Luận văn: Quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại BHXH

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại BHXH hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Hoàn thiện quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại bảo hiểm xã hội thành phố Hải Phòng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong mọi thời kỳ, con người luôn được coi là lực lượng sản xuất chủ yếu, là nhân tố quyết định sự phát triển kinh tế – xã hội. Tuy nhiên trong lao động sản xuất cũng như trong cuộc sống hàng ngày, con người luôn phải đối mặt với các rủi ro: tai nạn, ốm đau bệnh tật, mất việc làm, tuổi già…Các rủi ro này luôn tồn tại và đe doạ cuộc sống của con người, hậu quả mà chúng gây ra là vô cùng lớn, có tác động nhiều mặt tới đời sống của con người. Vì vậy, vấn đề mà bất kỳ xã hội nào cũng quan tâm là làm thế nào để khắc phục được hậu quả của rủi ro nhằm đảm bảo cuộc sống của con người. Trong thực tế, đã có rất nhiều biện pháp được áp dụng như: phòng tránh, cứu trợ, tiết kiệm…nhưng bảo hiểm luôn được đánh giá là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất.

Việt Nam, Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, giữ vị trí trụ cột cơ bản và ngày càng quan trọng trong hệ thống An sinh xã hội (ASXH). Từ năm 1995, sau khi Hệ thống BHXH Việt Nam được thành lập, BHXH đã chuyển sang một cơ chế quản lý mới. Đó là cơ chế quản lý theo hệ thống dọc từ trung ương đến địa phương để thực hiện tất cả các nghiệp vụ BHXH nhằm đảm bảo tốt nhất nhu cầu an toàn cho người tham gia và nhân dân trong cả nước.

Cùng với sự đổi mới của nền kinh tế đất nước trong thời gian vừa qua, chính sách về BHXH cũng được điều chỉnh, thay đổi để phù hợp với sự chuyển đổi nền kinh tế đất nước, phù hợp với nguyện vọng của người lao động. Tháng 01/2016 Luật BHXH có hiệu lực thi hành, các đối tượng tham gia đóng, hưởng BHXH đã được thực hiện đến tất cả lao động làm việc trong các thành phần kinh tế và mở rộng loại hình BHXH tự nguyện, tạo nên sự bình đẳng về BHXH đối với mọi người lao động, đặc biệt việc hình thành quỹ BHXH độc lập với ngân sách nhà nước là bước chuyển đổi căn bản về sự nghiệp BHXH từ chế độ bao cấp chủ yếu dựa vào Ngân sách Nhà nước (NSNN) sang cơ chế quỹ BHXH chủ yếu dựa trên nguồn thu do người lao động (NLĐ), người sử dụng lao động (NSDLĐ) đóng góp để chi trả các chế độ BHXH, góp phần ổn định chính trị, xã hội thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Luận văn: Quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại BHXH.

Quỹ BHXH là một bộ phận cốt lõi không thể thiếu được và có thể nói nó giữ vai trò quan trọng nhất trọng hoạt động BHXH. Việc thu quỹ BHXH ảnh hưởng trực tiếp đến việc chi trả các chế độ cho NLĐ và đảm bảo sự ổn định của chính sách BHXH trong tương lai. Do vậy, quản lý thu BHXH là nhiệm vụ quan trọng của ngành BHXH. Để công tác thu BHXH đạt hiệu quả cao thì việc quản lý thu BHXH phải được tổ chức chặt chẽ, thống nhất, khoa học trong cả hệ thống, từ lập kế hoạch, phân cấp thu, quản lý tiền thu BHXH…

Giai đoạn từ 2021 – 2025, BHXH thành phố Hải Phòng đã đạt được nhiều kết quả và thành tích đáng khích lệ như: đối tượng tham gia BHXH, BHYT bắt buộc tăng nhanh, số tiền BHXH thu được hàng năm không ngừng tăng lên với tỷ lệ hoàn thành kế hoạch luôn đạt trên 100%, công tác chi trả trợ cấp BHXH được thực hiện về tận xã, thị trấn nơi các đối tượng hưởng đang cư trú, hàng tháng chi lương hưu, trợ cấp BHXH được đảm bảo an toàn, nhanh gọn thông qua hệ thống đại lý chi trả tại các xã, thị trấn trong toàn thành phố… Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, công tác quản lý thu – chi BHXH vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế cần khắc phục và hoàn thiện như: chưa khai thác hết lực lượng lao động trên địa bàn, tình trạng nợ đọng BHXH còn tiếp diễn tại một số đơn vị sử dụng lao động, quản lý công tác thu – chi BHXH còn chưa khoa học… Vì vậy thực hiện tốt quản lý thu BHXH, thu đúng, thu đủ, kịp thời, hạn chế nợ đọng BHXH có ý nghĩa vô cùng quan trọng góp phần đảm bảo ASXH trên bình diện quốc gia nói chung và thành phố Hải Phòng nói riêng.

Là một cán bộ đang làm việc tại cơ quan BHXH của thành phố Hải Phòng, để góp phần xây dựng một cơ chế thu, chi BHXH hợp lý, hiệu quả tác giả chọn vấn đề “Hoàn thiện quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại bảo hiểm xã hội thành phố Hải Phòng” làm đề tài luận văn thạc sỹ kinh tế.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu một cách khoa học về quản lý thu BHXH tại BHXH thành phố Hải Phòng, luận văn hướng đến những mục tiêu cụ thể sau:

Về lý luận: Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý thu BHXH thông qua việc trình bày khái quát về hoạt động thu BHXH, nội dung công tác quản lý thu BHXH, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý thu BHXH của cơ quan BHXH, nghiên cứu kinh nghiện quản lý thu BHXH của các địa phương khác để rút ra bài học kinh nghiệm cho BHXH thành phố Hải Phòng.

Về thực tiễn: luận văn phân tích, đánh giá thực trạng quản lý thu BHXH, chỉ ra những tồn tại và những vấn đề đặt ra hiện nay trong quản lý thu BHXH trên đại bàn thành phố Hải Phòng. Luận văn: Quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại BHXH.

Trên cơ sở phân tích, đánh giá, luận văn đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý thu BHXH tại BHXH thành phố Hải Phòng và đưa ra những kiến nghị cần thiết để thực hiện giải pháp đó.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Những quy phạm pháp luật về BHXH liên quan đến cơ chế thu BHXH, các quy định nghiệp vụ về cơ chế thu BHXH của BHXH Việt Nam được áp dụng trên địa bàn thành phố Hải Phòng.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu các vấn đề về thu, nộp BHXH của NLĐ, NSDLĐ và cơ quan BHXH, các yếu tố ảnh hưởng đến số thu BHXH, đối tượng nộp BHXH, phương thức thu, quy trình tổ chức quản lý thu, nguyên nhân trốn tránh nộp BHXH, những biện pháp chống thất thu BHXH.

Phạm vi của đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng cơ chế thu BHXH (không nghiên cứu quỹ khám chữa bệnh, BHXH tự nguyện, BHXH đối với NLĐ làm việc trong các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang), trên địa bàn thành phố Hải Phòng trong giai đoạn từ năm 2021 đến năm 2025.

4. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp tiếp cận thực tế quan sát, điều tra, thu tập số liệu, phương pháp xử lý tài liệu lý luận, thực tế như thống kê, so sánh, tổng hợp và phân tích số liệu.

Phương pháp dự đoán, so sánh, phân tích định hướng hoạt động để xây dựng giải pháp phù hợp

Nguồn dữ liệu: Luận văn sử dụng dữ liệu được thi thập từ BHXH thành phố Hải Phòng và các nguồn bên ngoài khác, bao gồm:

  • Sách, giáo trình về quản lý thu BHXH
  • Dữ liệu thu thập từ tài liệu, thông tin báo cáo của BHXH thành phố Hải
  • Tài liệu giới thiệu về cơ quan: lịch sử hình thành, cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, các quy định ban hành về quản lý thu BHXH.
  • Các báo cáo hoạt động thu BHXH của đơn vị từ năm 2021 đến năm 2025, định hướng hoạt động của cơ quan đến năm 2020.
  • Dữ liệu được thu tập từ các nguồn bên ngoài khác: tài liệu trên Web của cơ quan BHXH, tạp chí BHXH, các bài viết của chuyện gia kinh tế… Luận văn: Quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại BHXH.

5. Dự kiến đóng góp của luận văn

Luận văn góp phần hệ thống hóa cơ sở lý về quản lý thu BHXH của cơ quan BHXH.

Phân tích thực trạng, từ đó đề ra những giải pháp cụ thể khả thi nhằm hoàn hiện quản lý thu BHXH bắt buộc tại BHXH thành phố Hải Phòng, góp phần phát triển bền vững quỹ BHXH cũng như đảm bảo ổn định chính trị – xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo ASXH trên địa bàn.

6. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn được cấu trúc bao gồm 3 chương:

  • Chương I: Cơ sở lý luận về bảo hiểm xã hội và quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc
  • Chương II: Thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại bảo hiểm xã hội thành phố Hải Phòng giai đoạn 2021-2025.
  • Chương III: Biện pháp hoàn thiện quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại bảo hiểm xã hội thành phố Hải Phòng

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC

1.1. Khái quát chung về bảo hiểm xã hội

1.1.1. Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm xã hội

1.1.1.1. Sự ra đời và phát triển của Bảo hiểm xã hội trên thế giới

Bảo hiểm xã hội là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm và đến nay đã được thực hiện ở tất cả các nước trên thế giới. BHXH là một trong những chính sách xã hội cơ bản nhất của mỗi quốc gia, thể hiện trình độ văn minh, tiềm lực và sức mạnh kinh tế cũng như khả năng quản lý của quốc gia đó.

Mầm mống của BHXH xuất hiện từ thế kỉ XIII tại Nam âu, tuy nhiên nó chỉ mang tính sơ khai, với phạm vi nhỏ hẹp. Thời gian từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII một số nghiệp đoàn thợ thủ công ra đời, trong nghề nghiệp để bảo vệ lẫn nhau họ đã thành lập nên các quỹ tương trợ ( năm 1973 ở Anh đã thành lập hội “ bằng hữu” để giúp đỡ các hội viên khi bị ốm đau, tai nạn nghề nghiệp).

Trong hệ thống ASXH, BHXH ra đời khá sớm. Năm 1850, thủ tướng Bismack của nước Phổ (CHLB Đức) đã thiết lập hệ thống BHXH ở nước này, các quỹ ốm đau được thành lập (do hội tương tế quản lý) và công nhân bắt buộc phải đóng góp để để phòng giảm thu nhập khi ốm đau. Ban đầu chỉ có giới thợ tham gia và chỉ có bảo hiểm ốm đau, sau đó đã thu hút mọi tầng lớp xã hội và mở rộng ra đối với các trường hợp khác. Luật BHYT được ban hành vào năm 1883. Và năm 1884, ban hành luật bảo hiểm về rủi ro nghề nghiệp (TNLĐ & BNN) do hiệp hội giới chủ quản lý. Năm 1889, chính phủ Đức ban hành thêm bảo hiểm tuổi già và bảo hiểm tàn tật do chính quyền các bang quản lý. Đến thời điểm này, BHXH đã có bước phát triển mới: cơ chế đóng góp ba bên được thực hiện, không chỉ có NLĐ mà cả giới chủ và Nhà nước cũng phải thực hiện nghĩa vụ đóng góp.

Mô hình này ở Đức đã lan dần ra châu Âu và đầu thế kỉ XX, sau đó sang các nước Mỹ La tinh, rồi đến Bắc Mỹ và Canada vào những năm 30 của thế kỉ XX. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, BHXH lan rộng sang các nước giành độc lập ở châu Á, châu Phi và vùng Caribê trong nửa cuối thế kỉ XX. Như vậy song song với quá trình phát triển của xã hội, BHXH đã trở thành một trong những quyền cơ bản của con người và được xã hội thừa nhận. Tuyên ngôn nhân quyền ngày 10/12/1948 của Liên hợp quốc đã ghi: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng BHXH, quyền đó được đặt cơ sở trên sự thoả mãm các quyền về kinh tế của con người”. Tại kì họp thứ 35, Hội nghị toàn thể của ILO được Hội đồng quản trị của Văn phòng lao động quốc tế triệu tập tại Giơ – ne – vơ ngày 04/06/1952, sau khi quyết định chấp thuận một số đề nghị về các quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội, ngày 28/06/1952, ILO đã thông qua công ước số 102 – công ước về an toàn xã hội (Quy phạm tối thiểu), đánh dâu một bước ngoặt quan trọng về BHXH trên thế giới. Nội dung của Công ước 102 về BHXH bao gồm một hệ thống 9 chế độ sau: Luận văn: Quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại BHXH.

