Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hóa ứng xử cho HS hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội, văn hoá giáo dục của huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội địa phương
Ninh Phước là huyện nằm ở phía nam của tỉnh Ninh Thuận có diện tích 341,033 km2. Toàn huyện có 08 xã và 01 thị trấn với 50 thôn, 15 khu phố; trong đó có 02 thôn đặc biệt khó khăn: Thôn Tà Dương, xã Phước Thái; thôn Liên Sơn 2, xã Phước Vinh. Dân số 162.552 người, gồm 20 dân tộc anh em, trong đó chủ yếu là: Người Kinh
109.296 người, chiếm 67,24%; người Chăm 49.729 người, chiếm gần 30,59%; người Rắclây 3.072 người, chiếm tỷ lệ 1,89%; người Hoa 380 người, chiếm tỷ lệ 0,23% và 75 người (Tày, Nùng, Mường…) của các dân tộc khác chiếm 0,05%. Phía Đông giáp biển đông, phía Tây giáp huyện Ninh Sơn, phía Nam giáp huyện Thuận Nam và phía Bắc giáp thành phố Phan Rang – Tháp Chàm.
Ninh Phước hội tụ cả ba điều kiện địa lí: có núi, sông, biển và cả đồng bằng. Tuy nhiên nền kinh tế huyện Ninh Phước chưa được phát triển, là một huyện nằm ở hạ lưu dòng sông Dinh nên thường xuyên bị ngập lụt vào khoảng tháng 10 – 11 hằng năm. Nền nông nghiệp chủ yếu của huyện Ninh Phước là trồng nho, tuy nhiên trong vài năm gần đây có vài thay đổi trong canh tác nông nghiệp. Người dân dần dần chuyển qua các hình thức canh tác khác như trồng táo và thanh long.
2.1.2. Khái quát tình hình giáo dục và đào tạo trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận.
Đối với tỉnh Ninh Thuận, hệ thống giáo dục trung học phổ thông đã có sự phát triển về cả số lượng trường học và chất lượng giáo dục. Hiện có tổng cộng 22 trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh, với 463 lớp học và 17.434 học sinh. Trong số này, có một trường chuyên, một trường trung học phổ thông dân tộc nội trú và một trường phổ thông dân tộc nội trú có cả hai cấp học cơ sở và trung học. Ngoài ra, còn có ba trường trung học phổ thông có cả hai cấp học và hai trường ngoài công lập có cả ba cấp học (tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông). Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hóa ứng xử cho HS.
Đáng chú ý là có tổng cộng 07 trường trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia, chiếm tỷ lệ 32% trong tổng số trường. Trong những năm qua, giáo dục và đào tạo trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận đã có sự phát triển về cả chiều rộng và chiều sâu. Số lượng trường trung học phổ thông đã tăng từ 12 trường vào năm 2007 lên 22 trường hiện nay. Đặc biệt, có 02 trường trung học phổ thông ngoài công lập đạt chất lượng cao. Tỉ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông trong tỉnh Ninh Thuận liên tục tăng qua các năm, và tỷ lệ học sinh đậu vào cao đẳng, đại học luôn ở mức trên 80% trong những năm gần đây.
2.1.3 Sơ lược về các trường THPT trên địa bàn huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
- Trường THPT An Phước
Trường THPT An Phước đóng trên địa bàn khu phố 7, thị trấn Phước Dân (thuộc làng Gốm Bàu Trúc), huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Trường được thành lập vào tháng 11 năm 1976. Về tổ chức của Nhà trường gồm: Ban Giám hiệu 03 người (01 hiệu trưởng, 02 phó hiệu trưởng); 01 Công đoàn cơ sở với 82 công đoàn viên; Đoàn trường gồm 33 Chi đoàn học sinh và 01 Chi đoàn giáo viên.
- Trường THPT Nguyễn Huệ
Năm học 2022-2023 trường có gần 1000 học sinh với 60 cán bộ giáo viên-nhân viên. Tất cả giáo viên tuổi đời còn trẻ, giàu nhiệt huyết, chuyên cần trau dồi kinh nghiệm giảng dạy và ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin trong dạy học. Trường Trung học phổ thông Nguyễn Huệ chỉ mới thành lập hơn 20 năm, trường tuy không quá lớn, số lượng học sinh và giáo viên chưa nhiều, bề dày thành tích cũng chưa nổi bật so với các trường khác trên địa bàn, nhưng thời gian gần đây cũng để lại nhiều dấu ấn quan trọng.
- Trường THPT Phạm Văn Đồng
Trường THPT Phạm Văn Đồng được thành lập vào ngày 20 tháng 7 năm 2004 theo Quyết định số 162/QĐ-UB của UBND tỉnh Ninh Thuận. Trường được xây dựng trên địa bàn thôn Phước Đồng, xã Phước Hậu, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
Trường có tổ chức chi bộ Đảng với 23 đảng viên, luôn hoàn thành nhiệm vụ, trong đó nhiều năm liền hoàn thành tốt nhiệm vụ, giữ vai trò hạt nhân lãnh đạo trong toàn bộ hoạt động của nhà trường. Các tổ chức: Công đoàn, Đoàn thanh niên, HLHTN, BĐDCMHS đều hoạt động tích cực, góp phần cùng nhà trường hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
2.2. Tổ chức nghiên cứu thực trạng hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử và quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận
2.2.1. Mục đích khảo sát Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hóa ứng xử cho HS.
Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử và quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận làm cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
2.2.2. Nội dung khảo sát
- Thực trạng hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
- Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
- Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
2.2.3. Đối tượng khảo sát
Để tiến hành khảo sát thực trạng hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử và quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, tác giả đã hỏi ý kiến CBQL, GV, NV; PHHS và HS. Số lượng đối tượng khảo sát được trình bày cụ thể ở bảng 2.1 sau đây (áp dụng công thức tính số mẫu 𝑛 = 𝑁 1+𝑁(𝑒)2 trong đó: n là cỡ mẫu, e=0.05, N: tổng thể).
- Bảng 2. 1: Bảng thống kê số lượng khảo sát
Tác giả tiến hành thăm dò ý kiến của 30/33 CBQL (chiếm 90,9%), 116/163 GV (chiếm 71,2%), 20/21 NV (chiếm tỉ lệ 95,2%), 357/3294 PHHS và 357/3294 học sinh (chiếm 10,8%) của 03 trường THPT huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận để tìm hiểu thực trạng quản lý công tác giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hóa ứng xử cho HS.
Đặc điểm của đối tượng khảo sát như sau:
- Đặc điểm CBQL, GV được khảo sát
Bảng 2. 2: Ðặc điểm CBQL GV và NV được khảo sát
Tiến hành khảo sát 166 CBQL, GV của 03 trường trung học phổ thông huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận bao gồm CBQL chiếm tỉ lệ 18,1% và giáo viên 69,9% với thâm niên công tác từ 05 đến 10 năm chiếm đa số (36,1%). Về trình độ chuyên môn có 106 cử nhân chiếm 63.8%; trình độ trên chuẩn có 36 CBQL, GV chiếm tỉ lệ 21,7%. Độ tuổi CBQL, GV, NV tập trung khoảng từ 30 đến 50 tuổi chiếm tỉ lệ khá cao 72,2%.
