Luận văn: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng nguồn nhân lực CBCC và công tác nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cán bộ, công chức phường trên địa bàn quận Hải An, thành phố Hải Phòng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát chung về quận Hải An, thành phố Hải Phòng

2.1.1. Điều kiện về tự nhiên

Quận Hải An được thành lập ngày 20/12/2011, theo Nghị định 106/2011/NĐ-CP của Chính phủ, là quận nằm ở phía Đông Nam thành phố Hải Phòng; phía Bắc giáp quận Ngô Quyền và huyện Thuỷ Nguyên, phía Nam giáp sông Lạch Tray và huyện Kiến Thuỵ, phía Đông giáp Sông Cấm có cửa Nam Triệu đổ ra biển Bắc Bộ và huyện Cát Hải, phía Tây giáp quận Ngô Quyền và sông Lạch Tray.

Từ khi được thành lập quận Hải An có 6 phường được tách từ 5 xã thuộc huyện An Hải (cũ) và 01 phường thuộc quận Ngô Quyền với diện tích 88,39km2, dân số khoảng 77.600 người. Ngày 05/4/2016, Chính phủ ban hành Nghị định 54/2016/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã, phường, quận Hải An tách thêm 02 phường thành 8 phường gồm Đông Hải 1, Đông Hải 2, Đằng Hải, Đằng Lâm, Nam Hải, Tràng Cát, Cát Bi và Thành Tô. [10]

Hải An có các đầu mối giao thông quan trọng của thành phố Hải phòng bao gồm các tuyến đường bộ, đường thủy, đường sắt và đường hàng không. Địa bàn quận được bao quanh bởi hệ thống sông Lạch Tray, sông Cấm có cửa Nam Triệu, trục đường giao thông liên tỉnh quan trọng nhất chạy qua địa bàn quận là Quốc lộ 5 nối liền Hà Nội và Hải Phòng, có tuyến đường sắt từ ga Lạc Viên đến Cảng chùa Vẽ, có Sân bay Cát Bi – Đây là một trong những điểm lợi thế của quận được chú trọng khai thác phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của quận.

2.1.2. Đặc điểm về kinh tế xã hội

Lúc mới thành lập quận có phần lớn là diện tích đất nông nghiệp và đất hoang hoá, phần còn lại là đất công nghiệp của các khu công nghiệp Đình Vũ và Vũ Yên. Điều kiện kinh tế, xã hội của quận rất phức tạp, nền kinh tế nông- công nghiệp xen kẽ, kinh tế dịch vụ chưa phát triển. Tuy nhiên, với lợi thế về địa lý, điều kiện tự nhiên thuận lợi, hội tụ đầy đủ các loại hình giao thông, đường thủy, đường bộ, đường sắt, đường biển, đường hàng không, Hải An là địa phương giàu tiềm năng phát triển kinh tế xã hội, là điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư. Luận văn: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường.

Trong những năm gần đây, tình hình kinh tế đã tiến triển rõ nét, tốc độ tăng trưởng khá cao, Quy mô kinh tế từng bước được mở rộng và phát triển cả chiều rộng và chiều sâu theo hướng CNH – HĐH; cơ cấu chuyển dịch nhanh, đúng hướng; phát huy tiềm năng, lợi thế thu hút được nhiều dự án đầu tư sản xuất quy mô lớn, công nghệ và giá trị gia tăng cao.

Tổng giá trị sản xuất 3 nhóm ngành kinh tế trên địa bàn quận năm 2024 đạt 33.916 tỷ đồng, tăng 3,15 lần so với năm 2019; tốc độ bình quân 25,8%/năm, tăng tỷ trọng công nghiệp – xây dựng, thương mại dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp từ 1,2% năm 2019 xuống còn 0,4% năm 2024. (Trong đó: Ngành công nghiệp năm 2024 đạt 16.850 tỷ đồng, tăng 3,1 lần so năm 2019; tốc độ tăng trưởng bình quân 25,5% năm; ngành xây dựng năm 2024 đạt 5.550 tỷ đồng, tăng 3,8% lần so năm 2019, tốc độ tăng trưởng bình quân 30,6% năm; ngành thương mại dịch vụ năm 2024 đạt 11.397 tỷ đồng, tăng 3,03 lần so năm 2019, tốc độ tăng trưởng bình quân 24,9% năm; ngành nông nghiệp năm 2024 đạt 119 tỷ đồng, giảm bình quân 2,1% năm). [57]

Nét nổi bật trong những năm qua là đã thu hút nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước triển khai thực hiện các dự án sản xuất công nghiệp. Trên địa bàn quận được quy hoạch 3 khu công nghiệp lớn, trong đó khu công nghiệp Đình Vũ đã hoàn thiện và đi vào hoạt động, thu hút 47 doanh nghiệp trong nước và nước ngoài tham gia đầu tư sản xuất kinh doanh với số vốn đầu tư trên 2 tỷ USD, giải quyết việc làm cho 4.962 lao động, Khu công nghiệp Đình Vũ giai đoạn 2, Khu công nghiệp Nam Đình Vũ, khu công nghiệp và đô thị Tràng Cát dự kiến năm 2030 sẽ đi vào hoạt động. Đặc biệt với dự án lớn là đường ô tô cao tốc Hà Nội – Hải Phòng và dự án nâng cấp cải tạo đường 356A đoạn 2A, dự án mở rộng khu bay Cảng hàng không quốc tế Cát Bi, quận đã hoàn thành giải phóng mặt bằng kịp thời bàn giao cho chủ đầu tư đẩy mạnh tiến độ thi công đến nay các dự án đã hoàn thành và đưa vào sử dụng có hiệu quả. (Khánh thành đường ô tô cao tốc Hà Nội-Hải Phòng ngày 5/12/2024, ngày 12/05/2025 đã khánh thành nâng cấp thành Cảng hàng không Quốc tế Cát Bi công suất khai thác thực tế của nhà ga đạt 4-5 triệu hành khách/năm, đáp ứng 2.000 hành khách giờ cao điểm). Một số nhà máy có quy mô lớn, công nghệ hiện đại đã hoàn thiện và đưa vào hoạt động như nhà máy sợi tổng hợp, nhà máy sản xuất lốp ô tô Bridgestone, Công ty Idemitsu (Nhật Bản), Công ty Chevron (Mỹ)… Hoạt động dịch vụ phát triển khá mạnh, đặc biệt là dịch vụ cảng biển với nhiều thành phần kinh tế tham gia đa dạng về loại hình như: Dịch vụ vận tải hàng hóa container, dịch vụ logictics, dịch vụ hậu cần sau cảng…Tổng vốn đầu tư phát triển giai đoạn 2020-2024 đạt 37.215tỷ đồng, tăng 19,6% năm; năm 2024 đạt 10.258 tỷ đồng, tăng 2,4 lần so với năm 2019 (Trong đó khu vực vốn đầu tư nước ngoài và khu vực doanh nghiệp tư nhân chiếm tỷ trọng lớn. [57]

Thu ngân sách đạt kết quả tích cực, đã khai thác thêm nguồn thu mới. Tổng thu ngân sách trên địa bàn giai đoạn 2020-2024 đạt 1.809 tỷ đồng, tăng bình quân 18,7%/năm. [57] Luận văn: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường.

Việc đầu tư chỉnh trang, phát triển hạ tầng và các tiện ích đô thị theo hướng đồng bộ với đô thị mới, diện mạo đô thị quận ngày càng sạch đẹp. Đến nay 100% hộ dân được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh và được cấp điện đến từng hộ; 100% tuyến đường trục chính được lắp điện chiếu sáng, 65% ngõ có điện chiếu sáng; 95% số lượng rác thải được thu gom. Đầu tư 128 công trình cải tạo, nâng cấp kỹ thuật, hạ tầng xã hội như xây mới trạm y tế, trụ sở các phường, nhà văn hóa, trường học; Cải tạo 78 hạng mục công trình đường giao thông, nâng chỉ số đất giao thông so với đất xây dựng trong khu vực xây dựng và phát triển các khu đô thị mới của quận đạt 18,1%. [57]

Các hoạt động văn hóa văn nghệ thể dục thể thao được triển khai với nhiều nội dung và hình thức phong phú. Phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được triển khai đồng bộ, sâu rộng và đạt kết quả thiết thực. Chú trọng xây dựng thực hiện nếp sống văn minh đô thị gắn với xây dựng “Gia đình văn hóa”, “tổ dân phố văn hóa”, đến nay có 94,3% tổ dân phố, tỷ lệ gia đình văn hóa đạt 93,5%. [57]

Trong giai đoạn 2019-2024, Công tác giáo dục đào tạo quận Hải An đạt nhiều kết quả tích cực, vươn lên tốp đầu thành phố, cơ sở vật chất các trường học được quan tâm đầu tư, 100% các trường thực hiện mô hình “trường học điện tử”, có 13/23 trường đạt chuẩn quốc gia (đạt 56,5%), 19/21 trường công nhận đạt chuẩn giáo dục theo tiêu chí của Bộ giáo dục và Đào tạo, đạt tỷ lệ cao nhất thành phố. [57]

Thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, chương trình dân số kế hoạch hóa gia đình có nhiều tiến bộ. Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên duy trì ổn định ở mức 0,82%; tỷ suất sinh ở mức hợp lý 13‰, giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên 0,07%. [57]

Hiện nay quận Hải An có 7.533 người có công với cách mạng, thực hiện chính sách người có công, quận luôn xác định chăm lo cho các thương binh bệnh binh, gia đình liệt sỹ là tình cảm là trách nhiệm của Đảng bộ, chính quyền nhân dân, đẩy mạnh công tác xã hội hóa, huy động nhiều nguồn lực cho hoạt động đền ơn đáp nghĩa, thực hiện hiệu quả công tác xóa đói giảm nghèo. Hàng năm tạo việc làm cho trên 3.000 lượt người lao động, tỷ lệ thất nghiệp giảm từ 6,53% xuống còn 4,62%; tỷ lệ hộ nghèo từ 3,45% xuống còn 1,40%. [57]

2.1.3. Tổ chức bộ máy cấp phường của quận Hải An Luận văn: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường.

Quận Hải An có 8 đơn vị hành chính trực thuộc.

  • Tổ chức bộ máy ở cấp phường gồm có: Đảng ủy, HĐND, UBND, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, các Đoàn thể chính trị – xã hội.
  • Về sơ đồ bộ máy tổ chức 8 phường của quận Hải An đều áp dụng mô hình tổ chức như sơ đồ 2.1. Trong đó:

Tổ chức bộ máy cán bộ, công chức chính quyền cấp phường gồm có HĐND, UBND và các chức danh công chức chuyên môn, cụ thể:

  • HĐND gồm các đại biểu HĐND do cử tri ở phường bầu ra, nhiệm kỳ mỗi khóa của HĐND là 05 năm. Thường trực HĐND gồm Chủ tịch HĐND, phó chủ tịch HĐND
  • UBND do HĐND bầu ra gồm: Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND và các ủy viên
  • Các chức danh công chức chuyên môn gồm: Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự, Văn phòng – Thống kê, Địa chính – Xây dựng – Đô thị và Môi trường, Tài chính – Kế toán, Tư pháp – Hộ tịch và Văn hóa – Xã hội.

Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức bộ máy cơ quan hành chính phường của quận Hải An

2.2. Thực trạng nguồn nhân lực cán bộ, công chức phường và công tác quản lý nguồn nhân lực cán bộ, công chức phường tại quận Hải An Luận văn: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường.

2.2.1. Thực trạng về nguồn nhân lực

2.2.1.1. Quy mô cơ cấu, số lượng cán bộ, công chức phường

Quy mô cơ cấu: Chính quyền địa phương ở phường là cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân nhân.

Căn cứ Nghị định 159/2014/NĐ-CP ngày 27/12/2014 của Thủ tướng chính phủ về phân loại đơn vị hành chính xã phường, thị trấn; Thông tư số 05/2015/TT-BNV ngày 30/5/2015 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện một số điều quy định tại Nghị định số 159/2014/NĐ-CP ngày 27/12/2014 của Chính phủ; Quyết định số 1317/QĐ-UBND ngày 20/7/2016; Quyết định số 284/QĐ-UBND ngày 20/02/2017 của UBND thành phố Hải Phòng về việc phân loại đơn vị hành chính cấp phường quận Hải An. [3], [9], [51], [52]

Quận Hải An có 8 phường, trong đó 5 phường đơn vị hành chính loại 1: gồm Nam Hải, Tràng Cát, Đông Hải 1, Đông Hải 2, Đằng Lâm; 3 phường đơn vị hành chính loại 2: gồm Đằng Hải, Cát Bi và Thành Tô.

  • Đối với phường đơn vị hành chính loại 1 cơ cấu gồm:
  • HĐND: 01 Chủ tịch HĐND và 01 Phó Chủ tịch HĐND (Chủ tịch HĐND kiêm nhiệm, 01 phó chủ tịch HĐND hoạt động chuyên trách).
  • UBND: 01 chủ tịch UBND và 02 phó chủ tịch UBND, Ủy viên phụ trách quân sự, Ủy viên phụ trách công an.

Đối với phường đơn vị hành chính loại 2 cơ cấu gồm:

  • HĐND: 01 Chủ tịch HĐND và 01 Phó Chủ tịch HĐND (Chủ tịch HĐND kiêm nhiệm, 01 phó chủ tịch HĐND hoạt động chuyên trách).
  • UBND: 01 chủ tịch UBND và 01 phó chủ tịch UBND, Ủy viên phụ trách quân sự, Ủy viên phụ trách công an.

Số lượng cán bộ, công chức cấp phường.

Được bố trí theo loại đơn vị hành chính cấp xã, phường: phường loại 1 bố trí không quá 25 cán bộ, công chức (bao gồm cả cán bộ khối đảng, MTTQ và các đoàn thể chính trị – xã hội), phường loại 2 bố trí không quá 23 cán bộ, công chức.

  • Số lượng cán bộ, công chức từ năm 2021 đến 10/2025.

Bảng 2.1. Số lượng CBCC phường của quận Hải An Luận văn: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường.

Qua bảng số liệu 2.1 ở trên nhận thấy, đến ngày 30/10/2025 toàn quận có 189 CBCC cấp phường, số lượng CBCC đã cơ bản đảm bảo đầy đủ theo từng vị trí chức vụ, chức danh công tác và phù hợp với cơ cấu, số lượng phân bổ cán bộ, công chức của các phường. Hiện tại quận Hải An có 8 phường, trong đó có 5 phường đơn vị hành chính loại 1 được bố trí 25 cán bộ, công chức, 03 phường loại 2 được bố trí 23 cán bộ, công chức. Theo tổng biên chế được UBND thành phố giao: 194, đang thực hiện: 189 người, còn thiếu 05 cán bộ, công chức phường

Về cán bộ: Số lượng cán bộ hàng năm tương đối ổn định, Đảm bảo bố trí đủ số lượng chức vụ cán bộ chủ chốt thuộc Đảng ủy, HĐND, UBND, các đoàn thể chính trị xã hội theo đơn vị hành chính từng phường. Năm 2024 có 76 cán bộ, năm 2025 có 82 cán bộ, tăng 6 cán bộ, tỷ lệ tăng 7,3%. Năm 2025, số lượng cán bộ thay đổi tăng lên do những năm trước đây thực hiện Nghị quyết 725/NQ-QH ngày 16/01/2018, quận Hải An thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND phường, năm 2025 thực hiện Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND, nên số lượng cán bộ chủ chốt thuộc HĐND phường tăng lên.

Hiện tại các chức danh chủ chốt (công chức lãnh đạo quản lý) tại phường có: Bí thư Đảng ủy 8 người (có 01 Bí thư Đảng ủy kiêm chủ tịch UBND phường); Phó bí thư Đảng ủy: 9 người (01 phường 02 phó bí thư); Chủ tịch HĐND phường 8 người (có 02 Bí thư Đảng ủy, 06 phó bí thư kiêm chủ tịch HĐND), Phó chủ tịch HĐND 8 người, Chủ tịch UBND phường 8 người (01 Bí thư Đảng ủy kiêm nhiệm); phó chủ tịch UBND phường 13 người.

Về số lượng cán bộ chủ chốt đã đảm bảo số lượng, bố trí đúng chức vụ phù hợp với thực tế đơn vị hành chính từng phường.

Đối với chức danh công chức phường: Về cơ bản đảm bảo phân bổ cơ cấu chức danh theo tiêu chuẩn quy định của các văn bản pháp luật, một số chức danh được bố trí nhiều là Tài chính – kế toán; Địa chính – xây dựng, đô thị và môi trường, Văn phòng thống kê để đảm bảo phù hợp với tình hình thực tế công việc.

Số lượng công chức chuyên môn tăng dần qua các năm, năm 2021 có 89 công chức, đến năm 2024 có 111 công chức, tăng 25 công chức, tăng tỷ lệ 22,52%. Đến năm 2025, số lượng công chức giảm 4 người do thực hiện Luật tổ chức chính quyền địa phương và Luật bầu cử đại biểu Quốc Hội và HĐND 2024 một số công chức chuyên môn thuyên chuyển giữ chức vụ cán bộ quản lý. Luận văn: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường.

Hiện tại còn 02 phường chưa bố trí đủ chức danh công chức chuyên môn là phường Tràng Cát và phường Nam Hải.

2.2.1.2. Cơ cấu theo giới tính và độ tuổi của cán bộ, công chức phường

Bảng 2.2. Cơ cấu giới tính và độ tuổi của CBCC phường

Qua bảng số liệu 2.2 cho thấy, tỷ lệ CBCC nam cao hơn nữ. Hàng năm tỷ lệ CBCC nữ tăng dần, đặc biệt là CBCC nữ dưới 30 tuổi qua các năm đều cao hơn nam giới, đến năm 2025 tỷ lệ nam nữ tương đối cân bằng nam 111 người chiếm 58,7%, nữ 78 chiếm 41,3%. Đây là tỷ lệ hợp lý đảm bảo hài hòa cho giới tính cũng như trong công việc chuyên môn cho từng đối tượng cụ thể. Điều đó thể hiện được sự bình đẳng trong công tác tuyển dụng và sử dụng CBCC của UBND quận và đã có nhiều cán bộ chủ chốt là nữ ở chức vụ Bí thư (02 người), Phó bí thư (01 người), phó chủ tịch HĐND (04 người), Phó chủ tịch UBND phường (02 người).

  • Về cơ cấu độ tuổi.

Qua bảng số liệu trên ta thấy đội ngũ CBCC có sự chuyển tiếp giữa các thế hệ, hiện tại CBCC ở độ tuổi dưới 30 có 30 người, chiếm 15,9%; độ tuổi từ 31-40 tuổi có 87 người chiếm 46,0%; từ 41-50 có 39 người, chiếm 20,6%; từ 51-60 tuổi (từ 51-55 đối với nữ, 51-60 đối với nam) có 28 người chiếm 14,8%; trên 60 tuổi 5 người chiếm 2,6%. Như vậy, độ tuổi từ 31-40 là cao nhất, điều đó cho thấy cơ cấu về độ tuổi của đội ngũ CBCC phường đa số là trẻ, phản ánh đúng xu thế của tình hình thực tế hiện nay vừa phù hợp với chức danh quy định vừa đảm bảo được tính kế thừa và yêu cầu công việc của đội ngũ CBCC.

Với cơ cấu và độ tuổi như vậy rất thuận lợi cho công tác bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp phường của quận Hải An, đồng thời trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, CNH-HĐH đất nước đội ngũ CBCC trẻ có trình độ cao sẽ là lực lượng quan trọng góp phần nâng cao chất lượng công tác quản lý và tiếp cận với những phương pháp làm việc mới, hiện đại hiệu quả hơn.

2.2.2. Chất lượng cán bộ, công chức phường Luận văn: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường.

2.2.2.1. Phẩm chất chính trị, đạo đức

CBCC phường có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định lập trường giai cấp công nhân, tuyệt đối trung thành với lý tưởng cách mạng, với chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, chấp hành và vận động gia đình chấp hành các chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của nhà nước tương đối tốt.

Phần lớn CBCC phường thực hiện tốt cần – kiệm – liêm – chính – chí công – vô tư; có lối sống lành mạnh, trong sáng, có tinh thần trách nhiệm với công việc, thực hiện tốt các quy định về những việc CBCC không được làm.

Đa số CBCC phường có ý thức tổ chức kỷ luật, chấp hành đúng nội quy, quy chế của cơ quan.

Bảng 2.3. Thực trạng CBCC là đảng viên năm 2025

Khi thực hiện phỏng vấn trực tiếp người dân, đại bộ phận người dân đều nhận xét thái độ của CBCC phường khi tiếp xúc với người dân so với trước đây đã tốt hơn rất nhiều, đặc biệt là công chức phường đã hướng dẫn đầy đủ thủ tục cho người dân và không gây phiền hà, sách nhiễu cho dân nhiều nữa.

Điều này có thể minh chứng thông qua kết quả điều tra tại 8 phường được thể hiện trong bảng 2.4.

Bảng 2.4. Đánh giá phẩm chất chính trị, đạo đức của CBCC phường

Nhìn vào bảng 2.4 ở trên, nhận thấy vẫn còn 20% cán bộ phường và 30% công chức phường được hỏi trả lời CBCC phường thực hiện chưa tốt cần – kiệm – liêm – chính – chí công – vô tư; 80% cán bộ phường, 65% công chức phường và 90% người dân được hỏi trả lời CBCC phường có tinh thần trách nhiệm nhưng chưa cao; có biểu hiện ngại va chạm, né tránh những vụ việc phức tạp, khó khăn; 40% cán bộ, công chức phường và 58% người dân được hỏi trả lời CBCC phường chưa tận tình, chu đáo khi giải quyết công việc cho dân. Như vậy ý kiến đánh giá của cả ba nhóm đối tượng được hỏi về cùng một vấn đề là tương đối thống nhất. Điều này càng được khẳng định: Một bộ phận CBCC chính quyền cơ sở thiếu tu dưỡng, hạn chế kiến thức quản lý nhà nước, thiếu tinh thần trách nhiệm, sách nhiễu, gây phiền hà với nhân dân, vi phạm kỷ cương, kỷ luật, làm mất niềm tin trong nhân dân. Tình trạng CBCC phường vi phạm pháp luật, tham nhũng, cố ý làm trái pháp luật vẫn diễn ra ở một số nơi, nhất là ở những lĩnh vực có liên quan đến đất đai, đầu tư, quản lý tài sản công.