  • 1, Chế độ chăm sóc y tế
  • 1, Chế độ trợ cấp ốm đau
  • 3, Chế độ trợ cấp thất nghiệp
  • 4, Chế độ trợ cấp tuổi già
  • 5, Chế độ trợ cấp trong trường hợp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp
  • 6, Chế độ trợ cấp gia đình
  • 7, Chế độ trợ cấp thai sản
  • 8, Chế độ trợ cấp tàn tật
  • 9, Chế độ trợ cấp tiền tuất

Tuỳ điều kiện kinh tế xã hội trong mỗi giai đoạn lịch sử củ thể, các quốc gia khi triển khai BHXH có quyền chỉ áp dụng một số chế độ, nhưng ít nhất phải có ba chế độ, trong đó phải có ít nhất một trong các chế độ (3), (4), (5), (8), (9).

Công ước 157 được thông qua ngày 21/06/1982 gọi là công ước về duy trì các quyền về an toàn xã hội, khẳng định 9 nhánh an toàn xã hội như trên. Sau đó vẫn còn một số công ước và khuyến nghị liên quan đến các chế độ BHXH nhưng nội dung chủ yếu vẫn là của công ước số 102.

Theo ILO, BHXH có 9 chế độ, song không phải nước nào cũng thực hiện đầy đủ. Bởi vì điều kiện kinh tế xã hội của mỗi nước khác nhau, ngay trong một nước thì những điều kiện đó cũng đã khác nhau qua các thời kì nên việc thực hiện cả 9 chế độ trên là rất khó. Vì vậy đến nay trên thế giới chỉ có 43 nước thực hiện được cả 9 chế độ BHXH, 92 nước chưa thực hiện được chế độ trợ cấp gia đình; 13 nước chưa thực hiện được 3 chế độ: Trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp gia đình và trợ cấp tai nạn lao động.

1.1.1.2. Sự ra đời và phát triển của Bảo hiểm xã hội tại Việt Nam

Bảo hiểm xã hội bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam từ những năm 1930. Đây là chế độ trợ cấp do chính quyền thuộc địa Pháp thực hiện đối với quân nhân và viên chức Việt Nam làm việc trong bộ máy hành chính và lực lượng vũ trang của chúng ở Đông Dương khi bị ốm đau, già yếu hoặc chết. Tuy nhiên, đối với công nhân Việt Nam, gần như chính quyền Pháp phủ nhận quyền lợi BHXH của họ. Điển hình là công nhân Việt Nam làm việc trong các đồn điền, các nhà máy… bị ốm đau bệnh tật hay chết đều không được hưởng chế độ chữa bệnh, mai táng…

Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản luật về BHXH như sắc lệnh 54/SL ngày 14/06/1946 ấn định việc cấp hưu bổng cho công chức. Theo sắc lệnh này, trong quỹ hưu bổng, ngoài phần đóng góp của công chức theo quy định còn có phần trợ giúp của Nhà nước. Sắc lệnh 76/SL ngày 20/05/1950 ấn định về các chế độ như chế độ hưu trí, thai sản, chế độ chăm sóc y tế, tai nạn và tử tuất đối với viên chức một cách củ thể hơn. Đối vơi khu vực sản xuất, thời gian đầu chưa thành lập quỹ nhưng cũng có sắc lệnh 29/SL ngày 12/03/1947 và sắc lệnh sửa đổi bổ sung như sắc lệnh 77/SL ngày 22/05/1950 ấn định củ thể các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động (TNLĐ), hưu trí, tử tuất đối với công nhân.

Do hoàn cảnh chiến tranh kéo dài, kinh tế nghèo nàn nên những chính sách BHXH thời kì này được thực hiện rất hạn chế. Sau khi hoà bình lập lại trên miền bắc, ngày 22/12/1961 Nhà nước ban hành Nghị định 218/CP của Chính phủ về “Điều lệ tạm thời thực hiện các chế độ BHXH đối với công nhân viên chức”, chính sách BHXH ban hành kèm theo Nghị định 218/CP, hệ thống chế độ BHXH ở Việt Nam bao gồm: Luận văn: Quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại BHXH.

  • 1, Chế độ trợ cấp ốm đau
  • 2, Chế độ trợ cấp thai sản
  • 3, Chế độ trợ cấp TNLĐ – BNN
  • 4, Chế độ trợ cấp hưu trí
  • 5, Chế độ trợ cấp mất sức lao động
  • 6, Chế độ trợ cấp tử tuất

Khi nền kinh tế thay đổi phát triển theo hướng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từ năm 1986, đặc biệt là từ những năm 1990 trở lại đây. Chính sách BHXH ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế không phù hợp với cơ chế mới. Vì vậy ngày 22/06/1993 Chính phủ đã ban hành Nghị định 43/CP quy định tạm thời về các chế độ BHXH áp dụng cho các thành phần kinh tế. Thực tế cho thấy, chế độ trợ cấp mất sức lao động bộc lộ những điểm bất cập nên đã được loại bỏ và BHXH Việt Nam chỉ thực hiện 5 chế độ còn lại. Cùng lúc, BHYT Việt Nam ra đời theo Nghị định 299/HĐBT ngày 15/08/1992 của Hội đồng bổ trưởng (Chính phủ) về việc ban hành điều lệ BHYT và triển khai trên toàn quốc. Là một nhánh của BHXH tách ra nhưng BHYT vẫn mới mẻ đối với Việt Nam. Do vậy BHYT phải vừa làm vừa rút kinh nghiệm. Hoạt động BHYT đã thể hiện được tác dụng thông qua việc chăm sóc, hồi phục sức khoẻ cho người dân và góp phần đảm bảo công bằng xã hội.

Sau đại hội VI của Đảng cộng sản Việt Nam, để phù hợp với cơ chế quản lý mới, phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách BHXH tiếp tục được sửa đổi và bổ sung. Điều này được thể hiện trong chương 12 của bộ luật Lao động được thông qua tại kì họp thứ 5 Quốc hội khoá IX ngày 23/06/1994.

Dựa trên bộ luật Lao động ngày 26/01/1995, Chính phủ đã ban hành Điều lệ BHXH kèm theo Nghị định 12/CP. Tiếp theo ban hành Nghị định số 19/CP ngày 16/02/1995 về việc thành lập hệ thống BHXH Việt Nam và Nghị định 45/CP ngày 15/07/1995 cho các đối tượng hưởng BHXH là công nhân viên chức và lực lượng vũ trang. BHXH Việt Nam lúc này thực sự đổi mới nội dung, phương thức hoạt động cũng như tổ chức quản lý.

Để thống nhất quản lý Nhà nước về hoạt động BHXH, BHYT Việt Nam được sát nhập cùng BHXH Việt Nam theo Quyết định số 20/2011/QĐ/TTg ngày 24/01/2011 của Chính phủ. Như vậy, đến năm 2012, BHXH Việt Nam thực hiện thêm một chế độ chăm sóc y tế là 6 chế độ.

Các văn bản pháp quy về BHXH được ban hành sửa đổi, bổ sung làm cho BHXH ngày càng được hoàn thiên, ví dụ như Nghị định của Chính phủ số 01/2012/NĐ-CP ngày 09/01/2012 về việc sửa đổi bổ sung một số điều lệ của BHXH kèm theo Nghị định số 12/CP; Nghị định của Chính phủ số 208/2013/NĐ-CP ngày 14/12/2013 và số 117/2014/NĐ-CP ngày 15/09/2014 về việc điều chỉnh lương hưu và trợ cấp BHXH… Năm 2015, Luật BHXH được thông qua ngày 29/06/2015 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2016. Đối với BHXH tự nguyện thực hiện từ ngày 01/01/2017 và bảo hiểm thất nghiệp thực hiện từ ngày 01/01/2018. Để cụ thể hoá luật BHXH, Chính phủ ban hành Nghị định số 152/2015/NĐ-CP ngày 22/12/2015 hướng dẫn một sô điều của luật BHXH về BHXH bắt buộc; quyết định số 41/2016/QĐ-TTg ngày 29/03/2016 về quản lý tài chính đối với BHXH Việt Nam…

Như vậy BHXH Việt Nam trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài đã có được một hành lang pháp lý vững chắc.

1.1.2. Khái niệm, bản chất và chức năng, vai trò của bảo hiểm xã hội Luận văn: Quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại BHXH.

1.1.2.1. Khái niệm và bản chất

  • Khái niệm về Bảo hiểm xã hội

Mặc dù đã có quá trình phát triển tương đối dài, nhưng cho đến nay còn có nhiều khái niệm về BHXH, chưa có khái niệm thống nhất. Bởi lẽ, BHXH được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau thì các quan điểm đưa ra cũng khác nhau:

Nếu tiếp cận từ mục đích ASXH và hình thức tổ chức thực hiện thì có khái niệm chung nhất về BHXH như sau:

Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần bảo đảm an toàn xã hội.[35,tr.53].

Nhưng nếu tiếp cận từ góc độ khác, BHXH lại có thể được khái niệm hẹp hơn:

  • Từ góc độ pháp luật: BHXH là một chế độ pháp định bảo vệ NLĐ, sử dụng tiền đóng góp của NLĐ, NSDLĐ và được tài trợ, bảo hộ của Nhà nước nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm và gia đình trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình thường do ốm đau, tai nạn lao động, thai sản, hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật hoặc chết.
  • Từ góc độ tài chính: BHXH là thuật (kỹ thuật) chia sẻ rủi ro và tài chính giữa những người tham gia bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
  • Từ góc độ chính sách xã hội: BHXH là một chính sách xã hội nhằm đảm bảo đời sống vật chất cho NLĐ khi họ không may gặp phải các “rủi ro xã hội”, nhằm góp phần đảm bảo an toàn xã hội…

Theo quy định tại Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội: “BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, TNLĐ, BNN, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH”[5,tr.2]

Như vậy, BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động, khi họ gặp phải biến cố, rủi ro làm suy giảm sức khỏe, mất khả năng lao động, mất việc làm, chết; gắn liền với quá trình tạo lập một quỹ tiền tệ tập trung được hình thành bởi các bên tham gia BHXH đóng góp và việc sử dụng quỹ đó cung cấp tài chính nhằm đảm bảo mức sống cơ bản cho bản thân NLĐ và những người ruột thịt của NLĐ trực tiếp phải nuôi dưỡng, góp phần đảm bảo an toàn xã hội.

  • Một số khái niệm liên quan trong BHXH

Hoạt động BHXH đã hình thành mối quan hệ giữa nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của các bên tham gia BHXH. Mối quan hệ này dựa trên quan hệ lao động và diễn ra giữa ba bên là: bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được BHXH. Trong đó:

  • Bên tham gia BHXH là bên có trách nhiệm đóng góp BHXH theo quy định của pháp luật BHXH. Bên tham gia BHXH gồm có NLĐ, NSDLĐ và Nhà nước. Luận văn: Quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại BHXH.
  • Bên BHXH là bên nhận BHXH từ những người tham gia BHXH, thường là một số tổ chức do Nhà nước lập ra (ở một số nước có thể do tư nhân hoặc tổ chức kinh tế xã hội) và được Nhà nước bảo trợ, nhận sự đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động, lập nên quỹ BHXH. Bên BHXH có trách nhiệm thực hiện chi trả trợ cấp cho bên được BHXH khi có nhu cầu phát sinh và làm cho quỹ BHXH phát triển.
  • Bên được BHXH là bên được quyền nhận các loại trợ cấp khi phát sinh những nhu cầu BHXH, để bù đắp thiếu hụt về thu nhập do có các loại rủi ro được bảo hiểm gây ra. Trong BHXH, bên được BHXH là NLĐ tham gia BHXH và nhân thân của họ theo quy định của pháp luật, khi họ có phát sinh nhu cầu được BHXH do pháp luật quy định.

Bản chất của Bảo hiểm xã hội

  • Bản chất của BHXH được thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau:

Bảo hiểm xã hội là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp của xã hội; là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hoá. Khi trình độ phát triển của một quốc gia đạt đến một mức độ nào đó thì hệ thống BHXH có điều kiện ra đời và phát triển. Vì vậy, các nhà kinh tế cho rằng, sự ra đời và phát triển của BHXH phản ánh sự phát triển của nền kinh tế. Thật vậy, một nền kinh tế chậm phát triển, đời sống người lao động thấp kém không thể có một hệ thống BHXH vững mạnh được. Kinh tế càng phát triển, hệ thống BHXH càng đa dạng, các chế độ BHXH ngày càng mở rộng, các hình thức BHXH ngày càng phong phú.