- Đặc điểm phụ huynh học sinh được khảo sát
Bảng 2. 3: Ðặc điểm cha mẹ học sinh được khảo sát
Các đối tượng là PHHS được khảo sát có độ tuổi tập trung từ 40 đến trên 50 chiếm đa số với 344 đối tượng (96,6%). Trình độ học vấn của PHHS thấp (huyện Ninh Phước chủ yếu là đồng bào dân tộc Chăm sinh sống), từ mức tốt nghiệp THPT trở lên có tỉ lệ là 72,7%, tập trung chủ yếu khảo sát đối tượng là nữ với 219 đối tượng chiếm tỉ lệ 61,5%. Việc khảo sát cũng tập trung nhiều vào các PHHS có con đang theo học các khối lớp 11 và 12 nhằm đảm bảo thông tin, dữ liệu thu thập có tính chính xác và gần với bản chất của vấn đề nghiên cứu.
- Đặc điểm học sinh được khảo sát
Bảng 2. 4: Ðặc điểm học sinh được khảo sát
Đối với Học sinh, tiến hành khảo sát ngẫu nhiên các em học sinh thuộc 03 khối lớp (lớp 10; lớp 11; lớp 12) tại 03 trường THPT trên địa bàn huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Tập trung nhiều ở các khối lớp 11 (50,8%), 12 (39,9%) và là đoàn viên Đoàn TNCS HCM chiếm tỉ lệ 67,1%.
2.2.4. Phương pháp và công cụ khảo sát
Sau khi nghiên cứu cơ sở lý luận trong chương 1, tác giả sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi và kết hợp phương pháp phỏng vấn, phương pháp nghiên cứu qua sản phẩm hoạt động để thu thập thêm thông tin định tính làm sáng tỏ thêm cho dữ liệu định lượng. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hóa ứng xử cho HS.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Đề tài thiết kế bảng hỏi dành cho nhóm khách thể là các CBQL, GV, NV, PHHS và HS tại 03 trường THPT trên địa bàn huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Quy trình thiết kế bảng hỏi được thực hiện qua 03 giai đoạn:
- Giai đoạn 01: Thiết kế bảng hỏi mở
- Giai đoạn 02: Thiết kế và hoàn thiện bảng khảo sát chính thức
- Giai đoạn 03: Tiến hành khảo sát chính thức
- Phương pháp phỏng vấn
Tiến hành phỏng vấn CBQL, GV và HS nhằm bổ sung thêm thông tin để góp phần làm sáng tỏ kết quả khảo sát; kiểm tra độ trung thực của các kết quả trả lời phiếu điều tra ý kiến; tìm hiểu sâu hơn về đối tượng nghiên cứu qua một số CBQL, GV, HS điển hình.
Cách thức tiến hành: tác giả liên hệ, trao đổi, phỏng vấn với 03 CBQL, 03 GV, 03 HS của 03 trường THPT trên địa bàn huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận để làm rõ về thực trạng hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh và quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh THPT trên địa bàn huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Để đảm bảo tính bảo mật cho CBQL, GV và HS tác giả đã mã hóa đối tượng phỏng vấn, đối với CBQL: QL1, QL2, QL3; đối với GV: GV1, GV2, GV3; đối với học sinh: HS1, HS2, HS3. Tác giả tiến hành phỏng vấn dựa trên bảng phỏng vấn với câu hỏi đã chuẩn bị sắn theo mục đích nghiên cứu. Có thể sử dụng thêm những câu hỏi phát sinh tùy theo vấn đề nảy sinh trong nội dung trả lời của khách thể.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu, sản phẩm hoạt động
Tập hợp, phân loại, nghiên cứu hồ sơ quản lý như kế hoạch; biên bản; báo cáo sơ kết, tổng kết; sản phẩm sau khi thực hiện của cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh có liên quan đến hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại 03 trường trung học phổ thông huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
Sau khi thu thập dữ liệu từ bảng khảo sát, tác giả sử dụng phần mềm SPSS 20 và Microsoft Excel 2013 để xử lí thông tin mang tính định lượng. Đối với thông tin định tính (từ bảng khảo sát, phỏng vấn, phân tích hồ sơ), tác giả tiến hành trích lọc các ý kiến để phân tích thực trạng của vấn đề nghiên cứu.
2.2.5. Xử lí kết quả khảo sát
Thang đo sử dụng trong 02 phiếu khảo sát chủ yếu là thang đo thứ bậc và thang đo khoảng cách để xác định các tham số trong thống kê mô tả như trị trung bình, độ lệch chuẩn, tần số, tỉ lệ %…Ngoài ra, tác giả sử dụng thang đo danh nghĩa để xác định tên gọi và đặc điểm của đối tượng khảo sát.
Để thuận tiện cho việc đánh giá, phân tích số liệu hợp lí và khoa học, các thông tin thu thập được từ phiếu khảo sát thực trạng được quy ước dựa vào giá trị trung bình trong thang đo Likert với 05 mức độ.
Giá trị khoảng cách trung bình = (Max – Min)/N = (5-1)/5 = 0.8 Do đó, ý nghĩa các mức lần lượt tương ứng cụ thể trong bảng sau:
- Bảng 2. 5: Quy ước múc đánh giá, phân tích số liệu
Những quy ước này sẽ được sử dụng để phân tích kết quả khảo sát thực trạng của đề tài nghiên cứu.
2.3. Kết quả khảo sát thực trạng hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hóa ứng xử cho HS.
2.3.1. Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên, phụ huynh học sinh và học sinh về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh trung học phổ thông
Giáo dục văn hóa ứng xử không chỉ tạo ra một môi trường học tập tốt mà còn giúp học sinh hình thành nhân cách, giáo dục đạo đức và phát triển các kỹ năng xã hội cần thiết.
Kết quả khảo sát nhận thức của CBQL, GV, NV; PHHS; HS về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông được trình bày ở bảng 2.6 sau đây:
Bảng 2. 6: Ý kiến của CBQL, GV, NV; PHHS; HS về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục văn hóa úng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông
Bảng 2.6 cho thấy các đối tượng được khảo sát nhận thức chưa đầy đủ về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh THPT. Tất cả các nội dung khảo sát đều được đánh giá ở mức “Ðồng ý một phần” có điểm TB từ 2.77 đến 3.33. Trong đó, nội dung “Giáo dục văn hóa ứng xử cũng có vai trò trong việc giúp học sinh giải quyết các vấn đề xã hội như phân biệt chủng tộc, giới tính, bạo lực, tệ nạn xã hội, khủng hoảng kinh tế,…” được đánh giá thấp nhất với điểm TB là 2.77.
Qua phỏng vấn, CBQL cho biết hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử giúp xây dựng một cộng đồng học đường lành mạnh, tôn trọng và đoàn kết. Nó tạo ra một môi trường học tập tích cực, nơi mà học sinh có thể học hỏi, tương tác và phát triển kỹ năng xã hội. (QL1, QL2). Hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử giúp các em hiểu và đánh giá cao giá trị văn hóa và đạo đức. Nó khuyến khích sự đa dạng và tôn trọng sự khác biệt trong xã hội, giúp các em trở thành công dân tốt và có ý thức hơn về trách nhiệm cá nhân và xã hội (GV2, GV3). Hoạt động này giúp các em phát triển kỹ năng xã hội quan trọng như giao tiếp, lắng nghe và hợp tác. Những kỹ năng này không chỉ hỗ trợ trong việc học tập mà còn trong cuộc sống hàng ngày và trong tương lai khi các em tham gia vào công việc (HS1, HS2).
