu dùng, như làm sai lệch thông tin quan trọng hoặc che giấu các khuyết điểm của sản phẩm. Chẳng hạn, quảng cáo một loại thực phẩm chức năng có khả năng “chữa bệnh” nhưng không được kiểm định bởi cơ quan chức năng.
Quảng cáo bôi nhọ, xúc phạm: Các nội dung quảng cáo nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp bôi nhọ danh dự, uy tín của đối thủ cạnh tranh. Ví dụ, sử dụng thông tin sai lệch để làm giảm lòng tin của khách hàng vào sản phẩm/dịch vụ của đối thủ.
Quảng cáo bằng cách lợi dụng tâm lý sợ hãi hoặc ép buộc: Sử dụng các thông điệp mang tính đe dọa hoặc ép buộc người tiêu dùng, khiến họ cảm thấy phải mua sản phẩm/dịch vụ để tránh rủi ro.
1.2.1.2. Đặc điểm pháp luật về hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
Đặc điểm của hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh thể hiện qua ba khía cạnh chính: (i) Mục tiêu của hành vi vi phạm thường là gia tăng lợi nhuận cho chính doanh nghiệp thực hiện. Các doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều cách thức khác nhau để thu hút hoặc giành giật khách hàng từ đối thủ, với mục đích cuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận; (ii) Tính chất đối lập với nguyên tắc của các hành vi này là điều đáng chú ý, khi chúng đi ngược lại các nguyên tắc và thông lệ tốt trong kinh doanh – những quy tắc vốn được chấp nhận rộng rãi và duy trì lâu dài trên thị trường. Đặc biệt, trong bối cảnh nền kinh tế ngày càng phát triển và dần rời xa mô hình kinh doanh tập trung, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh có xu hướng trở nên phổ biến hơn; (iii) Tác động tiêu cực của các hành vi này cần được xử lý kịp thời, bởi chúng có thể gây thiệt hại hoặc đe dọa lợi ích của các doanh nghiệp khác. Mặc dù cách tiếp cận và quan điểm pháp luật của mỗi quốc gia có thể khác nhau, nhưng điểm chung là sự cần thiết phải bảo vệ sự công bằng trong kinh doanh và duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh.
Từ những phân tích nêu trên, những đặc điểm về hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh có thể được đưa ra như sau: Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hành vi vi phạm quảng cáo.
Thứ nhất, hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh là một hành vi mang tính chất thương mại. Điều này xuất phát từ việc chủ thể thực hiện hành vi là các thương nhân kinh doanh trên thị trường, với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận thông qua các hoạt động sản xuất, phân phối, mua bán hàng hóa và dịch vụ. Các thương nhân này có thể trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua bên thứ ba để thực hiện hoạt động quảng bá sản phẩm, dịch vụ và thương hiệu của mình đến với người tiêu dùng; có thể đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện của thương nhân tại Việt Nam nhưng cần đảm bảo chấp hành theo Điều 103 “Quyền quảng cáo thương mại” của LTM 2005 (sửa đổi và bổ sung năm 2017, 2019). Mục đích của hoạt động quảng cáo này là thu hút sự chú ý của khách hàng, tăng cường nhận diện thương hiệu và cuối cùng là thu lợi nhuận từ việc bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ. Do đó, với tính chất thương mại của hành vi vi phạm này, quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh được coi là một hành vi thương mại.
Thứ hai, hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh vi phạm các nguyên tắc và chuẩn mực thông thường trong kinh doanh. Các nguyên tắc và chuẩn mực này bao gồm những quy tắc xử sự chung được chấp nhận rộng rãi, lâu dài trong hoạt động kinh doanh, hoặc các quy định cụ thể do pháp luật cạnh tranh quy định. Đây là đặc điểm quan trọng nhất để xác định tính chất “không lành mạnh” của hành vi quảng cáo. Việc xác định một hành vi quảng cáo có vi phạm các chuẩn mực này hay không cần dựa trên động cơ, mục đích, hình thức và hậu quả của hành vi đó theo khung pháp lý của luật cạnh tranh và các chuẩn mực kinh doanh khác.
Thứ ba, hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại đến các chủ thể kinh doanh khác, người tiêu dùng hoặc lợi ích chung của Nhà nước. Việc xác định hành vi vi phạm cần xem xét đến hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả đó. Hành vi này phải gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại đến một hoặc nhiều đối tượng, bao gồm lợi ích chung của Nhà nước, cộng đồng, quyền và lợi ích của các doanh nghiệp khác, đặc biệt là những doanh nghiệp cùng thị trường và người tiêu dùng. Trong đó, người tiêu dùng được coi là đối tượng yếu thế trong mối quan hệ với các doanh nghiệp.
Thứ tư, mối quan hệ giữa quảng cáo và hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh. Quảng cáo và hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh có mối liên hệ mật thiết khi một số doanh nghiệp sử dụng quảng cáo để làm sai lệch thông tin, gây nhầm lẫn hoặc so sánh không công bằng nhằm lôi kéo khách hàng một cách không trung thực. Những hành vi vi phạm bao gồm quảng cáo sai sự thật về sản phẩm hoặc bôi nhọ đối thủ cạnh tranh, tạo ra những ấn tượng sai lệch về chất lượng và uy tín. Kết quả là, không chỉ đối thủ cạnh tranh bị thiệt hại mà lòng tin của người tiêu dùng cũng bị xói mòn, làm mất niềm tin vào thị trường. Điều này dẫn đến một môi trường kinh doanh thiếu lành mạnh, nơi các doanh nghiệp không dựa vào chất lượng thực sự mà dùng đến các chiến lược cạnh tranh tiêu cực. Vì vậy, mối quan hệ giữa quảng cáo và hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh là một vấn đề đáng quan tâm, đòi hỏi các quy định và biện pháp kiểm soát chặt chẽ từ các cơ quan chức năng để bảo vệ quyền lợi của cả doanh nghiệp cũng như người tiêu dùng, đồng thời duy trì một môi trường kinh doanh công bằng và minh bạch.
1.2.2. Nội dung pháp luật về hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hành vi vi phạm quảng cáo.
1.2.2.1. Khung pháp lý điều chỉnh
Khung pháp lý điều chỉnh về hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh được xây dựng dựa trên hệ thống các văn bản pháp luật liên quan nhằm điều chỉnh, ngăn chặn và xử lý các hành vi sử dụng quảng cáo để cạnh tranh không lành mạnh. Tại Việt Nam, khung pháp lý này chủ yếu được quy định trong LCT hiện hành và các văn bản hướng dẫn thi hành, kết hợp với các luật chuyên ngành như LQC 2012, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010, và Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung). Cụ thể, tại Điều 45 LCT 2018 đã đưa ra các nguyên tắc chung về hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị cấm, trong đó có bao gồm những hành vi như cung cấp thông tin gian dối, gây nhầm lẫn, hoặc bôi nhọ danh tiếng của đối thủ,… và những hành vi vi phạm này cũng áp dụng đối với cả hình thức quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh. Đồng thời, các nghị định và thông tư hướng dẫn chi tiết cũng được ban hành để cụ thể hóa các quy định trong luật, giúp việc áp dụng pháp luật trở nên thống nhất và hiệu quả. Ngoài ra, khung pháp lý của Việt Nam cũng tiếp cận theo hướng hài hòa với các điều ước quốc tế như Công ước Paris 1883 về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, nhằm bảo vệ lợi ích doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh quốc tế. Nhìn chung, khung pháp lý này không chỉ tạo hành lang pháp lý minh bạch, rõ ràng để quản lý hoạt động quảng cáo, mà còn đảm bảo duy trì sự công bằng, minh bạch trong cạnh tranh, đồng thời bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng và các doanh nghiệp trên thị trường quảng cáo và cạnh tranh.