Thực chất, BHXH là sự tổ chức “đền bù” hậu quả của những “rủi ro xã hội” hoặc các sự kiện bảo hiểm. Sự đền bù này được thực hiện thông qua quá trình tổ chức và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung hình thành do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH và các nguồn thu hợp pháp khác của quỹ BHXH. Như vậy, BHXH cũng là quá trình phân phối lại thu nhập. Xét trên phạm vi toàn xã hội, BHXH là một bộ phận của GDP, được xã hội phân phối lại cho những thanh viên khi phát sinh nhu cầu BHXH như ốm đau, sinh đẻ, TNLĐ và BNN, già yếu, chết… Xét trong nội tại BHXH, sự phân phối của BHXH được thực hiện cả theo chiều dọc và chiều ngang.

Phân phối theo chiều ngang là sự phân phối của chính bản thân NLĐ theo thời gian (nghĩa là sự phân phối lại thu nhập của quá trình làm việc và không làm việc). Phân phối theo chiều dọc là sự phân phối giữa những người khoẻ mạnh cho người ốm đau, bệnh tật; giữa những người trẻ cho người già; giữa những người không sinh đẻ cho người sinh đẻ; giữa người có thu nhập cao cho người có thu nhập thấp…

Có thể thấy, BHXH đã góp phần thực hiện mục tiêu bảo đảm an toàn kinh tế cho NLĐ và gia đình họ, BHXH là quá trình tổ chức sử dụng thu nhập cá nhân và tổng sản phẩm trong nước (GDP) để thoả mãn nhu cầu an toàn kinh tế của NLĐ và an toàn xã hội.

Bảo hiểm xã hội vừa mang bản chất kinh tế, vừa mang bản chất xã hội. Về mặt kinh tế, nhờ sự tổ chức phân phối lại thu nhập, đời sống của NLĐ và gia đình họ luôn được bảo đảm trước những bất trắc, rủi ro xã hội. Về mặt xã hội, do có sự “san sẻ rủi ro” của BHXH, NLĐ chỉ phải đóng góp một khoản nhỏ trong thu nhập của mình cho quỹ BHXH, nhưng xã hội sẽ có một lượng vật chất đủ lớn trang trải những rủi ro xảy ra. Ở đây, BHXH đã thực hiện nguyên tắc “lấy của số đông bù số ít”. Tuy nhiên, tính kinh tế và xã hội của BHXH không tách rời nhau mà đan xen lẫn nhau. Khi nói đến sự bảo đảm kinh tế cho NLĐ và gia đình họ là đã nói đến tính xã hội của BHXH, ngược lại khi nói tới sự đóng góp ít nhưng lại đủ trang trải mọi rủi ro xã hội là đề cập đến tính kinh tế của BHXH. Luận văn: Quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại BHXH.

Cơ sở để phát sinh BHXH chính là quan hệ lao động thể hiện thông qua mối quan hệ ba bên gồm bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được BHXH. Giữa các bên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong nền kinh tế thị trường, bên tham gia BHXH có thể đồng thời là bên được BHXH. Đối với NLĐ độc lập, họ vừa là người tham gia BHXH vừa là người được quyền hưởng BHXH vì họ tham gia đóng phí BHXH để bảo hiểm cho chính mình.

Điều kiện được hưởng BHXH là NLĐ gặp phải những rủi ro, những biến cố mang tính chất ngẫu nhiên, trái với ý muốn chủ quan của con người như: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp…; hoặc cũng có thể là những trường hợp xảy ra không hoàn toàn ngẫu nhiên như: tuổi già, thai sản, tử tuất… Đồng thời các biến cố đó có thể xảy ra cả trong và ngoài quá trình lao động làm cho NLĐ bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm.

Bản chất của BHXH còn được hiểu dưới các góc độ khác nhau:

  • Dưới góc độ kinh tế, BHXH là sự bảo đảm thu nhập, bảo đảm cuộc sống cho NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động, nghĩa là tạo ra một khoản thu nhập thay thế cho NLĐ khi họ gặp phải các rủi ro thuộc phạm vi BHXH.
  • Dưới góc độ chính trị, BHXH góp phần liên kết giữa những NLĐ xuất phát từ lợi ích chung của họ.
  • Dưới góc độ xã hội, BHXH được hiểu như là một chính sách xã hội nhằm đảm bảo đời sống cho NLĐ khi thu nhập của họ bị giảm hay mất. Thông qua đó bảo vệ và phát triển lực lượng lao động xã hội, lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động ổn định trất tự xã hội.

1.1.2.2. Chức năng, vai trò và tính chất của bảo hiểm xã hội

  • Bảo hiểm xã hội có các chức năng chủ yếu sau:

Thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ tham gia BHXH khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do mất khả năng lao động hoặc mất việc làm. Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó quy định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổ chức hoạt động của BHXH.

Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH. Về bản chất BHXH chính là quá trình phân phối lại thu nhập theo cả chiều dọc và chiều ngang, do đó thực hiện chức năng này có nghĩa là BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội.

Góp phần kích thích NLĐ hăng hái lao động sản xuất nâng cao năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội. BHXH bảo đảm cuộc sống của NLĐ và gia đình họ luôn được ổn định cả về vật chất lẫn tinh thần. Do đó, NLĐ sẽ luôn yên tâm, gắn bó tận tình với công việc, với nơi làm việc. Chức năng này biểu hiện như một đòn bầy kinh tế kích thích NLĐ tích cực lao động sản xuất, nâng cao năng suất lao động cá nhân và kéo theo là năng suất lao động xã hội.

Gắn bó lợi ích giữa NLĐ với NSDLĐ, giữa NLĐ với xã hội. Nhờ có BHXH, mâu thuẫn giữa NLĐ và NSDLĐ được điều hoà và giải quyết; đặc biệt, BHXH đem lại lợi ích và sự bảo vệ cho cả hai giới chủ – thợ. Từ đó giúp họ hiểu nhau hơn, quan tâm đến nhau và gắn bó lợi ích được với nhau. Đối với Nhà nước và xã hội, việc chi cho BHXH là cách thức phải chi ít nhất và có hiệu quả nhất nhưng vẫn giải quyết được khó khăn về đời sống cho NLĐ và gia đình họ, góp phần làm cho sản xuất ổn định, kinh tế, chính trị và xã hội được phát triển và an toàn hơn.

  • Vai trò của BHXH: Luận văn: Quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại BHXH.

Đối với NLĐ: BHXH góp phần ổn định tài chính cho người tham gia BHXH trước những tổn thất do rủi ro xảy ra. Trong quá trình lao động nếu NLĐ chẳng may gặp phải những rủi ro như ốm đau, tai nạn…làm họ bị gián đoạn công việc, và phải mất một khoản chi phí để tài trợ cho những tổn thất do rủi ro đó gây ra thì việc tham gia BHXH sẽ giúp họ trang trải những khoản chi phí nói trên làm giảm bớt nỗi lo cho mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp và yên tâm trong lao động sản xuất, góp phần nâng cao năng suất lao động.

Đối với NSDLĐ: Việc tham gia BHXH của NSDLĐ giúp họ trang trải những khoản chi phí không mong muốn cho những điều khoản (trợ cấp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp…) ghi trong hợp đồng lao động mà NSDLĐ phải đảm bảo. Hay nó giúp chủ sử dụng lao động và NLĐ giải quyết mâu thuẫn nội tại đã tồn tại bấy lâu nay. Từ đó nó làm cho NLĐ yên tâm hơn, tin tưởng vào người chủ của mình hơn, tận tâm với công việc của mình hơn, góp phần nâng cao năng suất lao động tạo thêm lợi nhuận cho NSDLĐ.

  • Đối với Nhà nước và nền kinh tế xã hội:

Bảo hiểm xã hội góp phần đề phòng và hạn chế tổn thất, giúp cho cuộc sống con người an toàn hơn, xã hội trật tự hơn, BHXH góp phần ổn định chi tiêu NSNN.

Các bên tham gia BHXH đã hình thành mối quan hệ 3 bên: NLĐ, NSDLĐ và cơ quan BHXH. Mối quan hệ này được điều hòa trong điều lệ chính sách BHXH trở nên ổn định hơn. Đồng thời quỹ BHXH lại có mối quan hệ mật thiết với quỹ BHXH nên việc cấn đối quỹ và thu chi NSNN được ổn định hơn.

Bảo hiểm xã hội còn là phương thức huy động vốn để đầu tư phát triển kinh tế – xã hội. Vì rủi ro được bảo hiểm trong BHXH không phải lúc nào cũng xảy ra với bất kì ai, lại có tính gián đoạn về mặt thời gian do vậy việc chi trả BHXH cũng có tính gián đoạn. Do đó qũy BHXH tạm thời nhàn rỗi là một nguồn vốn lớn để đầu tư phát triển kinh tế xã hội

Bảo hiểm xã hội thu hút một số lượng lớn lao động nhất định của xã hội, góp phần giảm bớt tình trạng thất nghiệp cho xã hội. Đồng thời hoạt động BHXH cũng góp phần giải quyết đời sống cho bộ phận lao động làm việc trong ngành BHXH; góp phần tạo ra một bộ phận GDP của quốc gia.

Do vậy BHXH là chỗ dựa tinh thần cho mọi người, mọi tổ chức kinh tế – xã hội; giúp họ yên tâm trong cuộc sống, sinh hoạt và trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

  • Vai trò của BHXH trong hệ thống ASXH:

Bảo hiểm xã hội được coi là lưới đầu tiên và quan trọng nhất của hệ thống ASXH vì: BHXH có đối tượng tham gia rất lớn, BHXH có ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý của NLĐ, tạo cho họ sự yên tâm trong quá trình sản xuất kinh doanh, đảm bảo các vấn đề về ASXH. Đồng thời BHXH còn gián tiếp kích thích và làm tăng trưởng kinh tế [35,tr.54]

Bảo hiểm xã hội điều tiết các chính sách trong hệ thống ASXH vì: ASXH bao gồm BHXH, cứu trợ xã hội và ưu đãi xã hội; chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung, hỗ trợ cho nhau, tất cả chúng đều góp phần ổn định cuộc sống cho mọi thành viên trong cộng đồng xã hội, và ổn định xã hội. Khi BHXH phát triển thì khả năng tài trợ cho các thành viên trong xã hội trước các tổn thất do các rủi ro không mong muốn càng cao. Do vậy giảm bớt gánh nặng đối tượng và mức tài trợ cho các chính sách ASXH khác, làm giảm gánh nặng cho NSNN. Mặt khác BHXH có hai hình thức là BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện, do đó nó làm cho sự đảm bảo đời sống cho cộng đồng của chính sách ASXH được hoàn thiện hơn.

  • Tính chất của BHXH Luận văn: Quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại BHXH.

Bảo hiểm xã hội là chính sách gắn liền với đời sống của NLĐ, do đó nó có một số tính chất cơ bản sau:

Tính tất yếu khách quan trong đời sống xã hội: Như phần trên đã trình bày, sự xuất hiện của BHXH là một tất yếu khách quan trong đời sống kinh tế – xã hội mỗi quốc gia vì BHXH đã trở thành nhu cầu và quyền lợi cần thiết khách quan của NLĐ, được cả thế giới thừa nhận là một trong những quyền con người. Do đó, BHXH hoàn toàn mang tính tất yếu khách quan trong đời sống xã hội.

Tính ngẫu nhiên, phát sinh không đồng đều theo thời gian và không gian. Tính chất này được thể hiện rất rõ ở những nội dung cơ bản của BHXH. Từ thời điểm hình thành và triển khai, đến mức đóng góp hình thành quỹ BHXH; từ những rủi ro phát sinh ngẫu nhiên theo thời gian và không gian đến mức trợ cấp BHXH theo từng chế độ BHXH…

Bảo hiểm xã hội vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội, đồng thời còn có tính dịch vụ. Tính kinh tế được thể hiện rõ nhất ở chỗ, BHXH thông qua việc hình thành, bảo toàn, tăng trưởng và sử dụng đúng mục đích quỹ BHXH đã góp phần đảm bảo lợi ích kinh tế không chỉ cho NLĐ mà còn cho cả NSDLĐ, Nhà nước và toàn xã hội. Đối với NLĐ, phần đóng góp của họ vào quỹ không đáng kể song quyền lợi họ nhận được là rất lớn khi gặp rủi ro. Với NSDLĐ, tham gia đóng góp vào quỹ BHXH để thực hiện trách nhiệm bảo hiểm cho NLĐ họ sử dụng, đồng thời cũng là giúp họ tránh được khoản tiền lớn để trang trải cho NLĐ gặp rủi ro. Với Nhà nước, BHXH góp phần làm giảm gánh nặng cho NSNN, đồng thời quỹ BHXH cũng là nguồn đầu tư đáng kể vào nền kinh tế quốc dân, góp phần tăng trưởng kinh tế.

