Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực tiễn pháp luật đối với hành vi vi phạm quảng cáo hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực tiễn áp dụng pháp luật đối với hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh và một số kiến nghị hoàn thiện dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật đối với các hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
2.1.1. Thực tiễn hoạt động quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh tại Việt Nam
Theo số liệu thống kê tại Báo cáo thường niên tính đến năm 2017 của Cục CT&BVNTD (trước đó là Cục Quản lý Cạnh tranh), thì số lượng hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh bị xử lý trước năm 2018 khá nhiều (Cục CT&BVNTD, 2018), đỉnh điểm là năm 2012 lên đến 37 trên tổng số 41 hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh được ghi nhận trong năm, và có xu hướng giảm qua các năm, thấp nhất là năm 2013 với 2/3 hành vi vi phạm. Có thể nhận thấy, hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh chiếm đa số trên tổng các hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh bị xử lý theo các năm. (Xem Bảng 2.1.)
Bảng 2.1. Số lượng hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh từ năm 2009 – 2017 (Cục CT&BVNTD, 2015, 2017)
| Các loại hành vi cạnh tranh không lành mạnh | 2009 | 2010 | 2011 | 2012 | 2013 | 2014 | 2015 | 2016 | 2017 |
| Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh | 5 | 20 | 33 | 37 | 2 | 6 | 24 | 15 | 9 |
| Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh | 2 | 2 | – | – | – | – | – | – | – |
| Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác | – | – | – | 1 | – | – | – | – | – |
| Gièm pha doanh nghiệp khác | 4 | 1 | 2 | – | – | – | – | – | – |
| Chỉ dẫn gây nhầm lẫn | – | 1 | – | – | – | 1 | – | – | – |
| Bán hàng đa cấp bất chính | 3 | 4 | 1 | 3 | 1 | – | 4 | 5 | 3 |
| Tổng cộng | 14 | 28 | 36 | 41 | 3 | 7 | 28 | 20 | 12 |
Đáng nói là từ năm 2018, khi LCT mới được ban hành, với sự thay đổi nhiều về các quy định có liên quan, điển hình là về thẩm quyền xử lý vụ việc cạnh tranh không lành mạnh của các cơ quan chức năng. Trong thời gian UBCTQG chưa được thành lập, mọi vấn đề, vụ việc đều được cơ quan Cục CT&BVNTD xử lý. Theo Báo cáo thường niên của Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng, báo cáo cạnh tranh không lành mạnh từ năm 2018 đến năm 2022 lần lượt là: 05 vụ việc trong năm 2018 (Cục CT&BVNTD, 2018); năm 2019 xử phạt 04 vụ việc được tiến hành điều tra trong năm 2018 và tiếp nhận 22 khiếu nại nhưng không đủ chứng cứ (Cục CT&BVNTD, 2019); năm 2020 tiếp nhận 11 vụ việc (Cục CT&BVNTD, 2020); và năm 2022, Cục CT&BVNTD đã nhận được 8 phản ánh liên quan đến dấu hiệu hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh (Cục CT&BVNTD, 2022). Luận văn: Thực tiễn pháp luật đối với hành vi vi phạm quảng cáo.
Qua đó có thể thấy, sau khi LCT 2018 được ban hành, mặc dù không có quy định riêng về hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, nhưng nhìn chung, các hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh đã có sự giảm thiểu. Các đoạn quảng cáo thường tập trung vào sản phẩm, dịch vụ và đưa ra giá trị sản phẩm của mình hơn là mang tính so sánh hay đưa ra thông tin không trung thực về doanh nghiệp đối thủ.
Đây là một tín hiệu đáng mừng khi quảng cáo có chứa hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh những năm gần đây có xu hướng giảm, một phần do ý thức của doanh nghiệp và ý thức xã hội, một phần là do các quy định pháp luật mở rộng bao trùm hơn các hành vi vi phạm, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc “lách luật”. Tuy nhiên, đôi khi chúng ta vẫn bắt gặp những thước phim quảng cáo ngắn với nội dung so sánh sản phẩm của doanh nghiệp mình với các sản phẩm khác với mục đích thu hút khách hàng và người tiêu dùng, vì Khoản 1 Điều 45 LCT 2018 chỉ quy định cấm doanh nghiệp thực hiện hoạt động quảng cáo so sánh trực tiếp hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp khác chứ không quy định cấm các hình thức so sánh gián tiếp khác. Ngoài ra, còn có những hình thức quảng cáo sai phạm khác được ghi nhận qua các năm như:
Ví dụ 1: Vào năm 2018, Công ty Cổ phần Ô tô Đô Thành đã nộp đơn khiếu nại Công ty Cổ phần Thương mại Dịch vụ An Sương về hành vi vi phạm quảng cáo được cho là nhằm cạnh tranh không lành mạnh. Theo nội dung khiếu nại, Công ty An Sương đã phát hành một video clip có tiêu đề “So sánh xe tải Tera 230 và IZ49” trên kênh YouTube “Ô tô An Sương – Chìa khóa trao tay” từ cuối năm 2017. Nội dung video so sánh trực tiếp giữa sản phẩm ô tô tải Tera 230 của An Sương và xe tải IZ49 của Công ty Đô Thành. Sau quá trình điều tra, Cục CT&BVNTD kết luận rằng “Công ty An Sương đã thực hiện hành vi vi phạm quảng cáo không lành mạnh bằng cách so sánh trực tiếp hàng hóa của mình với hàng hóa của doanh nghiệp khác, vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 45 LCT 2018”. Hành vi này đã dẫn đến việc Công ty An Sương bị xử phạt với số tiền 60 triệu đồng.
Ví dụ 2: Năm 2019, Asanzo, một hãng điện tử Việt Nam, bị cáo buộc lừa dối người tiêu dùng rằng quy trình lắp ráp một số sản phẩm không đúng như quảng cáo, và việc sử dụng cụm từ “Đỉnh cao công nghệ Nhật Bản” trên một vài sản phẩm và trong các thông tin quảng cáo không phản ánh đúng thực tế. Cụ thể, khi đối chiếu video quảng cáo có hình ảnh dây chuyền và lắp ráp tivi bằng máy móc, thiết bị hiện đại, với thực tế tại cơ sở sản xuất của công ty, cho thấy hoạt động lắp ráp không đúng như quảng cáo. Cụ thể, công ty chỉ thực hiện lắp ráp các bộ phận có sẵn để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh; công suất mỗi ngày với khoảng 50 công nhân chỉ lắp ráp được 1.500 cái ấm đun nước siêu tốc; lắp ráp một điều hòa nhiệt độ mất 30 phút; lắp ráp một chiếc tivi cần 12 người và 30 người phụ trợ với thời gian là 25 phút. Và theo điều tra, Công ty Cổ phần Tập đoàn Asanzo đã ký hợp đồng với Công ty Sharp – Roxy (Hồng Kông LTD) tại Việt Nam để cung cấp phần mềm và chuyển giao công nghệ. Tuy nhiên, từ khi ký hợp đồng đến nay, công ty vẫn chưa thanh toán các dịch vụ theo hợp đồng đã ký kết do chưa nhận được xác nhận từ Bộ Khoa học và Công nghệ về việc chuyển giao công nghệ. Luận văn: Thực tiễn pháp luật đối với hành vi vi phạm quảng cáo.
Ví dụ 3: Ngày 07/02/2020, Cục CT&BVNTD nhận được đơn khiếu nại từ Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk) liên quan đến việc “cơ sở chế biến thực phẩm bánh kẹo Đức Việt sử dụng trái phép nhãn hiệu Vinamilk đã được bảo hộ trên các sản phẩm kẹo của mình, gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng”. Sản phẩm của cơ sở này có thiết kế bao bì và công dụng tương tự với sản phẩm đã có trên thị trường của Vinamilk, vi phạm quy định của Điểm a Khoản 5 Điều 45 LCT 2018. Hành vi này không chỉ gây thiệt hại cho doanh nghiệp mà còn khiến người tiêu dùng mua nhầm sản phẩm không đúng mong muốn. Kết quả điều tra xác nhận đây là hành vi lôi kéo khách hàng bất chính, và Cục CT&BVNTD đã yêu cầu cơ sở Đức Việt ngừng sử dụng nhãn hiệu Vinamilk và đề nghị chính quyền địa phương giám sát chặt chẽ hoạt động của cơ sở này cũng như các cơ sở tương tự để ngăn ngừa các vi phạm tương tự trong tương lai.