1.2.2.2. Chủ thể pháp luật hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
Không thể phủ nhận rằng cạnh tranh là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Các doanh nghiệp phải chấp nhận cạnh tranh như một yếu tố tất yếu để duy trì và phát triển. Tuy nhiên, một số doanh nghiệp lợi dụng điều này để thực hiện các hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh nhằm chiếm lĩnh thị trường và loại bỏ đối thủ, gây tổn hại đến nền kinh tế. Trước tình hình đó, nhiều quốc gia đã kịp thời ban hành các chính sách và pháp luật về cạnh tranh nhằm tạo ra một môi trường cạnh tranh bình đẳng và văn minh. Là một phần của pháp luật cạnh tranh, phạm vi áp dụng và đối tượng điều chỉnh của pháp luật về cạnh tranh cũng bao gồm cả các quy định về quảng cáo nhằm đảm bảo tính cạnh tranh lành mạnh.
Về đối tượng áp dụng các quy định pháp luật về quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh quy định tại Điều 2 LCT 2018, những đối tượng này bao gồm “cá nhân, tổ chức thực hiện hoạt động kinh doanh, cơ quan, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có liên quan, và các hiệp hội ngành, nghề hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam” (Quốc hội, 2018). Đây là bước tiến mới của LCT 2018 khi mở rộng đối tượng áp dụng, không chỉ là các doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp mà còn bao gồm cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài có liên quan đến quá trình cạnh tranh và điều tiết cạnh tranh trên thị trường.
Chủ thể thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh được xác định là các doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh doanh trên thị trường. Khái niệm “doanh nghiệp” trong trường hợp này được hiểu theo nghĩa rộng, “bao gồm cả tổ chức và cá nhân hoạt động với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận một cách thường xuyên và chuyên nghiệp, hoặc theo quy định của pháp luật thương mại là những thực thể có tư cách pháp lý của thương nhân”. Bên cạnh đó, theo “Giáo trình Luật Cạnh tranh” (Trường Đại học Luật Hà Nội, 2020) thì “phạm vi điều chỉnh của các quy định về cạnh tranh không lành mạnh có thể mở rộng đến các hành vi của các nhóm doanh nghiệp có tổ chức (chẳng hạn như hiệp hội) hay các cá nhân hoạt động tự do trong các ngành nghề như bác sĩ, luật sư, kiến trúc sư,…” (tr. 287-288). Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hành vi vi phạm quảng cáo.
Về chủ thể thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo, đó là các cá nhân, tổ chức, hoặc doanh nghiệp tham gia vào các hoạt động quảng cáo. Chủ thể này có thể bao gồm cả những đơn vị trực tiếp thực hiện quảng cáo (như các doanh nghiệp quảng cáo sản phẩm/dịch vụ của mình) và những bên liên quan khác như công ty truyền thông, đại lý quảng cáo, hoặc các cá nhân chịu trách nhiệm thiết kế và triển khai chiến dịch quảng cáo. Điểm chung của các chủ thể này là họ đều có lợi ích kinh tế liên quan đến hoạt động quảng cáo và cạnh tranh trên thị trường. Tuy nhiên, thay vì cạnh tranh lành mạnh dựa trên chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ, họ lựa chọn các phương thức không công bằng, chẳng hạn như cung cấp thông tin sai lệch, bóp méo sự thật, hoặc tấn công uy tín của đối thủ cạnh tranh. Chủ thể có thể là những người có quyền lực trong doanh nghiệp như giám đốc, trưởng phòng marketing, hoặc các nhân viên trực tiếp phụ trách mảng quảng cáo, nhưng trách nhiệm pháp lý thường thuộc về tổ chức hoặc doanh nghiệp mà họ đại diện. Trong pháp luật cạnh tranh, việc xác định rõ ràng chủ thể vi phạm là rất quan trọng, bởi vì điều này liên quan trực tiếp đến việc áp dụng các biện pháp xử phạt và bảo vệ quyền lợi của các bên bị ảnh hưởng bởi hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
1.2.2.3. Nhóm các hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
Với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế – xã hội hiện nay, quảng cáo đã trở thành một công cụ quan trọng giúp các doanh nghiệp cạnh tranh với các đối thủ. Sự đa dạng trong các hình thức quảng cáo ngày càng gia tăng, một phần nhờ vào sự phát triển mạnh mẽ của internet. Tuy nhiên, do chi phí dịch vụ quảng cáo hiện tại thường ở mức cao, hoạt động này thường bị hạn chế hoặc không được tham gia bởi các doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong khi các doanh nghiệp lớn với nguồn lực tài chính dồi dào chiếm ưu thế. Điều này tạo ra bất lợi đáng kể cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong bối cảnh cạnh tranh. Mặt khác, các quy định pháp luật về hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh, đặc biệt là trong lĩnh vực quảng cáo, vẫn chưa được hệ thống hóa đầy đủ tại Việt Nam, dẫn đến khó khăn cho các doanh nghiệp khi thực hiện các hoạt động quảng cáo.
Khác với LCT 2004, LCT 2018 đã thay đổi cách tiếp cận đối với hành vi vi phạm quảng cáo (và khuyến mại) nhằm cạnh tranh không lành mạnh. Cụ thể, LCT 2018 đã thay thế thuật ngữ “quảng cáo và khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh” bằng khái niệm “lôi kéo khách hàng bất chính”, nhằm phản ánh một cách khái quát hơn các hành vi không trung thực trong cạnh tranh. Mặc dù phạm vi điều chỉnh của khái niệm mới rộng hơn, nhưng tại Khoản 5 Điều 45 LCT 2018 lại chỉ quy định hai nhóm hành vi cụ thể, thay vì ba nhóm như trong LCT 2004. Hai nhóm hành vi vi phạm này bao gồm: (i) “Đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về doanh nghiệp hoặc hàng hóa, dịch vụ, khuyến mại, điều kiện giao dịch liên quan đến hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp nhằm thu hút khách hàng của doanh nghiệp khác” (Quốc hội, 2014); (ii) “So sánh hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác nhưng không chứng minh được nội dung” (Quốc hội, 2014).