Bảo hiểm xã hội mang tính xã hội sâu sắc bởi đó là một bộ phận chủ yếu của hệ thống ASXH, góp phần đảm bảo thu nhập và đời sống cho các thành viên trong xã hội. BHXH cũng hoạt động trên nguyên tắc “số đông bù số ít”, do đó mọi NLĐ trong xã hội đều có quyền tham gia BHXH và BHXH phải có trách nhiệm bảo hiểm cho họ và gia đình họ, kể cả khi họ còn đang trong độ tuổi lao động [34,tr.51]

Đồng thời, BHXH cũng được coi là một dịch vụ, thoả mãn nhu cầu được bảo vệ của những người tham gia BHXH. Tính dịch vụ của BHXH luôn gắn chặt với tính xã hội của nó, khi nền kinh tế – xã hội ngày càng phát triển thì tính dịch vụ và tính xã hội hoá của BHXH cùng ngày càng cao. Luận văn: Quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại BHXH.

1.1.3. Các quan điểm cơ bản về bảo hiểm xã hội

Khi tiến hành tổ chức và thực hiện chính sách BHXH, các quốc gia đều lựa chọn hình thức, cơ chế và mức độ thoả mãn các nhu cầu BHXH phù hợp với tập quán, khả năng trang trải và định hướng phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia mình, đồng thời cũng nhận thức thống nhất các quan điểm cơ bản về BHXH sau đây:

1.1.3.1. Chính sách Bảo hiểm xã hội là một bộ phận cấu thành và bộ phận quan trọng nhất trong chính sách xã hội

Mục đích chủ yếu của BHXH là nhằm đảm bảo đời sống cho NLĐ và gia đình họ trước những rủi ro xã hội làm mất hoặc giảm thu nhập của NLĐ. Thực chất, BHXH là một chính sách đối với con người, nhằm đáp ứng một trong những quyền và nhu cầu hiển nhiên của con người, nhu cầu an toàn về việc làm, an toàn lao động, an toàn xã hội…

Từ quan điểm này cho thấy các quốc gia trên thế giới đều thừa nhận tính xã hội cao của BHXH, do đó BHXH không được coi là một hoạt động lợi nhuận mà là một hoạt động phi lợi nhuận, mang tính nhân văn sâu sắc. Ở Việt Nam, BHXH là một trong những chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước trong hệ thống ASXH.

1.1.3.2. Người sử dụng lao động phải có nghĩa vụ và trách nhiệm tham gia Bảo hiếm xã hội cho người lao động

Người sử dụng lao động chính là các tổ chức, các doanh nghiệp và các cá nhân có thuê mướn lao động. Họ có nghĩa vụ đóng góp vào quỹ BHXH và có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các chế độ BHXH đối với NLĐ mà họ đang sử dụng theo đúng luật pháp quy định. Làm như vậy, họ sẽ tránh được những thiệt hại kinh tế do phải chi ra khoản tiền lớn khi có rủi ro xảy ra đối với NLĐ mình đang thuê mướn; đồng thời giảm bớt tình trạng tranh chấp, kiến tạo mối quan hệ tốt đẹp giữa chủ – thợ, tạo ra sự yên tâm và tích cực lao động sản xuất cho NLĐ.

1.1.3.3. Người lao động được bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi đối với Bảo hiểm xã hội

Mọi NLĐ đều được bình đẳng về nghĩa vụ đóng góp và quyền lợi được trợ cấp BHXH. Khi những rủi ro không mong muốn xảy ra với NLĐ thì họ là người trực tiếp chịu tác động của rủi ro đó. Vì thế, nếu muốn được hưởng BHXH tức được nhiều người khác hỗ trợ cho mình, chia sẻ rủi ro cùng với mình thì trước hết tự mình phải gánh chịu một phần rủi ro đó. Điều đó có nghĩa bản thân NLĐ phải có trách nhiệm tham gia đóng góp BHXH để tự mình bảo hiểm cho mình.

1.1.3.4. Mức trợ cấp Bảo hiểm xã hội phụ thuộc vào các yếu tố

  • Mức tiền lương lúc đang đi làm của người lao động;
  • Mức độ suy giảm khả năng lao động (tỷ lệ thương tật);
  • Ngành nghề công tác;
  • Thời gian công tác và thời gian đóng góp BHXH;
  • Tuổi thọ bình quân của NLĐ;
  • Điều kiện kinh tế xã hội của đất nước trong từng thời kỳ.

Tuy nhiên, về nguyên tắc, mức trợ cấp BHXH phải thấp hơn mức lương lúc đang đi làm, nhưng thấp nhất cũng phải đảm bảo mức sống tối thiểu cho người được hưởng. Quan điểm này vừa phản ánh tính cộng đồng xã hội, vừa phản ánh nguyên tắc phân phối lại quỹ BHXH cho những NLĐ tham gia BHXH.

1.1.3.5. Nhà nước quản lý thống nhất chính sách Bảo hiểm xã hội, tổ chức bộ máy thực hiện chính sách Bảo hiểm xã hội

Bảo hiểm xã hội là một bộ phận cấu thành các chính sách xã hội, nó vừa là nhân tố ổn định, vừa là nhân tố động lực phát triển kinh tế – xã hội, nên vai trò của Nhà nước là rất quan trọng. Sự can thiệp của Nhà nước đã đảm bảo cho mối quan hệ giữa NLĐ và NSDLĐ được duy trì bền vững; đồng thời đảm bảo mối quan hệ ba bên trong BHXH sẽ không bị phá vỡ.

1.1.4. Quỹ bảo hiểm xã hội Luận văn: Quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại BHXH.

1.1.4.1. Khái niệm và đặc điểm

Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài NSNN. Quỹ có mục đích và chủ thể riêng. Mục đích tạo lập quỹ là dùng để chi trả cho NLĐ, giúp họ ổn định cuộc sống khi gặp các biến cố, rủi ro. Chủ thể của quỹ chính là những người tham gia đóng góp để hình thành nên quỹ, do đó có thể bao gồm cả: NLĐ, NSDLĐ và Nhà nước.

Cần phân biệt giữa quỹ BHXH với NSNN. NSNN và quỹ BHXH có cùng bản chất, chức năng và có quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình tạo lập và sử dụng. Hoạt động của ngân sách và của quỹ đều không nhằm mục tiêu lợi nhuận. Quá trình hình thành và sử dụng của cả 2 đều được biểu hiện dưới hình thức giá trị. Việc thu-chi đều được quy định bằng pháp luật và cơ chế quản lý phải tuân theo nguyên tắc cân đối giữa thu và chi…

  • Tuy nhiên giữa NSNN và quỹ BHXH có những điểm khác nhau cơ bản:

Ngân sách Nhà nước là tổng thể các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình Nhà nước dùng quyền lực chính trị của mình để tập trung một phần thu nhập quốc gia nhằm tạo lập quỹ tiền tệ của Nhà nước và phân phối sử dụng quỹ ngân sách cho việc trang trải các chi phí bộ máy Nhà nước và thực hiện chức năng kinh tế – xã hội theo kế hoạch của Nhà nước.

Quỹ BHXH là tổng thể các mối quan hệ kinh tế- xã hội phát sinh trong quá trình hình thành và sử dụng quỹ tiền tệ nhằm mục đích ổn định cuộc sống cho NLĐ và gia đình họ khi họ gặp phải rủi ro, biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm, từ đó làm phát triển kinh tế- xã hội quốc gia.

Ngân sách Nhà nước ra đời, tồn tại và phát triển gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước và thực hiện các chức năng kinh tế – xã hội của Nhà nước. Bộ máy Nhà nước càng lớn, chức năng và nhiệm vụ càng mở rộng thì thu chi ngân sách cũng càng lớn. Quan hệ phân phối của NSNN mang tính pháp lý rất cao và dựa vào quyền lực chính trị, kinh tế của nhà nước. Quan hệ phân phối này chủ yếu là phân phối lại, không mang tính chất hoàn trả và phản ánh lợi ích xã hội, lợi ích quốc gia, nó chi phối các quan hệ, các lợi ích bộ phận và cá nhân nhằm đảm bảo cho nền kinh tế – xã hội của đất nước phát triển ổn định. Trong khi đó, quỹ BHXH ra đời, tồn tại và phát triển gắn với sự phát triển của kinh tế hàng hóa, với các mối quan hệ thuê mướn nhân công. Mặc dù thu, chi BHXH đều được nhà nước quy định bằng các văn bản pháp luật nhưng chủ yếu dựa vào quan hệ kinh tế, quan hệ lợi ích giữa các bên tham gia theo nguyên tắc có tham gia mới được hưởng quyền lợi BHXH. Quan hệ phân phối của quỹ BHXH có tính pháp lý thấp hơn NSNN và mối quan hệ này trước hết phản ánh lợi ích của các bên tham gia BHXH, sau đó mới đến lợi ích của xã hội.

  • Quỹ BHXH có những đặc điểm chủ yếu sau:

Quỹ ra đời, tồn tại và phát triển gắn với mục đích đảm bảo ổn định cuộc sống cho NLĐ và gia đình họ khi gặp các biến cố, rủi ro làm giảm hoặc mất thu nhập từ lao động. Hoạt động của quỹ không nhằm mục đích kinh doanh kiếm lời. Nguyên tắc quản lý quỹ là cân bằng thu – chi. Luận văn: Quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại BHXH.

Phân phối quỹ BHXH vừa mang tính chất hoàn trả, vừa mang tính chất không hoàn trả. Tính chất hoàn trả thể hiện ở chỗ, NLĐ là đối tượng tham gia và đóng góp BHXH, đồng thời họ cũng là đối tượng được nhận trợ cấp BHXH. Tính không hoàn trả thể hiện ở chỗ, cùng tham gia đóng góp BHXH nhưng có người được hưởng nhiều lần và nhiều chế độ khác nhau nhưng cũng có người được hưởng ít lần hơn, thậm chí không được hưởng.

Quá trình tích lũy để bảo tồn giá trị và bảo đảm an toàn về tài chính đối với quỹ BHXH là một vấn đề mang tính nguyên tắc. Đặc điểm này xuất phát từ chức năng cơ bản nhất của BHXH là bảo đảm an toàn về thu nhập cho NLĐ. Vì vậy, đến lượt mình, BHXH phải tự bảo vệ mình trước nguy cơ mất an toàn về tài chính. Quỹ BHXH được đóng góp và tích lũy lại trong suốt quá trình lao động. Nếu xem xét tại một thời điểm cụ thể nào đó, quỹ luôn tồn tại một lượng tiền tạm thời nhàn rỗi để chi trả trong tương lai. Lượng tiền này có thể biến động tăng và cũng có thể biến động giảm do mất an toàn, giảm giá trị do yếu tố lạm phát. Do đó, bảo tồn giá trị và tăng trưởng quỹ đã trở thành yêu cầu mang tính nguyên tắc trong quá tình hoạt động của BHXH.

Quỹ BHXH là hạt nhân, là nội dung vật chất của tài chính BHXH. Nó là khâu tài chính trung gian cùng với NSNN và tài chính doanh nghiệp hình thành nên hệ thống tài chính quốc gia. Tuy các khâu luôn độc lập với nhau trong quản lý và sử dụng do mỗi khâu được tạo lập, sử dụng cho một mục đích riêng và gắn với một chủ thể nhất định. Nhưng tài chính BHXH, NSNN và tài chính doanh nghiệp lại có quan hệ chặt chẽ với nhau và đều chịu sự chi phối của pháp luật nhà nước.

Sự ra đời, tồn tại và phát triển quỹ BHXH phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế- xã hội của từng quốc gia và điều kiện lịch sử trong từng thời kỳ nhất định. Kinh tế- xã hội càng phát triển thì càng có điều kiện thực hiện đầy đủ các chế độ BHXH, nhu cầu thỏa mãn về BHXH đối với NLĐ càng được nâng cao.

1.1.4.2. Nguồn hình thành quỹ

Quỹ BHXH được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau đây:

  • Người sử dụng lao động đóng góp;
  • Người lao động đóng góp;
  • Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm;
  • Các nguồn khác: lãi đầu tư từ phần quỹ nhàn rỗi, sự ủng hộ từ các cá nhân, tổ chức từ thiện và các khoản thu hợp pháp khác. Luận văn: Quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại BHXH.

Sự phân chia về trách nhiệm đóng góp BHXH giữa NLĐ và NSDLĐ không phải là sự phân chia rủi ro mà là lợi ích giữa các bên. Về phía NSDLĐ, việc bỏ ra một khoản tiền nhỏ để đóng BHXH giúp họ tránh được thiệt hại kinh tế do phải chi ra một khoản tiền lớn khi có rủi ro xảy ra đối với NLĐ. Đồng thời nó còn góp phần kiến tạo nên mối quan hệ tốt đẹp giữa chủ- thợ. Về phía NLĐ, sự đóng góp vào quỹ BHXH một phần là để tự bảo vệ cho mình, vừa thể hiện sự tự gánh chịu trực tiếp rủi ro của chính mình, vừa có ý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ và quyền lợi một cách chặt chẽ.