2.2.2.2. Về trình độ, kỹ năng

  • Về trình độ Luận văn: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường.

Đánh giá thực trạng trình độ của CBCC phường của quận Hải An, tác giả dựa trên số liệu thu thập từ các báo cáo thống kê số lượng, chất lượng của các phường và của Phòng Nội vụ quận Hải An.

  • Về trình độ giáo dục phổ thông

100% CBCC phường của quận Hải An có trình độ học vấn trung học phổ thông. Đối chiếu với tiêu chuẩn về trình độ học vấn được quy định tại Quyết định số 04/2013/QĐ-BNV, ngày 16/01/2013 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Nghị định 92/2018/NĐ-CP, Nghị định 112/2020/NĐ-CP; Thông tư số 06/2021/TT- BNV thì CBCC phường cơ bản đều đáp ứng tiêu chuẩn.

  • Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ

CBCC có trình độ chuyên môn từ trung cấp trở nên là 97,3%, trong đó trên đại học chiếm 2,7%, đại học chiếm 79,7%, trung cấp chiếm 12,8%, cao đẳng chiếm 2,1% (xem biểu đồ 2.2).

Biểu đồ 2.2 . Trình độ chuyên môn của CBCC phường

Theo Báo cáo thống kê số lượng, chất lượng CBCC phường năm 2021 của Phòng Nội vụ quận Hải An, tỷ lệ CBCC có trình độ đại học là 48,2%. Như vậy, so với năm 2025, số lượng CBCC phường có trình độ đại học đã tăng lên là 31,5%. Tuy nhiên theo thống kê tại Phòng Nội vụ thì hình thức đào tạo đại học của CBCC phường chủ yếu là tại chức hoặc từ xa (chiếm trên 85%). Hiện mỗi phường chỉ có từ 3 đến 5 CBCC có bằng đại học chính quy. Điều này đặt ra thách thức lớn đối với việc nâng cao trình độ, chất lượng CBCC phường hiện nay của quận.

Đối chiếu với tiêu chuẩn cán bộ theo Quyết định số 04/2013/QĐ-BNV ngày 16/01/2013 của Bộ nội vụ và tiêu chuẩn công chức phường được quy định tại Thông tư số 06/2021/TT-BNV ngày 30/10/2021 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ thì hiện nay chỉ còn 5 người, chiếm 2,6% CBCC phường chưa đáp ứng được tiêu chuẩn. Số chưa đáp ứng về tiêu chuẩn này chủ yếu rơi vào những cán bộ giữa chức vụ Chủ tịch Hội Cựu chiến binh phường, do có những quy định tiêu chuẩn riêng nên những người này chủ yếu đều do lịch sử để lại, có người tuổi cao, có những người công tác trong quân đội đã về hưu về tham gia công tác tại địa phương giữ chức vụ chủ tịch Hội Cựu chiến binh.

  • Về Trình độ lý luận chính trị

Hiện nay có 54,5% CBCC có trình độ trung cấp lý luận chính trị trở lên, chủ yếu tập trung ở cán bộ, còn 45,5% CBCC có trình độ sơ cấp và chưa qua đào tạo, tập trung chủ yếu là công chức. Như vậy nhìn chung tỷ lệ CBCC phường có trình độ lý luận chính trị chưa cao (xem bảng 2.5). Luận văn: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường.

Bảng 2.5. Trình độ lý luận chính trị của CBCC phường

Tại Quyết định số 04/2013/QĐ-BNV ngày 16/01/2013 của Bộ nội vụ thì Cán bộ phải có trình độ trung cấp chính trị trở lên; Tiêu chuẩn công chức phường được quy định tại Thông tư số 06/2021/TT-BNV ngày 30/10/2021 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ sau khi được tuyển dụng phải hoàn thành lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị theo chương trình đối với chức danh công chức phường đảm nhiệm. Đến nay cũng chưa có văn bản cụ thể chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho từng chức danh nên chưa có cơ sở để đối chiếu với thực trạng trình độ lý luận chính trị của CBCC phường hiện nay xem đã đạt chuẩn hay chưa. [2], [5]

Xét đối với từng chức danh CBCC chưa có trình độ trung cấp lý luận chính trị chủ yếu là các cán bộ mới được bổ nhiệm hoặc là cán bộ đoàn thể chính trị, công chức chủ yếu là Tài chính kế toán, Tư pháp – hộ tịch, Địa chính xây dựng – đô thị và môi trường.

  • Về Trình độ quản lý nhà nước

Hiện nay mới chỉ có 56,1% CBCC phường có chứng chỉ và bằng về quản lý nhà nước, tập trung chủ yếu là cán bộ, còn công chức chiếm 22,8%. Như vậy đại bộ phận công chức chưa được đào tạo, bồi dưỡng chương trình quản lý nhà nước. (Xem bảng 2.6).

Bảng 2.6. Trình độ quản lý nhà nước của CBCC phường

Tại Quyết định số 04/2013/QĐ-BNV ngày 16/01/2013 của Bộ nội vụ thì cán bộ phải qua bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý nhà nước; công chức phường được quy định tại Thông tư số 06/2021/TT-BNV ngày 30/10/2021 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ sau khi được tuyển dụng phải hoàn thành lớp đào tạo, bồi dưỡng quản lý nhà nước theo chương trình đối với chức danh công chức phường đảm nhiệm. Đến nay vẫn chưa có văn bản cụ thể chương trình đào tạo, bồi dưỡng quản lý nhà nước cho từng chức danh công chức nên chưa có cơ sở để đối chiếu với thực trạng trình độ quản lý nhà nước của CBCC phường hiện nay xem đã đạt chuẩn hay chưa. Hiện tại còn 43,9% CBCC chưa qua đào tạo, bồi dưỡng chương trình quản lý nhà nước nên có ít nhất 43,9% CBCC chưa đat chuẩn. Điều này làm ảnh hưởng đến kết quả thực thi công vụ quản lý hành chính nhà nước. [2], [5]

Xét đối với từng chức danh CBCC chưa có trình độ quản lý nhà nước chủ yếu là cán bộ đoàn thể chính trị, công chức chuyên môn sắp đến tuổi về hưu và công chức trẻ mới được tuyển dụng.

  • Về trình độ ngoại ngữ, tin học

Trong những năm gần đây trình độ ngoại ngữ, tin học của đội ngũ CBCC của quận ngày càng được chú trọng nâng cao.

Bảng 2.7. Trình độ ngoại ngữ, tin học của đội ngũ CBCC phường

Qua bảng số liệu 2.7, cho thấy tỷ lệ CBCC có trình độ ngoại ngữ khá cao chiếm 83,2%. Mặc dù tiêu chuẩn về ngoại ngữ chưa được đặt ra tại Quyết định số 04/2013/QĐ-BNV và Thông tư 06/2021/QĐ-BNV nhưng hiện nay có 83,2% CBCC có trình độ A ngoại ngữ trở lên. Điều này cho thấy CBCC phường đã nhận thức được vai trò của ngoại ngữ trong bối cảnh hiện đại hóa, hội nhập quốc tế. Tuy nhiên qua thực tế tìm hiểu phần lớn CBCC có chứng chỉ ngoại ngữ nhưng không có khả năng sử dụng đọc, hiểu hoặc giao tiếp cơ bản bằng ngoại ngữ. Các chứng chỉ ngoại ngữ hiện nay chỉ mang tính chất hoàn thiện hồ sơ, không phản ánh đúng khả năng thực tế.

Trình độ tin học của CBCC hiện có 170/189 cán bộ, công chức, chiếm 89,9% CBCC có trình độ A tin học trở lên. Còn 10,1% CBCC chưa có trình độ tin học, điều này ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả thực thi công vụ hiện nay, nhằm nâng cao dịch vụ công và thực hiện cải cách thủ tục hành chính nhằm phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn, đảm bảo chỉ đạo điều hành, trao đổi thông tin thông suốt, kịp thời giữa các phòng, ban, đơn vị. Yêu cầu CBCC phải biết sử dụng thành thạo công nghệ này.

  • Kỹ năng

Về cơ bản CBCC phường trong quá trình thực thi công vụ đã ngày càng thành thạo trong việc áp dụng một số kỹ năng để giải quyết công việc như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xử lý tình huống, kỹ năng dân vận, kỹ năng tiếp nhận và xử lý thông tin, kỹ năng tổ chức thực hiện công việc. Kỹ năng phối hợp trong công tác. Tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc cải cách hành chính. Luận văn: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường.

Thực tế đã chứng minh, khả năng làm việc nhóm của người Việt Nam nói chung và CBCC phường nói riêng còn hạn chế nên kỹ năng phối hợp của CBCC phường còn chưa cao.

Hiện nay kỹ năng soạn thảo và kỹ năng xây dựng và tổ chức thực hiện lập kế hoạch cá nhân của CBCC phường còn hạn chế. CBCC phường soạn thảo văn bản sai rất nhiều về mặt thể thức và nội dung, không biết cách lập kế hoạch cho bản thân hoặc kế hoạch lập xong để đấy không thực hiện.

Kỹ năng yếu nhất của CBCC phường, đặc biệt là công chức chuyên môn là kỹ năng tham mưu, trong khi đó tham mưu cho lãnh đạo phường ra các quyết định về vấn đề mình phụ trách là một trong các nhiệm vụ chính của CBCC phường.

Điều này được minh chứng thông qua việc tác giả tiến hành khảo sát điều tra đối với CBCC và người dân tại 8 phường và kết quả được thể hiện ở bảng 2.8.

Bảng 2.8. Đánh giá kỹ năng của CBCC phường

Ngoài việc phát phiếu điều tra để thăm dò ý kiến của CBCC phường và người dân đánh giá về kỹ năng hiện có của đội ngũ CBCC phường, tác giả còn tiến hành phỏng vấn trực tiếp Trưởng phòng Nội vụ, chuyên viên phòng Nội vụ quận phụ trách công tác cán bộ và tham khảo ý kiến của một số lãnh đạo còn đương chức và nghỉ hưu chuyên về công tác cán bộ cũng nhận được kết quả tương tự.

