Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc BHXH hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại bảo hiểm xã hội thành phố Hải Phòng giai đoạn 2021-2025 dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Giới thiệu chung về Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Bảo hiểm xã hội thành phố Hải Phòng
2.1.1. Sự ra đời và phát triển của Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Ngày 26/01/1995, Chính phủ ban hành Nghị định số 12/CP về điều lệ BHXH quy định việc thành lập quỹ BHXH, các chế độ BHXH. Từ đây đánh dấu sự đổi mới về chính sách BHXH ở nước ta nhằm phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội trong quá trình chuyển đổi kinh tế, thể hiện ở các điểm chính sau: Hình thành quỹ BHXH độc lập, tách khỏi NSNN; quỹ BHXH được hình thành trên nguyên tắc cùng đóng góp giữa NLĐ, NSDLĐ và sự hỗ trợ của Nhà nước; mở rộng đối tượng tham gia tới NLĐ thuộc mọi thành phần kinh tế.
Để thực hiện chính sách, chế độ BHXH, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 19/CP ngày 16/02/1995 thành lập BHXH Việt Nam; ngày 26/09/1995, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 606/TTg ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của BHXH Việt Nam.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam được thành lập trên cơ sở thống nhất các tổ chức BHXH ở Trung ương và địa phương do hệ thống LĐTB&XH và TLĐLĐ Việt Nam quản lý để giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, quản lý quỹ BHXH và thực hiện các chế độ, chính sách BHXH theo luật định.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam là cơ quan thuộc Chính Phủ, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ, chịu sự quản lý nhà nước của Bộ LĐTB&XH, các cơ quan nhà nước về lĩnh vực có liên quan và sự giám sát của tổ chức công đoàn.
Ngày 29/06/2015, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chính thức thông qua Luật BHXH và có hiệu lực thi hành loại hình BHXH bắt buộc từ 01/01/2016. Điều này, một lần nữa khẳng định Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng đến vấn đề ASXH, quan tâm chăm lo cho đời sống nhân dân và NLĐ.
2.1.2. Bảo hiểm xã hội thành phố Hải Phòng
2.1.2.1. Vài nét về thành phố Hải Phòng
- Điều kiện tự nhiên Luận văn: Thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc BHXH.
Hải Phòng là một thành phố ven biển, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Tây giáp tỉnh Hải Dương, phía Nam giáp tỉnh Thái Bình, phía Đông giáp Vịnh Bắc Bộ thuộc biển Đông và đảo Hải Nam – cách huyện đảo Bạch Long Vĩ khoảng 70 km. Thành phố cách thủ đô Hà Nội 102 km về phía Đông Đông Bắc.
Hải Phòng có diện tích đất là 1507,57 km²,trong đó diện tích đất liền là 1208,49 km². Tổng diện tích đất sử dụng là 152,2 nghìn ha trong đó đất ở chiếm 8,61%; đất dùng cho nông nghiệp chiếm 33,64%; đất lâm nghiệp chiếm 14,45%; còn lại là đất chuyên dụng.
Thời tiết Hải phòng mang tính chất cận nhiệt đới ẩm đặc trưng của thời tiết miền Bắc Việt Nam: mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều, mùa đông khô và lạnh, có 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông tương đối rõ rệt.
- Đặc điểm kinh tế – xã hội
Với tiềm năng, lợi thế và vai trò là cầu nối quan trọng, thành phố Hải Phòng có điều kiện rất thuận lợi để giao lưu liên kết, hội nhập và hợp tác kinh tế với thế giới bên ngoài, đặc biệt là với các nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương (khu vực có nền kinh tế năng động và có một số trung tâm kinh tế lớn của thế giới); trong hợp tác hai hành lang, một vành đai kinh tế Việt Nam – Trung Quốc, đồng thời là cực tăng trưởng quan trọng trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và vị trí hỗ trợ đắc lực cho Thủ đô Hà Nội.
Được sự lãnh đạo, giúp đỡ của các cơ quan Trung ương cùng với sự nỗ lực, đoàn kết và quyết tâm cao của toàn dân, toàn quân, cộng đồng doanh nghiệp, Đảng bộ và Chính quyền thành phố, tình hình kinh tế – xã hội thành phố đã đạt được những kết quả quan trọng, cụ thể như sau: Năm 2025 Kinh tế thành phố tiếp tục duy trì được sự tăng trưởng. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) ước tăng 7,51%, trong đó: nhóm nông, lâm, thủy sản ước tăng 4,32%; nhóm công nghiệp – xây dựng ước tăng 5,95%; nhóm dịch vụ ước tăng 9,11% so với cùng kỳ. Đây là mức tăng trưởng hợp lý và là kết quả đáng ghi nhận của thành phố trong bối cảnh kinh tế thế giới, cả nước và thành phố gặp rất nhiều khó khăn. Cơ cấu các ngành dịch vụ – công nghiệp, xây dựng – nông, lâm, thủy sản tương ứng 53,63% – 36,03% – 10,34%.
Sản xuất công nghiệp chưa ổn định và gặp nhiều khó khăn do sản phẩm tiêu thụ chậm, hàng tồn kho lớn, một số dự án lớn chưa phát huy được công suất theo kế hoạch đề ra. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 5,15%, một số ngành chiếm tỷ trọng cao trong sản xuất công nghiệp tiếp tục giảm so với cùng kỳ như: sản xuất sắt thép, đóng mới và sửa chữa tàu đã hạn chế sự phát triển chung của toàn ngành.
Sản xuất nông, lâm, thủy sản tiếp tục tăng trưởng đạt kế hoạch, đóng góp quan trọng vào việc duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội trên địa bàn thành phố. Sản xuất nông nghiệp có bước phát triển mới với việc tăng cường cơ giới hóa và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, năng suất lúa bình quân đạt khá cao 62,64 tạ/ha tăng 1,22% so với cùng kỳ; dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm tiếp tục được khống chế. Sản xuất thủy sản phát triển tốt trên cả hai lĩnh vực nuôi trồng và khai thác. Thực hiện có hiệu quả 06 đề án, chương trình, 41 mô hình phát triển sản xuất nông nghiệp, thủy sản. Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng Nông thôn mới được đẩy mạnh, 100% xã hoàn thành phê duyệt đề án xây dựng nông thôn mới.
Khu vực dịch vụ tuy không đạt tốc độ tăng trưởng đề ra nhưng tiếp tục có sự phát triển với tốc độ tăng trưởng cao nhất trong ba nhóm ngành kinh tế. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tăng 13,5% so với cùng kỳ. Tổng kim ngạch xuất khẩu ước tăng 15,17%; tổng kim ngạch nhập khẩu ước tăng 14,6% so với cùng kỳ. Sản lượng hàng hóa thông qua các cảng trên địa bàn ước 51,94 triệu tấn, tăng 0,74% so với cùng kỳ.
Tăng cường quản lý ngân sách, chống thất thu và tiết kiệm chi. Thu ngân sách cả năm 2022 ước đạt 43.243,7 tỷ đồng, tăng 11,9% so với cùng kỳ, bằng 86,4% dự toán Hội đồng nhân dân thành phố giao, trong đó: thu nội địa 8.400 tỷ đồng, tăng 14,6% so với cùng kỳ và bằng 89,6% dự toán Hội đồng nhân dân thành phố giao, thu Hải quan 33.000 tỷ đồng tăng 10,9% và đạt 85% dự toán năm. Tổng chi ngân sách địa phương ước trên 8.124,6 tỷ đồng, tăng 5,8% so với cùng kỳ và bằng 90,8% dự toán Hội đồng nhân dân thành phố giao, trong đó chi đầu tư xây dựng cơ bản tăng 6,3%, chi thường xuyên tăng 6,2% so với cùng kỳ.
Hoạt động đầu tư phát triển tiếp tục được tăng cường. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện đạt 40.076,2 tỷ đồng, tăng 5,66% so cùng kỳ. Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục đạt kết quả nổi bật.
2.1.2.2. Phương hướng phát triển kinh tế – xã hội thành phố Hải Phòng giai đoạn 2020 – 2026 và tầm nhìn đến năm 2030.
- Quan điểm phát triển Luận văn: Thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc BHXH.
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội thành phố Hải Phòng đến năm 2030 phải phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội chung của cả nước; bảo đảm mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với giải quyết tốt các vấn đề xã hội, xoá đói, giảm nghèo và bảo đảm công bằng xã hội;
Huy động mọi nguồn lực của các thành phần kinh tế, phát huy lợi thế về vị trí địa kinh tế, tài nguyên nhiên nhiên và tạo môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế gắn liền với chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách hợp lý; chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, hợp tác chặt chẽ với vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước, tạo thuận lợi cho các tỉnh phía Bắc phát triển kinh tế đối ngoại;
Phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường và bảo vệ các di sản văn hóa, cân bằng sinh thái, bảo đảm phát triển bền vững. Không làm tổn hại và suy thoái cảnh quan thiên nhiên.
Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế – xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh, củng cố hệ thống chính trị và nền hành chính vững mạnh.
Mục tiêu phát triển
- Mục tiêu tổng quát
Xây dựng thành phố Hải Phòng thành đô thị văn minh, hiện đại xứng đáng là một trung tâm đô thị cấp quốc gia, một cửa ngõ chính ra biển; trung tâm công nghiệp, thương mại, du lịch, dịch vụ, thuỷ sản của miền Bắc; có cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; cơ sở hạ tầng phát triển; bảo vệ môi trường; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh; Duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững và hiệu quả hơn thời kỳ trước; nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế; chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, khai thác có hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại;
Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực; phát triển văn hoá, xã hội đồng bộ với tăng trưởng kinh tế; không ngừng nâng cao đời sống nhân dân, từng bước xoá đói, giảm nghèo, tạo thêm nhiều việc làm, giảm và tiến tới xoá bỏ các tệ nạn xã hội;
Gắn phát triển nội thành với ngoại thành, có các bước đi thích hợp nhằm đưa thành phố Hải Phòng trở thành một trong những địa phương đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và cùng với các cực tăng trưởng khác làm đầu tàu thúc đẩy sự phát triển của cả vùng Bắc Bộ; Luận văn: Thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc BHXH.
Phát triển khoa học, công nghệ và có bước đi phù hợp trong việc kết hợp giữa cơ khí hoá, hiện đại hoá với ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ sinh học nhằm cải thiện đáng kể trình độ công nghệ trong nền kinh tế.
