Luận văn: Chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường tại quận

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường tại quận hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cán bộ, công chức phường trên địa bàn quận Hải An, thành phố Hải Phòng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Nguồn nhân lực là một yếu tố rất quan trọng của bất kỳ một tổ chức nào, nó quyết định đến sự tồn tại và phát triển của tổ chức đó. Bởi lẽ đó mỗi tổ chức luôn tìm mọi biện pháp, giải pháp nhằm mục tiêu để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Nguồn nhân lực hành chính nhà nước là yếu tố quan trọng và mang tính quyết định của nền hành chính nhà nước, trước hết là đội ngũ cán bộ, công chức – là sản phẩm, cũng đồng thời là chủ thể của nền hành chính nhà nước. Đối với nước ta đang thực hiện đường lối đổi mới trong điều kiện toàn cầu hóa, mở cửa ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh, đòi hỏi phải có nguồn nhân lực hành chính đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới.

Chính quyền phường là nơi thực hiện các chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước. Trong quá trình hoạt động công vụ mang tính quyền lực nhà nước, cán bộ, công chức (CBCC) nhà nước cấp cơ sở đóng một vai trò hết sức quan trọng, là những người gần dân, đi sâu, đi sát, lắng nghe các ý kiến và giải quyết trực tiếp các công việc tác động đến mọi mặt đời sống kinh tế, xã hội, đến nghĩa vụ và quyền lợi của nhân dân, đồng thời truyền tải các chủ trương chính sách pháp luật của Đảng và nhà nước đến từng người dân. Các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước có đến được với nhân dân và nhân dân có thực hiện đúng hay không, đó phải cần đến đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở có năng lực trình độ, có tâm để truyền tải. Trong thời đại ngày nay nâng cao nguồn nhân lực của đội ngũ này là cần thiết, nếu đội ngũ này không chịu thay đổi để phát triển hội tụ đủ năng lực, trình độ giải quyết các công việc cho nhân dân thấu tình đạt lý, nhưng vẫn trên cơ sở chủ trương, chính sách, pháp luật của nhà nước thì tự đội ngũ này sẽ làm tụt hậu và phá vỡ nền hành chính nhà nước.

Trong thời gian qua, chính quyền cơ sở (cấp phường) đã góp phần đảm bảo cho phát triển bền vững của đất nước, do đó công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ mọi mặt cho CBCC cấp phường đã được chú trọng. Khi nền kinh tế nước ta đang chuyển sang quản lý theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế, vấn đề đặt ra là, xây dựng nguồn nhân lực CBCC phường như thế nào cho phù hợp và đáp ứng tốt nhất yêu cầu của thời kỳ mới.

Với quận Hải An là quận mới được thành lập từ năm 2011, từ lúc thành lập quận có nhiều đất nông nghiệp và đất hoang hóa, công nghiệp nhỏ lẻ, kinh tế dịch vụ chưa phát triển, khó khăn và thách thức nhiều, lợi thế ít, quận Hải An đã từng bước bám sát sự chỉ đạo của Đảng, nhà nước cấp trên, vượt qua mọi khó khăn, dựa vào lợi thế của mình bắt tay vào việc xây dựng và phát triển kinh tế- xã hội, quốc phòng an ninh. Để xây dựng quận phát triển mạnh mẽ về kinh tế xã hội, đòi hỏi phải quan tâm đến nguồn nhân lực của tổ chức bộ máy chính quyền, đặc biệt là đội ngũ CBCC phường.

Xác định mọi mục tiêu, chương trình, kế hoạch đặt ra có được thực hiện hay không, đều phải phụ thuộc vào yếu tố con người hay nói cách khác mọi công việc có giải quyết được hay không đều phụ thuộc vào năng lực, trình độ nguồn nhân lực CBCC của quận, trong đó có CBCC cơ sở (cấp phường). Hơn nữa trong thời đại ngày nay để hội nhập nền kinh tế theo kịp các nước trên thế giới thì việc phát triển nguồn nhân lực CBCC phải có đủ năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự vận động, phát triển không ngừng của xã hội, như Bác Hồ của chúng ta đã khẳng định “cán bộ là gốc của mọi công việc”, “Công việc thành công hay thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém”. Vì mới được thành lập nên nguồn nhân lực CBCC phường thuộc quận Hải An còn non trẻ, chưa có bề dày kinh nghiệm, chất lượng CBCC chưa đáp ứng yêu cầu công việc, chế độ đào tạo, phát triển và sử dụng CBCC chưa thu hút được những người có trình độ cao về công tác, yêu cầu đặt ra phải xây dựng đội ngũ CBCC này ngày càng phát triển về năng lực, trình độ, phẩm chất đạo đức, có các chính sách hợp lý để thu hút nhân tài là nhiệm vụ quan trọng của chính quyền địa phương. [35], [36] Luận văn: Chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường tại quận.

Xuất phát từ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn, nhận thức được tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC, tác giả lựa chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cán bộ, công chức phường trên địa bàn quận Hải An, thành phố Hải Phòng làm đề tài nghiên cứu.

2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực CBCC phường trên địa bàn quận Hải An, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường trên địa bàn quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Nghiên cứu những vấn đề lý luận về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cán bộ, công chức phường.
  • Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng tình hình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cán bộ, công chức phường trên địa bàn quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
  • Đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cán bộ, công chức phường trên địa bàn quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là cán bộ, công chức cấp phường (gọi chung là công chức phường) gồm:

Cán bộ giữ các chức vụ: Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân; Chủ tịch Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam phường; Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ phường; Chủ tịch Hội Nông dân phường; Chủ tịch Hội Cựu chiến binh phường.

Công chức phường: Văn phòng – Thống kê, Địa chính – Xây dựng – Đô thị và Môi trường; Tài chính – Kế toán, Tư pháp – Hộ tịch, Văn hóa – Xã hội, Chỉ huy trưởng quân sự.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

  • Phạm vi không gian: Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại các phường của quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
  • Về thời gian: Đề tài nghiên cứu phân tích thực trạng nguồn nhân lực cấp phường đoạn 2021-2025. Đề xuất giải pháp phát triển đến năm 2030.
  • Về nội dung của đề tài:

Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một số nội dung phát triển nguồn nhân lực hành chính (tổ chức bộ máy cán bộ, công chức chính quyền) cấp phường.

4. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường tại quận.

4.1. Phương pháp luận

Đề tài áp dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam để tiếp cận và phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường.

4.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Phương pháp điều tra thống kê: Để đánh giá thực trạng vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường trên địa bàn quận Hải An, tác giả tiến hành sử dụng phương pháp điều tra thông kê.

Mục đích: Nhằm đánh giá hiệu quả và mức độ hợp lý, thống kê thu thập số liệu tại 8 phường (Phường Tràng Cát, Nam Hải, Đằng Hải, Đằng Lâm, Đông Hải 1, Đông Hải 2, Cát Bi, Thành Tô) về các tiêu chí đánh giá chất lượng cán bộ, công chức: giới tính, cơ cấu tuổi, như trình độ văn hóa, kỹ năng… để mô tả thực trạng công việc và đánh giá hiệu quả công việc của cán bộ, công chức phường.

Phương pháp điều tra xã hội học: Đề tài sử dụng thu thập thông tin bằng bảng hỏi, phương pháp phỏng vấn ngẫu nhiên, lập phiếu điều tra.

Số địa điểm tiến hành điều tra 8 phường trên địa bàn quận Hải An.

Tổng số phiếu phát ra 100 phiếu, trong đó cán bộ, công chức 50 phiếu, công dân và tổ chức tới làm việc tại các phường 50 phiếu (các mẫu phiếu điều tra được đính kèm tại phụ lục 1, 2, 3, 4, 5).

  • Tổng số phiếu thu về 100 phiếu. Luận văn: Chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường tại quận.
  • Cách thức phát phiếu: Phát trực tiếp cho các đối tượng cần hỏi.

Phương pháp phỏng vấn: Trong phạm vi đề tài, tác giả tập trung phỏng vấn trực tiếp Trưởng phòng nội vụ, chuyên viên Phòng Nội vụ phụ trách CBCC, Cán bộ, công chức và một số người dân các phường để làm rõ thực trạng chất lượng CBCC phường, tìm ra nguyên nhân của thực trạng, để từ đó đề ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng CBCC phường.

Đối tượng phỏng vấn: Trưởng phòng nội vụ, chuyên viên phòng Nội vụ phụ trách CBCC, Cán bộ, công chức và một số người dân các phường trên địa bàn quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

  • Thời gian phỏng vấn: Tháng 9 năm 2025
  • Cách thức phỏng vấn: Phỏng vấn trực tiếp

Phỏng vấn các tiêu chí về đánh giá chất lượng cán bộ, công chức như: Kết quả thực thi công việc, kỹ năng, thái độ phục vụ của cán bộ, công chức trong quá trình giải quyết công việc (các mẫu phiếu phỏng vấn được đính kèm tại phụ lục 2, 3, 4, 5).

Phương pháp quan sát, phân tích, so sánh, tổng hợp: Thông tin điều tra thu thập được từ báo cáo thực trạng nguồn nhân lực CBCC của Phòng Nội vụ, tác giả tiến hành phân tích, đánh giá so sánh theo trình tự thời gian. Đồng thời, phân tích từng mặt của sự việc, tìm ra nguyên nhân, tìm hiểu diễn biến sự kiện theo trình tự thời gian. Từ đó tổng hợp, liên kết sắp xếp các tài liệu, thông tin đã thu thập được để tạo ra một hệ thống lý thuyết đầy đủ, sâu sắc về đề tài nghiên cứu.

Phương pháp chuyên gia: Theo tác giả, phương pháp chuyên gia rất cần thiết do người nghiên cứu không chỉ trong quá trình nghiên cứu mà còn cả trong quá trình nghiệm thu, đánh giá kết quả, thậm chí cả trong quá trình đề xuất giả thuyết nghiên cứu, lựa chọn phương pháp nghiên cứu, củng cố các luận cứ. Vì vậy, đây là phương pháp trí tuệ, khai thác ý kiến đánh giá của các chuyên gia có trình độ về vấn đề quản trị nguồn nhân lực CBCC phường để xem xét, nhận định về vấn đề đánh giá việc thực hiện công vụ của CBCC phường, từ đó nhằm tìm ra giải pháp tối ưu cho công tác đánh giá kết quả hoàn thành nhiệm vụ đối với CBCC phường.

Nguồn số liệu: Qua các báo chí, tạp chí, Website hành chính thành phố Hải phòng, các dự án nghiên cứu, đề tài, tài liệu hội thảo có liên quan đến đề tài, các báo cáo về tình hình cán bộ, công chức, viên chức Sở Nội vụ Hải Phòng, Phòng Nội vụ quận Hải An và số liệu điều tra thực tế.