Đồng thời nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Hải Phòng lần thứ 15, đã nêu rõ “Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của thành phố trong thời gian qua từng bước được củng cố về số lượng, nâng cao về trình độ đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ, song tính chuyên nghiệp, hiệu quả công việc, chất lượng tham mưu tổng hợp còn hạn chế; tinh thần trách nhiệm với công việc, ý thức phục vụ ở một bộ phận công chức, viên chức chưa cao; còn công chức, viên chức vi phạm kỷ luật công vụ, vi phạm pháp luật, làm giảm niềm tin của nhân dân”. [26]

2.2.2.3. Về thể lực

Đánh giá chất lượng về thể lực của CBCC phường có thể đánh giá thông qua các chỉ số về chiều cao và cân nặng của đội ngũ này. Kết quả kiểm tra thể lực năm 2024 của đội ngũ CBCC phường được tổng hợp thể hiện qua bảng 2.9.

Bảng 2.9. Kết quả chiều cao, cân nặng, phân loại sức khỏe CBCC phường

Qua kết quả tổng hợp nói trên, chiều cao của CBCC phường chiếm tỷ lệ cao nhất là từ 1,60m đến 1,69m (đối với nam), từ 1,55m đến 1,59m (đối với nữ), cân nặng từ 60kg trở lên (đối với nam), từ 50kg-59kg (đối với nữ). Với mức chiều cao và cân nặng như hiện nay của CBCC phường, có thể thấy đội ngũ này có chiều cao và cân nặng ở mức trung bình, thể lực cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của công việc. Luận văn: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường.

Về sức khỏe, đa số CBCC phường đảm bảo sức khỏe trong thực thi công vụ, 87,39% (đối với nam), 84,21% (đối với nữ) có sức khỏe loại 1 và 2 (rất khỏe và khỏe), không có CBCC phường có sức khỏe loại 4 (yếu). Đây cũng là điều kiện quan trọng quyết định đến chất lượng, hiệu quả thực thi công vụ của CBCC phường. Tuy nhiên vẫn còn 12,61% (đối với nam) và 15,79% (đối với nữ) có sức khỏe loại 3 (bình thường), tập trung chủ yều là những CBCC cao tuổi, chuẩn bị về hưu.

Xác định sức khỏe là vốn quý, là yếu tố quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC. Việc chăm sóc sức khỏe, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho đội ngũ CBCC phường được quận quan tâm. Thường xuyên tổ chức khám, kiểm tra sức khỏe định kỳ cho CBCC phường. CBCC phường phải có giấy khám sức khỏe từ cấp quận trở lên mới được tuyển dụng hoặc bổ nhiệm. Ngoài ra còn tích cực tổ chức các phong trào thi đua, tổ chức các hoạt động liên hoan văn hóa – văn nghệ, thể dục thể thao… nhằm nâng cao sức khỏe thể chất và tinh thần cho CBCC. Trong những năm qua số lượng CBCC phường nghỉ việc do ốm đau là rất ít (chỉ có những người cao tuổi hoặc phụ nữ nghỉ theo chế độ thai sản). Sức khỏe CBCC phường được đảm bảo đồng nghĩa với chất lượng công việc của CBCC phường cũng đạt hiệu quả. Khi có sức khỏe, trí tuệ, tinh thần làm việc được thoải mái sẽ phát huy được sức sáng tạo nên chất lượng hiệu quả thực thi công vụ đạt kết quả tốt.

2.2.3. Đánh giá kết quả thực thi công vụ của cán bộ, công chức phường

Để đánh giá kết quả thực thi công vụ của CBCC phường, trước tiên tác giả dựa vào số liệu trong báo cáo đánh giá xếp loại CBCC phường năm 2024 của Phòng Nội vụ quận Hải An và tiến hành khảo sát thực tế tại 8 phường.

Biểu đồ 2.3. Kết quả thực thi công vụ của CBCC phường

Kết quả đánh giá tại Phòng Nội vụ (xem biểu đồ 2.3), chủ yếu CBCC phường được xếp loại là hoàn thành tốt nhiệm vụ (chiếm 75,90%). CBCC hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực chỉ chiếm có 1,60% và khi được hỏi về các trường hợp này thì Trưởng phòng Nội vụ và cán bộ các phường trả lời chủ yếu CBCC được xếp loại này là do CBCC trong năm nghỉ ốm đau nhiều hoặc bị kỷ luật (chủ yếu rơi vào công chức) chứ không phải đánh giá là do năng lực của CBCC bị hạn chế.

Tiếp theo để đánh giá kết quả thực thi công vụ của CBCC phường, tác giả sử dụng phương pháp điều tra xã hội học bằng cách phát phiếu điều tra cho lãnh đạo phường và công chức phường. Kết quả là trên 80% số người được hỏi đánh giá cán bộ phường thực hiện tốt kết quả công việc, dưới 20% đánh giá cán bộ chưa thực hiện tốt kết quả công việc do đã cao tuổi, trình độ kém làm việc theo lối mòn; 70% số người được hỏi đánh giá công chức phường hiện nay chưa chủ động trong công việc, luôn ở trong thế bị động, cấp trên bảo sao thì làm vậy; đồng thời thực hiện chế độ báo cáo công việc với cấp trên chưa kịp thời. Giữa các đồng nghiệp với nhau vẫn còn tình trạng ghen ghét, đố kỵ nhau. Trên 90% số người được hỏi đều cho rằng chất lượng tham mưu ban hành văn bản của công chức phường chưa tốt. Trên 50% số người được hỏi cho biết tiến độ thực hiện công việc của công chức phường nhiều khi còn chưa đảm bảo. Chất lượng công việc mới chỉ dừng ở mức đạt yêu cầu. (mới chỉ có từ 10 đến 15% người được hỏi cho là tốt), (xem bảng 2.10). Luận văn: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường.

Bảng 2.10. Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của CBCC phường

Kết quả theo khảo sát, CBCC phường đều đánh giá là chủ yếu công chức phường rơi vào tình trạng hoàn hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực 48,7%, còn 7% CBCC không hoàn thành nhiệm vụ (xem biểu đồ 2.4).

Biểu đồ 2.4. Kết quả thực thi công vụ của CBCC phường theo khảo sát

Như vậy có sự vênh nhau giữa số liệu thu thập từ các báo cáo tại 8 phường và kết quả khảo sát bằng phiếu điều tra. Lý do của vấn đề này nằm ở chỗ công tác đánh giá CBCC hiện nay mặc dù đã có tiến bộ hơn các năm trước (những năm trước CBCC phường được đánh giá đều là hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và hoàn thành tốt nhiệm vụ, không có hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về mặt năng lực hay không hoàn thành nhiệm vụ) nhưng vẫn còn mang tính hình thức, chưa phản ánh thực chất, chất lượng của CBCC phường. Trên thực tế kết quả thực thi công vụ của CBCC phường còn chưa cao. Điều này càng được khẳng định khi “Đề án Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của chính quyền cơ sở tại thành phố Hải Phòng, giai đoạn 2020 – 2025, định hướng đến 2030” đưa ra nhận xét:

“Quản lý nhà nước trong lĩnh vực: xây dựng, trật tự đô thị, đất đai, kinh tế, tài chính còn bộc lộ không ít hạn chế, yếu kém, có nơi còn buông lỏng, vi phạm pháp luật, làm trái quy định của nhà nước, kỷ cương, kỷ luật hành chính ở một số nơi chưa nghiêm; hiệu lực, hiệu quả hoạt động của một số chính quyền cơ sở chưa cao, chưa đáp ứng với yêu cầu phát triển của thành phố, địa phương” (Đề án Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của chính quyền cơ sở tại thành phố Hải Phòng, giai đoạn 2020 – 2025, định hướng đến 2030, Thành ủy Hải Phòng, 2020, tr.12). [47]

2.2.4. Sự hài lòng của người dân

Để đánh giá sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ công do CBCC phường cung cấp, tác giả sử dụng phương pháp điều tra xã hội học kết hợp với phỏng vấn trực tiếp người dân, kết quả xem bảng 2.11.

Bảng 2.11. Đánh giá mức độ hài lòng của người dân

Như vậy có thể thấy phần lớn người dân đều đánh giá chất lượng CBCC phường chưa tốt (chưa đạt yêu cầu là 35%), mới chỉ dừng ở mức đạt yêu cầu là 48,8%, còn lại tốt 16,3%. Phỏng vấn trực tiếp một số người dân tại bộ phận “một cửa” của UBND thuộc 8 phường, kết quả là đại bộ phận người dân đều cho biết, từ khi thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông”, “một cửa liên thông hiện đại” thì việc giải quyết công việc cho người dân đã tốt hơn rất nhiều so với trước đây. CBCC phường chủ yếu là người trẻ, nhanh nhẹn, giao tiếp cởi mở. Tuy nhiên thì trình độ xử lý công việc của đội ngũ này còn hạn chế (80% người được hỏi đánh giá ở mức trung bình), tinh thần trách nhiệm trong việc giải quyết công việc chưa cao (72,5% người được hỏi đánh giá ở mức bình thường), đặc biệt do công chức còn trẻ nên chưa có kinh nghiệm giao tiếp với người già, hướng dẫn người dân nhiều khi chưa được tận tình, chu đáo (52%), nhiều tình huống phát sinh công chức phường chưa giải quyết ngay được (61,2% người được hỏi đánh giá kỹ năng xử lý tình huống của công chức phường là chưa thành thạo), nên không đảm bảo thời gian quy định (38,8%), dẫn đến việc người dân phải đi lại nhiều lần (57,5%).

Chính những điều đó làm người dân chưa được hài lòng (52%) với chất lượng phục vụ của công chức phường (xem biểu đồ 2.5).

Biểu đồ 2.5. Đánh giá sự hài lòng của người dân

2.3. Các hoạt động nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường Luận văn: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường.

2.3.1. Quy hoạch, tạo nguồn cán bộ, công chức phường

Xây dựng kế hoạch quy hoạch, tạo nguồn CBCC là công việc thường xuyên, trọng yếu hàng năm trong công tác cán bộ. Quy hoạch đã tạo được sự chủ động, có tầm nhìn chiến lược vững chắc trong công tác cán bộ, đảm bảo tính kế thừa, phát triển và sự chuyển biến liên tục, vững vàng giữa các thế hệ cán bộ, giữ vững đoàn kết nội bộ và sự ổn định chính trị. Cơ bản khắc phục tình trạng hẫng hụt về nguồn nhân sự cấp ủy, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cho cả hệ thống chính trị. Chuẩn bị từ xa, tạo nguồn cán bộ cơ sở để đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ CBCC; phòng ngừa tư tưởng cơ hội, chạy theo quy hoạch; không máy móc, cứng nhắc trong xây dựng và thực hiện quy hoạch. Qua đó chuẩn bị đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu sự nghiệp CNH-HĐH, xây dựng, phát triển quận, phường trong thời gian tới.

Quy hoạch CBCC là việc lập dự án, xây dựng quy trình đồng bộ các chủ trương, biện pháp tạo nguồn để xây dựng đội ngũ CBCC; dự kiến bố trí, sắp xếp đội ngũ CBCC trong một thời gian nhất định theo trình tự hợp lý nhằm xây dựng chiến lược lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, luân chuyển, đề bạt hoặc giới thiệu công chức ứng cử các chức danh lãnh đạo, quản lý.

