Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng dạy học môn Toán ở các trường Trung học hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Toán theo hướng phát triển năng lực ở các trường Trung học cơ sở huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI VÀ GIÁO DỤC HUYỆN CẦU KÈ, TỈNH TRÀ VINH
2.1.1 Về vị trí địa lý, kinh tế, xã hội và giáo dục huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh
2.1.1.1 Về vị trí địa lý
Điều kiện tự nhiên: Huyện Cầu Kè nằm về phía Tây của tỉnh Trà Vinh, thuộc tả ngạn sông Hậu; phía Đông giáp huyện Càng Long, huyện Tiểu Cần; phía Tây và Nam giáp sông Hậu; phía Bắc giáp huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.
Toàn huyện có 10 xã, 01 thị trấn, gồm: Châu Điền, Phong Phú, Phong Thạnh, Ninh Thới, Hoà Tân, An Phú Tân, Tam Ngãi, Hoà Ân, Thông Hoà, Thạnh Phú và thị trấn Cầu Kè. Tổng diện tích tự nhiên là 24.662ha. Trung tâm huyện lỵ nằm cách trung tâm tỉnh lỵ (Thành phố Trà Vinh) 40 km theo quốc lộ 54 và 60.
2.1.1.2 Về kinh tế – xã hội
Vùng đất thuộc huyện Cầu Kè thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, cụ thể:
Cây lúa: Tổng diện tích sản xuất năm 2022 là 381 ha, đạt 99,28% kế hoạch (30.600 ha), giảm 906 ha so cùng kỳ, năng suất bình quân 5,71 tấn/ha; Sản lượng đạt 173.552 tấn, đạt 91,48% so kế hoạch, giảm 18.927 tấn so với năm 2021.
Cây màu: Năm 2022 gieo trồng được 873 ha cây màu các loại, đạt 108,56% kế hoạch (5.410 ha), tăng 511 ha. Sản lượng ước đạt 112.996 tấn, đạt 100,48% so kế hoạch (112.458 tấn), tăng 1.491 tấn so năm 2021.
Chăn nuôi: Tổng đàn gia súc 111.786 con, tăng 11.791 con; gia cầm 629.960 con, giảm 62.040 con.
Đặc điểm dân số và nguồn lao động: Theo số liệu thống kê, toàn huyện Cầu Kè hiện có 111.729 người, khu thị trấn Cầu Kè có 6.889 người chiếm 6,16% dân số toàn huyện. Dân tộc thiểu số 38.965 người 30,93%. Số hộ gia đình 30.593 hộ. Lao động chủ yếu là sản xuất nông lâm nghiệp. Luận văn: Thực trạng dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
2.1.1.3 Về văn hóa và giáo dục
Toàn huyện có 52 đơn vị trường với tổng số học sinh là 20.679 em ở tất cả các bậc (Trong đó có 11 trường Mầm non, mẫu giáo, 25 trường tiểu học, 12 trường THCS, 03 trường THPT và 01 trung tâm giáo dục thường xuyên – Hướng nghiệp và dạy nghề). Có 08 trường tiểu học được công nhận đạt chuẩn quốc gia mức độ I.
Công tác giáo dục vùng đồng bào dân tộc được giữ vững và ngày càng phát triển. Toàn huyện hiện có 12/25 trường tiểu học dạy ngữ văn Khmer với 88 lớp/1.610 HS. Cuối năm có 1.610/1.610 hs xếp loại hoàn thành chương trình học (đạt 100% so số học sinh tham gia).
Tổ chức tốt các cuộc thanh tra toàn diện, thanh tra chuyên đề, kiểm duyệt giáo án, hồ sơ, sổ sách theo kế hoạch. Thực hiện tốt công tác phổ cập giáo dục ở các cấp học: phổ cập giáo dục mầm non được tỉnh công nhận đạt chuẩn, phổ cập Tiểu học đúng độ tuổi tại 11/11 xã – thị trấn đạt 100%, phổ cập THCS có 11/11 xã đạt mức độ 1, phổ cập giáo dục xóa mù chữ mức độ 2 đạt 100%.
Các chương trình, dự án được tổ chức, triển khai thực hiện nghiêm túc: chương trình đảm bảo chất lượng giáo dục (Seqaq) có 8/25 trường tham gia chương trình, dự án mô hình trường học mới (vnen) có 6/25 trường tham gia dự án.
2.1.2 Tình hình giáo dục Trung học cơ sở huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh
2.1.2.1 Quy mô trường, lớp và chất lượng học sinh cấp Trung học cơ sở huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh
Năm học 2024-2025, huyện Cầu Kè có 36 trường MN, MG, TH, cụ thể: Bảng 2.1. Quy mô trường, lớp, học sinh các trường MN, MG, TH trên địa bàn huyện
Nhìn vào bảng thống kê cho thấy, qui mô trường, lớp, học sinh cấp mầm non và tiểu học trong năm học 2024-2025 có xu hướng giảm nhẹ so với năm học 2023-2024.
Riêng cấp THCS có 11 Trường THCS và 01 Trường PTDT trú THCS. Năm học 2024-2025, cấp THCS với 163 lớp/5.741 HS, giảm 05 lớp so với năm học 2022-2023 và giảm 3 lớp so với năm học 2023-2024. Tuy nhiên số HScó xu hướng tăng, cụ thể như sau:
Bảng 2.2. Quy mô trường, lớp, học sinh các trường THCS trên địa bàn huyện
- Chất lượng giáo dục
Chất lượng giáo dục các Trường THCS trên địa bàn được thống kê 2 mặt giáo dục như sau:
- Bảng 2.3. Kết quả 02 mặt giáo dục năm học 2024 – 2025:
Kết quả xếp loại 2 mặt giáo dục qua bảng trên cho thấy số HS có hạnh kiểm khá tốt trở lên chiếm tỉ lệ rất cao (99,49% ). Xếp loại học lực từ loại khá trở lên chiếm 67,69% , học sinh xếp loại học lực trung bình yếu chiếm 0,5%.
2.1.2.2 Tình hình đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên dạy môn Toán cấp Trung học cơ sở ở huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh
- Tình hình đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên dạy môn Toán cấp Trung học cơ sở huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh
Bảng 2.4. Tình hình đội ngũ CBQL, GV, nhân viên các Trường THCS
Qua bảng số liệu trên cho thấy, số CBGV nói chung và số GV dạy môn Toán nói riêng luôn ổn định qua các năm, đủ so với qui định. Luận văn: Thực trạng dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
Chất lượng đội ngũ giáo viên dạy môn Toán cấp Trung học cơ sở huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh
- Bảng 2.5. Chất lượng đội ngũ giáo viên dạy môn Toán cấp THCS
Qua bảng số liệu trên cho thấy, đội ngũ GV dạy môn Toán đảm bảo đủ về số lượng, 100% GV có trình độ đào tạo đạt chuẩn trở lên, GV có trình độ Đại học là 54 GV chiếm tỉ lệ 87,09% và GV có trình độ Cao đẳng là 8 GV, chiếm tỉ lệ 12,91%. Có 62/62 GV đạt danh hiệu GV dạy giỏi cấp trường trở lên, chiếm tỉ lệ 100%; 100% GV được xếp loại chuyên môn từ khá trở lên và tỉ lệ GV xếp loại tốt tăng dần hàng năm. Tuy nhiên còn 8 giáo viên có trình độ đào tạo cao đẳng, cần phấn đấu thêm vì so với chuẩn đào tạo được quy định trong Luật giáo dục 2025, giáo viên THCS phải có trình độ đại học.
100% GV có trình độ ngoại ngữ tương đương bậc 1 theo khung 6 bậc của chuẩn Châu Âu và 100% GV có trình độ đạt chuẩn công nghệ thông tin cơ bản.