Ví dụ 4: Báo cáo thường niên năm 2021 của Cục CT&BVNTD chỉ ra rằng trong đại dịch Covid-19, nhiều thực phẩm chức năng và các thiết bị điện tử mới được quảng cáo với khả năng ngăn ngừa hoặc tiêu diệt virus. Để bảo vệ người tiêu dùng, CT&BVNTD đã rà soát các sản phẩm như: máy điều hòa không khí sử dụng Công nghệ Nanoe™ X, máy lọc không khí Blueair Health Protect, máy phun khử trùng diệt khuẩn Covid Nano,… Kết quả cho thấy, thông tin về khả năng ngăn ngừa Covid-19 của những sản phẩm này chủ yếu dựa trên các kiểm nghiệm trong phòng thí nghiệm với điều kiện hạn chế, chưa được thử nghiệm trong môi trường thực tế. Tuy nhiên, các hạn chế này thường không được công bố đầy đủ, ví dụ như: (i) Thông tin ghi chú không rõ ràng hoặc quá nhỏ trên hình ảnh sản phẩm hoặc video quảng cáo;
Thông tin về khả năng tiêu diệt virus chỉ dựa trên kiểm nghiệm phòng thí nghiệm, trong khi không nêu rõ các hạn chế của điều kiện thí nghiệm so với điều kiện thực tế; (iii) Một số sản phẩm không liên quan trực tiếp đến Covid-19 nhưng lại được đặt tên hoặc mô tả chức năng liên quan đến virus như “CV19” hoặc “diệt virus”, mà không làm rõ loại virus cụ thể. Cục CT&BVNTD kết luận rằng “việc cung cấp thông tin không đầy đủ về tác dụng ngăn ngừa Covid-19 của các sản phẩm này có dấu hiệu vi phạm quy định tại Điểm a Khoản 5 Điều 45 LCT 2018” (Cục CT&BVNTD, 2021). Cục CT&BVNTD xác định những thông tin thiếu sót này có dấu hiệu vi phạm và đã yêu cầu các doanh nghiệp liên quan chỉnh sửa, đảm bảo tuân thủ pháp luật.
Ví dụ 5: Trong năm 2022 và 2023, mạng xã hội tại Việt Nam phát triển bùng nổ và đã nổi lên hiện tượng những người nghệ sĩ nổi tiếng, KOLs (Key Opinion Leaders – được hiểu là những người có ảnh hưởng lên cộng đồng mạng) nắm giữ các sức mạnh truyền thông và trở thành một thế lực có thể chi phối, điều hướng dư luận trên không gian mạng,… từ đó tạo ra các tác động lớn đối với xã hội. Cùng với những người nổi tiếng và KOLs có trách nhiệm, có vai trò ảnh hưởng tích cực đến cộng đồng, cũng có không ít người đã lợi dụng ảnh hưởng của mình để có những hành vi xâm phạm an ninh quốc gia, ảnh hưởng đến an ninh trật tự, trong đó có việc quảng cáo những sản phẩm không đúng với công dụng hoặc kém chất lượng để lợi dụng lòng tin của người hâm mộ nhằm cạnh tranh với đối thủ. Theo đó, “các sản phẩm thường được các nghệ sĩ và KOLs quảng cáo là mỹ phẩm, sữa, thực phẩm chức năng,… và thực trạng trên đặt ra những vấn đề cấp thiết trong công tác quản lý hoạt động cũng như phát ngôn của những người có ảnh hưởng” (Mạnh Hùng & Tài Vũ, 2023). Luận văn: Thực tiễn pháp luật đối với hành vi vi phạm quảng cáo.
Theo thống kê của Hiệp hội Thực phẩm chức năng cho thấy, có tới 80% các quảng cáo gây bức xúc hiện nay trên mạng xã hội là “trá hình” thực phẩm chức năng. Năm 2023, lực lượng chức năng đã phát hiện gần 19.000 sản phẩm vi phạm, sai phạm. Chỉ tính riêng quý I/2024 cơ quan chức năng cũng đã phát hiện tới gần 200 sản phẩm vi phạm. Phát biểu tại Tọa đàm ngày 29/5/2024 về “Đạo đức trong quảng cáo thực phẩm chức năng”, ông Nguyễn Thanh Phong – Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm – nhấn mạnh rằng tác hại của việc quảng cáo gian dối trong lĩnh vực y tế không chỉ dừng lại ở khía cạnh tài chính (Phương Anh, 2024).
Đối với những bệnh nhân mắc bệnh nan y, việc phát hiện và điều trị sớm có thể giúp chữa khỏi hoặc ít nhất kéo dài sự sống. Tuy nhiên, những quảng cáo thực phẩm chức năng “cam kết chữa khỏi” không chỉ vi phạm các quy định về quảng cáo mà còn lừa dối người tiêu dùng. Qua quá trình thanh tra, kiểm tra, các cơ quan chức năng đã phát hiện và chuyển cho cơ quan công an xử lý hình sự các trường hợp sản phẩm thực phẩm chức năng như giảm cân, điều trị xương khớp, và tăng cường sinh lý nam có chứa chất cấm trong thành phần. Đại diện Cục An toàn thực phẩm cho biết, hiện nay, các quy định pháp luật về quảng cáo thực phẩm bảo vệ sức khỏe đã được quy định rõ ràng và đầy đủ. Cụ thể, trước khi quảng cáo, các nhà sản xuất và cơ quan phát hành chỉ được quảng cáo những nội dung đã được cơ quan chuyên môn thẩm định, không được quảng cáo khi chưa có thẩm định hoặc sai lệch so với nội dung đã được thẩm định. Ngoài ra, nghiêm cấm quảng cáo thực phẩm bảo vệ sức khỏe như thuốc chữa bệnh và không được sử dụng hình ảnh, uy tín, hoặc danh nghĩa của cơ quan y tế để quảng cáo (Trần Hằng, 2022).
Những ví dụ trên cho thấy rằng hành vi vi phạm quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh vẫn tồn tại trong nhiều ngành công nghiệp tại Việt Nam, từ thực phẩm, đồ uống, công nghệ cho đến dịch vụ, thương mại điện tử, ngay cả các công ty lớn và có tên tuổi cũng có thể bị cuốn vào các hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, ảnh hưởng đến lòng tin của người tiêu dùng và gây thiệt hại cho thị trường chung. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giám sát chặt chẽ và quản lý các hoạt động quảng cáo từ cơ quan chức năng để bảo vệ người tiêu dùng và đảm bảo một môi trường cạnh tranh công bằng.
2.1.2. Thực tiễn áp dụng chế tài xử lý hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh Luận văn: Thực tiễn pháp luật đối với hành vi vi phạm quảng cáo.
Mặc dù LCT 2018 quy định thẩm quyền giải quyết các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh thuộc về UBCTQG, nhưng Ủy ban này chỉ chính thức đi vào hoạt động đầy đủ từ đầu năm 2023. Trước thời điểm này, các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh đều do Cục CT&BVNTD xử lý. Các hình thức vi phạm trong quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh diễn ra đa dạng và phong phú, do đó việc xử lý những vi phạm này không chỉ bảo vệ doanh nghiệp mà còn để giảm thiểu những hành vi vi phạm.
Các hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh phổ biến bao gồm: xâm phạm bí mật kinh doanh, ép buộc trong kinh doanh, cung cấp thông tin không trung thực, gây rối hoạt động của doanh nghiệp khác, lôi kéo khách hàng bất chính và bán hàng dưới giá thành. Để ngăn chặn tình trạng này, vào ngày 12/6/2018, Quốc hội đã thông qua LCT số 23/2018/QH14, trong đó có một chương (Chương VI) riêng “quy định về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị cấm”. Các hành vi bị cấm bao gồm: “xâm phạm bí mật kinh doanh, ép buộc khách hàng hoặc đối tác, cung cấp thông tin không chính xác gây ảnh hưởng đến doanh nghiệp khác, và gây rối hoạt động kinh doanh của đối thủ” (Quốc hội, 2018).
Ngoài ra, ngày 26/9/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 75/2019/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh. Theo đó, “các hành vi vi phạm như xâm phạm thông tin bí mật kinh doanh sẽ bị phạt từ 200.000.000 đến 300.000.000 đồng; hành vi cản trở hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác sẽ bị phạt từ 50.000.000 đến 150.000.000 đồng, tùy theo mức độ gián tiếp hay trực tiếp; và hành vi lôi kéo khách hàng bất chính có thể bị phạt từ 100.000.000 đến 200.000.000 đồng” (Chính phủ, 2019).
