Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Giải pháp quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp chế xuất trong khu công nghiệp Nomura tại Chi cục Hải quan Khu chế xuất và khu công nghiệp Hải Phòng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra ngày càng mạnh mẽ và trở nên tất yếu, Việt Nam đã và đang tiếp cận và hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới. Tuy nhiên, việc Việt Nam tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa với xuất phát điểm thấp, các nguồn lực còn hạn chế là một trong những nguyên nhân lớn cản trở quá trình phát triển kinh tế của nước ta. Do đó, việc huy động và sử dụng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (gọi tắt là FDI) đóng vai trò vô cùng quan trọng. Thu hút FDI không chỉ nhằm bổ sung nguồn vốn cho đầu tư phát triển, mà còn nhằm mục đích tiếp cận, tiếp nhận, chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lý tiên tiến, kỹ năng kinh doanh quốc tế, mở rộng thị trường, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động. Vì thế có thể nói, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động kinh tế đối ngoại rất quan trọng tại Việt Nam. Theo Tổng cục Hải quan, trị giá xuất khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong 9 tháng năm 2025 là 109,1 tỷ USD, tăng mạnh 21,4% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 70,7% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Các số liệu thống kê cho thấy, khu vực các doanh nghiệp FDI giữ vai trò ngày càng quan trọng trong xuất khẩu hàng hóa ở nước ta.
Để khuyến khích xuất khẩu, Chính phủ đã có những chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nói chung và các doanh nghiệp chế xuất nói riêng nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư, thu hút đầu tư. Nổi bật là việc Luật Hải quan đưa ra các quy định tạo điều kiện thông thoáng về mặt thủ tục hải quan đối với loại hình chế xuất, gia công, sản xuất xuất khẩu, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp nhưng cũng yêu cầu doanh nghiệp phải nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật hải quan, đồng thời cơ quan Hải quan cũng cần có sự quản lý để vừa tạo thuận lợi cho doanh nghiệp vừa đảm bảo quản lý nhà nước về hải quan. Luận văn: Quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp.
Hải Phòng là một trong số các thành phố đứng đầu cả nước về số lượng doanh nghiệp FDI cũng như kim ngạch xuất khẩu cao. Theo số liệu từ Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), tính hết quý I/2025, TP. Hải Phòng có 564 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) còn hiệu lực, với tổng vốn đầu tư đăng ký là 14,52 tỷ USD, đứng thứ 6/63 tỉnh, thành phố trong cả nước. Nói đến các khu công nghiệp tại Hải Phòng, phải kể đến KCN Nomura. Đây là KCN được thành lập đầu tiên tại TP Hải Phòng với các doanh nghiệp FDI hoạt động chủ yếu theo loại hình doanh nghiệp chế xuất (DNCX), sản xuất các sản phẩm xuất khẩu, tập trung vào các lĩnh vực phát triển công nghiệp điện tử, phụ tùng, linh kiện ôtô, công nghệ cao như robot…, góp phần rất lớn vào phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế của thành phố Hải Phòng.
Bên cạnh công tác quản lý nhà nước về hải quan có nhiều thay đổi như sự ra đời của hệ thống văn bản pháp luật: Luật Hải quan số 54/2022/QH13, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 107/2024/QH13, Hệ thống thông quan hàng hóa tự động VNACCS/VCIS của Tổng cục Hải quan trong khai báo hải quan… đã góp phần tạo thuận lợi trong thông quan hàng hóa của doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về hải quan của cơ quan hải quan. Tuy nhiên, qua khảo sát thực tế cũng như trong quá trình làm công tác quản lý các DNCX tại Chi cục, tác giả nhận thấy từ năm 2023 đến năm 2025, hiệu quả quản lý đối với hoạt động XNK của những doanh nghiệp này chưa đạt được nhiều kết quả như mong muốn, vẫn còn nhiều hạn chế như: Các quy trình, quy định còn một số bất cập; công tác quản lý nhà nước về hải quan đối với các DNCX vẫn còn một số hạn chế, tồn tại và có kẽ hỡ dễ dẫn đến nguy cơ gian lận, buôn lậu; Việc hiểu, chấp hành các văn bản, quy định về quản lý nhà nướcvề hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thuộc danh mục quản lý chuyên ngành của các DNCX chưa đúng, chưa có sự đồng bộ, thống nhất; Trong khai báo làm thủ tục hải quan, các doanh nghiệp thường mắc các lỗi điển hình như khai báo sai tên hàng, số lượng, trọng lượng, xuất xứ…, dẫn đến việc DN bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc phải truyền sửa tờ khai nhiều lần làm mất nhiều thời gian của cả DN lẫn cơ quan hải quan; Nhiều DN quên không khai báo hoặc do hạn chế về năng lực, nghiệp vụ nên không biết để khai báo, xin giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu đối với các mặt hàng trong danh mục phải có giấy phép, chứng nhận hợp quy hợp chuẩn, giấy phép nhập xuất khẩu tiền chất… gây chậm trễ công tác thông quan hàng hóa của DN cũng như việc theo dõi, quản lý hồ sơ DN của cán bộ công chức hải quan; Hoạt động gia công, sản xuất xuất khẩu của hầu hết các DNCX đều phát sinh chênh lệch số liệu giữa hàng hóa tồn theo sổ sách và tồn thực tế theo sổ sách kế toán của DNCX với số liệu quản lý, theo dõi của cơ quan hải quan…
Xuất phát từ những hạn chế kể trên, để quản lý tốt hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu của các DNCX sao cho phù hợp với thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà vẫn đảm bảo việc thực thi các văn bản pháp luật hải quan đúng quy định, là bài toán khó không chỉ của các cơ quan quản lý. Bài toán đặt ra cho cơ quan quản lý, ở đây là cơ quan hải quan, là làm sao để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu của doanh nghiệp nhưng vẫn đảm bảo quản lý nhà nước về hải quan?
Từ những lý do trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Giải pháp quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp chế xuất trong khu công nghiệp Nomura tại Chi cục Hải quan Khu chế xuất và khu công nghiệp Hải Phòng” làm luận văn tốt nghiệp.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước về hải quan đối với các doanh nghiệp chế xuất.
Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về hải quan đối với các doanh nghiệp chế xuất tại KCN Nomura Hải Phòng.
Đánh giá những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong quản lý nhà nước về hải quan đối với các doanh nghiệp chế xuất tại KCN Nomura Hải Phòng Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về hải quan đối với các doanh nghiệp chế xuất trong KCN Nomura Hải Phòng trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Luận văn: Quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp.
Công tác quản lý hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu của DNCX trong KCN Nomura tại Chi cục Hải quan Khu chế xuất khu công nghiệp Hải Phòng, cụ thể là theo dõi, quản lý việc nhập khẩu, xuất khẩu hàng hóa, thanh khoản hàng hoá là máy móc, thiết bị, nguyên liệu, công cụ dụng cụ, vật tư của các DNCX.
3.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung:
Nghiên cứu công tác quản lý các DNCX trong KCN Nomura tại Chi cục Hải quan Khu chế xuất và khu công nghiệp Hải Phòng. Bao gồm các nội dung sau:
- Tuyên truyền, tư vấn, hỗ trợ doanh nghiệp trong công tác thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu.
- Quản lý hoạt động thông quan đối với nhập khẩu nguyên liệu để gia công của DNCX.
- Quản lý hoạt động thông quan đối với nhập nguyên liệu để SX hàng XK của DNCX.
- Quản lý quyết toán tình hình sử dụng nguyên phụ liệu của DNCX.
- Xử lý vi phạm pháp luật hải quan, kiểm tra, giám sát và vấn đề rủi ro trong hoạt động XNK hàng hóa đối với hàng gia công, sản xuất xuất khẩu của DNCX.
Về không gian:
Doanh nghiệp chế xuất trong KCN Nomura do Chi cục Hải quan KCX&KCN Hải Phòng quản lý.
- Về thời gian:
Số liệu sử dụng trong luận văn được thu thập, xử lý và phân tích trong giai đoạn từ năm 2023 đến năm 2025.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp thu thập số liệu Luận văn: Quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp.
Số liệu thứ cấp: Được thu thập thông qua mạng internet, cổng thông tin điện tử thành phố Hải Phòng (haiphong.gov.vn), trang Web Ban quản lý khu kinh tế Hải Phòng, các số liệu được tổng hợp từ các báo cáo, thống kê của các Đội công tác thuộc Chi cục Hải quan KCX&KCN Hải Phòng.
Số liệu sơ cấp: Thu thập các dữ liệu về công tác quản lý nhà nước về hải quan đối với các DNCX trong KCN Nomura tại Chi cục Hải quan KCX&KCN Hải Phòng thông qua phiếu khảo sát cán bộ doanh nghiệp, người khai hải quan và cán bộ công chức hải quan tại Chi cục. Cụ thể, học viên tiến hành phát 50 phiếu điều tra cho 50 đối tượng, gồm: 30 người khai hải quan, 10 cán bộ doanh nghiệp và 10 CBCC hải quan tại Chi cục với 17 câu hỏi chi tiết liên quan đến công tác quản lý nhà nước về hải quan đối với các DNCX trong KCN Nomura của Chi cục Hải quan KCX&KCN Hải Phòng.
Trong việc thu thập thông tin từ doanh nghiệp và CBCC hải quan, học viên dùng thang đo Likert (1932) giới thiệu, gồm 5 mức độ để doanh nghiệp và CBCC hải quan được điều tra lựa chọn. Nội dung thông tin trên phiếu điều tra tập trung về các mặt tác động đến công tác quản lý nhà nước về hải quan đối với các DNCX trong KCN Nomura của Chi cục Hải quan KCX&KCN Hải Phòng như: Công tác tuyên truyền, phổ biến văn bản pháp luật, hỗ trợ DN; Công tác quản lý hoạt động thông quan đối với nhập khẩu nguyên liệu để gia công; Công tác quản lý hoạt động thông quan đối với nhập khẩu nguyên liệu để SX hàng XK; Công tác quản lý báo cáo quyết toán tình hình sử dụng nguyên liệu vật tư; Công tác xử lý vi phạm, kiểm tra và vấn đề rủi ro đối với hàng gia công, sản xuất để xuất khẩu.
Nội dung thông tin phiếu điều tra được chi tiết tại Phụ lục 01 và Phụ lục 02 đính kèm.
Bảng 1. Đối tượng thu thập số liệu
Phương pháp thống kê, mô tả liên quan đến quá trình hoạt động xuất nhập khẩu của các DNCX trong KCN Nomura thông qua số liệu tờ khai, kim ngạch xuất nhập khẩu, tình trạng hủy, sửa tờ khai, tình hình vi phạm hành chính của DN tại Chi cục.
Phương pháp thống kê so sánh dùng số liệu thu thập được so sánh mức độ qua từng năm và giữa các đơn vị. Trên cơ sở so sánh đó đánh giá biến động của từng mức độ. Thông qua phân tích, so sánh số liệu cho ta biết kết quả đạt được và các hạn chế còn tồn tại trong công tác quản lý nhà nước về hải quan tại Chi cục đối với các DNCX trong KCN Nomura.