Sự tham gia đóng góp của Nhà nước là thể hiện sự quản lý của nhà nước đối với BHXH, nhằm đảm bảo cho chính sách BHXH được thực hiện nghiêm chỉnh, đúng theo quy định của pháp luật.

Phần lớn các nước trên thế giới, quỹ BHXH đều được hình thành từ các nguồn nêu trên. Tuy nhiên, phương thức đóng góp và mức đóng góp của các bên tham gia BHXH có khác nhau.

Ở Việt Nam, quỹ BHXH bao gồm các quỹ các thành phần sau:

  • Quỹ ốm đau và thai sản.
  • Quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
  • Quỹ hưu trí và tử tuất

1.1.4.3. Sử dụng quỹ BHXH

Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu để chi trả cho các mục đích sau:

  • Chi trợ cấp cho các chế độ BHXH;
  • Chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH;
  • Chi đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH.

Trong các nội dung trên thì chi trả trợ cấp BHXH theo các chế độ là lớn nhất và quan trọng nhất. Khoản chi này được thực hiện theo luật định và phụ thuộc vào phạm vi trợ cấp của từng hệ thống BHXH. Tuy nhiên, việc chi trả cho các chế độ còn phụ thuộc vào phương thức thành lập quỹ BHXH:

Nếu chỉ thành lập một quỹ BHXH tập trung thống nhất thì việc chi trả cũng phải đảm bảo tính thống nhất theo các nội dung chi. Nghĩa là tất cả các nguồn thu BHXH đều được tập trung để hình thành một quỹ, sau đó quỹ được sử dụng để chi trả. Phương thức này rất đơn giản, dễ dàng điều tiết giữa các chế độ BHXH trong quá trình chi trả.

Nếu quỹ BHXH được hình thành theo 2 loại: quỹ ngắn hạn và quỹ dài hạn thì việc chi trả và quản lý chi sẽ cụ thể hơn. Quỹ BHXH ngắn hạn được chi cho các chế độ ngắn hạn như: ốm đau, thai sản, TNLĐ – BNN, sẽ được cân đối hàng năm. Quỹ BHXH dài hạn được sử dụng để chi trả cho các chế độ dài hạn như: hưu trí, tử tuất. Nguồn quỹ này phải được cân đối trong nhiều năm.

Nếu quỹ BHXH được thành lập theo từng chế độ thì việc chi trả càng trở nên đơn giản và đảm bảo chi đúng mục đích.

Ở Việt Nam, việc sử dụng quỹ BHXH được quy định cụ thể như sau:

  • Trả các chế độ BHXH cho NLĐ ng theo quy định. Luận văn: Quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại BHXH.
  • Đóng BHYT từ các quỹ thành phần: quỹ TNLĐ – BNN đóng BHYT cho người nghỉ việc hưởng trợ cấp TNLĐ- BNN hằng tháng; quỹ hưu trí và tử tuất đóng BHYT cho người đang hưởng lương hưu.
  • Quỹ TNLĐ- BNN chi khen thưởng NSDLĐ thực hiện tốt công tác bảo hộ lao động, phòng ngừa TNLĐ, BNN.
  • Chi phí quản lý BHXH: được trích từ tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ, bao gồm các khoản chi thường xuyên và các khoản chi không thường xuyên.
  • Đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ. Hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH phải đảm bảo an toàn, hiệu quả và thu hồi được khi cần thiết; thường đầu tư vào các hình thức: mua trái phiếu, tín phiếu, công trái của Nhà nước, của Ngân hàng Thương mại của Nhà nước; cho Ngân hàng Thương mại của Nhà nước vay; đầu tư vào các công trình kinh tế trọng điểm quốc gia và đầu tư vào một số dự án có nhu cầu lớn về vốn do Thủ tướng Chính phủ quyết định.

Các hoạt động tài chính quỹ BHXH chịu sự kiểm tra, thanh tra của cơ quan quản lý Nhà nước về tài chính và chịu sự kiểm toán của cơ quan kiểm toán Nhà nước.

1.2. Quản lý thu Bảo hiểm xã hội bắt buộc Luận văn: Quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại BHXH.

Xuất phát từ khái niệm của quản lý: “Quản lý là sự tác động có tổ chức có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra ” [26, tr11]. Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có xác định mục tiêu, thể hiện mối quan hệ giữa chủ thể quản lý (quản lý, điều khiển) và đối tượng quản lý (chịu sự quản lý), đây là quan hệ giữa lãnh đạo và bị lãnh đạo, không đồng cấp và có tính bắt buộc. Nó diễn ra trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người với nhiều cấp độ, nhiều mối liên hệ với nhau. Đối với hoạt động BHXH thì quản lý được bao gồm cả quản lý các đối tượng tham gia và thụ hưởng, quản lý thu, quản lý chi trả và quản lý nguồn quỹ từ đầu tư tăng trưởng.

Quản lý thu: “Quản lý thu BHXH là một quá trình chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý, trong hoạt động dự báo, xây dựng chỉ tiêu kế hoạch, tổ chức thực hiện, điều chỉnh và kiểm tra để đạt được mục tiêu quản lý bằng các nguyên tắc và phương pháp nhất định” [28, tr.19]. Quản lý thu giữ vai trò quan trọng và quyết định sự thành công trong việc thực hiện BHXH. Nguồn quỹ BHXH được hình thành chủ yếu từ sự đóng góp của NLĐ và NSDLĐ. Đây là nguồn thu chính, lớn nhất và đóng vai trò quyết định. Do đó, quản lý thu chỉ tập trung vào nguồn thu từ 2 đối tượng chính.

Quản lý đối tượng: Muốn quản lý tốt nguồn thu, thì trước tiên phải quản lý được đối tượng. Đây là công việc đầu tiên mà cơ quan BHXH nên thực hiện khi triển khai BHXH.

  • Quản lý đối tượng nhằm đảm bảo thu đúng, thu đủ không những đảm bảo quyền lợi của NLĐ mà còn đảm bảo khả năng chi trả của quỹ BHXH và từ đó đảm bảo cho chính sách BHXH được thực hiện nghiêm túc.
  • Quản lý đối tượng bao gồm các nội dung: quản lý đối tượng thuộc diện tham gia BHXH; quản lý quỹ lương của doanh nghiệp; quản lý đối tượng đăng ký tham gia BHXH và quản lý quá trình tham gia BHXH của đối tượng thông qua sổ bảo hiểm.
  • Trên cơ sở quản lý được đối tượng thuộc diện tham gia BHXH và quỹ lương của doanh nghiệp cơ quan BHXH sẽ có căn cứ để buộc các doanh nghiệp phải tham gia đầy đủ, thực hiện BHXH cho NLĐ.
  • Quản lý đối tượng tham gia BHXH và quá trình đóng BHXH của đối tượng nhằm duy trì nguồn thu và tránh được hiện tượng gian lận nhằm trục lợi bảo hiểm.

Quản lý chi: Quỹ BHXH có hai nội dung chính là thu và chi. Việc đảm bảo cân bằng thu- chi quỹ BHXH hết sức khó khăn. Nó đòi hỏi phải đồng thời thực hiện tốt cả hai mảng là quản lý thu và quản lý chi.

Trong quản lý chi, cần đảm bảo chi trả kịp thời các chế độ nhưng đồng thời phải đảm bảo chi đúng: đúng đối tượng, đúng chế độ theo quy định của pháp luật. Ngoài ra cũng cần quản lý tốt việc đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH.

1.2.1. Vai trò quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc

Bảo hiểm xã hội có nội hàm rất rộng và phức tạp, bao gồm thu, chi, thực hiện các chế độ, chính sách dài hạn, ngắn hạn; đối tượng và phạm vi áp dụng rộng và liên quan đến đời sống của NLĐ làm công ăn lương; thực hiện tốt các chế độ BHXH là đảm bảo đời sống kinh tế cho NLĐ có tham gia BHXH được coi như là “đầu ra” của BHXH và thu BHXH được coi là yếu tố “đầu vào” của BHXH, trong đó quản lý thu BHXH là khâu đầu tiên trong việc xác lập mối quan hệ về BHXH giữa NLĐ, NSDLĐ và cơ quan BHXH. Mối quan hệ ấy xác định quyền và trách nhiệm của các bên; đây là mối quan hệ quan trọng hàng đầu, vì có thực hiện mối quan hệ này thì mới có cơ sở để tổ chức thu BHXH, hình thành quỹ BHXH, thực hiện chi trả các chế độ BHXH.

Thu BHXH là nhân tố có tính chất quyết định đến sự tồn tại và phát triển của quỹ BHXH, thu BHXH giúp hình thành nên quỹ BHXH, quy mô của quỹ BHXH phụ thuộc vào kết quả hoạt động thu BHXH, thu BHXH chính là giúp hình thành đầu vào của quỹ BHXH là cơ sở cho việc thực hiện hoạt động chi từ quỹ BHXH.

Thu BHXH thúc đẩy quan hệ lao động tốt, vì thu BHXH là một nội dung của quan hệ lao động, chính vì thế hoạt động thu BHXH đạt kết quả tốt chính là góp phần quan trọng trong việc phát triển hài hòa quan hệ lao động. Đây lại là tiền đề giúp tăng năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội. Thu BHXH là một hoạt động của cơ quan thực hiện chính sách BHXH. Chính vì là một hoạt động cho nên thu BHXH cần phải có cơ chế vận hành nhằm đảm bảo hoat động đó đạt được mục tiêu đề ra.

1.2.2. Nội dung công tác thu bảo hiểm xã hội bắt buộc Luận văn: Quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại BHXH.

1.2.2.1. Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc

Điều 2, Luật BHXH quy định đối tượng tham gia BHXH bắt buộc bao gồm người lao động là công dân Việt Nam và người sử dụng lao động:

Người lao động tham gia BHXH bắt buộc gồm:

  • Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên;
  • Cán bộ, công chức, viên chức;
  • Công nhân quốc phòng, công nhân công an;
  • Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân: người làm cơ yếu hưởng lương như đối với quân đội nhân dân, công an nhân dân;
  • Hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và hạ sĩ quan, chiến sí công an nhân dân phục vụ có thời hạn;
  • Người lao động đã tham gia BHXH bắt buộc mà chưa nhận BHXH một lần trước khi đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng ( hợp đồng với tổ chức sự nghiệp, doanh nghiệp được phép hoạt động dịch vụ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài, hợp đồng với doanh nghiệp Việt Nam trúng thầu, nhận thầu, công trình ở nước ngoài, hợp đồng cá nhân).
  • Từ 01/01/2018 người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng cũng thuộc đối tượng phải tham gia BHXH bắt buộc theo Điều 4 Quyết định 595/QĐ-BHXH ngày 14/04/2026 của BHXH Việt Nam.

Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc gồm:

  • Doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.
  • Cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước.
  • Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác.
  • Tổ chức, đơn vị hoạt động theo quy định của pháp luật.
  • Hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã thành lập, hoạt động theo Luật Hợp tác xã.
  • Hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng và trả công cho NLĐ.
  • Cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam có sử dụng lao động là người Việt Nam.

1.2.2.2. Mức đóng, tỷ lệ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc

  • Mức đóng Luận văn: Quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại BHXH.

Trên cơ sở các văn bản quy định của Nhà nước về tiền lương làm căn cứ đóng BHXH như: Điều 149 – Bộ Luật Lao động, Luật BHXH ban hành kèm theo Nghị định số 152/2015/NĐ-CP ngày 22/12/2015 của Chính phủ và các Thông tư, Văn bản quy định, hướng dẫn cụ thể hoá, hoặc giải thích rõ các vấn đề liên quan đến tiền lương làm căn cứ thu BHXH của NLĐ, được quy định cụ thể như sau:

Đối với NLĐ hưởng lương theo chế độ tiền lương thuộc hệ thống thang bảng lương do Nhà nước quy định thì tiền lương hàng tháng làm căn cứ thu BHXH bắt buộc là tiền lương theo ngạch, bậc, cấp bậc quân hàm và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề (nếu có). Tiền lương này tính trên mức lương cơ sở tại thời điểm đóng (bao gồm cả hệ số chênh lệch bảo lưu theo quy định của pháp luật về tiền lương).

Tiền lương hàng tháng làm căn cứ thu BHXH của NLĐ làm việc trong các đơn vị liên doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo mức lương ghi trong hợp đồng lao động, nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng, và tối đa không quá 20 lần mức lương tối thiểu chung do Nhà nước quy định tại thời điểm đóng.