Có thể nhận thấy rằng LCT không quy định chi tiết các hành vi hợp pháp mà doanh nghiệp có thể sử dụng trong hoạt động quảng cáo, mà chỉ xác định các hành vi bị cấm. Cách tiếp cận này phù hợp với nguyên tắc Hiến pháp, theo đó công dân có quyền thực hiện tất cả các hành vi không bị pháp luật cấm. Bằng việc chỉ quy định các hành vi bị cấm, pháp luật sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp có sự chủ động và tự do trong việc lựa chọn các phương thức quảng cáo hàng hóa và dịch vụ của mình. Doanh nghiệp được phép thực hiện bất kỳ hình thức quảng cáo nào miễn là không trái với quy định pháp luật. Và trong hệ thống pháp luật Việt Nam, cũng như ở nhiều quốc gia khác, các hành vi quảng cáo như so sánh, bắt chước và gây nhầm lẫn được xác định là các hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hành vi vi phạm quảng cáo.
Theo quy định của các quốc gia trên toàn cầu, bao gồm cả Việt Nam, các quy định cơ bản về pháp luật liên quan đến quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh đều tập trung vào việc xác định các nhóm hành vi vi phạm cụ thể và cơ chế pháp lý để điều chỉnh những hành vi đó, cũng như các biện pháp xử lý các vi phạm. Đánh giá hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh được thực hiện dựa trên các tiêu chí tương tự như tiêu chí đánh giá hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh, cụ thể:
1.2.2.3.1. Nhóm các hành vi vi phạm mang tính chất lợi dụng, công kích
Hành vi “lợi dụng ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác” và “công kích đối thủ cạnh tranh” xuất hiện với nhiều hình thức đa dạng như: khai thác trái phép thành quả đầu tư của các doanh nghiệp khác, xâm phạm bí mật kinh doanh, cung cấp thông tin không đúng sự thật về đối thủ kinh doanh, làm sai lệch thông tin về nguồn gốc hàng hóa và dịch vụ của đối thủ,… Nhìn chung, bản chất của những hành vi vi phạm này là chiếm đoạt hoặc sử dụng bất hợp pháp các lợi thế cạnh tranh của đối thủ, đặc biệt trong bối cảnh công nghệ phát triển nhanh chóng hiện nay, có thể dẫn đến sự hiểu lầm của người tiêu dùng về nguồn gốc sản phẩm. Đây là những hành vi có điểm tương đồng với “vi phạm quyền sở hữu trí tuệ”, với sự khác biệt chính nằm ở đối tượng bị xâm hại.
Nhóm hành vi này có chung đặc điểm là nhắm đến việc tấn công đối thủ cạnh tranh, làm suy giảm hoặc loại bỏ các lợi thế cạnh tranh của họ. Các hành vi điển hình bao gồm việc cung cấp thông tin sai lệch nhằm hạ thấp uy tín của đối thủ, cản trở trực tiếp hoạt động kinh doanh của họ, hoặc lôi kéo, mua chuộc nhân viên và đối tác của đối thủ. Mặc dù những hành vi này không phổ biến và đôi khi khó phát hiện hơn so với các hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh khác, các chủ thể liên quan có thể áp dụng các quy định pháp luật dân sự hoặc hình sự về gây thiệt hại và bồi thường để giải quyết tranh chấp một cách triệt để, thay vì chỉ dựa vào các quy định riêng về cạnh tranh không lành mạnh.
Theo đó, hình thức thực hiện nhóm hành vi vi phạm này trong quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh thường là thông qua việc “quảng cáo xúc phạm uy tín, danh dự, nhân phẩm của tổ chức, cá nhân” (Quốc hội, 2012) theo quy định tại Khoản Điều 8 của LQC 2012 và“quảng cáo bằng việc sử dụng phương pháp so sánh trực tiếp về giá cả, chất lượng, hiệu quả sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của mình với giá cả, chất lượng, hiệu quả sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cùng loại của tổ chức, cá nhân khác” (Quốc hội, 2012) theo quy định tại Khoản 10 Điều 8 LQC 2012 nhằm so sánh hàng hóa hoặc dịch vụ thiếu căn cứ. Ngoài ra, tại Khoản 3 Điều LCT 2018“cung cấp thông tin không trung thực về doanh nghiệp khác bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp đưa thông tin không trung thực về doanh nghiệp gây ảnh hưởng xấu đến uy tín, tình trạng tài chính hoặc hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó” (Quốc hội, 2018) và Điểm b Khoản 5 Điều LCT 2018 “so sánh hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác nhưng không chứng minh được nội dung” (Quốc hội, 2018) cũng cho thấy một góc nhìn về các hành vi vi phạm mang tính chất lợi dụng, công kích. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hành vi vi phạm quảng cáo.
Hành vi so sánh nhằm cạnh tranh không lành mạnh có thể được hiểu là việc lợi dụng uy tín của đối thủ hoặc công kích trực tiếp đối thủ cạnh tranh. Doanh nghiệp có thể thực hiện hành vi so sánh bằng nhiều phương pháp khác nhau, chẳng hạn như đưa ra các quảng cáo so sánh hàng hóa hoặc dịch vụ của mình với các sản phẩm cùng loại của đối thủ, làm nổi bật các thông tin nhằm tạo ra sự nhận diện thương hiệu. Trong khi hoàn toàn cấm hành vi so sánh trực tiếp giữa các doanh nghiệp, LCT 2018 không áp dụng cấm tuyệt đối mà chỉ cấm những hành vi so sánh thiếu căn cứ và không có chứng minh hợp lý về nội dung được so sánh, bao gồm hành vi vi phạm quảng cáo so sánh nói chung và hành vi vi phạm quảng cáo so sánh cụ thể.
Các hành vi vi phạm có tính chất lợi dụng và công kích để gây cản trở hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đối thủ thường nhằm mục tiêu làm suy yếu hoặc loại bỏ lợi thế cạnh tranh của đối thủ. Những hành vi này phần nào dẫn đến thiệt hại lớn, và các bên bị ảnh hưởng thường chọn sử dụng pháp luật dân sự để yêu cầu bồi thường thiệt hại thay vì nhờ cơ quan quản lý cạnh tranh can thiệp. Trong trường hợp các hành vi này gây ra hậu quả nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng thì có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật hình sự.
1.2.2.3.2. Nhóm các hành vi vi phạm mang tính chất lôi kéo khách hàng
Các hành vi vi phạm nhằm “lôi kéo khách hàng từ các doanh nghiệp đối thủ” thường có ảnh hưởng trực tiếp đến người tiêu dùng. Trong quá trình thực hiện quảng cáo, các doanh nghiệp có xu hướng cung cấp thông tin có lợi nhất cho bản thân và thường cường điệu hóa các đặc điểm của sản phẩm hoặc dịch vụ để thu hút khách hàng. Những hành vi này có thể bao gồm việc cung cấp thông tin gây ấn tượng mạnh mẽ, dẫn đến việc người tiêu dùng hiểu sai về chất lượng, giá cả, và công dụng của hàng hóa hoặc dịch vụ. Kết quả là, sự hiểu lầm này có thể ảnh hưởng đến quyết định mua sắm của khách hàng, khiến họ ưu tiên lựa chọn sản phẩm dựa trên thông tin không chính xác.