- Mục tiêu cụ thể
Phấn đấu đưa tỷ trọng GDP Hải Phòng trong GDP cả nước đạt khoảng 4,5% năm 2019 và 7,3% năm 2020. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân từ 13 – 13,5% giai đoạn 2015 – 2019 và 13,5 – 14% giai đoạn 2020 – 2020, cao hơn mức tăng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ khoảng 1,3 lần; GDP bình quân đầu người (tính theo giá hiện hành) đạt 1.800 – 1.900 USD vào năm 2019 và 4.900 – 5.000 USD vào năm 2020. Phấn đấu có cơ cấu kinh tế hiện đại với các sản phẩm chủ lực có sức cạnh tranh cao cả trong công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp.
- Phấn đấu giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 1,9 – 2,0 tỷ USD vào năm 2019 và khoảng 6 tỷ USD vào năm 2020.
- Hoàn thiện về cơ bản hệ thống kết cấu hạ tầng hiện đại, ngang tầm với các thành phố phát triển trong khu vực.
- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên bình quân 1 – 1,1%/năm giai đoạn 2015 – 2020.
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 60 – 65% vào năm 2019 và 85 – 90% vào năm 2020. Giải quyết việc làm cho 225.000 lao động trong giai đoạn 2015 – 2019 và 500.000 lao động giai đoạn 2020 – 2020.
- Tỷ lệ dân số đô thị đạt 55 – 60% vào năm 2019 và 80 – 85% vào năm 2020.
- Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn khoảng 5% vào năm 2019 (theo chuẩn mới).
- Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị giảm xuống còn dưới 5%, tỷ lệ thời gian sử dụng lao động ở nông thôn đạt 90% năm 2019 và tương ứng là 4% và 95% vào năm 2020.
- Đến năm 2019, phấn đấu 90% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế xã và tới năm 2020, đạt tỷ lệ 100%.
- Phấn đấu đạt 90% chất thải rắn đô thị được thu gom và xử lý hợp vệ sinh vào năm 2019 và 90 – 100% vào năm 2020.
2.1.2.3. Sự ra đời và phát triển của Bảo hiểm xã hội thành phố Hải Phòng
Bảo hiểm xã hội thành phố Hải Phòng được thành lập theo Quyết định số 84/QĐ-BHXH ngày 01/8/1995, BHXH thành phố Hải Phòng có đủ tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, tài khoản riêng, có trụ sở tại 2A-Thất Khê- Hồng Bàng- Hải Phòng.
Ngay sau khi thành lập, BHXH thành phố Hải Phòng đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các sở, ban, ngành, đoàn thể như: Sở Lao động-Thương binh và Xã hội, Liên đoàn lao động thành phố, HĐND, UBND. Cùng với sự ổn định và không ngừng lớn mạnh của BHXH Việt Nam, BHXH Hải Phòng đã nhanh chóng ổn định tổ chức và ngày càng phát triển.
Do bước đầu thành lập khối lượng công việc lớn, nhân lực mỏng, mặt khác số lượng lao động thuộc diện BHXH bắt buộc nhiều, do đó công việc gặp không ít khó khăn.
Song bằng sự quyết tâm, không ngại khó khăn từng bước đi lên tự hoàn thiện mình, thời gian qua BHXH Hải Phòng đã không ngừng phấn đấu đi lên. Với những nỗ lực cố gắng và những thành tích đạt được, BHXH Hải Phòng đã được UBND, HĐND TP Hải Phòng, BHXH Việt Nam ghi nhận và đánh giá cao thông qua những phần thưởng, bằng khen, giấy khen đã đạt được trong những năm qua. Đặc biệt, ngày 18/10/2021 Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký quyết định số 1681/QĐ-CTN về việc tặng thưởng Huân chương Lao động cho 11 tập thể và 28 cá nhân thuộc BHXH Việt Nam đã có thành tích xuất sắc trong công tác từ năm 2016- 2020 góp phần vào sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc. Bảo hiểm xã hội Hải Phòng được Chủ tịch nước tặng Huân chương Lao động Hạng Nhất, Đồng chí Trương Văn Quý giám đốc Bảo hiểm xã hội Hải Phòng vinh dự được Chủ tịch nước tặng Huân chương Lao động Hạng Ba, đó là những minh chứng cho sự trưởng thành, lớn mạnh và là tiền đề, nền móng cho sự phát triển đi lên của BHXH Hải Phòng.
Sau nhiều năm xây dựng và phát triển, BHXH Hải Phòng đã đạt được những thành tựu to lớn, có nhiều tiến bộ cả về phạm vi bảo hiểm và chất lượng bảo hiểm. Đến năm 2025, tổng số đầu mối thu BHXH bắt buộc đã lên tới hơn 6.214 đơn vị với 329.711 lao động. Trong năm 2025 BHXH Hải Phòng được BHXH Việt Nam giao kế hoạch thu 3.975.301 triệu đồng, số thu được của BHXH Hải Phòng là 4.360.659 triệu đồng, đạt 109.69% kế hoạch.
2.1.3. Chức năng, nhiệm vụ của Bảo hiểm xã hội thành phố Hải Phòng Luận văn: Thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc BHXH.
- Chức năng
BHXH thành phố Hải Phòng là cơ quan trực thuộc BHXH Việt Nam đặt tại thành phố, có chức năng giúp Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam tổ chức thực hiện chế độ, chính sách BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, BHTN, BHYT bắt buộc, BHYT tự nguyện; quản lý quỹ BHXH, BHYT trên địa bàn tỉnh theo quy định của BHXH Việt Nam và quy định của pháp luật.
Bảo hiểm xã hội thành phố Hải Phòng chịu sự quản lý trực tiếp, toàn diện của Tổng Giám đốc và chịu sự quản lý hành chính nhà nước trên địa bàn thành phố của UBND thành phố Hải Phòng.
- Nhiệm vụ của cơ quan bảo hiểm xã hội thành phố Hải Phòng:
Xây dựng, trình Tổng Giám đốc kế hoạch ngắn hạn và dài hạn về phát triển BHXH, BHTN, BHYT trên địa bàn và chương trình công tác hàng năm; tổ chức thực hiện kế hoạch, chương trình sau khi được phê duyệt.
Tổ chức thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến các chế độ, chính sách, pháp luật về BHXH, BHYT, BHTN.
Tổ chức thực hiện các nhiệm vụ theo quy định, cụ thể:
- Cấp sổ BHXH, thẻ BHYT cho những người tham gia BHXH, BHYT;
- Khai thác, đăng ký, quản lý các đối tượng tham gia và hưởng BHXH, BHTN, BHYT. Thu các khoản BHXH, BHTN, BHYT của các tổ chức và cá nhân tham gia; từ chối việc đóng các chế độ BHXH, BHTN, BHYT không đúng quy định. Kiểm tra việc ký hợp đồng, việc đóng, trả BHXH, BHTN, BHYT đối với cơ quan, đơn vị, tổ chức sử dụng lao động;
- Ký hợp đồng với các tổ chức làm đại lý thu BHXH, BHYT và đại lý chi các chế độ BHXH, BHTN theo quy định;
- Giải quyết các chế độ BHXH, BHYT; thực hiện tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính về BHXH, BHYT tại BHXH tỉnh; thực hiện cơ chế một cửa liên thông trong giải quyết chế độ BHXH, BHTN, BHYT tại cơ quan BHXH và BHXH quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (gọi chung là BHXH huyện);
- Chi trả các chế độ BHXH, BHTN, BHYT; từ chối chi trả các chế độ BHXH, BHTN, BHYT không đúng quy định;
- Quản lý, sử dụng, hạch toán kế toán các nguồn kinh phí và tài sản theo quy định;
- Ký, tổ chức thực hiện hợp đồng khám chữa bệnh BHYT với các cơ sở khám, chữa bệnh có đủ điều kiện, tiêu chuẩn chuyên môn, kỹ thuật; kiểm tra, đánh giá việc chỉ định điều trị, sử dụng thuốc, hóa chất, vật tư, thiết bị y tế, dịch vụ kỹ thuật y tế cho người bệnh; kiểm tra, xác định chi phí khám, chữa bệnh BHYT, bảo vệ quyền lợi người tham gia BHYT và chống lạm dụng quỹ BHYT; Luận văn: Thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc BHXH.
Tham gia vào quá trình lựa chọn nhà thầu cung cấp thuốc, vật tư y tế của các cơ sở khám, chữa bệnh BHYT trên địa bàn theo quy định.
Tham gia phối hợp với Sở Y tế và đơn vị liên quan, chỉ đạo các cơ sở khám, chữa bệnh BHYT trên địa bàn xây dựng nhu cầu, đồng thời thẩm định và tổng hợp nhu cầu về danh mục, số lượng thuốc; giám sát việc thực hiện kế hoạch thuốc đảm bảo cung ứng đủ thuốc theo Danh mục thuốc đấu thầu tập trung quốc gia đối với thuốc thuộc lĩnh vực BHYT do BHXH Việt Nam thực hiện theo quy định.
- Thực hiện kiểm tra, thanh tra chuyên ngành về BHXH, BHTN, BHYT theo quy định, cụ thể:
Tổ chức kiểm tra, giải quyết các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo về việc thực hiện chế độ, chính sách BHXH, BHTN, BHYT đối với các đơn vị trực thuộc BHXH tỉnh và tổ chức, cá nhân tham gia BHXH, BHTN, BHYT, cơ sở khám, chữa bệnh BHYT theo quy định của pháp luật; kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xử lý những hành vi vi phạm pháp luật;
Xây dựng, phê duyệt và tổ chức thực hiện kế hoạch thanh tra chuyên ngành về đóng BHXH, BHTN, BHYT trên địa bàn tỉnh; gửi kế hoạch thanh tra để báo cáo BHXH Việt Nam, UBND tỉnh, Thanh tra cấp tỉnh. Thanh tra đột xuất khi phát hiện tổ chức, cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật về đóng BHXH, BHTN, BHYT trên địa bàn tỉnh hoặc khi được Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam giao; xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đóng BHXH, BHTN, BHYT theo quy định;
Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý sau thanh tra, kiểm tra đối với tổ chức và cá nhân theo quy định của pháp luật. Tổng hợp, báo cáo kết quả công tác thanh tra chuyên ngành về đóng BHXH, BHTN, BHYT theo quy định.
Tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch cải cách hành chính theo chỉ đạo, hướng dẫn của BHXH Việt Nam. Thực hiện công tác cải cách thủ tục hành chính, công tác pháp chế và công tác kiểm soát thủ tục hành chính. Tổ chức triển khai hệ thống quản lý chất lượng theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2017 trong thực hiện nhiệm vụ.
Quản lý, lưu trữ hồ sơ tài liệu hành chính, nghiệp vụ và hồ sơ đối tượng tham gia, hưởng các chế độ BHXH, BHTN, BHYT.