Căn cứ hướng dẫn của Trung ương, thành phố, quận, Đảng ủy các phường đã triển khai thực hiện tốt việc quy hoạch đội ngũ cán bộ kế cận có năng lực và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, có đạo đức, phẩm chất chính trị tốt, đảm bảo cơ cấu về độ tuổi, tỷ lệ cán bộ nữ cũng như tính ổn định và tính kế thừa, xây dựng kế hoạch và tiến hành đào tạo, bồi dưỡng để đạt chuẩn theo quy định, đồng thời tổ chức bồi dưỡng kỹ năng, phương pháp công tác, công vụ nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, có phẩm chất tốt và đủ năng lực thi hành công vụ. Công tác quy hoạch tạo nguồn CBCC được thực hiện tương đối tốt, đội ngũ CBCC được đưa vào quy hoạch có phẩm chất chính trị, đạo đức, có trình độ học vấn, chuyên môn cao, đều là đảng viên.

Những năm qua, Quận ủy thường xuyên quan tâm đến công tác cán bộ, đã có nhiều chủ trương, giải pháp nâng cao chất lượng và năng lực thực tiễn của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong toàn quận, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở, do đó, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở quận Hải An có nhiều chuyển biến tích cực.

Nhiệm kỳ 2019-2024, công tác quy hoạch cán bộ cấp phường được Ban Thường vụ Quận ủy chú trọng, cơ bản bảo đảm được số lượng, chất lượng. Cụ thể, quy hoạch cán bộ đối với chức danh bí thư, phó bí thư đảng uỷ, chủ tịch, phó chủ tịch UBND các phường giai đoạn 2019-2024 có 118 lượt cán bộ bằng 63 người, trong đó cấp trưởng có 46, cấp phó có 72. Tỷ lệ nữ có 8, chiếm 12,7%; tuổi bình quân: 40,7 tuổi (xem bảng 2.12). Luận văn: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường.

Bảng 2.12. Đánh giá công tác quy hoạch của CBCC phường

Độ tuổi bình quân của đội ngũ cán bộ chủ chốt khối phường trong quận có sự thay đổi, trẻ hóa ở các năm sau. Độ tuổi bình quân năm 2019 của Bí thư đảng ủy phường là 48,75 tuổi, Phó bí thư là 45,57 tuổi, Chủ tịch UBND phường là 50,25 tuổi, Phó chủ tịch là 41,84 tuổi. Đến năm 2024, tuổi bình quân của Bí thư đảng ủy là 46 tuổi (giảm 2,75 tuổi), Phó bí thư đảng ủy là 41,3 tuổi (giảm 4,27 tuổi), Chủ tịch UBND phường là 43,86 tuổi (giảm 6,45 tuổi), Phó chủ tịch UBND phường là 39 tuổi (giảm 2,84 tuổi). Trong thời gian qua, Quận ủy đặc biệt chú trọng đến trẻ hóa đội ngũ cán bộ, bảo đảm tính kế thừa và hoạt động có tính liên tục. Theo đó, cấp ủy cơ sở đã tích cực, chủ động làm tốt công tác chuẩn bị nhân sự, quan tâm đội ngũ cán bộ trẻ, có năng lực tham gia các chức vụ chủ chốt. [27]

Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quy hoạch cán bộ tại các phường của quận vẫn còn những hạn chế như: Việc xây dựng quy hoạch một số phường chưa có tính khả thi, người được quy hoạch còn thiếu và yếu về kinh nghiệm, chưa đủ điều kiện vẫn đưa vào quy hoạch, quy trình và cách làm quy hoạch chưa đồng bộ, còn lúng túng dẫn đến việc bổ nhiệm gặp khó khăn, việc nhận xét, đánh giá cán bộ trước khi đưa vào quy hoạch chưa chặt chẽ, việc phát hiện, giới thiệu nguồn cán bộ quy hoạch còn hạn chế. Công tác quản lý và thực hiện quy hoạch có nơi chưa được đề cao, chưa có sự gắn kết chặt chẽ giữa quy hoạch với đào tạo, bồi dưỡng bố trí, sử dụng cán bộ.

2.3.2. Tuyển dụng cán bộ, công chức phường

Công tác tuyển dụng công chức là việc làm thường xuyên và là một trong những nội dung quan trọng quyết định đến chất lượng CBCC tại thời điểm hiện tại cũng như trong tương lai.

Đối với cán bộ (công chức giữ chức vụ quản lý): Công tác tuyển dụng theo chế độ bầu cử, việc thực hiện bầu cử và phê chuẩn theo nguyên tắc tập trung dân chủ.

Đến ngày 30/10/2025, việc bầu các chức vụ Bí thư, phó bí thư Đảng ủy phường thực hiện theo Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 30/5/2023 của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Hướng dẫn số 26-HD/BTCTW ngày 18/8/2023 đã bầu tại đại hội Đảng bộ các phường năm 2024: 8 Bí thư Đảng ủy phường, 17 phó bí thư Đảng ủy phường.

Việc tổ chức bầu cử các chức vụ Chủ tịch, Phó chủ tịch HĐND; Chủ tịch, phó chủ tịch UBND phường thực hiện theo quy định tại Luật bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2024; Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2024: Đã bầu được 8 Chủ tịch HĐND, 08 Phó chủ tịch HĐND (Trong đó 8 chủ tịch HĐND kiêm nhiệm); 8 Chủ tịch UBND, 13 phó chủ tịch UBND (01 chủ tịch UBND do Bí thư Đảng ủy kiêm nhiệm). Luận văn: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường.

Đối với công chức chuyên môn phường: Công tác tuyển dụng được thực hiện theo 02 nguồn: Nguồn phân bổ của thành phố; nguồn thi tuyển, xét tuyển công chức theo quy định của Luật cán bộ công chức năm 2017 và Thông tư 06/TT-BNV ngày 30/10/2021 về việc hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn; Quyết định số 2604/2022/QĐ-UBND ngày 30/12/2022 của UBND thành phố Hải Phòng về việc Ban hành quy chế tổ chức tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn trên địa bàn thành phố; Quyết định 2605/2022/QĐ-UBND ngày 30/12/2022 về việc Ban hành quy định về tiêu chuẩn cụ thể công chức xã, phường, thị trấn và quản lý công chức xã phường, thị trấn trên địa bàn thành phố Hải phòng. Công tác tuyển dụng công chức được thực hiện theo một quy trình chặt chẽ, đảm bảo các nguyên tắc: Công khai, minh bạch, khách quan và đúng luật có tính cạnh tranh hạn chế những tiêu cực nảy sinh trong quá trình tuyển dụng. Các tiêu chuẩn tuyển dụng phải xuất phát trên cơ sở yêu cầu tiêu chuẩn của từng công việc, vị trí việc làm, chức danh đảm nhận, phải bám sát yêu cầu của tổ chức và bám sát định hướng chung của công tác tổ chức cán bộ, chú trọng đến phẩm chất đạo đức, năng lực công tác và phải trẻ hóa công chức.

Bảng 2.13. Kết quả thi tuyển công chức giai đoạn 2021-2024

Qua bảng số liệu trên ta thấy trong giai đoạn từ năm 2021-2024, UBND quận đã tổ chức 02 lần thi tuyển công chức, năm 2021: 41 công chức, năm 2023: 28 công chức (trong đó có 01 công chức xét tuyển chức danh chỉ huy trưởng quân sự theo Quyết định 2605/QĐ-UBND của UBND thành phố Hải Phòng).

Trình độ công chức ngày càng tăng, năm 2021 có 19 công chức trúng tuyển có trình độ trung cấp, năm 2023 tất cả công chức trúng tuyển đều có trình độ đại học.

Qua nắm bắt và điều tra, tất cả các công chức sau khi trúng tuyển đều được bố trí, phân bổ về các phường theo từng chức danh thi tuyển công chức, các công chức đều được bố trí công việc theo đúng chức danh thi tuyển và chuyên môn đào tạo, phù hợp với vị trí, chức danh đảm nhận.

Công chức nguồn: Áp dụng chính sách thu hút nhân tài, ưu tiên những người có trình độ đại học chính quy và trên đại học, có chuyên ngành đào tạo phù hợp với chức danh công chức phường cần tuyển dụng về công tác tại các phường, được cơ quan có thẩm quyền quyết định tuyển dụng và phân công về công tác tại các phường, đến này quận Hải An đã tiếp nhận 08 công chức từ thành phố về các phường công tác.

Từ năm 2021 đến nay, với chính sách thu hút người có trinh độ đại học trở lên về công tác, lượng công chức tuyển dụng về các phường trên địa bàn quận đều là những người trẻ, có trình độ đại học, tăng dần chất lượng, tính năng động, ham học hỏi cho đội ngũ công chức phường dần thay thế đội ngũ công chức có trình độ trì trệ, yếu kém.

2.3.3. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức phường Luận văn: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường.

Bất kỳ nền công vụ nào cũng đều chú trọng đến công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC nhằm trang bị những kiến thức, kỹ năng, phương pháp nâng cao năng lực thực thi công vụ đảm bảo thực hiện hiệu quả chức năng, nhiệm vụ được giao, góp phần xây dựng đội ngũ CBCC chuyên nghiệp có đủ năng lực xây dựng nền hành chính tiên tiến, hiện đại.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC phường trong những năm qua đã được Quận ủy và UBND quận quan tâm. Trong thời gian qua công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC đã có những chuyển biến tích cực và từng bước ổn định đi vào nề nếp. Trên cơ sở Kế hoạch số 452/KH-UBND ngày 30/01/2021 của Ủy ban nhân dân thành phố về đào tạo, bồi dưỡng CBCC thành phố giai đoạn 2021-2024. Hàng năm UBND quận đã tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức cho CBCC cấp phường để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ trên các lĩnh vực đảm nhiệm và về kỹ năng giao tiếp trong thực thi công việc.

Bảng 2.14. Kết quả đào tạo, bồi dưỡng CBCC giai đoạn 2021-2024

Qua bảng 2.14 ta thấy giai đoạn 2021-2024 hàng năm quận Hải An thường xuyên tổ chức các lớp, các khóa đào tạo, bồi dưỡng một số nghiệp vụ, kỹ năng cần thiết trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ CBCC phường, ngoài ra còn tổ chức các lớp như tin học văn phòng, ngoại ngữ, lớp bồi dưỡng lý luận chính trị…

Bên cạnh những kết quả đạt được công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC còn tồn tại một số hạn chế: Công tác đào tạo, bồi dưỡng chưa đồng bộ, hợp lý, cách thức xử lý công vụ chưa được định hướng rõ, một số kỹ năng liên quan đến tình huống xử lý công việc, xử lý trong quá trình tiếp công dân vẫn chưa được quan tâm, các khóa đào tạo cho CBCC phường còn có những nội dung chưa phù hợp thực tế, chưa chú trọng đến đặc thù riêng của từng vị trí công việc của CBCC, đào tạo chưa thực sự gắn với sử dụng.