Bảng 2.2. Mức phạt đối với hành vi vi phạm quy định về cạnh tranh không lành mạnh theo Nghị định số 75/2019/NĐ-CP
Trong năm 2022, theo Báo cáo thường niên của Cục CT&BVNTD thì Cục đã tiếp nhận, xem xét 8 phản ánh liên quan đến dấu hiệu hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh; chủ động rà soát và xem xét làm rõ 06 trường hợp liên quan đến hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh. Các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh năm 2022 xảy ra trong các lĩnh vực như: quảng cáo mỹ phẩm, quảng cáo thiết bị điện tử điện lạnh, kinh doanh võng xếp, kinh doanh vật liệu xây dựng, dịch vụ cảng biển, dịch vụ vận tải du lịch và đặc biệt có cả vụ việc có tính chất xuyên biên giới, tranh chấp xảy ra trên môi trường mạng (Cục CT&BVNTD, 2022). Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng đã yêu cầu các bên liên quan cung cấp thông tin, tài liệu, tổ chức làm việc với các bên liên quan, có văn bản khuyến nghị đề nghị các bên tuân thủ pháp luật về cạnh tranh đối với một số vụ việc.
Đến năm 2023, khi UBCTQG chính thức đi vào hoạt động thì cơ quan này đã xem xét, xác minh 40 trường hợp có thể có dấu hiệu vi phạm pháp luật cạnh tranh, trong đó gồm: 08 hồ sơ khiếu nại vụ việc cạnh tranh; 21 phản ánh của các tổ chức và cá nhân kinh doanh về dấu hiệu vi phạm quy định về kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh và vi phạm quy định về tập trung kinh tế theo quy định của pháp luật về cạnh tranh; 11 trường hợp do UBCTQG chủ động phát hiện. Xét theo loại hành vi được phản ánh, phát hiện, thì trong số 40 trường hợp nêu trên, có: 25 trường hợp liên quan đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh, chủ yếu trong các lĩnh vực như sữa công thức, sữa non, hàng không, mỹ thuật, vật liệu xây dựng, thuốc bảo vệ thực vật, mỹ phẩm, điện máy, điện lạnh,… (UBCTQG, 2023). Hiện nay, theo Báo cáo thường niên của UBCTQG năm 2023 thì cơ quan này vẫn đang tiếp tục xác minh, làm rõ dấu hiệu vi phạm quy định của pháp luật cạnh tranh đối với các trường hợp nêu trên. Trường hợp phát hiện dấu hiệu vi phạm, UBCTQG sẽ tiến hành điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.
2.2. Đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật đối với hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh Luận văn: Thực tiễn pháp luật đối với hành vi vi phạm quảng cáo.
2.2.1. Ảnh hưởng của hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh đối với nền kinh tế
Quảng cáo có vai trò thiết yếu trong hoạt động kinh doanh hiện đại, cho phép các doanh nghiệp tiếp cận và giới thiệu sản phẩm cũng như dịch vụ của mình đến khách hàng. Tuy nhiên, không phải tất cả các hoạt động quảng cáo đều tuân thủ các tiêu chuẩn đạo đức và pháp lý. Các hành vi vi phạm quảng cáo nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh không chỉ gây ảnh hưởng tiêu cực đến các đối thủ cạnh tranh mà còn tổn hại đến người tiêu dùng và làm suy yếu thị trường chung.
Trước tiên, quảng cáo không lành mạnh có thể gây thiệt hại nghiêm trọng cho các đối thủ cạnh tranh. Một chiến lược phổ biến trong cạnh tranh không lành mạnh là việc sử dụng quảng cáo để bôi nhọ, xuyên tạc, hoặc làm giảm uy tín của đối thủ. Những thông tin sai lệch hoặc không chính xác trong quảng cáo có thể làm giảm niềm tin của khách hàng vào đối thủ, dẫn đến thiệt hại lớn về tài chính và uy tín thương hiệu. Hơn nữa, quảng cáo không lành mạnh cũng thường đi kèm với việc giảm giá sản phẩm một cách cực đoan hoặc không hợp lý, điều này thúc đẩy các doanh nghiệp khác phải tham gia vào cuộc cạnh tranh giá cả, từ đó làm giảm lợi nhuận và ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.
Hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh không chỉ ảnh hưởng đến các đối thủ cạnh tranh mà còn gây ra những tác động tiêu cực đáng kể đối với người tiêu dùng. Quảng cáo không minh bạch thường sử dụng thông tin sai lệch hoặc gây hiểu nhầm nhằm thu hút người tiêu dùng, dẫn đến việc họ có thể mua phải sản phẩm kém chất lượng hoặc không đúng như quảng cáo, gây tổn thất về tài chính và sức khỏe. Khi người tiêu dùng liên tục bị lừa dối bởi các quảng cáo không trung thực, họ có thể mất niềm tin vào toàn bộ thị trường, điều này không chỉ ảnh hưởng tiêu cực đến các doanh nghiệp cạnh tranh mà còn kìm hãm sự phát triển chung của thị trường. Luận văn: Thực tiễn pháp luật đối với hành vi vi phạm quảng cáo.
Tác động tiêu cực của quảng cáo không lành mạnh còn mở rộng ra toàn bộ thị trường. Những hành vi này có thể tạo ra sự mất cân bằng, làm tổn hại các doanh nghiệp tuân thủ đạo đức và pháp luật, trong khi những doanh nghiệp áp dụng chiến lược không lành mạnh có thể tạm thời giành lợi thế. Điều này dẫn đến sự méo mó trong cạnh tranh và rối loạn thị trường. Thêm vào đó, khi các doanh nghiệp phải tập trung vào việc đối phó với hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh, họ sẽ bị hạn chế thời gian và nguồn lực để đầu tư vào nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, từ đó làm chậm quá trình đổi mới và phát triển ngành công nghiệp, ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế toàn cầu.
Tóm lại, hành vi vi phạm quảng cáo nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh không chỉ gây tổn hại cho các đối thủ cạnh tranh mà còn gây thiệt hại nghiêm trọng cho người tiêu dùng và làm tổn thương toàn bộ thị trường. Để duy trì một môi trường kinh doanh công bằng và bền vững, cần thiết phải áp dụng các biện pháp kiểm soát và xử lý nghiêm ngặt đối với những hành vi quảng cáo sai lệch. Đồng thời, các doanh nghiệp cần phải tuân thủ và mặt đạo đức và các quy định pháp luật, đồng thời cải thiện chất lượng sản phẩm và dịch vụ để thực hiện cạnh tranh một cách chính đáng.
2.2.2. Những thành quả đạt được của pháp luật đối với hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
Pháp luật đã đạt được nhiều thành quả đáng kể trong việc đối phó với hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh. Đặc biệt, LCT 2018 đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc tạo ra môi trường kinh doanh minh bạch và công bằng hơn.
Thứ nhất, việc ban hành LCT 2018 đã thiết lập một khung pháp lý rõ ràng, giúp các doanh nghiệp nhận thức đầy đủ về các quy định liên quan đến quảng cáo. Luật này không chỉ mở rộng phạm vi điều chỉnh mà còn bao gồm các hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc tuân thủ và cho cơ quan chức năng có cơ sở pháp lý để xử lý các vi phạm. Trước đó, trong quá trình điều tra và xử lý hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh, từ năm 2017 đến 2021, đã tiến hành điều tra 18 vụ việc có dấu hiệu vi phạm theo quy định của LCT 2004, thu về tổng số tiền phạt lên đến 1.621.000.000 đồng (Trần Dương & Đăng Công, 2024). Các hành vi bị điều tra và xử lý chủ yếu bao gồm: quảng cáo không lành mạnh, bôi nhọ doanh nghiệp khác, gây nhầm lẫn thông qua chỉ dẫn sai lệch, và kinh doanh đa cấp bất chính (theo LCT 2004, kinh doanh đa cấp bất chính được xem là một hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh).