Về cơ cấu tuổi đời của GV dạy môn Toán được thể hiện qua bảng sau: Bảng 2.6. Độ tuổi giáo viên dạy môn Toán cấp THCS
Đội ngũ GV dạy môn Toán của các trường THCS trên địa bàn huyện hiện nay gồm có 62 GV, trong đó có 19 GV là nữ. Số GV trong độ tuổi 31- 40 tuổi là 35 người, độ tuổi 41 đến dưới 50 tuổi là 24 người và độ tuổi trên 50 tuổi là 03 người.
Qua trao đổi với lãnh đạo của 4 trường nằm trong kế hoạch khảo sát, tác giả nhận thấy đội ngũ giáo viên môn Toán của các trường đều là những giáo viên nhiệt tình, có trách nhiệm, yêu nghề, ham học hỏi và thích tìm tòi những kiến thức và phương pháp giảng dạy mới; gắn bó với nghề và mong muốn nhà trường phát triển; chất lượng chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm hầu hết đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. Tuy nhiên số giáo viên trên 40 tuổi là 24 người, tính năng động, nhạy bén với việc vận dụng phương pháp mới sẽ gặp khó khăn.
2.1.2.3 Điều kiện cơ sở vật chất các trường Trung học cơ sở huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh
- Bảng 2.7 Tình hình cơ sở vật chất các trường THCS
Thực hiện chính sách tự chủ trong việc quản lý sự dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị tại các cơ sở giáo dục công lập trên địa bàn huyện được đảm bảo đạt chất lượng. Ngoài tiền lương và định mức chi thường xuyên theo quy định, hàng năm các đơn vị còn được bố trí thêm khoản kinh phí mua sắm sách, thiết bị từ nguồn chi thường xuyên để mua sắm trang thiết bị, đồ dùng dạy học, sách giáo khoa và các thiết bị cho thư viện, thiết bị nhà trường, nhằm tạo điều kiện nâng cao chất lượng dạy và học cho nhà trường, chính vì vậy phòng học được xây dựng ngày càng khang trang hơn, phòng thực hành thí nghiệm, phòng máy vi tính và phòng thiết bị tăng dần qua các năm, từ năm học 2022-2023 đến năm học 2024-2025. Tuy nhiên còn 4 trường thiếu phòng thí nghiệm, thực hành.
2.2 KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH KHẢO SÁT THỰC TRẠNG Luận văn: Thực trạng dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
2.2.1 Mục đích khảo sát
Tìm ra biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Toán theo hướng phát triển năng lực một cách có hiệu quả. Góp phần hình thành và phát triển ở HS các phẩm chất chủ yếu, năng lực chung và năng lực chuyên môn. Chương trình môn Toán giúp HS tiếp tục tìm hiểu các khái niệm, các định lý, tính chất làm cơ sở khoa học cho việc ứng dụng nghiên cứu khoa học, nhất là tiến bộ của công nghệ thông tin vào thực tiễn đời sống; trên cơ sở đó HS định hướng được ngành nghề để tiếp tục học, phát triển sau THPT.
2.2.2 Đối tượng khảo sát
Đề tài tập trung khảo sát tại 04 trường THCS trên địa bàn huyện gồm: Trường THCS Thị trấn Cầu Kè; Phong Phú; Hòa Ân và Thạnh Phú.
Đối tượng khảo sát gồm:
- 04 Hiệu trưởng, 04 Phó Hiệu trưởng
- 22 giáo viên phụ trách dạy môn Toán.
- 120 học sinh lớp 9 của 04 trường THCS.
Đối tượng khảo sát được thể hiện qua bảng 8 như sau: Bảng 2.8. Đối tượng khảo sát
2.2.3 Nội dung khảo sát
Khảo sát thực trạng HĐDH môn Toán theo hướng phát triển năng lực ở các trường THCS huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh. Khảo sát về mặt nhận thức, thái độ và hành động của CBQQL, của GV và HS trong việc dạy học môn Toán theo hướng phát triển năng lực của học sinh.
2.2.4 Phương pháp và công cụ khảo sát
Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Xây dựng các phiếu trưng cầu ý kiến nhằm khảo sát ý kiến của các đối tượng khảo sát: CBQL, GV và HS về nhận thức, thực trạng, sự cần thiết về quản lý hoạt động dạy học môn Sinh học; Bộ câu hỏi phục vụ điều tra gồm các mẫu: Luận văn: Thực trạng dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
- Mẫu 1: Phiếu trưng cầu ý kiến dành cho CBQL và GV THCS.
- Mẫu 2: Phiếu trưng cầu ý kiến dành cho học sinh THCS.
- Mẫu 3: Phiếu trưng cầu ý kiến dành cho CBQL và GV dạy Toán THCS.
Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn các đối tượng CBQL, GV về tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất.
Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Trong quá trình nghiên cứu, tác giả xin ý kiến các chuyên viên, lãnh đạo Phòng GD&ĐT về tình hình quản lý HĐDH môn Toán ở các Trường THCS trên địa bàn huyện Cầu Kè hiện nay và đổi mới dạy học theo hướng phát triển năng lực của học sinh trong thời gian tới.
Phương pháp quan sát: Nhằm thu thập thông tin về khả năng tiếp thu kiến thức, mức độ tư duy và sáng tạo của HS và khả năng sử dụng thiết bị hỗ trợ dạy học bộ môn Toán. Quan sát và dự giờ dạy lý thuyết của GV dạy môn Toán ở các trường THCS trên địa bàn huyện Cầu Kè để nhận xét thái độ, khả năng hứng thú học tập, năng lực học môn Toán của HS và khả năng sử dụng đồ dùng dạy học, đổi mới PPDH của GV, nhất là phát triển năng lực của học sinh.
Phương pháp phân tích và đánh giá: Tiến hành đánh giá thực trạng giảng dạy bộ môn Toán trong các Trường THCS trên địa bàn huyện hiện nay, phân tích so sánh với thực tiễn và các quy định của ngành để tìm ra những hạn chế trong quá trình thực hiện để đề xuất các biện pháp nhằm quản lý tốt HĐDH môn Toán theo hướng phát triển năng lực của học sinh ở các trường THCS huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh trong thời gian tới.
2.2.5 Xử lý kết quả khảo sát
Thông qua các số liệu thu thập được bằng phiếu hỏi để phân tích, xử lý bằng phương pháp thống kê toán học, xử lý số liệu bằng phương pháp tính điểm trung bình, xếp thứ bậc nhằm đảm bảo độ tin cậy của các kết quả khảo sát, nghiên cứu.
Cách quy ước điểm số cho bảng hỏi: Mỗi phiếu đều có các lựa chọn và được quy ước bằng các mức điểm khác nhau, thể hiện như sau:
- Thống kế số lượng phiếu đã điều tra (số phiếu phát ra, số phiếu thu về);
Quy ước thang đo, quy ước khoảng điểm số
- Rất nhiều (mức 1): 4đ; Nhiều (mức 2): 3đ; Ít (mức 3): 2đ; Không (mức 4): 1đ.
- 3.5 ≤ X ≤ 4.0: Rất nhiều;
- 2.5 ≤ X < 3.5: Nhiều;
- 1.5 ≤ X < 2.5: Ít;
- 1.0 ≤ X < 1.5: Không.;
- Đánh giá thông qua chỉ số %, điểm trung bình cộng ( X );
- Kết quả được xử lí bằng Exel, cách tính các thông số theo các công thức sau: + Tỉ lệ % :
2.3 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TOÁN THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN CẦU KÈ, TỈNH TRÀ VINH
Để làm rõ hơn về thực trạng HĐDH môn Toán theo hướng PTNL của HS tại các trường THCS trong huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh, tác giả đã tiến hành khảo sát bằng phiếu điều tra, bằng tìm hiểu, trao đổi với các nhà giáo có kinh nghiệm và tham quan thực tế công tác quản lí của các HT xoay quanh các vấn đề: nhận thức của CBQL, GV, HS về HĐDH môn Toán theo hướng PTNL; thực trạng về môi trường; về công tác dạy và học môn Toán theo hướng PTNL của HS; công tác quản lí của HT đối với HĐDH môn Toán theo hướng PTNL của HS.