2.3.4. Công tác sử dụng cán bộ, công chức phường

Theo quy định của Nghị định 92/2018/NĐ-CP của Chính phủ, Quận Hải An được bố trí tối đa 194 CBCC cấp phường. Tính đến ngày 30/10/2025, Quận đã bố trí 189 chức vụ, chức danh CBCC. Trong đó 82 cán bộ giữ chức vụ chính (9 cán bộ giữ chức vụ kiêm nhiệm); 107 công chức chuyên môn. So với định mức tối đa quy định tại Nghị định 92/2018/NĐ-CP thì còn thiếu 5 chức vụ, chức danh cán bộ, công chức cấp phường (01 cán bộ và 4 công chức chuyên môn). [11]

Theo thống kê đến tháng 10/2025 CBCC phường của quận Hải An phần lớn CBCC được bố trí đều cơ bản đảm bảo đúng tiêu chuẩn, phù hợp với năng lực, sở trường, phẩm chất, nguyện vọng, còn một phần nhỏ cán bộ, công chức tuyển dụng theo tiêu chuẩn cũ nên trình độ còn hạn chế, chưa đáp ứng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với công việc được giao.

Trong giai đoạn 2021-2025, quận Hải An đã tổ chức tuyển dụng bằng hình thức thi tuyển và xét tuyển (đối với chức danh chỉ huy trưởng quân sự xét tuyển theo Quyết định 2605/QĐ-UBND của UBND thành phố Hải Phòng) một cách chặt chẽ nhằm lựa chọn những công chức có trình độ từ đại học trở lên theo Quyết định 2604/QĐ-UBND của UBND thành phố Hải Phòng.

Công tác cán bộ xét đến cùng là cách sử dụng đội ngũ CBCC cho phù hợp và có hiệu quả đội ngũ này nhằm phát huy năng lực, sở trường của họ để luôn thực hiện và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Chính vì vậy công tác bố trí, sử dụng, đề bạt, đánh giá, sắp xếp, luân chuyển, quản lý và chính sách thu hút nhân tài về địa phương công tác đều phải công khai, minh bạch, chính xác và công bằng. Luận văn: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường.

Tuy nhiên việc sử dụng CBCC vẫn còn tồn tại việc CBCC có trình độ quản lý và chuyên môn chưa phù hợp với vị trí công tác và yêu cầu thực tiễn của công việc nên hiệu quả công việc chưa cao, do công tác quy hoạch, đào tạo, sử dụng chưa công bằng và chưa tạo điều kiện cho CBCC có trình độ năng lực thực sự được phát triển.

Công tác sử dụng cán bộ các khâu then chốt chưa có mối quan hệ chặt chẽ để tạo thành một quy trình thống nhất, công tác bố trí, sử dụng CBCC còn nhiều hạn chế.

Do đặc thù của quận mới được thành lập từ xã nên phường, phần lớn công tác CBCC vẫn do trưởng thành từ các phong trào thanh niên, cán bộ thôn, xóm nói cách khác là sống lâu nên lão làng, chưa có trình độ quản lý, trình độ chuyên môn, sau khi được bổ nhiệm giữ chức vụ mới đi học tại chức, học từ xa. Do đó về trình độ quản lý và trình độ chuyên môn vẫn còn cán bộ yếu kém, thực hiện công việc theo kinh nghiệm, lối mòn, không đáp ứng được công việc thực tế hiện nay.

Ở một số phường vẫn còn nhiều CBCC chuyên môn giỏi, có năng lực quản lý, điều hành, có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt nhưng vẫn chưa được đề bạt, bổ nhiệm vào đúng vị trí mà lại bố trí công tác trái chuyên môn dẫn đến không thể phát huy sở trường, năng lực công tác của bản thân, nhiều CBCC hạn chế về năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức lại được bổ nhiệm, đảm nhận những vị trí chủ chốt hoặc lãnh đạo quản lý.

Công tác quy hoạch cán bộ chưa làm tốt, còn quy hoạch cán bộ chưa đủ tiêu chuẩn; công tác đào tạo chưa hiệu quả, đào tạo, bồi dưỡng chưa gắn với sử dụng, chưa có nhiều CBCC được đào tạo chuyên môn ở trình độ cao, chưa có chính sách thu hút đội ngũ CBCC có trình độ cao về địa phương công tác; công tác quản lý đội ngũ CBCC chưa khoa học, không thống nhất tiêu chí, phương thức quản lý; công tác bổ nhiệm, đề bạt, điều động, luân chuyển CBCC còn nhiều hạn chế.

2.3.5. Điều động, luân chuyển cán bộ, công chức phường

Công tác điều động luân chuyển CBCC là phương thức để rèn luyện, bồi dưỡng, thử thác cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ trẻ triển vọng. Xác định được điều đó Quận ủy, HĐND, UBND quận, các cấp ủy Đảng, cán bộ nhận thức sâu sắc, toàn diện về ý nghĩa, tầm quan trọng, tính chiến lược của công tác luân chuyển cán bộ do đó đã tập trung đẩy mạnh công tác luân chuyển cán bộ, tăng cường cán bộ cho những nơi gặp khó khăn về nhân sự chủ chốt. Đồng thời, làm tốt công tác luân chuyển cán bộ với chuẩn bị nhân sự cấp ủy, HĐND và UBND các cấp.

Trong những năm qua, Quận ủy, UBND quận kịp thời điều động, luân chuyển CBCC từ cấp quận (Phó Chủ tịch UBND hoặc lãnh đạo các phòng, công chức chuyên môn thuộc khối Đảng, chính quyền) đến nhận nhiệm vụ và bố trí giữ những chức vụ chủ chốt tại cấp phường (Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND,…), CBCC tại các phường được điều động, luân chuyển lên các phòng, ban khối Đảng, chính quyền.

Trong 5 năm 2021-2025, Quận ủy, UBND quận đã điều động, luân chuyển 15 CBCC cấp quận về giữ các chức vụ chủ chốt ở các phường; điều động, luân chuyển 13 CBCC cấp phường lên quận giữ các chức vụ lãnh đạo, trưởng, phó các phòng, ban của quận. Luận văn: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường.

Hầu hết CBCC được điều động, luân chuyển là những người có năng lực, có kiến thức toàn diện tích cực học tập, chịu khó phấn đấu, rèn luyện. Cán bộ được luân chuyển đa phần trẻ tuổi, được đào tạo cơ bản đạt chuẩn, tiếp cận nhanh với công việc, điều kiện, môi trường làm việc mới, phát huy năng lực, sở trường, tích luỹ được kinh nghiệm thực tiễn và thể hiện được bản lĩnh nên sớm tạo được uy tín và trưởng thành tại nơi công tác mới. Cán bộ được luân chuyển không phải là người địa phương nên trong giải quyết công việc công tâm, khách quan hơn.

2.3.6. Đánh giá, xếp loại cán bộ, công chức phường

Việc đánh giá, xếp loại chất lượng CBCC thực hiện theo quy định của Luật cán bộ, công chức và Nghị định số 56/2024/NĐ-CP, ngày 09 tháng 06 năm 2024 của Chính phủ về đánh giá và phân loại CBCC, viên chức, các văn bản hướng dẫn của Bộ Nội vụ, UBND thành phố Hải Phòng và UBND quận Hải An. Việc đánh giá, xếp loại chất lượng CBCC là việc làm thường xuyên hàng năm để đánh giá năng lực, trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức, chính trị làm căn cứ cho việc xếp loại, nhận xét, đánh giá, bố trí, sử dụng, đào tạo bồi dưỡng, bổ nhiệm, luân chuyển, điều động CBCC.

Tuy nhiên công tác đánh giá CBCC vẫn mang nặng tính hình thức vẫn còn nặng bệnh “dĩ hòa vi quý”, sợ va chạm, còn có biểu hiện nể nang, né tránh, sợ mất lòng hoặc nắm không chắc cán bộ, không đánh giá được kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của cán bộ nên đánh giá, phân loại cán bộ thiếu công tâm, công khai, minh bạch.

Gần đây, có một số cán bộ được cấp có thẩm quyền đề bạt, bổ nhiệm, nhưng chỉ một thời gian ngắn phải thay thế, cho thôi giữ chức vụ vì vi phạm kỷ luật do sự đánh giá cán bộ không chặt chẽ, thiếu công tâm như chủ tịch phường buộc thôi việc do không có bằng cấp.

Để đánh giá và sử dụng đúng cán bộ thì tập thể và cá nhân được giao chức trách, nhiệm vụ quản lý cán bộ là rất quan trọng; nhưng từ trước đến nay, các cơ quan này chưa làm tốt khâu đánh giá cán bộ trong tham mưu cho cấp ủy, người đứng đầu đơn vị. Có cơ quan chức năng chỉ căn cứ vào việc cung cấp thông tin và đánh giá nhận xét của cán bộ phụ trách địa bàn nhưng thiếu khách quan, trung thực, thậm chí cán bộ đó bị chi phối bởi “lợi ích nhóm”, một số bộ phận CBCC năng lực yếu, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ nhưng vẫn được đánh giá ở mức cao, nên việc tham mưu, bố trí, sử dụng cán bộ không đúng với năng lực cán bộ, sự tín nhiệm của nhân dân, của đông đảo cán bộ, đảng viên, gây băn khoăn, lo lắng trong cấp ủy, nhân dân địa phương, đơn vị.

2.3.7. Khen thưởng, kỷ luật, thôi việc, nghỉ hưu đối với CBCC phường Luận văn: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường.

Việc khen thưởng CBCC chính quyền thực hiện theo quy định của Luật Thi đua, khen thưởng, Nghị định số 42/2019/NĐ-CP, Thông tư số 02/2020/TT- BNV của Bộ Nội vụ.

Việc xử kỷ luật đối với CBCC chính quyền thực hiện theo quy định của Đảng, Luật cán bộ công chức, Luật tổ chức HĐND và UBND từ năm 2021-2023, từ năm 2024 theo Luật tổ chức chính quyền địa phương, Nghị định số 35/2014/NĐ-CP, Nghị định số 112/2020/NĐ-CP.

Công tác xử lý kỷ luật đối với CBCC có vi phạm cũng được thực hiện nghiêm minh: Năm 2021: buộc thôi việc 01; Năm 2022: khai trừ Đảng: 01, buộc thôi việc 02. Năm 2023: Cảnh cáo 01, buộc thôi việc 01; năm 2024: khai trừ đảng và buộc thôi việc: 01.

Việc giải quyết cho CBCC chính quyền thôi việc được thực hiện đúng theo quy định của Luật Cán bộ công chức, Luật tổ chức HĐND và UBND, Nghị định số 112/2020/NĐ-CP, Luật tổ chức chính quyền địa phương 2024. Từ ngày 01/01/2021 đến ngày 30/10/2025, đã giải quyết thôi việc cho 05 CBCC cấp phường (04 cán bộ, công chức).