Một điểm nổi bật của LCT 2018 là việc quy định chi tiết về các hành vi quảng cáo không trung thực, bao gồm quảng cáo gây nhầm lẫn, quảng cáo so sánh không chính xác và quảng cáo có thể ảnh hưởng tiêu cực đến đối thủ cạnh tranh. Những quy định này giúp ngăn chặn việc sử dụng các chiến lược quảng cáo không công bằng, từ đó bảo vệ quyền lợi của các doanh nghiệp tuân thủ pháp luật cũng như các chuẩn mực đạo đức trong kinh doanh. Ngoài việc quy định cụ thể, các cơ quan chức năng đã tăng cường công tác kiểm tra và xử lý nghiêm ngặt các vi phạm. Các đợt kiểm tra định kỳ và thanh tra đột xuất được triển khai để phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh. Nhờ vậy, nhiều doanh nghiệp đã phải điều chỉnh chiến lược quảng cáo của mình để tuân thủ các quy định nhằm tránh các hình phạt nghiêm trọng. Điều này không chỉ ngăn chặn hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh mà còn góp phần vào việc tạo ra một môi trường kinh doanh lành mạnh hơn. Tổng thể, LCT 2018 đã đạt được những kết quả đáng kể trong việc quản lý hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh. Với khung pháp lý rõ ràng, biện pháp kiểm tra và xử lý nghiêm, cùng với việc nâng cao nhận thức của người tiêu dùng và sự hợp tác quốc tế, pháp luật đã góp phần tạo ra một môi trường kinh doanh công bằng và bền vững hơn, bảo vệ quyền lợi của cả doanh nghiệp và người tiêu dùng, đồng thời thúc đẩy sự phát triển công bằng và hiệu quả của thị trường.
Thứ hai, nâng cao bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Theo Chỉ thị số 30-CT/TW được Ban Bí thư Trung ương Đảng ngày 22/01/2019 về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và trách nhiệm quản lý của Nhà nước đối với công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, người tiêu dùng ở đây bao gồm cả những khách hàng chịu ảnh hưởng của quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh. Chỉ thị đã đề ra 06 giải pháp rất cụ thể nhằm phát huy những kết quả đạt được, khắc phục những hạn chế, yếu kém và nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong tình hình mới. Kế hoạch đã đề ra 06 nhóm nội dung chính để thực hiện như: Luận văn: Thực tiễn pháp luật đối với hành vi vi phạm quảng cáo.
- Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp chính quyền trong công tác bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng
- Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý; tổ chức bộ máy chuyên trách; nâng cao năng lực thực thi pháp luật, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với công tác bảo vệ quyền lọi người tiêu dùng.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến chính sách, pháp luật liên quan đến bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm và hỗ trợ người tiêu dùng.
- Nâng cao trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dich vụ.
- Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế trong các hoạt động hợp tác về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Trong giai đoạn năm 2020 – 2023, nhiều văn bản tiếp tục được ban hành để cụ thể hóa việc hướng dẫn thực thi pháp luật về Luật Cạnh tranh và Luật Bảo vệ người tiêu dùng. Trong đó cần kể đến: Nghị định số 35/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Cạnh tranh (Chính phủ, 2020) được ban hành ngày 24 tháng 3 năm 2020; Nghị quyết số 82/2020/NQ-CP của Chính phủ: Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và trách nhiệm quản lý của nhà nước đối với công tác bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng được ban hành ngày 26 tháng 5 năm 2020; Chính phủ ban hành Nghị định số 03/2023/NĐ-CP được ban hành ngày 10 tháng 02 năm 2023 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của UBCTQG; Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 20 tháng 6 năm 2023, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.
Thứ ba, hệ thống quy định về cơ chế xử lý các vi phạm trong quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh đóng vai trò thiết yếu trong việc duy trì sự công bằng và minh bạch trong lĩnh vực này. Những quy định này không chỉ góp phần ngăn chặn và răn đe các hành vi vi phạm mà còn bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng cũng như các doanh nghiệp tuân thủ pháp luật. Cơ chế xử phạt được xây dựng một cách chi tiết và nghiêm ngặt. Các Nghị định và văn bản hướng dẫn thi hành cụ thể quy định mức phạt tiền tương ứng với từng loại hành vi vi phạm, dựa trên mức độ nghiêm trọng và tác động của hành vi đó. Hơn nữa, các biện pháp xử phạt bổ sung như đình chỉ hoạt động quảng cáo, thu hồi giấy phép kinh doanh, và yêu cầu bồi thường thiệt hại cũng được áp dụng. Những biện pháp này không chỉ có tác dụng răn đe mạnh mẽ mà còn đảm bảo rằng các doanh nghiệp vi phạm phải gánh chịu trách nhiệm đối với hành động của mình. Công tác kiểm tra và giám sát được tăng cường với sự tham gia của các cơ quan chức năng như Cục CT&BVNTD, Bộ Công Thương cùng với các cơ quan quản lý ngành khác. Các biện pháp kiểm tra thường xuyên và các đợt thanh tra đột xuất được thực hiện nhằm phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm quảng cáo không lành mạnh. Nhờ vậy, các doanh nghiệp vi phạm không thể tiếp tục hành vi sai trái mà không phải chịu trách nhiệm pháp lý. Tóm lại, với các quy định rõ ràng, biện pháp xử phạt nghiêm minh, cùng với công tác kiểm tra giám sát chặt chẽ và sự nâng cao nhận thức của người tiêu dùng, pháp luật đã góp phần duy trì sự công bằng và minh bạch trong môi trường kinh doanh, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và các doanh nghiệp tuân thủ pháp luật.
2.2.3. Những điểm hạn chế của pháp luật đối với hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh Luận văn: Thực tiễn pháp luật đối với hành vi vi phạm quảng cáo.
Trải qua LCT năm 2004 và năm 2018, nhận thấy các quy định đối với hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh mặc dù đã quy định tương đối chi tiết nhưng vẫn tồn tại một vài hạn chế. Cụ thể:
Thứ nhất, pháp luật quy định mức phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh còn chồng chéo, mâu thuẫn do quy định tại nhiều văn bản khác nhau. Điển hình như Điều 20 Nghị định 75/2019/NĐ-CP quy định “mức phạt hành chính đối với hành vi lôi kéo khách hàng bất chính nói chung và quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh nói riêng là phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng” (Chính phủ, 2019). Tuy nhiên, Khoản 3 và Khoản 4 Điều 34 Nghị định 38/2021/NĐ-CP lại chỉ “quy định mức phạt từ 40.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng với hành vi quảng cáo có tính chất cạnh tranh không lành mạnh” (Chính phủ, 2021). Nhận thấy các quy định tại hai văn bản trên áp dụng với các chủ thể khác nhau nhưng lại cùng hướng dẫn xử lý một hành vi vi phạm mà lại có mức phạt tiền khác nhau, dẫn đến chồng chéo trong việc thực thi pháp luật.
Thứ hai, mức chế tài đối với hành vi quảng cáo vi phạm quy định về cạnh tranh hiện nay vẫn còn thấp. Trong khi các doanh nghiệp sẵn sàng đầu tư một khoản tiền lớn cho quảng cáo, mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh lại thường không đủ lớn so với lợi nhuận thu được từ quảng cáo, dẫn đến thiếu tính răn đe hiệu quả. Điều này chưa kể đến thiệt hại mà hành vi quảng cáo không trung thực gây ra cho các đối thủ cạnh tranh. Hơn nữa, chế tài hiện tại chủ yếu mang tính chất hành chính. Còn đối với pháp luật hình sự, theo Điều 197 BLHS 2015 “tội quảng cáo gian dối chỉ bị xử lý với mức phạt nặng nhất là cải tạo không giam giữ đến 03 năm, hoặc cấm hành nghề hoặc công việc nhất định từ 01 đến 05 năm”. Những hình thức xử phạt này chưa đủ khả năng răn đe các doanh nghiệp thực hiện hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh qua quảng cáo. Bên cạnh đó, quy trình và thủ tục xử lý hành vi vi phạm quảng cáo không lành mạnh còn phức tạp và nhiều bước, dẫn đến việc tốn thời gian. Điều này có thể gây khó khăn cho cả người tiêu dùng và doanh nghiệp bị thiệt hại trong việc khiếu nại và yêu cầu cơ quan chức năng can thiệp.
Thứ ba, hiện tồn tại những bất cập trong việc chồng chéo quản lý nhà nước đối với hoạt động quảng cáo. Bộ Thông tin và Truyền thông hiện là cơ quan chính thực hiện quản lý quảng cáo theo LQC, trong khi hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh lại thuộc thẩm quyền của UBCTQG thuộc Bộ Công Thương. Sự phân chia quản lý giữa nhiều cơ quan khác nhau gây ra khó khăn trong việc kiểm soát và xử lý các hành vi vi phạm trong lĩnh vực quảng cáo.
Thứ tư, hiện chưa có quy định rõ ràng về hành vi quảng cáo qua phim truyền hình. Sự thiếu hụt quy định cụ thể này tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thực hiện hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh bằng các phương thức mà pháp luật chưa điều chỉnh. Tình trạng này làm gia tăng khó khăn trong công tác giám sát và quản lý của các cơ quan nhà nước đối với các hành vi quảng cáo không phù hợp trong mảng phim truyền hình. Luận văn: Thực tiễn pháp luật đối với hành vi vi phạm quảng cáo.