5. Tổng quan tình hình nghiên cứu về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cán bộ, công chức phường

Chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường đã được nhiều nước trên thế giới, nhiều nhà khoa học, nhà quản lý nghiên cứu trên nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau, nhưng đề tài chất lượng nguồn nhân lực luôn là đề tài mang tính thời sự, đã có nhiều công trình khoa học được công bố, sách chuyên khảo và các hội nghị được tổ chức để nghiên cứu về vấn đề nay, như:

Theo các tác giả Đinh Thị Minh Tuyết, Trịnh Văn Khánh (2020), “Năng lực thực thi công vụ của đội ngũ công chức cấp xã“, Bài đăng trên tạp chí Quản lý nhà nước Học viện hành chính, số 3 đã nêu ra các yếu tố cơ bản của năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã (trong đó có công chức phường) phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài vì chất lượng công chức phụ thuộc vào năng lực thực thi công vụ của công chức đó. [50]

Tác giả Trần Thị Quỳnh (2023), Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, Luận văn thạc sĩ Quản trị nhân lực, trường Đại học Lao động- xã hội, Hà Nội, đã đưa ra những tiêu chí đánh giá chất lượng cán bộ, công chức cấp xã về cơ cấu đội ngũ, về thể lực, tâm lực và trí lực. [41]

Nguyễn Minh Sản (2018), Pháp luật về cán bộ, công chức chính quyền cấp xã hiện nay – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản Chính trị Hành chính, Hà Nội. Nội dung cuốn sách đi sâu phân tích vị trí, vai trò của cán bộ, công chức chính quyền cấp xã; những yêu cầu của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với việc hoàn thiện pháp luật về CBCC chính quyền cấp xã; tiêu chí và kinh nghiệm hoàn thiện pháp luật về CBCC chính quyền cấp xã của một số nước trên thế giới. Với đề tài này tác giả nghiên cứu cuốn sách này để hiểu về vị trí, vai trò của CBCC phường, thông qua đó soi vào thực tiễn xem hiện nay pháp luật về CBCC phường đã được thực hiện như thế nào và đã phù hợp với thực tiễn hay chưa. [42]

Chủ nhiệm đề tài: Trần Hữu Thắng (2010), Đổi mới chính sách đối với cán bộ chính quyền cơ sở đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, đề tài khoa học cấp Bộ của Vụ Chính quyền địa phương, Ban Tổ chức – Cán bộ Chính Phủ (nay là Bộ Nội vụ), Hà Nội. Trong đó nêu rõ cần phải có những chính sách hợp lý để đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức nhất là cán bộ làm công tác lãnh đạo trong các cơ quan hành chính nhà nước. [46] Luận văn: Chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường tại quận.

Tác giả Cao Thành Trung (2018), Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức Ủy ban nhân dân huyện – thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Quản lý hành chính công, Học viện Hành chính, Hà Nội, đã đưa ra các nhóm tiêu chí để đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, trong phân tích thực trạng, tác giả làm rõ được một số tiêu chí đó là trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp huyện, không nghiên cứu chất lượng công chức cấp xã (công chức phường). [49]

Tác giả Trịnh Đức Hùng (2018), Nâng cao chất lượng thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức phường trên địa bàn thành phố Hà Nội (đánh giá thông qua sự hài lòng của nhân dân), Luận văn thạc sĩ Quản lý hành chính công Học viện Hành chính, Hà Nội, thì lại phân tích làm rõ thực trạng chất lượng thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức phường trên địa bàn thành phố Hà Nội, từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng thực thi công vụ của đội ngũ đó. Tuy nhiên, tác giả chỉ đánh giá chất lượng thông qua sự hài lòng của người dân, mà không đánh giá chất lượng đội ngũ đó theo các tiêu chí khác. [33]

Nhìn chung các công trình nghiên cứu, luận văn nêu trên đều đề cập tới việc nâng cao chất lượng và năng lực thực thi công vụ của CBCC các cấp trong đó có cấp phường ở trên một số địa bàn. Mỗi công trình, luận văn lại nghiên cứu theo các hướng khác nhau, mà chưa có một đề tài nào nghiên cứu một cách toàn diện, cụ thể về chất lượng CBCC phường trên địa bàn quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

6. Ý nghĩa và những đóng góp chính của đề tài

Đề tài nghiên cứu đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý nguồn nhân lực CBCC trong tổ chức chính quyền cấp xã phường nói chung và chính quyền cơ sở tại các phường trên địa bàn quận Hải An nói riêng.

Trên cơ sở đánh giá thực trạng nguồn nhân lực CBCC tại các phường trên địa bàn quận Hải An, đề tài đã đưa ra những tiêu chí đánh giá, nhận định một cách khách quan về thực trạng, những tồn tại, hạn chế về chất lượng nguồn nhân lực cán bộ, công chức cấp phường của quận Hải An.

Đề tài đã làm sáng tỏ đưa ra các quan điểm về chất lượng nguồn nhân lực cán bộ, công chức cấp phường nhằm đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CBCC trong công tác quản lý nguồn nhân lực hành chính hiện nay trong việc sử dụng, quy hoạch, đào tạo, phát triển và quản lý nguồn nhân lực góp phần đẩy mạnh cải cách nền hành chính nhà nước, đáp ứng yêu cầu nền kinh tế quốc tế hội nhập.

7. Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương như sau:

  • Chương 1. Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường.
  • Chương 2. Thực trạng nguồn nhân lực CBCC và công tác nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cán bộ, công chức phường trên địa bàn quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
  • Chương 3. Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường trên địa bàn quận Hải An.

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC CÁN BỘ, CÔNG CHỨC PHƯỜNG

1.1. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

1.1.1. Một số khái niệm

  • Nguồn nhân lực (NNL)

Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người mà trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng về lao động, gồm cả phẩm chất, trình độ chuyên môn, kiến thức, óc sáng tạo, năng lượng nhiệt huyết và kinh nghiệm sống của con người nhằm đáp ứng cơ cấu kinh tế – xã hội. [6], [27], [28], [32]

  • Quản trị nguồn nhân lực (QTNNL)

Quản trị nguồn nhân lực bao gồm các hoạt động được thiết kế để cung cấp và điều phối các nguồn lực con người của một tổ chức (Noe Hollenbeck, Human Resource Management: Gaining A Competitive Advantage, 2012, p.32). [60]

Bên cạnh đó, ở Việt Nam, khái niệm QTNNL được hiểu là “hệ thống các chính sách hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo, phát triển và duy trì con người của một tổ chức nhằm đạt kết quả tối ưu cho cả tổ chức lẫn nhân viên” (Trần Kim Dung, Quản Trị Nguồn Nhân Lực, 2010, tr.4). [29] Luận văn: Chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường tại quận.

  • Cơ quan hành chính nhà nước

HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên (Khoản 1, Điều 6, Luật tổ chức chính quyền địa phương, 2024). [40]

UBND do HĐND cùng cấp bầu, là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương, HĐND cùng cấp và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên (Khoản 1, Điều 8 Luật tổ chức chính quyền địa phương, 2024). [40]

Chính quyền địa phương ở phường: Chính quyền địa phương ở phường là cấp chính quyền địa phương gồm có HĐND và UBND (Điều 58, Luật tổ chức chính quyền địa phương, 2024). [40]

  • Cán bộ, cán bộ cấp phường

Cán bộ: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước (Khoản 1, Điều 4 Luật cán bộ công chức, 2017). [39]

Cán bộ cấp phường: Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị – xã hội; (Khoản 3, Điều 4 Luật cán bộ công chức, 2017). [39]

  • Công chức, công chức cấp phường

Công chức: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” (Khoản 2, Điều 4 Luật cán bộ công chức, 2017). [39]

Công chức xã, phường: Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước (Khoản 3, Điều 4 Luật Cán bộ, công chức, 2017). [39]

1.1.2. Vai trò, đặc điểm của cán bộ, công chức phường Luận văn: Chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường tại quận.

1.1.2.1. Vai trò của cán bộ, công chức phường

Trong hệ thống chính quyền ở nước ta thì chính quyền cấp cơ sở có một vị trí rất quan trọng, là cầu nối trực tiếp của hệ thống chính quyền nhà nước với nhân dân thông qua đội ngũ CBCC cấp phường. CBCC cấp phường là những người gần dân nhất, sát dân nhất, mọi chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước có đến được với nhân dân hay không, đến đúng, đến đủ và có được nhân dân tiếp thu đúng đắn hay không đều thông qua đội ngũ cán bộ, công chức cấp phường.

Đội ngũ CBCC cấp phường có vai trò hết sức quan trọng trong xây dựng và hoàn thiện bộ máy chính quyền cơ sở, trong hoạt động thi hành nhiệm vụ, công vụ. Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy chính quyền cấp phường nói riêng và hệ thống chính trị nói chung, xét đến cùng được quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu quả công tác của đội ngũ CBCC cở sở. Có thể nói, đây là vấn đề đặc biệt quan trọng đã được Đảng và Nhà nước quan tâm trong suốt quá trình từ khi xây dựng Nhà nước dân chủ nhân dân đến nay. Cán bộ nói chung có vai trò rất quan trọng, cán bộ cơ sở nói riêng có vị trí nền tảng cơ sở… Cơ sở xã, phường, thị trấn mạnh hay yếu một phần quan trọng phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn.

CBCC cấp phường góp phần quyết định sự thành bại của chủ trương, đường lối và nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước. Không có đội ngũ CBCC cơ sở vững mạnh thì dù đường lối, chủ trương chính trị có đúng đắn cũng khó biến thành hiện thực. CBCC cấp phường vừa là người trực tiếp đem các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước giải thích cho nhân dân hiểu rõ và thi hành, vừa là người phản ánh nguyện vọng của quần chúng nhân dân đến với Đảng và Nhà nước để có sự điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho đúng và phù hợp với thực tiễn. Ở khía cạnh này, họ có vai trò là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với quần chúng nhân dân.

CBCC cấp phường có vai trò quan trọng trong quản lý và tổ chức công việc của chính quyền cơ sở. Nhiệm vụ của họ là thực thi công vụ mang tính tự quản theo pháp luật và bảo toàn tính thống nhất của thực thi quyền lực nhà nước ở cơ sở thông qua việc giải quyết các công việc hàng ngày có tính chất quản lý, tự quản mọi mặt ở địa phương. Họ còn có vai trò trực tiếp bảo đảm kỷ cương phép nước tại cơ sở, bảo vệ các quyền tự do dân chủ, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Thông qua hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức cấp phường, nhân dân thể hiện được quyền làm chủ và trực tiếp thực hiện quyền tự quản của mình. Luận văn: Chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường tại quận.

Chính vì đội ngũ CBCC cấp phường có vai trò quan trọng trong bộ máy chính quyền cơ sở nên việc xây dựng đội ngũ CBCC cấp phường vững vàng về chính trị, có đạo đức trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến thức và trình độ năng lực để thực hiện các nhiệm vụ được giao luôn là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta.