Tổ chức thực hiện giao dịch điện tử trong lĩnh vực BHXH, BHTN, BHYT theo quy định.
Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn về chuyên môn, nghiệp vụ BHXH, BHTN, BHYT cho công chức, viên chức thuộc BHXH tỉnh.
Chủ trì, phối hợp với các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội ở địa phương, các tổ chức, cá nhân tham gia BHXH, BHTN, BHYT, để giải quyết các vấn đề có liên quan đến việc thực hiện các chế độ BHXH, BHTN, BHYT theo quy định.
Có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích nhà nước trong lĩnh vực BHXH, BHTN, BHYT trên địa bàn. Luận văn: Thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc BHXH.
Đề xuất với BHXH Việt Nam kiến nghị việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách về BHXH, BHTN, BHYT; kiến nghị với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thanh tra, điều tra, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật BHXH, BHTN, BHYT.
Cung cấp đầy đủ và kịp thời thông tin về việc đóng, quyền được hưởng các chế độ, thủ tục thực hiện chính sách BHXH, BHTN, BHYT khi NLĐ, NSDLĐ hoặc tổ chức công đoàn yêu cầu; cung cấp đầy đủ và kịp thời tài liệu, thông tin liên quan theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Định kỳ 6 tháng, phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về lao động ở địa phương cập nhật thông tin về tình hình sử dụng lao động trên địa bàn. Phối hợp cơ quan thuế cập nhật mã số thuế của tổ chức, cá nhân; định kỳ hàng năm, cập nhật thông tin do cơ quan thuế cung cấp về chi phí tiền lương để tính thuế của doanh nghiệp hoặc tổ chức.
Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra toàn diện BHXH huyện trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao.
Quản lý công chức, viên chức, lao động hợp đồng thuộc BHXH tỉnh.
Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng khoa học; ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành BHXH tỉnh. Thực hiện chế độ thông tin, thống kê, báo cáo, thi đua – khen thưởng theo quy định.
Thực hiện các nhiệm vụ khác do Tổng Giám đốc giao.
2.1.4. Cơ cấu tổ chức
Hiện nay BHXH thành phố Hải Phòng có 11 phòng nghiệp vụ và 15 cơ quan BHXH quận, huyện; biên chế có 405 người, trong đó có 370 cán bộ, công chức, viên chức và 35 lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2009/NĐ-CP ngày 17/11/2009; có 343 người (84,5%) trình độ đại học, cao đẳng và 41 người (10,12%) trình độ trung cấp; 70% cán bộ là đảng viên; 55% cán bộ là nữ; 5% cán bộ có trình độ cao cấp lý luận chính trị; 83% có trình độ ngoại ngữ và 92% có trình độ tin học cơ bản. Tổ chức đảng, đoàn thanh niên cơ quan văn phòng BHXH thành phố chịu sự lãnh đạo của Đảng, Đoàn Khối cơ quan Dân Chính Đảng; tổ chức đảng, chi đoàn thanh niên của BHXH huyện chịu sự lãnh đạo của Đảng, Đoàn địa phương nơi đặt trụ sở. Tổ chức Công đoàn hoạt động theo mô hình công đoàn cơ sở, hiện nay cơ quan văn phòng BHXH thành phố có các tổ công đoàn, các huyện, quận có công đoàn bộ phận trực thuộc công đoàn BHXH thành phố.
- Hình 2.1: Vị trí BHXH thành phố Hải Phòng trong hệ thống tổ chức quản lý BHXH
- Hình 2.2: Tổ chức bộ máy BHXH thành phố Hải Phòng
2.2. Thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội thành phố Hải Phòng giai đoạn 2021-2025 Luận văn: Thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc BHXH.
2.2.1. Căn cứ pháp lý về thu bảo hiểm xã hội bắt buộc
Thu BHXH bắt buộc là yếu tố đầu vào của quá trình thực hiện chính sách, chế độ BHXH hình thành nguồn quỹ BHXH, là cơ sở để thực hiện cấp sổ BHXH và giải quyết chế độ chính sách BHXH. Thực hiện các nghiệp vụ về thu chiếm một khối lượng lớn công việc, chi phối đến các hoạt động của toàn ngành BHXH. Số thu và lao động tham gia BHXH bắt buộc như là sự sống còn của sự nghiệp BHXH; vì vậy, quản lý thu BHXH bắt buộc luôn được sự quan tâm thường xuyên, là một trong những nhiệm vụ then chốt của toàn Ngành. Công tác quản lý thu BHXH bắt buộc được ngành BHXH triển khai thực hiện thống nhất trong cả nước kể từ năm 1995.
Đảng và Nhà nước luôn quan tâm và tạo điều kiện để ngành BHXH lớn mạnh, điều đó cũng đồng nghĩa với sự nghiệp an sinh xã hội được ổn định và mở rộng. Ngày 29/6/2015, tại kỳ họp thứ 9 Quốc Hội khóa 11 đã thông qua Luật bảo hiểm xã hội; Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2023/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2023 có hiệu lực từ ngày 01/01/2025.
Ngày 22/12/2015, Chính phủ ban hành nghị định số 152/2015/NĐ-CP hướng dẫn một số điểu của Luật BHXH về BHXH bắt buộc; Thông tư số 03/2016/TT-LĐTBXH ngày 30/01/2016 của Bộ LĐTB&XH hướng dẫn thực hiện Nghị định 152/2018/NĐ-CP.
Quyết định số 1111/QĐ-BHXH ngày 25/10/2020 của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam về việc ban hành Quy định quản lý thu BHXH, BHYT; quản lý sổ BHXH, thẻ BHYT.
Quyết định 1018/QĐ-BHXH sửa đổi một số nội dung tại các quyết định ban hành quy định quản lý thu, chi BHXH, BHYT.
Quyết định số 959/QĐ-BHXH ngày 09/09/2024 quy định về quản lý BHXH, BHYT, BHTN; quản lý sổ BHXH, thẻ BHYT.
Những văn bản nêu trên là căn cứ pháp lý về quản lý thu BHXH bắt buộc để cơ quan BHXH từ trung ương đến địa phương tổ chức triển khai thực hiên thống nhất trong cả nước.
- Các quy định về quản lý thu BHXH bắt buộc được tổ chức thực hiện qua các giai đoạn, được khái quát như sau:
Về đối tượng tham gia: từng bước được mở rộng từ phạm vi hẹp trong khu vực nhà nước đến khu vực ngoài quốc doanh, rồi phát triển đến khu vực ngoài nhà nước trong tất cả các thành phần kinh tế, các tổ chức, cá nhân có thuê mướn, sử dụng và trả công cho NLĐ, với phương châm thực hiện BHXH cho mọi NLĐ.
Về mức đóng: được tăng dần và phân định theo các quỹ dài hạn và quỹ ngắn hạn.
Về phương thức đóng: vẫn quy định theo tháng cùng với thời gian nhận tiền lương, tiền công của NLĐ, trừ một số trường hợp đặc biệt được nhà nước quy định. Luận văn: Thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc BHXH.
Về tiền lương làm căn cứ đóng: từng bước được nâng lên theo mức thu nhập của NLĐ trong giai đoạn đầu sau đó được giới hạn mức “sàn” và mức “trần” nhằm tạo công bằng không có sự phân biệt giữa các khu vực.
Về công tác quản lý: được phát triển theo hướng phân định rõ chức năng, quyền hạn và trách nhiệm của NSDLĐ, đại diện NSDLĐ và cơ quan nhà nước. Chức năng quản lý nhà nước về BHXH nói chung, quản lý thu nộp BHXH nói riêng rõ ràng, minh bạch hơn. Quỹ BHXH được phân chia để quản lý theo các quỹ thành phần.
Kể từ khi BHXH Việt Nam được hình thành hệ thống văn bản pháp quy làm hành lang cho công tác quản lý thu BHXH luôn được điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu quản lý.
Bên cạnh những văn bản pháp lý của BHXH Việt Nam, còn có những văn bản chỉ đạo của UBND thành phố, quy chế phối hợp giữa BHXH thành phố Hải Phòng và các sở ban ngành trên địa bàn, văn bản chỉ đạo của BHXH thành phố tới các cơ quan BHXH quận, huyện để phát huy tối đa khả năng, năng lực của cán bộ công chức và sử dụng nhiều biện pháp thích hợp để thực hiện thắng lợi công tác thu BHXH nói riêng và toàn bộ nhiệm vụ chính trị xã hội nói chung.
2.2.2. Tổ chức quản lý thu
- Hồ sơ đăng ký và quy trình thu BHXH bắt buộc
Đơn vị tham gia lần đầu: Nộp bản sao Quyết định thành lập hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy phép hoạt động; Đồng thời lập Danh sách lao động đóng BHXH bắt buộc, BHYT và BHTN (Mẫu số D02a-TS) kèm theo Tờ khai tham gia BHXH,BHYT, BHTN (Mẫu số TK01-TS) trong đơn vị ký, xác nhận đối với tờ khai của người lao động và gửi kèm theo hồ sơ của người lao động (Hợp đồng lao động, Quyết định tuyển dụng… )
Đơn vị đang tham gia mà điều chỉnh lao động, tiền lương, mức đóng hoặc hồ sơ đóng BHXH bắt buộc, BHYT và BHTN: Hằng tháng lập danh sách lao động điều chỉnh mức đóng BHXH bắt buộc, BHYT và BHTN (Mẫu D02-TS) trên phần mềm giao dịch điện tử để chuyển dữ liệu điều chỉnh đến cơ quan BHXH; Nếu không có thay đổi, điều chỉnh thì không kê khai về lao động, quỹ lương, số phải thu mà thực hiện tương tự tháng trước chuyển sang.
- Đơn vị gửi dữ liệu kê khai điện tử cho cơ quan BHXH trong thời hạn không quá 30 ngày làm việc kể từ ngày giao kết hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc với NLĐ.
- Cơ quan BHXH tiếp nhận, thẩm định, xử lý hồ sơ, thông báo kết quả thẩm định danh sách tham gia BHXH, số tiền phải đóng hàng tháng. Luận văn: Thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc BHXH.
- Đơn vị quản lý đối tượng căn cứ thông báo của cơ quan BHXH tiến hành đóng BHXH theo quy định.
- Đơn vị di chuyển địa bàn khác, thay đổi pháp nhân, chuyển quyền sở hữu hoặc sát nhập, giải thể, phá sản theo quy định của pháp luật thì lập 01 bản danh sách lao động điều chỉnh mức đóng BHXH bắt buộc, BHYT và BHTN (Mẫu D02-TS) kèm theo hồ sơ liên quan đến việc di chuyển hoặc thay đổi của đơn vị và của NLĐ gửi đến cơ quan BHXH; thực hiện đóng đủ BHXH bắt buộc, BHYT, BHTN để xác nhận sổ BHXH cho NLĐ đến thời điểm di chuyển.