Thứ năm, chưa có sự đồng bộ giữa quy định pháp luật và thực tế. Cụ thể, LCT 2018 quy định “UBCTQG là cơ quan có thẩm quyền giải quyết các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh”. Điều đó đồng nghĩa với việc ngay khi LCT 2018 có hiệu lực thì quy định này cũng sẽ được áp dụng. Nhưng trên thực tế, đến tận ngày 29/11/2022, Chính phủ mới ban hành Nghị định số 96/2022/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công thương (Chính phủ, 2022), cụ thể Điều 3 quy định về cơ cấu tổ chức thì lúc này Bộ Công thương mới bổ sung một đơn vị mới là UBCTQG. Theo đó ngày 10 tháng 02 năm 2023, Chính phủ mới ban hành Nghị định số 03/2023/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia (Chính phủ, 2023). Sự trì trệ này có lẽ đã phần nào gây khó khăn cho các doanh nghiệp bị thiệt hại trong trường hợp có nhu cầu khiếu nại đối với hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh nói chung và hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh nói riêng thì không biết gửi đơn đến cơ quan nào. Mặc dù, Cục CT&BVNTD vẫn tiếp nhận khiếu nại trong thời gian UBCTQG chưa thành lập, nhưng điều này vẫn ảnh hưởng rất nhiều đến các doanh nghiệp (Vũ Đinh Lâm, 2017).
2.3. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật đối với hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh ở nước ta
2.3.1. Định hướng hoàn thiện và hiệu quả áp dụng pháp luật đối với các hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
Từ những phân tích về thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật Việt Nam về hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, yêu cầu về việc hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh là yêu cầu tất yếu và cấp thiết. Việc bổ sung hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh cần phải dựa trên những định hướng sau đây:
2.3.1.1. Hoàn thiện chế tài đi đôi với hoàn thiện các quy định về điều chỉnh hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh Luận văn: Thực tiễn pháp luật đối với hành vi vi phạm quảng cáo.
Từ những hạn chế, bất cập về pháp lý liên quan đến các hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, cho thấy, pháp luật về cạnh tranh của Việt Nam cần thiết sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện một số nội dung sau đây:
Thứ nhất, cần thiết phải bổ sung và hoàn thiện các quy định trong các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan đến hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh trong LCT. So với LCT 2004, LCT 2018 chỉ cung cấp các quy định khá chung chung về các hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh. Điều này có thể được lý giải bởi sự tồn tại của LQC, vốn đã điều chỉnh các hành vi vi phạm cạnh tranh liên quan đến quảng cáo. Tuy nhiên, khi xét đến môi trường cạnh tranh hiện tại, quy định pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh chưa được chú trọng đầy đủ. Thực tế cho thấy, với sự phát triển nhanh chóng của hoạt động quảng cáo và tiến bộ khoa học công nghệ, các hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh ngày càng trở nên phức tạp và khó nhận diện. Trong khi Điều 45 LCT 2004 quy định riêng biệt về các hành vi cấm trong quảng cáo, LCT 2018 chỉ quy định hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh là một dạng hành vi lôi kéo khách hàng bất chính, được nêu trong một khoản của Điều 45. Mặc dù phạm vi của LCT 2018 đã được mở rộng, việc đưa quy định về hành vi bị cấm trong quảng cáo vào một khoản trong điều luật đã phần nào làm giảm đi tính cần thiết và mức độ quan trọng của quy định này. Do đó, cần cân nhắc việc quy định hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh thành một điều luật riêng trong LCT, cùng với việc xây dựng các quy định hướng dẫn cụ thể để đảm bảo việc thực thi hiệu quả các quy định pháp lý này. Vì vậy, nên cân nhắc việc quy định riêng hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh thành một điều luật riêng được quy định trong LCT và cần có những quy định hướng dẫn cụ thể để thực hiện hiệu quả các quy định pháp luật này. Ví dụ như có thể thiết kế điều khoản như sau:
“1. Quảng cáo với mục đích cạnh tranh không lành mạnh là hành vi thương mại được thực hiện bởi các doanh nghiệp Việt Nam, hợp tác xã, doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, hoặc các hiệp hội ngành nghề, nhằm mục đích cạnh tranh. Hành vi này vi phạm quy định của pháp luật về cạnh tranh và đi ngược lại các chuẩn mực đạo đức kinh doanh, gây ra hoặc có khả năng gây ra thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng.
2. Hành vi quảng cáo nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh bao gồm: a. Cung cấp thông tin sai lệch hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về doanh nghiệp, hàng hóa, dịch vụ, chương trình khuyến mại, hoặc các điều kiện giao dịch liên quan, với mục tiêu thu hút khách hàng từ doanh nghiệp khác;
3. Thực hiện so sánh giữa hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác mà không có bằng chứng xác thực để chứng minh tính chính xác của nội dung so sánh;
- Các hành vi khác có bản chất tương tự. Luận văn: Thực tiễn pháp luật đối với hành vi vi phạm quảng cáo.
Thứ hai, cần hoàn thiện các thuật ngữ pháp lý về cạnh tranh không lành mạnh thông qua hoạt động quảng cáo. Hầu hết các tài liệu đều cho rằng hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh bị cấm trong quảng cáo là một trong các dạng của hành vi lôi kéo khách hàng bất chính được quy định tại Khoản 5 Điều 45 LCT 2018, trong khi chưa có văn bản pháp lý nào lý giải “hành vi lôi kéo khách hàng bất chính” là gì? Câu hỏi đặt ra là liệu đây có phải là “lỗ hổng” khiển doanh nghiệp có thể viện cớ để thực hiện hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh? Bởi vậy, cần có những quy định giải thích và hướng dẫn áp dụng về các trường hợp thế nào được coi là “hành vi lôi kéo khách hàng bất chính”. Ví dụ như có thể bổ sung điều khoản như là “Quảng cáo trong cạnh tranh không lành mạnh nhằm lôi kéo khách hàng bất chính là hành vi sử dụng các thủ đoạn gian dối, gây hiểu nhầm, hoặc vi phạm đạo đức kinh doanh trong hoạt động quảng cáo nhằm thu hút khách hàng từ đối thủ cạnh tranh một cách không công bằng” (Phạm Tố Uyên, 2023).
Thứ ba, cần thiết phải bổ sung các quy định về hoạt động quảng cáo thiếu thông tin, gây nhầm lẫn cho khách hàng. Hiện nay, Khoản 5 Điều 45 LCT 2018 chỉ cấm các hoạt động quảng cáo cung cấp thông tin sai lệch hoặc gây nhầm lẫn liên quan đến doanh nghiệp, hàng hóa, dịch vụ, khuyến mại và các điều kiện giao dịch, nhưng chưa đề cập đến việc cấm các hành vi quảng cáo thiếu thông tin quan trọng về sản phẩm. Đặc biệt, đối với các sản phẩm như sữa, thực phẩm chức năng, thuốc và các sản phẩm liên quan đến sức khỏe, việc cung cấp đầy đủ và chính xác thông tin là vô cùng quan trọng. Vì vậy, cần thiết phải bổ sung quy định yêu cầu các doanh nghiệp cung cấp đầy đủ và rõ ràng các thông tin liên quan đến sản phẩm trong quảng cáo. Điều này nhằm đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng và bảo vệ sức khỏe cộng đồng khỏi những rủi ro tiềm ẩn do thiếu hoặc sai lệch thông tin.
Các hành vi sau đây có thể được coi là vi phạm quy định về quảng cáo thiếu thông tin gây nhầm lẫn:
“1. Quảng cáo sản phẩm, dịch vụ mà không cung cấp đầy đủ thông tin về giá cả, điều kiện sử dụng, hoặc các chi tiết quan trọng khác khiến khách hàng không hiểu rõ về sản phẩm, dịch vụ đó.
2. Sử dụng các thông điệp quảng cáo mập mờ, không rõ ràng, dẫn đến việc khách hàng hiểu sai về đặc điểm, công dụng, hoặc lợi ích thực sự của sản phẩm, dịch vụ. Luận văn: Thực tiễn pháp luật đối với hành vi vi phạm quảng cáo.
3. Không cung cấp thông tin về các điều kiện, hạn chế hoặc rủi ro liên quan đến việc sử dụng sản phẩm, dịch vụ, khiến khách hàng không thể đưa ra quyết định tiêu dùng một cách chính xác.”