Ngoài ra còn sử dụng các bảng, biểu và sơ đồ minh họa nhằm làm tăng thêm tính trực quan và thuyết phục trong quá trình nhận xét, đánh giá.
5. Ý nghĩa của đề tài
Luận văn đi sâu nghiên cứu và đánh giá đúng thực tế, từ đó đưa ra giải pháp tăng cường, nâng cao công tác quản lý nhà nước về hải quan của Chi cục Hải quan KCX-KCN Hải Phòng đối với các doanh nghiệp chế xuất trong KCN Nomura Hải Phòng.
6. Nội dung của Luận văn Luận văn: Quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp.
Ngoài Phần mở đầu và Kết luận – Kiến nghị, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác quản lý doanh nghiệp chế xuất trong lĩnh vực hải quan
- Chương 2: Thực trạng công tác quản lý doanh nghiệp chế xuất trong khu công nghiệp Nomura tại Chi cục Hải quan Khu chế xuất và khu công nghiệp Hải Phòng
- Chương 3: Giải pháp quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp chế xuất trong khu công nghiệp Nomura tại Chi cục Hải quan Khu chế xuất và khu công nghiệp Hải Phòng
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP CHẾ XUẤT TRONG LĨNH VỰC HẢI QUAN
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1.Quản lý nhà nước về hải quan
- Quản lý:
Có nhiều cách định nghĩa khái niệm quản lý khác nhau tùy theo cách tiếp cận khác nhau. Nhìn chung, quản lý là một khái niệm gắn với quyền lực ở một mức độ nhất định. Trong Từ điển tiếng Việt có nêu: Quản lý là “tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”. Khái niệm này tương đồng với các khái niệm chỉ đạo, điều hành, điều khiển. Khái niệm quản lý ở đây là muốn nói đến quản lý con người, quản lý xã hội và biểu hiện cụ thể nhất là ở quản lý nhà nước. Khái niệm chung nhất về quản lý nhà nước được hiểu cô đọng ở việc “tổ chức, điều hành các hoạt động kinh tế – xã hội theo pháp luật” [92,tr.800-801]
Trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” Harold Koontz cho rằng: “Quản lý là một dạng thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục tiêu của nhóm” và “Mục tiêu của nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học” [22.Tr33]
Bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động (tổ chức, điều khiển, kiểm tra) hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muốn và đạt mục tiêu đã đề ra.
- Quản lý nhà nước: Luận văn: Quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp.
Khái niệm quản lý nhà nước chỉ xuất hiện và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của nhà nước.
Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy nhà nước, là sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp. Theo cách hiểu này, quản lý nhà nước là hoạt động của cả ba hệ thống cơ quan nhà nước: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp. Quản lý nhà nước có các đặc điểm sau đây:
Chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan, công chức trong bộ máy nhà nước được trao quyền lực công gồm: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp.
Đối tượng quản lý của nhà nước là tất cả các cá nhân, tổ chức sinh sống và hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia.
Quản lý nhà nước có tính toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao…
Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước thực hiện nhằm xác lập một trật tự ổn định, phát triển xã hội theo những mục tiêu mà tầng lớp cầm quyền theo đuổi… Chấp hành, điều hành, quản lý hành chính do cơ quan hành pháp thực hiện đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước.
Quản lý nhà nước là điều hành của bộ máy nhà nước, hoạt động của các tổ chức nhà nước trên các phương diện luật pháp, hành pháp và tư pháp. Hay có thể hiểu là cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân lao động làm chủ ”
Quản lý nhà nước còn được biết là quá trình tổ chức, quá trình điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với xã hội và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật. Để đạt được những mục tiêu, yêu cầu và nhiệm vụ quản lý nhà nước đã đề ra.
Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước thực hiện nhằm xác lập một trật tự ổn định, phát triển xã hội theo những mục tiêu mà tầng lớp cầm quyền theo đuổi; Bao gồm toàn bộ hoạt động của cả bộ máy nhà nước từ lập pháp, hành pháp đến tư pháp vận hành như một thực thể thống nhất; Chấp hành, điều hành, quản lý hành chính do cơ quan hành pháp thực hiện đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước.
Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước. Luận văn: Quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp.
- Quản lý nhà nước về hải quan:
Quản lý nhà nước về hải quan bao gồm nhiều lĩnh vực, phạm vi rộng, luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu về công tác quản lý hải quan đối với DNCX tại Chi cục Hải quan KCX&KCN Hải Phòng. Mục đích chính trong công tác quản lý hải quan đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) hoạt động theo loại hình DNCX là:
- Tuyên truyền chính sách, văn bản pháp luật, tư vấn, hỗ trợ doanh nghiệp… , từ đó tạo môi trường thương mại và đầu tư lành mạnh, bình đẳng nhằm thúc đẩy hoạt động sản xuất trong nước và thu hút đầu tư nước ngoài;
- Quản lý hoạt động thông quan đối với nguyên liệu nhập khẩu để gia công của
- Quản lý hoạt động thông quan đối với nguyên liệu nhập khẩu để SX hàng XK của DNCX;
- Quản lý quyết toán tình hình sử dụng nguyên liệu, vật tư của DNCX;
- Xử lý vi phạm pháp luật hải quan, kiểm tra, giám sát và các vấn đề rủi ro trong hoạt động thông quan hàng hóa đối với hàng gia công, sản xuất xuất khẩu của DNCX.
Phạm vi quản lý Nhà nước về Hải quan được quy định trong Luật Hải quan số 54/2022/QH13 ngày 23/6/2022: “Quản lý nhà nước về hải quan đối với hàng hóa được xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài trong lãnh thổ hải quan; về tổ chức và hoạt động của Hải quan”.
Các đối tượng áp dụng quản lý Nhà nước về Hải quan gồm: Tổ chức, cá nhân thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải; Tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải; Cơ quan hải quan, công chức hải quan; Cơ quan khác của Nhà nước trong việc phối hợp quản lý nhà nước về hải quan.
Các chính sách về Hải quan: Nhà nước Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh lãnh thổ Việt Nam; Xây dựng Hải quan Việt Nam trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động minh bạch, hiệu lực, hiệu quả.
- Địa bàn hoạt động của hải quan bao gồm:
Khu vực cửa khẩu đường bộ, ga đường sắt liên vận quốc tế, cảng hàng không dân dụng quốc tế; cảng biển, cảng thủy nội địa có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; khu vực đang lưu giữ hàng hóa chịu sự giám sát hải quan, khu chế xuất, khu vực ưu đãi hải quan; các địa điểm làm thủ tục hải quan, kho ngoại quan, kho bảo thuế, bưu điện quốc tế, trụ sở người khai hải quan khi kiểm tra sau thông quan; các địa điểm kiểm tra hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trong lãnh thổ hải quan;
Khu vực, địa điểm khác đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, được phép xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Trong địa bàn hoạt động hải quan, cơ quan hải quan chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát, kiểm soát đối với hàng hóa, phương tiện vận tải và xử lý vi phạm pháp luật về hải quan phù hợp với pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
1.1.2. Doanh nghiệp chế xuất Luận văn: Quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp.
1.1.2.1. Khái niệm và đặc điểm pháp lý của khu chế xuất (KCX)
Nghị định số 82/2026/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm 2026 của Chính Phủ quy định rất rõ về việc quản lý khu công nghiệp, trong đó có khu chế xuất:
“Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với khu công nghiệp quy định tại Nghị định này.
Khu chế xuất được ngăn cách với khu vực bên ngoài theo các quy định áp dụng đối với khu phi thuế quan quy định tại pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;”[1, tr.1-2]
Cũng tại khoản 11 Điều 3 Luật Đầu tư số 67/2022/QH13 ngày 26/11/2022 (hiệu lực từ ngày 01/07/2023): Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu.
Như vậy, KCX là khu công nghiệp đặc biệt chỉ dành cho việc sản xuất, chế biến những sản phẩm để xuất khẩu ra nước ngoài hoặc dành cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu. Tại các khu vực đó có các ưu đãi về thuế xuất nhập khẩu, ưu đãi về giá thuê mướn mặt bằng sản xuất, thuế thu nhập và các thủ tục hành chính được cắt giảm tối thiểu. Khu chế xuất có vị trí, ranh giới được xác định từ trước, có các cơ sở hạ tầng như điện, nước, đường giao thông nội khu sẵn có và không có dân cư sinh sống. Điều hành, quản lý hoạt động chung của khu chế xuất thường do một Ban quản lý khu chế xuất điều hành. Khu chế xuất được coi là Khu phi thuế quan theo quy định tại Khoản 20 Điều 4Thông tư 219/2021/TT-BTC ngày 31/12/2021 của Bộ Tài Chính, là đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng.
1.1.2.2. Khái niệm và đặc điểm pháp lý của khu công nghiệp (KCN)
“1. Khu công nghiệp là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này.
Khu công nghiệp gồm nhiều loại hình khác nhau, bao gồm: Khu chế xuất, khu công nghiệp hỗ trợ, khu công nghiệp sinh thái (sau đây gọi chung là Khu công nghiệp, trừ trường hợp có quy định riêng đối với từng loại hình).
Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với khu công nghiệp quy định tại Nghị định này.
Khu chế xuất được ngăn cách với khu vực bên ngoài theo các quy định áp dụng đối với khu phi thuế quan quy định tại pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Luận văn: Quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp.
Khu công nghiệp hỗ trợ là khu công nghiệp chuyên sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, thực hiện dịch vụ cho sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ. Tỷ lệ diện tích đất cho các dự án đầu tư vào ngành nghề công nghiệp hỗ trợ thuê, thuê lại tối thiểu đạt 60% diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê của khu công nghiệp;
Khu công nghiệp sinh thái là khu công nghiệp, trong đó có các doanh nghiệp trong khu công nghiệp tham gia vào hoạt động sản xuất sạch hơn và sử dụng hiệu quả tài nguyên, có sự liên kết, hợp tác trong sản xuất để thực hiện hoạt động cộng sinh công nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, môi trường, xã hội của các doanh nghiệp”[1, tr.1-2]
Quy định cụ thể tại Khoản 11 Điều 3 Luật Đầu tư số 67/2022/QH13 ngày 26/11/2022 (hiệu lực từ ngày 01/07/2023): Khu công nghiệp là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp.
Khu công nghiệp thường được Chính phủ cấp phép đầu tư với hệ thống hạ tầng kỹ thuật và pháp lý riêng. Những khu công nghiệp có quy mô nhỏ thường được gọi là cụm công nghiệp;
1.1.2.3. Khái niệm, đặc điểm pháp lý và vai trò của doanh nghiệp chế xuất
- Khái niệm, đặc điểm pháp lý
Tại Nghị định quy định về quản lý KCN và khu kinh tế số 82/2026/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm 2026 của Chính Phủ thì:
Doanh nghiệp chế xuất là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động trong khu chế xuất hoặc doanh nghiệp chuyên sản xuất sản phẩm để xuất khẩu hoạt động trong khu công nghiệp, khu kinh tế.