Việc CBCC chính quyền nghỉ hưu thực hiện theo quy định của Bộ Luật lao động, Nghị định số 112/2020/NĐ-CP. Từ ngày 01/01/2021 đến ngày 30/10/2025, đã giải quyết nghỉ hưu theo chế độ cho 29 CBCC cấp phường (14 cán bộ, 15 công chức).

2.3.8. Chế độ tiền lương, phụ cấp, trợ cấp đối với CBCC phường

Việc thực hiện cải cách tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ, được tổ chức thực hiện kịp thời, đúng quy định về các chế độ chính sách: Nâng lương thường xuyên, nâng lương trước thời hạn, xếp lại lương theo trình độ đào tạo … đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, chế độ phụ cấp đối với những người hoạt động không chuyên trách ở phường theo đúng quy định tại Nghị định số 92/2018/NĐ-CP của Chính phủ. Tuy nhiên, Ủy ban nhân dân quận chưa có chính sách đãi ngộ để thu hút và sử dụng những người có tâm huyết, có tài năng về công tác tại quận.

Chế độ phụ cấp thực hiện theo đúng Nghị định 92/2018/NĐ-CP: Bí thư Đảng ủy phường được hưởng chế độ phụ cấp chức vụ lãnh đạo hệ số 0,3; Phó bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND, UBND phường được hưởng chế độ phụ cấp chức vụ lãnh đạo hệ số 0,25; Phó Chủ tịch HĐND, UBND, CT. UBMTTQ được hưởng chế độ phụ cấp chức vụ lãnh đạo hệ số 0,20; Bí thư Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội liên hiệp Phụ nữ, Chủ tịch Hội Nông dân, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh hệ số 0,15 so với mức lương tối thiểu chung. Luận văn: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường.

Đối với cán bộ được phụ cấp theo đơn vị hành chính: 5 phường loại 1 hưởng mức phụ cấp 10%, 03 phường loại 2 được hưởng mức phụ cấp 5% trên mức lương hiện hưởng, cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung và hệ số chênh lệch bảo lưu (nếu có).

Cán bộ kiêm nhiệm mà giảm được số người tương ứng thì được hưởng chế độ phụ cấp kiêm nhiệm bằng 20% mức lương hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thâm niên vượt khung, hệ số chênh lệch bảo lưu (nếu có); trường hợp CBCC chính quyền kiêm nhiệm chức danh người hoạt động không chuyên trách mà giảm được người tương ứng trong số người hoạt động không chuyên trách thì được hưởng phụ cấp kiêm nhiệm hệ số 0,2 mức lương tối thiểu chung. Tính đến ngày 30/10/2025, có 02 Bí thư Đảng ủy kiêm Chủ tịch HĐND, 06 Phó Bí thư Đảng ủy kiêm Chủ tịch HĐND, 01 Bí thư Đảng ủy kiêm Chủ tịch UBND phường.

Cán bộ, công chức chính quyền cấp phường được hưởng chế độ phụ cấp công vụ bằng 25% mức lương hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có).

Chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế CBCC cấp phường được tham gia và hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế bắt buộc theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.

2.3.9. Công tác kiểm tra, giám sát CBCC phường trong thi hành công vụ

Trong những năm qua công tác kiểm tra, giám sát CBCC được lãnh đạo các cấp quan tâm, tăng cường công tác kiểm tra giám sát thực hiện nhiệm vụ, đặc biệt là trách nhiệm người đứng đầu của cơ quan nhà nước và chính quyền cấp dưới, nhất là chính quyền cấp phường. Chấn chỉnh tác phong làm việc, khắc phục tình trạng quan liêu, xa dân của đội ngũ cán bộ chính quyền. Tập trung củng cố chính quyền trong sạch vững mạnh. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực, chất lượng hiệu quả công tác của đội ngũ CBCC, đảm bảo đầy đủ chế độ chính sách để CBCC phường yên tâm công tác đạt hiệu quả cao.

Tuy nhiên công tác kiểm tra, giám sát chưa thực sự thường xuyên, chưa nắm bắt được tình hình thực tế tại địa phương, vẫn còn tình trạng nể nang, trong quá trình kiểm tra, tình trạng CBCC có thái độ phục vụ nhân dân chưa đúng mực, gây phiền hà, sách nhiễu cho nhân dân.

2.4. Đánh giá chung về thực trạng chất lượng nguồn nhân lực cán bộ, công chức phường quận Hải An Luận văn: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường.

2.4.1. Những kết quả đạt được

Trong những năm qua chất lượng nguồn nhân lực đội ngũ CBCC phường của quận Hải An đã được nâng lên cả về số lượng và chất lượng, đa số CBCC đã thể hiện được bản lĩnh chính trị vững vàng, có ý thức tự chủ, kiên định mục tiêu lý tưởng cộng sản, luôn trung thành với Đảng, được nhân dân tin tưởng ủng hộ.

  • Về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống

Đại đa số CBCC cấp phường của quận Hải An thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, ý thức kỷ luật tốt, tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, tận tụy phục vụ nhân dân, là đầy tớ trung thành của nhân nhân, nắm vững và chấp hành nghiêm chỉnh nội quy, quy chế của cơ quan, các quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn, những việc CBCC không được làm trong thực thi công vụ, chấp hành nghiêm chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước. Có đạo đức lối sống lành mạnh, phong cách, lề lối làm việc tiến bộ và hiệu quả, hạn chế tình trạng sách nhiễu, quan liêu, gây phiền hà, khó khăn đối với tổ chức, công dân trong giải quyết công việc, đảm bảo các hoạt động thực thi công vụ minh bạch, công khai. Chấp hành tốt sự phân công, điều động, luân chuyển của tổ chức.

  • Về năng lực chuyên môn và kỹ năng công tác

Đội ngũ CBCC phường đã có năng lực, trình độ chuyên môn, những kiến thức và kỹ năng cơ bản đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ được giao. Trong quá trình thực hiện công vụ là những người trực tiếp giải quyết với nhân dân nên đã phát huy vai trò, tình thần và trách nhiệm, kỹ năng trong ứng xử, giao tiếp, có thái độ đúng đắn trong quá trình thực thi công vụ, có thái độ tích cực, ân cần, hòa nhã, không gây phiền hà, sách nhiễu trong thực thi công vụ. Biết vận dụng những kiến thức chuyên môn được đào tạo, các văn bản, quy định của nhà nước vào thực tế giải quyết công việc. Từ đó hiệu quả và chất lượng trong thực thi công vụ ngày càng được nâng cao, đáp ứng được yêu cầu của cơ chế quản lý mới.

Công tác tuyển dụng và sử dụng CBCC được quan tâm, sử dụng người có đủ năng lực, từng bước trẻ hóa và được đào tạo cơ bản, hạn chế tối đa việc bố trí CBCC chính quyền chưa qua đào tạo chuyên môn. Việc bố trí, sử dụng CBCC chính quyền đúng quy định, bố trí đúng người, đúng việc, đúng trình độ năng lực, bố trí đúng chỗ, đúng nhu cầu và đòi hỏi của công việc. CBCC chính quyền được xếp lương theo ngạch, bậc, hệ số tương ứng với trình độ đào tạo; làm cho ngày càng nhiều CBCC tham gia đào tạo, chất lượng CBCC chính quyền được nâng lên năm sau cao hơn năm trước.

Việc đào tạo, bồi dưỡng CBCC được các ngành, các cấp quan tâm và tập trung đầu tư nên số CBCC có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ từ trung cấp trở lên, số CBCC đạt chuẩn theo quy định ngày càng tăng.

Thực hiện tốt công tác quy hoạch, chuẩn bị đội ngũ CBCC kế cận, từng bước thực hiện trẻ hóa đội ngũ CBCC cấp phường nên tỷ lệ CBCC trẻ tuổi (dưới 30 tuổi) ngày càng tăng. Luận văn: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường.

Chất lượng đội ngũ CBCC phường còn được phản ánh thông qua kết quả điều tra khảo sát về thực hiện nhiệm vụ của CBCC, trong đó cho thấy gần 70% CBCC thực hiện công việc được nhân dân đánh giá là tốt và đạt yêu cầu, trên 90% người dân trả lời CBCC có mối quan hệ tốt với cấp trên. Về các kỹ năng làm việc kỹ năng có tỷ lệ được đánh giá là thành thạo và rất thành thạo cao hơn là chưa thành thạo như kỹ năng giao tiếp, dân vận, tiếp nhận và xử lý thông tin, duy chỉ có kỹ năng xử lý tình huống còn bị nhân dân đánh giá chưa cao. Thái độ phục vụ cũng được đánh giá là tận tình chu đáo, đặc biệt đánh giá về thái độ phục vụ trong giải quyết công việc không gây phiền hà, sách nhiễu là 93,7%.

2.4.2. Những tồn tại, hạn chế

Chất lượng nguồn nhân lực đội ngũ CBCC cấp phường của quận Hải An đã được nâng cao, tuy nhiên vẫn một số tồn tại.

  • Về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống.

Đa phần đội ngũ CBCC có phẩm chất tốt, lối sống lành mạnh, có trách nhiệm với công việc, chấp hành tốt chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, tuy nhiên vẫn còn một bộ phận CBCC có phẩm chất chính trị, đạo đức chưa gương mẫu trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước. Còn có CBCC hạn chế về tinh thần trách nhiệm, thái độ giao tiếp, ứng xử, thiếu ý thức trách nhiệm, còn hạch sách, cửa quyền, hách dịch vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, không nhỏ bộ phận CBCC còn sa sút về phẩm chất đạo đức vi phạm nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị, tham gia vào các tệ nạn xã hội như lô đề, đánh bạc, tham nhũng, quan liêu dẫn đến bị kỷ luật như phó chủ tịch phường Đông Hải 1 bị cách chức do đánh bạc, Bí thư Đảng ủy phường Đằng Hải phải bỏ trốn vì nợ nần…

  • Về năng lực chuyên môn, kỹ năng công tác.

Phần lớn CBCC được trưởng thành từ phong trào, chưa được đào tạo bài bản, khi tiếp nhận công việc mới bắt đầu đi học tại chức, từ xa, liên thông do vừa học vừa làm nên chất lượng kiến thức, trình độ chuyên môn không được chuyên sâu, các chứng chỉ, bằng cấp chỉ mang tính hợp thức hóa, không phản ánh thực chất của người học. Một bộ phận CBCC chưa có tính chuyên nghiệp còn hạn chế về năng lực quản lý, kỹ năng thực thi công vụ.

Năng lực thực tế của một số CBCC chính quyền còn yếu so với yêu cầu nhiệm vụ, chưa thật sự nắm vững đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, còn lúng túng, bất cập về kiến thức, năng lực và kỹ năng công tác, công tác tham mưu kém, còn ỷ lại vào cấp trên, ảnh hưởng không nhỏ đến việc thụ lý, giải quyết công viêc chung, nhất là về thủ tục hành chính, làm cho một số tổ chức, công dân thiếu hài lòng như trình độ xử lý công việc được đánh giá trung bình 80%, kỹ năng xử lý tình huống chưa thành thạo gần 50%. Luận văn: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường.