Thứ tư, cần xem xét và điều chỉnh cả hình thức lẫn mức độ xử phạt đối với các hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh. Hiện tại, các biện pháp xử phạt đối với những vi phạm này thường chưa đủ mạnh và không tương xứng với lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được từ các hành vi vi phạm, do đó chưa tạo ra tác động răn đe hiệu quả. Lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp đạt được từ hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh thường vượt xa mức phạt hành chính hiện hành. Để nâng cao hiệu quả của các biện pháp chế tài, cần xem xét việc áp dụng mức phạt cao hơn, với quy mô tương ứng hoặc lớn hơn lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được từ hành vi vi phạm. Điều này sẽ đảm bảo rằng các biện pháp xử phạt có tác dụng ngăn chặn, răn đe, đồng thời góp phần duy trì môi trường cạnh tranh công bằng và minh bạch.
Cụ thể Khoản 2 Điều 20 của Nghị định này quy định mức phạt cho hành vi lôi kéo khách hàng bất chính và quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh khá về việc “phạt tiền gấp hai lần mức quy định tại Khoản 1 Điều này đối với hành vi vi phạm tại Khoản 1 Điều này trong trường hợp hành vi vi phạm được thực hiện trên phạm vi từ hai tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên” (Chính phủ, 2020) cần được đánh giá lại về tính hợp lý. Với phạm vi quảng cáo ngày càng rộng, có thể bao phủ toàn quốc, mức phạt hiện tại có thể không phản ánh đúng tác động của hành vi vi phạm đến thị trường và các doanh nghiệp đối thủ. Do đó, cần cân nhắc việc điều chỉnh mức xử phạt cho các hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh thông qua quảng cáo, đảm bảo rằng mức phạt tương xứng với mức độ ảnh hưởng và thiệt hại mà hành vi này gây ra. Một quy định cụ thể hơn về mức xử phạt có thể giúp tăng cường hiệu quả răn đe và bảo vệ sự công bằng trong thị trường cạnh tranh. Ví dụ có thể xây dựng quy định như sau:
Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng đối với hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh bằng các hình thức sau:
- Quảng cáo chứa thông tin sai lệch hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về doanh nghiệp, hàng hóa, dịch vụ, chương trình khuyến mại, hoặc các điều kiện giao dịch liên quan, với mục đích thu hút khách hàng từ doanh nghiệp khác;
- Quảng cáo có nội dung so sánh hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp với các sản phẩm, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác mà không cung cấp được bằng chứng chứng minh tính xác thực của nội dung so sánh.
- Trường hợp hành vi vi phạm diễn ra trên phạm vi từ hai tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên, mức phạt tăng lên gấp ba lần so với quy định. Luận văn: Thực tiễn pháp luật đối với hành vi vi phạm quảng cáo.
2.3.1.2. Bảo đảm sự thống nhất giữa Luật Cạnh tranh với các Luật có liên quan
Do tính phức tạp của các hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, pháp luật cạnh tranh cần có sự liên kết chặt chẽ với các lĩnh vực pháp luật khác như thương mại, bảo vệ người tiêu dùng, quảng cáo, báo chí và xử phạt vi phạm hành chính. Điều này đòi hỏi sự thống nhất giữa các quy định pháp luật để tránh hiện tượng chồng chéo, gây khó khăn cho việc thực thi pháp luật.
Thứ nhất, cần đạt được sự đồng bộ giữa LCT và các văn bản pháp lý chuyên ngành liên quan đến quảng cáo. LCT 2018 được ban hành nhằm điều chỉnh các hành vi mà các luật khác chưa đề cập đến. Tuy nhiên, phạm vi của luật này rất rộng, bao gồm cả các quy định về cạnh tranh và các lĩnh vực quản lý khác, trong đó có quảng cáo. Vì vậy, cần nâng tầm LCT thành một văn bản pháp lý chung, và các văn bản pháp luật chuyên ngành phải dựa trên đó để xây dựng các quy định cụ thể cho từng lĩnh vực. Việc này sẽ giúp giảm thiểu mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật và đảm bảo sự đồng bộ trong hệ thống pháp luật. Khi LCT được sửa đổi, các văn bản chuyên ngành cũng cần được điều chỉnh để phù hợp và duy trì tính nhất quán trong điều chỉnh các hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh.
Trong nền kinh tế đa ngành, việc thiết lập quy định riêng cho từng ngành nghề là cần thiết để đánh giá hành vi có vi phạm pháp luật về quảng cáo hay không. Mỗi ngành nghề có những chuẩn mực riêng, và nếu chỉ dựa vào các quy định chung về cạnh tranh, có thể bỏ sót các hành vi đặc thù, dẫn đến pháp luật trở nên lạc hậu. Do đó, cần có quy định chuyên biệt cho từng ngành, đồng thời đảm bảo sự thống nhất trong áp dụng pháp luật. Việc này yêu cầu sự phối hợp chặt chẽ giữa các văn bản pháp lý và các cơ quan có thẩm quyền để đánh giá và xử lý hiệu quả các hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh.
Thứ hai, cần tăng cường biện pháp chế tài và xử lý vi phạm bằng cách nâng mức phạt tiền và bổ sung các biện pháp chế tài nghiêm khắc hơn như tước giấy phép kinh doanh, cấm tham gia hoạt động quảng cáo trong thời gian nhất định, hoặc công khai các vi phạm trên phương tiện truyền thông để tăng tính răn đe. Đối với các vi phạm nghiêm trọng và tái phạm, nên áp dụng các biện pháp đình chỉ hoạt động hoặc thu hồi giấy phép. Cần ban hành các nghị định hướng dẫn chi tiết về mức phạt và biện pháp chế tài phù hợp với từng hành vi vi phạm, đảm bảo rằng chế tài áp dụng tương xứng với mức độ vi phạm và thiệt hại gây ra.
Thứ ba, cần cải thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý để đảm bảo hiệu quả trong việc giám sát và xử lý vi phạm. Đồng bộ hóa các cơ quan thực thi pháp luật và tăng cường hợp tác giữa các đơn vị như Cục Quản lý Cạnh tranh, Bộ Công Thương, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cũng như các cơ quan địa phương. Thiết lập quy trình phối hợp rõ ràng, chia sẻ thông tin và thực hiện kiểm tra liên ngành. Xây dựng các nhóm công tác liên ngành chuyên trách để xử lý vi phạm về quảng cáo không lành mạnh và phát triển hệ thống thông tin điện tử liên thông giữa các cơ quan để chia sẻ dữ liệu.
Những kiến nghị này nhằm khắc phục các hạn chế hiện tại và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật đối với hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh tại Việt Nam, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch, công bằng và phát triển bền vững. Luận văn: Thực tiễn pháp luật đối với hành vi vi phạm quảng cáo.
2.3.1.3. Học hỏi kinh nghiệm các nước nhằm bảo đảm pháp luật cạnh tranh ngày càng phù hợp với thông lệ quốc tế
Hiện nay, Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới, Cộng đồng Kinh tế ASEAN, và đã ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do cũng như các hiệp định quốc tế khác. Vì vậy, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật cạnh tranh trong nước cần phải phù hợp với các khung pháp lý quốc tế mà Việt Nam tham gia, nhằm đảm bảo sự đồng nhất giữa các quy định pháp luật của các quốc gia. Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển, việc xây dựng và thực thi pháp luật về quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh là yếu tố quan trọng để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và duy trì sự công bằng, minh bạch trên thị trường. Việt Nam có thể học hỏi nhiều kinh nghiệm quý báu từ các quốc gia khác trong lĩnh vực này. Dưới đây là một số bài học tiêu biểu từ hệ thống pháp luật quảng cáo của Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu, Úc và Hàn Quốc.
Kinh nghiệm từ Hoa Kỳ: Tăng cường minh bạch và trung thực trong quảng cáo. Hoa Kỳ có một hệ thống pháp LQC rất phát triển, đặc biệt là với sự giám sát chặt chẽ từ Ủy ban Thương mại Liên bang (FTC). Một bài học quan trọng là việc yêu cầu các doanh nghiệp phải minh bạch và trung thực trong mọi thông tin quảng cáo. FTC đặt ra các quy định rõ ràng về việc không được phép quảng cáo sai sự thật, gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng và áp dụng các biện pháp xử phạt nghiêm khắc đối với các vi phạm. Nhờ đó, FTC đã ngăn chặn hiệu quả nhiều trường hợp quảng cáo không lành mạnh, bảo vệ người tiêu dùng khỏi các chiêu trò lừa đảo. Việt Nam có thể học hỏi việc tăng cường giám sát và yêu cầu minh bạch, trung thực trong quảng cáo để bảo vệ người tiêu dùng đồng thời duy trì sự công bằng trên thị trường.