1.1.2.2. Đặc điểm của cán bộ, công chức phường

CBCC cấp phường được tuyển dụng hoặc bổ nhiệm giữ chức vụ trong cơ quan của Nhà nước, tham gia trực tiếp vào bộ máy công quyền của nền hành chính quốc gia, là những người làm chủ được hành vi, thái độ và phải tự chịu trách nhiệm trước pháp luật với tư cách là một công dân, một công chức hành chính.

Số lượng CBCC được bố trí theo đơn vị hành chính theo Nghị định 159/2014/NĐ-CP ngày 27/12/2014 của Chính phủ về việc phân loại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn và Nghị định 92/2018/NĐ-CP ngày 22/10/2018 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với CBCC ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã quy định: Cấp xã loại 1 không quá 25 người, cấp xã loại 2 không quá 23 người, cấp xã loại 3 không quá 21 người, bao gồm cả cán bộ, công chức được luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp phường. [9], [11]

  • Căn cứ vào vị trí công tác, cán bộ, công chức được phân loại như sau:

Công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý: Bao gồm những công chức được bầu cử theo nhiệm kỳ ở cấp xã là công chức giữ cương vị chỉ huy trong điều hành công việc, được giao những thẩm quyền, trách nhiệm nhất định. Thẩm quyền và trách nhiệm được gắn với chức vụ lãnh đạo.

Công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý: Bao gồm những công chức chuyên môn. Trên cơ sở chuyên môn nghiệp vụ và nhiệm vụ được giao, thi hành công vụ nhân danh quyền lực nhà nước, tham mưu cho lãnh đạo ra các quyết định hành chính và là người trực tiếp thực hiện các quyết định hành chính đó.

CBCC là nhân tố chủ yếu, đóng góp hàng đầu vào sự tồn tại, phát triển của cơ quan hành chính nhà nước, là những người đã có vị thế xã hội, đang giữ chức vụ hoặc trách nhiệm nhất định theo trình độ đào tạo và được xếp lương và ngạch bậc tương ứng trong hệ thống hành chính, nên chịu sự ràng buộc theo những nguyên tắc và khuôn khổ nhất định do tổ chức đặt ra, ít bị biến động. Luận văn: Chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường tại quận.

Đội ngũ CBCC cơ sở rất quan trọng trong việc thực hiện chức năng làm cầu nối giữa Đảng với nhân dân, giữa công dân với Nhà nước, vì họ là người sống gần dân, gắn bó với nguời dân tại địa phương đó, trực tiếp tuyên truyền, phổ biến, vận động và tổ chức nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trên địa bàn dân cư, giải quyết mọi nhu cầu của dân cư, bảo đảm sự phát triển kinh tế của địa phương, duy trì trật tự, an ninh, an toàn xã hội trên địa bàn cấp phường. Do tính chất công việc của cấp phường, họ vừa giải quyết những công việc hàng ngày, vừa phải quán triệt các Nghị quyết, Chỉ thị của cấp trên, lại phải nắm tình hình thực tiễn ở địa phương để từ đó đề ra kế hoạch, chủ trương, biện pháp đúng đắn, thiết thực, phù hợp. CBCC cấp phường bị chi phối, ảnh huởng rất nhiều bởi những phong tục tập quán làng quê, những nét văn hóa bản sắc riêng đặc thù của địa phương, của dòng họ.

Nhiệm vụ của họ rất nặng nề, vai trò của họ có tính then chốt, xét cả trong quan hệ giữa Đảng với dân, giữa công dân với Nhà nước. Sức mạnh của hệ thống chính trị, sự ổn định của xã hội luôn gắn liền với năng lực, phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ này. Họ có khả năng tổ chức, tập hợp và huy động mọi nguồn lực ở địa phương để thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, an ninh quốc phòng ở cơ sở. Tuy nhiên về chất lượng lại rất yếu, độ tuổi tương đối cao. Hơn nữa, trình độ chuyên môn, năng lực quản lý của đội ngũ chủ chốt chính quyền cơ sở chưa đồng đều, mặt bằng chung còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước ở chính quyền cơ sở. Ðây là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiệu quả giải quyết công việc của đội ngũ CBCC cấp phường chưa cao.

1.2. Các tiêu chí đánh giá nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường Luận văn: Chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường tại quận.

1.2.1. Quy mô, cơ cấu nguồn nhân lực cán bộ, công chức phường

Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả mọi cá nhân tham gia vào các hoạt động của tổ chức. Quy mô và cơ cấu trong một tổ chức là thành phần, tỷ lệ lao động của bộ phận nguồn nhân lực của một tổ chức phụ thuộc vào khối lượng công việc quản lý cần giải quyết và cách giải quyết công việc của từng nhân viên trong tổ chức như thế nào. Do đó tùy thuộc vào quy mô của tổ chức và các yếu tố phụ thuộc điều kiện bên trong, bên ngoài của tổ chức như trình độ của nguồn nhân lực và cách thức quản lý của các cán bộ quản lý, đặc điểm công việc, sự phức tạp của hoạt động, các quan hệ trong tổ chức, tình hình thị trường lao động và cạnh tranh, tình hình phát triển kinh tế của đất nước, các chính sách phát triển kinh tế – xã hội của nhà nước để lựa chọn quy mô và cơ cấu cho phù hợp.

Nhân lực là nguồn lực có vai trò rất quan trọng và không thể thiếu đối với hoạt động của một tổ chức, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố đa dạng và phức tạp trong hoạt động. Do đó việc sử dụng nguồn nhân lực một cách hiệu quả đang là mục tiêu hàng đầu của các tổ chức.

Cơ cấu nguồn nhân lực hoàn thiện sẽ góp phần giải quyết tốt các mục tiêu, nhiệm vụ của địa phương. Cơ cấu nguồn nhân lực hợp lý và tổ chức hoạt động tốt sẽ có tác dụng làm tăng sức mạnh, hiệu quả hoạt động của địa phương để thực hiện mục tiêu đề ra.

Các yếu tố của nguồn nhân lực: Cơ cấu nguồn nhân lực theo ngành, nghề, địa bàn công tác, số lượng, độ tuổi, chất lượng nguồn nhân lực, cơ cấu cấp bậc nguồn nhân lực.

1.2.2. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cán bộ, công chức phường

1.2.2.1 Chất lượng nguồn nhân lực cán bộ, công chức

  • Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực:

“Trong điều kiện kinh tế thị trường cạnh tranh cao và hội nhập sâu rộng thì chất lượng nguồn nhân lực được coi là tiêu chí quan trọng phản ánh trình độ phát triển kinh tế và đời sống của con người trong xã hội nhất định” (Mai Quốc Chánh, TS Trần Xuân Cầu, Giáo trình kinh tế lao động trường đại học Kinh tế Quốc dân, nhà xuất bản lao động, Hà Nội, 2012). [6]

Trong phạm vi đề tài nghiên cứu về chất lượng CBCC, chúng ta hiểu chất lượng của đội ngũ CBCC là khả năng của CBCC trong giải quyết các vấn đề thuộc tất cả các lĩnh vực, để các tổ chức, cá nhân được thỏa mãn, hài lòng về cung ứng các dịch vụ hành chính. Luận văn: Chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường tại quận.

Tiểu chuẩn đánh giá chất lượng đội ngũ CBCC được dựa trên nhiều tiêu chí, là những quy định cụ thể các yêu cầu về trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức, kết quả giải quyết công việc theo đúng quy trình, quy định về thời gian và thủ tục hồ sơ giải quyết; mức độ thỏa mãn của người dân trong việc đo lường sự hài lòng về thái độ phục vụ, về hưởng thụ dịch vụ hành chính liên quan đến thời gian giải quyết công việc của người dân theo từng lĩnh vực cụ thể.

Đánh giá chất lượng đội ngũ CBCC, chúng ta đánh giá chất lượng của từng CBCC, mỗi CBCC là một bộ phận, một phần của hệ thống đội ngũ CBCC. Chất lượng CBCC là tổng hợp những phẩm chất nhất định về phẩm chất đạo đức, chuyên môn nghề nghiệp, trí tuệ khoa học, ý chí, niềm tin, năng lực, sức khỏe luôn gắn bó với cơ quan, với tập thể cộng đồng và khả năng thực hiện các nhiệm vụ được giao đạt hiệu quả.

Ngày nay nước ta đang thực hiện đường lối đổi mới và ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, nguồn nhân lực hành chính cũng có những đổi mới nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, đòi hỏi người CBCC hành chính không chỉ có trình độ, phẩm chất theo tiêu chuẩn CBCC mà còn phải gương mẫu, có tinh thần kỷ luật rất cao, đi tiên phong về lý luận và thực tiễn, có tư duy khoa học, lý luận sắc bén, luôn gắn bó với tập thể, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, có kỹ năng tốt trong việc kết hợp tri thức khoa học, kinh nghiệm, kỹ năng thực tiễn một cách nhạy bén, linh hoạt, đồng thời luôn chấp hành nghiêm chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Ðảng và Nhà nước.

Chất lượng của đội ngũ CBCC ngoài những yếu tố nêu trên còn phụ thuộc vào cơ cấu đội ngũ CBCC, đó là tỷ lệ hợp lý giữa các độ tuổi, giữa nam và nữ, giữa công chức lãnh đạo, quản lý, công chức phụ trách chuyên môn nghiệp vụ. Mỗi CBCC không tồn tại một cách biệt lập mà phải đặt trong một chỉnh thể thống nhất của cả đội ngũ CBCC.

Từ những phân tích nêu trên có thể hiểu, chất lượng đội ngũ CBCC phường là chỉ tiêu tổng hợp chất lượng của từng CBCC cấp phường, thể hiện qua phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ, năng lực, kỹ năng công tác, chất lượng và hiệu quả thực nhiệm vụ được phân công của mỗi công chức cũng như cơ cấu hợp lý về độ tuổi, về ngạch, bậc và số lượng đội ngũ CBCC bảo đảm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Đảng ủy -HĐND -UBND cấp phường.

1.2.2.2. Nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp phường

Chất lượng đội ngũ CBCC phường được thể hiện thông qua hoạt động của bộ máy chính quyền cấp phường, ở việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp phường. Do đó, để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước của UBND cấp phường, cần thiết phải nâng cao chất lượng của đội ngũ CBCC phường trên tất cả các mặt như: phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực và khả năng hoàn thành nhiệm vụ, trình độ năng lực, sự tín nhiệm của nhân dân, khả năng thích ứng, xử lý các tình huống phát sinh của người CBCC đối với công vụ được giao. Luận văn: Chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường tại quận.

Nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC phường là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng từng CBCC đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế- xã hội trong từng giai đoạn phát triển. Nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC là một yếu tố vô cùng quan trọng trong việc hoàn thiện bản thân trong mỗi người CBCC. Việc nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC phường sẽ góp phần làm tăng ý thức, trách nhiệm lao động, góp phần làm tăng năng suất lao động xã hội. Nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC phường có vai trò đặc biệt quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Ðể phát triển nhanh, bền vững mỗi địa phương cần hết sức quan tâm đến chính sách phát huy tối đa năng lực của CBCC thông qua nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC của mình như: đào tạo, đào tạo lại, chăm sóc sức khỏe cả về vật chất, tinh thần, có chính sách đãi ngộ nhân tài hợp lý, rèn luyện tác phong công nghiệp.

Như vậy, nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC phường chính là việc hoàn thiện những điểm còn thiếu sót, chưa hợp lý trong số lượng, cơ cấu lao động của đội ngũ cán bộ, công chức phường, đồng thời cải thiện những mặt còn yếu kém trong năng lực, phẩm chất của đội ngũ CBCC sao cho quy mô, tỷ trọng CBCC vừa đủ, tận dụng tối đa năng suất lao động, không thừa, không thiếu và trình độ của người CBCC thì đáp ứng tốt yêu cầu của từng vị trí, kết hợp với đó là việc cải thiện môi trường làm việc, để họ có thể phục vụ hết mình vì công việc.

Trong phạm vi của đề tài này, tác giả đề cập đến vấn đề chất lượng đội ngũ CBCC phường chủ yếu dựa trên việc tiếp cận, nghiên cứu, đánh giá cơ cấu, số lượng và các tiêu chí phản ánh chất lượng của đội ngũ CBCC phường. Từ đó, đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC phường trên địa bàn quận. Ðể nâng cao chất lượng của đội ngũ CBCC phường cần phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa chất lượng và số lượng cán bộ, công chức.

1.2.3. Các tiêu chí đánh giá chất lượng của đội ngũ CBCC cấp phường Luận văn: Chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường tại quận.

1.2.3.1. Tiêu chí về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống

Phẩm chất chính trị, đạo đức là yêu cầu cơ bản của người CBCC. Ðây là phẩm chất rất quan trọng đối với đội ngũ CBCC phường nó là cái “gốc” của người cán bộ. Tuy nhiên, các phẩm chất này ở mỗi CBCC làm ở các ngành, lĩnh vực khác nhau, các cấp chính quyền khác nhau sẽ được biểu hiện khác nhau.

  • Thứ nhất – Về phẩm chất chính trị

Ðây là yếu tố đầu tiên của mỗi nguời CBCC, CBCC phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định lập trường giai cấp công nhân. Ðể trở thành những người có năng lực trước hết phải là người có phẩm chất chính trị. Phẩm chất chính trị của đội ngũ CBCC phường được biểu hiện trước hết là sự tin tưởng tuyệt đối đối với lý tưởng cách mạng, với chủ nghĩa Mác- Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên quyết đấu tranh bảo vệ quan điểm của Ðảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, không dao động trước những khó khăn thử thách. Ðồng thời phải có biện pháp để đường lối đó đi vào thực tiễn cuộc sống của nhân dân. Chống mọi lệch lạc, biểu hiện sai trái trong đời sống xã hội đi trái ngược với đường lối, chủ trương của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Phẩm chất chính trị của người CBCC phường còn biểu hiện thông qua việc họ có làm việc với tinh thần trách nhiệm, hiệu quả, tính độc lập, sáng tạo, không thụ động, ỷ lại trong công tác, phải có ý chí cầu tiến, ham học hỏi, tinh thần trách nhiệm đối với đời sống nhân dân tại địa phương.

  • Thứ hai – Về phẩm chất đạo đức.

Đối với CBCC phường – là cán bộ cấp cơ sở, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các yêu cầu của nhân dân, muốn xác lập được uy tín của mình trước nhân dân, trước hết đó phải là người có phẩm chất đạo đức tốt. Luôn luôn gương mẫu, có lối sống lành mạnh, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, không tham nhũng, vụ lợi cá nhân, sinh hoạt bê tha, nghiêm chỉnh thực hiện các quy định về những điều CBCC không được làm, tận tụy phục vụ nhân dân, tôn trọng nhân dân, quan hệ mật thiết với quần chúng nhân dân, không quan liêu cửa quyền, gây phiền hà cho dân, sâu sát với công việc. Trong công cuộc CNH – HĐH đòi hỏi mỗi CBCC phải có tác phong làm việc khoa học, có tính tập thể, tinh thần hợp tác, tác phong công nghiệp, nói đi đôi với làm, làm nhiều hơn nói, biết lắng nghe, tiếp thu ý kiến của đồng nghiệp và những nguời xung quanh. Yêu cầu về phẩm chất, đạo đức, lối sống của đội ngũ CBCC phường đòi hỏi phải cao hơn so với người khác bởi vì CBCC là công bộc của dân. Người CBCC nếu thiếu phẩm chất đạo đức, thì dù có tài năng kiệt xuất cũng không thể là công bộc của dân được.

1.2.3.2. Tiêu chí trình độ, kỹ năng công tác

  • Trình độ. Luận văn: Chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường tại quận.

Trình độ là mức độ về sự hiểu biết được đánh giá theo tiêu chuẩn nhất định nào đó thể hiện ở văn bằng, chứng chỉ mà mỗi CBCC nhận được thông qua quá trình học tập. Thông thường trình độ được đánh giá qua các yếu tố: Trình độ giáo dục phổ thông, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị và trình độ quản lý nhà nước.

Trình độ giáo dục phổ thông (ở Việt Nam thường gọi là trình độ văn hóa): Là yếu tố cơ bản và là yêu cầu tối thiểu đối với mỗi CBCC. Trên thực tế trình độ giáo dục phổ thông được biểu hiện trên những văn bằng đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân: Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông.

Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Là những kiến thức, khả năng chuyên môn được đào tạo ở các lĩnh vực khác nhau, có thể được đào tạo về ngành đó trước khi đảm nhận công việc. Đó là các bậc học Trung cấp, Cao đẳng, Đại học và trên Đại học. Chính quyền cấp phường là nơi trực tiếp thực hiện mọi hoạt động quản lý, giải quyết mọi tình huống phát sinh trên thực tế. Trình độ chuyên môn đóng vai trò quan trọng nhất, vì đây là những kiến thức liên quan đến công việc. Nếu đội ngũ CBCC phường không có chuyên môn, nghiệp vụ, chỉ làm theo kinh nghiệm hoặc giải quyết mang tính chắp vá, tùy tiện chắc chắn hiệu quả sẽ không cao, thậm chí còn mắc sai phạm nghiêm trọng.

Trình độ lý luận chính trị: Là những kiến thức mà CBCC được trang bị về chế độ xã hội, về bản chất của nhà nước và về những đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Có được những kiến thức đó CBCC sẽ hoạt động đúng định hướng chính trị, giúp cho quá trình tuyên truyền, tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật đó vào trong quần chúng đạt hiệu quả cao hơn.

Trình độ quản lý nhà nước: Vì hoạt động của CBCC là hoạt động quản lý nhà nước trên từng lĩnh vực mà họ phụ trách nên mỗi CBCC phải trang bị cho mình những kiến thức cơ bản nhất về quản lý nhà nước. Những kiến thức này sẽ cho họ hiểu sâu sắc hơn, cụ thể hơn về nhiệm vụ, quyền hạn của mình và qua đó cũng cung cấp những công cụ, kỹ năng, phương pháp quản lý điều hành giúp họ giải quyết công việc đúng pháp luật.

Trình độ ngoại ngữ và tin học: Là một yếu tố cần thiết cho hoạt động của CBCC phường trong điều kiện hội nhập hiện nay, vì đây là cách CBCC có thể thu thập, quản lý thông tin một cách có hiệu quả.

Hiện nay, tiêu chuẩn về trình độ của cán bộ được áp dụng theo Quyết định số 04/2013/QĐ-BNV ngày 16/01/2013 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Nghị định 92/NĐ-CP ngày 22/10/2018 của Chính phủ: Tốt nghiệp THPT, có trình độ trung cấp chính trị trở lên, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ trung cấp trở lên đã qua bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý hành chính nhà nước. [2], [11]

Tiêu chuẩn của công chức phường được quy định tại Nghị định 112/2020/NĐ-CP; Thông tư số 06/2021/TT- BNV. Theo đó công chức phường phải đáp ứng được các tiêu chuẩn sau: [5], [13]

Trình độ văn hóa: Tốt nghiệp trung học phổ thông; Luận văn: Chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường tại quận.

Trình độ chuyên môn: Tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp trở lên của ngành đào tạo phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của chức danh công chức được đảm nhiệm;

Trình độ lý luận chính trị: Sau khi được tuyển dụng phải hoàn thành lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị theo chương trình đối với chức danh công chức phường hiện đảm nhiệm;

Trình độ quản lý nhà nước: Sau khi được tuyển dụng phải hoàn thành lớp đào tạo, bồi dưỡng quản lý hành chính nhà nước theo chương trình đối với chức danh công chức phường hiện đảm nhiệm;

Trình độ tin học: Có chứng chỉ tin học văn phòng trình độ A trở lên;

Trình độ ngoại ngữ: hiện pháp luật không có quy định về tiêu chuẩn này đối với công chức phường.

  • Kỹ năng

Kỹ năng là sự thể hiện trên thực tế năng lực con người trong việc vận dụng các tri thức, tình cảm, kinh nghiệm vào các thao tác nghề nghiệp cụ thể một cách thành thạo, phù hợp nhằm đem lại hiệu quả hoạt động của con người.

Xuất phát từ nhiệm vụ của CBCC phường, CBCC phường cần có một số kỹ năng như sau:

  • Thứ nhất: Kỹ năng giao tiếp.

Kỹ năng giao tiếp là kỹ năng nhận biết, phán đoán và sử dụng phương tiện giao tiếp một cách thành thạo, phù hợp trong các tình huống quan hệ giao tiếp hành chính – công vụ cụ thể nhằm đạt được hiệu lực và hiệu quả quản lý hành chính nhà nước.

Trong quá trình thực thi công vụ, CBCC phường phải thực hiện hoạt động giao tiếp với cấp trên, với đồng nghiệp và với người dân. Vì vậy đòi hỏi CBCC phường phải có kỹ năng giao tiếp để thực hiện có hiệu quả công việc của mình.

  • Thứ hai: Kỹ năng dân vận.

Kỹ năng dân vận là kỹ năng tổ chức vận động nhân dân ở địa phương thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.

Bộ máy hành chính phường mà hạt nhân là CBCC phường có quan hệ trực tiếp, gắn bó mật thiết với người dân, là người đưa đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với người dân, tuyên truyền, phổ biến, vận động nhân dân thực hiện theo đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Chính vì vậy, đòi hỏi CBCC phường phải có kỹ năng dân vận để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ của mình.