Doanh nghiệp chế xuất không nằm trong khu chế xuất được ngăn cách với khu vực bên ngoài theo các quy định áp dụng đối với khu phi thuế quan tại pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu”[10, tr.4]
Việt Nam là quốc gia đang trên đà phát triển, do vậy chiến lược hướng vào xuất khẩu, đẩy mạnh xuất khẩu, coi xuất khẩu là hướng ưu tiên có vai trò vô cùng quan trọng trên con đường công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.Xuất phát từ quan điểm và mục tiêu phát triển trong Chiến lược phát triển kinh tế của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI là “Phấn đấu đến năm 2028 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị – xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau” [1, tr.101-102]; ‘Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút mạnh các nguồn vốn quốc tế; thu hút các nhà đầu tư lớn, có công nghệ cao, công nghệ nguồn; mở rộng thị trường xuất khẩu” [1, tr.143-144].
Do vậy, để thực hiện quan điểm và mục tiêu này, Chính phủ đã có nhiều giải pháp cụ thể để thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, tăng trưởng công nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong đó, phương thức nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu của DNCX phổ biến và phát triển mạnh mẽ. Theo đó, Chính phủ Việt Nam đã có những quy định cụ thể và thiết thực để khuyến khích xuất khẩu, tạo công ăn việc làm cho nguồn lao động dồi dào trong nước. Nhà nước đã có chính sách ưu đãi đối với hoạt động XNK của các doanh nghiệp FDI nói chung, DNCX nói riêng, coi những hàng hóa của loại hình DNCX là đối tượng không chịu thuế XNK là một trong những chính sách khuyến khích xuất khẩu.
Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 107/2023/QH13 ngày 06 tháng 4 năm 2024 của Quốc Hội quy định:
- 4. Đối tượng chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu không áp dụng đối với các trường hợp sau:
Hàng hóa xuất khẩu từ khu phi thuế quan ra nước ngoài; hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài vào khu phi thuế quan và chỉ sử dụng trong khu phi thuế quan; hàng hóa chuyển từ khu phi thuế quan này sang khu phi thuế quan khác;”, mà “Khu phi thuế quan bao gồm: khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất, kho bảo thuế, khu bảo thuế, kho ngoại quan, khu kinh tế thương mại đặc biệt, khu thương mại – công nghiệp và các khu vực kinh tế khác được thành lập và được hưởng các ưu đãi về thuế như khu phi thuế quan theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Quan hệ mua bán trao đổi hàng hóa giữa các khu này với bên ngoài là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu”. Luận văn: Quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp.
Ngoài ra, Nghị định số 28/2026/NĐ-CP của Chính Phủ đã quy định riêng áp dụng đối với khu chế xuất và doanh nghiệp chế xuất tại Điều 30 như sau:
- “Điều 30. Quy định riêng áp dụng đối với khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất.
Khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất được áp dụng quy định đối với khu vực hải quan riêng, khu phi thuế quan trừ các quy định riêng áp dụng đối với khu phi thuế quan thuộc khu kinh tế cửa khẩu. Doanh nghiệp chế xuất được quy định trong Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc trong văn bản của cơ quan đăng ký đầu tư có thẩm quyền trong trường hợp không phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Cơ quan đăng ký đầu tư có trách nhiệm lấy ý kiến cơ quan hải quan có thẩm quyền về khả năng đáp ứng điều kiện kiểm tra, giám sát hải quan trước khi cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc xác nhận bằng văn bản cho nhà đầu tư.
Trong khu công nghiệp có thể có các phân khu công nghiệp dành cho các doanh nghiệp chế xuất. Khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất hoặc phân khu công nghiệp dành cho doanh nghiệp chế xuất được ngăn cách với lãnh thổ bên ngoài bằng hệ thống tường rào, có cảng và cửa ra, vào, bảo đảm điều kiện cho sự kiểm tra, giám sát, kiểm soát của cơ quan hải quan và các cơ quan chức năng có liên quan theo quy định áp dụng đối với khu phi thuế quan, quy định tại pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
Doanh nghiệp chế xuất được mua vật liệu xây dựng, văn phòng phẩm, lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng từ nội địa Việt Nam để xây dựng công trình, phục vụ cho điều hành bộ máy văn phòng và sinh hoạt của cán bộ, công nhân làm việc tại doanh nghiệp.
Doanh nghiệp chế xuất, người bán hàng cho doanh nghiệp chế xuất được lựa chọn thực hiện hoặc không thực hiện thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu đối với vật liệu xây dựng, văn phòng phẩm, lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng từ nội địa Việt Nam.
Thủ tục hải quan, kiểm tra và giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất thực hiện theo pháp luật về hải quan.
Quan hệ trao đổi hàng hóa giữa các khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất với các khu vực khác trên lãnh thổ Việt Nam, không phải khu phi thuế quan, là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu trừ các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này và các trường hợp không làm thủ tục hải quan do Bộ Tài chính quy định. Luận văn: Quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp.
Doanh nghiệp chế xuất được bán vào thị trường nội địa tài sản thanh lý của doanh nghiệp và các hàng hóa theo quy định của pháp luật về đầu tư và thương mại. Tại thời điểm bán, thanh lý vào thị trường nội địa không áp dụng chính sách quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trừ trường hợp hàng hóa thuộc diện quản lý theo điều kiện, tiêu chuẩn, kiểm tra chuyên ngành chưa thực hiện khi nhập khẩu; hàng hóa quản lý bằng giấy phép thì phải được cơ quan cấp phép nhập khẩu đồng ý bằng văn bản.
Cán bộ, công nhân viên làm việc trong khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất khi mang ngoại hối từ nội địa Việt Nam vào khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất và ngược lại không phải khai báo hải quan.
Doanh nghiệp chế xuất khi được phép kinh doanh hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa tại Việt Nam phải mở sổ kế toán hạch toán riêng doanh thu, chi phí liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa tại Việt Nam và bố trí khu vực lưu giữ hàng hóa ngăn cách với khu vực lưu giữ hàng hóa phục vụ hoạt động sản xuất của doanh nghiệp chế xuất hoặc thành lập chi nhánh riêng nằm ngoài doanh nghiệp chế xuất, khu chế xuất để thực hiện hoạt động này.
Chi nhánh của doanh nghiệp chế xuất được áp dụng cơ chế đối với doanh nghiệp chế xuất quy định tại Điều này nếu đáp ứng được các điều kiện tại khoản 2 Điều này, được thành lập trong khu chế xuất, khu công nghiệp, khu kinh tế và hạch toán phụ thuộc vào doanh nghiệp chế xuất.
Như vậy, có thể nói việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, tăng trưởng công nghiệp, đẩy mạnh các hoạt động XNK đối với loại hình DNCX ở nước ta đã và đang rất được Chính Phủ quan tâm, ưu đãi. Các doanh nghiệp chế xuất hiện đang phát triển theo xu hướng tăng cả về số lượng, kim ngạch xuất nhập khẩu và đa dạng về chủng loại hàng hóa.
- Phương thức hoạt động chủ yếu của DNCX
DNCX ở Việt Nam nói chung và trên địa bàn thành phố Hải Phòng nói riêng hiện nay hoạt động chủ yếu dưới hai phương thức sau:
- Nhập khẩu nguyên liệu, vật tư từ nước ngoài để sản xuất hàng hóa chỉ để xuất khẩu.
- Nhập khẩu nguyên liệu, vật tư từ nước ngoài để gia công cho thương nhân nước ngoài.
Phương thức 1: Nhập khẩu nguyên liệu, vật tư để sản xuất hàng hóa xuất khẩu: Là phương thức kinh doanh XNK trong đó các DNCX nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất chế biến ra sản phẩm xuất khẩu. Đây là hình thức mua đứt bán đoạn, DNCX nhập khẩu nguyên liệu và xuất khẩu sản phẩm được sản xuất từ nguyên liệu đó.
Phương thức 2: Nhập khẩu nguyên liệu, vật tư để gia công cho thương nhân nước ngoài:
Là phương thức kinh doanh mà trong đó bên đặt gia công cung cấp nguyên liệu hoặc bán thành phẩm có khi cả máy móc thiết bị và chuyên gia cho bên nhận gia công để sản xuất, chế biến ra một sản phẩm theo yêu cầu của bên đặt hàng. Toàn bộ sản phẩm làm ra người nhận giao công sẽ giao cho người đặt gia công để nhận một khoản thù lao gọi là phí gia công.
- Điểm giống và khác nhau giữa 2 phương thức trên: Luận văn: Quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp.
Giữa nhập nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu và nhập gia công xuất khẩu đối với DNCX giống nhau ở bản chất và quy trình hoạt động:
- Về bản chất cả hai đều là xuất khẩu lao động tại chỗ;
Về quy trình hoạt động đều trải qua các công đoạn như nhập khẩu nguyên vật liệu để sản xuất, chế biến sản phẩm xuất khẩu.
Nhập nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu và nhập gia công xuất khẩu đối với DNCX khác nhau ở tính độc lập, tự chủ của chủ thể kinh doanh, nghĩa là:
Phương thức nhập để sản xuất hàng xuất khẩu giữa người mua và người bán hoàn toàn độc lập, nhà nhập khẩu có quyền nhập khẩu những nguyên liệu của những doanh nghiệp ở các nước khác nhau trên thế giới và xuất khẩu bán sản phẩm của mình cho một hoặc nhiều doanh nghiệp khác ở những nước khác nhau.
Còn trong phương thức gia công bên nhận gia công phụ thuộc vào bên đặt gia công về mẫu mã, chủng loại hàng hóa, số lượng, thị trường xuất khẩu….
- Vai trò của doanh nghiệp chế xuất
Không thể phủ nhận được vai trò to lớn, quan trọng của các DNCX đối với việc phát triển kinh tế của nước ta. Hoạt động chế xuất tại Việt Nam hiện đang phát triển mạnh mẽ cả về quy mô lẫn tốc độ, đem lại những lợi ích nhiều mặt về kinh tế, xã hội như nâng cao thu nhập, đời sống và trình độ của người lao động, nâng cao giá trị xuất khẩu và sức cạnh tranh của nền kinh tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các địa phương và cả nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa… Cụ thể, trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay, vai trò của hoạt động chế xuất thể hiện ở nhiều khía cạnh:
Khai thác được lợi thế về nguồn nhân lực, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, góp phần nâng cao, cải thiện đời sống của người lao động, thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội.
Việc các doanh nghiệp chế xuất phát triển, mở rộng quy mô sản xuất sẽ gắn với công tác đào tạo, tuyển dụng nhân công vào làm việc trong các công ty, nhà máy, đã góp phần giải quyết công ăn việc làm, tạo cho người lao động có thu nhập ổn định, với mức thu nhập bằng hoặc cao hơn so với mức thu nhập tại các công ty tư nhân nội địa. Việc này góp phần nâng cao chất lượng sống của người lao động nói riêng, của xã hội nói chung. Luận văn: Quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp.
Việc các doanh nghiệp chế xuất thành lập và hoạt động tại Việt Nam đã góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tranh thủ được vốn,đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao học hỏi khoa học công nghệ tiên tiến của nước ngoài để đẩy mạnh công nghệ trong nước hiện đại và chiến lược hướng về xuất khẩu.