Từ 01/01/2025 đến 31/12/2026: mức tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc là mức lương và phụ cấp lương ghi trên hợp đồng lao động theo quy định tại Khoản 1 điểm a Khoản 2 Điều 4 của Thông tư số 47/2024/TT-BLĐTBXH.

Từ 01/01/2018 trở đi: tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc là mức lương và phụ cấp lương ghi trên hợp đồng lao động và các khoản bổ sưng khác theo quy định tại Khoản 1 điểm a Khoản 3 Điều 4 của Thông tư số 47/2024/TT-BLĐTBXH.

Tỷ lệ đóng: Mức đóng BHXH bắt buộc bằng tỷ lệ phần trăm (%) mức tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH cụ thể như sau:

  • Người sử dụng lao động đóng 3% quỹ tiền lương, tiền công đóng BHXH của NLĐ vào quý ốm đau và thai sản
  • Quỹ TNLĐ – BNN do NSDLĐ đóng bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công đóng BHXH của NLĐ.
  • Hàng tháng, NLĐ đóng BHXH vào quỹ hưu trí và tử tuất với mức đóng bằng tỷ lệ phần trăm (%) so với mức tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH như sau: từ tháng 01/01/2019 đến tháng 31/12/2020 là 6%; từ tháng 01/01/2021 đến tháng 31/12/2022 là 7%; từ 01/01/2023 trở đi mức đóng là 8%. Đối với NLĐ đi làm việc nước ngoài theo hợp đồng cá nhân hoặc hợp đồng với tổ chức hoạt động dịch vụ xuất khẩu lao động đã tham gia BHXH bắt buộc mà chưa nhận trợ cấp BHXH một lần thì mức đóng từ tháng 01/2016 đến tháng 12/2018 là 16%, sau đó cứ mỗi 2 năm lại tăng lên 2% cho tới khi đạt 22%.
  • Hàng tháng NSDLĐ đóng BHXH vào quý hưu trí và tử tuất với mức đóng cụ thể sau: từ tháng 01/01/2019 đến tháng 31/12/2020 là 12%; từ tháng 01/01/2021 đến tháng 31/12/2022 là 13%; từ 01/01/2023 trở đi mức đóng là 14%.

1.2.2.3. Phương thức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc

Đóng hàng tháng: Chậm nhất đến ngày cuối cùng của tháng, đơn vị trích tiền đóng BHXH bắt buộc trên quỹ tiền lương, tiền công tháng của những NLĐ tham gia BHXH bắt buộc, đồng thời trích từ tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH bắt buộc của từng NLĐ theo mức quy định, chuyển cùng một lúc vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH mở tại ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước.

Đóng hằng quý hoặc 6 tháng một lần: Đơn vị là doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể tổ hợp tác hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp trả lương theo sản phẩm, theo khoán thì đóng theo phương thức hằng tháng, 03 tháng hoặc 06 tháng một lần. Chậm nhất đến ngày cuối cùng của phương thức đóng, đơn vị phải chuyển đủ tiền vào quỹ BHXH.

1.2.3. Tổ chức quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc

1.2.3.1. Lập kế hoạch thu Luận văn: Quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại BHXH.

Bảo hiểm xã hội quận, huyện, thị xã ( gọi chung là BHXH huyện)

  • Bảo hiểm xã hội huyện căn cứ tình hình thực hiện năm trước, 6 tháng đầu năm và khả năng mở rộng đối tượng tham gia BHXH, BHYT, BHTN trên địa bàn, lập 02 bản kế hoạch thu BHXH, BHYT năm sau (mẫu K01-TS) gửi 01 bản đến BHXH tỉnh trước ngày 10/6 hằng năm.
  • Lập 02 bản kế hoạch Ngân sách địa phương đóng, hỗ trợ mức đóng BHYT, hỗ trợ quỹ BHTN, gửi kịp thời cho cơ quan tài chính cùng cấp theo phân cấp Ngân sách địa phương để tổng hợp trình UBND huyện quyết định, hoặc gửi BHXH tỉnh để lập kế hoạch chung toàn tỉnh.

Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố (gọi chung là BHXH tỉnh)

  • Phòng Thu BHXH tỉnh lập 02 bản kế hoạch thu BHXH, BHYT, BHTN; phối hợp các Phòng có liên quan lập kế hoạch kinh phí hỗ trợ công tác thu đối với các đối tượng do tỉnh trực tiếp thu.
  • Tổng hợp toàn tỉnh, lập 02 bản kế hoạch thu BHXH, BHYT (mẫu K01-TS), gửi BHXH Việt Nam 01 bản trước ngày 15/6 hàng năm.
  • Lập 02 bản kế hoạch Ngân sách địa phương đóng, hỗ trợ mức đóng BHYT, hỗ trợ quỹ BHTN, gửi Sở Tài chính để tổng hợp trình UBND tỉnh quyết định.
  • Trên cơ sở kế hoạch thu, phân bổ kinh phí hỗ trợ công tác thu, hoa hồng đại lý được BHXH Việt Nam giao, tiến hành giao kế hoạch thu cho BHXH tỉnh và BHXH huyện.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam

  • Ban Thu BHXH Việt Nam căn cứ tình hình thực hiện kế hoạch năm trước, ước thực hiện năm nay và các yếu tố ảnh hưởng đến công tác thu BHXH, BHYT, BHTN, lập kế hoạch thu BHXH, BHYT, BHTN, phối hợp với Ban KHTC báo cáo Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam, bảo vệ kế hoạch với Nhà nước.

1.2.3.2. Quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc

  • Bảo hiểm xã hội tỉnh và BHXH huyện không được sử dụng tiền thu BHXH bắt buộc vào bất cứ mục đích gì (trường hợp đặc biệt phải được Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam chấp thuận bằng văn bản).
  • Hàng quý, BHXH tỉnh (Phòng Kế hoạch-Tài chính) và BHXH huyện gửi thông báo quyết toán cho phòng Thu hoặc bộ phận Thu;
  • Bảo hiểm xã hội Việt Nam thẩm định số thu BHXH bắt buộc theo 6 tháng hoặc hàng năm đối với BHXH tỉnh.

Phân cấp quản lý thu BHXH bắt buộc Luận văn: Quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại BHXH.

  • Bảo hiểm xã hội Việt Nam (Ban Thu BHXH) chịu trách nhiệm tổng hợp, phân loại đối tượng tham gia BHXH bắt buộc; Hướng dẫn, chỉ đạo, tổ chức, quản lý thu BHXH bắt buộc; Kiểm tra, đối chiếu tình hình thu nộp BHXH bắt buộc, cấp sổ BHXH và thẩm định số thu BHXH bắt buộc .
  • Bảo hiểm xã hội tỉnh:
  • Bảo hiểm xã hội tỉnh (phòng Thu BHXH) trực tiếp thu: Các đơn vị do Trung ương quản lý đóng trụ sở trên địa bàn tỉnh, thành phố; Các đơn vị trên địa bàn do tỉnh quản lý; Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tổ chức quốc tế; Lao động hợp đồng thuộc doanh nghiệp lực lượng vũ trang; Các đơn vị đưa lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài; Những đơn vị BHXH huyện không đủ điều kiện thu thì BHXH tỉnh trực tiếp tổ chức thu.
  • Phòng Thu BHXH có trách nhiệm: Tổ chức, hướng dẫn thu BHXH bắt buộc; Định kỳ quý, năm thẩm định số thu BHXH bắt buộc đối với BHXH huyện; Phối hợp với phòng Kế hoạch Tài chính lập và giao kế hoạch, quản lý tiền thu
  • Bảo hiểm xã hội huyện trực tiếp thu BHXH bắt buộc: Các đơn vị trên địa bàn do huyện quản lý; Các đơn vị khác do BHXH tỉnh giao nhiệm vụ thu; Hướng dẫn, tổ chức thực hiện quản lý thu, nộp BHXH bắt buộc;

Quản lý tiền thu BHXH bắt buộc

  • Thu BHXH bắt buộc bằng hình thức chuyển khoản, trường hợp cá biệt phải thu bằng tiền mặt thì cơ quan BHXH phải nộp tiền vào ngân hàng ngay trong ngày.
  • Không được sử dụng tiền thu BHXH bắt buộc để chi cho bất cứ việc gì; Không được áp dụng hình thức gán thu bù chi tiền BHXH bắt buộc đối với các đơn vị. Mọi trường hợp thoái thu, truy thu BHXH bắt buộc để cộng nối thời gian công tác chỉ được thực hiện sau khi có sự chấp thuận bằng văn bản của BHXH Việt Nam.
  • Chậm nhất vào ngày cuối tháng, cơ quan, đơn vị quản lý đối tượng phải nộp đủ số tiền đã được xác định vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH nơi đăng ký tham gia BHXH bắt buộc. Nếu chậm nộp từ 30 ngày trở lên so với kỳ hạn phải nộp thì ngoài việc bị xử lý theo quy định của pháp luật xử phạt hành chính về BHXH, cơ quan, đơn vị còn phải nộp tiền lãi theo mức lãi suất tiền vay quá hạn do ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định tại thời điểm truy nộp.
  • Bảo hiểm xã hội huyện chuyển tiền thu BHXH bắt buộc về tài khoản chuyên thu của BHXH tỉnh vào ngày 10 và ngày 25 hàng tháng. Riêng tháng cuối năm chuyển toàn bộ số tiền thu BHXH bắt buộc của huyện về BHXH tỉnh trước 24 giờ ngày 31/12.
  • Hàng tháng BHXH tỉnh chuyển tiền thu BHXH bắt buộc về tài khoản chuyên thu của BHXH Việt Nam vào các ngày 10, 20 và ngày cuối tháng. Nếu số dư trên tài khoản chuyên thu của BHXH tỉnh quá 5 tỷ đồng, thì BHXH tỉnh phải chuyển bổ sung ngay về BHXH Việt Nam. Riêng tháng cuối năm chuyển hết số tiền thu BHXH bắt buộc về BHXH Việt Nam trước 24 giờ ngày 31/12. Luận văn: Quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại BHXH.

1.2.4. Thanh tra kiểm tra công tác thu bảo hiểm xã hội bắt buộc

Trong thực tiễn, công tác kiểm tra, thanh tra là một chức năng thiết yếu không thể thiếu được trong công tác quản lý nói chung, trong quản lý BHXH và quản lý thu nói riêng, có thể thấy vai trò của kiểm tra trong biểu thức: Quản lý = Quyết định

Tổ chức thực hiện + Kiểm tra. Bản chất của công tác kiểm tra BHXH, quản lý thu BHXH là phải xác định và sửa chữa được những sai lệch trong hoạt động của cơ quan BHXH so với chính sách pháp luật, mục tiêu và kế hoạch vạch ra. Thực tế đã chỉ ra nội dung kiểm tra, thanh tra BHXH, chỉ có thể kiểm tra, thanh tra một số khu vực và một số lĩnh vực quan trọng tác động đến cả hệ thống hoặc kiểm tra, thanh tra phát sinh đột biến cần phải có thông tin phản hồi phục vụ yêu cầu quản lý. Các phương thức kiểm tra hoạt động của BHXH gồm có: Kiểm tra của các cơ quan quyền lực Nhà nước, kiểm tra chuyên ngành và kiểm tra nhân dân (gồm thanh tra nhân dân, kiểm tra của tổ chức đảng, đoàn thể…). Tuỳ thuộc vào mục đích, yêu cầu, nội dung và thời gian kiểm tra để có loại hình kiểm tra cho phù hợp: theo thời gian thì có loại hình thường xuyên hay định kỳ; kiểm tra trước, kiểm tra sau, kiểm tra đột xuất; nếu theo phạm vi trách nhiệm thì có kiểm tra nội bộ, kiểm tra của các cơ quan ngoài hệ thống theo quy định của pháp luật (Tổ chức thanh tra Nhà nước, thanh tra nhân dân, thanh tra lao động…). Nội dung kiểm tra về BHXH thường có kiểm tra về quản lý thu BHXH, BHYT; kiểm tra chi trả BHXH, BHYT; kiểm tra thực hiện các chế độ BHXH, BHYT; kiểm tra quản lý đối tượng được hưởng các chế độ BHXH, BHYT; kiểm tra quản lý, sử dụng tài chính, tài sản… Nội dung kiểm tra quản lý thu BHXH, bao gồm:

  • Kiểm tra nguồn hình thành quỹ BHXH
  • Kiểm tra đối tượng tham gia BHXH bắt buộc theo quy định của pháp luật
  • Kiểm tra việc trích tiền lương, tiền công tháng của người lao động và phần trích của đơn vị đóng BHXH cho NLĐ thông qua chuyển khoản vào hệ thống Ngân hàng hoặc Kho bạc.
  • Kiểm tra việc đơn vị thực hiện thanh toán các chế độ ngắn hạn cho NLĐ.
  • Kiểm tra, đối chiếu công nợ BHXH và thực hiện tính lãi, phạt tiền do vi phạm pháp luật BHXH về đóng BHXH đối với NSDLĐ.