- Hằng tháng, căn cứ danh sách lao động, quỹ tiền lương tham gia BHXH, BHYT, BHTN cơ quan, đơn vị tham gia chuyển tiền đóng BHXH, BHYT, BHTN vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH mở tại Ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước cùng cấp.
Hằng tháng, cơ quan BHXH Thông báo kết quả đóng BHXH bắt buộc, BHYT và BHTN (Mẫu C12-TS), đơn vị tiến hành kiểm tra, đối chiếu số liệu đóng BHXH bắt buộc, BHYT, BHTN. Trường hợp có chênh lệch số liệu, đơn vị phải đối chiếu với cơ quan BHXH trước ngày 15 hằng tháng để hai bên cùng xác định số liệu đúng và lập biên bản, nêu rõ nguyên nhân, trách nhiệm và thời điểm điều chỉnh; từ ngày 15 trở đi nếu đơn vị không có ý kiến phản hồi thì số liệu thông báo được coi là số liệu đúng.
- Quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc
Bảo hiểm xã hội thành phố tiến hành điều tra, lập danh sách các đơn vị sử dụng lao động thuộc đối tượng tham gia BHXH trên địa bàn; thông báo, hướng dẫn các đơn vị kịp thời đăng ký tham gia, đóng đủ BHXH cho NLĐ theo quy định của pháp luật. Định kỳ báo cáo UBND, cơ quan quản lý lao động thành phố tình hình chấp hành pháp luật về BHXH của các đơn vị trên địa bàn, đề xuất biện pháp giải quyết đối với các đơn vị chậm đóng kéo dài hoặc đơn vị cố tình trốn đóng, đóng không đủ số người thuộc diện tham gia BHXH theo quy định của pháp luật. Các trường hợp đơn vị vi phạm pháp luật về đóng BHXH như không đăng ký tham gia hoặc đăng ký đóng BHXH không đủ số lao động, không đúng thời hạn theo quy định của pháp luật, cơ quan BHXH lập biên bản, truy thu BHXH cho NLĐ theo quy định.
- Quản lý đơn vị nợ tiền đóng BHXH
Đơn vị tham gia BHXH nợ đến 03 tháng tiền đóng đối với đơn vị đóng hằng tháng, 6 tháng đối với đơn vị đóng hằng quý, 9 tháng đối với đơn vị đóng 6 tháng một lần thì cán bộ chuyên quản thu liên hệ và trực tiếp đến đơn vị để đôn đốc, đối chiếu thu nộp và lập Biên bản đối chiếu thu nộp (mẫu C05-TS). Sau đó tiếp tục gửi văn bản đôn đốc đơn vị, 15 ngày gửi văn bản đôn đốc một lần; đồng thời, gửi cho Phòng khai thác và thu nợ phối hợp thực hiện cho đến khi thu nợ xong.
Trường hợp phát hiện đơn vị không còn tồn tại, không còn hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng không thực hiện các thủ tục báo giảm, giải quyết chế độ BHXH cho NLĐ thì Phòng Thu báo cáo Giám đốc BHXH để báo cáo UBND, cơ quan quản lý Nhà nước về lao động để kiểm tra, lập biên bản xác định thời điểm đơn vị ngừng tham gia BHXH do không còn tồn tại, không tiếp tục hoạt động sản xuất – kinh doanh; căn cứ biên bản kiểm tra, cơ quan BHXH chốt số tiền nợ BHXH đến thời điểm đơn vị ngừng hoạt động và dừng tính lãi chậm đóng, dừng tính số phải thu phát sinh. Nếu sau khi cơ quan BHXH đã báo cáo nhưng UBND, cơ quan quản lý Nhà nước về lao động không phối hợp kiểm tra thì cơ quan BHXH thành lập đoàn và thực hiện kiểm tra, lập biên bản có chứng kiến của đại diện chính quyền địa phương nơi đơn vị đóng trụ sở. Năm 2025, qua phối hợp với Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Công an, Liên đoàn Lao động thành phố và UBND các quận, huyện, BHXH thành phố Hải Phòng đã thực hiện rà soát 208 đơn vị không còn tồn tại với số tiền nợ 14,5 tỷ đồng.
Khởi kiện các đơn vị nợ đọng kéo dài: Đối với đơn vị nợ BHXH, cơ quan BHXH đã thực hiện đối chiếu, lập biên bản đối chiếu thu nộp (C05-TS) đồng thời gửi văn bản đôn đốc thu nộp đến 03 lần nhưng đơn vị vẫn không đóng thì cơ quan BHXH sẽ kết hợp với Liên đoàn lao động thành phố thực hiện khởi kiện đơn vị nợ đọng ra tòa.
- Quản lý mức đóng BHXH Luận văn: Thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc BHXH.
BHXH Thành phố căn cứ hồ sơ của đơn vị và người tham gia để xác định đối tượng, tiền lương, mức đóng, số tiền phải đóng BHXH đối với người tham gia và đơn vị theo phương thức đóng của đơn vị, người tham gia.
Trường hợp số ngày không làm việc và không hưởng tiền lương, trên 14 ngày trong tháng thì tính đóng BHXH đối với đơn vị và NLĐ như sau: NLĐ tăng mới thì tính đóng BHXH từ ngày đầu của tháng tiếp theo tháng chuyển đến làm việc hoặc tháng có hiệu lực của HĐLĐ, quyết định tuyển dụng; NLĐ ngừng việc, nghỉ việc thì tính đóng BHXH đến ngày cuối cùng của tháng trước liền kề tháng ngừng việc, nghỉ việc.
Trường hợp số ngày không làm việc và không hưởng tiền lương, dưới 14 ngày trong tháng thì tính đóng BHXH đối với đơn vị và NLĐ cả tháng đó:
Người lao động làm việc theo HĐLĐ trong Công ty Nhà nước chuyển thành Công ty cổ phần, Công ty TNHH Nhà nước một thành viên, Công ty TNHH Nhà nước từ 46 hai thành viên trở lên đóng BHXH theo tiền lương do Nhà nước quy định Thông tư số 03/2016/TT-BLĐTBXH ngày 30/01/2016 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, trong đó, thời hạn đăng ký thang lương, bảng lương do Nhà nước quy định với cơ quan quản lý Nhà nước về lao động phải theo đúng quy định tại Thông tư số 28/2016/TT-BLĐTBXH ngày 05/12/2016 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội. Căn cứ nghị định 49/2022/NĐ-CP ngày 14/05/2022 người lao động làm việc trong các Công ty cổ phần, Công ty TNHH Nhà nước một thành viên từ ngày 01/01/2025 hưởng mức lương theo mức tiền lương trong hợp đồng lao động do chủ sử dụng lao động quy định.
- Thực hiện công tác quản lý thu cần đảm bảo các tiêu chí đánh giá sau:
Thu đúng, là đúng đối tượng, đúng mức, đúng tiền lương, tiền công và đúng thời gian quy định: mọi NLĐ khi có hợp đồng lao động hoặc giao kết lao động theo quy định, được trả công bằng tiền đều là đối tượng đóng BHXH bắt buộc. Việc xác định đúng đối tượng, đúng tiền lương, tiền công làm căn cứ đóng BHXH của NLĐ là cơ sở quan trọng để đảm bảo thu đúng; việc thu đúng còn phụ thuộc vào tính chất hoạt động của đơn vị sử dụng lao động để xác định đúng đối tượng, mức thu, phương thức thu.
Thu đủ, là thu đủ số người thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc và số tiền phải đóng BHXH của NLĐ, NSDLĐ.
Thu kịp thời, là thu kịp về thời gian khi có phát sinh quan hệ lao động, tiền công, tiền lương mà những quan hệ đó thuộc đối tượng, phạm vi tham gia BHXH. Chế độ BHXH thường xuyên thay đổi để phù hợp với phát triển kinh tế- xã hội từng thời kỳ, ở mỗi thời điểm thay đổi đó cần phải tổ chức thực hiện thu BHXH của NSDLĐ và NLĐ đảm bảo kịp thời, không để tồn đọng tiền thu, không bỏ sót lao động tham gia BHXH. Luận văn: Thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc BHXH.
Tập trung, thống nhất, công bằng, công khai: Cơ chế thu BHXH được quy định thống nhất, nguồn thu BHXH tập trung quản lý, điều tiết ở Trung ương là BHXH Việt Nam. Việc tham gia BHXH của NLĐ, NSDLĐ đảm bảo công khai, thực hiện công bằng ở các thành phần kinh tế. Các đơn vị tham gia BHXH đều phải công khai minh bạch số lao động phải đóng BHXH và số tiền đóng theo đúng quy định, có sự kiểm tra, thanh tra, kiểm soát của Nhà nước và giám sát của các cơ quan chức năng và các tổ chức chính trị-xã hội. Tính công bằng được thể hiện trong việc thu nộp BHXH, không phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, tức là đều có tỷ lệ phần trăm thu BHXH như nhau.
An toàn, hiệu quả: Thực hiện quản lý chặt chẽ tiền thu BHXH theo chế độ quản lý tài chính của Nhà nước và sử dụng nguồn thu đúng mục đích. Nguồn thu BHXH do được tồn tích cộng đồng, nên thường có khối lượng tiền nhàn rỗi tương đối lớn chưa sử dụng cần được đầu tư tăng trưởng, vừa nâng cao hiệu quả sử dụng, vừa an toàn tiền thu BHXH về mặt giá trị do các yếu tố trượt giá. Vì vậy, thông qua cơ chế quản lý nghiêm ngặt về thu BHXH để tránh lạm dụng, thất thoát; đồng thời nghiên cứu các lĩnh vực đầu tư để đảm bảo thu hồi được vốn và có lãi, tức là hiệu quả sử dụng nguồn thu.