Chính sách ưu đãi thuế đã khuyến khích DNCX đẩy mạnh đầu tư vào xây dựng nhà máy, dây chuyền sản xuất hiện đại. Hàng hóa xuất khẩu phải đáp ứng yêu cầu khắt khe về chất lượng, mẫu mã, quy cách của các đối tác nước ngoài buộc các DNCX phải đầu tư máy móc, thiết bị với công nghệ tiên tiến hàng đầu, do vậy mà nguồn nhân sự Việt Nam cũng được tiếp cận, nghiên cứu và vận hành công nghệ hiện đại hóa cao, trình độ của người lao động vì thế được cải thiện rõ rệt. Ngoài ra, việc các DNCX nhập khẩu máy móc thiết bị trong nước nếu phù hợp với dây chuyền, quy mô sản xuất cũng như đáp ứng chất lượng sản xuất, cũng góp phần thúc đẩy tư duy sáng tạo cũng như gia tăng lợi nhuận cho các doanh nghiệp trong nước. Muốn thế, các doanh nghiệp nội địa phải nghiêm túc nghiên cứu, học hỏi cách vận hành máy móc công nghệ nước ngoài, nâng cao nhận thức, tư duy đón đầu nhu cầu của họ, không ngừng cải tiến, đầu tư thiết bị công nghệ…, góp phần đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chiến lược hướng về xuất khẩu.
Hoạt động chế xuất có thể kết hợp xuất khẩu được nguồn tài nguyên, vật tư nguyên liệu sẵn có trong nước, tạo điều kiện thúc đẩy cho ngành sản xuất trong nước…
Nguyên liệu, thiết bị nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu thường là nguyên liệu, thiết bị chính có tiêu chuẩn kỹ thuật cao, nhưng chưa phải là toàn bộ đầu vào cho sản xuất, phần còn lại thị trường trong nước có thể cung cấp. Đây là cơ hội khai thác, phát huy nguồn tài nguyên, nguyên liệu có sẵn trong nước, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước tiếp cận, bán hàng cho DNCX dễ dàng hơn so với việc tìm thị trường tại nước ngoài.
- Góp phần tăng thu ngoại tệ cho đất nước, giảm bớt sự mất cân đối cán cân thanh toán quốc tế.
Qua hoạt động thương mại giữa DNCX và doanh nghiệp trong nước đối với mua bán nguyên liệu, vật tư, máy móc thiết bị phục vụ cho sản xuất hoặc tiêu dùng làm tăng nguồn thu ngoại tệ, góp phần giảm bớt thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế.
1.2. Nhiệm vụ và địa bàn hoạt động của Hải quan Việt Nam: Luận văn: Quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp.
1.2.1. Nhiệm vụ
Điều 12 Luật Hải quan số 54/2022/QH13 ngày 23/6/2022 quy định: Hải quan Việt Nam có nhiệm vụ thực hiện kiểm tra, giám sát hàng hóa, phương tiện vận tải; phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; thống kê hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu”. Nhà nước Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh lãnh thổ Việt Nam.
Hải quan là cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu. Như vậy, ở đâu có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, ở đó có hoạt động của hải quan;
Quản lý toàn bộ hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của các DNXC theo đúng các quy định của pháp luật (quản lý nguyên vật liệu từ khi nhập khẩu cho đến khi sản phẩm sản xuất thực xuất khẩu; giám sát việc thực hiện chính sách ưu đãi thuế đối với nguyên liệu nhập khẩu). Việc quản lý hải quan đối với hàng hóa XNK của DNCX đảm bảo các yếu tố sau:
Tạo môi trường thương mại và đầu tư lành mạnh, bình đẳng nhằm thúc đẩy hoạt động sản xuất trong nước và thu hút đầu tư nước ngoài. Tạo ra nguồn thu cho ngân sách thông qua các khoản thuế nội địa và các nguồn thu phát sinh.
Thực hiện cải cách hành chính, đơn giản hóa thủ tục hải quan, giảm thiểu sự can thiệp không cần thiết vào các hoạt động thương mại hợp pháp, cơ quan hải quan đã tác động đến việc giảm chi phí cho các doanh nghiệp, qua đó thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế, tạo môi trường đầu tư thuận lợi thu hút vốn đầu tư nước ngoài về lâu dài sẽ tạo ra nguồn thu cho ngân sách thông qua các khoản thuế nội địa và các nguồn thu phát sinh (thuế Bảo vệ môi trường, vận tải, dịch vụ).
- Bảo đảm thu thập số liệu thống kê thương mại chính xác và kịp thời.
Việc thu thập thống kê thương mại chính xác và kịp thời sẽ góp phần tích cực cho Nhà nước và Chính phủ hoạch định chính sách, chiến lược và các giải pháp phát triển kinh tế, xã hội của đất nước qua từng thời kỳ.
- Góp phần bảo vệ trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia, đây là một trong những nhiệm vụ của cơ quan hải quan.
Trong môi trường thế giới có nhiều biến động với sự phát triển của chủ nghĩa khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia, âm mưu diễn biến hòa bình, hoạt động rửa tiền, buôn bán vũ khí và các chất ma túy… thì một trong những nhiệm vụ hàng đầu của cơ quan hải quan là đảm bảo an toàn xã hội và an ninh quốc gia, kiểm soát một cách có hiệu quả việc vận chuyển trái phép qua biên giới các loại hàng hoá nguy hiểm và không an toàn đối với xã hội: các chất gây nghiện, heroin, cổ vật, văn hóa phẩm đồi trụy …
Công tác quản lý về Hải quan nói chung trong đó có công tác quản lý các doanh nghiệp chế xuất được quy định bởi nhiều văn bản, trong đó có các văn bản như Luật Hải quan số 29/2001/QH10, Luật số 42/2005/QH11 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan và hiện nay là Luật Hải quan số 54/2022/QH13 ngày 23/06/2022 (hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2023) và được quy định chi tiết theo các văn bản cụ thể như: Thông tư 79/2017/TT-BTC ngày 20/04/2017 có hiệu lực từ ngày 04/06/2017, hết hiệu lực ngày 20/01/2019; Thông tư 194/2018/TT-BTC ngày 06/12/2018 có hiệu lực từ ngày 20/01/201, hết hiệu lực từ ngày 01/01/2021 ; Thông tư số 128/2021/TT-BTC ngày 10/09/2021 có hiệu lực từ ngày 01/11/2021, hết hiệu lực từ ngày 01/04/2023; Thông tư số 38/2023/TT-BTC ngày 25/3/2023 được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Thông tư số 39/2026/TT-BTC ngày 20/4/2026 của Bộ Tài chính quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu. Luận văn: Quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp.
Như vậy, nhiệm vụ của Hải quan Việt Nam được chi tiết hóa như sau:
- Thứ nhất, thực hiện kiểm tra, giám sát hàng hóa, phương tiện vận tải;
- Thứ hai, phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới;
- Thứ ba, tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;
- Thứ tư, thống kê hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan;
- Thứ năm, kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu”.
- Thứ sáu, tạo điều kiện thuận lợi về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh lãnh thổ Việt Nam.
1.2.2. Địa bàn hoạt động
Địa bàn hoạt động của Hải quan Việt Nam theo quy định tại Điều 7 Luật Hải quan số 54/2022/QH13 ngày 23/06/2022:
Khu vực cửa khẩu đường bộ, ga đường sắt liên vận quốc tế, cảng hàng không dân dụng quốc tế; cảng biển, cảng thủy nội địa có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; khu vực đang lưu giữ hàng hóa chịu sự giám sát hải quan, khu chế xuất, khu vực ưu đãi hải quan; các địa điểm làm thủ tục hải quan, kho ngoại quan, kho bảo thuế, bưu điện quốc tế, trụ sở người khai hải quan khi kiểm tra sau thông quan; các địa điểm kiểm tra hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trong lãnh thổ hải quan;
Khu vực, địa điểm khác đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, được phép xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
- Cơ quan quản lý nhà nước về Hải quan và các cơ quan phối hợp:
- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hải quan được quy định cụ thể tại Khoản 2 Điều 14 Luật Hải quan số 54/2022/QH13 ngày 23/06/2022;
- Bộ Tài chính chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về hải quan;
- Các Bộ và các cơ quan ngang Bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan Hải quan;
- Uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật hải quan tại địa phương;
1.3. Quản lý nhà nước về hải quan đối với các doanh nghiệp chế xuất Luận văn: Quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp.
1.3.1. Chủ thể, đối tượng quản lý
- Chủ thể quản lý: Tổng Cục Hải quan mà trực tiếp quản lý là các đơn vị Hải quan địa phương gồm Cục Hải quan tỉnh, thành phố và Chi cục hải quan trực thuộc.
- Đối tượng quản lý: Tất cả hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của DNCX.
- Công cụ quản lý: Sử dụng các công cụ thuế thông qua hàng hóa XNK của DNCX. + Do hàng hóa của DNCX bao gồm máy móc, nguyên vật liệu nhập khẩu, xuất khẩu của các DNCX theo quy định của Pháp luật Việt Nam đều là đối tượng không phải chịu thuế XNK.
Đối với loại hình nhập sản xuất Chế xuất của DNCX, cơ quan quản lý cần quản lý những thông tin sau: Nguyên liệu, vật tư nhập khẩu trực tiếp cấu thành sản phẩm; Sản phẩm, nguyên vật liệu mẫu; Sản phẩm xuất khẩu sau khi sản xuất; thông tin nhập xuất tồn kho doanh nghiệp.
Đối với loại hình nhập Gia công cho thương nhân nước ngoài sử dụng công cụ thuế thông qua hợp đồng GC. Hợp đồng GC phải được lập theo đúng quy định của Pháp luật và thể hiện đầy đủ những thông tin cơ bản sau: thông tin các bên; thông tin về sản phẩm gia công; giá trị hợp đồng; Biện pháp phần thừa sau khi kết thúc hợp đồng;
Xuất phát từ yêu cầu quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu do vậy ở đâu có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu ở đó có hoạt động của hải quan:
Quản lý được toàn bộ hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của các DNXC theo đúng các quy định của pháp luật (quản lý nguyên vật liệu từ khi nhập khẩu cho đến khi sản phẩm sản xuất thực xuất khẩu; giám sát việc thực hiện chính sách ưu đãi thuế đối với nguyên liệu nhập khẩu);
Tạo môi trường thương mại và đầu tư lành mạnh, bình đẳng nhằm thúc đẩy hoạt động sản xuất trong nước và thu hút đầu tư nước ngoài. Tạo ra nguồn thu cho ngân sách thông qua các khoản thuế nội địa và các nguồn thu phát sinh.
Đấu tranh chống buôn lậu và gian lận thương mại, góp phần bảo vệ trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia, đây là một trong những nhiệm vụ của cơ quan hải quan.
Về thủ tục hải quan được thể hiện cụ thể tại các Điều 75, 76, 77, 78, 79, 80 Thông tư số 38/2023/TT-BTC ngày 25/3/2023 của Bộ Tài chính quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.
1.3.2. Nội dung quản lý nhà nước về hải quan đối với các DNCX Luận văn: Quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp.