1.2.5. Các chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý thu BHXH

Để có cơ sở đánh giá công tác quản lý thu BHXH người ta thường dùng các chỉ tiêu định lượng để phản ánh tình hình thực hiện kế hoạch thu, tính tuân thủ thực hiện BHXH của đối tượng tham gia bắt buộc. Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch thu càng cao, tính tuân thủ của các đối tượng tham gia BHXH bắt buộc càng cao phản ánh công tác quản lý thu BHXH của cơ quan BHXH càng tốt và ngược lại. Các chỉ tiêu định lượng chủ yếu bao gồm:

Chỉ tiêu đánh giá tình hình hoàn thành kế hoạch thu BHXH: Tình hình hoàn thành kế hoạch thu BHXH được đánh giá qua chỉ tiêu “Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch thu BHXH”. Đây là tỷ số giữa số tiền thu BHXH thực tế với số tiền thu BHXH theo kế hoạch được giao trong kỳ.

  • Số tiền thu BHXH thực hiện
  • Tỷ lệ HTKH tiền thu BHXH = x 100% (1) Số tiền thu BHXH theo kế hoạch

Chỉ tiêu này càng cao phản ánh tình hình quản lý thu BHXH càng tốt và ngược lại.

Các chỉ tiêu đánh giá việc tuân thủ đóng góp BHXH bắt buộc Chỉ tiêu này chỉ áp dụng cho các đối tượng tham gia BHXH bắt buộc theo quy định của pháp luật BHXH Luận văn: Quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại BHXH.

Tỷ lệ đơn vị tham gia BHXH: Là Tỷ số giữa Số đơn vị tham gia BHXH với Số đơn vị bắt buộc tham gia BHXH trong kỳ.

Chỉ tiêu này cho biết có bao nhiêu phần trăm số đơn vị sử dụng lao động thuộc diện đóng góp BHXH bắt buộc tuân thủ thực hiện đóng BHXH trong năm.

Tỷ lệ NLĐ tham gia BHXH: Là tỷ số giữa Số NLĐ tham gia BHXH và Số NLĐ bắt buộc tham gia BHXH trong kỳ. Chỉ tiêu này cho biết có bao nhiêu phần trăm số lao động thuộc diện đóng góp BHXH bắt buộc tuân thủ thực hiện quy định này trong năm.

  • Số NLĐ tham gia BHXH
  • Tỷ lệ NLĐ tham gia BHXH =  x 100% (3) Số NLĐ bắt buộc tham gia BHXH

Tử số và mẫu số của chỉ tiêu (2), (3) được tính thống nhất vào thời điểm cuối năm (31/12). Hai chỉ tiêu này năm sau cao hơn năm trước thể hiện tính tuân thủ đóng góp BHXH của đối tượng tham gia và công tác quản lý thu BHXH ngày càng tốt.

Tỷ lệ đơn vị nợ BHXH: Là tỷ số giữa Số đơn vị nợ BHXH trong kỳ và Số đơn vị bắt buộc tham gia BHXH trong kỳ.

  • Số đơn vị nợ BHXH trong kỳ
  • Tỷ lệ đơn vị nợ BHXH = x 100% (4) Số đơn vị bắt buộc tham gia BHXH trong kỳ

Chỉ tiêu này cho biết có bao nhiêu phần trăm số đơn vị thuộc diện đóng góp BHXH bắt buộc còn nợ đọng BHXH trong kỳ.

Tỷ lệ nợ BHXH: Là tỷ số giữa Tổng số tiền nợ BHXH trong kỳ và Tổng số tiền phải thu BHXH trong kỳ.

  • Tổng số tiền nợ BHXH trong kỳ
  • Tỷ lệ đơn vị nợ BHXH = x 100% (5) Tổng số tiền phải thu BHXH trong kỳ

Kỳ tính toán trong chỉ tiêu (4, (5) có thể là tháng, quý, năm, và được tính vào thời điểm cuối kỳ, hai chỉ tiêu này càng nhỏ thì càng thể hiện được hiệu quả của công tác quản lý thu BHXH.

Tỷ lệ thu BHXH: Là tỷ số giữa Tổng số tiền thu BHXH trong kỳ và Tổng số tiền phải thu BHXH trong kỳ.

Kỳ thu BHXH có thể là tháng, quý, năm. Tử số và mẫu số của chỉ tiêu thống nhất tính theo phương pháp cộng dồn vào thời điểm cuối kỳ. Chỉ tiêu này cho biết tỷ lệ thu BHXH bắt buộc trong kỳ đạt bao nhiêu phần trăm. Chỉ tiêu này năm sau lớn hơn năm trước thể hiện tính tuân thủ đóng góp BHXH của đối tượng tham gia và công tác quản lý thu BHXH ngày càng tốt.

Nhìn chung, các chỉ tiêu trên có thể tính toán cho từng khối, từng ngành, từng địa phương, khu vực kinh tế và chung trong phạm vi cả nước. Luận văn: Quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại BHXH.

1.2.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc

Để có thể đề ra những biện pháp cụ thể để quản lý thu BHXH tốt hơn, chống thất thu BHXH như hiện nay, chúng ta phải phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu BHXH.

1.2.6.1. Hệ thống thể chế, chính sách về thu BHXH bắt buộc

Ở mỗi thời kỳ phát triển khác nhau của nền kinh tế, với thể chế kinh tế khác nhau, thì công tác thu BHXH bắt buộc cũng khác nhau. Cụ thể, từ năm 1980 -1990 việc thu BHXH bắt buộc do Bộ Tài chính thực hiện và được tính vào khoản thu NSNN mà không có quỹ BHXH độc lập. Thời kỳ này, việc chi chế độ hưu trí, mất sức lao động và tử tuất do NSNN đảm nhiệm, được tinh trong kế hoạch chi ngân sách hàng năm. Từ sau 1995, cùng với sự phát triển kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, công tác thu BHXH bắt buộc được cải cách cho phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

Vì thế, các văn bản pháp lý về thu BHXH bắt buộc ở từng thời kỳ phải phù hợp với bối cảnh lịch sử cụ thể của đất nước, mà chủ yếu là phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội.

Nếu Nhà nước và ngành BHXH xây dựng được các quy tắc, quy định, các văn bản pháp quy hướng dẫn thu BHXH bắt buộc càng chặt ché, càng đầy đủ, đồng bộ, toàn diện càng phù hợp với điều kiện thực tế, điều kiện kinh tế của NLĐ thì thu BHXH bắt buộc càng có hiệu quả và do đó càng góp phần đảm bảo cuộc sống ổn định và không ngừng nâng cao. Ngược lại nếu Nhà nước và ngành BHXH không xây dựng, ban hành được các quy định, quy tắc, văn bản pháp quy về BHXH bắt buộc chặt chẽ, đồng bộ thì thu BHXH bắt buộc sẽ càng kém hiệu quả và không đạt được yêu cầu, mục đích đề ra.

1.2.6.2. Trình độ phát triển kinh tế – xã hội của địa phương

Đây là nhân tố có ảnh hưởng mạnh mẽ và trực tiếp đến công tác thu BHXH và kết quả thu BHXH bắt buộc. Thực tế cho thấy, những nơi có nguồn thu BHXH lớn là những địa phương có trình độ phát triển kinh tế – xã hội cao hơn so với nơi khác. Chẳng hạn như, thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội là những địa phương có nguồn thu BHXH bắt buộc rất lớn. Đó là bởi vì, ở những địa phương này kinh tế – xã hội phát triển, nơi tập trung nhiều doanh nghiệp lớn, nơi mà người dân có mức thu nhập cao hơn, dẫn đến hiểu biết và ý thức chấp hành nghĩa vụ tham gia BHXH bắt buộc của NLĐ cao hơn.

Mặt khác, nếu hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, thì NSDLĐ cũng sẽ tự giác, có trách nhiệm với nguôn nhân lực của doanh nghiệp, nên sẽ có ý thức nộp đúng, nộp đủ nghĩa vụ đóng góp BHXH bắt buộc của họ cho NLĐ, khắc phục được hiện trạng phổ biến hiện nay là cố tình trốn tránh tham gia BHXH và nợ đọng tiền đóng BHXH kéo dài.

Chỉ khi có điều kiện về kinh tế khá, thì NLĐ mới có điều kiện, mới có ý thức tham gia BHXH bắt buộc. Chính vì vậy các nước có nền kinh tế phát triển thì BHXH của họ ngày càng phát triển theo. Ngược lại, ở các nước có nền kinh tế thấp kém, lạc hậu, thu nhập của dân trí thấp thì BHXH cũng không thể phát triển được.

1.2.6.3. Trình độ nhận thức và ý thức trách nhiệm của người tham gia BHXH bắt buộc

Các doanh nghiệp cần phải xác định rằng tham gia BHXH là thực hiện chính sách nhằm đảm bảo được tính ổn định nhân sự, sự ổn định này giúp doanh nghiệp mạnh dạn đề gia chiến lược sản xuất kinh doanh dài hạn, mạnh dạn ký kết hợp đồng để tăng doanh thu, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Tham gia BHXH là trách nhiệm của NSDLĐ đối với NLĐ. Quán triệt sâu sắc tư tưởng đó sẽ làm tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp từ đó số doanh nghiệp tham gia BHXH càng nhiều thì tổng thu BHXH càng tăng, quỹ BHXH càng bền vững. Luận văn: Quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại BHXH.

Đơn vị sử dụng lao động trích nộp BHXH theo đúng mức lương hoặc thu nhập thực tế của NLĐ sẽ ra tăng quỹ BHXH và ngược lại mức thụ hưởng các chế độ BHXH sẽ cao, bảo đảm ổn định chi phí khi NLĐ khi ốm đau, thai sản, TNLĐ – BNN hoặc thất nghiệp đặc biệt là mức lương hưu đảm bảo ổn định cuộc sống tuổi già cho họ.

Người lao động phải có hiểu biết, nhận thức sâu sắc về việc tham gia BHXH là quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm bắt buộc tham gia BHXH.

1.2.6.4. Năng lực tổ chức, quản lý, điều hành, thực hiện công tác thu BHXH bắt buộc

Đây là nhân tố phản ánh trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả công tác quản lý, điều hành, khai thác nguồn thu của cơ quan BHXH; là quá trình vận dụng, triển khai chủ trương, chính sách BHXH bắt buộc để tổ chức thực hiện vào mỗi địa phương theo những mục tiêu đã định.

Nhưng nơi nào năng lực tổ chức, điều hành công tác thu BHXH tốt, thì hiệu quả thu sẽ cao, ít có hiện tượng bỏ sót nguồn thu, thu thiếu, chây ỳ nợ đọng trong các nguồn thu. Bên cạnh đó, tổ chức bộ máy được thiết lập hoàn chỉnh, vận hành đồng bộ, từng bộ phận thực hiện tốt chức năng và quyền hạn trách nhiệm của mình thì công tác thu BHXH sẽ đạt kết quả tốt.

Nhân tố chính này thể hiện phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý, điều hành và cán bộ thu BHXH bắt buộc. Nếu đội ngũ cán bộ này có năng lực, chuyên môn vững, phẩm chất đạo đức tốt thì năng lực, tổ chức quản lý điều hành thực hiện thu BHXH bắt buộc sẽ đạt kết quả cao và ngược lại.

1.3. Kinh nghiệm quản lý thu BHXH ở một số nước trên thế giới và bài học rút ra cho quản lý thu BHXH ở Việt Nam

1.3.1. Quản lý thu BHXH ở Cộng hòa Liên bang Đức Một số quy định về thu BHXH

Cộng hòa Liên bang Đức là nước đầu tiên thiết lập BHXH bắt buộc. Tuy nhiên sự phát triển của BHXH được thực hiện từng bước. BHXH bắt buộc ở Đức bao gồm các chế độ: Bảo hiểm ốm đau, thai sản; bảo hiểm tuổi già và tàn tật; bảo hiểm TNLĐ; BHTN (chịu trách nhiệm cả việc đào tạo nghề nghiệp cho người thất nghiệp); và bảo hiểm phụ thuộc. BHXH bắt buộc đồng thời tồn tại với BHXH tư nhân tạo nên chế độ BHXH theo luật định. Tuy nhiên có thể chia các chế độ này thành hai loại chính là BHXH dựa trên cở sở đóng góp và loại không dựa trên cơ sở đóng góp. Riêng đối với các chế độ dựa trên cơ sở đóng góp thì cách thức quản lý quỹ, quy định về thu nộp cũng có sự độc lập; ở đây chủ yếu đề cập chế độ bảo hiểm tuổi già (hưu trí) và tàn tật có đóng góp.