Như vậy, cần nâng cao nhận thức cho CBQL, GV, PHHS và HS để các đối tượng này có thể hiểu biết một cách đầy đủ và đúng đắn về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh THPT.
2.3.2. Thực trạng thực hiện mục tiêu của hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hóa ứng xử cho HS.
Mục tiêu của hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông là xây dựng nhân cách, giáo dục đạo đức, phát triển kỹ năng xã hội và tạo ra một môi trường học tập tích cực, đồng thời trang bị cho học sinh với kiến thức và kỹ năng cần thiết cho sự phát triển cá nhân và thành công trong cuộc sống.
Kết quả khảo sát ý kiến của CBQL, GV, NV; PHHS; HS về mục tiêu của hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông được trình bày ở bảng 2.7 sau đây:
Bảng 2. 7: Ý kiến của CBQL, GV, NV; PHHS; HS về thực trạng thực hiện mục tiêu của hoạt động giáo dục văn hóa úng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông
Về mục tiêu của hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông chưa được các đối tượng khảo sát đánh giá cao. Một số mục tiêu chỉ đạt mức “Trung bình” như “Học sinh biết noi theo gương của thầy cô giáo” có điểm TB 3.20; ”Tôn trọng bạn bè, trung thực, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau cùng tiến bộ” có điểm TB 3.22; “Thực hiện tốt nếp sống văn hóa, quy tắc, quy định văn hóa nơi công cộng, địa phương” có điểm TB 3.17; “Tuân thủ các quy định của pháp luật, tránh xa các tệ nạn xã hội” có điểm TB 3.04. CBQL, GV, HS được phỏng vấn đều cho rằng mục tiêu của hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông chưa đạt được kết quả. Một bộ phận học sinh thiếu trung thực, gây mất đoàn kết, vi phạm quy định của nhà trường, có những lời lẽ bình luận khiếm nhã trên mạng, không lễ phép với thầy cô giáo và người lớn tuổi, nói xấu thầy cô trên mạng, bạo lực với thầy cô, vi phạm các quy định về an toàn giao thông, không giữ gìn vệ sinh công cộng…
Như vậy, mục tiêu giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh THPT chưa đạt được hiệu quả. Cần phải xây dựng các biện pháp phù hợp nhằm cải thiện và nâng cao kết quả giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh THPT.
2.3.3. Thực trạng thực hiện nội dung giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận
Nội dung giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông bao gồm những nguyên tắc và quy tắc về cách ứng xử, giao tiếp và hành vi đúng đắn trong môi trường học tập và xã hội.
Kết quả khảo sát ý kiến của CBQL, GV, NV; PHHS; HS về các mối quan hệ ứng xử cần có của học sinh tại các trường trung học phổ thông được trình bày ở bảng 2.8 sau đây:
- Bảng 2. 8: Ý kiến của CBQL, GV, NV; PHHS; HS về các mối quan hệ úng xử cần có của học sinh tại các trường trung học phổ thông Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hóa ứng xử cho HS.
Các đối tượng khảo sát đều có những nhận định chưa thống nhất về các mối quan hệ ứng xử cần có của học sinh tại các trường trung học phổ thông. Kết quả cho thấy, văn hóa ứng xử được hiểu là chỉ tập trung ở phạm vi hẹp, chủ yếu là ứng xử đối với bản thân, bạn bè, thầy cô, nhân viên và môi trường. Các đối tượng khảo sát đánh giá “Ðồng ý một phần” ở các mối quan hệ: “Đối với quê hương, đất nước, cộng đồng” có điểm TB 3.14; “Đối với nhiệm vụ học tập và phát triển năng lực văn hóa ứng xử” có điểm TB 3.36; “Đối với gia đình, người thân, người lớn tuổi” có điểm TB 3.35.
Từ các mối quan hệ được xác định trong quá trình giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh THPT. Sau đây là kết quả đánh giá nội dung của từng mối quan hệ:
- Bảng 2. 9: Ý kiến của CBQL, GV, NV; PHHS; HS về nội dung của hoạt động giáo dục văn hóa úng xử cho học sinh tại các trwờng trung học phổ thông
Qua bảng số liệu 2.9 thể hiện cụ thể thực trạng triển khai và kết quả đạt được các nội dung giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh THPT. Tùy thuộc vào các mối quan hệ của học sinh, các nội dung được đánh giá “Thỉnh thoảng” hoặc “Thường xuyên” thực hiện. Bên cạnh đó, các nội dung giáo dục văn hóa ứng xử cũng được đánh giá kết quả thực hiện ở nhiều mức độ khác nhau (Khá, Trung bình, Yếu).
Mức độ thực hiện “Thỉnh thoảng” gồm các nội dung: “Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc”; “Biết xin lỗi khi làm phiền người khác và cảm ơn khi được giúp đỡ.”; “Kính trọng quốc kỳ, thuộc quốc ca”; “Không nói tục, chửi thề, uống rượu, hút thuốc và các chất gây nghiện; tôn trọng bản thân”; “Không tàng trữ hoặc sử dụng chất độc hại, chất dễ gây cháy, nổ, hung khí, vật bén nhọn”; “Tích cực, sáng tạo trong học tập, chăm chỉ”; “Lễ phép, lịch sự, văn minh trong giao tiếp”; “Thực hành văn hóa xếp hàng”; “Không được có những hành vi xúc phạm nhân phẩm, danh dự của thầy, cô giáo, nhân viên nhà trường”; “Phục tùng các quyết định và yêu cầu của thầy, cô giáo, nhân viên nhà trường.”; “Đoàn kết, nhân ái giúp đỡ nhau cùng tiến bộ”; “Tôn trọng, biết động viên, chia sẽ, giúp đỡ”; “Không bao che khuyết điểm của bạn”; “Không có những hành động phân biệt đối xử, vu khống, nói xấu bạn bè”; “Giữ gìn mối quan hệ bình đẳng, trong sáng với bạn khác giới”; “Không sử dụng mạng xã hội để lôi kéo, kích động, gây thù hận người khác”; “Lễ độ với ông bà, cha mẹ và người lớn tuổi”; “Giúp đỡ người lớn tuổi khi gặp khó khăn trong cuộc sống.”; “Quý trọng, có ý thức bảo vệ môi trường” ; “Thân thiện, giữ gìn, làm đẹp cảnh quan”
Mức độ đạt được “Yếu” gồm các nội dung: “Thực hành văn hóa xếp hàng”; “Phục tùng các quyết định và yêu cầu của thầy, cô giáo, nhân viên nhà trường.”; “Quý trọng, có ý thức bảo vệ môi trường”.
Qua phỏng vấn được biết, nội dung hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử được nhà trường tổ chức thông qua các buổi hội thảo, tập huấn hoặc trải nghiệm dành cho học sinh, thường diễn ra vào đầu năm học hoặc trong các đợt sinh hoạt định kỳ của tổ chức Đoàn thanh niên. Các hoạt động này có thể giúp học sinh hiểu và nhận thức về giá trị văn hoá ứng xử, cũng như rèn luyện kỹ năng xã hội. Các khía cạnh của văn hoá ứng xử có thể được giảng dạy tích hợp thông qua các môn học như Ngữ văn, Lịch sử, Giáo dục Kinh tế và Pháp luật… (QL1, QL3). Nhà trường tổ chức các hoạt động ngoại khóa như trại hè, chuyến tham quan, hoạt động tình nguyện xã hội, hay dự án cộng đồng để giáo dục văn hoá và ứng xử cho học sinh. Những hoạt động này giúp học sinh áp dụng và trải nghiệm các giá trị và kỹ năng trong một môi trường thực tế (QL2).