Điều này được quy định tại Điểm a Khoản 5 Điều LCT 2018, trong đó lôi kéo khách hàng bất chính bằng các hình thức“đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về doanh nghiệp hoặc hàng hóa, dịch vụ, khuyến mại, điều kiện giao dịch liên quan đến hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp nhằm thu hút khách hàng của doanh nghiệp khác” (Quốc hội, 2018). Trong khuôn khổ quy định pháp luật về quảng cáo, hành vi quảng cáo vượt mức nhằm lôi kéo khách hàng được nêu tại Khoản 11 Điều 8 LQC 2012 là một trong những hành vi bị cấm. Cụ thể, hành vi này liên quan đến việc sử dụng các từ ngữ như “nhất”, “duy nhất”, “tốt nhất”, “số một” hoặc các từ ngữ tương tự mà không có tài liệu chứng minh hợp pháp theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Thực tế hiện nay cho thấy nhiều sản phẩm hàng hóa bị quảng cáo với những tuyên bố phóng đại về công dụng và chất lượng. Hành vi này không chỉ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng, khi họ có thể chọn mua sản phẩm dựa trên thông tin không chính xác, mà còn tác động tiêu cực đến nền kinh tế bằng cách làm rối loạn thị trường hàng hóa và giảm sự tin tưởng của người tiêu dùng vào các quảng cáo.
Dựa trên quy định tại Khoản 9 Điều 8 của LQC 2012 “quảng cáo không đúng hoặc gây nhầm lẫn về khả năng kinh doanh, khả năng cung cấp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ; về số lượng, chất lượng, giá, công dụng, kiểu dáng, bao bì, nhãn hiệu, xuất xứ, chủng loại, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đã đăng ký hoặc đã được công bố” (Quốc hội, 2012), việc đưa thông tin không chính xác thông qua hình thức quảng cáo không những cản trở cạnh tranh, mà còn khiến môi trường cạnh tranh trở nên méo mó (Phạm Tố Uyên, 2023).
Thông tin gian dối được định nghĩa là những thông tin không phản ánh đúng sự thật, trong khi thông tin gây nhầm lẫn có thể không hoàn toàn sai lệch nhưng thiếu đầy đủ và dễ dẫn đến hiểu lầm. Các loại thông tin có tính chất gian dối và gây nhầm lẫn có thể được phân loại dựa trên nội dung như sau: (i) Thông tin liên quan đến doanh nghiệp và đối thủ cạnh tranh, bao gồm uy tín và năng lực của hai bên; (ii) Thông tin về hàng hóa hoặc sản phẩm của doanh nghiệp và đối thủ cạnh tranh; (iii) Thông tin về các điều kiện giao dịch liên quan đến sản phẩm của doanh nghiệp và đối thủ cạnh tranh; (iv) Thông tin về các chương trình khuyến mại của doanh nghiệp và đối thủ cạnh tranh. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hành vi vi phạm quảng cáo.
Theo đó, quảng cáo gian dối được hiểu là hành vi quảng cáo cung cấp thông tin sai lệch nhằm mục đích lừa dối người tiêu dùng. Trong khi đó, quảng cáo gây nhầm lẫn không nhất thiết phải chứa thông tin sai, nhưng có thể thiếu sót về độ đầy đủ và rõ ràng, dẫn đến sự hiểu nhầm của người tiêu dùng về sản phẩm, dịch vụ, hoặc doanh nghiệp thực hiện quảng cáo. Tương tự như quy định tại nhiều quốc gia khác, pháp luật cạnh tranh Việt Nam đã quy định hai loại hành vi vi phạm này. Khi thực hiện quảng cáo gian dối hoặc gây nhầm lẫn, doanh nghiệp có thể tác động tiêu cực đến cả khách hàng hiện tại và khách hàng tiềm năng của đối thủ, dẫn đến việc khách hàng có thể thay đổi quyết định lựa chọn nhà sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ dựa trên thông tin không chính xác. Hành vi này không chỉ gây thiệt hại trực tiếp cho người tiêu dùng mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến các đối thủ cạnh tranh và làm giảm tính minh bạch của thị trường. Các hành vi vi phạm có thể bao gồm việc cung cấp thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn liên quan đến giá cả, số lượng, chất lượng, công dụng, hoặc kiểu dáng của sản phẩm,…
Hành vi đưa thông tin gian dối hoặc thông tin gây nhầm lẫn qua quảng cáo hiện đang là một dạng vi phạm pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh phổ biến. Những hành vi này phản ánh tính chất thiếu trung thực của doanh nghiệp trong quá trình thực hiện quảng cáo. Khi thực hiện hoạt động quảng cáo, việc cung cấp thông tin chính xác và đầy đủ về nguồn gốc, công dụng, và tính năng của sản phẩm là cần thiết để người tiêu dùng có thể đưa ra quyết định chính xác trước khi sử dụng hàng hóa hoặc dịch vụ. Tuy nhiên, một số doanh nghiệp có thể cố tình đưa ra thông tin sai lệch hoặc không đầy đủ về các yếu tố này, dẫn đến sự hiểu lầm từ phía người tiêu dùng. Khi người tiêu dùng dựa vào những thông tin sai lệch hoặc thiếu sót để quyết định sử dụng sản phẩm hoặc dịch vụ, họ có thể phải chịu thiệt hại đáng kể. Đặc biệt, những hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn liên quan đến thực phẩm hoặc thuốc chữa bệnh có thể gây ra thiệt hại nghiêm trọng không chỉ cho người tiêu dùng mà còn cho nền kinh tế. Bên cạnh đó, hành vi quảng cáo không trung thực cũng gây thiệt hại cho các đối thủ cạnh tranh và làm giảm tính minh bạch của thị trường hàng hóa và dịch vụ.
Việc đưa các hành vi như quảng cáo lừa dối, khuyến mại nhử mồi, chào hàng quấy rối hoặc ép buộc vào phạm vi điều chỉnh của pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh vẫn còn nhiều tranh cãi. Những hành vi này bản chất là nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh không công bằng để thu hút khách hàng và người tiêu dùng. Đối tượng chính chịu tác động trực tiếp từ các hành vi này là khách hàng, trong khi các doanh nghiệp cạnh tranh chỉ bị ảnh hưởng gián tiếp thông qua việc mất khách hàng. Trong nhiều trường hợp, thu hút khách hàng bằng các biện pháp không hợp pháp còn vi phạm nguyên tắc tự do ý chí trong giao dịch dân sự. Vì vậy, ở một số quốc gia, những hành vi này không thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh không lành mạnh mà chịu sự quản lý của các quy định chung trong pháp luật dân sự, thương mại, luật bảo vệ người tiêu dùng và các quy định đặc thù theo từng ngành nghề kinh tế. Theo “Giáo trình Luật Cạnh tranh của Trường Đại học Luật Hà Nội”, tại Việt Nam thì “hành vi quảng cáo và cung cấp thông tin sai lệch không chỉ nằm trong LCT mà còn được quy định trong các văn bản pháp luật khác như BLDS, LTM, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Dược và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” (tr. 293-294) (Trường Đại học Luật Hà Nội, 2020).