Chúng tôi tiến hành điều tra bằng phiếu trên ba nhóm đối tượng: CBQL, GV toán trực tiếp giảng dạy và HS ở lớp 9 trong 04 trường THCS Số lượng điều tra như sau: CBQL: 08 người; GV: 22 người; HS: 120 người.
2.3.1 Thực trạng về nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh trong việc dạy học môn Toán theo hướng phát triển năng lực của học sinh Luận văn: Thực trạng dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
Bảng 2.9. Ý kiến của CBQL, GV về sự cần thiết của HĐDH môn Toán theo hướng PTNL của HS
- Kết quả ở bảng 2.9 cho thấy:
CBQL và GV coi trọng việc dạy học môn Toán theo hướng PTNL của HS. Điều này thể hiện qua tỉ lệ 93,3 % GV và CBQL đánh giá HĐDH theo định hướng PTNL của HS là rất cần thiết và cần thiết. Tuy nhiên vẫn còn tỉ lệ 6,7% CBQL và GV đánh giá ít cần thiết.
Theo bảng thống kê số liệu cho thấy CBQL nhận thức việc dạy học môn Toán theo hướng PTNL của HS là cần thiết và rất cần thiết đạt kết quả 100%. Trong khi đó kết quả đánh giá ở của mức độ ít cần thiết là đánh giá của GV (9,1%).
Bảng 2.10. Ý kiến của CBQL, GV Toán về tầm quan trọng của HĐDH môn Toán theo hướng PTNL của HS
- Kết quả ở bảng 2.10 cho thấy:
Hầu hết CBQL đã nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của HĐDH theo hướng PTNL của HS, thể hiện ở tỉ lệ gần 100% đánh giá rất quan trọng và quan trọng của dạy học theo định hướng PTNL nhằm hướng đến người học và đáp ứng yêu cầu dạy học trong thời đại ngày nay. Việc lấy thành tích cho nhà trường được CBQL đánh giá thấp nhất ở mức độ rất quan trọng là 0%. Điều này phản ánh nhận thức của CBQL đã không còn chạy theo thành tích mà mục tiêu giáo dục của nhà trường hướng đến hình thành những kỹ năng cho người học. Tuy nhiên vẫn còn 9,3% GV Toán cho rằng việc lấy thành tích cho nhà trường là rất quan trọng.
2.3.2 Thực trạng về việc dạy môn Toán theo hướng phát triển năng lực của học sinh
2.3.2.1 Thực trạng về việc thực hiện nội dung chương trình
Bảng 2.11. Ý kiến GV về thực trạng thực hiện nội dung chương trình môn Toán
- Kết quả ở bảng 2.11 cho thấy: Luận văn: Thực trạng dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
Các GV đều đồng nhất ý kiến là luôn thực hiện nội dung hoàn toàn theo đúng quy định của chương trình với 100%. Qua trao đổi, các thầy cô đều cho rằng chương trình SGK phù hợp; kiến thức trình bày cơ bản có hệ thống, rõ ràng, sắp xếp mạch kiến thức hợp lí, phù hợp với nhận thức và sự tiếp thu của HS.
Qua kết quả khảo sát cho thấy một số GV đã chủ động giảm những nội dung HS chưa nắm chắc, điều này giúp HS đỡ nhàm chán và giảm tải cho HS. Tuy nhiên, tỷ lệ GV thực hiện việc này thường xuyên còn ít (31,8%). Việc tăng cường những nội dung HS chưa hiểu rõ có 68,2% tiến hành thường xuyên. Việc giảm những nội dung lí thuyết để tăng nội dung thực hành luyện tập được đa số GV thực hiện, với 81,8%.
Chúng tôi thấy có mâu thuẫn trong các số liệu thu được ở trên. Có 100% GV nói rằng luôn luôn thực hiện đúng quy định của chương trình nhưng mặt khác số GV giảm những nội dung HS đã hiểu rõ và tăng cường nội dung thi, tăng nội dung HS chưa hiểu rõ và tăng nội dung thực hành, luyện tập lại chiếm lần lượt 86,3% và 81,8%. Qua trao đổi trực tiếp thì thấy nguyên nhân của mâu thuẫn trên là: từ năm học 2017 – 2018, Sở Giáo dục & Đào tạo Trà Vinh không ban hành phân phối chương trình (PPCT) chi tiết mà chỉ ban hành khung PPCT. Với mỗi chủ đề GV chỉ cần dạy theo số tiết mà khung quy định, có thể gộp hay tách các nội dung trong chủ đề đó cho phù hợp với tình hình HS của mình. Mỗi nhà trường tự xây dựng kế hoạch dạy học để thực hiện. Do việc tự chủ chương trình, một mặt GV vẫn đảm bảo thực hiện khung PPCT, mặt khác có thể chủ động điều chỉnh cho phù hợp với đối tượng HS giảng dạy.
Việc thiết kế dạy học liên môn còn hạn chế, chỉ có một tỷ lệ nhỏ thực hiện việc này một cách không thường xuyên. Thiết kế bài học theo quan điểm phân hóa đối tượng đã được một số GV thực hiện, tuy nhiên đa số thực hiện chưa thường xuyên và không nhiều GV thực hiện.
Tóm lại việc thực hiện nội dung chương trình theo hướng PTNL còn hạn chế. Nhiều GV chưa chủ động giảm những phần HS đã biết, làm mất thời gian và giảm hứng thú của HS. Thực hiện dạy học tích hợp, liên môn, phân hóa còn hạn chế. Cũng qua khảo sát ở trên cho thấy, đa số GV dạy Toán vẫn còn mang nặng tâm lí “thi gì dạy nấy” chứ chưa coi trọng mục tiêu dạy học theo hướng PTNL của HS.
2.3.2.2 Thực trạng sử dụng phương pháp và hình thức tổ chức dạy học môn Toán
Bảng 2.12. Thực trạng việc sử dụng các phương pháp và hình thức dạy học
- Kết quả ở bảng 2.12 cho thấy: Luận văn: Thực trạng dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
Việc sử dụng các phương pháp và hình thức dạy học tích cực ở môn Toán còn rất hạn chế. Phương pháp dạy học được đa số GV sử dụng là thuyết trình và vấn đáp với lần lượt là 77,3% và 72,7%. Ngoài ra phương pháp dạy học được sử dụng nhiều là phương pháp luyện tập và thực hành vì đó chính là đặc trưng của môn Toán. Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề có 40,9% GV thường xuyên sử dụng. Các phương pháp trực quan và hợp tác nhóm rất ít được sử dụng.
Hình thức dạy học cả lớp với 100% GV thường xuyên sử dụng; hình thức dạy học theo nhóm được 9,1% thường xuyên sử dụng. Tuy nhiên qua tìm hiểu thực tế thì được sử dụng trong chủ yếu trong các giờ thao giảng, dạy tốt. Giải thích tình trạng này, GV đều trả lời: Kiến thức nhiều, thời gian có hạn, thi cử lại khó khăn. GV giảng cũng chẳng đủ thời gian, nếu thảo luận nhóm để HS trình bày, sau đó GV lại định hướng thì không thể đi hết nội dung bài học. Hơn nữa lớp học đông, có lớp đến 45 HS nên việc tổ chức hoạt động nhóm thường kém hiệu quả. Vì trong một tiết học không đủ thời gian để tất cả các nhóm trình bày và GV cũng không thể định hướng được phần trả lời của các nhóm. Ngoài ra để hoạt động nhóm thực sự thì bản thân HS cần hết sức tích cực, mỗi cá nhân đều phải hoạt động và hợp tác làm việc, song thực tế thì những HS học yếu hơn lại chỉ “trông chờ” vào bạn giỏi hơn, nên hoạt động nhóm đối với HS trung bình yếu là ít hiệu quả. Như vậy nội dung và thời lượng chương trình cũng như quy mô lớp học dẫn đến việc học nhóm chưa được áp dụng nhiều. Qua trao đổi trực tiếp thì nhận thấy đa số những GV có tuổi thường rất ít áp dụng dạy học theo nhóm hay phát hiện và giải quyết vấn đề; còn những GV trẻ hơn lại hào hứng với hai hình thức dạy học này hơn. Như vậy bản thân GV còn ngại học hỏi, ngại áp dụng cũng là một nguyên nhân lớn khiến hai hình thức này còn ít được phổ biến trong giờ học Toán. Dạy học trong môi trường thực tế (dạy học ngoài lớp) hết sức hạn chế và hầu như không được sử dụng. Hình thức dạy học cá nhân và trong môi trường giả định chưa được GV sử dụng.