Kinh nghiệm từ Liên minh Châu Âu: Quy định cụ thể về quảng cáo so sánh. Liên minh Châu Âu (EU) áp dụng các quy định chi tiết về quảng cáo so sánh thông qua Chỉ thị 2006/114/EC liên quan đến quảng cáo gây hiểu lầm và quảng cáo so sánh. Chỉ thị này quy định rằng quảng cáo so sánh phải dựa trên các thông tin có thể kiểm chứng được và không được làm giảm uy tín hoặc gây tổn hại cho đối thủ cạnh tranh. Mục tiêu của quy định này là đảm bảo rằng tất cả các quảng cáo so sánh đều công bằng, chính xác và cung cấp thông tin đúng đắn để người tiêu dùng có thể đưa ra quyết định mua sắm thông minh. Việt Nam có thể rút ra bài học từ quy định của EU để xây dựng hệ thống quy định chi tiết hơn về quảng cáo so sánh. Việc áp dụng các tiêu chí rõ ràng và yêu cầu dựa trên sự thật sẽ giúp đảm bảo rằng quảng cáo so sánh không chỉ trung thực mà còn không gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng, từ đó nâng cao tính công bằng trong thị trường và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.
Kinh nghiệm từ Úc: Tăng cường hợp tác quốc tế và trao đổi thông tin. Úc đã thiết lập một hệ thống hợp tác quốc tế hiệu quả trong việc quản lý và giám sát quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh thông qua Cơ quan Cạnh tranh và Tiêu dùng Úc (ACCC). ACCC thường xuyên phối hợp với các cơ quan cạnh tranh quốc tế để trao đổi thông tin và kinh nghiệm, điều này giúp nâng cao khả năng xử lý các hành vi vi phạm. Hợp tác này không chỉ cung cấp thêm nguồn lực và kiến thức cho ACCC mà còn xây dựng một mạng lưới hợp tác quốc tế mạnh mẽ, hỗ trợ lẫn nhau trong việc bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng. Việt Nam có thể áp dụng bài học từ Úc bằng cách tăng cường hợp tác với các cơ quan quản lý quốc tế, tham gia vào các tổ chức và diễn đàn quốc tế về cạnh tranh. Điều này sẽ tạo cơ hội để trao đổi thông tin và áp dụng các thực tiễn tốt nhất, góp phần nâng cao hiệu quả trong việc quản lý và xử lý hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh. Luận văn: Thực tiễn pháp luật đối với hành vi vi phạm quảng cáo.
Kinh nghiệm từ Hàn Quốc: Sử dụng công nghệ để giám sát và phát hiện vi phạm. Hàn Quốc đã triển khai công nghệ cao trong việc giám sát và phát hiện các hành vi quảng cáo không lành mạnh thông qua Cơ quan Tiêu dùng Hàn Quốc (KCA). KCA sử dụng các công cụ giám sát trực tuyến và phần mềm phân tích dữ liệu lớn để theo dõi quảng cáo trên internet, nhằm phát hiện kịp thời các quảng cáo sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn. Việc áp dụng công nghệ đã giúp KCA nâng cao hiệu quả giám sát, giảm thiểu số lượng quảng cáo vi phạm, và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng một cách hiệu quả hơn. Việt Nam có thể học hỏi từ kinh nghiệm của Hàn Quốc bằng cách tích hợp công nghệ và các công cụ hiện đại vào hệ thống giám sát và xử lý vi phạm quảng cáo. Sử dụng công nghệ tiên tiến sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý thị trường và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, đồng thời cải thiện chất lượng của thị trường quảng cáo tại Việt Nam.
Tóm lại, Việt Nam có thể học hỏi nhiều kinh nghiệm quý báu từ các quốc gia khác trong việc xây dựng và thực thi pháp luật về quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh. Những bài học này, bao gồm việc tăng cường minh bạch và trung thực trong quảng cáo, quy định cụ thể về quảng cáo so sánh, tăng cường hợp tác quốc tế, sử dụng công nghệ cao để giám sát và phát hiện vi phạm, và đẩy mạnh giáo dục và nâng cao nhận thức cộng đồng, sẽ giúp cải thiện hệ thống pháp luật hiện tại, bảo vệ người tiêu dùng và tạo ra một môi trường kinh doanh công bằng và minh bạch hơn.
Đánh giá các quy định pháp luật về chế tài đối với hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh cho thấy rằng Việt Nam hiện đang áp dụng các biện pháp chế tài bao gồm: yêu cầu ngừng hành vi, bồi thường thiệt hại và xử phạt. Các biện pháp đối phó với hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh cũng tuân theo các nguyên tắc và chế tài chung này. Cụ thể, các hình thức chế tài áp dụng cho hành vi này bao gồm:
- Yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh;
- Áp dụng các biện pháp xử phạt hành chính đối với hành vi vi phạm quảng cáo không lành mạnh, bao gồm cả hình phạt chính và bổ sung;
- Quy định bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra;
- Chế tài hình sự lần đầu tiên được quy định trong BLHS 2015, áp dụng cho các pháp nhân có trách nhiệm hình sự.
Trong số các biện pháp chế tài này, yêu cầu ngừng hành vi và phạt tiền là hai hình thức được sử dụng phổ biến nhất.
2.3.2. Kiến nghị hoàn thiện và hiệu quả áp dụng pháp luật đối với các hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh Luận văn: Thực tiễn pháp luật đối với hành vi vi phạm quảng cáo.
Với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế – xã hội và hệ thống công nghệ thông tin thì vấn đề cạnh tranh ngày càng diễn biến phức tạp. Vì thể, Nhà nước cần phải có cơ chế để đảm bảo thi hành pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh. Sau đây là một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm thi hành pháp luật về quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh:
2.3.2.1. Đối với cơ quan hành pháp
Cơ quan hành pháp cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền và giáo dục pháp luật về cạnh tranh đối với các chủ thể kinh doanh và cộng đồng xã hội cũng rất cần thiết. Đây là một vấn đề rất quan trọng nhằm nâng cao nhận thức pháp lý của cả người dân và doanh nghiệp. Việc tuyên truyền và phổ biến các quy định về pháp luật cạnh tranh sẽ góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng và doanh nghiệp, đồng thời ngăn chặn hành vi quảng cáo gian dối và gây nhầm lẫn cho khách hàng. Nội dung tuyên truyền nên tập trung vào các vấn đề như trình tự, thủ tục khiếu nại, thời hiệu khởi kiện, và thẩm quyền giải quyết các vụ việc liên quan đến cạnh tranh không lành mạnh. Về hình thức, cần áp dụng nhiều phương tiện truyền thông khác nhau, bao gồm truyền hình, ấn phẩm văn bản, và các nền tảng mạng xã hội.
Song song với đó, việc nâng cao trình độ và trách nhiệm của các cơ quan quản lý cạnh tranh và các tổ chức xã hội là rất cần thiết. Để đảm bảo thực thi hiệu quả các quy định pháp luật về quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, đội ngũ cán bộ quản lý cần có chuyên môn cao, trình độ học vấn tốt, cùng với kinh nghiệm và kiến thức đa dạng trong nhiều lĩnh vực. Đồng thời, việc nâng cao năng lực và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, và người tiêu dùng là yếu tố quan trọng giúp tăng cường hiệu quả giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và các tổ chức, cá nhân kinh doanh, đồng thời cung cấp thêm nguồn lực hỗ trợ trong công tác bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.
Ngoài ra, cần nhanh chóng ổn định và phát huy hiệu quả hoạt động của UBCTQG. Mặc dù pháp luật đã quy định thẩm quyền của UBCTQG từ năm 2018, nhưng Ủy ban này chỉ được chính thức thành lập vào đầu năm 2023. Do đó, cần có sự quan tâm nhiều hơn từ các cơ quan nhà nước để đảm bảo sự ổn định về cơ cấu và tổ chức của UBCTQG. Điều này sẽ hỗ trợ trong việc duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh, công bằng và ổn định trên thị trường. Đồng thời, cần trang bị công cụ phân tích dữ liệu số và công nghệ trí tuệ nhân tạo để phát hiện các quảng cáo vi phạm trên mạng xã hội, các nền tảng trực tuyến một cách nhanh chóng và cần bảo đảm nguyên tắc độc lập trong tổ chức và hoạt động của Ủy ban khi xử lý các vụ việc cạnh tranh. Nguyên tắc này là yếu tố then chốt để đảm bảo sự công bằng trong xử lý các vụ việc cạnh tranh, tránh sự can thiệp từ các cơ quan khác, và giữ cho hoạt động của Ủy ban được thực hiện một cách minh bạch và công bằng.