Tuy nhiên, cần nhận thấy rằng tác động của các hành vi này không chỉ dừng lại ở việc lôi kéo một số khách hàng và khiến các đối thủ mất thị phần. Quan trọng hơn, những hành vi này còn làm giảm tính minh bạch của thị trường, gây cản trở trong những giao dịch giữa các bên tham gia, và ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ môi trường kinh doanh. Chính vì vậy, các quy định điều chỉnh những hành vi này vẫn đóng vai trò thiết yếu trong hệ thống pháp luật cạnh tranh, đặc biệt là trong các chế định về cạnh tranh không lành mạnh, ở nhiều quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển.
1.3. Thực trạng pháp luật về hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hành vi vi phạm quảng cáo.
1.3.1. Quy định pháp luật về chủ thể thực hiện hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
Các chủ thể tham gia vào các hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh bao gồm cả tổ chức và cá nhân kinh doanh, thường hoạt động trên thị trường với mục tiêu lợi nhuận một cách thường xuyên và chuyên nghiệp hơn, được gọi chung là doanh nghiệp. Theo Khoản 1 Điều 2 LCT 2018 và Điều 1 LQC 2012, hai luật này đều áp dụng cho đối tượng là cả tổ chức và cá nhân kinh doanh, bao gồm “doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, doanh nghiệp hoạt động trong các ngành, lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam” (Quốc hội, 2018).
Việc tổ chức thực hiện các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong quảng cáo không chỉ ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường kinh doanh và quyền lợi của người tiêu dùng mà còn làm suy giảm lòng tin của công chúng vào thị trường. Điều này có thể dẫn đến những hệ quả lâu dài đối với uy tín và hình ảnh của chính các tổ chức vi phạm. Do đó, để đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong kinh doanh, các tổ chức cần tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật, đồng thời xây dựng chiến lược quảng cáo trung thực và có trách nhiệm. Việc duy trì môi trường kinh doanh lành mạnh và bền vững không chỉ là trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước mà còn là nghĩa vụ của mỗi doanh nghiệp trong quá trình hoạt động và phát triển trên thị trường.
1.3.2. Quy định pháp luật về các chế tài xử lý hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hành vi vi phạm quảng cáo.
Trong lĩnh vực quảng cáo, pháp luật không chỉ quy định về các hành vi vi phạm quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh mà còn thiết lập các cơ chế xử lý và chế tài đối với những hành vi vi phạm này. Quá trình xử lý các vi phạm pháp luật cạnh tranh bao gồm việc xác định và áp dụng các hình thức trách nhiệm pháp lý đối với cá nhân hoặc tổ chức có hành vi vi phạm. Trách nhiệm pháp lý được hiểu là những hậu quả bất lợi mà các đối tượng vi phạm phải chịu theo quy định của pháp luật, và có thể chia thành ba loại chính: trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự.
Hình thức xử lý các vi phạm cạnh tranh bao gồm các biện pháp pháp lý đối với doanh nghiệp hoặc cá nhân vi phạm quy định về cạnh tranh không lành mạnh. Hiện nay, các chế tài này có thể bao gồm phạt tiền, đình chỉ hoạt động hoặc áp dụng các biện pháp khác nhằm đảm bảo việc thực thi pháp luật và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan.
Chế tài đối với hành vi vi phạm quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh là các hình thức trách nhiệm pháp lý do Nhà nước áp đặt lên các chủ thể kinh doanh, buộc họ phải chịu những hậu quả bất lợi do đã thực hiện các hành vi vi phạm quảng cáo không lành mạnh, gây thiệt hại cho các doanh nghiệp và các bên liên quan khác. Như đã được phân tích trước đó, các hình thức xử lý đối với các hành vi vi phạm này bao gồm chế tài hành chính, chế tài dân sự và chế tài hình sự theo quy định tại Khoản 1 Điều 110 LCT 2018. Cụ thể:
1.3.2.1. Chế tài hành chính
Chế tài này được quy định tại Khoản 2 Điều 110 của LQC 2018 “đối với mỗi hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh, tổ chức, cá nhân vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính sau đây: a. cảnh cáo; b. phạt tiền” (Quốc hội 2018). Điều này cũng tương đồng với quy định tại Điều 111 LCT 2018 và được hướng dẫn tại “Nghị định 75/2019/NĐ-CP ngày 26 tháng 9 năm 2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh” (gọi tắt là “Nghị định 75/2019/NĐ-CP”). Phụ thuộc vào mức độ, tính chất của hành vi vi phạm mà tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh sẽ bị áp dụng hình thức xử phạt vi phạm hành chính khác nhau, có thể là cảnh cáo hoặc phạt tiền.
Theo quy định tại Điều 22 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 thì cảnh cáo được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không nghiêm trọng, có tình tiết giảm nhẹ và được quyết định bằng hình thức văn bản. Cách thức xử phạt này là phù hợp với ý nghĩa của nguyên tắc xử lý vì phạm hành chính là giáo dục nhiều hơn trừng phạt. Thông qua hình thức xử phạt cảnh cáo, doanh nghiệp hoặc cá nhân có hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh sẽ không bị coi là có án tích nhưng sẽ phải chịu những tổn thất về uy tín nhất định. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hành vi vi phạm quảng cáo.
Hình thức phạt cảnh cáo được áp dụng đối với cá nhân hoặc tổ chức vi phạm hành chính lần đầu, đặc biệt là trong trường hợp vi phạm không nghiêm trọng và có các tình tiết giảm nhẹ. Quyết định về việc áp dụng hình thức phạt cảnh cáo được thực hiện bằng văn bản chính thức. Trong lĩnh vực quảng cáo, nếu một doanh nghiệp thực hiện hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh trên truyền hình và đây là lần đầu vi phạm, cùng với các tình tiết giảm nhẹ, thì doanh nghiệp đó có thể bị xử phạt cảnh cáo. Điều này phản ánh nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính chủ yếu nhằm mục đích giáo dục thay vì chỉ trừng phạt.
Tóm lại, phạt cảnh cáo là một hình thức xử lý vi phạm hành chính, biểu thị thái độ nghiêm khắc của Nhà nước đối với các hành vi quảng cáo không tuân thủ quy định về cạnh tranh lành mạnh. So với các hình thức phạt tiền, phạt cảnh cáo có mức độ nhẹ hơn nhưng vẫn mang tính cưỡng chế từ phía nhà nước. Dù không tạo ra án tích cho đối tượng bị xử phạt, phạt cảnh cáo vẫn gây ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín của doanh nghiệp trên thị trường, làm tổn hại đến danh tiếng của họ và uy tín trên thương trường.
Phạt tiền là một biện pháp cưỡng chế hành chính đã được quy định từ lâu trong pháp luật xử lý vi phạm hành chính tại Việt Nam, và được áp dụng cho hầu hết các loại vi phạm hành chính. Đây là hình thức xử phạt vi phạm hành chính phổ biến ở nước ta, và so với hình thức cảnh cáo, phạt tiền có mức độ nghiêm khắc hơn và đóng vai trò quan trọng trong hệ thống xử lý hành chính, đặc biệt là trong các trường hợp quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh. Khi áp dụng phạt tiền, mức phạt phải nằm trong khung quy định cụ thể cho từng loại vi phạm theo văn bản pháp luật hiện hành. Mức tiền phạt cụ thể cho mỗi hành vi vi phạm hành chính thường được xác định ở mức trung bình của khung tiền phạt đã được quy định cho hành vi đó. Điều Nghị định 75/2019/NĐ-CP quy định cụ thể mức phạt tiền đối với hành vi lôi kéo khách hàng bất chính mà trong đó có hành vi vi phạm pháp LQC nhằm cạnh tranh không lành mạnh với “mức phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng” dựa trên mức độ vi phạm Điều 20 Nghị định 75/2019/NĐ-CP (Chính phủ, 2019).
Trong quá trình xử lý vi phạm liên quan đến hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, mức phạt có thể được điều chỉnh dựa trên các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng. Khi có tình tiết giảm nhẹ, mức phạt có thể được giảm nhưng không được thấp hơn mức tối thiểu quy định trong khung xử phạt. Ngược lại, đối với tình tiết tăng nặng, mức phạt có thể được tăng nhưng không được vượt quá mức tối đa theo quy định. Mức phạt tiền được điều chỉnh theo quy định pháp luật qua các giai đoạn, phù hợp với diễn biến của nền kinh tế quốc gia trong từng thời kỳ.
Bên cạnh đó, các tổ chức và cá nhân vi phạm những quy định về cạnh tranh không lành mạnh có thể phải đối mặt với các hình thức xử phạt hành chính theo “Nghị định số 38/2021/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa và quảng cáo” (gọi tắt là “Nghị định số 38/2021/NĐ-CP”). Điều 34 của Nghị định này quy định các mức “phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với các hành vi quảng cáo sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn” (Chính phủ, 2021). Đồng thời, chủ thể vi phạm còn bị buộc gỡ bỏ các nội dung quảng cáo vi phạm, cải chính thông tin sai lệch và có thể phải bồi thường thiệt hại cho những người bị ảnh hưởng. Điều này cho thấy sự nghiêm cấm của pháp luật đối với việc sử dụng quảng cáo như một công cụ để cụ thể hoá các hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh.
Ngoài ra, cá nhân hoặc doanh nghiệp có hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh còn có thể bị áp dụng một hoặc một số hình thức xử phạt bổ sung như: (i) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; (ii) Tịch thu khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi quảng cáo có nội dung nhằm cạnh tranh không lành mạnh. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hành vi vi phạm quảng cáo.
Bên cạnh đó, cá nhân, doanh nghiệp vi phạm còn phải khắc phục hậu quả bằng cách cải chính công khai. Ở một số quốc gia, xử phạt hành chính đối với hình vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh được xem là hình thức xử phạt phổ biến với nhiều mức khác nhau. Ví dụ:
Luật Cạnh tranh Trung Quốc quy định “đối với những hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, doanh nghiệp thực hiện có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý và phải bồi thường thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh” (Yu, 2017).
Theo Bộ luật Cạnh tranh và Tiêu dùng 2010 của Úc quy định “hành vi quảng cáo dụ dỗ thường liên quan đến việc doanh nghiệp sử dụng “giá đặc biệt” để thu hút người tiêu dùng vào cửa hàng” (ACCC, 2016). Khi người tiêu dùng đến mua các sản phẩm với giá đặc biệt như đã quảng cáo, doanh nghiệp có thể không cung cấp mức giá theo cam kết. Đối với hành vi quảng cáo dụ dỗ này, người vi phạm có thể bị phạt tiền với mức rất cao. Cụ thể, “mức phạt tối đa đối với các công ty vi phạm có thể lên đến 100.000 đô la (dollar) Úc, trong khi mức phạt đối với cá nhân hoặc tổ chức không phải là công ty có thể lên đến 220.000 đô la Úc” (ACCC, 2016).
Tại Hoa Kỳ, khi vi phạm trong hoạt động quảng cáo xảy ra, Ủy ban Thương mại Liên bang (FTC) “có quyền nhân danh lợi ích công để tổ chức phiên điều trần và ra quyết định buộc đình chỉ và chấm dứt các hành vi bị coi là không lành mạnh. Nếu quyết định có hiệu lực (không có kháng cáo hoặc kháng cáo bị bác bỏ bởi Tòa Phúc thẩm hoặc Tòa Tối cao), và bên vi phạm tiếp tục thực hiện hành vi trái pháp luật, FTC có thể đưa vụ việc ra tòa án và yêu cầu mức phạt dân sự lên đến 10.000 USD cho mỗi hành vi vi phạm. Nếu vi phạm kéo dài, mỗi ngày vi phạm được tính là một hành vi riêng lẻ” (FTC, 2021).
1.3.2.2. Chế tài dân sự
Trong bối cảnh kinh tế hiện tại của Việt Nam, hành vi vi phạm quảng cáo với mục đích cạnh tranh không lành mạnh không chỉ xâm phạm đến lợi ích cá nhân mà còn gây ảnh hưởng tiêu cực đến lợi ích chung của xã hội. Đặc biệt, do khả năng lan truyền rộng rãi và tầm ảnh hưởng mạnh mẽ của các hình thức quảng cáo, hậu quả mà hành vi vi phạm quảng cáo không lành mạnh gây ra cho người tiêu dùng và Nhà nước thường rất nghiêm trọng. Các biện pháp chế tài dân sự đối với hành vi này bao gồm nghĩa vụ bồi thường thiệt hại và các hình thức chế tài phi vật chất khác theo quy định của pháp luật. Pháp luật hiện hành của Việt Nam (Chương XX, BLDS 2015) đã quy định chi tiết các biện pháp chế tài dân sự cho các trường hợp này.
Điều 584 BLDS 2015 quy định rằng “bất kỳ cá nhân nào có hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản hoặc quyền lợi hợp pháp của người khác và gây ra thiệt hại đều phải chịu trách nhiệm bồi thường, trừ khi có quy định khác của pháp luật. Trong trường hợp tài sản là nguyên nhân gây ra thiệt hại, chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường” (Quốc hội, 2015). Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hành vi vi phạm quảng cáo.
Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã cung cấp hướng dẫn rõ ràng về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Theo đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản hoặc các quyền lợi hợp pháp khác chỉ phát sinh khi hội đủ các yếu tố cần thiết sau đây: (i) Có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác; (ii) Có thiệt hại xảy ra là thiệt hại về vật chất, thiệt hại về tinh thần; (iii) Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi xâm phạm. Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi xâm phạm và ngược lại hành vi xâm phạm là nguyên nhân gây ra thiệt hại.
Dựa trên các quy định pháp luật đã nêu, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của doanh nghiệp trong trường hợp quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh được xác định dựa trên việc doanh nghiệp có hành vi cố ý hay vô ý xâm phạm các quyền lợi về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cũng như xâm phạm danh dự, uy tín và tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thể khác. Nếu hành vi này gây ra thiệt hại, doanh nghiệp sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường. Trong trường hợp pháp luật quy định trách nhiệm bồi thường ngay cả khi không có lỗi, quy định này sẽ được áp dụng.
Nguyên tắc bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm quảng cáo không lành mạnh yêu cầu thiệt hại phải được bồi thường đầy đủ và kịp thời. Các bên liên quan có thể thỏa thuận về mức bồi thường, bao gồm các hình thức bồi thường bằng tiền, hiện vật, hoặc thực hiện các công việc cụ thể, có thể bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ khi pháp luật quy định khác. Trong trường hợp thiệt hại gây ra do lỗi vô ý và vượt quá khả năng kinh tế của người gây thiệt hại, mức bồi thường có thể được điều chỉnh. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế, người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác điều chỉnh mức bồi thường cho phù hợp.
Thiệt hại phát sinh từ hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh có thể ảnh hưởng nhiều đối tượng, bao gồm đối thủ cạnh tranh, người tiêu dùng, và Nhà nước. Đối với đối thủ cạnh tranh, thiệt hại có thể biểu hiện qua việc giảm doanh thu, giảm số lượng khách hàng, thu hẹp thị phần trên thị trường hàng hóa và dịch vụ, cũng như làm giảm uy tín của đối thủ. Những thiệt hại này có thể dẫn đến tình trạng đối thủ gặp khó khăn trong việc tiêu thụ hàng hóa hoặc dịch vụ, từ đó ảnh hưởng đến sự ổn định và sự cạnh tranh công bằng trong thị trường. Tính nguy hiểm của hành vi vi phạm quảng cáo không lành mạnh thể hiện ở việc nó không chỉ gây thiệt hại cho một đối thủ cụ thể mà còn có khả năng làm mất ổn định thị trường hàng hóa và dịch vụ, dẫn đến tình trạng lũng đoạn thị trường và giảm tính minh bạch. Sự tác động này có thể gây ra sự bất ổn định trong hệ thống sản xuất và dịch vụ, ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hành vi vi phạm quảng cáo.
Đối với người tiêu dùng, thiệt hại chủ yếu liên quan đến việc họ sử dụng hàng hóa hoặc dịch vụ không đúng như mong đợi hoặc bị lừa dối về chất lượng và giá cả. Người tiêu dùng có thể phải trả mức giá cao hơn so với giá trị thực của sản phẩm hoặc dịch vụ. Thiệt hại này còn bao gồm việc tiêu thụ hàng hóa kém chất lượng, giá thành cao, và nguồn gốc xuất xứ không rõ ràng. Trong thời đại truyền hình kỹ thuật số, với sự lan truyền thông tin nhanh chóng và rộng rãi từ các kênh truyền hình, thiệt hại do hành vi vi phạm quảng cáo không lành mạnh có thể xảy ra với quy mô lớn, ảnh hưởng đến số lượng lớn khách hàng và phạm vi rộng khắp cả nước.
1.3.2.3. Chế tài hình sự
Ngoài các hình thức xử phạt hành chính và dân sự, các tổ chức và cá nhân vi phạm còn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Khoản 1 Điều 110 LQC 2018 “Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật”. Khi hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh có dấu hiệu cấu thành tội phạm theo BLHS, cơ quan chức năng sẽ tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự. Mức độ truy cứu và tội danh sẽ phụ thuộc vào tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi vi phạm.
Các hành vi phạm vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội quảng cáo gian dối theo Điều 197 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) “người thực hiện hành vi quảng cáo gian dối về hàng hóa hoặc dịch vụ, đặc biệt khi đã bị xử phạt hành chính hoặc kết án mà chưa được xóa án tích, có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm” (Quốc hội, 2017).
Trong việc xử lý hành vi vi phạm quảng cáo không lành mạnh với mục đích cạnh tranh, thẩm quyền và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng đóng vai trò then chốt trong việc đảm bảo hiệu quả thực thi pháp luật. Để pháp luật về quảng cáo phát huy tối đa hiệu quả, cần thiết phải xây dựng một hệ thống quản lý nhà nước phù hợp, trong đó các cơ quan liên quan cần có sự phối hợp chặt chẽ. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm chính trong quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo và phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi quyền hạn của mình nhằm đảm bảo sự quản lý hiệu quả. Bên cạnh đó, Ủy ban Nhân dân các cấp cũng đóng vai trò quan trọng trong quản lý quảng cáo tại địa phương theo thẩm quyền được giao.
Trong lĩnh vực cạnh tranh, cơ quan quản lý cạnh tranh có trách nhiệm xử lý và áp dụng chế tài đối với các hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh. Do đó, cần xác định rõ thẩm quyền của cơ quan này trong việc xử lý hành vi vi phạm quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh. Đồng thời, cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý cạnh tranh, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cũng như các Bộ và cơ quan ngang Bộ khác, cần được quy định một cách cụ thể. Việc xây dựng các quy định về xử lý hành vi vi phạm quảng cáo nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh cần đảm bảo tính rõ ràng cũng như đồng bộ và thống nhất, hướng tới nâng cao hiệu quả trong việc thực thi pháp luật. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hành vi vi phạm quảng cáo.
Theo quy định này có thể xác định các yếu tố cấu thành cơ bản của tội quảng cáo gian dối như sau: Thứ nhất, về mặt khách thể: Tội quảng cáo gian dối về hàng hóa xâm hại chế độ quản lý của Nhà nước đối với các hoạt động về quảng cáo hàng hóa, dịch vụ, xâm phạm đến quyền và lợi ích người tiêu dùng. Đối tượng tác động của tội phạm này là hình thức, nội dung tin tức về hàng hóa, dịch vụ mà người phạm tội đã quảng cáo. Thứ hai, về mặt khách quan: Hành vi khách quan của tội phạm này là hành vi quảng cáo gian dối, tức là đưa thông tin không đúng về chất lượng, hình thức, chức năng, công dụng và tiêu chuẩn hàng hóa, dịch vụ gây nhầm lẫn cho khách hàng, trái với quy định của pháp luật về quảng cáo. Thứ ba, về mặt chủ quan: Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý. Động cơ của tội phạm là động cơ vụ lợi. Thứ tư, về mặt chủ thể: Chủ thể của tội phạm này không phải là chủ thể đặc biệt. Tức là, bất kì cá nhân nào từ đủ 16 tuổi trở lên và đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự cũng có thể trở thành chủ thể của tội phạm.