Tóm lại, các phương pháp và hình thức dạy học tích cực được sử dụng hạn chế hoặc không sử dụng. Mặc dù cơ sở vật chất còn hạn chế gây khó khăn cho việc đổi mới phương pháp và hình thức học tập, tuy nhiên nguyên nhân chủ yếu nhất là do GV ngại thay đổi và chưa thật sự nắm chắc các phương pháp và hình thức dạy học tích cực.
2.3.2.4 Thực trạng về việc kiểm tra, đánh giá đối với môn Toán
Bảng 2.13. Công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Toán của HS
- Kết quả ở bảng 2.13 cho thấy:
Hiện nay GV chưa kết hợp đa dạng các hình thức đánh giá kết quả học tập của HS. Hình thức kiểm tra chủ yếu vẫn là kiểm tra viết và vấn đáp với lần lượt 90,9% và 86,4%. Việc cho điểm khi HS có ý tưởng giải quyết vấn đề thực tế ít được GV thực hiện. Thực hiện việc đánh giá quá trình học tập của HS chỉ có 9,1% GV thỉnh thoảng thực hiện. Tức là chủ yếu GV đánh kết quả cuối cùng để lấy điểm, xếp loại HS. Hình thức cho HS tự đánh giá còn ít GV thường xuyên thực hiện, để HS đánh giá chéo được một tỷ lệ khá lớn GV thực hiện với mức mức thường xuyên và thỉnh thoảng 81.8%. Tuy nhiên, qua việc trao đổi trực tiếp thì thấy rằng việc tự đánh giá hay đánh giá chéo của HS cũng chỉ dừng lại ở việc đánh giá bài làm đúng hay sai, trình bày đã tốt hay chưa mà chưa có phản hồi chính xác về nguyên nhân của hạn chế, thiếu xót và cách khắc phục.
2.3.2.5 Thực trạng về hiệu quả giảng dạy môn Toán
Bảng 2.14. Đánh giá hiệu quả của việc dạy học môn Toán theo hướng PTNL của HS
- Kết quả bảng 2.14 cho thấy: Luận văn: Thực trạng dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
Tất cả CBQL và GV đều cho rằng chất lượng bài học khi dạy học theo hướng PTNL của HS ở mức độ hiệu quả (điểm trung bình của GV là 3.41đ và của CBQL là 3.5đ). Qua đó phản ánh được việc khi GV thực hiện dạy học theo hướng PTNL đã mang lại hiệu quả thiết thực trong quá trình dạy học.
Trong đó hiệu quả “HS hứng thú với bài học” được đánh giá mức độ tốt cao nhất kể cả GV và CBQL. Điều này đã chứng minh được hiệu quả của HĐDH theo định hướng PTNL của HS.
Nội dung được đánh giá thấp nhất của GV là “Rèn luyện kĩ năng khai thác thông tin từ nhiều nguồn khác nhau phục vụ cho bài học ở HS” (ĐTB = 2.32đ). Nội dung đánh giá thấp nhất của CBQL là “Rèn luyện khả năng tự học cho HS” đạt ĐTB = 2.36đ. Điều này phản ánh rằng HS ở các trường THCS huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh còn thụ động trong quá trình tiếp nhận kiến thức, chưa chủ động; việc rèn luyện kĩ năng tự học cho HS vẫn còn nhiều hạn chế.
2.3.2.6 Thực trạng về phương pháp học tập và những khó khăn của học sinh
Bảng 2.15. Kết quả khảo sát HS về phương pháp học tập đối với môn Toán
- Kết quả bảng 2.15 cho thấy:
Hình thức học tập của HS vẫn là học thuộc lí thuyết đã học và làm bài tập được giao về nhà, với trên 94,2% HS thực hiện; việc tự học theo hướng dẫn của thầy cô còn hạn chế, có khoảng hơn 68% HS được khảo sát cho biết là thỉnh thoảng thực hiện hoặc chưa khi nào thực hiện. Qua trao đổi cho thấy nguyên nhân là do việc hướng dẫn HS tự học của thầy cô chưa thực hiện thường xuyên. Việc vẽ sơ đồ tư duy cho các chủ đề đã học được một tỷ 1ệ nhỏ HS thực hiện (12,5%). Hình thức học tập qua việc viết báo cáo về một chủ đề rất ít HS sử dụng, nguyên nhân là do ít thầy cô yêu cầu. Làm đồ dùng, thiết bị, đồ chơi ứng dụng kiến thức học được một tỷ lệ nhỏ HS sử dụng (8,3% thỉnh thoảng thực hiện). Qua thực tế chúng tôi thấy, hoạt động này hầu như không được GV yêu cầu đối với tiết học trên lớp. Việc tìm kiếm thông tin trên báo, tạp chí và internet đã có nhưng còn ít với tỷ lệ 16,7% thực hiện thường xuyên và 35,8% thỉnh thoảng thực hiện.
Nhìn chung phương pháp và hình thức học tập tích cực của HS nhà trường còn hạn chế, chủ yếu vẫn là học thuộc kiến thức; hầu hết HS chưa có khả năng tự học. Các hình thức học tập có tác dụng PTNL như viết báo cáo về một chủ đề, hệ thống hóa kiến thức,…chưa được thực hiện nhiều. Việc vận dụng kiến thức thường là giải lại bài tập với số liệu mới, còn vận dụng kiến thức đã học vào thực tế được rất ít HS thực hiện. Luận văn: Thực trạng dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
- Bảng 2.16. Kết quả khảo sát HS về những khó khăn gặp phải trong quá trình thầy cô dạy học môn Toán
Kết quả bảng 2.16 cho thấy: Phần lớn HS cho rằng kiến thức bài dạy còn nặng (ĐTB = 2.96đ). Lý giải việc này, các em cho rằng vì kiểm tra đánh giá môn Toán hiện nay có sử dụng hình thức trắc nghiệm nên GV phải dạy bao quát hầu hết các kiến thức trong chương trình; đôi khi còn dạy thêm các kiến thức nằm ngoài chương trình nhằm giúp cho việc giải bài tập trắc nghiệm hiệu quả hơn. Điều kiện và thiết bị dạy học đối với môn Toán được các em đánh giá ở mức ít; đa số các em đều cho rằng thầy cô ít hoặc không sử dụng phương pháp đọc-chép trong giảng dạy (ĐTB = 2.38đ). Điều này cho thấy hiện nay các thầy cô đã vận dụng các phương pháp trong giảng dạy một cách linh hoạt và phong phú hơn. Tuy nhiên các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực như thảo luận nhóm, thực hiện các dự án, thảo luận nhóm theo kỷ thuật khăn trải bàn,…không được sử dụng nhiều (ĐTB = 3.00đ). Qua trao đổi về việc này, GV cho rằng các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực thường cần nhiều thời gian để thực hiện; trong khi lượng kiến thức trong một tiết học của môn Toán ở bậc THCS là tương đối nhiều nên việc sử dụng rất hạn chế. Các em cũng cho rằng việc dự giờ của Ban Giám hiệu và các thầy cô đôi khi gây khó khăn đến việc học tập của các em (ĐTB = 2.97đ). Giải thích về việc này các em cho rằng khi có thầy cô và đặc biệt là có Ban Giám hiệu đến dự giờ thăm lớp thì các em thấy ngại và sợ nên tiết học không được tự nhiên. Nhiều em có cùng ý kiến là thầy cô khá quan tâm đến việc khuyến khích động viên của những HS tích cực tham gia các hoạt động học (ĐTB = 2.78đ). Nhìn chung thì các em cũng đồng ý là còn thụ động và chưa quen với phương pháp học tập tích cực (ĐTB = 3.01đ).