Khi xem xét kế hoạch bài giảng của giáo viên các bộ môn Ngữ Văn, Lịch Sử, Giáo dục Kinh tế và Pháp luật chỉ thể hiện nội dung lồng ghép, tích hợp về các mối quan hệ ứng xử của học sinh đối với thầy cô, cha mẹ và những người lớn tuổi mà chưa đề cập đến các mối quan hệ ứng xử như: đối với quê hương, đất nước; đối với bản thân và đối với môi trường.
Như vậy, các nội dung giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận đã được tổ chức thực hiện. Tuy nhiên, kết quả đạt được chưa cao, cần phải tiến hành xây dựng biện pháp giáo dục nâng cao hiệu quả đối với các nội dung này. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hóa ứng xử cho HS.
2.3.4. Thực trạng thực hiện phương pháp giáo dục văn hoá ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận
Phương pháp giáo dục văn hoá ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông là quá trình giáo dục và huấn luyện học sinh về các giá trị, quy tắc và hành vi tốt trong việc tương tác xã hội. Sau đây là kết quả khảo sát thực trạng sử dụng các phương pháp giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông được thể hiện cụ thể ở bảng 2.10:
- Bảng 2. 10: Ý kiến của CBQL, GV, NV; PHHS; HS về việc sử dụng các phương pháp giáo dục văn hóa úng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông
Khi đề cập đến các phương pháp giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông, các đối tượng khảo sát cho biết nhà trường “thường xuyên” sử dụng các “Phương pháp trò chơi” có điểm TB 3.53; “Phương pháp đối đáp” có điểm TB 3.48; “Phương pháp kể chuyện, phát thanh-tuyên truyền” có điểm TB 3.46. Tuy nhiên, mức độ đạt được chỉ đánh giá ở mức “Trung bình”. Chỉ có “Phương pháp đóng vai” có điểm TB 3.51 và “Phương pháp nêu gương” có điểm TB 3.77 được đánh giá đạt mức “Khá”.
Các nhà trường sử dụng phương pháp kể những câu chuyện từ cuộc sống hàng ngày là một cách tuyệt vời để giáo viên giới thiệu các giá trị văn hóa ứng xử cho học sinh. Bằng cách chia sẻ những câu chuyện có liên quan, giáo viên có thể tạo ra sự nhận thức và sự đồng cảm từ phía học sinh, giúp học sinh hiểu và áp dụng những giá trị này vào cuộc sống hàng ngày (QL3). Sử dụng trò chơi và hoạt động nhóm là một cách hấp dẫn và tương tác để giáo viên truyền đạt những giá trị và kỹ năng văn hóa ứng xử cho học sinh. Qua việc tham gia các hoạt động nhóm, học sinh có thể học cách làm việc cùng nhau, tôn trọng ý kiến của người khác và học cách giải quyết xung đột (QL1). Kết quả phỏng vấn về việc sử dụng các phương pháp giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông đồng nhất với kết quả khảo sát thực trạng, điều này khẳng định số liệu khảo sát có độ tin cậy cao.
Như vậy, việc sử dụng các phương pháp giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông đã được thực hiện nhưng hiệu quả giáo dục chưa cao. Cần phải đổi mới phương pháp theo hướng phát huy tính tương tác, chủ động, sáng tạo và phù hợp với tâm sinh lí của học sinh THPT.
2.3.5. Thực trạng thực hiện hình thức giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hóa ứng xử cho HS.
Trong quá trình tìm hiểu các hình thức giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông huyện Ninh Phước, các nhà trường sử dụng đa dạng hình thức giáo dục văn hóa ứng xử thông qua các hoạt động tập thể, các câu lạc bộ, cuộc thi, diễn đàn, tọa đàm, đối thoại…góp phần trong công tác thi đua xây dựng trường học văn hóa, thực hiện nếp sống văn minh, lịch sự trong cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên, học sinh. Kết quả khảo sát 166 CBQL, GV, NV, 356 PHHS và 356 HS của 03 trường THPT huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận về thực trạng hình thức thực hiện giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh như sau:
- Bảng 2. 11: Ý kiến của CBQL, GV, NV; PHHS; HS về hình thúc thực hiện giáo dục văn hóa úng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông
Về mức độ thực hiện: các hình thức “Tuyên truyền giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh ngay tại địa phương, trường học.” có điểm TB 3.82; “Tổ chức các hoạt động giáo dục cho học sinh trung học như ngoại khóa, sinh hoạt dưới cờ, sinh hoạt lớp,…” có điểm TB 3.85; “Lồng ghép, tích hợp nội dung trong các tiết dạy trong các môn như Giáo dục kinh tế và pháp luật, Ngữ văn, Lịch sử,…” có điểm TB 3.59 được đánh giá ở mức độ “Thường xuyên” và nội dung “Phối hợp với gia đình và xã hội trong việc giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh trung học.” có điểm TB 2.44 được đánh giá ở mức “Hiếm khi” được thực hiện.
Về kết quả đạt được: Riêng các hình thức “Tổ chức các buổi báo cáo chuyên đề, chủ đề.”; “Phát huy vai trò của tổ chức Đoàn, Hội; tổ chức đa dạng hình thức giáo dục ứng xử văn hóa, thể hiện tinh thần yêu nước, tôn trọng giá trị lịch sử truyền thống văn hóa tốt đẹp cho học sinh.” có điểm TB 2.60 được đánh giá ở mức “Yếu”.
Qua phân tích các bản kế hoạch, báo cáo sơ kết, tổng kết cho thấy, các nhà trường chưa cụ thể hóa các hình thức tổ chức thực hiện giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh. Không có kế hoạch, báo cáo về việc tổ chức các buổi chuyên đề, chủ đề giáo dục văn hóa ứng xử. Đoàn thanh niên, Hội Liên hiệp thanh niên chỉ tập trung tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng giao tiếp-ứng xử, kỹ năng làm việc nhóm….Kế hoạch giáo dục của nhà trường chưa thể hiện công tác phối hợp với gia đình và xã hội trong việc giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh. Trong các báo cáo sơ kết, tổng kết năm học cũng không thấy nhà trường đề cập đến vấn đề giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh. Kết quả tìm hiểu các sản phẩm của hoạt động giáo dục thể hiện khá phù hợp với kết quả khảo sát thực trạng thực hiện hình thức giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hóa ứng xử cho HS.
Như vậy, nhà trường đã tổ chức một số hình thức giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh với nhiều mức độ khác nhau. Tuy nhiên, kết quả đạt được chưa như mục tiêu đặt ra ban đầu của các nhà trường.