2.3.2.2. Đối với cơ quan lập pháp Luận văn: Thực tiễn pháp luật đối với hành vi vi phạm quảng cáo.
Cơ quan lập pháp cần tiến hành rà soát và hoàn thiện hệ thống pháp luật về cạnh tranh, đặc biệt là các quy định liên quan đến lĩnh vực quảng cáo. Cụ thể, cơ quan lập pháp cần sửa đổi và bổ sung quy định trong Luật Cạnh tranh 2018 và các văn bản hướng dẫn nhằm làm rõ hơn khái niệm “quảng cáo không lành mạnh” và xác định cụ thể các hành vi vi phạm, đặc biệt đối với các hình thức quảng cáo trên nền tảng số như mạng xã hội, livestream bán hàng Việc cập nhật và bổ sung các quy định mới phù hợp với thực tiễn phát triển của thị trường và công nghệ sẽ giúp ngăn chặn các hành vi vi phạm một cách hiệu quả hơn.
Đồng thời, cần xây dựng các chế tài xử phạt phù hợp, với mức phạt hành chính được tính toán dựa trên doanh thu hoặc lợi ích thu được từ hành vi vi phạm, thay vì chỉ dừng lại ở mức phạt cố định. Ngoài ra cũng cần thiết lập cơ chế pháp lý rõ ràng và cụ thể hơn về trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan liên quan, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực thi pháp luật. Việc tham khảo kinh nghiệm từ các quốc gia có hệ thống pháp luật cạnh tranh tiên tiến cũng là một hướng đi cần được xem xét để nâng cao chất lượng pháp luật trong lĩnh vực này.
2.3.2.3. Đối với cơ quan tư pháp
Cơ quan tư pháp cần xét xử các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh trong quảng cáo một cách công bằng, minh bạch và nhanh chóng. Việc xây dựng các quy trình tố tụng rõ ràng, cùng với việc đào tạo chuyên sâu cho các thẩm phán và cán bộ tư pháp về các quy định và thực tiễn của pháp luật cạnh tranh, sẽ góp phần nâng cao chất lượng xét xử. Pháp luật cạnh tranh cũng cần hoàn thiện các chế tài để điều chỉnh hành vi không lành mạnh, bao gồm áp dụng biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc đối với các doanh nghiệp không tuân thủ. Đồng thời, cơ quan tư pháp cũng cần phối hợp với các cơ quan hành pháp và lập pháp để đảm bảo thực thi hiệu quả các phán quyết và cung cấp kiến nghị pháp lý nhằm cải thiện hệ thống pháp luật về cạnh tranh.
Bên cạnh đó, cần ban hành hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong việc xử lý các tranh chấp liên quan đến hành vi quảng cáo không lành mạnh, trong đó đặc biệt chú trọng đến việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại của các bên bị ảnh hưởng. Các tòa án cũng cần được tăng cường năng lực chuyên môn trong lĩnh vực cạnh tranh và quảng cáo thông qua các khóa đào tạo chuyên sâu cho thẩm phán và hội đồng xét xử.
Những kiến nghị trên không chỉ góp phần hoàn thiện khung pháp lý mà còn đảm bảo tính hiệu quả trong việc thực thi và xét xử, qua đó thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng cũng như các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 Luận văn: Thực tiễn pháp luật đối với hành vi vi phạm quảng cáo.
Quảng cáo đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin về sản phẩm và dịch vụ đến tay người tiêu dùng một cách tin cậy và hiệu quả. Tuy nhiên, quảng cáo cũng có thể trở thành phương tiện cho các hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh thông qua nhiều hình thức khác nhau. Mặc dù LCT 2018 được ban hành nhằm ngăn chặn các hành vi này và duy trì sự ổn định trong môi trường kinh doanh, nhưng một số doanh nghiệp vẫn thực hiện quảng cáo theo cách không công bằng. Thực tiễn cho thấy rằng các quy định pháp luật về quảng cáo và cạnh tranh không lành mạnh còn thiếu sự cụ thể và đồng bộ. Các quy định hiện hành chưa được cập nhật kịp thời, gây khó khăn trong việc kiểm soát hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh. Hơn nữa, chế tài xử lý vi phạm chủ yếu chỉ dừng lại ở mức phạt hành chính với số tiền không đáng kể, trong khi nhiều doanh nghiệp có hoạt động quảng cáo lại là các tập đoàn lớn với nguồn lực tài chính mạnh mẽ. Điều này cho thấy mức xử phạt hiện tại chưa đủ sức răn đe.
Để giải quyết hiệu quả các hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh, đặc biệt là quảng cáo không chính đáng, cần thiết phải sửa đổi và bổ sung các quy định pháp luật về cạnh tranh và quảng cáo để phù hợp với sự phát triển của thị trường. Mặc dù LCT 2018 đã quy định rõ về hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, nhưng vẫn tồn tại nhiều hạn chế. Do đó, việc hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này là rất cần thiết. Dựa trên thực trạng đã phân tích trong Chương 2, đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh đã được đưa ra. Để đạt được điều này, pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam cần có những định hướng rõ ràng để nhận diện và xử lý hiệu quả các hành vi vi phạm quảng cáo không lành mạnh. Cần thống nhất về nguyên tắc áp dụng pháp luật và quan điểm xử lý. Các giải pháp cụ thể bao gồm việc bổ sung các quy định về hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh, cập nhật quy định về quảng cáo thiếu thông tin, hoàn thiện các thuật ngữ pháp lý liên quan đến cạnh tranh không lành mạnh, và bổ sung quy định giải quyết các vụ việc có yếu tố nước ngoài. Bên cạnh đó, cần xem xét việc quy định bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh gây ra và hoàn thiện cơ chế đảm bảo thực thi pháp luật về quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh để nâng cao hiệu quả thực thi.
KẾT LUẬN Luận văn: Thực tiễn pháp luật đối với hành vi vi phạm quảng cáo.
Dựa trên đề tài “Pháp luật Việt Nam về hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh” trong khuôn khổ Luận văn Thạc sĩ cho phép, một số kết luận chính như sau đã được đúc kết:
Thứ nhất, quảng cáo là phương thức phổ biến để truyền tải thông tin về sản phẩm và dịch vụ, trong khi cạnh tranh là một yếu tố cần thiết thúc đẩy sự phát triển kinh tế và khuyến khích doanh nghiệp cải thiện chất lượng sản phẩm. Do đó, khi các hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh vẫn tồn tại sẽ làm ảnh hưởng xấu đến môi trường kinh doanh. Vì vậy, pháp luật Việt Nam cần có các cơ chế hiệu quả để xử lý và ngăn chặn những hành vi vi phạm này.
Thứ hai, pháp luật về hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh là một phần của pháp luật cạnh tranh. Do đó, phạm vi áp dụng và đối tượng điều chỉnh của pháp luật về hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh cũng phải đồng nhất với các quy định chung của pháp luật về cạnh tranh. Mặc dù nhiều doanh nghiệp đã tận dụng các quy định của LCT và LQC để bảo vệ quyền lợi, chế tài xử lý vi phạm hiện tại chưa đủ sức răn đe. Mức phạt tiền hiện nay còn thấp so với lợi nhuận thu được từ quảng cáo, và các văn bản pháp luật vẫn còn tồn tại sự chồng chéo, gây khó khăn trong việc áp dụng.
Thứ ba, việc cải thiện quy định pháp luật về hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh trong quảng cáo là rất cấp thiết, cần có sự đồng nhất giữa LCT, LQC và các văn bản pháp luật liên quan. Các bước cần thiết bao gồm hoàn thiện và bổ sung quy định về hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, làm rõ thuật ngữ pháp lý về hành vi vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo và điều chỉnh các quy định xử phạt về hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh. Ngoài ra, cần học hỏi kinh nghiệm quốc tế và hoàn thiện cơ chế thực thi pháp luật để nâng cao hiệu quả xử lý các hành vi vi phạm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh. Luận văn: Thực tiễn pháp luật đối với hành vi vi phạm quảng cáo.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hành vi vi phạm quảng cáo

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