1.3.2.1. Tuyên truyền, tư vấn, hỗ trợ doanh nghiệp
Việc tuyên truyền, tư vấn, hỗ trợ doanh nghiệp trong công tác thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu giúp cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu hàng hóa kịp thời nắm bắt các quy định của pháp luật hải quan về hoạt động thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu, tạo điều kiện tối đa cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật trước, trong và sau khi thực hiện hoạt động thông quan hàng hóa của mình.
1.3.2.2. Quản lý hoạt động thông quan đối với nhập khẩu nguyên liệu để gia công
Nhà nước đã có nhiều cải cách, đơn giản hóa các thủ tục hải quan đối với hàng hóa nhận gia công, tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, bên cạnh những cải cách, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu, thực tiễn cũng đã đặt ra không ít thách thức mới trong quản lý nhà nước về hải quan.
Trong hoạt động gia công quốc tế, hàng hóa gia công được hiểu là toàn bộ hàng hóa được đưa vào, đưa ra lãnh thổ hải quan nhằm thực hiện hoạt động gia công hàng hóa và được thể hiện cụ thể trên hợp đồng gia công.
Thủ tục hải quan đối với hàng hoá gia công cho thương nhân nước ngoài là tất cả các hoạt động tác nghiệp mà người khai hải quan và công chức hải quan phải thực hiện theo quy định của pháp luật đối với hàng hóa gia công cho thương nhân nước ngoài.
Để tạo thuận lợi tối đa cho hoạt động nhận gia công hàng hóa cho thương nhân nước ngoài, thủ tục hải quan đối với hàng hóa gia công được quy định bởi: Luật Thuế xuất khẩu, nhập khẩu số 107/2024/QH13 năm 2024; Thông tư số 38/2023/TT-BTC ngày 25/3/2023 được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Thông tư số 39/2026/TT-BTC ngày 20/4/2026 của Bộ Tài chính quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; Quyết định số 1966/QĐ-TCHQ ngày 10/7/2023 của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan; Luật hải quan số 54/2022/QH13 ngày 23 tháng 6 năm 2022 của Quốc hội…
Cùng với đó là các văn bản hướng dẫn như: Nghị định số 187/2021/NĐ-CP ngày 20/11/2021 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài; Nghị định số 08/2023/NĐ-CP ngày 21/01/2023 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan.
Bên cạnh đó, thủ tục hải quan đối với hàng hoá nhận gia công cho thương nhân nước ngoài cũng được hướng dẫn cụ thể như: Thông báo cơ sở gia công; Nhập khẩu , nguyên liệu, phụ liệu gia công; Xuất khẩu sản phẩm gia công; Báo cáo quyết toán tình hình sử dụng nguyên liệu, vật tư, máy móc, thiết bị và hàng hóa xuất khẩu.
Những quy định mới trong thủ tục hải quan đối với hàng hóa nhận gia công cho thương nhân nước ngoài đã tạo nhiều thuận lợi cho các DN nhận gia công và tạo ra nhiều cơ hội trong kinh doanh của doanh nghiệp như:
- Tăng uy tín tốt của DN và tăng lợi thế cạnh tranh đối với các DN gia công của các nước khác;
- Tạo cơ hội giảm tải dư thừa lao động hay thất nghiệp để phát triển nguồn nhân lực;
- Tăng nguồn thu ngoại tệ và tạo điều kiện tốt để phát triển sản xuất kinh doanh, tăng thu nhập;
- Thu hút sự đầu tư, kỹ thuật quản lý hiện đại và kinh nghiệm quản lý phương thức tổ chức sản xuất tiên tiến;
- Nâng cao vị thế của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế…
1.3.2.3. Quản lý hoạt động thông quan đối với nhập nguyên liệu để SX hàng XK
Quy trình quản lý hoạt động thông quan đối với nguyên liệu sản xuất hàng xuất khẩu được thực hiện theo các bước sau:
Bước 1: Thu thập thông tin của tổ chức, cá nhân hoạt động gia công, sản xuất xuất khẩu, doanh nghiệp chế xuất
- Các nguồn thông tin để thu thập, phân tích và đánh giá: Luận văn: Quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp.
- Công chức/nhóm công chức được phân công chủ động khai thác, thu thập thông tin về các tổ chức, cá nhân hoạt động gia công, sản xuất xuất khẩu, doanh nghiệp thuộc quản lý của Chi cục từ các nguồn cụ thể sau:
- Từ thông tin thông báo cơ sở gia công, sản xuất xuất khẩu; Từ Hệ thống cơ sở dữ liệu hải quan;
- Từ hoạt động nghiệp vụ hải quan (đăng ký, giám sát, kiểm tra thực tế hàng hóa, kiểm tra hồ sơ, tham vấn giá, kết quả giám định hàng hóa, xác định trước mã số, trị giá;…);
- Từ bộ phận quản lý rủi ro, chống buôn lậu thu thập, phát hiện trong quá trình thực hiện nghiệp vụ;
- Từ văn bản chỉ đạo của cơ quan cấp trên;
- Từ các cơ quan khác ngoài cơ quan hải quan (Bộ, cơ quan ngang bộ, Thuế, Công an, Kho bạc, Ngân hàng, các hiệp hội ngành nghề,…) cung cấp;
- Từ những người khai hải quan tham gia hoạt động xuất nhập khẩu cung cấp;
- Từ các nguồn thông tin khác.
- Từ thông tin thu thập có được, công chức được giao nhiệm vụ tổng hợp, báo cáo tình hình định kỳ cho người đứng đầu đơn vị và báo cáo ngay nếu phát hiện những trường hợp có dấu hiệu nghi vấn:
Để kiểm tra cơ sở sản xuất khi có dấu hiệu xác định tổ chức, cá nhân không có cơ sở sản xuất hoặc nguyên liệu nguyên liệu, vật tư tăng, giảm bất thường so với năng lực sản xuất;
Để kiểm tra tình hình sử dụng, báo cáo quyết toán trong các trường hợp: Tổ chức, cá nhân nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên liệu, vật tư mà quá chu kỳ sản xuất không có sản phẩm xuất khẩu; Khi có dấu hiệu xác định tổ chức, cá nhân nhập khẩu nguyên liệu, vật tư, máy móc, thiết bị hoặc xuất khẩu sản phẩm tăng giảm bất thường so với năng lực sản xuất; Khi có dấu hiệu xác định tổ chức, cá nhân bán nguyên liệu, vật tư, máy móc, thiết bị, sản phẩm vào nội địa nhưng không khai hải quan; Khi phát hiện tổ chức, cá nhân kê khai không đúng số lượng, chủng loại; Khi số liệu báo cáo quyết toán có sự chênh lệch bất thường so với số liệu xuất nhập khẩu trên Hệ thống của cơ quan hải quan.
Bước 2: Thông báo cơ sở gia công, sản xuất hàng hóa xuất khẩu, năng lực gia công, sản xuất và việc kiểm tra cơ sở gia công, sản xuất hàng hóa xuất khẩu, năng lực gia công, sản xuất
Công chức được giao nhiệm vụ tiếp nhận thông báo cơ sở gia công, sản xuất hàng hóa xuất khẩu, năng lực gia công, sản xuất được thực hiện thông qua Hệ thống. Kiểm tra tính đầy đủ của thông tin khai trong thông báo cơ sở gia công, sản xuất xuất khẩu của tổ chức, cá nhân và yêu cầu bổ sung thông tin chưa đầy đủ ngay sau khi tiếp nhận văn bản thông báo;
Chậm nhất là 08 giờ làm việc kể từ khi tiếp nhận đầy đủ thông tin Thông báo cơ sở sản xuất, công chức có đề xuất Chi cục trưởng xem xét, quyết định việc kiểm tra cơ sở sản xuất đối với tổ chức, cá nhân thực hiện hợp đồng gia công lần đầu, tổ chức cá nhân lần đầu áp dụng thời hạn nộp thuế 275 ngày đối với hàng hóa nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu; Thẩm quyền quyết định kiểm tra cơ sở gia công, sản xuất hàng hóa xuất khẩu: Chi cục trưởng Chi cục Hải quan nơi quản lý tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động gia công, sản xuất hàng hóa xuất khẩu. Luận văn: Quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp.
Bước 3: Xử lý nguyên liệu, vật tư dư thừa; phế liệu, phế phẩm; máy móc, thiết bị thuê mượn
Công chức được giao nhiệm vụ tiếp nhận văn bản thông báo xử lý nguyên liệu, vật tư dư thừa; phế liệu, phế phẩm; máy móc, thiết bị thuê, mượn của tổ chức. Trường hợp tổ chức, cá nhân có văn bản tiêu hủy nguyên liệu, vật tư, phế liệu, phế phẩm, máy móc, thiết bị thuê mượn trong quá trình thực hiện hợp đồng gia công; tiêu hủy nguyên liệu, vật tư, phế liệu, phế phẩm của doanh nghiệp chế xuất, tiêu hủy nguyên liệu, vật tư, phế liệu, phế phẩm của hoạt động nhập nguyên liệu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu, công chức hướng dẫn tổ chức, cá nhân có văn bản gửi Chi cục Hải quan quản lý về phương án sơ hủy, tiêu hủy
Bước 4: Kiểm tra tình hình sử dụng nguyên liệu
- Chi cục hải quan sẽ tiến hành kiểm tra sử dụng nguyên liệu trong các trường hợp sau:
- Khi xác định tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng có dấu hiệu rủi ro đã nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên liệu nhưng quá chu kỳ sản xuất không có sản phẩm xuất khẩu;
- Khi có dấu hiệu xác định tổ chức, cá nhân nhập khẩu nguyên liệu, vật tư, máy móc, thiết bị hoặc xuất khẩu sản phẩm tăng, giảm bất thường so với năng lực sản xuất;
- Khi có dấu hiệu xác định tổ chức, cá nhân bán nguyên liệu, vật tư, máy móc, thiết bị, sản phẩm vào nội địa nhưng không khai hải quan;
- Khi phát hiện tổ chức, cá nhân kê khai sản phẩm xuất khẩu không đúng quy định và không đúng thực tế.
Nội dung kiểm tra
- Kiểm tra hồ sơ hải quan, hồ sơ hoàn thuế, không thu thuế (đối với trường hợp kết hợp kiểm tra hồ sơ hoàn thuế, không thu thuế), báo cáo quyết toán, chứng từ kế toán, sổ kế toán, chứng từ theo dõi nguyên liệu, vật tư, máy móc, thiết bị nhập kho, xuất kho và các chứng từ khác người khai hải quan phải lưu theo quy định
- Kiểm tra định mức thực tế sản phẩm xuất khẩu và các chứng từ liên quan đến việc xây dựng định mức;
- Kiểm tra tính phù hợp của sản phẩm xuất khẩu với nguyên liệu, vật tư đã nhập khẩu;
- Trường hợp qua kiểm tra các nội dung quy định tại điểm a, b, c khoản này mà cơ quan hải quan phát hiện có dấu hiệu vi phạm nhưng chưa đủ cơ sở kết luận thì thực hiện: Kiểm tra nguyên liệu, vật tư, máy móc, thiết bị trên dây chuyền sản xuất; Kiểm tra số lượng hàng hóa còn tồn trong kho; Kiểm tra số lượng thành phẩm chưa xuất khẩu.