2.3.6. Thực trạng các điều kiện ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
Những điều kiện ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận bao gồm: nhân sự; cơ sở vật chất, trang thiết bị; tài chính; sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Kết quả khảo sát được trình bày ở bảng 2.12 sau đây:
- Bảng 2. 12: Ý kiến của CBQL, GV, NV; PHHS; HS về các điều kiện ảnh hưởng hoạt động giáo dục văn hóa úng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông
Qua số liệu khảo sát ở bảng 2.12 cho thấy, về nhân lực, vật lực và tài lực được các đối tượng khảo sát đánh giá ở mức khá. Cụ thể, “về nhân sự” có điểm TB 3.44; “về cơ sở vật chất, trang thiết bị” có điểm TB 3.76; “về tài chính” có điểm TB 3.85. Riêng công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội chỉ được đánh giá ở mức “Trung bình” với điểm TB 2.81.
2.4 Kết quả khảo sát thực trạng quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận
2.4.1 Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên về sự cần thiết của quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông
Nhận thức của CBQL, GV, NV về công tác quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử là điều cần thiết để thiết lập nên chuỗi giá trị khi thực hiện giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh. Nếu CBQL, GV, NV có cái nhìn đầy đủ, chính xác và vạch ra mục tiêu cụ thể cho cả quá trình thì sẽ giúp nhà trường đẩy mạnh được hiệu quả công tác giáo dục văn hóa ứng xử và ngược lại. Kết quả khảo sát nhận thức của CBQL, GV, NV về tầm quan trọng và sự cần thiết của quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh các trường trung học phổ thông được thể hiện ở biểu đồ 2.1 sau đây:
- Biểu đồ 2. 1 Ý kiến của CBQL, GV, NV về sự cần thiết của quản lý hoạt động giáo dục văn hóa úng xử cho học sinh trung học phổ thông Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hóa ứng xử cho HS.
Biểu đồ 2.1 cho thấy, có 78,3% ý kiến khảo sát cho rằng việc quản lý giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh THPT là Khá cần thiết và Rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Chỉ có một tỉ lệ rất nhỏ khoảng 7,2% ý kiến khảo sát cho rằng việc quản lý giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh THPT là không cần thiết mà cần tập trung hơn cho những nội dung giáo dục khác.
Việc CBQL, GV, NV nhận thức một cách đầy đủ về sự cần thiết của công tác quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh THPT sẽ tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho người quản lý trong việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện công tác giáo dục văn hóa ứng xử trong nhà trường.
2.4.2. Thực trạng Lập kế hoạch hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận
Lập kế hoạch giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh trung học phổ thông (THPT) là quá trình xác định mục tiêu, nội dung và các hoạt động nhằm phát triển nhận thức, giá trị văn hóa và kỹ năng ứng xử của học sinh. Kế hoạch được thiết kế để tạo điều kiện cho học sinh phát triển một cách toàn diện, không chỉ về kiến thức học tập mà còn về đạo đức, tư duy và khả năng giao tiếp xã hội. Kết quả khảo sát thực trạng lập kế hoạch giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường THPT được trình bày ở bảng 2.13 sau đây:
- Bảng 2. 13: Ý kiến của CBQL, GV về thực trạng xây dựng kế hoạch giáo dục văn hóa úng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông
Qua bảng số liệu được tổng hợp ở trên cho thấy, công tác lập kế hoạch giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh chưa được quan tâm đúng mức. Công tác “Xây dựng chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức thực hiện giáo dục văn hóa ứng xử.” hiếm khi thực hiện với điểm TB 2.58. Kết quả khảo sát thực hiện “thỉnh thoảng” và mức độ đạt được là “trung bình” tập trung ở các nội dung “Phân tích đặc điểm tình hình nhà trường về những thuận lợi và khó khăn của công tác giáo dục văn hóa ứng xử cho lứa tuổi học sinh THPT tạo ra những cơ hội và thách thức khi thực hiện công tác quản lý.” có điểm TB lần lượt là 3.37 và 3.33; “Lập kế hoạch tổ chức các sân chơi, câu lạc bộ, chương trình trao đổi, tọa đàm, giao lưu cho cả quá trình thực hiện.” có điểm TB lần lượt là 2.97 và 2.73; “Lập kế hoạch kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh.”có điểm TB lần lượt là 2.97 và 2.73.
Vấn đề cần quan tâm đặc biệt là “Lên kế hoạch tập huấn, đào tạo và phân công giáo viên thực hiện, tham gia hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử” chỉ được “thỉnh thoảng” thực hiện (điểm TB 2.81) và được các đối tượng khảo sát đánh giá ở mức “Yếu” (điểm TB 2.59). Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hóa ứng xử cho HS.
Giáo dục văn hóa ứng xử chưa nhận được sự chú trọng và ưu tiên cao như các môn học truyền thống khác. Điều này dẫn đến việc thiếu kế hoạch cụ thể và hệ thống cho hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử trong nhà trường. Chưa xây dựng chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức thực hiện giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh (QL1, QL3).
Khi nghiên cứu, tìm hiểu về kế hoạch, báo cáo sơ kết, báo cáo tổng kết tại 03 trường THPT trên địa bàn huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận đều có rất ít văn bản có liên quan đến công tác quản lý giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh. Mục tiêu chủ yếu được thể hiện trong các kế hoạch của nhà trường xoay quanh vấn đề giáo dục kỹ năng sống, các hoạt động trải nghiệm. Không thể hiện công tác lập kế hoạch tập huấn, đào tạo và phân công giáo viên thực hiện, tham gia hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử. Kết quả cho thấy khá tương đồng với số liệu khảo sát thực trạng về công tác lập kế hoạch giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh.
Như vậy, công tác lập kế hoạch giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường THPT huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận chưa được quan tâm. Kết quả đánh giá các hoạt động liên quan đến công tác lập kế hoạch giáo dục văn hóa ứng xử chỉ đạt mức trung bình và cần tiến hành đề xuất biện pháp khắc phục những hạn chế trong việc lập kế hoạch giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh THPT.
2.4.3. Thực trạng tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận
Công tác tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông là một trong bốn chức năng chính của nhà quản lý. Công tác này đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng môi trường học tập và rèn luyện nhân cách cho học sinh. Huy động sự tham gia của các lực lượng trong và ngoài nhà trường trong việc xây dựng môi trường học đường thân thiện, xanh-sạch-đẹp và an toàn; từng bước xây dựng trường học hạnh phúc. Kết quả khảo sát 166 CBQL, GV của 03 trường THPT huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận được thể hiện trong bảng 2.14 sau đây:
- Bảng 2. 14: Ý kiến của CBQL, GV về thực trạng tổ chúc thực hiện hoạt động giáo dục văn hóa úng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông
Kết quả khảo sát đã phản ánh một cách rõ nét thực trạng hiện nay đối với công tác tổ chức hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường THPT huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Kết quả thực hiện đối với công tác này thể hiện sự thiếu quan tâm của lãnh đạo nhà trường trong việc tổ chức giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh. Đây là một hạn chế rất lớn trong việc giáo dục toàn diện cho học sinh THPT. Công tác chỉ đạo thậm chí hiếm khi được thực hiện tại các nhà trường, tập trung ở các nội dung: “Hướng dẫn giáo viên cách thức tiến hành, các phương pháp thực hiện giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh” có ĐTB 2.60; “Nhà trường huy động sự tham gia từ các lực lượng trong và ngoài nhà trường; nêu cao tinh thần, trách nhiệm của các tổ chức chính trị-xã hội trong hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh.” có ĐTB 2.57; “Thường xuyên kiểm tra việc sử dụng các phương pháp, hình thức giáo dục văn hóa ứng xử trong nhà trường” có ĐTB 2.58 .