  • Đối tượng: NLĐ và NSDLĐ hoặc những người đang học nghề được bảo hiểm một cách bắt buộc.
  • Mức phí đóng: Phí bảo hiểm hưu trí và tàn tật do NSDLĐ và NLĐ đóng ngang nhau và được tính lại hàng năm và thay đổi từ ngày 1/7 hàng năm theo nguyên tắc tọa thu tọa chi (căn cứ vào số tiền phải trả cho người về hưu và số người tham gia BHXH, có tính thêm một khoản nhỏ để đề phòng biến động )

Trong các năm gần đây, tổng mức đóng 19%. Ngoài ra còn có khoản trợ cấp của liên bang chiếm khoảng 16% chi tiêu của bảo hiểm tuổi già, tàn tật. Trong cải cách hưu trí mới đây có thêm phần bổ sung vào tài khoản cá nhân chỉ do NLĐ đóng góp với sự trợ giúp của nhà nước. Từ ngày 1/1/2011 với sự trợ giúp của nhà nước những người lao động bắt đầu đóng mức 1% lương gộp, cứ 2 năm tăng lên 1% cho đến khi đạt được mức 4% vào năm 2017 thì được hưởng mức hỗ trợ cao nhất của nhà nước cho đối tượng tham gia vào hệ thống phòng xa tuổi già tư nhân để bổ sung cho bảo hiểm hưu trí bắt buộc.

  • Tổ chức thực hiện thu BHXH Luận văn: Quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại BHXH.

Tổ chức phân quyền và chủ động của các quỹ là đặc tính của hệ thống được thành lập vào cuối thế kỷ 19. Việc hình thành tài chính của quỹ được đảm bảo chủ yếu bởi nguồn đóng bảo hiểm của các thành viên tham gia. Mức đóng được chi sẻ theo các thể thức đa dạng theo các nhánh, giữa những người được bảo hiểm và NSDLĐ, Chính phủ hỗ trợ thêm cho một số nhánh. Ở Đức có hai chế độ quản lý BHXH đối với NLĐ. Mọi hoạt động thu đóng góp, chi trả trợ cấp cũng như giải quyết các khiếu kiện trong lĩnh vực bảo hiểm tuổi già và tàn tật đều được một trong hai cơ quan này thực hiện với các đối tượng tương ứng:

  • Thứ nhất: cơ quan bảo hiểm tuổi già liên bang quản lý BHXH đối với nhân viên và cán bộ.
  • Thứ hai, cơ quan quản lý BHXH đối với công nhân, gồm 18 văn phòng khu vực.

Cơ quan bảo hiểm tuổi già trung ương cũng đóng vai trò bù trừ như đối với quỹ hưu trí của công nhân. Tất cả các thể chế quản lý các chế độ bảo hiểm tuổi già khác nhau do các cơ quan của luật công vận hành theo nguyên tắc tự quản quản lý.

1.3.2. Quản lý thu BHXH ở Singgapore

  • Tổng quan

Các chế độ BHXH đối với NLĐ ở Singapore được thực hiện thông qua Quỹ dự phòng TW (CPF). Quỹ CPF được thành lập năm 1995 như là một hệ thống BHXH bắt buộc nhằm mục đảm bảo tài chính cho NLĐ khi nghỉ hưu hoặc không còn khả năng để làm việc. CPF là một hệ thống BHXH toàn diện không chỉ quan tâm đến việc nghỉ hưu, nhà cửa, nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho người tham gia BHXH mà còn bảo đảm cho các thành viên của gia đình họ.

Đối tượng tham gia BHXH bắt buộc: NLĐ làm công, làm thuê ăn lương trả công ( trả công thời gian theo giờ, theo ngày, theo tuần hay tháng..); NLĐ tự do.

Mức đóng BHXH: NLĐ đóng 20% thu nhập ( tiền lương) hàng tháng, chủ sử dụng lao động đóng 10% so với tổng quỹ lương thực tế phải trả cho NLĐ làm việc cho họ. NLĐ được giảm dần mức đóng từ 55 tuổi và khuyến khích những người hết tuổi lao động tiếp tục tham gia lao động.

  • Quỹ BHXH, hoạt động bảo tồn và đầu tư quỹ

Để đảm bảo quỹ luôn được bảo tồn và tăng trưởng, quỹ CPF đã áp dụng các hình thức đầu tư sau: Đầu tư vào thị trường chứng khoán, mua trái phiếu, đầu tư vào các tổ chức tín dụng, mua sắm các tài sản cố định có giá trị cao, thị trường bất động sản…

1.3.3. Bài học rút ra cho quản lý thu BHXH ở Việt Nam Luận văn: Quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại BHXH.

Khi nghiên cứu về BHXH của một số nước trên có thể thấy những quy định về thu BHXH cũng rất phong phú và đa dạng. Tùy thuộc vào đặc điểm tình hình và điều kiện kinh tế xã hội của mỗi quốc gia mà họ đưa ra các quy định về BHXH khác nhau.

  • Bảo hiểm xã hội được thực hiện trên nguyên tắc có tham gia BHXH mới được hưởng các chế độ BHXH. Nguồn thu của hệ thống BHXH được tập hợp chủ yếu từ các khoản đóng góp của NLĐ và NSDLĐ. Ngoài ra còn có sự hỗ trợ của Chính phủ.
  • Đối tượng: BHXH bắt buộc là những đối tượng có công ăn việc làm, có thu nhập dưới hình thức tiền lương hoặc tiền công mà thu nhập đó vuợt quá mức tối thiểu.
  • Mức thu: Tỷ lệ đóng góp vào quỹ BHXH nên được chia ngang bằng cho NSDLĐ và NLĐ.
  • Cách thức tổ chức thực hiện: Đa dạng hoá loại hình BHXH để NLĐ vừa có thể tham gia BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện; Thực hiện việc phân cấp tạo sự tự chủ cho cơ quan BHXH một số địa phương có tính đặc thù.

Phát triển dịch vụ thu BHXH cơ quan BHXH Việt Nam có thể ký kết các hợp đồng đại lý thu BHXH với các cơ quan như: cơ quan thuế, ngân hàng,…

Nghiên cứu việc đưa vào sử dụng mã số cá nhân cho các đối tượng tham gia BHXH. Khi việc sử dụng mã số cá nhân được áp dụng sẽ giúp cho công tác quản lý, kiểm soát đối tượng tham gia BHXH được chặt chẽ hơn.

Trên đây là một số bài học kinh nghiệm về quản lý thu BHXH có thể giúp Việt Nam thực hiện hiệu quả hơn công tác thu BHXH trong tương lai.

1.4. Định hướng phát triển BHXH ở Việt Nam

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, mọi người đều có quyền bình đẳng trong lao động và hưởng thụ, đều có cơ hội để phát triển đồng thời cũng đều có thể gặp rủi ro. Vì vậy, BHXH cần thực hiện “sự bảo vệ xã hội” cho mọi thành viên trong xã hội. Nền kinh tế Việt Nam đã, đang và sẽ định hướng phát triển nhiều thành phần. Những thành phần ngoài quốc doanh trong những năm qua phát triển nhanh, có đóng góp lớn cho ngân quỹ và đã tham gia nhiều mặt trong các chính sách xã hội, trong đó có BHXH. Nếu như trước đây, BHXH chỉ là đơn tuyến, nguồn chi BHXH chủ yếu từ Ngân sách Nhà nước, thì ngày nay nhu cầu BHXH đã phát triển rộng hơn đến toàn xã hội, điều đó đòi hỏi BHXH phải có những định hướng phát triển mới để đáp ứng được những nhu cầu đó.

  • Dự kiến, BHXH Việt Nam sẽ được phát triển theo các hướng sau:

Thứ nhất, hoàn thiện các cơ sở và đảm bảo về pháp lý như: Kiện toàn hệ thống pháp luật về tổ chức và quản lý công tác BHXH, xây dựng quy chế vận hành đủ sức đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra trong thời gian tới của ngành BHXH Việt Nam; Đề ra những chính sách cụ thể cho hoạt động của BHXH Việt Nam về quy chế tài chính thống nhất, bảo đảm đủ nguồn thu, chống bao cấp và bảo tồn, tăng trưởng quỹ BHXH; Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra việc thực hiện chính sách BHXH nhằm bảo đảm mọi quy định có liên quan được thực hiện đầy đủ, kịp thời.

Thứ hai, coi trọng phát triển chiều rộng bao gồm cả việc mở rộng các đối tượng tham gia BHXH nhất là đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh lẫn các hình thức BHXH. Luận văn: Quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại BHXH.

Hiện nay, NLĐ hiện đang tham gia BHXH mới chỉ chiếm gần 30% lực lượng lao động. Tuy nhiên, việc mở rộng đối tượng tham gia BHXH cũng cần phải thận trọng và có những bước đi thích hợp tùy theo điều kiện của nước ta cũng như trình độ quản lý của ngành BHXH.

Đối với hình thức bắt buộc: Có các biện pháp cụ thể để mở rộng thêm cho các lao động trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ, lao động tại các hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ sản xuất kinh doanh cá thể… nhằm giảm bớt rủi ro mất hoặc giảm thu nhập của NLĐ, đồng thời nâng cao trách nhiệm của NSDLĐ với những NLĐ. Mức đóng góp BHXH cũng sẽ phù hợp để đảm bảo cân đối thu chi BHXH.

Đối với hình thức tự nguyện: áp dụng cho các lao động nông thôn và những NLĐ độc lập, nghiên cứu trình Chính phủ ban hành chế độ BHXH đối với lao động tự do thuộc các lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp. Do tính chất lao động của họ rất đa dạng và thu nhập của họ cũng khó kiểm soát, nên cách thức tổ chức cũng linh hoạt hơn, Nhà nước sẽ chỉ đề ra khung pháp lý, định hướng chung, còn mức đóng BHXH tùy thuộc vào khả năng thu nhập. Mức đóng góp và hưởng thu BHXH cũng nên thực hiện trên cơ sở thu nhập.

Cần có nhiều loại hình bảo hiểm tự nguyện để nhân dân lựa chọn phù hợp với khả năng đóng góp tùy thuộc vào mức thu nhập của mỗi người. Các loại hình BHXH ngoài các loại hình hiện hành như bảo hiểm tuổi già (hưu trí), bảo hiểm TNLĐ – BNN, ốm đau, thai sản, tiền tuất sẽ bổ sung thêm BHTN. Về lâu dài cần áp dụng bảo hiểm bắt buộc cho tất cả mọi NLĐ, coi đó là một phương thức đảm bảo an toàn xã hội thực hiện công bằng xã hội.

Thứ ba, xúc tiến thiết lập và mở rộng quan hệ của BHXH Việt Nam với BHXH các nước khác, nhằm sớm hội nhập với hệ thống BHXH các nước, trước mắt là các nước Đông Nam Á. Hợp tác quốc tế sẽ được tiến hành trên các lĩnh vực: Trao đổi kinh nghiệm của ngành; Đào tại đội ngũ cán bộ làm việc và quản lý; Gia nhập các Hiệp hội nhằm hỗ trợ lẫn nhau trong lĩnh vực cùng quan tâm.

Thứ tư, phát triển và hoàn thiện về cơ cấu tổ chức và cơ sở vật chất của ngành BHXH nhằm đáp ứng được các yêu cầu trong nền kinh tế thị trường.

TIỂU KẾT CHƯƠNG I

Chính sách BHXH là một bộ phận quan trọng, trụ cột trong hệ thống ASXH, có tác động rất lớn vào quá trình phân phối lại thu nhập để ổn định đời sống NLĐ và thân nhân của họ. Chính vì lẽ đó BHXH cần thiết cho tất cả mọi người trong xã hội, trong thực tế ốm đau, tai nạn, rủi ro, già yếu không trừ một ai và cần được quỹ BHXH bảo đảm, thay thế, bù đắp một phần thu nhập để ổn định cuộc sống. Luận văn: Quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại BHXH.

Chương I này, Luận văn đã đi sâu phân tích lý luận chung về BHXH, sự cần thiết khách quan của BHXH, khái niệm, vai trò của BHXH và cơ chế quản lý thu BHXH. Luận văn cũng đã giới thiệu chế độ BHXH của một số nước, qua đó là cơ sở để so sánh với thực trạng và đề ra các giải pháp phù hợp với thực tế công tác quản lý thu BHXH trên địa bàn thành phố Hải Phòng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc BHXH

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại BHXH […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993