Nhiều CBCC cao tuổi có nhiều kinh nghiệm trong công tác nhưng đội ngũ này có một sức ỳ lớn, làm việc một cách máy móc, thiếu sáng tạo, chậm tiếp thu những kiến thức chuyên môn mới, làm việc theo cảm tính, lối mòn, làm theo kinh nghiệm, tiếp cận công nghệ thông tin chậm, không biết ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết công việc nên chưa đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách hành chính hiện nay. Một số CBCC trẻ tuổi nhiệt tình, năng động nhưng thiếu kinh nghiệm thực tiễn, xử lý công việc chưa chính xác, còn nhiều thiếu sót và tinh thần học hỏi chưa cao, nên nhiều khi công việc còn trì trệ ở một số khâu nên ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết công việc cho nhân dân.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ còn mang tính hình thức, mang nặng tính lý thuyết, nặng về bằng cấp, mang tính thủ tục, hoàn thiện hồ sơ, ít có kinh nghiệm thực tiễn, chưa phù hợp với thực tế, chưa thực hiện bồi dưỡng về quản lý nhà nước cho CBCC cấp phường; số lượng các lớp bồi dưỡng kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ được tổ chức còn ít, chưa đáp ứng nhu cầu học tập cho CBCC cấp phường. Cán bộ, công chức sau đào tạo, bồi dưỡng trình độ năng lực được nâng lên, nhưng chủ yếu tham gia các khóa đào tạo theo loại hình vừa làm vừa học, đào tạo từ xa nên chất lượng sau đào tạo không cao, vẫn còn CBCC chưa qua đào tạo; việc ứng dụng kiến thức chuyên môn, công nghệ thông tin được đào tạo vào công việc còn hạn chế.

Tình trạng tuyển dụng và bố trí CBCC theo ý chủ quan của lãnh đạo vẫn còn xảy ra ở một số phường, Việc lựa chọn cán bộ vào các vị trí quan trọng, đứng đầu vẫn còn thiếu dân chủ, công khai minh bạch, kể cả việc bố trí người không đủ tiêu chuẩn nên phải đào tạo, gây tốn kém, lãng phí.

Công tác điều động, luân chuyển còn hạn chế, chưa thường xuyên thực hiện việc điều động CBCC giữa các phường trong quận với nhau hoặc điều động CBCC quận về phường, đa số cán bộ, công chức phường là người địa phương.

2.4.3. Nguyên nhân của những tồn tại hạn chế Luận văn: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường.

Công tác tạo nguồn CBCC phường chưa được quan tâm đúng mức. Chính quyền phường chưa dự báo được nhu cầu CBCC trong tương lai để chủ động tạo nguồn đưa đi đào tạo, bồi dưỡng để bổ sung, thay thế về mặt lâu dài.

Chế độ tuyển dụng còn nhiều điểm bất cập về nội dung và hình thức thi tuyển, quy trình đánh giá công chức tập sự. Đồng thời, công tác tuyển dụng trong thời gian qua vẫn chưa thực sự đảm bảo tính khách quan, một số công chức được tuyển dụng nhờ vào các mối quan hệ quen biết và tiền của.

Việc bố trí CBCC ở một số phường chưa bám sát tiêu chuẩn chức danh. Một phần là do lịch sử để lại (số lượng này ít và đang sắp đến tuổi về hưu), phần còn lại là do quen thân, dòng tộc do đó chưa chuẩn hóa theo quy định và yêu cầu, từ đó không đảm bảo hiệu quả của công việc.

Một số công chức không được làm việc đúng chuyên môn được đào tạo. Hiện còn 20,82% công chức có trình độ chuyên môn không phù hợp với chức danh đảm nhiệm (theo Báo cáo thống kê số lượng, chất lượng công chức phường năm 2024) nên không phát huy được sở trường của họ dẫn đến họ không hăng say làm việc và hiệu quả công việc không cao. [56]

Một số phường chưa làm tốt công tác phân công công việc cho từng CBCC cho nên dẫn đến sự chồng chéo, trùng lặp công việc hoặc thiếu trách nhiệm, đùn đẩy công việc cho nhau. Khi CBCC không hiểu được rõ về nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền lợi của mình thì việc thực thi công vụ sẽ không đem lại hiệu quả cao.

Tính quy hoạch, kế hoạch về công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC phường chưa cao, dẫn đến có đối tượng được học nhiều lớp, song cũng có những đối tượng ít được đào tạo, bồi dưỡng. Thành phố chưa thực sự quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng để trang bị kiến thức về lý luận chính trị và quản lý nhà nước cho CBCC phường. Việc đào tạo còn mang nặng tính lý thuyết, chưa sát với tình hình thực tế ở địa phương. Chưa xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo vị trí việc làm và chức danh. Hiện nay mới đang triển khai đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh đối với công chức xã theo Quyết định số 1956/2019/QĐ-UBND, đồng thời thiếu các chương trình bồi dưỡng kỹ năng cần có cho CBCC phường. Mặt khác thành phố chưa xây dựng được hệ thống tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng CBCC phường. Luận văn: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường.

Các văn bản xác định lấy kết quả, hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ làm thước đo chủ yếu trong đánh giá cán bộ, nhưng lại chưa đưa ra được những tiêu chí quan trọng, cụ thể trong việc đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ cho từng chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý trên từng lĩnh vực. Công tác đánh giá CBCC nói chung và CBCC phường nói riêng chưa thực sự được coi trọng. Đánh giá CBCC vẫn còn hình thức, chưa phản ánh đúng được thực chất CBCC. Các tiêu chí đánh giá theo quy định tại Luật cán bộ, công chức năm 2017 và Nghị định 56/2024/NĐ-CP còn rất chung chung, không cụ thể, chưa phân định được thành tích hoặc hạn chế của cá nhân với tập thể dẫn đến đánh giá hoặc phân định trách nhiệm không rõ ràng, rất khó để có thể đánh giá được thực chất của CBCC, thẩm quyền đánh giá chưa hợp lý dẫn đến hiệu quả công tác đánh giá còn thấp.

Các quy định của Trung ương về chế độ, chính sách đối với CBCC phường chậm được đổi mới, mức phụ cấp thấp, chưa tương xứng với yêu cầu công việc, chưa có sức hấp dẫn đối với những người có trình độ đại học chính quy, những người khá giỏi về công tác tại phường. Lương thấp dẫn đến chất lượng cuộc sống không đảm bảo, CBCC phường không thể yên tâm công tác và phục vụ hết sức cho nền công vụ nhà nước, họ tìm cách có thêm thu nhập bằng cách đi làm thêm hoặc “lách luật” để đem lại lợi ích cho bản thân. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng CBCC.

Hiện nay còn một số phường có trụ sở xây dựng đã lâu, xuống cấp, hư hỏng nặng, không đảm bảo điều kiện làm việc. Một số phường chưa sắp xếp, bố trí phòng làm riêng cho từng bộ phận. Trang thiết bị, máy vi tính, cơ sở vật chất vẫn chưa đảm bảo điều kiện làm việc cho CBCC phường và hiệu quả sử dụng trang thiết bị, phương tiện được đầu tư chưa cao.

Công tác thanh tra, kiểm tra thực thi công vụ phường chưa được thực hiện thường xuyên nên những vấn đề sai phạm của CBCC phường chưa được uốn nắn, khắc phục kịp thời, cũng như chưa kịp thời động viên, khen thưởng đối với những CBCC làm việc có hiệu quả.

2.5. Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường.

Qua phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ CBCC phường thông qua các chỉ tiêu về chất lượng, số lượng, các tiêu chí về phẩm chất chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị, các kỹ năng trong thực thi công việc của CBCC. Tác giả nhận thấy thực trạng số lượng CBCC phường của quận Hải An tương đối ổn định, đảm bảo đầy đủ từng vị trí theo chức vụ, chức danh theo quy định; cơ cấu giới tính và độ tuổi hợp lý, hài hòa, có sự chuyển tiếp giữa các thế hệ, chất lượng CBCC ngày càng được nâng lên cả về phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị, trình độ quản lý nhà nước và kỹ năng được cải thiện.

Hiện nay còn một số nhỏ CBCC vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, chưa đạt chuẩn về trình độ chuyên môn, còn 2,7% CBCC chỉ có chứng chỉ sơ cấp, chưa qua đào tạo. Đồng thời, đối với số CBCC đạt chuẩn, thậm chí trên chuẩn (có bằng thạc sĩ) nhưng trình độ thực tế không phản ánh chính xác bằng cấp mà họ có, hình thức đào tạo đại học chủ yếu là học tại chức và từ xa. Phần lớn CBCC phường chưa được trang bị kiến thức lý luận chính trị và quản lý nhà nước, chưa thành thạo một số kỹ năng hành chính cần có.

Kết quả đánh giá thực thi công vụ của CBCC phường theo số liệu báo cáo của Phòng Nội vụ về đánh giá chất lượng CBCC hàng năm và qua điều tra xã hội học, khảo sát thực tế tại 8 phường, cơ bản CBCC phường hoàn thành tốt nhiệm vụ (75,0%), đánh giá về chất lượng CBCC và sự hài lòng của người dân về dịch vụ công, phần lớn chất lượng CBCC phường chưa tốt, chưa đạt yêu cầu là 35%, trình độ xử lý công việc còn hạn chế, tinh thần trách nhiệm trong giải quyết công việc chưa cao.

Ngoài ra một số hoạt động như công tác quy hoạch, tuyển dụng, đào tạo, đánh giá thực hiện công việc … đã có nhiều đổi mới có tầm nhìn chiến lược vững chắc, đảm bảo tính kế thừa, công tác thi tuyển công chức đảm bảo nguyên tắc công khai, minh bạch, khách quan, trình độ chuyên môn từ đại học trở lên; công tác đào tạo bồi dưỡng có sự chuyển biến và đi vào nề nếp; Việc sử dụng CBCC phường đảm bảo đúng tiêu chuẩn, phù hợp với năng lực sở trường; đảm bảo công tác điều động, luân chuyển CBCC.

Tuy nhiên, vẫn còn nhiều điểm bất cập, công tác quy hoạch chưa có tính khả thi, chưa đồng bộ, công tác phân công công việc chưa rõ ràng; công tác đào tạo, bồi dưỡng còn nhiều điểm chưa đồng bộ, nội dung đào tạo bồi dưỡng chưa phù hợp với thực tế; công tác sử dụng CBCC phường còn bố trí, sử dụng CBCC chuyên môn còn hạn chế chưa đáp ứng được nhiệm vụ được giao; công tác đánh giá CBCC chưa đảm bảo công minh, khách quan, đánh giá vẫn mang nặng tính hình thức, còn nể nang, sợ mất lòng; chính sách tiền lương và đãi ngộ còn chưa thỏa đáng; điều kiện làm việc chưa được đảm bảo; công tác thanh tra, kiểm tra còn chưa được tiến hành thường xuyên. Đây chính là cơ sở để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng CBCC phường thuộc quận Hải An. Luận văn: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Giải pháp chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993