Đối với kết quả đạt được trong công tác tổ chức hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh cũng không được khả quan. Chưa xây dựng quy trình và chương trình thực hiện giáo dục văn hóa ứng xử rõ ràng cụ thể trong từng phân môn học. (ĐTB 2.88); Thiếu sự hướng dẫn giáo viên cách thức tiến hành, các phương pháp thực hiện giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh (ĐTB 2.25); Thiếu sự phối hợp với Đoàn Thanh niên, giáo viên chủ nhiệm tổ chức cho học sinh trải nghiệm các tình huống văn hóa ứng xử (trong và ngoài nhà trường) có ĐTB 2.63. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hóa ứng xử cho HS.
Cần định hướng và định nghĩa rõ ràng về văn hóa ứng xử và giá trị mà nhà trường muốn truyền đạt cho học sinh. Việc xác định được các nguyên tắc và quy tắc cần áp dụng sẽ giúp tạo ra một môi trường giáo dục văn hóa ứng xử tích cực và nhất quán. Nhà trường chưa huy động sự tham gia từ các lực lượng trong và ngoài nhà trường; nêu cao tinh thần, trách nhiệm của các tổ chức chính trị-xã hội trong hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh (QL1, QL2). Nhà trường chưa đảm bảo giáo viên và nhân viên được đào tạo, hỗ trợ, hướng dẫn cách thức tiến hành, sử dụng các phương pháp thực hiện giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh. Thiếu kiểm tra việc sử dụng các phương pháp, hình thức giáo dục văn hóa ứng xử trong nhà trường (QL3). Kết quả phỏng vấn CBQL một lần nữa khẳng định những hạn chế, thiếu sót trong công tác tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
Như vậy, công tác tổ chức hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường THPT huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận còn nhiều hạn chế. Lãnh đạo nhà trường cần chú tâm nhiều hơn nữa đối với hoạt động giáo dục này. Đồng thời, cần xây dựng biện pháp khắc phục những thiếu sót trong quá trình quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh THPT.
2.4.4 Thực trạng chỉ đạo hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận
Công tác chỉ đạo đảm bảo các hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử được thực hiện một cách có hệ thống, hiệu quả và phù hợp với nhu cầu của học sinh. Công tác chỉ đạo giúp học sinh được tiếp cận với các hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử một cách chất lượng và có ý nghĩa. Nhà quản lý đóng vai trò quan trọng trong việc định hình chiến lược, giám sát quá trình thực hiện và đánh giá kết quả để đảm bảo hiệu quả của công tác giáo dục. Sau đây là kết quả khảo sát thực trạng công tác chỉ đạo thực hiện hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử tại 03 trường THPT huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận:
- Bảng 2. 15: Ý kiến của CBQL, GV về thực trạng chỉ đạo thực hiện hoạt động giáo dục văn hóa úng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông
Về công tác chỉ đạo thực hiện hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận vẫn còn bỏ ngõ, thiếu sự quan tâm của lãnh đạo nhà trường. Kết quả khảo sát CBQL, GV cho thấy các trường THPT trên địa bàn huyện Ninh Phước hiếm khi “Chỉ đạo rà soát, cập nhật các chính sách và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến công tác giáo dục văn hóa ứng xử trong nhà trường, gia đình, xã hội,…” có ĐTB 2.60; hiếm khi “Chỉ đạo tăng cường các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong và ngoài nhà trường. Xây dựng tình huống giả định và cách thức xử lý tình huống phù hợp” có ĐTB 2.51; hiếm khi “Tuyên dương, khen thưởng cá nhân và tập thể thực hiện tốt hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh.” có ĐTB 2.45. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hóa ứng xử cho HS.
Bên cạnh đó, kết quả đạt được đối với công tác chỉ đạo thực hiện giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh các trường THPT huyện Ninh Phước được các đối tượng khảo sát đánh giá khá thấp. Trong đó, nội dung “CBQL thường xuyên chỉ đạo cải tiến nội dung cho phù hợp hơn với lứa tuổi các em, đa dạng về nội dung tuyên truyền, phong phú về hình ảnh.” có ĐTB 2.63 đạt mức “Trung bình”; nội dung “Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm tích hợp nhiều phương pháp và hình thức giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh”có ĐTB 2.55 đạt mức “Yếu”; nội dung “Tất cả CBQL, GV, NV nhà trường gương mẫu, tiên phong trong tất cả các hoạt động của nhà trường. Xây dựng hình ảnh người giáo viên mẫu mực, chuyên cần và năng động.” có ĐTB 2.54 đạt mức “Yếu”.
Qua phỏng vấn CBQL các trường THPT trên địa bàn huyện Ninh Phước cho thấy, các nhà trường đã chỉ đạo và hỗ trợ cho giáo viên và nhân viên trường trong việc thực hiện hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử. Tổ chức các buổi họp, đào tạo, hướng dẫn và cung cấp tài liệu tham khảo để giúp giáo viên và nhân viên thực hiện công tác một cách hiệu quả. Tuy nhiên, nhà trường thiếu sự chỉ đạo tăng cường các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong và ngoài nhà trường; chưa tiến hành tuyên dương, khen thưởng cá nhân và tập thể thực hiện tốt hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh. Thông tin thu thập được qua việc phỏng vấn CBQL có kết quả khá tương đồng với kết quả khảo sát thực trạng tổ chức thực hiện giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
Như vậy, công tác chỉ đạo thực hiện giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh ít được lãnh đạo nhà trường quan tâm. Mức độ thực hiện cũng như kết quả đạt được khá thấp so với yêu cầu, mục tiêu đặt ra. Cần phải xây dựng biện pháp nhằm nâng cao tần suất chỉ đạo thực hiện cũng như nâng cao hiệu quả đối với công tác chỉ đạo thực hiện giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường THPT huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
2.4.5 Thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận
Kiểm tra, giám sát đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng và hiệu quả của hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh. Giúp nhà quản lý và người có trách nhiệm giám sát, nhận diện các vấn đề, phân tích điểm mạnh và yếu, từ đó đưa ra các biện pháp cải thiện và điều chỉnh để đạt được mục tiêu giáo dục và phát triển tốt hơn cho học sinh trong lĩnh vực văn hóa ứng xử. Kết quả khảo sát công tác kiểm tra, đánh giá được thể hiện trong bảng sau đây:
- Bảng 2. 16: Ý kiến của CBQL, GV về thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục văn hóa úng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hóa ứng xử cho HS.
Công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận chưa được thường xuyên và kết quả đạt được ở mức Trung bình-Yếu. Cụ thể: chỉ có nội dung “Kiểm tra định kì hàng tháng thông qua các tiết dự giờ theo quy định để xác định hiệu quả hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh.” có ĐTB 4.50 được đánh giá là “Rất thường xuyên” do thực hiện theo quy định chuyên môn và kết quả đạt được ở mức Khá (ĐTB 3.78). Các nội dung còn lại của công tác kiểm tra, đánh giá đều ở mức “Thỉnh thoảng” thực hiện.