Thẩm quyền quyết định kiểm tra
- Cục trưởng Cục Hải quan ban hành quyết định kiểm tra. Chi cục trưởng Chi cục Hải quan quản lý tổ chức thực hiện việc kiểm tra.
Thời gian kiểm tra
Việc kiểm tra được thực hiện không quá 05 ngày làm việc tại cơ sở sản xuất, trụ sở của tổ chức, cá nhân. Đối với trường hợp phức tạp, Cục trưởng Cục Hải quan ban hành quyết định gia hạn thời hạn kiểm tra nhưng không quá 05 ngày làm việc.
Bước 5: Tiếp nhận, kiểm tra xử lý báo cáo quyết toán Luận văn: Quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp.
Công chức được giao nhiệm vụ tiếp nhận báo cáo quyết toán của tổ chức, cá nhân nộp thông qua Hệ thống. Sau khi tiếp nhận công chức được giao nhiệm vụ thực hiện các công việc sau: Kiểm tra xác định thời hạn nộp báo cáo quyết toán của tổ chức, cá nhân; Kiểm tra đối chiếu thông tin trên báo cáo quyết toán với thông tin số liệu trên Hệ thống của cơ quan hải quan theo nguyên tắc tổng trị giá khai báo trên tờ khai nhập khẩu nguyên liệu, vật tư và sản phẩm xuất khẩu với trị giá trên báo cáo quyết toán.
Trường hợp tổ chức, cá nhân theo dõi chi tiết lượng hàng hóa, không theo trị giá thì kiểm tra đối chiếu thông tin trên báo cáo quyết toán với thông tin chi tiết lượng hàng hóa trên Hệ thống của cơ quan hải quan.
1.3.2.4. Quản lý quyết toán tình hình sử dụng nguyên phụ liệu
Cơ quan hải quan không quản lý số lượng nguyên liệu vật tư nhập khẩu cho hợp đồng gia công và số lượng sản phẩm xuất khẩu cho hợp đồng gia công thông qua định mức mà DN thông báo cho cơ quan hải quan như trước đây.
Cơ quan hải quan chỉ quản lý thông qua báo cáo quyết toán tình hình sử dụng nguyên liệu, vật tư nhập khẩu thông quan mẫu biểu số 15/BCQT/GSQQL được ban hành theo Thông tư số 38/2023/TT-BTC ngày 25/3/2023 của Bộ Tài chính.
Tuy nhiên, qua mẫu biểu này, cơ quan hải quan sẽ không biết được thông tin loại nguyên liệu được sử dụng để sản xuất cho thành phẩm nào và của hợp đồng gia công nào.
Khi gặp trường hợp, nhiều thành phẩm sử dụng chung một hoặc nhiều loại nguyên liệu với định mức sử dụng khác nhau, qua bảng biểu này, cơ quan hải quan không nắm bắt được thông tin chính xác về lượng nguyên liệu, vật tư nhập khẩu được sử dụng cho từng hợp đồng gia công.
Trong một số trường hợp cần kiểm tra, cơ quan hải quan sẽ không có căn cứ cơ sở pháp lý chính thức về hạch toán kế toán để thẩm định báo cáo của DN. Đây chính là một thách thức lớn cho cơ quan hải quan.
1.3.2.5. Xử lý vi phạm pháp luật hải quan, kiểm tra, giám sát và vấn đề rủi ro đối với hàng gia công, sản xuất để xuất khẩu của DNCX. Luận văn: Quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp.
Các hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động nhập khẩu nguyên liệu vật tư để sản xuất hàng xuất khẩu là các lỗi doanh nghiệp cố ý hoặc vô ý vi phạm quy định quản lý Nhà nước về hải quan, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, theo quy định chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính về hải quan, cụ thể ở đây là bị phạt tiền.
Để công tác quản lý nhà nước về hải quan của cơ quan hải quan thực sự hiệu quả, đồng thời nâng cao ý thức chấp hành pháp luật hải quan của doanh nghiệp cũng như góp phần ngăn ngừa các hành vi vi phạm, pháp luật đã quy định về hành vi, hình thức xử phạt đối với các doanh nghiệp có vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan liên quan đến hoạt động này, có các chế tài, mức phạt áp dụng cho từng vụ việc cụ thể. Việc xử phạt sẽ căn cứ vào từng trường hợp, từng vụ việc, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để ra quyết định xử phạt hợp lý.
Rất nhiều chủ thể tham gia vào hoạt động nhập khẩu nguyên liệu vật tư để sản xuất hàng xuất khẩu. Từ các doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật, hộ kinh doanh cá thể đến các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các DNCX… nên trình độ hiểu biết về pháp luật hải quan cũng như ý thức tuân thủ pháp luật luôn được xem trọng. Dưới góc độ quản lý thấy rằng, một số hộ kinh doanh cá thể vi phạm do trình độ hiểu biết pháp luật còn hạn chế, nhiều khi hiểu chưa đúng nội dung văn bản trong khi việc tuyên truyền văn pháp luật của các cơ quan nhà nước chưa phổ biến, chưa thực sự hiệu quả, dẫn đến việc đối tượng này vi phạm trong khi tham gia hoạt động này. Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp có lực lượng tư vấn pháp luật đông đảo, có hiểu biết sâu về lĩnh vực mình hoạt động song vẫn tái vi phạm. Trong bối cảnh hệ thống pháp luật của Nhà nước nói chung còn nhiều kẽ hở, vẫn trong quá trình hoàn thiện, các doanh nghiệp vì thế cũng “lách luật” để lợi dụng, làm trái pháp luật.
Phương pháp quản lý rủi ro được thực hiện trên cơ sở đánh giá quá trình chấp hành pháp luật của người khai hải quan, có ưu tiên và tạo thuận lợi đối với chủ hàng chấp hành tốt pháp luật về hải quan. Qua đó thay vì phải kiểm tra 100% các lô hàng XK, NK theo quy định tại Luật Hải quan năm 2005 thì nay Luật Hải quan số 54 năm 2022 đã đưa nội dung quản lý rủi ro vào quản lý, Hệ thống phân luồng theo phương thức quản lý rủi ro. Cụ thể là nếu hồ sơ thuộc “luồng xanh” thì thực hiện miễn kiểm tra chi tiết hồ sơ, miễn kiểm tra thực tế hàng hóa; “luồng vàng” kiểm tra chi tiết hồ sơ, miễn kiểm tra thực tế hàng hóa; “luồng đỏ” kiểm tra chi tiết hồ sơ, kiểm tra thực tế hàng hoá.
- Khoản 2, Điều 16, Luật Hải quan số 54/2022/QH13 ngày 23/6/2022 quy định.
Kiểm tra, giám sát hải quan được thực hiện trên cơ sở áp dụng quản lý rủi ro nhằm bảo đảm hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước về hải quan và tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh”. Quản lý rủi ro được áp dụng một cách có hệ thống và phổ biến trong toàn bộ quy trình thủ tục Hải quan đối với hàng hóa XNK nói chung và hoạt động nhập khẩu nguyên liệu vật tư để sản xuất hàng xuất khẩu nói riêng. Mục tiêu của việc áp dụng quản lý rủi ro nhằm đánh giá, phân loại đối tượng rủi ro; theo dõi, đánh giá việc chấp hành pháp luật của chủ hàng; điều phối việc kiểm tra, kiểm soát một cách phù hợp, có hiệu quả nhằm tạo thuận lợi thương mại, giảm chi phí trong quá trình làm thủ tục hải quan.
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý nhà nước về hải quan đối với DNCX
1.4.1. Các yếu tố bên trong thuộc phía cơ quan hải quan
- Đội ngũ cán bộ công chức hải quan Luận văn: Quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp.
Do đặc thù công việc, cán bộ công chức hải quan sẽ bị luân chuyển, điều động trong khoảng thời gian làm việc nhất định. Do đó, khi công chức đang quen với môi trường làm việc của mình, đến hạn, sẽ bị luân chuyển, điều động đến đơn vị mới, phải học hỏi, đào tạo lại từ đầu bởi tại mỗi bộ phận công tác trong mỗi đơn vị, đều có các chức năng, nhiệm vụ và đặc thù riêng. Vì thế, phải mất một thời gian để cán bộ công chức hải quan tiếp cận được với công việc và môi trường mới.
Còn tồn tại tình trạng một số cán bộ hải quan có quan niệm về cơ chế “xin-cho”, có thái độ không đúng mực trong giải quyết hồ sơ doanh nghiệp; một số công chức làm việc thiếu tinh thần trách nhiệm, còn chây ỳ, làm việc theo lối mòn, cứng nhắc.
Ngoài ra, một bộ phận công chức trình độ, chuyên môn nghiệp vụ còn non kém hoặc do lớn tuổi, bị hạn chế về khả năng ngoại ngữ, tin học nên khi kiểm tra, đối chiếu các chứng từ như hoá đơn thương mại, phiếu đóng gói, vận đơn hàng… chưa chính xác, mất nhiều thời gian trong xử lý hồ sơ doanh nghiệp.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật
Mặc dù đã được trang bị trang thiết bị mới, đồng bộ song với việc thay đổi quá nhanh các quy định về nghiệp vụ hải quan hay phải nâng cấp phần mềm liên tục dẫn đến Hệ thống công nghệ thông tin của ngành đôi khi không đáp ứng được các yêu cầu nghiệp vụ. Thêm đó, việc phải xử lý quá nhiều thông tin liên quan đến nghiệp vụ khiến Hệ thống lỗi, chạy chậm, ảnh hưởng tới thời gian thông quan hàng hóa, xử lý công việc của công chức hải quan cũng như việc truyền nhận thông tin giữa cơ quan hải quan với các doanh nghiệp FDI nói chung, DNCX nói riêng.
1.4.2. Các yếu tố bên ngoài
- Ý thức chấp hành pháp luật hải quan của doanh nghiệp
Việc tuân thủ tốt pháp luật hải quan đòi hỏi nhân viên kinh doanh thực hiện trực tiếp phải là người có kinh nghiệm, có trình độ, nghiệp vụ trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, trên thực tế, nguồn nhân sự chuyên trách làm việc XNK trong doanh nghiệp không được quan tâm, đãi ngộ đúng mức trong khi công việc vất vả, áp lực, phải kiêm nhiệm nhiều mảng việc, dẫn đến tình trạng bỏ việc hoặc làm việc thiếu trách nhiệm, không đạt hiệu quả. Doanh nghiệp phải tuyển dụng cán bộ mới và đào tạo từ đầu, do đó việc theo dõi, quản lý chứng từ hải quan bị đứt mạch, thất lạc. Bên cạnh đó, cán bộ mới thường thiếu kinh nghiệm, cập nhật các văn bản, các quy định về thủ tục hải quan còn hạn chế. Do đó,doanh nghiệp thường xuyên mắc các lỗi điển hình như khai báo sai tên hàng, số lượng, trọng lượng, chậm nộp hồ sơ hải quan, kết quả kiểm tra chuyên ngành…
Một số doanh nghiệp chỉ tập trung vào lợi ích trước mắt là nhập khẩu và xuất khẩu được hàng hoá, nên không quan tâm và tìm hiểu đến các quy định khác đối với loại hình mà mình kinh doanh, dẫn đến khai báo không chính xác, không mang tính hệ thống. Kết quả dẫn đến tình trạng tồn đọng hồ sơ hoặc không giải quyết được và gây khó khăn cho việc nhập khẩu và xuất khẩu các lô hàng tiếp theo. Luận văn: Quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp.