  • Thứ ba: Kỹ năng tiếp nhận và xử lý thông tin. Luận văn: Chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường tại quận.

Kỹ năng tiếp nhận và xử lý thông tin là kỹ năng tiếp nhận thông tin, từ đó tiến hành sắp xếp, phân tích các dữ liệu có được theo yêu cầu, tiêu chí cụ thể một cách khoa học, chính xác, khách quan nhằm cung cấp cho CBCC phường cơ sở để xem xét, tham mưu cho lãnh đạo ra các quyết định quản lý đúng đắn nhất.

Thông tin rất quan trọng trong hoạt động quản lý nói chung và quản lý hành chính nhà nước nói riêng. Để thực hiện nhiệm vụ của mình, CBCC phường không thể không có thông tin, cụ thể: thông tin chỉ đạo từ cấp trên xuống, thông tin trao đổi với đồng nghiệp và thông tin yêu cầu giải quyết công việc từ người dân. Vì vậy đòi hỏi CBCC phường phải có kỹ năng tiếp nhận và xử lý thông tin để thực hiện có hiệu quả công việc của mình.

  • Thứ tư: Kỹ năng xử lý tình huống.

Kỹ năng xử lý tình huống là kỹ năng giải quyết các các tình huống gặp phải trong quá trình thực thi công vụ một cách hợp lý và hợp tình.

Trong quá trình thực thi công vụ, đặc biệt khi giải quyết các công việc cho người dân, CBCC phường sẽ gặp phải rất nhiều tình huống, trong đó có những tình huống rất phức tạp đòi hỏi CBCC phường phải có kỹ năng xử lý tình huống thì mới có thể giải quyết được công việc.

  • Thứ năm: Kỹ năng phối hợp trong công tác.

Kỹ năng phối hợp trong công tác là kỹ năng cùng đồng nghiệp hành động hoặc hoạt động hỗ trợ nhau thực hiện nhiệm vụ.

Một trong các nhiệm vụ của CBCC phường là phối hợp với CBCC khác để thực hiện nhiệm vụ nên CBCC phường cần phải có kỹ năng này để thực hiện có hiệu quả công việc.

  • Thứ sáu: Kỹ năng tổ chức thực hiện công việc.

Kỹ năng tổ chức thực hiện công việc là kỹ năng sắp xếp, triển khai công việc vào thực tế.

Một trong những nhiệm vụ của CBCC phường là trực tiếp tổ chức thực hiện công việc thuộc lĩnh vực được phân công phụ trách, vì vậy, CBCC phường cần có kỹ năng này để thực hiện có hiệu quả công việc.

  • Thứ bảy: Kỹ năng soạn thảo văn bản. Luận văn: Chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường tại quận.

Kỹ năng soạn thảo văn bản là kỹ năng soạn thảo các văn bản được giao theo đúng thủ tục, tên gọi và thể thức được quy định trong pháp luật.

Đối với phường, CBCC theo dõi lĩnh vực nào thì chủ trì soạn thảo văn bản thuộc lĩnh vực đó, chịu trách nhiệm về nội dung và thể thức văn bản theo quy định; phối hợp với tổ chức, cá nhân có liên quan đến nội dung dự thảo để hoàn chỉnh văn bản trình lãnh đạo phụ trách xem xét, quyết định. Chính vì vậy, CBCC phường cần có kỹ năng này để thực hiện có hiệu quả công việc.

  • Thứ tám: Kỹ năng tham mưu.

Kỹ năng tham mưu của CBCC phường là kỹ năng tham gia đề xuất với lãnh đạo ban hành và tổ chức thực hiện các quyết định quản lý hành chính nhà nước đạt được yêu cầu về tính hợp pháp và tính hợp lý.

Một trong các nhiệm vụ chính của CBCC phường là tham mưu, giúp chính quyền phường tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong lĩnh vực được phân công theo quy định của pháp luật. Vì vậy, CBCC phường cần có kỹ năng tham mưu để thực hiện có hiệu quả công việc được giao.

  • Thứ chín: Kỹ năng xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch công tác cá nhân.

Kỹ năng xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch công tác cá nhân là kỹ năng trong việc xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch công tác một cách khoa học, hợp lý để thực hiện được nhiệm vụ được giao.

Để thực hiện nhiệm vụ của mình, bản thân CBCC phải tự xây dựng kế hoạch riêng cho mình, bao gồm: kế hoạch năm, kế hoạch quý, kế hoạch tháng, kế hoạch tuần. Kế hoạch phải được lập một cách khoa học, cụ thể chi tiết. Sau đó CBCC phải tổ chức thực hiện kế hoạch đó để đảm bảo cho việc thực hiện nhiệm vụ của bản thân.

1.2.3.3. Tiêu chí về thể lực

Thể lực là trạng thái sức khoẻ của con người, là điều kiện đảm bảo cho con người phát triển, trưởng thành một cách bình thường. Chăm sóc sức khoẻ là một nhiệm vụ rất cơ bản để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CBCC, tạo tiền đề phát huy có hiệu quả tiềm năng con người. Trí tuệ của con người chỉ có thể phát huy được lợi thế trên nền thể lực khỏe mạnh. Thể lực là cơ sở nền tảng để phát triển trí tuệ, là phương tiện để truyền tải tri thức, trí tuệ của con người vào các hoạt động thực tiễn. Nâng cao thể lực là việc nâng cao sức khỏe, thể chất của nguồn lực bao gồm nâng cao chất lượng môi trường làm việc, an toàn trong khi làm việc và nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe cho đội ngũ CBCC phường.

Sức khoẻ là một tiêu chí quan trọng đánh giá chất lượng lao động. Sức khỏe là nền tảng cho mọi hoạt động, tất cả người lao động trong tổ chức cho dù ở chức vụ nào, đảm nhận công việc gì đều phải cần có sức khỏe tốt. Sức khỏe ngày nay không chỉ được hiểu là tình trạng không có bệnh tật, mà còn là sự hoàn thiện về mặt thể chất lẫn tinh thần. Sức khoẻ là trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội, là tổng hoà nhiều yếu tố tạo nên. Người lao động có sức khỏe tốt có thể mang lại năng suất lao động cao nhờ sự bền bỉ, dẻo dai. Mọi người lao động, dù lao động cơ bắp hay lao động trí óc đều cần có sức vóc, thể chất tốt để duy trì và phát triển trí tuệ, biến tri thức thành sức mạnh vật chất.

Thể lực nguồn nhân lực thể hiện qua các tiêu chí về thể chất có thể cân đo được như chiều cao hay cân nặng, vóc dáng và có thang đo nhất định, ngoài ra còn có các tiêu chí như tình trạng nghỉ ốm, nghỉ thai sản, nghỉ làm do tai nạn lao động hay tỷ lệ mắc bệnh nghề nghiệp… của CBCC. Luận văn: Chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường tại quận.

Hiện nay tiêu chí thể lực không chỉ là tiêu chuẩn bắt buộc khi tuyển dụng, bổ nhiệm mà còn là yêu cầu được duy trì trong cả cuộc đời sự nghiệp của CBCC. CBCC phải đảm bảo đủ sức khoẻ mới có thể duy trì thực hiện công việc liên tục với áp lực cao. Người có thể lực, sức khỏe tốt thì sẽ có khả năng xông pha đảm nhận công việc tốt, sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ được giao. [41]

1.2.3.4. Tiêu chí về uy tín trong công tác

Uy tín là sự tín nhiệm và mến phục của mọi nguời. Uy tín là sự phản ánh phẩm chất và năng lực của mỗi CBCC. Nó phải do phẩm chất và năng lực quyết định. Có nghĩa là CBCC phải có chuyên môn giỏi, có phẩm chất đạo đức, có lối sống trong sáng, lành mạnh, khiêm tốn, quan hệ gần gũi, hòa nhã với mọi người; luôn lo sự nghiệp chung nhưng vẫn không quên trách nhiệm, tình cảm của mình với nguời thân trong gia đình.

Người có uy tín là người có học thức cao, năng lực lãnh đạo và quản lý giỏi; tầm hiểu biết sâu rộng, bao gồm cả nhãn quan chính trị, trình độ nhận thức và vốn sống; sự đổi mới và khả năng thích nghi; khát vọng và hoài bão. Có tinh thần trách nhiệm, có năng lực tổ chức, thể hiện ở chỗ hoàn thành xuất sắc chức vụ mà mình đảm trách. Nắm vững kỹ năng lãnh đạo, ứng xử có văn hóa; có quan hệ đúng đắn, trước hết là với những người cùng cộng tác hoặc có quan hệ trực tiếp với mình; biết tự kiểm soát, tự kiềm chế. Người cán bộ có uy tín thì những người dưới quyền sẽ phục tùng và đặt niềm tin mãnh liệt vào họ.

Uy tín là sự phấn đấu nỗ lực của bản thân, người lãnh đạo cần phải giành lấy uy tín tuyệt đối trong cơ quan, đơn vị bằng chính tài năng, nghị lực, đức độ của mình chứ không phải bằng chức vụ, danh hiệu hoặc bằng thủ đoạn, tiểu xảo. Do đó uy tín không phải bao giờ cũng tỉ lệ thuận với chức vụ. Nếu uy tín mất đi thì theo quy luật thông thường chức vụ trước sau cũng mất theo.

Người có uy tín là người có khả năng tổ chức và chuyên môn giỏi; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; có quan hệ bình đẳng, tính tập thể và phát huy được sức mạnh tổng hợp; kiên định trong công tác, gương mẫu đi đầu trong mọi lĩnh vưc; gần gũi, dân chủ, cởi mở với mọi người; Người có uy tín còn là người biết lắng nghe, kể cả những lời nói trái; không tự ái, sĩ diện, thành kiến, không tranh công, đổ lỗi. Người có uy tín là người có bản lĩnh, dũng cảm, kiên cường, bảo vệ người ngay thẳng, trung thực, đấu tranh với những hành vi sai trái, không nịnh ai và cũng không thích ai nịnh mình. Ðiều đó đòi hỏi người cán bộ phải có ý chí và nghị lực rất cao. Người ở cương vị càng cao càng phải hết sức chăm lo giữ gìn uy tín, vì uy tín không chỉ là y tín cá nhân mà nó còn liên quan đến uy tín chung của tập thể.

1.2.3.5. Tiêu chí về kết quả thực hiện công việc Luận văn: Chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường tại quận.

Về mặt bản chất, CBCC phường cũng là người lao động làm thuê cho nhà nước và được trả lương, nên CBCC phường có nghĩa vụ phải hoàn thành công việc mà người sử dụng lao động giao cho. Chỉ khi nào CBCC phường hoàn thành được nhiệm vụ được giao thì CBCC phường mới được coi là làm việc có chất lượng.

  • Các tiêu chí để đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của CBCC phường:

Tính chủ động trong công việc, thực hiện chế độ thông tin, báo cáo, mối quan hệ với cấp trên và đồng nghiệp, chất lượng tham mưu ban hành các văn bản, tiến độ thực hiện công việc, chất lượng công việc. Khả năng này bộc lộ thông qua sự hiểu biết, nhận thức và rèn luyện, có CBCC được giao nhiệm vụ như nhau, nhưng mức độ hoàn thành nhiệm vụ khác nhau. Điều này thể hiện qua sự trải nghiệm trong công việc, qua thời gian làm việc, thâm niên công tác. Những người có kinh nghiệm làm việc có thể giải quyết công việc thuần thục và nhanh hơn người ít kinh nghiệm.

1.2.3.6. Nhóm tiêu chí đánh giá sự hài lòng của người dân – khách hàng của bộ máy hành chính nhà nước

CBCC là “công bộc” của dân, có nghĩa là CBCC phải tận tụy phục vụ nhân dân, tôn trọng nhân dân, đặc biệt đối với CBCC phường, là người gần dân, trực tiếp giải quyết các quyền và lợi ích hợp pháp của dân thông qua việc cung ứng các dịch vụ hành chính công – đây chính là sản phẩm do CBCC phường làm ra. Vì vậy để đánh giá chất lượng CBCC phường chúng ta không thể không xem xét sự hài lòng của người dân đối với các dịch vụ công do CBCC phường cung cấp.

Các tiêu chí đánh giá: Chất lượng công việc được giải quyết; thời gian công việc được giải quyết, trình độ xử lý công việc của CBCC phường, kỹ năng, thái độ, tinh thần trách nhiệm của CBCC phường khi tiếp xúc giải quyết công việc cho người dân. Dịch vụ hành chính công đạt được sự hài lòng của người dân là đạt được hiệu quả lợi ích của xã hội và nhân dân. Chất lượng dịch vụ công là kết quả hoạt động, phục vụ đạt được và được biểu hiện đối với xã hội thông qua sự hài lòng của người dân, niềm tin của người dân đối với nhà nước, được xác định thông qua tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả.

Chất lượng thực thi công vụ của CBCC phụ thuộc vào các yếu tố như: năng lực thực thi công vụ, kiến thức, kỹ năng và thái độ của họ đối với công việc; phụ thuộc vào điều kiện làm việc của CBCC phường như: môi trường làm việc, tính chất công việc, phân công công việc, phụ thuộc vào sự quan tâm của người đứng đầu đó là sự động viên, khuyến khích của lãnh đạo quản lý đến chế độ, chính sách đãi ngộ, cơ hội thăng tiến của CBCC để CBCC hăng say, nhiệt tình làm việc đạt hiệu quả cao.

1.2.3.7. Tiêu chí về năng lực tổ chức, quản lý

Mỗi thời kỳ, mỗi hoàn cảnh, môi trường khác nhau đặt ra yêu cầu về năng lực khác nhau. Năng lực của CBCC luôn gắn liền với mục đích tổng thể với chiến lược phát triển của tổ chức và phải gắn với lĩnh vực điều kiện cụ thể. Đó là khả năng tổ chức và phối hợp các hoạt động của các nhân viên trong tổ chức, khả năng làm việc với con người và đưa tổ chức tới mục tiêu, biết dự đoán, lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, điều hành công việc và kiểm soát công việc. Năng lực tổ chức quản lý bao gồm khả năng động viên và giải quyết các công việc, năng lực này đặc biệt cần thiết và quan trọng đối với CBCC, vì vậy nó hay được xem xét khi đề bạt, bổ nhiệm. Cách nhận biết một người có năng lực tổ chức quản lý có thể dựa vào những tiêu chuẩn mang tính định tính, biết mình, biết người, có khả năng tiếp cận với những người khác, tháo vát và quyết đoán.

1.2.4. Các hoạt động nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC phường Luận văn: Chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường tại quận.

1.2.4.1. Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng CBCC phường

Xây dựng quy hoạch và kế hoạch biên chế để phát triển đội ngũ CBCC nói chung và đội ngũ CBCC cấp phường nói riêng là một công việc thường xuyên và quan trọng, đây là quy trình quen thuộc được thực hiện hàng năm. Quy hoạch tốt, đảm bảo tính khoa học và phù hợp với thực tế khách quan thì góp phần cho sự phát triển, ngược lại sẽ gây lãng phí. Quy hoạch CBCC là quá trình thực hiện đồng bộ các chủ trương, biện pháp tạo nguồn để xây dựng đội ngũ CBCC, là việc bố trí, lập kế hoạch dài hạn, là sự sắp xếp đội ngũ CBCC đang làm trong các cơ quan hành chính hoặc nguồn dự bị nhằm đảm bảo chủ động nguồn nhân lực có chất lượng, lấp chỗ trống trong các cơ quan hành chính hay thay thế đội ngũ CBCC đương nhiệm nhằm bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ trong thời gian nhất định.

Quy hoạch đội ngũ CBCC là việc lập dự án, thiết kế xây dựng tổng hợp đội ngũ CBCC; dự kiến bố trí, sắp xếp tổng thể đội ngũ CBCC theo một ý đồ rõ rệt với một trình tự hợp lý trong một thời gian nhất định làm cơ sở cho việc lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, đề bạt hoặc giới thiệu CBCC ứng cử các chức danh lãnh đạo, quản lý.

Đào tạo, bồi dưỡng CBCC phường được xác định là một nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa quan trọng, góp phần tích cực trong việc nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực công tác, chất lượng và hiệu quả làm việc của CBCC; hướng tới mục tiêu tạo được sự thay đổi về chất trong thực thi nhiệm vụ chuyên môn. Đào tạo, bồi dưỡng CBCC là quá trình trang bị cho CBCC những kiến thức, kỹ năng cần thiết, trước hết là những kiến thức về nhà nước, pháp luật, phương thức quản lý và các quy trình hành chính trong chỉ đạo, điều hành, phương pháp, kinh nghiệm quản lý, trang bị kiến thức, kỹ năng hoạt động theo chương trình quy định cho CBCC. Nghị định số 18/2019/NĐ-CP ngày 05/03/2019 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhấn mạnh: “Đào tạo, bồi dưỡng theo vị trí việc làm nhằm trang bị, cập nhật kiến thức, kỹ năng, phương pháp cần thiết để làm tốt công việc được giao”. Mục tiêu của đào tạo, bồi dưỡng CBCC là nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp thực hiện nhiệm vụ công vụ, góp phần xây dựng CBCC chuyên nghiệp có đủ năng lực xây dựng nền hành chính tiên tiến, hiện đại. [12]

Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBCC phường thời kỳ hiện nay trở thành những người CBCC có đạo đức cách mạng trong sáng, có kiến thức, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ cao, năng động và sáng tạo đáp ứng yêu cầu của nền hành chính hiện đại, phải là công bộc của dân, hết lòng vị nhân dân phục vụ. Nâng cao trình độ chính trị, thấm nhuần các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, trung thành với chế độ, tận tụy với công việc, đáp ứng yêu cầu của việc kiện toàn và nâng cao hiệu quả của bộ máy quản lý nhà nước. Tuy nhiên, để đội ngũ CBCC cấp cơ sở có thể tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng kiến thức thì chính sách đào tạo, bồi dưỡng của nhà nước có vai trò tác động rất quan trọng. Chất lượng của công tác đào tạo, bồi dưỡng lại phụ thuộc vào các vấn đề như: Hệ thống các cơ sở đào tạo, chương trình, giáo trình, đội ngũ giảng viên; chế độ cho người đi học như tiền ăn ở, đi lại, học phí, thời gian học; cơ chế đảm bảo sau đào tạo để tránh lãng phí.

1.2.4.2. Công tác tuyển dụng đội ngũ công chức Luận văn: Chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường tại quận.

Tuyển dụng công chức là một hoạt động, do cơ quan, tổ chức và người có thẩm quyền thực hiện và chịu sự điều chỉnh của các quy phạm pháp luật thuộc ngành. Thông qua tuyển dụng để tạo nguồn CBCC đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cơ quan. Việc tuyển dụng công chức phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế. Tuyển dụng công chức là một trong những nội dung quan trọng quyết định chất lượng của đội ngũ CBCC hiện tại cũng như trong tương lai. Mục đích của việc tuyển dụng công chức là nhằm tìm được những người đủ tài và đức, đủ phẩm chất tốt để đảm nhiệm công việc. Tuyển dụng công chức là tiền đề hết sức quan trọng của việc xây dựng và phát triển đội ngũ CBCC nhà nước trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội để đảm đương những nhiệm vụ được giao. Nói đến cơ chế tuyển dụng là nói đến cách thức, phương pháp để lựa chọn cán bộ sao cho đúng người, đúng việc nhằm phát huy năng lực và sở trường của họ để đạt kết quả cao trong công tác. Để có được đội ngũ CBCC phường chất lượng cao thì việc tuyển dụng phải được thực hiện theo một quy trình chặt chẽ nhằm hạn chế những tiêu cực nảy sinh trong quá trình tuyển chọn. Các tiêu chuẩn tuyển dụng phải xuất phát trên cơ sở yêu cầu tiêu chuẩn chức danh đảm nhận, phải bám sát yêu cầu của tổ chức và bám sát định hướng chung của công tác tổ chức cán bộ là phải trẻ hóa đội ngũ CBCC, nâng cao trình độ đáp ứng yêu cầu của quá trình CNH – HĐH đất nước. Tuyển dụng công chức phải chú ý đến việc tuyển dụng được nhân tài cho đội ngũ CBCC phường; cần có cơ chế, chính sách đãi ngộ xứng đáng cho việc thu hút người giỏi tham gia tuyển dụng. [55]

1.2.4.3. Công tác sử dụng cán bộ, công chức

Việc sử dụng đội ngũ CBCC phải xuất phát từ nhiều yếu tố, trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, công việc của từng cơ quan, đơn vị. Đối với đội ngũ CBCC phường, hai căn cứ quan trọng để bố trí, sử dụng là yêu cầu của công việc và điều kiện nhân lực hiện có của phường. Sử dụng CBCC phường phải dựa vào những định hướng có tính nguyên tắc sau:

  • Sử dụng CBCC phải có tiền đề và quy hoạch
  • Sử dụng phải căn cứ vào mục tiêu. Mục tiêu của hoạt động quản lý đến mục tiêu sử dụng CBCC.
  • Tuân thủ nguyên tắc khách quan, nguyên tắc vô tư và công bằng khi thực hiện chính sách của nhà nước. Đây là căn cứ quan trọng để thực hiện chính sách sử dụng cán bộ.

Xây dựng chế độ phụ cấp công vụ phù hợp, thống nhất đối với công chức khối đảng, đoàn thể và công chức khối cơ quan nhà nước. Tiến hành thực hiện đúng và kịp thời các chính sách đối với đội ngũ CBCC cấp phường như: thu hút, đãi ngộ nhân tài; khuyến khích đào tạo, bồi dưỡng; thu hút, bố trí, sử dụng sinh viên tốt nghiệp đại học về công tác tại phường… Qua đây, động viên sự nhiệt tình công tác, gắn bó với địa phương, củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong đội ngũ CBCC cấp phường, ngăn chặn những tiêu cực của CBCC và thực hiện công bằng xã hội.

Bổ nhiệm phải trên cơ sở xây dựng cơ cấu nhân lực của tổ chức. Quá trình đề bạt, bổ nhiệm phải chú ý coi trọng việc lấy phiếu tín nhiệm để đề bạt theo hướng mở rộng đối tượng tham gia, bảo đảm những người tham gia bỏ phiếu phải là những người biết việc, hiểu người, tránh bè phái, cục bộ, định kiến, hẹp hòi, thiếu tính xây dựng. Trước khi bỏ phiếu tín nhiệm để đề bạt, bổ nhiệm, cán bộ được dự kiến đề bạt, bổ nhiệm phải trình bày đề án hoặc chương trình hành động của mình. Nên thực hiện thí điểm việc thi tuyển, tiến cử, chế độ tập sự đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý. Nếu làm tốt sẽ là khâu đột phá thúc đẩy quá trình đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC. Người đứng đầu phải có ý thức trách nhiệm, công tâm, khách quan, phải vì lợi ích chung và thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, coi trọng ý kiến của tập thể. Có quy chế phối hợp giữa người đứng đầu với cấp uỷ, lãnh đạo cơ quan đơn vị, nếu không chỉ đạo thực hiện tốt, sẽ dẫn đến cục bộ, bè phái, gia trưởng, độc đoán, mất dân chủ, chạy quyền, chạy chức trong đề bạt và bổ nhiệm cán bộ. Bổ nhiệm trên cơ sở đòi hỏi của công vụ và nguồn nhân lực hiện có đúng người, đúng việc. Luận văn: Chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường tại quận.

Cơ chế bố trí, phân công công tác. Trong quá trình xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC phường việc bố trí, sử dụng đúng cán bộ luôn là vấn đề đặc biệt quan tâm và có thể nói đây là một trong những nhân tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC phường. Quá trình bố trí, phân công và sử dụng CBCC là một chuỗi các mắt xích công việc quan trọng liên quan đến CBCC từ khâu tuyển dụng đầu vào, hướng dẫn tập sự, bổ nhiệm vào ngạch công chức, phân công công tác phù hợp với tiêu chuẩn ngạch, bậc và vị trí công tác phù hợp với ngạch được bổ nhiệm. Việc sắp xếp đúng chỗ, đúng việc sẽ tạo điều kiện phát huy tinh thần hăng say làm việc, phát huy được năng lực, sở trường, rèn luyện kỹ năng thành thạo công việc khuyến khích tinh thần học tập và rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn, góp phần đảm bảo cho việc hoàn thành công vụ của cơ quan. Vì vậy, công tác phân công, bố trí CBCC có ảnh hưởng rất lớn đối với chất lượng của đội ngũ CBCC phường.

Nghị quyết Trung ương 3 (khóa IX) nhấn mạnh việc bố trí, sử dụng cán bộ, công chức như sau: Bố trí phải đảm bảo đúng tiêu chuẩn, phù hợp với sở trường. Điều đó có nghĩa là khi sử dụng cán bộ, công chức, nhất là những người làm nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý, phải xem xét cả hai yếu tố khách quan (tiêu chuẩn cán bộ, công chức) lẫn chủ quan (phẩm chất, năng lực, nguyện vọng…). Đề bạt, cất nhắc phải đúng lúc, đúng người, đúng việc; bố trí đề bạt không đúng có thể dẫn đến thừa, thiếu cán bộ, công chức, công việc kém phát triển, tiềm lực không được phát huy. Phải trọng dụng nhân tài, không phân biệt đối xử với người có tài ở trong hay ngoài Đảng, người ở trong nước hay người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Chú ý kết hợp hài hòa giữa đóng góp của CBCC với chế độ chính sách tiền lương và các đãi ngộ khác. Khi thưởng, phạt phải rõ ràng, công bằng, kịp thời, phải căn cứ vào chất lượng, hiêu quả công tác của CBCC. [17]

Trong tác phẩm “Sửa đổi lề lối làm việc” khi đề cập đến vấn đề sử dụng cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên 6 yêu cầu hết sức quan trọng đó là “phải biết rõ cán bộ; phải cất nhắc cán bộ cho đúng; phải khéo dùng cán bộ; phải phân phối cán bộ cho đúng; phải giúp cán bộ cho đúng và phải giữ gìn cán bộ”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã vạch ra ba chứng bệnh do cách sử dụng cán bộ sai lầm. Người lưu ý: “Mục đích khéo dùng cán bộ cốt để thực hành đầy đủ chính sách của Đảng và Chính phủ”. Để “Khéo dùng” cán bộ, Bác Hồ yêu cầu phải thực hiện mấy điểm: “Khiến cho cán bộ có gan nói, có gan đề ra ý kiến”. Theo Bác, cán bộ không nói không phải họ không có gì để nói mà vì không dám nói, họ sợ; “Khiến cho cán bộ có gan phụ trách, có gan làm việc”. Cán bộ không phải ai cũng có năng lực như nhau, nhưng lãnh đạo khéo, tài nhỏ hóa ra tài to; lãnh đạo không khéo, tài to cũng hóa ra tài nhỏ. Khi sử dụng phải tin cán bộ; “Không nên tự tôn tự đại mà phải nghe, phải hỏi ý kiến của cấp dưới”. Bác còn yêu cầu, nếu ý kiến cấp dưới không đúng thì nên dùng thái độ thân thiết, giải thích cho họ hiểu. [35], [56], [37]

1.2.4.4. Công tác đánh giá đội ngũ CBCC

Đánh giá CBCC là hoạt động công vụ được thực hiện từ phía cơ quan, đơn vị, tổ chức, người sử dụng CBCC, tập thể lao động nhằm xem xét chất lượng CBCC dựa trên cơ sở thực tiễn công tác của người CBCC và yêu cầu nhiệm vụ được cơ quan, đơn vị, tổ chức đề ra đối với CBCC. Đánh giá đúng CBCC thì toàn bộ quy trình công tác cán bộ sẽ chính xác, hiệu quả trong chọn người xếp việc được chính xác, tạo điều kiện cho CBCC phát huy được sở trường, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đồng thời không bỏ sót nhân lực chất lượng, chọn nhầm nhân lực kém chất lượng. Ngược lại, đánh giá CBCC không đúng thì không những bố trí, sử dụng CBCC không đúng mà quan trọng hơn là mai một dần động lực phát triển, có khi làm thui chột những tài năng, “vàng thau lẫn lộn”, xói mòn niềm tin của đảng viên, quần chúng ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị. Đánh giá CBCC để làm rõ phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kết quả thực hiện được giao. Luận văn: Chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường tại quận.

Kết quả đánh giá là căn cứ để bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chính sách đối với CBCC. Theo Luật cán bộ công chức năm 2017, Nghị định 56/2024/NĐ-CP ngày 09/6/2024 về đánh giá và phân loại cán bộ, công chức, viên chức, thì đánh giá dựa vào các nội dung sau: Chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong và lề lối làm việc; năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; tiến độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ; tinh thần trách nhiệm và phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ; thái độ phục vụ nhân dân.

Ngoài ra đối với công chức lãnh đạo, quản lý còn được đánh giá theo các nội dung sau đây: Kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao lãnh đạo, quản lý; năng lực lãnh đạo, quản lý; năng lực tập hợp, đoàn kết công chức.

Việc đánh giá CBCC được thực hiện hàng năm, trước khi bổ nhiệm, quy hoạch, điều động, đào tạo, bồi dưỡng, khi kết thúc thời gian luân chuyển, biệt phái. Khi đánh giá phải bảo đảm tính khách quan, toàn diện, tính lịch sử cụ thể; trên cơ sở thực hiện tự phê bình và phê bình; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ; công khai đối với cán bộ, công chức được đánh giá. Phát huy đầy đủ trách nhiệm của tập thể và cá nhân, lấy kết quả, hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ làm thước đo chủ yếu trong đánh giá CBCC.

Đánh giá CBCC được coi là tiền đề quan trọng nhất nhưng vẫn là khâu khó và yếu nhất, khó nhất là đánh giá cái “tâm” và cái “tầm” và bản lĩnh chính trị của người CBCC.

1.2.4.5. Công tác kiểm tra, giám sát CBCC trong thi hành công vụ

Kiểm tra, giám sát CBCC nhằm nắm chắc thông tin diễn biến tư tưởng, tiến trình tiến hành công việc của CBCC, giúp cho lãnh đạo cơ quan, đơn vị phát hiện những vấn đề nảy sinh, kịp thời uốn nắn sửa chữa những sai sót của CBCC, hạn chế sự lãng phí nguồn nhân lực trong đội ngũ CBCC, kiểm tra giám sát để đánh giá năng lực của từng CBCC, từ đó có hướng bố trí công việc phù hợp hơn hoặc sắp xếp, đề bạt CBCC hợp lý, đào tạo, bồi dưỡng CBCC có năng lực, kịp thời đáp ứng công việc. Kiểm tra để phát hiện những ưu điểm cũng như hạn chế khuyết điểm của CBCC, loại trừ những người thiếu năng lực, thoái hóa biến chất và ngăn chặn kẻ xấu chui vào bộ máy. Kết quả kiểm tra là cơ sở khách quan điều chỉnh và tác động, làm cho CBCC luôn hoạt động đúng hướng, đúng nguyên tắc. Qua đó vận dụng hình thức thưởng phạt nghiêm minh, ngăn chặn những tiêu cực, phát huy nhân tố tích cực, tạo dựng lòng tin của nhân dân đối với Đảng, đối với nhà nước. Tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát đội ngũ CBCC mới nắm được thực trạng chất lượng và những biến động của đội ngũ này để xây dựng chiến lược và qui hoạch đội ngũ CBCC; kịp thời khen thưởng những thành tích, tiến bộ và xử lý những sai phạm. Mặt khác, tăng cường quản lý, kiểm tra, luân chuyển cán bộ, thay thế những cán bộ yếu kém, tăng cường cán bộ có chất lượng cho những nơi phát sinh điểm nóng, mất đoàn kết nội bộ, hoặc phong trào mọi mặt đều yếu.

1.2.5. Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng đội ngũ CBCC phường Luận văn: Chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường tại quận.

Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ CBCC hành chính nhà nước bao gồm các nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan.

1.2.5.1. Các nhân tố khách quan

Có nhiều nhân tố khách quan ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ CBCC phường như: Đường lối quan điểm của Đảng, cơ chế, chế độ chính sách của nhà nước, tình hình phát triển kinh tế xã hội, trình độ văn hóa của mỗi địa phương, sự phát triển của công nghệ thông tin.

Đương lối, quan điểm của Đảng, nhà nước, địa phương là yếu tố hàng đầu làm ảnh hưởng đến chất lượng CBCC. Đội ngũ CBCC cấp phường có một vị trí quan trọng trong hệ thống chính trị và bộ máy nhà nước. Do đó quan điểm của Đảng, nhà nước quan tâm trao thẩm quyền cho chính quyền cấp phường phân cấp một cách hợp lý sẽ làm tăng hiệu quả công việc, nâng cao chất lượng CBCC.

  • Cơ chế, chế độ, chính sách đối với CBCC.

Cơ chế, chế độ, chính sách đối với đội ngũ CBCC là hệ thống các quy định do nhà nước, địa phương đặt ra để tạo nguồn và nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC. Chế độ, chính sách đối với CBCC bao gồm: Các quy định về ưu tiên tuyển dụng, bổ nhiệm, ưu đãi, thu hút nhân tài vào đội ngũ CBCC, các quy định nhằm tạo điều kiện để CBCC có điều kiện học tập, nâng cao trình độ, điều kiện bảo đảm môi trường làm việc thuận lợi, từng bước hiện đại hóa công sở, nhà công vụ, trang thiết bị làm việc trong công sở, phương tiện để thi hành công vụ; bảo đảm sự quan tâm, hỗ trợ về vật chất khi CBCC gặp rủi ro trong công việc, chế độ tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế… Chế độ, chính sách đối với CBCC là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng CBCC. Chế độ, chính sách là do con người tạo ra, nhưng đồng thời lại tác động mạnh mẽ đến hoạt động của con người. Chế độ, chính sách hợp lý có thể mở đường, là động lực thúc đẩy tích cực, tài năng, sáng tạo, nhiệt tình, trách nhiệm của mỗi người, nhưng cũng có thể kìm hãm hoạt động, làm thui chột tài năng, sáng tạo của CBCC. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng CBCC phải gắn liền với đổi mới hệ thống cơ chế, chính sách. Trong đó tiền lương là một yếu tố quan trọng bậc nhất của quyền lợi CBCC. Đối với CBCC tiền lương là sự bảo đảm về phương diện vật chất để thực thi công vụ, đồng thời cũng là sự đãi ngộ đối với họ và là yếu tố ràng buộc chặt chẽ họ với công vụ. Luận văn: Chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường tại quận.

Các thể chế quản lý CBCC như công tác tạo nguồn, tuyển dụng, bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá CBCC chi phối đến chất lượng CBCC. Tạo nguồn và tuyển dụng, bổ nhiệm CBCC là một vấn đề rất quan trọng, là khâu đầu tiên có tính chất quyết định đến chất lượng CBCC sau này. Trong khâu tuyển chọn đòi hỏi CBCC phải đáp ứng được những điều kiện bắt buộc về sức khỏe, độ tuổi, trình độ và những điều kiện riêng mang tính linh hoạt do từng cơ quan quy định. Những yếu kém, bất cập trong công tác tuyển dụng sẽ là nguyên nhân gây tác động tiêu cực đến chất lượng CBCC. Bổ nhiệm, tuyển dụng không đúng quy định sẽ khiến cho những người có năng lực thực sự không có cơ hội bước vào cơ quan chính quyền, tạo cơ hội cho vấn đề “chạy chức”, “chạy quyền” phát triển. Bố trí, sử dụng hợp lý CBCC có vai trò quan trọng trong việc phát huy năng lực, sở trường, kinh nghiệm của CBCC. Công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC nếu được thực hiện nghiêm túc sẽ giúp CBCC trau dồi nghiệp vụ và cập nhật tri thức. Đào tạo, bồi dưỡng đúng nơi, đúng lúc, đúng chỗ, đúng đối tượng thì phát huy được hiệu quả của việc nâng cao chất lượng CBCC. Ngược lại, sẽ gây lãng phí thời gian, tiền của và CBCC có khi phải đào tạo lại. Đánh giá CBCC để làm rõ phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao. Căn cứ vào kết quả đánh giá, CBCC được xếp loại theo các mức độ. Kết quả của đánh giá CBCC là căn cứ để bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chính sách đối với CBCC cũng như giúp CBCC phát huy ưu điểm, hạn chế nhược điểm. Do đó, đánh giá CBCC là nhân tố có những tác động lớn đến chất lượng CBCC. Đây là việc làm khó, nhạy cảm. Nếu đánh giá CBCC đúng sẽ tạo điều kiện cho CBCC phát huy được sở trường, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, do đó, CBCC yên tâm, nhiệt tình công tác. Ngược lại, đánh giá CBCC không đúng thì không những bố trí, sử dụng CBCC không đúng mà còn là làm mai một dần động lực phát triển của người CBCC.

Truyền thống văn hóa địa phương: Đa số CBCC phường được trưởng thành, tuyển dụng, bổ nhiệm từ chính quê hương, trong cách giải quyết công việc, cách suy nghĩ, cách ứng xử cũng mang tính chất cộng đồng ngay từ chính địa phương đã làm ảnh hưởng đến chất lượng CBCC.

Điều kiện và môi trường làm việc: Điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện làm việc có tác động trực tiếp đến chất lượng hoạt động công vụ của CBCC. Đặc biệt là với thời đại bùng nổ công nghệ thông tin như hiện nay, các phương tiện thông tin ngày càng phát triển, đòi hỏi mỗi CBCC phải biết và có công nghệ này hỗ trợ trong thực thi công vụ. Khi có phương tiện, cơ sở vật chất hỗ trợ, CBCC sẽ thực hiện công việc được thuận lợi hơn, giảm bớt được những hao phí về sức lực, chống lại sự mệt mỏi trong công việc hằng ngày; từ đó giúp họ có thể hoàn thành nhiệm vụ được giao một cách nhanh chóng, tốt nhất. Ngược lại, thiếu thốn về cơ sở vật chất sẽ làm hạn chế hiệu quả làm việc của CBCC.

Chế độ tiền lương và chế độ phúc lợi: CBCC làm việc toàn bộ thời gian hành chính và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Chế độ lương thấp và bất hợp lý vô hình trung đã làm cho một bộ phận CBCC chỉ lo chạy theo địa vị, chức vụ cao hơn để tăng thu nhập dù họ không đủ trình độ. Điều đó khiến CBCC không an tâm, thích thú, say mê công tác, rèn luyện kỹ năng chuyên môn để có kiến thức sâu hơn, phục vụ tốt hơn. Chế độ phúc lợi có thể được hiểu là quá trình chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của người CBCC để họ hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Chế độ phúc lợi có thể bằng tài chính như: tiền thưởng hoặc cũng có thể là đãi ngộ phi tài chính như: chế độ tham quan, du lịch, chăm sóc sức khỏe định kỳ… Chế độ phúc lợi đối với CBCC phải được thực hiện công bằng, công khai, kịp thời và có lý, có tình. Tiền lương thấp và chế độ phúc lợi không thỏa đáng cũng là một trong những nguyên nhân gây ra hiện tượng CBCC ra khỏi công vụ. Bởi lợi ích kinh tế vẫn là động lực quan trọng nhất đối với việc kích thích tính tích cực lao động của CBCC. Thực tế cho thấy, chỉ khi nào cuộc sống của CBCC ổn định thì họ mới toàn tâm, toàn ý làm việc, nâng cao tinh thần trách nhiệm và có hiệu quả.

1.2.5.2. Các nhân tố chủ quan Luận văn: Chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường tại quận.

Các nhân tố chủ quan ảnh hưởng tới chất lượng đội ngũ CBCC phường bao gồm các nhân tố sau:

  • Tinh thần trách nhiệm trong công tác

Nhận thức là yếu tố quyết định đến chất lượng CBCC, nó là yếu tố chủ quan nội tại bên trong của mỗi CBCC, CBCC nhận thức đúng vai trò, tầm quan trọng của việc nâng cao trình độ để giải quyết công việc hiệu quả hơn. Trách nhiệm trong công tác của CBCC là việc phải làm trong thực thi công vụ. Trách nhiệm công vụ là một khái niệm mang tính chất chính trị, đó là việc CBCC tự ý thức về quyền và nhiệm vụ được phân công cũng như bổn phận phải thực hiện các quyền và nhiệm vụ đó. Trách nhiệm trong hoạt động công vụ của CBCC có mối quan hệ chặt chẽ với kết quả hoạt động công vụ. Kết quả công vụ và trách nhiệm công vụ tạo nên hiệu lực, hiệu quả của các cơ quan, tổ chức. Hai nhân tố này luôn có mối quan hệ biện chứng với nhau.

Trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ tạo ra khả năng tư duy và sáng tạo, CBCC có trình độ chuyên môn cao sẽ tiếp thu và vận dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật, những văn bản của nhà nước vào thực thi công vụ một cách linh hoạt và sáng tạo để tạo ra hiệu quả công việc nhanh hơn.

Ý thức tổ chức kỷ luật của CBCC thể hiện qua việc CBCC phải thực hiện tốt các nội dung công việc: chấp hành và sử dụng có hiệu quả thời gian làm việc theo quy định của pháp luật, nội quy, quy định của cơ quan, không sử dụng thời giờ làm việc vào việc riêng; không đi muộn về sớm, không uống rượu bia trong giờ làm việc…Nó ảnh hưởng quyết định đến chất lượng, năng suất hoàn thành công việc của CBCC.

1.3. Tiểu kết chương 1

Qua nghiên cứu lý luận về nguồn nhân lực CBCC phường, tác giả tìm hiểu được các khái niệm liên quan, đặc biệt đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận để xây dựng nên khái niệm “chất lượng CBCC phường”; đồng thời đưa ra hệ thống các tiêu chí để đánh giá chất lượng CBCC phường và một số các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng CBCC phường nhằm làm căn cứ khoa học để khảo sát thực trạng và phân tích nguyên nhân của thực trạng chất lượng CBCC phường ở chương 2.

Ngoài ra tác giả còn nghiên cứu các vấn đề lý luận và các hoạt động nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC gồm các kỹ năng, công tác quy hoạch, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, sắp xếp đội ngũ CBCC. Hiện nay, trước những yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp CNH- HĐH đất nước, trước những yêu cầu cải cách hành chính, đây là việc làm không đơn giản, đòi hỏi quá trình cải cách hành chính phải tính toán kỹ lưỡng, lựa chọn chính xác tập trung giải quyết từng bước các vấn đề để thỏa mãn nhu cầu của từng cá nhân công dân, tổ chức đến giao dịch, liên hệ công tác, đòi hỏi bản thân mỗi CBCC và chính quyền các cấp phải nhận thức vai trò và trách nhiệm của mình để nâng cao chất lượng và hiệu quả làm việc. Đối với cấp phường đây là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng vì là cấp chính quyền cơ sở trực tiếp tiếp xúc với nhân dân. Luận văn: Chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường tại quận.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993