Đánh giá mức “Yếu” có các nội dung “Kiểm tra sự tiến bộ từ phía học sinh bằng cách giao tiếp, tạo tình huống văn hóa ứng xử thông qua các cuộc gặp gỡ học sinh hằng ngày.” có ĐTB 2.37; “Hoạt động kiểm tra, đánh giá được thực hiện thường xuyên và theo đúng kế hoạch.” có ĐTB 2.43; “Thực hiện kiểm tra, đánh giá đúng quy trình, minh bạch. Công khai kết quả kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử.” có ĐTB 2.32;
Nhà trường chưa thiết lập quy trình rõ ràng và công bằng để tiến hành kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh. Thực hiện kiểm tra định kì hàng tháng thông qua các tiết dự giờ theo quy định. Chưa đa dạng các hình thức kiểm tra, đánh giá như: sử dụng bảng điểm, cuộc trò chuyện cá nhân, quan sát lớp học, phỏng vấn học sinh hoặc các bài kiểm tra và bài tập về ứng xử (QL1, QL3). Do đó, hiệu quả kiểm tra, đánh giá đối với hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử trong nhà trường thiếu hiệu quả.
Đối với các kế hoạch kiểm tra, đánh giá của nhà trường chủ yếu xoay quanh công tác chuyên môn của giáo viên và công tác kiểm tra nội bộ được thực hiện một cách thường xuyên và định kỳ. Do đó, công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh chưa được thực hiện đúng quy định, chưa thể hiện cụ thể phương thức kiểm tra, đánh giá đối với hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh.
Như vậy, công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường THPT huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận chưa được đẩy mạnh. Các hoạt động kiểm tra, đánh giá chưa đảm bảo thực chất và chưa mang lại đúng mục tiêu, ý nghĩa thực sự của chức năng này. Cần đẩy mạnh công tác kiểm tra, đánh giá trong quá trình quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh THPT.
2.4.6. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hóa ứng xử cho HS.
Công tác quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khách quan và chủ quan. Mỗi yếu tố sẽ tác động đến công tác quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh THPT ở một mức độ nhất định.
Kết quả khảo sát những yếu tố khách quan và chủ quan tác động đến quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường THPT huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận như sau:
Bảng 2. 17: Ý kiến của CBQL, GV về thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông
- Yếu tố khách quan
Qua bảng số liệu 2.17 cho thấy các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh được các đối tượng tham gia khảo sát đánh giá là “thúc đẩy” chiếm tỉ lệ cao, từ 83.1% đến 94.6%; với mức độ “Ánh hưởng múc khá” (điểm trung bình từ 3.42 đến 4.19).
Truyền thống văn hóa định hình giá trị và quy tắc ứng xử cơ bản trong một cộng đồng. Những giá trị và quy tắc này ảnh hưởng đến cách nhìn nhận, cách thể hiện tốt hoặc không tốt của học sinh về văn hóa ứng xử. Truyền thống văn hóa tạo ra thách thức đối với việc đổi mới và áp dụng các phương pháp giáo dục văn hóa ứng xử mới. Đôi khi, những giá trị và quy tắc ứng xử truyền thống có thể không phù hợp hoặc cản trở việc áp dụng các phương pháp giáo dục hiện đại. Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cần nhận thức về những thách thức này và tìm cách thích ứng, đổi mới để đáp ứng nhu cầu của học sinh hiện nay.
- Yếu tố chủ quan
Đối với các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông, kết quả khảo sát cho thấy:
- Ảnh hưởng mức khá: Nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên nhà trường; Sự kết hợp quản lý giáo dục giữa gia đình, nhà trường và xã hội Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hóa ứng xử cho HS.
- Rất ảnh hưởng: Kiến thức, năng lực của cán bộ quản lý, giáo viên; Đặc điểm về tâm sinh lý của các em.
Cán bộ quản lý và giáo viên cần có kiến thức sâu về giáo dục văn hóa ứng xử. Họ cần hiểu rõ về tầm quan trọng của việc truyền đạt và rèn luyện văn hóa ứng xử cho học sinh, cũng như vai trò của giáo dục văn hóa ứng xử trong việc phát triển toàn diện cho học sinh THPT. Cán bộ quản lý giáo dục cần có kỹ năng quản lý và lãnh đạo để xây dựng và duy trì một môi trường giáo dục văn hóa ứng xử tích cực. Họ phải biết cách lập kế hoạch, tổ chức và triển khai các hoạt động văn hóa ứng xử, cũng như thúc đẩy sự tham gia và tương tác tích cực từ phía giáo viên và học sinh. Giáo viên cần có kỹ năng giao tiếp và tương tác tốt để tạo ra một môi trường học tập và ứng xử tích cực. Họ phải biết cách giao tiếp hiệu quả với học sinh, xây dựng mối quan hệ tương tác tích cực, thể hiện sự tôn trọng và sự quan tâm đến học sinh. Kỹ năng này giúp giáo viên thúc đẩy sự rèn luyện và phát triển văn hóa ứng xử cho học sinh THPT.
Tất cả các yếu tố trên đều cần được đồng bộ và tương thích để tạo nên một môi trường giáo dục văn hóa ứng xử thành công cho học sinh tại các trường trung học phổ thông. Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử là quá trình liên tục và đòi hỏi sự phối hợp, cộng tác giữa các bên liên quan để đạt được kết quả tốt nhất.
2.5 Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hóa ứng xử cho HS.
2.5.1. Ưu điểm
Các trường THPT huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận từng bước quan tâm đến vấn đề giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh. Kết quả bước đầu giúp học sinh nắm vững các chuẩn mực văn hóa ứng xử trong môi trường giáo dục, có ý thức phấn đấu, vươn lên trong học tập, tu dưỡng, rèn luyện.
Nhà trường xây dựng văn hóa học đường lành mạnh, thân thiện và phòng, chống bạo lực học đường. Giáo dục học sinh giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, sống có trách nhiệm, nghĩa vụ chủ động học tập, đi học đúng giờ, không bỏ học, trốn tiết…
Trong quá trình thực hiện hoạt động giáo dục, nhà trường đã thành lập Ban chỉ đạo thực hiện giáo dục văn hóa ứng xử gồm Phó hiệu trưởng, Bí thư Đoàn Thanh niên, giáo viên chủ nhiệm. Hiệu trưởng trực tiếp chỉ đạo giáo viên phụ trách giảng dạy trực tiếp hoặc gián tiếp khi thực hiện chương trình giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh. Tổ chức các hoạt động giáo dục văn hóa giao tiếp, văn hóa ứng xử thông qua Câu lạc bộ kỹ năng, tọa đàm, báo cáo chuyên đề. Xây dựng môi trường học đường thân thiện, xanh- sạch-đẹp và an toàn; trường học hạnh phúc để các em học sinh có cảm giác là ngôi nhà thứ hai của mình. Rà soát, cập nhật các chính sách và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến công tác giáo dục văn hóa ứng xử trong nhà trường, gia đình, xã hội,…Kiểm tra định kì hàng tháng thông qua các tiết dự giờ theo quy định để xác định hiệu quả hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh.