Ý thức chấp hành pháp luật hải quan của nhiều DNCX chưa cao, đôi khi do nhân viên doanh nghiệp chưa nắm vững văn bản,chính sách pháp luật, nhiều trường hợp do một bộ phận nhân viên doanh nghiệp cố ý làm sai nhằm gian lận về thuế, thẩm lậu hàng tiêu thụ thị trường nội địa, gây thất thu thuế của nhà nước.
- Các văn bản, chính sách quản lý thông thoáng, tạo điều kiện tối đa cho doanh nghiệp:
Việc các văn bản, chính sách quản lý hàng hóa xuất, nhập khẩu của DNCX được xây dựng theo hướng thông thoáng, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp là một trong số các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý nhà nước về hải quan đối với DNCX. Trong một thời gian dài, các văn bản, chính sách không có quy định quản lý cụ thể, thống nhất về năng lực sản xuất của các doanh nghiệp.
Đối với trường hợp DNCX vừa gia công sản phẩm xuất khẩu, vừa nhập nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu xong lại nhập khẩu sản phẩm về kinh doanh, cơ quan hải quan rất khó quản lý.
Loại hình DNCX luôn tiềm ẩn gian lận thuế, nguyên nhân chủ yếu là do DNCX là đối tượng không chịu thuế nhập khẩu khi nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài vào, do vậy cơ quan hải quan chưa tính thuế đối với hàng hóa kinh doanh thương mại thực hiện quyền kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu. Nếu lượng hàng hóa này thẩm lậu vào thị trường nội địa sẽ gây thất thu lớn cho ngân sách nhà nước. Trong khi đó, hiện nay lực lượng kiểm soát hải quan còn mỏng, do vậy không đủ khả năng để tuần tra, kiểm soát tất cả các DNCX thực hiện hoạt động XNK theo loại hình này.
Chế tài xử lý vi phạm trong lĩnh vực hải quan không đủ mạnh. Chẳng hạn, Nghị định số 45/2024/NĐ-CP sửa đổi Nghị định số 127/2021/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan chỉ phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với các hành vi: không nộp hồ sơ thanh khoản, quyết toán không đúng thời hạn quy định; không làm thủ tục xử lý đúng thời hạn quy định đối với nguyên liệu, vật liệu dư thừa; phế liệu, phế phẩm, máy móc, thiết bị thuê mượn thuộc hợp đồng gia công theo phương án đã đăng ký trong hồ sơ thanh khoản. Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi khai điều chỉnh định mức tiêu hao nguyên liệu gia công hàng hoá để xuất khẩu, nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu không đúng thời hạn quy định. Đây là một trong những nguyên nhân doanh nghiệp không tuân thủ pháp luật hải quan, sẵn sàng nộp phạt nếu vi phạm pháp luật hải quan do số tiền xử phạt thấp.
Theo quy định tại Luật doanh nghiệp thì việc lập và giải thể các doanh nghiệp rất đơn giản nên các doanh nghiệp đã lợi dụng lập ra các doanh nghiệp ma, thuê giám đốc điều hành nhập một số lô hàng về gia công hàng xuất khẩu nhưng thực tế tiêu thụ nội địa rồi giải thể, bỏ trốn hoặc mất tích. Luận văn: Quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp.
Quản lý máy móc, thiết bị, phế liệu, sản phẩm hỏng tiêu huỷ tại thị trường trong nước. Đối với máy móc, thiết bị nhập khẩu để phục vụ hợp đồng GC xuất khẩu và để sản xuất hàng hóa xuất khẩu của DNCX đều thuộc đối tượng không chịu thuế khi nhập khẩu. Vì vậy với những máy móc, thiết bị này phải xuất trả lại cho bên nước ngoài hoặc đang trong quá trình thực hiện việc sản xuất mà không còn nhu cầu sử dụng số máy móc thiết bị này nữa hoặc sử dụng hết khấu hao đề nghị thanh lý máy móc thiết bị. Thực tế có nhiều trường hợp vì những lý do khác nhau doanh nghiệp không tái xuất máy móc thiết bị này hoặc máy móc chưa hết thời gian khấu hao mà xử lý bằng biện pháp tiêu hủy tại thị trường Việt Nam thì vẫn được xem xét không chịu thuế với điều kiện phải có sự giám sát của cơ quan Hải quan.
Nhiều doanh nghiệp đã lợi dụng chính sách ưu đãi không chịu thuế trên đã làm thủ tục tiêu hủy số máy móc, thiết bị tạm nhập hoặc máy móc chưa hết khấu hao nhưng thực tế không thực hiện việc tiêu hủy hoặc tiêu hủy nhưng vẫn có thể sử dụng vào mục đích khác nhằm trốn thuế.
Bên cạnh đó, vẫn còn sự lặp lại, chồng chéo giữa Luật hải quan và các văn bản pháp luật của các cơ quan quản lý liên quan.
- Việc phối hợp với các cơ quan hữu quan
Do hoạt động sản xuất kinh doanh của một số doanh nghiệp hoạt động trong Khu chế xuất , Khu công nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm nên đã có những hình thức chuyển đổi chủ đầu tư, đổi tên doanh nghiệp, thay đổi phạm vi hoạt động, một số doanh nghiệp đã ngừng hoạt động, không có người làm…
Tuy nhiên việc Ban quản lý các KCN&KCX chấp thuận chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp, giải thể, chấm dứt hoạt động, di chuyển địa điểm cho các doanh nghiệp nhưng không thông báo kịp thời cho cơ quan hải quan đã dẫn đến khó khăn trong công tác theo dõi, quản lý doanh nghiệp của cơ quan hải quan.
1.5. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về hải quan đối với DNCX tại một số đơn vị Hải quan Luận văn: Quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp.
Một số Cục Hải quan địa phương có số lượng doanh nghiệp hoạt động theo loại hình DNCX, gia công, SXXK lớn phải kể đến như Cục Hải quan tỉnh Bình Dương, Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh (Chi cục Hải quan KCX Tân Thuận), Cục Hải quan tỉnh Đồng Nai, Cục Hải quan TP. Hải Phòng…
1.5.1. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về hải quan đối với DNCX tại Cục Hải quan tỉnh Bình Dương
Cục Hải quan tỉnh Bình Dương được thành lập theo Quyết định số 102/QĐ-TCHQ ngày 05/9/1991 của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan với tên gọi ban đầu là Hải quan tỉnh Sông Bé. Những ngày đầu mới thành lập, Hải quan tỉnh Sông Bé chỉ có 26 cán bộ, công chức và 6 đơn vị thuộc và trực thuộc là: Phòng Tổng hợp Nghiệp vụ, Phòng Tổ chức hành chính, Tổ kế toán, Đội Kiểm soát Hải quan, Chi cục Hải quan cửa khẩu Hoa Lư, Chi cục Hải quan cửa khẩu Hoàng Diệu. Chức năng, nhiệm vụ chính của Hải quan tỉnh Sông Bé là làm thủ tục xuất khẩu cho các mặt hàng có thế mạnh của tỉnh lúc bấy giờ như: cao su, tiêu, điều, gốm sứ, sơn mài, mỹ nghệ, điêu khắc…
Hiện nay, Bình Dương đang quản lý hơn 1.350 doanh nghiệp có hoạt động gia công, SXXK và chế xuất, tập trung phần lớn tại KCN Sóng Thần, KCN Việt nam – Singapore, KCN Mỹ Phước 1, 2, 3, và được quản lý bởi các Chi cục Hải quan KCN Sóng Thần, Chi cục Hải quan KCN Việt Nam – Singapore, Chi cục Hải quan KCN Mỹ Phước. Trong đó đa số là các DNCX đến từ Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc… với ngành nghề sản xuất kinh doanh đa dạng như dệt, sợi, may mặc, cơ khí, điện – điện tử…
Những năm gần đây, bên cạnh việc Bình Dương là điểm sáng trong việc thu hút các doanh nghiệp FDI nhờ lợi thế về nguồn nhân lực, các chính sách thông thoáng tạo điều kiện thuận lợi trong hoạt động XNK, việc quản lý nhà nước về hải quan đối với các DNCX trên địa bàn còn tồn tại nhiều khó khăn, hạn chế. Nhiều DNCX chưa chấp hành tốt quy định về pháp luật hải quan. Các vướng mắc DN chủ yếu về chính sách mặt hàng, quy định về tỷ lệ hao hụt nguyên phụ liệu trong quá trình sản xuất, khai báo hải quan đối với nguyên liệu vật tư nhập khẩu của doanh nghiệp chế xuất, phương thức nộp hồ sơ hải quan, nhu cầu thuê kho để lưu giữ nguyên liệu, vật tư phục vụ cho hoạt động sản xuất nhưng trong KCN, KCX không còn diện tích phù hợp, dẫn đến khó khăn cho DN, theo đó DN đề nghị được thuê kho ngoài KCX, KCN…
Với mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, Cục Hải quan tỉnh Bình Dương nói chung và các Chi cục nói riêng đã chủ động gặp gỡ tìm hiểu khó khăn và kịp thời giải quyết, tháo gỡ vướng mắc phát sinh liên quan đến thủ tục, chính sách hải quan cho các doanh nghiệp FDI, DNCX. Luận văn: Quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp.
Để hỗ trợ DN thực hiện đúng và kịp thời công tác báo cáo quyết toán thuế đối với hàng sản xuất xuất khẩu và gia công, Cục Hải quan Bình Dương đã tổ chức các buổi tập huấn, “bắt tay chỉ việc” về cách thức kê khai, lập báo cáo quyết toán tình hình sử dụng nguyên liệu, vật tư, máy móc, phổ biến các văn bản mới về thuê kho ngoài của DNCX… Đơn vị cũng thực hiện kí kết quy chế phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, các ban quản lý khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh về trao đổi, cung cấp thông tin DN trên địa bàn làm cơ sở đánh giá nguồn thu, mời gọi DN để tăng nguồn thu, đồng thời kịp thời hỗ trợ DN khi gặp khó khăn. Đơn vị đã cập nhật danh sách DN FDI được cấp mới mã số thuế trên địa bàn, kịp thời phân bổ cho các Chi cục tiến hành tiếp xúc, tuyên truyền và phổ biến pháp luật về thủ tục hải quan tại Bình Dương…
Bên cạnh đó, Cục Hải quan Bình Dương cũng tăng cường, nâng cao năng lực quản lý nhà nước về hải quan đối với các DN thông qua các buổi tập huấn nội bộ,hội nghị toàn ngành.Cũng trong hội nghị chuyên đề về quản lý hải quan đối với loại hình gia công, SXXK, chế xuất do Tổng cục Hải quan tổ chức tại Bình Dương ngày 07/4/2024, các đại biểu đã cùng nhau thảo luận, chia sẻ kinh nghiệm trong công tác quản lý đối với loại hình GC, SXXK, chế xuất, chia sẻ kinh nghiệm thông qua những hành vi gian lận, vi phạm của doanh nghiệp nhằm nâng cao công tác kiểm tra, ngăn chặn các hành vi vi phạm, trốn thuế đối với loại hình này.