2.2.3. Thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc
- Quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc
Quản lý tốt đối tượng tham gia BHXH là căn cứ, tiền đề quan trọng để mở rộng đối tượng tham gia BHXH, thực hiện thu nộp BHXH đúng quy định, để hình thành và phát triển quỹ BHXH, đảm bảo khả năng chi trả các chế độ cho NLĐ và thân nhân. Trong thời gian qua, BHXH thành phố Hải Phòng đã và đang nỗ lực tăng cường rà soát, phối hợp với các sở, ban, ngàng liên quan để quản lý chặt chẽ lao động thuộc điện tham gia BHXH bắt buộc, nhưng chưa được tham gia đóng BHXH. Số đối tượng đóng này thường xuyên được cập nhật và đưa vào chương trình kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật BHXH. Việc phối hợp chặt chẽ các cấp, ngành trong việc tuyên truyền, vận động các đơn vị này đã ngày càng đem lại kết quả tích cực, số đơn vị, số lao động tham gia BHXH từng bước tăng lên, năm sau cao hơn năm trước. Cụ thể ta xem xét số liệu sau:
Bảng 2.1: Tổng hợp đơn vị tham gia BHXH bắt buộc (2021-2025)
Đơnvị: đơn vị
| Năm | Năm | Năm | Năm | Năm | Năm |
| Loại hình quản lý | 2021 | 2022 | 2023 | 2024 | 2025 |
| HCSN, Đảng, Đoàn thể | 592 | 614 | 631 | 658 | 682 |
| Ngoài công lập | 201 | 217 | 305 | 364 | 451 |
| Xã, phường, thị trấn | 214 | 197 | 201 | 187 | 192 |
| DN Nhà nước | 575 | 504 | 473 | 441 | 392 |
| DN có vốn nước ngoài | 894 | 1.029 | 1.142 | 1.361 | 1.493 |
| DN Ngoài quốc doanh | 1.092 | 1.247 | 1424 | 1.679 | 1.995 |
| Hợp tác xã | 257 | 275 | 269 | 254 | 248 |
| Hội NN, hộ SXKD cá thể, tổ hợp tác | 298 | 339 | 373 | 407 | 489 |
| Tổ chức khác và cá nhân | 139 | 157 | 188 | 212 | 272 |
| Tổng | 4.262 | 4.579 | 5.006 | 5.563 | 6.214 |
| Tốc độ tăng trưởng (%) | 107,44 | 109,33 | 111,27 | 111,70 |
Nguồn: BHXH thành phố Hải Phòng Luận văn: Thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc BHXH.
Quản lý đối tượng tham gia BHXH là một trong những vấn đề mấu chốt, là nội dung cơ bản của hoạt động thu. Trong đó mở rộng, phát triển đối tượng tham gia BHXH được đặc biệt quan tâm. Theo kết quả tổng hợp hằng năm của BHXH thành phố Hải Phòng cho thấy năm 2021 mới có 4.262 đơn vị sử dụng lao động và số lao động tham gia BHXH bắt buộc là 263.589 người. Đến năm 2025, số đơn vị tham gia BHXH bắt buộc lên tới 6.214 đơn vị và số lao động tham gia là 329.711 người.
Các doanh nghiệp tăng nhanh kể về số lượng, quy mô và loại hình sản xuất kinh doanh. Cơ cấu doanh nghiệp theo ngành, theo thành phần kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tích cực. Tốc độ tăng bình quân số lượng doanh tham gia BHXH giai đoạn 2021 – 2025 đạt khoảng 45,8%. Tháng 12/2021, cả thành phố có 4.152 đơn vị tham gia BHXH bắt buộc, đến năm 2025 số đơn vị tham gia đóng BHXH bắt buộc tăng lên 6.214 đơn vị (tăng 1.952 đơn vị, tương ứng 45,8%), trong đó có một số khối, loại hình tăng nhiều như:
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 599 đơn vị, tương ứng 67%
- Doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 903 đơn vị, tương ứng 82,7%
- Hội nghề nghiệp, hộ sản xuất kinh doanh cá thể, tổ hợp tác tăng 191 đơn vị, tương ứng 64,09%
Số lượng đơn vị đăng ký tham gia đóng BHXH bắt buộc thuộc khối doanh nghiệp nhà nước giảm dần, số đơn vị năm 2025 còn là 392 đơn vị , giảm 183 đơn vị so với năm 2021, tương ứng giảm 31.83%, đây là kết quả của việc thực hiện chủ trương cổ phần hóa, sắp xếp lại cơ cấu doanh nghiệp, hàng năm số lượng đơn vị doanh nghiệp nhà nước giảm dần, chuyển dịch sang loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Bám sát mục tiêu phát triển đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, BHXH thành phố Hải Phòng đã có nhiều biện pháp để tổ chức thực hiện, chủ động phối hợp với các sở, ban, ngành chức năng kịp thời xử lý các vướng mắc, tạo điều kiện để các đơn vị sử dụng lao động tham gia thực hiện tốt chế độ, chính sách BHXH cho NLĐ. Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền chế độ, chính sách BHXH theo cơ chế mới. Kết hợp chặt chẽ đăng ký tham gia BHXH với việc cấp sổ BHXH và thực hiện các chế độ. BHXH thành phố đã tham mưu cho T hành ủy, UBND tỉnh, thành phố ban hành Chỉ thị về tăng cường lãnh đạo thực hiện các chế độ BHXH, tạo ra bước phát triển vững chắc sự nghiệp BHXH. Từ năm 2021 đến nay đối tượng tham gia BHXH bắt buộc ngày càng tăng, năm sau cao hơn năm trước. Nếu năm 2021 có 263.589 người tham gia, thì đến năm 2025 số người tham gia lên tới 329.711 người, (tăng 25,09% so với năm 2021). Luận văn: Thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc BHXH.
Bảng 2.2: Tổng hợp lao động tham gia BHXH bắt buộc (2021-2025)
Đơn vị: người
| Năm | Năm | Năm | Năm | Năm | Năm |
| Loại hình quản lý | 2021 | 2022 | 2023 | 2024 | 2025 |
| HCSN, Đảng, Đoàn thể | 49.051 | 50.776 | 52.037 | 51.735 | 52.019 |
| Ngoài công lập | 5.317 | 5.229 | 5.832 | 5.971 | 6.271 |
| Xã, phường, thị trấn | 4.254 | 4.161 | 4.238 | 4.457 | 4.517 |
| DN Nhà nước | 61.437 | 58.148 | 55.007 | 52.578 | 48.510 |
| DN có vốn nước ngoài | 65.113 | 72.637 | 80.608 | 90.092 | 111.782 |
| DN Ngoài quốc doanh | 76.928 | 79.900 | 82.246 | 91.261 | 103.425 |
| Hợp tác xã | 880 | 1041 | 991 | 1016 | 1243 |
| Hội NN, hộ SXKD cá thể, tổ hợp tác | 204 | 278 | 373 | 407 | 597 |
| Tổ chức khác và cá nhân | 405 | 655 | 790 | 908 | 1347 |
| Tổng | 263.589 | 272.825 | 282.122 | 298.425 | 329.711 |
| Tốc độ tăng trưởng (%) | 103,50 | 103,41 | 105,79 | 110,48 |
Nguồn: BHXH thành phố Hải Phòng
Biểu đồ 2.1: Biểu đồ phát triển lao động tham gia BHXH bắt buộc
Mặc dù trong những năm qua có sự thay đổi về cơ cấu lao động và phát triển đáng kể doanh nghiệp trong các thành phần kinh tế, song chất lượng, hiệu quả hoạt động còn kém, số lượng doanh nghiệp chưa tương xứng với tiềm năng phát triển kinh tế của địa phương.
Tính đến 31/12/2025, cả thành phố có gần 329.711 người tham gia BHXH bắt buộc; trong đó khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước có chuyển biến mạnh: nếu năm 2021 có 1.092 doanh nghiệp ngoài quốc doanh với 76.928 lao động tham gia BHXH, thì đến tháng 12/2025 có 1.995 doanh nghiệp với 103.425 lao động tham gia BHXH, tăng 82,7% số đơn vị tham gia tương ứng tăng 34,4% lao động so với năm 2021. Năm 2021, mới có 894 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với 65.113 lao động tham gia BHXH, thì đến tháng 12/2025 có 1.493 doanh nghiệp với 111.782 lao động tham gia BHXH, tăng 67% số đơn vị tham gia và 71,67% lao động so với năm 2021. Luận văn: Thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc BHXH.
Qua số liệu ở các biểu trên cho thấy: đối tượng tham gia BHXH ngày càng tăng; cơ cấu các loại hình tham gia BHXH thay đổi, doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng mạnh cả về số đơn vị và lao động, trong khi đó doanh nghiệp nhà nước giảm dần và khu vực hành chính, sự nghiệp, Đảng đoàn thể nhìn chung ổn định, tuy có tăng, nhưng không đáng kể. Nguyên nhân chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả, quy mô sản xuất giảm, nhiều doanh nghiệp phá sản, giải thể, sát nhập hoặc chuyển hình thức sở hữu từ doanh nghiệp nhà nước sang doanh nghiệp cổ phần, công ty TNHH… Đối với lực lượng lao động khu vực hành chính, sự nghiệp không giảm, điều đó cho thấy việc thực hiện cải cách hành chính công còn những hạn chế, chưa phản ánh đúng chủ trương của Đảng, Nhà nước về tinh giảm biên chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước.
Để đánh giá hiệu quả của việc quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc ta còn có thể thông qua các chỉ tiêu về tỉ lệ đơn vị tham gia BHXH bắt buộc
Bảng 2.3: Tình hình đơn vị tham gia BHXH bắt buộc tại Hải Phòng giai đoạn 2021-2025
Qua bảng số liệu trên ta thấy tỉ lệ đơn vị tham gia BHXH bắt buộc có xu hướng tăng qua các năm nhưng bên cạnh đó vẫn có sự chênh lệch lớn, cụ thể số đơn vị tham gia BHXH trên địa bàn năm 2025 chỉ bằng 37,56 % số đơn vị phải tham gia BHXH điều này cho thấy có rất nhiều đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn thành phố vẫn chưa tham gia BHXH theo đúng quy định, một bộ phận không nhỏ người lao động đang chưa được hưởng đầy đủ quyền lợi mà đáng lẽ ra khi tham gia lao động họ phải được hưởng, công tác quản lý phát triển đối tượng tham gia BHXH chưa phát huy được tối đa hiệu quả. Ta có thể thấy được rõ nét sự chênh lệch này qua biểu đồ sau:
Biểu đồ 2.2: Đơn vị sử dụng lao động tham gia BHXH (2021-2025)
Từ phân tích trên có thể cho rằng Chính phủ cần sớm có văn bản chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương tăng cường phối hợp với cơ quan BHXH trong việc điều tra, thống kê, xác định và quản lý các đối tượng tham gia BHXH bắt buộc theo Luật BHXH quy định nhằm tránh thất thu BHXH bắt buộc. Tình trạng trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau:
Về nguyên nhân khách quan: trên thực tế theo khảo sát của Phòng quản lý đầu tư của Sở Kế hoạch đầu tư thành phố Hải Phòng, sau khi doanh nghiệp được cấp giấy phép kinh doanh thì có đến trên 25% số doanh nghiệp thuộc loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ kinh doanh cá thể tự giải thể hoặc không tìm thấy địa chỉ.
Đối với các doanh nghiệp tư nhân, HTX và Công ty TNHH chỉ có 01 người đứng ra thành lập, mục đích chỉ vay vốn để kinh doanh, làm theo mùa vụ, thuê mướn lao động nông nhàn và trả tiền công theo khoán sản phẩm. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mới được cấp phép hoặc vẫn đang trong quá trình xây dựng, chưa tuyển dụng lao động nên chưa tham gia BHXH. Một số doanh nghiệp được phép đăng ký kinh doanh hoạt động nhỏ lẻ, hộ kinh doanh cá thể chỉ làm nghề thủ công, buôn bán nhỏ, quy mô sản xuất nhỏ sử dụng lao động đã nhiều tuổi, lao động trong gia đình nên rất khó khăn trong việc vận động và tổ chức thực hiện cho doanh nghiệp, người lao động tham gia BHXH bắt buộc theo luật định.
Nhận thức của chủ sử dụng lao động về BHXH bắt buộc khu vực kinh tế ngoài quốc doanh còn nhiều hạn chế. Sự phối hợp hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước còn chưa đồng bộ, chặt chẽ. Sức cạnh tranh của các đơn vị ngoài quốc doanh thấp làm cho NLĐ dễ bị mất việc làm, mặt khác loại hình này thu hút nhiều lao động phổ thông chưa qua đào tạo, chưa có tay nghề nên việc làm không ổn định, lại thường xuyên thay đổi nơi làm việc.
Về nguyên nhân chủ quan: Công tác kiểm tra, rà soát các đối tượng tham gia trên địa bàn còn nhiều bất cập, chưa được tiến hành thường xuyên và liên tục. Cơ quan BHXH chưa tranh thủ được sự chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, chưa thực sự phối hợp chặt chẽ và có hiệu quả với các các cơ quan chức năng liên quan.
Quản lý tiền thu BHXH bắt buộc
- Kết quả thu hàng năm theo kế hoạch
Bảng 2.4: Kết quả thu BHXH tại thành phố Hải Phòng giai đoạn 2021 – 2025
Qua bảng thống kê số liệu có thể nhận thấy kết quả thu BHXH tại thành phố Hải Phòng hàng năm đã đạt được kế hoạch thu được giao, số kế hoạch thu hàng năm có sự tăng so với năm trước là do số kế hoạch này đã được tính yếu tố tăng lương, tăng khai thác đơn vị mới phát sinh và phân cấp thu BHXH. Luận văn: Thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc BHXH.
Như vậy, với kết quả thu BHXH đã đạt được, ngành BHXH đã thực sự hình thành được quỹ tập trung, thống nhất, độc lập với NSNN, đảm bảo chủ động cho việc chi trả các chế độ BHXH cho NLĐ góp phần giảm bớt gánh nặng cho NSNN đảm bảo an sinh cho toàn xã hội.
- Tình hình nợ đọng BHXH
Theo quy định hiện hành thì hàng tháng (hàng quý, sáu tháng đối với các đơn vị được đóng BHXH theo quý, sáu tháng), các đơn vị sử dụng lao động có trách nhiệm đóng đầy đủ, kịp thời vào quỹ BHXH ngay sau khi thanh toán tiền lương, tiền công cho NLĐ. Với phương thức đóng như trên đã đảm bảo cho đối tượng tham gia BHXH thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về trích nộp BHXH ngay sau khi thanh toán tiền lương, tiền công cho NLĐ đồng thời giúp cơ quan BHXH quản lý, theo dõi kịp thời là cơ sở để giải quyết các chế độ BHXH cho người lao động khi không may gặp rủi ro.
Trong những năm qua, đa số các đơn vị đã thực hiện tốt việc thực hiện BHXH cho người lao động. Tuy nhiên một số đơn vị chưa chấp hành theo quy định dẫn đến tình trạng nợ đọng BHXH, thậm trí có đơn vị nợ >12 tháng làm ảnh hưởng đến quyền lợi của NLĐ và kế hoạch thu của cơ quan BHXH.
Để chấn chỉnh tình trạng này, bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho NLĐ, những năm qua, các cơ quan quản lý Nhà nước đã áp dụng nhiều biện pháp xử lý như: tăng mức xử phạt vi phạm; tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức của NLĐ, giúp họ tự bảo vệ quyền lợi của chính mình; tổ chức đối thoại giữa doanh nghiệp, địa phương và NLĐ để giải tỏa những vướng mắc trong quá trình tham gia BHXH…
Năm 2025, BHXH Hải Phòng đã phối hợp với Liên đoàn lao động thành phố ký kết quy chế phối hợp trong việc khởi kiện các đơn vị vi phạm pháp luật về BHXH, BHYT, BHTN. Đến ngày 31/12/2025, BHXH thành phố đã phối hợp với Liên đoàn lao động thành phố khởi kiện 29 đơn vị nợ đọng BHXH, BHYT, BHTN ra toà. Qua công tác phối hợp với thanh tra thành phố đã tiến hành thanh, kiểm tra 71 đơn vị sử dụng lao động trong thực hiện pháp luật về lao động, BHXH, BHYT, sau khi công bố quyết định thanh tra, tính đến ngày 31/12/2025, đã có 49/71 đơn vị nộp với số tiền nợ đọng BHXH, BHYT, BHTN là trên 24 tỷ đồng.
- Bảng 2.5: Tình hình nợ đọng BHXH bắt buộc (2021-2025)
- Bảng 2.6: Tình hình nợ đọng BHXH theo loại hình quản lý (2021-2025)
Qua bảng số liệu trên, ta thấy mặc dù BHXH thành phố Hải Phòng đã có biện pháp tích cực đôn đốc, thu hồi nợ nhưng các đơn vị nợ ngày càng tăng, mặc dù tỉ lệ nợ BHXH năm 2025 đã giảm nhưng số tiền nợ vẫn tăng. Số tiền nợ đọng chủ yếu tập trung ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, các doanh nghiệp Nhà nước đặc biệt là tập đoàn Vinashin và Vinaline với số nợ trên 300 tỷ đồng, bên cạnh đó số nợ của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng tăng qua từng năm, số nợ năm 2021 là 15,6 tỷ đồng đến năm 2025 số nợ đã lên tới gần 24 tỷ đồng. Việc nợ đọng BHXH do nguyên nhân sau:
Trước hết là do ý thức của chủ doanh nghiệp trong việc chấp hành Luật BHXH, tiếp đến là do năng lực tài chính yếu kém, tình hình sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp thuộc ngành nhựa, may mặc… khó khăn do sự phụ thuộc vào thị trường nước ngoài. Mặt khác có doanh nghiệp chiếm dụng tiền BHXH để làm vốn quay vòng trong giai đoạn suy thoái kinh tế.
Quy định xử phạt việc chậm nộp, vi phạm chính sách BHXH hiện nay chưa đủ mạnh, chưa đủ sức răn đe, cơ quan BHXH tổ chức thực hiện chính sách BHXH phát hiện vi phạm nhưng không có thẩm quyền xử phạt mà phải do cơ quan quản lý Nhà nước về lao động nên việc xử lý hành vi vi phạm chế độ BHXH không được thực thi kịp thời gây thất thu cho quỹ BHXH.
Hình thức khởi kiện đơn vị chậm nộp BHXH ra toà còn nhiều vướng mắc do chưa có sự hướng dẫn, Toà án nhân dân thị xã chưa có khung pháp lý áp dụng thực thi cụ thể nên chưa hiệu quả.
Thông tin giữa các bộ phận trong cơ quan BHXH, BHXH các cấp, BHXH với cơ quan nhà nước còn chưa kịp thời, thông tin thiếu chính xác nên khi có đơn vị mới phát sinh, chuyển đi, biến động, chậm nộp, nợ đọng kéo dài chưa được phát hiện và xử lý kịp thời. Ngành BHXH chưa có các quy chế phối hợp với cơ quan Thuế, Sở đầu tư khi doanh nghiệp đã phá sản giải thể, bị thu hồi mã số thuế nhưng cơ quan BHXH lại không nắm được thông tin kịp thời.
2.2.4. Đánh giá thực trang quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội thành phố Hải Phòng giai đoạn 2021-2025 Luận văn: Thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc BHXH.
2.2.4.1. Những mặt đã đạt được
Thứ nhất, đã mở rộng đối tượng tham gia BHXH tới mọi thành phần kinh tế để phát triển quỹ BHXH: Số đơn vị, số lao động tham gia BHXH ngày một tăng, BHXH đã được mở rộng tới tất cả những người làm công ăn lương, cán bộ xã ( phường), đến hộ gia đình. Theo số liệu báo cáo nếu như năm 2021 mới có 4.262 đơn vị với 263.589 lao động tham gia BHXH bắt buộc. Đến năm 2025, số đơn vị tham gia BHXH bắt buộc lên tới 6.214 đơn vị và số lao động là 329.711 người, tăng 45,8% số đơn vị và 25,09% số lao động so với năm 2021. Quyền lợi của người lao động đã được quan tâm hơn.
Thứ hai, làm tốt công tác thu và quản lý đối tượng tham gia BHXH: Mặc dù đối tượng tham gia BHXH lớn, nhưng BHXH thành phố Hải Phòng đã quản lý được đơn vị theo các loại hình, các lĩnh vực hoạt động và từng người tham gia BHXH, bước đầu tạo điều kiện thuận lợi cho các đối tượng. Số đơn vị, số lao động, quỹ lương tham gia BHXH hàng năm tăng. Số thu BHXH về quỹ năm sau cao hơn năm trước.
Thứ ba, ứng dụng và khai thác triệt để vai trò của công nghệ thông tin: Cho đến năm 2025, mọi hoạt động của cơ quan BHXH đã được thực hiện thống nhất từ Thành phố xuống quận, huyện bằng các chương trình phần mềm do BHXH Việt Nam cung cấp; cụ thể chương trình quản lý thu, chương trình giải quyết chế độ chính sách, chương trình kế toán… và đang thực hiện nối mạng được toàn toàn quốc, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đã thu được những kết quả tốt, đảm bảo yêu cầu chính xác về nội dung, tính thống nhất, tính liên tục trong quản lý.
Thứ tư, thực hiện cải cách hành chính, chuyển biến phong cách làm việc hành chính sang tác phong phục vụ. Những năm qua, cùng với việc tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn, BHXH thành phố Hải Phòng rất chú trọng đến việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao tinh thần và ý thức phục vụ theo hướng đẩy mạnh cải cách hành chính trên tất cả các mặt hoạt động, tạo điều kiện thuận lợi cho người tham gia và người thụ hưởng chính sách BHXH. Thực hiện Quyết định số 93/QĐ- TTg ngày 22/06/2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế thực hiện ‘‘một cửa liên thông’’, tại các cơ quan hành chính Nhà nước, BHXH thành phố Hải Phòng đã tổ chức bộ phận một cửa từ tháng 06/2021. Đơn vị chỉ đến cơ quan BHXH một lần nộp hồ sơ và một lần nhận kết quả, công việc còn lại do các bộ phận nghiệp vụ của BHXH thành phố phối hợp với nhau để giải quyết, điều này đã giảm bớt phiền hà, tạo điều kiện thuận lợi cho đối tượng tham gia và thụ hưởng.
Trong năm 2024, BHXH thành phố Hải Phòng triển khai thực hiện khê khai giao dịch điện tử trên toàn hệ thống, việc này giúp giảm sai sót khi kê khai; giảm thời gian đi lại, giao dịch, chờ đợi của doanh nghiệp đặc biệt doanh nghiệp có thể xem được kết quả giao dịch điện tử ngay trên phần mềm giao dịch BHXH điện tử – iBHXH. Hải Phòng triển khai thu nộp BHXH, BHYT, BHTN bằng hình thức giao dịch điện tử từ ngày 01/01/2024 theo chỉ đạo của Chính phủ và đến hết năm 2024 kết quả triển khai đạt 95.4% số đơn vị thực hiện giao dịch điện tử. Ứng dụng giao dịch điện tử giúp cắt giảm 1/3 số lần và 50% số giờ thực hiện thu, nộp BHXH, BHYT so với trước kia, tạo điều kiện cho các đơn vị, doanh nghiệp tiết kiệm chi phí nâng cao năng lực cạnh tranh.
Thứ năm, có sự quản lý, điều hành, chỉ đạo tập trung, thống nhất, có hiệu quả trong toàn ngành. Đứng trước những biến động về chính trị, kinh tế, xã hội, hệ thống BHXH Thành phố, đã nhanh chóng ổn định tổ chức, xây dựng được cơ chế hoạt động phù hợp với chính sách BHXH trong thời kỳ mới. Quản lý thống nhất có hiệu quả mọi hoạt động từ thành phố xuống quận, huyện. Bám sát thực tiễn yêu cầu, nhiệm vụ chuyên môn, khắc phục tình trạng mâu thuẫn, không rõ chức năng nhiệm vụ. Thực hiện thống nhất nghiêm túc những văn bản của Chính phủ, BHXH Việt Nam trong thực hiện công tác thu BHXH, tạo được mối liên hệ 3 bên: cơ quan BHXH, đơn vị sử dụng lao động và NLĐ. Số thu lớn nhưng đã quản lý đến từng NLĐ, quản lý nguồn thu chặt chẽ, hệ thống sổ sách đầy đủ, rõ ràng việc chuyển tiền thu về BHXH Việt Nam kịp thời đúng quy định, không có tiêu cực trong những năm qua. Luận văn: Thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc BHXH.
2.2.4.2. Những tồn tại và nguyên nhân
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, hoạt động thu BHXH tại thành phố Hải Phòng vẫn còn nhiều hạn chế. Đó là:
Thứ nhất, đối tượng tham gia BHXH bắt buộc tuy đã được mở rộng nhưng số lao động tham gia chưa nhiều : BHXH thành phố còn thụ động, lúng túng, chưa có giải pháp tích cực, hữu hiệu trong triển khai thực hiện, nhất là việc khai thác mở rộng đối tượng tham gia BHXH và đôn đốc thu nộp tiền nợ đọng BHXH
Các ngành có liên quan, các cơ quan chức năng thiếu sự hỗ trợ cơ quan BHXH thực hiện nhiệm vụ, các thông tin, số liệu thống kê của các cơ quan chức năng quản lý doanh nghiệp kinh tế tư nhân (Thống kê, Kế hoạch – đầu tư, Thuế, Lao động TB&XH, Liên đoàn lao động…) cập nhật chưa đầy đủ, thiếu sự thống nhất.
Thứ hai, nhiều đơn vị sử dụng lao động trốn không tham gia BHXH cho NLĐ, kê khai quỹ lương thấp, nợ đọng BHXH: Đây là những vấn đề nổi cộm, hiện nay chưa có giải pháp tích cực để chống tình trạng chiếm dụng, nợ đọng tiền BHXH. Tồn tại trên là do nhận thức của NSDLĐ, NLĐ chưa đầy đủ về quyền lợi và trách nhiệm trong việc thực hiện chính sách BHXH, ý thức chấp hành pháp luật chưa nghiêm, thiếu tính tự giác, tìm mọi hình thức trốn không tham gia BHXH để giảm chi phí kinh doanh. Các dạng sai phạm chủ yếu như sau:
- Tuyển dụng lao động tuỳ tiện, không thực hiện ký kết hợp đồng lao động hoặc ký kết hợp đồng lao động không rõ ràng, ảnh hưởng tới quyền lợi hợp pháp của NLĐ.
- Không khai báo việc sử dụng lao động, không tham gia BHXH cho NLĐ hoặc tham gia với số lượng ít.
- Kê khai mức đóng BHXH không đầy đủ, thấp hơn mức lương thực tế trả cho
- Kéo dài thời gian thử việc quá quy định, NLĐ được tham gia BHXH thường chậm hơn so với quy định.
Hiện nay nợ BHXH diễn biến rất phức tạp với nhiều hình thức như: trốn đóng, đóng chậm, nợ thời gian dài (chây ỳ) với số tiền lớn; đơn vị nợ BHXH nhưng mất khả năng thanh toán; những đơn vị đang trong giai đoạn chờ bản án kết luận của cơ quan pháp luật nhưng chưa thực hiện nghĩa vụ chuyển tiền đóng BHXH, các đơn vị nhưung vẫn chưa thu hồi được nợ…. Ðặc biệt, có đơn vị nợ chưa thực hiện thủ tục giải thể phá sản theo quy định của pháp luật nhưng đã bán toàn bộ tài sản của đơn vị để trả nợ vay Ngân hàng hoặc đơn vị nợ đang tranh chấp, mua bán tài sản phức tạp khác… dẫn đến cơ quan BHXH khó thu hồi được nợ BHXH và làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi NLĐ khi nghỉ việc, bị ốm đau, nhiều NLĐ đến tuổi nghỉ hưu nhưng chưa được hưởng chế độ BHXH do đơn vị còn nợ tiền đóng BHXH. Mặc dù BHXH Việt Nam và BHXH các tỉnh, thành phố đã tích cực triển khai, thực hiện nhiều biện pháp để tăng cường công tác thu, giảm nợ đọng BHXH nhưng nhiều doanh nghiệp chậm nộp, trốn đóng BHXH trong khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh vẫn diễn ra phổ biến và có chiều hướng gia tăng. Trong đó, nổi cộm là số tiền nợ trên 6 tháng được coi số tiền nợ khó thu của các đơn vị thực sự gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh, nợ BHXH trong thời gian dài hoặc các đơn vị cố tình chiếm dụng tiền đóng BHXH để bổ sung vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Cá biệt, không ít trường hợp NSDLĐ trích tiền lương của NLĐ để đóng BHXH nhưng không nộp hoặc khi các cơ quan thanh tra, xử lý thì DN mới chịu nộp cho cơ quan BHXH. Luận văn: Thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc BHXH.
Tính đến tháng 12 năm 2025 Hải Phòng có 2.665 đơn vị doanh nghiệp nợ tiền với tổng số gần 564 tỷ đồng. Trong số 2.665 đơn vị nợ đọng tiền BHXH phần lớn là doanh nghiệp ngoài quốc doanh, còn lại là đơn vị doanh nghiệp nhà nước, thuộc khối liên doanh, xuất khẩu lao động, hợp tác xã, ngoài công lập… Trừ các doanh nghiệp thuộc Vinashin, Vinaline, và doanh nghiệp phá sản, giải thể, ngừng đóng với số nợ hơn 300 tỷ đồng thì còn có điển hình 67 doanh nghiệp nợ tiền BHXH kéo dài hơn 12 tháng. Trong đó, Công ty cổ phần Lisemco nợ lớn nhất là 28 tỷ đồng; Công ty thép Vạn lợi: 27 tháng với số tiền là 18,9 tỷ đồng ; Công ty cổ phần Lilama 69-222 tháng với số tiền là 17,2 tỷ đồng. Theo Phòng thu BHXH Hải Phòng cho biết: đến hết tháng 12-2025, trên địa bàn thành phố còn hơn một nghìn doanh nghiệp nợ đọng tiền BHXH từ 3 tháng trở lên, nhiều doanh nghiệp khó có khả năng thanh toán tiền BHXH do tình hình sản xuất kinh doanh ngừng trệ hoặc đã giải thể vì làm ăn thua lỗ. Một số đơn vị nợ kéo dài như Công ty cổ phần cầu đường 10 (trụ sở ở huyện An Dương) nợ 48 tháng tiền BHXH với tổng số gần 4,9 tỷ đồng; Công ty cổ phần Đầu tư xây dựng đường thủy (trụ sở đóng ở quận Hồng Bàng), nợ 41 tháng tiền BHXH với tổng số gần 7,2 tỷ đồng; Công ty cổ phần gỗ PLACO (trụ sở ở quận Dương Kinh) nợ 42 tháng tiền BHXH với tổng số gần 6,9 tỷ đồng; Nhà máy xe máy Đại Tây Dương (trụ sở ở huyện An Dương) nợ 48 tháng tiền BHXH với tổng số gần 2,3 tỷ đồng…
Thứ ba, chưa có biện pháp xử lý các vi phạm chế độ BHXH một cách nghiêm khắc: Chưa có các giải pháp tích cực để chống tình trạng chiếm dụng, nợ đọng tiền đóng BHXH. Tình trạng nợ gối đầu, hiện tượng gian dối, khai man, trốn tránh diễn ra khá phổ biến và có xu hướng tăng lên. Có đơn vị nợ phải treo nhiều năm, một số doanh nghiệp còn chây ỳ. Đặc biệt các đơn vị ngoài quốc doanh, các đơn vị thuộc ngành xây dựng, cầu đường… có số nợ lên đến nhiều tỷ đồng. Mặc dù BHXH thành phố đã tăng cường kiểm tra phát hiện vi phạm và đôn đốc thực hiện nhưng hiện tại còn thiếu chế tài và quyền hạn để xử lý, nên chưa hạn chế được các vi phạm, điều này đã có những ảnh hưởng nhất định tới quyền lợi của người lao động.