2.3.3 Thực trạng về điều kiện môi trường dạy học theo định hướng phát triển năng lực của học sinh
Cùng với phong trào thi đua xây dựng “trường học thân thiện, HS tích cực”, các nhà trường đã tạo được môi trường sư phạm tốt, nhiều cán bô, GV, nhân viên đã hết lòng vì HS. Bên cạnh đó do tác động của nền kinh tế thị trường, các tệ nạn xã hội như ma túy, cờ bạc, các trò chơi trực tuyến (games online, facebook…) đã tác động không nhỏ đến quá trình giáo dục HS của nhà trường. Việc phối hợp giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội đã có nhiều chuyển biến. Phụ huynh HS đã quan tâm nhiều hơn đến việc học tập của con em họ. Tuy nhiên đa số cha mẹ HS là người dân tộc thiểu số (Khmer), đời sống kinh tế còn gặp khó khăn hầu hết chưa có nhận thức đầy đủ về việc phối hợp trong giáo dục HS; thậm chí, có không ít người phó mặc con em cho nhà trường, vì thế việc tập hợp được lực lượng này là điều rất khó khăn cho các trường THCS trên địa bàn huyện.
Công tác cải tạo, xây dựng cảnh quan, môi trường, giữ gìn vệ sinh trường lớp “xanh – sạch – đẹp – an toàn” được các nhà trường quan tâm; hầu hết các trường đều có hệ thống cây xanh, cảnh quan thoáng mát. Các hoạt động ngoại khóa, sinh hoạt theo chủ điểm được nhà các nhà trường duy trì. Tuy nhiên nội dung và hình thức của các hoạt động này chưa thực sự phong phú và hấp dẫn. Cơ sở vật chất và thiết bị tại các trường THCS huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh dần được trang bị theo hướng chuẩn hóa nhằm phục vụ tốt cho nhu cầu dạy và học. Dù vậy, vẫn còn một số trường chưa đủ phòng học để đảm bảo giao cho mỗi lớp quản lý một phòng. Vì vậy việc triển khai chéo buổi, một số trường phải tổ chức ghép lớp để đảm bảo chỗ học cho HS, điều này gây khó khăn cho việc quản lý tự học, HS ít tập trung trong quá trình tự học. Qua trao đổi với một số cán bộ quản lý cho thấy việc sử dụng và bảo quản các trang thiết bị, đồ dùng dạy học ở các nhà trường hiện nay vẫn còn nhiều bất cập và chưa thật khoa học.
2.4 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TOÁN THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN CẦU KÈ TỈNH TRÀ VINH
2.4.1 Thực trạng quản lý hoạt động dạy môn Toán theo hướng phát triển năng lực của học sinh Luận văn: Thực trạng dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
2.4.1.1 Quản lý việc xây dựng và thực hiện kế hoạch dạy học môn Toán
Bảng 2.17. Xây dựng kế hoạch dạy học môn Toán theo hướng PTNL
- Kết quả ở bảng 2.17 cho thấy:
Không có nội dung nào được CBQL và GV đánh giá ở mức không thực hiện; các nội dung đều được đánh giá thực hiện ở mức thường xuyên với ĐTB từ 2.77đ đến 3.25đ.
Tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch được CBQL và GV đánh giá ở mức độ thường xuyên , với điểm trung bình cao nhất (ĐTB = 3.25 và 3.09). Qua đây cho thấy tổ chuyên môn Toán ở các trường khá chú trọng đến công tác xây dựng kế hoạch.
Tổ triển khai thảo luận, thống nhất kế hoạch và đề xuất với nhà trường được CBQL và GV đều đánh giá thường xuyên nhưng ở mức độ không cao so với các nội dung khác (ĐTB = 2.88 và 2.77). Điều này cho thấy việc triển khai, tổ chức để thảo luận, lấy ý kiến chung của tất cả các GV trong tổ vẫn còn những hạn chế (có 6/22 ý kiến của GV cho rằng việc này thực hiện ở mức ít thường xuyên).
2.4.1.2 Quản lý việc soạn bài của giáo viên
Bảng 2.18. Quản lý việc soạn bài của GV
- Kết quả ở bảng 2.18 trên cho thấy:
Không có nội dung nào được cả GV và CBQL đánh giá ở mức độ thực hiện rất thường xuyên. Nội dung cả GV và CBQL đánh giá thường xuyên là kiểm tra việc dạy học theo định hướng PTNL của HS (ĐTB = 3.00đ và 2.82đ). Nội dung nhà trường tổ chức bồi dưỡng phương pháp soạn bài và chuẩn bị lên lớp cho GV và việc kiểm tra của CBQL có ghi nhận cụ thể từng GV được đánh giá ở mức độ ít thường xuyên (ĐTB từ 2.00đ đến 2.38đ).
Bằng phương pháp phỏng vấn CBQL các trường cho rằng hiện nay các GV soạn bằng vi tính nên việc sử dụng các giáo án có sẵn điều chỉnh hoặc thậm chí không điều chỉnh để giảng dạy. Chính vì vậy GV còn thiếu sự đầu tư trong việc soạn bài; hầu hết các trường chưa tổ chức bồi dưỡng phương pháp soạn bài theo yêu cầu dạy học môn Toán theo hướng PTNL của HS.
Như vậy việc quản lý quá trình soạn giảng của GV ở các trường THCS huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh còn nhiều hạn chế. Quá trình kiểm tra của CBQL còn mang tính hình thức, chưa thật sự dành nhiều thời gian để đánh giá đầy đủ việc soạn giảng của từng GV. Vì vậy hoạt động quản lí việc soạn bài của GV cần phải có sự thay đổi làm sao CBQL giám sát và đánh giá kịp thời việc soạn bài của GV và chấn chỉnh tình trạng GV không chú trọng khâu soạn bài trước khi đến lớp.
2.4.1.3 Quản lý giờ lên lớp của giáo viên
Bảng 2.19. Quản lý giờ lên lớp của GV
- Kết quả ở bảng 2.19 trên cho thấy: Luận văn: Thực trạng dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
Không có nội dung nào được đánh giá rất thường xuyên. Nội dung “Đánh giá rút kinh nghiệm sau mỗi tiết dự giờ theo mẫu đảm bảo các yêu cầu dạy học theo định hướng PTNL của HS” được GV và CBQL đánh giá mức độ thường xuyên với mức điểm trung bình cao nhất (ĐTB = 2.88đ và 2.91đ).
Nội dung “Tổ chức các giờ dạy áp dụng các PPDH tích cực” cũng được được GV và CBQL đánh giá mức độ thường xuyên (ĐTB = 2.75đ và 2.68đ). Tuy nhiên phương pháp tích cực được GV sử dụng là nêu và giải quyết vấn đề; vấn đáp, thuyết trình tích cực.
Nội dung “Tổ chức dự giờ đột xuất” được GV và CBQL đánh giá mức độ ít thường xuyên (ĐTB = 2.38đ và 2.32đ). Điều này cho thấy việc tổ chức dự giờ đột xuất của CBQL ít được thực hiện thường xuyên ở các nhà trường.
Từ kết quả đó, cùng với kết quả của phương pháp phỏng vấn, tác giả nhận thấy: Nhìn chung việc quản lý giờ dạy trên lớp của GV ở các trường THCS huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh vẫn còn những hạn chế; việc đánh giá rút kinh nghiệm GV sau khi dự giờ được các tổ chuyên môn thực hiện thường xuyên nhưng vẫn còn nặng theo hướng nhận xét, đánh giá cũ; chưa thật sự mạnh dạn đánh giá theo tiêu chuẩn mới đảm bảo yêu cầu PTNL của HS.