2.5.2. Hạn chế
Bên cạnh những ưu điểm vừa nêu trên thì công tác quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh xuất hiện những hạn chế cần phải khắc phục đó là vấn đề nhận thức của CBQL, Gv, PHHS và HS về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục. Các nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận đã được tổ chức thực hiện. Tuy nhiên, kết quả đạt được đối với hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử chưa cao, thậm chí là yếu kém.
Công tác lập kế hoạch giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường THPT huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận chưa được quan tâm. Từ việc phân tích đặc điểm tình hình nhà trường về những thuận lợi và khó khăn của công tác giáo dục văn hóa ứng xử cho lứa tuổi học sinh THPT đến việc xác định và hình thành mục tiêu quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh đều chưa cụ thể, chi tiết. Kế hoạch tập huấn, đào tạo và phân công giáo viên thực hiện, tham gia hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử ở mức yếu. Kế hoạch kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh chỉ thỉnh thoảng được đề cập.
Công tác tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường THPT huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận còn nhiều hạn chế. Nhà trường chưa xây dựng quy trình và chương trình thực hiện giáo dục văn hóa ứng xử rõ ràng, cụ thể trong từng phân môn học. Thiếu đi sự hướng dẫn giáo viên cách thức tiến hành, các phương pháp thực hiện giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh cũng như khó khăn trong việc huy động sự tham gia từ các lực lượng trong và ngoài nhà trường; nêu cao tinh thần, trách nhiệm của các tổ chức chính trị-xã hội trong hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh.
Về công tác chỉ đạo thực hiện giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh ít được lãnh đạo nhà trường quan tâm. Mức độ thực hiện cũng như kết quả đạt được khá thấp so với yêu cầu, mục tiêu đặt ra. Chưa chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm tích hợp nhiều phương pháp và hình thức giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh. CBQL, GV, NV nhà trường thiếu sự gương mẫu, tiên phong trong tất cả các hoạt động của nhà trường. Hiếm khi tuyên dương, khen thưởng cá nhân và tập thể thực hiện tốt hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh.
Công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường THPT huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận chưa được đẩy mạnh. Các hoạt động kiểm tra, đánh giá chưa đảm bảo thực chất và chưa mang lại đúng mục tiêu, ý nghĩa thực sự của chức năng này. Nhà trường gặp khó khăn trong việc kiểm tra sự tiến bộ từ phía học sinh; hoạt động kiểm tra, đánh giá chưa được thực hiện thường xuyên và chưa theo đúng kế hoạch ban đầu.
2.5.3. Nguyên nhân của những hạn chế Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hóa ứng xử cho HS.
Công tác quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh THPT hiện nay phụ thuộc vào sự tương tác và tác động của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, bao gồm truyền thống văn hóa, điều kiện kinh tế – xã hội, nhận thức và kiến thức của cán bộ quản lý và giáo viên, sự kết hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội, đặc điểm tâm sinh lý của học sinh.
Truyền thống văn hóa có thể ảnh hưởng đến hành vi và giá trị của học sinh. Nếu giáo dục văn hóa và ứng xử trong trường hợp không phù hợp với truyền thống văn hóa, có thể gây ra sự xung đột và khó khăn trong quá trình quản lý.
Môi trường kinh tế – xã hội ảnh hưởng đến nguồn lực và cơ sở vật chất của hệ thống giáo dục. Các điều kiện tốt hơn về kinh tế và xã hội có thể cung cấp tài nguyên và cơ sở hạ tầng tốt hơn để hỗ trợ công tác quản lý giáo dục văn hóa và ứng xử cho học sinh THPT. Điều này tác động rất nhiều đến việc đa dạng nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh THTP.
Nhận thức và hiểu biết của cán bộ quản lý và giáo viên về giáo dục văn hóa và ứng xử là quan trọng để họ có thể thực hiện công tác quản lý hiệu quả. Điều này bao gồm việc nhận ra vai trò của giáo dục văn hóa ứng xử trong quá trình phát triển của học sinh và áp dụng các phương pháp quản lý phù hợp. Cụ thể trong việc xác định và hình thành mục tiêu quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử, gây ảnh hưởng đến quá trình xác định những thuận lợi và khó khăn của công tác giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh THPT.
Kiến thức và năng lực chuyên môn của cán bộ quản lý và giáo viên ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý giáo dục văn hóa và ứng xử. Sự am hiểu về các phương pháp giảng dạy, quản lý lớp học, cũng như kỹ năng giao tiếp và giải quyết xung đột là quan trọng để xây dựng một môi trường giáo dục tích cực. Yếu tố này ảnh hưởng rất nhiều đến việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra, đánh giá hoạt động. Một khi CBQL, GV thiếu năng lực chuyên môn thì triển khai hoạt động sẽ gặp nhiều khó khăn và hiệu quả của hoạt động không cao.
Quản lý giáo dục hiệu quả đòi hỏi sự hợp tác và tương tác giữa gia đình, nhà trường và xã hội. Sự hỗ trợ và phối hợp giữa các bên này có thể tạo ra môi trường giáo dục tích cực và tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh. Chính sự phối hợp thiếu chặt chẽ dẫn đến kết quả hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh chưa đạt được mục tiêu đặt ra.
Sự hiểu biết về tâm sinh lý của học sinh là quan trọng để phát triển các phương pháp quản lý giáo dục văn hóa và ứng xử phù hợp. Cần có sự nhạy bén đối với các yếu tố như tình cảm, động lực và sự phát triển cá nhân của học sinh để xây dựng một môi trường giáo dục đáng tin cậy và hỗ trợ. Vấn đề này cần được CBQL, GV quan tâm nhiều hơn nữa để góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục.
Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hóa ứng xử cho HS.
Như vậy, ở chương 2 trên cơ sở khảo sát thực trạng về công tác giáo dục văn hóa ứng xử và quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận đã đạt được một số kết quả nhất định như: Nhà trường xây dựng văn hóa học đường lành mạnh, thân thiện và phòng, chống bạo lực học đường. Giáo dục học sinh giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, sống có trách nhiệm, nghĩa vụ chủ động học tập, đi học đúng giờ, không bỏ học, trốn tiết…
Bên cạnh những ưu điểm đã nêu ở trên thì những hạn chế cần phải khắc phục đối với công tác quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh đó là vấn đề nhận thức của CBQL, Gv, PHHS và HS về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục; Hiệu quả thực hiện của những nội dung, phương pháp, hình thức thực hiện hoạt động giáo dục. Đặc biệt là công tác quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh hạn chế từ khâu lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện đến công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục. Đối với thực trạng nêu trên, CBQL các trường THPT huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận cần phải tập trung các nguồn lực nâng cao hiệu quả công tác giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh.
Xuất phát từ thực trạng về công tác giáo dục văn hóa ứng xử và quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, tác giả cho rằng, đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý cần phải tìm hiểu, nghiên cứu, xây dựng những giải pháp quản lý tích cực mang tính đồng bộ, khoa học để nâng cao chất lượng giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh, góp phần xây dựng con người Việt Nam: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo.
Từ những ưu điểm, hạn chế và những nguyên nhân được nêu ở chương 2, tác giả sẽ tập trung làm rõ các giải pháp cụ thể trong chương 3 góp phần nâng cao hiệu quả công tác giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại các trường trung học phổ thông huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hóa ứng xử cho HS.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý giáo dục văn hóa ứng xử cho HS

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