Thứ tư, sự kết hợp giữa BHXH thành phố với các ngành còn thiếu đồng bộ. Chưa tổ chức điều tra toàn diện về đơn vị tham gia BHXH khu vực ngoài quốc doanh, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể… Cho đến nay số đơn vị, lao động phải tham gia BHXH thuộc các khu vực này trên địa bàn BHXH thành phố cũng như các cơ quan chức năng chưa nắm được cụ thể. Có những doanh nghiệp đăng ký kinh doanh nhưng không có trụ sở giao dịch hoặc thành lập xong sau một thời gian ngắn rồi giải thể, không đăng ký sử dụng lao động, không hoạt động theo nội dung đã đăng ký, hoặc thay đổi phạm vi kinh doanh nhưng cũng không được quản lý.
Cấp ủy, chính quyền một số xã, phường chưa thực sự quan tâm đến việc thực hiện chính sách BHXH đối với NLĐ khu vực ngoài quốc doanh. Sự lãnh đạo, chỉ đạo còn coi nhẹ, đôi khi chỉ chú trọng đến khâu giải quyết việc làm, còn quyền lợi về BHXH của NLĐ thì quên lãng.
Nguyên nhân của những hạn chế :
- Thứ nhất, công tác quản lý Nhà nước về BHXH còn yếu kém.
Hiện tại, nội dung của Luật BHXH còn chưa được thực hiện tốt. Điều đó ngoài trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị quản lý sử dụng lao động, cơ quan thực hiện sự nghiệp BHXH, còn là sự yếu kém và bất cập của các đơn vị có chức năng quản lý Nhà nước về lao động trên địa bàn.
Cơ quan có chức năng quản lý Nhà nước về BHXH trên địa bàn là phòng lao động thương binh và xã hội còn lúng túng trong việc xử lý vi phạm cũng như xây dựng các chế tài buộc các đơn vị sử dụng lao động tuân thủ pháp luật lao động. Sự phối hợp hoạt động của một số cơ quan quản lý Nhà nước như Liên đoàn lao động,
Thanh tra lao động với cơ quan BHXH để kiểm tra, giám sát doanh nghiệp còn hạn chế, chưa thường xuyên, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý trong hiện nay. Luận văn: Thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc BHXH.
Các văn bản pháp luật về BHXH chưa đầy đủ và hoàn chỉnh, hệ thống các văn bản tản mạn, chưa phù hợp với thực tế do vậy trong quá trình thực hiện còn chậm được triển khai và thiếu đồng bộ.
Quản lý Nhà nước về đăng ký hoạt động kinh doanh và việc sử dụng lao động của các đơn vị sử dụng lao động còn thiếu chặt chẽ. Còn nhiều doanh nghiệp sau khi đăng ký hoạt động kinh doanh đã không đăng ký lao động với cơ quan lao động địa phương cũng không bị xử lý.
- Thứ hai, nhận thức về BHXH của mọi người dân nói chung và NLĐ, NSDLĐ nói riêng còn bị hạn chế.
Nhiều người dân còn chưa biết đến ý nghĩa cao đẹp của BHXH, chưa hiểu rõ bản chất, tính ưu việt của BHXH, nhiều người còn nhầm lẫn giữa BHXH với Bảo hiểm thương mại, làm một số lượng lớn NLĐ, NSDLĐ thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc nhưng không tự giác tham gia BHXH gây thiệt hại không nhỏ cho việc tạo lập quỹ BHXH và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của NLĐ. Hầu hết NLĐ, NSDLĐ chưa hiểu rõ tầm quan trọng, quyền lợi, trách nhiệm của mình là phải tham gia BHXH để đóng góp vào quỹ BHXH, nguồn lực tài chính quan trọng, vừa đảm bảo quyền lợi cho NLĐ hưởng các chế độ BHXH, vừa góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Nhiều doanh nghiệp chưa quan tâm đúng mức đến các quan hệ lao động, trong đó có BHXH hoặc có doanh nghiệp hiểu nghĩa vụ, trách nhiệm tham gia BHXH cho NLĐ, nhưng do nhiều khó khăn, họ không có khả năng tham gia hoặc tham gia BHXH không đầy đủ. Chẳng hạn, việc điều chỉnh mức lương tối thiểu cho NLĐ khiến mức lương đóng BHXH tăng lên khá nhiều, doanh nghiệp không xoay xở kịp. Phần lớn doanh nghiệp chưa thích ứng kịp cơ chế thị trường, tính cạnh tranh các mặt hàng kém (giá thành cao, tiêu thụ sản phẩm chậm), làm ăn kém hiệu quả, thu nhập của NLĐ thấp, doanh nghiệp không có khả năng thực hiện nghĩa vụ BHXH.
Số doanh nghiệp còn lại, dù đã nắm vững luật nhưng vẫn cố tình vi phạm nhằm giảm chi phí cho công đoạn sản xuất, kinh doanh hoặc chiếm dụng vốn
- Thứ ba, công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện BHXH còn chưa được thực hiện thường xuyên, chế tài xử phạt chưa đủ mạnh.
Theo Luật BHXH, quy định chế tài xử phạt đã được thực hiện bằng cách tính lãi chậm nộp hàng tháng, nếu đơn vị chậm nộp hoặc không nộp BHXH. Song mức phạt này chưa đủ mạnh, một số đơn vị thậm chí còn chấp nhận nộp tiền phạt để chậm nộp BHXH và sử dụng khoản tiền đó vào mục đích kinh doanh, đặc biệt là các đơn vị cố tình vi phạm Luật lao động, không thực hiện trách nhiệm đóng BHXH cho người lao động. Chức năng kiểm tra, xử lý của cơ quan BHXH đối với những vi phạm chính sách BHXH của người sử dụng lao động còn bị hạn chế, chế tài xử phạt, tính pháp lý chưa cao. Không có các thông tin đầu vào về việc sử dụng lao động của các đơn vị. Vì vậy, rất khó khăn trong việc kiểm tra thu đúng, thu đủ cũng như thực hiện quyền lợi về BHXH cho NLĐ. Luận văn: Thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc BHXH.
- Thứ tư, tính hấp dẫn của chính sách BHXH chưa cao, hiệu quả công tác thông tin tuyên truyền thấp.
Chính sách BHXH hiện nay về cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu của NLĐ ở khu vực kinh tế Nhà nước, những người làm việc theo hợp đồng dài hạn trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Tuy nhiên, đối với số lao động không ổn định, lao động tạm thời, BHXH chưa thực sự hấp dẫn họ. Nguyên nhân chủ yếu do công tác thông tin tuyên truyền còn bị hạn chế, chưa thực sự được coi trọng, mang nặng tính hình thức, hành chính, chưa sát với cơ sở, với NLĐ ng, chưa tạo được động lực thúc đẩy NLĐ, NSDLĐ tham gia BHXH. Thực trạng này ảnh hưởng rất lớn tới thực hiện chính sách BHXH cho NLĐ và công tác quản lý nói chung. Chính sách BHXH mới chỉ dừng ở việc tham gia đối với lao động hợp đồng. Đối với lao động nông thôn, lao động tự tạo việc làm mới bắt đầu có chế độ BHXH tự nguyện từ năm 2017. Do vậy, cần đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền để mọi người dân đều hiểu về chế độ BHXH tự nguyện.
- Thứ năm, các đơn vị sản xuất kinh doanh làm ăn kém hiệu quả.
Thực trạng này xảy ra phổ biến ở khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, nhìn chung những đơn vị này có quy mô nhỏ, trình độ quản lý của NSDLĐ còn yếu, không ổn định, nhiều doanh nghiệp đã đăng ký thành lập nhưng không có trụ sở giao dịch; hoặc thành lập xong không hoạt động hay hoạt động thời gian ngắn rồi giải thể, hoặc có đơn vị đăng ký kinh doanh nhưng không có lao động nên không có cơ sở để cơ quan BHXH thực hiện thu BHXH. Mức lương đơn vị ký với NLĐ còn tuỳ tiện. Đặc biệt có một số trường hợp đơn vị đã nộp hoặc đã đối chiếu theo dõi công nợ tiền BHXH nay giải thể, phá sản, dừng hoạt động không còn chủ sở hữu hoặc chưa có biện pháp để giải quyết số nợ này, phải treo nhiều năm. Tình trạng trốn tránh, nợ đọng tiền BHXH ở các doanh nghiệp vẫn diễn ra phổ biến.
- Thứ sáu, BHXH thành phố chưa có một kế hoạch, chiến lược cụ thể để phát triển đối tượng tham gia BHXH.
Bảo hiểm xã hội thành phố chưa tổ chức điều tra toàn diện số đơn vị, lao động tham gia BHXH khu vực ngoài quốc doanh, ngoài công lập, hợp tác xã trên địa bàn. Công tác phối hợp với cơ quan cấp giấy phép đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế còn thiếu chặt chẽ. Do đó, số đơn vị khu vực này cho đến nay vẫn chưa nắm được cụ thể, dẫn tới hạn chế rất lớn trong việc xây dựng kế hoạch và chiến lược phát triển đối tượng tham gia BHXH trên địa bàn. Đặc biệt là chiến lược phát triển đơn vị, lao động khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, ngoài công lập, hợp tác xã đây là lực lượng chiến lược lâu dài, quan trọng trong đảm bảo cân đối phát triển quỹ BHXH. Tính chủ động và độ chính xác của số liệu phục vụ cho công tác quản lý chưa cao.
TIỂU KẾT CHƯƠNG II
Công tác quản lý thu BHXH luôn được coi là nhiệm vụ trọng tâm và là nhân tố có tính chất quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngành BHXH ở bất kỳ quốc gia nào.Việc phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý thu BHXH qua các thời kỳ cho thấy một bức tranh toàn cảnh về thực trạng công tác quản lý thu BHXH của thành phố Hải Phòng.
Ở chương này, luận văn tập trung phân tích đánh giá về công tác quản lý thu BHXH của BHXH thành phố Hải Phòng, về đối tượng tham gia BHXH, tiền lương làm căn cứ đóng BHXH, phương thức đóng, mức đóng BHXH, phân cấp và công tác thu, nộp BHXH để thấy được những điểm bất hợp lý trong chính sách về BHXH của Nhà nước và những điểm chưa phù hợp của cơ quan thực hiện công tác quản lý thu BHXH hiện hành. Đặc biệt là thông qua việc phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý thu BHXH hiện tại của BHXH thành phố Hải Phòng đã tìm ra được những nguyên nhân để khắc phục, làm cơ sở cho việc đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thu BHXH sau này. Luận văn: Thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc BHXH.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc BHXH

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