2.4.1.4 Quản lý đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học
Bảng 2.20. Kết quả khảo sát CBQL về thực trạng quản lý việc đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy – học
- Kết quả ở bảng 2.20 trên cho thấy:
Không có nội dung nào được đánh giá ở mức không thực hiện. Việc quản lý đổi mới phương pháp, kỹ thuật dạy học theo hướng PTNL HS ở các trường THCS huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh đã thực hiện tốt một số nội dung: Quán triệt định hướng đổi mới, chỉ đạo GV lập kế hoạch dạy học (ĐTB = 3.13đ và 3.00đ). Bên cạnh đó, một số nội dung quản lý thực hiện còn hạn chế như: Chỉ đạo GV hướng dẫn đổi mới cách học cho HS; chỉ đạo tăng cường thực hành, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống (ĐTB = 2.38đ và 2.25đ). Công tác tổ chức tập huấn đổi mới phương pháp dạy học cũng được đánh giá là ít thường xuyên (ĐTB = 2.25đ).
Bằng phương pháp khảo sát bảng hỏi, kết hợp với phương pháp phỏng vấn, tác giả nhận thấy: Nhìn chung, việc quản lý đổi mới PPDH theo hướng PTNL của HS các nhà trường mới chỉ đạt được một số kết quả khiêm tốn. Việc tổ chức tập huấn, bồi dưỡng các phương pháp dạy học tích cực, dạy học theo định hướng PTNL được thực hiện chưa thường xuyên. Qua trao đổi trực tiếp với một số CBQL và GV cho thấy đa số GV và phần lớn số tiết dạy vẫn thực hiện theo PPDH cũ; tâm lý ngại đổi mới của GV cùng với khả năng làm quen với phương pháp học tập mới của HS còn rất hạn chế là rào cản lớn nhất trong đổi mới PPDH cũng như dạy học theo định hướng PTNL hiện nay.
2.4.1.5 Quản lý về hồ sơ chuyên môn của giáo viên
Bảng 2.21. Quản lý về hồ sơ chuyên môn của giáo viên
- Kết quả ở bảng 2.21 trên cho thấy: Luận văn: Thực trạng dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
Việc quản lý hồ sơ sổ sách giáo viên của Hiệu trưởng theo hướng PTNL, các nhà trường đã thực hiện tốt một số nội dung: Quán triệt, chỉ đạo, kiểm tra hồ sơ của giáo viên là rất tốt .Việc quán triệt các văn bản là rất thường xuyên (ĐTB = 3.37đ.Việc chỉ đạo thống nhất hồ sơ sổ sách trong nhà trường cũng rất tốt (ĐTB = 3,63). Công tác kiểm tra hồ sơ của Hiệu trưởng cũng thường xuyên (ĐTB = 3,25).
Tóm lại, kết quả cho thấy công tác quản lý hồ sơ của Hiêu trưởng đối với giáo viên là rất tốt.
2.4.1.6 Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
Bảng 2.22. Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS
- Kết quả ở bảng 2.22 trên cho thấy:
Việc quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS theo hướng PTNL, các nhà trường đã thực hiện tốt một số nội dung: Quán triệt, hướng dẫn GV, HS thực hiện nghiêm túc Quy chế đánh giá, xếp loại HS hiện hành và chủ trương, định hướng đổi mới kiểm tra, đánh giá; chỉ đạo khâu ra đề theo ma trận, đảm bảo sự phân hóa HS (ĐTB = 3.13đ và 3.25đ). Tuy nhiên các nội dung: Tập huấn GV về đổi mới kiểm tra đánh giá theo hướng PTNL của HS; chỉ đạo GV bồi dưỡng khả năng đánh giá lẫn nhau, tự đánh giá cho HS (ĐTB = 2.00đ và 2.25đ). Việc tổ chức phân tích, đánh giá kết quả học tập của HS sau mỗi lần kiểm tra cũng được đánh giá ở mức ít thường xuyên (ĐTB = 2.13đ).
Phần lớn GV chú ý vào việc hoàn thành điểm số theo quy chế, chưa mạnh dạn thực hiện đổi mới kiểm tra, đánh giá theo hướng PTNL của HS. Nội dung ra đề kiểm tra, đề thi vẫn theo cách cũ là chủ yếu. Các trường chưa thực hiện quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS theo định hướng PTNL. Mặc dù quản lý kiểm tra, đánh giá HS là hoạt động thường xuyên, liên tục của cán bộ quản lý nhà trường. Song việc kiểm tra chỉ dừng lại ở những việc như kiểm tra tiến độ cho điểm, duyệt đề kiểm tra, kiểm tra túi lưu bài của HS,… Việc GV kiểm tra, đánh giá kết quả của HS đã đảm bảo yêu cầu PTNL hay chưa thì nhà trường chưa quản lý được.
2.4.1.7 Quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên
Bảng 2.23. Thực trạng quản lý công tác bồi dưỡng GV
- Kết quả ở bảng 2.23 trên cho thấy:
Phần lớn các nội dung được GV và CBQL đánh giá ở mức độ ít thường xuyên. Cụ thể nội dung được đánh giá thấp nhất là: Tổ chức hội nghị, hội thảo khoa học về dạy học theo hướng PTNL trong nhà trường với ĐTB = 1.82đ (CBQL) và ĐTB = 1.82đ (GV); Trang bị các tài liệu phục vụ cho việc dạy học theo hướng PTNL với ĐTB = 1.86đ (CBQL) và ĐTB = 1.82đ (GV).
Kết hợp với phương pháp phỏng vấn, tác giả nhận thấy: Việc tổ chức bồi dưỡng GV có đủ năng lực chuyên môn để thực hiện dạy học môn Toán theo hướng PTNL tại các trường chưa được sự quan tâm đúng mức của lãnh đạo nhà trường và Tổ chuyên môn Toán. Việc tổ chức chỉ dừng lại ở việc mua tài liệu tham khảo, tổ chức sinh hoạt chuyên đề nhưng chưa quán triệt đầy đủ các yêu cầu đổi mới PPDH để phát huy năng lực HS, nội dung chuyên đề chưa đậm nét cho việc dạy học PTNL HS.
2.4.2 Thực trạng quản lý hoạt động học môn Toán theo định hướng phát triển năng lực của học sinh Luận văn: Thực trạng dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
Học là quá trình tương tác giữa cá thể với môi trường, kết quả dẫn đến sự biến đổi bền vững về nhận thức, trình độ hay hành vi của các thể đó. HS là chủ thể học tập nhưng trong quá trình quản lý học tập thì HS là đối tượng và GV, tổ chuyên môn và cao nhất là Ban giám hiệu nhà trường là chủ thể quản lý.
2.4.2.1 Thực trạng về ý thức, động cơ học tập của học sinh
- Bảng 2.24. Kết quả khảo sát GV và CBQL về ý thức, động cơ học tập của học sinh
2.4.2.2 Thực trạng về quản lý nề nếp, thái độ học tập của học sinh
- Bảng 2.25. Kết quả khảo sát GV và CBQL về nề nếp học tập của học sinh
2.4.2.3 Thực trạng về quản lý bồi dưỡng phương pháp học tập của học sinh
- Bảng 2.26. Kết quả khảo sát GV và CBQL về bồi dưỡng phương pháp học tập của học sinh
2.4.2.4 Thực trạng quản lý về nề nếp tự học của học sinh
Bảng 2.27. Kết quả khảo sát GV và CBQL về nề nếp tự học của học sinh
- Kết quả ở bảng 2.24; 2.25; 2.26; 2.27 trên cho thấy:
Các nội dung được đánh giá cao là: Ban hành các quy định nề nếp học tập trên lớp của HS; tổ chức theo dõi việc thực hiện nề nếp học của HS (ĐTB = 3.38đ và 3.41đ). Công tác bồi dưỡng phương pháp học tập tích cực cho HS được đánh giá ở mức thường xuyên nhưng có số điểm trung bình không cao (ĐTB = 2.50đ và 2.50đ). Nội dung được đánh giá thấp là: Quy định nề nếp tự học ở nhà của HS (ĐTB = 2.13đ và 2.27đ). Không có nội dung nào được đánh giá ở mức không thực hiện.
Qua phân tích trên chúng ta có thể nhận thấy rõ việc quản lí hoạt động học của HS tại các trường THCS huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh chưa được các CBQL và GV quan tâm và thực hiện tốt. Việc quan tâm chỉ dừng lại việc xây dựng nội quy, quy đinh nề nếp học tập, việc quản lý giờ học trên lớp; chưa chú trọng việc giáo dục và hướng dẫn phương pháp tự học cho HS. Chính vì điều đó cũng đã cản trở đến việc thực hiện HĐDH theo hướng PTNL của GV.
2.4.3 Thực trạng quản lý môi trường phục vụ dạy học môn Toán theo định hướng phát triển năng lực của học sinh
Việc xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, các điều kiện về CSVC, sinh hoạt của GV và thực hiện dân chủ hóa trong nhà trường là một trong những yếu tố quyết định đến chất lượng giáo dục của nhà trường.
Bảng 2.28. Quản lý môi trường phục vụ hoạt động dạy và học môn Toán theo hướng PTNL của HS
- Kết quả ở bảng 2.25 trên cho thấy: Luận văn: Thực trạng dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
Các nội dung đều được CBQL và GV đánh giá cao là: Việc thực hiện các chế độ chính sách ưu tiên đối với GV và HS vùng sâu, vùng đặc biệt khó khăn (ĐTB = 3.38đ và 3.14đ); Tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để quản lí hoạt động học tập của HS (ĐTB = 3.25đ và 3.09đ); Quan tâm đầu tư xây dựng, bảo quản, sử dụng CSVC, TBDH phục vụ học tập và các hoạt động giáo dục trong nhà trường (ĐTB = 3.25đ và 3.18đ).
Nội dung được đánh giá ở mức thấp nhất là: Tổ chức học tập giao lưu giữa các trường với ĐTB lần lượt là 2.13đ và 2.05đ. Nội dung về động viên khen thưởng GV, HS có thành tích tốt trong giảng dạy, học tập và rèn luyện kiện của nhà trường chưa thật tốt (ĐTB = 2.44đ). Hầu hết các trường đều xây dựng Nội quy HS, Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở; Quy chế chi tiêu nội bộ… Tuy nhiên việc xây dựng bộ Quy tắc ứng xử, Quy chế đánh giá – xếp loại thi đua một cách khoa học và rõ ràng, phù hợp với đặc thù của đơn vị thì chưa được nhiều nhà trường đầu tư thực hiện.
Lãnh đạo các trường có sự quan tâm đến việc xây dựng môi trường giáo dục thân thiện, khối đoàn kết giữa các dân tộc đối với GV và HS. Qua trao đổi với một số CBQL và GV cho thấy, các trường thực hiện tương đối tốt việc phối hợp với gia đình và Ban đại diện cha mẹ HS của trường trong việc giáo dục HS. Các hoạt động ngoại khóa, sinh hoạt theo các chủ điểm để tạo môi trường sinh hoạt lành mạnh, tích cực được các trường duy trì tổ chức thực hiện. Tuy nhiên các hoạt động này mang tính chất thời vụ; nội dung và hình thức tổ chức chưa thực sự phong phú và hấp dẫn đối với HS.
2.5 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG Luận văn: Thực trạng dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
2.5.1 Ưu điểm
Qua điều tra và phân tích thực trạng cho thấy HT các trường THCS huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh đã thực hiện nghiêm túc Điều lệ trường học và các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Bộ, Sở Giáo dục và Đào tạo. HT các nhà trường đã thực hiện đúng các khâu về quản lý giáo dục. Hàng năm, các nhà trường đều xây dựng kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học theo hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục cấp trung học cơ sở của Phòng Giáo dục và Đào tạo Cầu Kè.
Các nhà trường đã thực hiện nghiêm túc nội dung chương trình giáo dục phổ thông cơ sở hiện hành, đồng thời có chỉ đạo tiếp cận dạy học theo hướng PTNL của HS. Tổ chuyên môn và một số GV đã bước đầu xây dựng được một số chuyên đề dạy học và đưa vào áp dụng, đạt kết quả nhất định.
Hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS cơ bản được quản lý chặt chẽ, đảm bảo giữ vững được nền nếp dạy học. Công tác đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học theo hướng PTNL của HS đã được quan tâm chỉ đạo thực hiện và được thể hiện có hiệu quả ở một số giờ dạy. Việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS được tổ chức thực hiện nghiêm túc theo đúng quy chế hiện hành. GV các nhà trường đã từng bước đa dạng hóa các phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS. Một số ít GV đã tiến hành đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá theo hướng PTNL của HS.
Việc xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh; tạo điều kiện làm việc thuận lợi cho cán bộ, GV, nhân viên đã được các nhà trường quan tâm. HT các nhà trường đã chủ động tham mưu với các cấp có thẩm quyền đầu tư xây dựng, mua sắm CSVC, TBDH cơ bản đáp ứng đủ cho HĐDH. Công tác xã hội hóa giáo dục đã được các HT quan tâm, góp phần xây dựng các nhà trường phát triển.
2.5.2 Hạn chế Luận văn: Thực trạng dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
Bên cạnh những ưu điểm trên trong công tác quản lý HĐDH theo hướng PTNL của HS vẫn còn một số nhược điểm cần khắc phục đó là:
Việc thực hiện linh hoạt, sáng tạo nội dung, chương trình theo cách chủ động xây dựng các chủ đề dạy học trong môn Toán và các chủ đề tích hợp ở các nhà trường còn rất hạn chế. Khâu xây dựng chương trình nội dung dạy học phù hợp với thực tiễn để phê duyệt và đưa vào áp dụng chưa được thực hiện tốt, cơ bản vẫn dạy nội dung chương chình cũ.
Việc đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học diễn ra khá chậm chạp, lúng túng; hiệu quả đổi mới thấp. Hầu hết các giờ dạy đều được tổ chức thực hiện với hình thức dạy học truyền thống; các phương pháp và kỹ thuật dạy học làm tăng cường tính chủ động, tích cực, sáng tạo của HS được thực hiện rất ít, chủ yếu được thể hiện ở các giờ dạy mẫu, hội giảng hoặc thi GV giỏi các cấp. Việc sinh hoạt tổ/nhóm chuyên môn còn mang nặng tính hình thức, chưa thực hiện tốt theo hướng nghiên cứu bài học.
Công tác đổi mới kiểm tra đánh giá theo hướng PTNL của HS đã được quan tâm chỉ đạo nhưng chưa có kết quả rõ nét. Nhiều GV môn Toán còn lúng túng trong thiết kế và tổ chức bài dạy, trong sử dụng các phương pháp và hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS theo yêu cầu định hướng PTNL. Hầu hết GV chỉ tập trung vào việc kiểm tra đánh giá sao cho đúng quy chế. Việc kiểm tra đánh giá ở các nhà trường hiện nay vẫn còn nặng về kiểm tra kiến thức mà chưa chú trọng đến đánh giá năng lực; chính điều này đã phần nào làm cho HĐDH môn Toán theo hướng PTNL chưa đạt được kết quả như mong đợi.
Việc xây dựng các bộ Quy tắc ứng xử, Quy chế đánh giá xếp loại thi đua… phù hợp với đặc thù của nhà trường chưa được quan tâm nhiều. Công tác xã hội hóa giáo dục chưa được thực hiện mạnh mẽ. Việc đầu tư cho các hoạt động ngoài giờ lên lớp, sinh hoạt chủ điểm chưa thật đúng mức, chất lượng còn thấp; trong hoạt động giảng dạy vẫn còn nặng về dạy chữ.
Hiệu trưởng các trường quản lí hoạt động dạy của GV, hoạt động học của HS vẫn thực hiện theo kinh nghiệm, mới dừng ở việc giữ ổn định nề nếp dạy học, thiếu sự đổi mới. Công tác quản lý chủ yếu vẫn dựa trên kinh nghiệm, chưa có nhiều biện pháp thiết thực, hiệu quả để quản lý HĐDH theo định hướng PTNL của HS phù hợp yêu cầu hiện nay. Trong khâu chỉ đạo, điều hành còn thiếu tính quyết liệt, chưa thực sự mạnh dạn đổi mới.
2.5.3 Nguyên nhân của những tồn tại và hạn chế
Để tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng quản lý HĐDH môn Toán theo hướng PTNL của HS tại các trường THCS huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh, tác giả đã tiến hành khảo sát ý kiến của CBQL và GV về các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động này, kết quả thu được như sau: Luận văn: Thực trạng dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
Bảng 2.29. Mức độ ảnh hưởng các yếu tố khách quan đến việc quản lý HĐDH môn Toán theo hướng PTNL
Kết quả ở bảng 2.26 trên cho thấy:
- Đánh giá của GV và CBQL về các mức độ ảnh hưởng của các yếu tố khách quan đạt kết quả là ảnh hưởng nhiều (ĐTB = 2.64đ và 3.63đ);
- GV đánh giá tất cả các yếu tố đều ảnh hưởng nhiều. Trong đó Văn bản chỉ đạo của Ngành ảnh hưởng rất nhiều (ĐTB = 3.55đ);
- CBQL đánh giá tất cả các yếu tố chủ quan đều ảnh hưởng nhiều, trong đó yếu tố CSVC, TBDH, tài chính của nhà trường ảnh hưởng rất nhiều (ĐTB = 3.63đ).
Bảng 2.30. Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan đến việc quản lý HĐDH môn Toán theo hướng PTNL
- Kết quả ở bảng 2.27 trên cho thấy:
CBQL đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan đạt mức độ cao nhất là rất nhiều. Nhận thức của CBQL, GV về tầm quan trọng của hoạt động theo hướng PTNL của HS được đánh giá ở mức cao nhất (ĐTB = 3.50đ);
GV đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan ở mức nhiều. Phẩm chất, năng lực của GV và HS đề được đánh giá ở mức cao.
Cả CBQL và GV đều đánh giá yếu tố nhận thức của CBQL, GV về tầm quan trọng của hoạt động theo định hướng PTNL của HS ở mức độ ảnh hưởng cao nhất (ĐTB = 3.50đ và 3.68đ).
Như vậy ta nhận thấy rất rõ việc ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan đến HĐDH theo hướng PTNL của HS là rất nhiều. Sự ảnh hưởng này do yếu tố con người; cụ thể là từ các nhà quản lý và GV trực tiếp giảng dạy. Nhìn chung không có sự khác biệt lớn giữa đánh giá của GV và CBQL về các yếu tố ảnh hưởng đến HĐDH môn Toán theo hướng PTNL của HS. Các yếu tố chủ quan được đánh giá ảnh hưởng nhiều hơn các yếu tố khách quan.
Từ đó có thể rút ra nhận xét chung về nguyên nhân của những hạn chế trong công tác quản lý HĐDH môn Toán theo hướng PTNL của HS tại các trường THCS huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh như sau:
2.5.3.1 Nguyên nhân khách quan
Sự chỉ đạo của cấp trên về HĐDH theo hướng phát triển năng lực HS chưa rõ nét, mới dừng ở việc định hướng và đang bồi dưỡng cán bộ, GV. Các nhà trường vẫn đang phải thực hiện nội dung chương trình, sách giáo khoa cũ;
Các văn bản chỉ đạo của ngành trong HĐDH theo định hướng PTNL của HS nói chung và đối với môn Toán nói riêng còn chung chung, cần có sự chỉ đạo cụ thể hơn; Luận văn: Thực trạng dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
Cơ sở vật chất chưa đáp ứng đủ nhu cầu của việc đổi mới, làm ảnh hưởng đến việc tổ chức thực hiện HĐDH theo định hướng PTNL của HS, việc tổ chức giảng dạy nhất là các PPDH hiện đại nhằm phát huy tích cực của HS;
Tài chính dùng cho HĐDH theo định hướng PTNL còn hạn chế làm ảnh hưởng đến các hoạt động đổi mới như trải nghiệm, nghiên cứu khoa hoc,…
2.5.3.2 Nguyên nhân chủ quan
Nhận thức của CBQL, GV về tầm quan trọng của HĐDH môn Toán theo hướng PTNL của HS là đúng đắn nhưng chưa đầy đủ dẫn đến chưa quan tâm đúng mức hoạt động này;
Nội dung và hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS hiện nay chủ yếu vẫn là kiểm tra về kiến thức mà chưa chú trọng đến việc kiểm tra năng lực;
Ban Giám hiệu chưa phát huy tối đa vai trò của tổ trưởng chuyên môn trong việc xây dựng kế hoạch, tổ chức và chỉ đạo trong quản lý hoạt động của tổ/nhóm chuyên môn;
Nghiệp vụ, chuyên môn của một bộ phận GV chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra; cả CBQL và GV đều chưa mạnh dạn chủ động đổi mới công tác quản lý cũng như thực hiện dạy học theo hướng phát triển năng lực HS;
Một bộ phận HS chưa có ý thức động cơ học tập đúng đắn, còn lười biếng, phương pháp tự học còn nhiều lúng túng, thiếu tính tích cực trong học tập.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 Luận văn: Thực trạng dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
Qua tìm hiểu thực tế về tình hình thực hiện kinh tế – xã hội, giáo dục và đào tạo, sự phát triển của các trường THCS huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh; từ kết quả khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng, có thể rút ra một số kết luận sau:
Huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh là một huyện vùng sâu, đời sống kinh tế – xã hội còn nhiều khó khăn, song huyện đã đầu tư khá nhiều cho ngành Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt là giáo dục HS dân tộc thiểu số (Khmer). Cơ sở vật chất, TBDH đã phần nào đáp ứng được nhu cầu cơ bản của HĐDH. Chế độ chính sách của Nhà nước dành cho GV và HS tuy chưa cao nhưng ngày càng cải thiện. Chất lượng của hệ thống các trường THCS của huyện ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên, so với mặt bằng chung của tỉnh, chất lượng giáo dục và đào tạo ở các trường THCS trên địa bàn huyện vẫn còn thấp.
Định hướng đổi mới HĐDH theo hướng PTNL của HS đã được các trường xác định là một nhiệm vụ quan trọng; việc chỉ đạo đổi mới dạy học đã được đề cập trong kế hoạch giáo dục của các nhà trường. Tuy nhiên, các cấp quản lý chưa hướng dẫn cụ thể cho GV nên việc vận dụng dạy học Toán theo hướng PTNL của HS vào giờ dạy còn lúng túng, hiệu quả không cao. GV còn gặp nhiều khó khăn từ thiết kế bài dạy, sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học cho đến kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Toán của HS theo hướng PTNL. Việc tạo môi trường, điều kiện thuận lợi cho đội ngũ GV Toán phát triển năng lực nghề nghiệp chưa được các nhà trường quan tâm đúng mức.
Công tác quản lý HĐDH môn Toán theo hướng PTNL của HS đã được thực hiện nhưng chưa thật sự đồng bộ ở tất cả các mặt. Quản lý hoạt động soạn bài của GV chưa hiệu quả; việc kiểm tra hồ sơ chuyên môn chưa được nghiêm khắc đủ để GV toàn tâm toàn ý với từng trang giáo án của mình. Công tác chỉ đạo, kiểm tra sinh hoạt chuyên đề về hoạt động đổi mới PPDH, đổi mới kiểm tra-đánh giá môn Toán theo hướng PTNL của HS còn mờ nhạt. Việc chỉ đạo Tổ chuyên môn, GV Toán về bồi dưỡng, hướng dẫn phương pháp tự học cho HS chưa được quan tâm đúng mức; HS còn trông chờ nhiều vào những giờ học trên lớp của GV. Luận văn: Thực trạng dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
Thực trạng trên là cơ sở thực tiễn giúp tác giả xác lập được các biện pháp quản lý HĐDH phù hợp, khả thi. Bởi vì các cơ sở lý luận chỉ cho phép xác lập các biện pháp ở bình diện chung, song để lựa chọn và xây dựng cách thức thực hiện phải cụ thể, sát với tình hình thực tiễn và các điều kiện hiện nay của giáo dục cấp THCS ở huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp dạy học môn Toán ở các trường Trung học

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