Về hình phạt áp dụng: Khi có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm thì “người phạm tội bị áp dụng hình phạt từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm. Ngoài ra, người phạm tội quảng cáo gian dối còn có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung như sau: Phạt tiền “từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm” (Quốc hội, 2017).
Từ BLHS 2015 sửa đổi, có thể thấy hành vi quảng cáo gian dối chỉ bị xử lý hình sự sau khi đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Về hình phạt áp dụng đối với tội quảng cáo gian dối bao gồm hình phạt chính là “phạt tiền” và“cải tạo không giam giữ”, đồng thời có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là “phạt tiền” và“cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định” (Quốc hội, 2017). Đến nay đây là cơ sở pháp luật đầy đủ nhất để xác định về hành vi quảng cáo gian dối, việc này không chỉ gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố điều tra, truy tố, xét xử hành vi này mà còn dẫn đến việc áp dụng pháp luật một cách chủ quan, chưa được đồng bộ và thống nhất.
Nhiều cá nhân và tổ chức coi quảng cáo là một công cụ quan trọng trong việc thu hút và thuyết phục người tiêu dùng sử dụng sản phẩm của mình. Điều này đã dẫn đến sự gia tăng đáng kể các hoạt động quảng cáo, không chỉ tăng về số lượng mà còn có sự biến đổi phức tạp về nội dung và hình thức. Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và sự xuất hiện ngày càng nhiều của các trang mạng xã hội, các loại hình quảng cáo cũng trở nên đa dạng và phát triển hơn. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam vẫn chưa thể bao quát toàn diện những vấn đề phát sinh trong không gian mạng do sự thay đổi không ngừng của nó. Lợi dụng những kẽ hở trong kiểm duyệt và quy định, nhiều doanh nghiệp và cá nhân đã sử dụng các nền tảng như YouTube, Facebook, TikTok để thực hiện quảng cáo trá hình, đặc biệt đối với các sản phẩm như thuốc đông y, sản phẩm làm đẹp, thực phẩm chức năng giả hoặc không rõ nguồn gốc, gây tổn hại đến uy tín, sức khỏe và tài chính của người tiêu dùng. Hiện nay, tình trạng quảng cáo sai lệch về chất lượng sản phẩm và dịch vụ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của khách hàng, diễn ra khá phổ biến. Nguyên nhân chính của thực trạng này là do các chế tài xử phạt hiện hành chưa đủ tính răn đe, đặc biệt là trong lĩnh vực hình sự. Theo quy định tại khoản 1 Điều 197 BLHS 2015, mức phạt tối đa chỉ là 100.000.000 đồng.
Ở một số quốc gia, chế tài hình sự đã được áp dụng đối với các hành vi vi phạm quảng cáo không lành mạnh. Chẳng hạn, tại Hoa Kỳ, Ủy ban Thương mại Liên bang (FTC) có quyền khởi kiện trước tòa án địa phương đối với hành vi quảng cáo gian lận bằng cách “FTC có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại và buộc cải chính thông tin công khai. Trong trường hợp quảng cáo gây thiệt hại về sức khỏe, người vi phạm có thể bị phạt tới 5.000 USD hoặc chịu án tù lên đến 6 tháng, hoặc cả hai hình phạt. Nếu vi phạm tái diễn, mức phạt có thể tăng lên đến 10.000 USD và phạt tù tối đa 1 năm” (FTC, 2021).
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hành vi vi phạm quảng cáo.
Chương 1 đã trình bày những vấn đề lý luận cơ bản và pháp luật về hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh tại Việt Nam. Trước hết, khái niệm và đặc điểm của quảng cáo và cạnh tranh đã được phân tích rõ ràng, nhấn mạnh vai trò của cạnh tranh là một yếu tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế và đổi mới trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, khi các doanh nghiệp vượt quá giới hạn của sự cạnh tranh lành mạnh để đạt được lợi ích kinh tế, các hành vi này trở thành cạnh tranh không lành mạnh, vi phạm các nguyên tắc trung thực và thiện chí trong kinh doanh. Theo định nghĩa tại Điều 10bis Công ước Paris 1883 và LCT 2018 của Việt Nam, hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh được hiểu là những hành động đi ngược lại với các tiêu chuẩn đạo đức trong kinh doanh, gây tổn hại hoặc có nguy cơ gây tổn hại đến lợi ích của Nhà nước, cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng. Trong lĩnh vực quảng cáo, những hành vi này có thể bao gồm việc cung cấp thông tin sai lệch, gây nhầm lẫn, so sánh không công bằng, hoặc bôi nhọ đối thủ cạnh tranh, làm suy giảm lòng tin của người tiêu dùng vào thị trường và tạo ra môi trường kinh doanh không minh bạch.
Quảng cáo không chỉ là một công cụ tiếp thị mạnh mẽ mà còn là phương tiện mà qua đó các doanh nghiệp có thể thực hiện các chiến lược cạnh tranh không lành mạnh. Do đó, luật pháp Việt Nam đã đặt ra những quy định nghiêm ngặt nhằm kiểm soát và điều chỉnh những hành vi này, bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan và duy trì sự công bằng trong môi trường kinh doanh. Các quy định pháp luật hiện hành không chỉ giới hạn các hành vi bị cấm mà còn quy định rõ ràng về các chế tài xử lý vi phạm, bao gồm cả chế tài hành chính, dân sự và hình sự. Chế tài hành chính có thể bao gồm cảnh cáo, phạt tiền, tước quyền sử dụng giấy phép, hoặc đình chỉ hoạt động, nhằm răn đe và ngăn chặn các vi phạm. Trong khi đó, chế tài dân sự tập trung vào việc bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu quả, đảm bảo quyền lợi của những bên bị ảnh hưởng. Đối với những vi phạm nghiêm trọng, có thể bị xử lý hình sự theo quy định của pháp luật, phản ánh tính chất nghiêm khắc và sự kiên quyết của Nhà nước trong việc duy trì trật tự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường.
Như vậy, Chương 1 đã làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản và khung pháp lý điều chỉnh hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, tạo nền tảng vững chắc cho các chương tiếp theo phân tích sâu hơn về các trường hợp vi phạm cụ thể và giải pháp xử lý hiệu quả. Việc hiểu rõ và tuân thủ các quy định pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh không chỉ góp phần bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp và người tiêu dùng mà còn góp phần xây dựng một môi trường kinh doanh minh bạch, công bằng, thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hành vi vi phạm quảng cáo.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực tiễn pháp luật đối với hành vi vi phạm quảng cáo

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