Bằng những việc làm thiết thực, Hải quan Bình Dương đã tạo được nhiều niềm tin của DN, đạt được những kết quả khả quan, tình hình xuất nhập khẩu có sự gia tăng rõ rệt. Tính đến 31/12/2025, tổng số DN đến đăng ký làm thủ tục tại đơn vị là 5.695 DN tăng 9,25% so với cùng kỳ năm 2024. Số tờ khai đã làm thủ tục hải quan đạt trên 1,3 triệu tờ khai, tăng 15,23% so với cùng kỳ năm 2024. Kim ngạch XNK đạt trên 41,7 tỷ USD, tăng 14,74% so cùng kỳ năm trước (Báo Hải quan Online).
1.5.2. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về hải quan đối với DNCX tại Chi cục Hải quan KCX Tân Thuận – Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh
Tháng 3/1993, công ty đầu tiên trong KCX Tân Thuận được cấp giấy phép đầu tư, chỉ 3 tháng sau, Chi cục Hải quan KCX Tân Thuận thuộc Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh được thành lập theo Quyết định số 223/TCHQ-TCCB ngày 9/6/1993 của Tổng cục Hải quan. Khu chế xuất Tân Thuận là KCX đầu tiên và thành công nhất Việt Nam. Từ khi thành lập đến nay, KCX Tân Thuận luôn là sự lựa chọn hàng đầu của nhiều nhà đầu tư nước ngoài. KCX này được xem là mô hình kiểu mẫu, giải quyết việc làm cho phần đông lao động miền trung và nam bộ, tiếp thu kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý tiên tiến hiện đại, tăng năng lực xuất khẩu, tạo nguồn thu ngoại tệ và góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội của đất nước.
Hiện tại, Chi cục Hải quan KCX Tân Thuận làm thủ tục XNK cho hơn 150 DNCX đang hoạt động tại KCX Tân Thuận và hơn 1.500 doanh nghiệp nội địa có quan hệ mua bán hàng hóa XNK với DNCX… Có trên 1/3 số nhà đầu tư về công nghệ cao và phần mềm, điện, điện tử, cơ khí, máy móc chính xác, đáp ứng xu hướng phát triển kinh tế – xã hội mới và thỏa thuận với WTO của Việt Nam, đáp ứng xu hướng KCX 4.0 cùng hàng chục loại hình XNK hàng hóa đặc thù.
Tuy nhiên, bên cạnh việc được thành lập từ rất lâu cũng như có một quá trình dài trong hoạt động XNK, nhiều DNCX trong KCX Tân Thuận vẫn còn mắc sai phạm trong thực thi pháp luật hải quan như vi phạm về sử dụng định mức, tiêu hao nguyên phụ liệu, vi phạm về chuyển nguyên phụ liệu từ hợp đồng này sang hợp đồng khác, vi phạm về chất thải nguy hại, vi phạm về hợp đồng gia công quá hạn, tự ý tiêu hủy nguyên phụ liệu dư thừa, phế liệu, phế phẩm khi chưa thông báo với cơ quan hải quan hay xử lý phế liệu, phế phẩm tiêu thụ nội địa nhưng không kê khai nộp thuế với cơ quan thuế nội địa theo quy định của pháp luật về thuế…
Để làm tốt công tác quản lý nhà nước về hải quan đối với các DNCX trên địa bàn, Chi cục Hải quan khu chế xuất Tân Thuận đã có nhiều biện pháp quản lý hiệu quả như: Luận văn: Quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp.
Chi cục thường xuyên quán triệt, phổ biến yêu cầu DNCX cập nhật văn bản pháp luật hiện hành, văn bản mới. Gặp vướng mắc, các DN cần hỏi ngay cơ quan Hải quan để được hướng dẫn kịp thời, tránh để ra xảy ra tình trạng vi phạm theo chuỗi do không không nắm rõ quy định hoặc hiểu văn bản chưa đúng.
Chi cục tổ chức các buổi đối thoại, lắng nghe ý kiến, khó khăn của DNCX nhất là các vướng mắc liên quan đến thủ tục hải quan. Tất cả các vướng mắc đều được Chi cục hướng dẫn cụ thể.
Chi cục tạo mối quan hệ tốt với Kho bạc nhà nước trên địa bàn và các Ngân hàng trong việc phối hợp thu ngân sách, rút ngắn thời gian thông quan của doanh nghiệp.
Chi cục cũng kiến nghị Cục Hải quan TP.Hồ chí Minh, Tổng cục Hải quan về công tác giám sát trực tiếp tại cổng ra vào KCX . Chi cục Hải quan hải quan KCX Tân Thuận đã xây dựng quy chế phối hợp với doanh nghiệp kinh doanh cơ sở hạ tầng KCX trong việc quản lý hàng hóa ra vào cổng, lắp đặt hệ thống camera giám sát kết nối với cơ quan hải quan vừa đảm bảo tạo điều kiện thông thoáng cho doanh nghiệp vừa đảm bảo việc quản lý hải quan đúng quy định.
1.5.3. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về hải quan đối với DNCX tại Cục Hải quan Đồng Nai
Cục Hải quan Đồng Nai được thành lập theo Quyết định số 137/TTg ngày 1/4/1994 của Thủ tướng Chính phủ và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 03/01/1995.
Năm 2025, với 3.918 DN đăng ký làm thủ tục hải quan (tăng 10% so với năm 2024), Cục Hải quan Đồng Nai đã làm thủ tục cho 1,17 triệu tờ khai, tăng 11% so với năm 2024; Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 34 tỷ USD, tăng 3,5 tỷ USD, tương ứng 12% so với năm 2024, chiếm 8% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu toàn quốc (Thời báo tài chính online).
Trong quá trình giải quyết thủ tục hải quan cho DNCX, Cục Hải quan Đồng Nai đã gặp một số vướng mắc như trường hợp DNCX thanh lý máy móc, thiết bị đã qua sử dụng thuộc diện cấm nhập khẩu vào thị trường nội địa, ví dụ như máy vi tính đã qua sử dụng hay việc giấy phép tiền chất của DN nội địa nhập khẩu hóa chất là tiền chất,sau đó xuất khẩu cho DNCX… Trong những trường hợp này, Cục Hải quan Đồng Nai đã chủ động đề xuất hướng giải quyết lên Tổng cục Hải quan để tìm cách tháo gỡ, tạo thuận lợi cho DN.
Bên cạnh đó, Cục cũng tăng cường công tác quản lý các DNCX trên địa bàn bằng cách triển khai các biện pháp như:
Song song với việc tạo thông thoáng cho hoạt động XNK, Hải quan Đồng Nai đã đẩy mạnh công tác kiểm tra sau thông quan, công tác chống buôn lậu và gian lận thương mại, gian lận về thuế luôn tiềm ẩn trong môi trường hoạt động XNK của các DNCX.
Tuyền truyền, hỗ trợ doanh nghiệp giải quyết những vấn đề vướng mắc, giải tỏa những lo lắng khi có sự thay đổi phương thức quản lý của cơ quan Hải quan.
1.5.4. Bài học kinh nghiệm cho Chi cục Hải quan KCX&KCN Hải Phòng – Cục Hải quan TP Hải Phòng Luận văn: Quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp.
Từ những hạn chế, thách thức trong việc quản lý nhà nước về hải quan đối với các DNCX tại một số đơn vị Hải quan, bài học kinh nghiệm rút ra cho Cục Hải quan TP Hải Phòng nói chung, Chi cục Hải quan KCX&KCN Hải Phòng nói riêng như sau:
Một là: Đẩy mạnh công tác phổ biến giáo dục pháp luật hải quan để DN nhận thức được những “được”-“mất” khi chấp hành hoặc cố tình vi phạm pháp luật hải quan. Trong quản lý giám sát đối với hoạt động gia công, sản xuất xuất khẩu của DNCX, cần phải thực hiện công khai, minh bạch về quy trình, thủ tục hải quan cũng như chế độ chính sách đối với hoạt động này nhằm hạn chế tối đa việc doanh nghiệp vi phạm pháp luật do thiếu hiểu biết; Tháo gỡ hoặc trợ giúp kịp thời cho doanh nghiệp xử lý những vướng mắc phát sinh trong quá trình làm thủ tục hải quan. Bên cạnh đó, tích cực chủ động tuyên truyền DNCX sử dụng phần mềm dịch vụ công trực tuyến của Tổng cục Hải quan nhằm cắt giảm thời gian và chi phí đi lại của DN, làm cho hoạt động của cơ quan hải quan trở nên minh bạch theo đúng chủ trương của ngành là chuyên nghiệp, hiệu quả, minh bạch, chống sách nhiễu, phiền hà DN.
Hai là: Quán triệt tới từng cán bộ công chức về tầm quan trọng của công tác quản lý, giám sát đối với hoạt động gia công, sản xuất xuất khẩu của DNCX. Từng cán bộ công chức phải kiểm tra, rà soát thường xuyên công tác quyết toán các hợp đồng gia công, sản xuất xuất khẩu để kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, khắc phục những khâu, những việc còn thiếu sót, không để tồn đọng việc.
Ba là: Tăng cường công tác kiểm tra sau thông quan nhằm phát hiện kịp thời các sai sót và các hành vi gian lận, trốn thuế; Tăng cường công tác cập nhật, quản lý và nắm bắt các thông tin của DNCX theo những tiêu chí như giai đoạn hình thành và phát triển, địa điểm đăng ký trụ sở, bộ máy tổ chức, quá trình hoạt động XNK, tình hình biến động tài chính, nhân sự, những bất thường trong hoạt động SXXK, đặc biệt là các sai phạm đã bị cơ quan hải quan phát hiện và xử lý, đặc điểm của những hành vi vi phạm pháp luật… để khoanh vùng doanh nghiệp trọng điểm, rủi ro,qua đó có biện pháp quản lý phù hợp; Chủ động, tích cực phối hợp với các cơ quan hữu quan trong nắm bắt thông tin, tình hình hoạt động của doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý doanh nghiệp.
Bốn là: Tích cực triển khai hiệu quả các phần mềm hỗ trợ,máy móc, thiết bị được vận hành ổn định giúp hoạt động XNK của doanh nghiệp diễn ra nhanh chóng, thuận tiện, giảm thiểu thời gian thông quan hàng hóa; Thực hiện hiệu quả các quy định của Luật Hải quan 2022, Luật Thuế XK, thuế NK số 107; Niêm yết công khai, minh bạch bộ quy trình thủ tục, số điện thoại đường dây nóng khi DN muốn phản ánh tiêu cực; Thành lập các tổ hỗ trợ triển khai, giải đáp vướng mắc xung quanh việc thực hiện các văn bản mới, văn bản hiện hành; Bố trí cán bộ công chức làm việc ngày thứ 7, ngày lễ, Tết để giải quyết thủ tục hải quan, không để xảy ra tình trạng chậm trễ, ách tắc trong quá trình hoạt động XNK của DN; Luận văn: Quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng công tác quản lý doanh nghiệp chế xuất

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: Quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp […]