Luận văn: Thực trạng QL cơ sở vật chất các trường MN công lập

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng QL cơ sở vật chất các trường MN công lập hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng về quản lý cơ sở vật chất các trường mầm non công lập tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát tình hình kinh tế – xã hội và giáo dục thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương

2.1.1. Tình hình kinh tế, xã hội và giáo dục

Dĩ An là một thị xã của tỉnh Bình Dương, tiếp giáp với hai thành phố là Biên Hòa và Thành phố Hồ Chí Minh đồng thời là cửa ngõ quan trọng để đi các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và các tỉnh phía Bắc Việt Nam. Chính vì vậy hiện nay tỉnh Bình Dương nói chung và thị xã Dĩ An nói riêng đang trong quá trình phát triển kinh tế mạnh mẽ, đây hiện là nơi có tốc độ phát triển kinh tế hàng đầu đất nước. Trên địa bàn thị xã hiện có nhiều khu chế xuất và với 7 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động như khu công nghiệp Sóng Thần 1, Sóng Thần 2, Bình Đường, Tân Đông Hiệp A, Tân Đông Hiệp B, Khu công nghiệp Tân Bình, Cụm công nghiệp may mặc Bình An… kèm theo đó là đời sống của người dân ngày càng cải thiện, mức sống ngày càng được nâng cao.

Tình hình kinh tế – xã hội của thị xã nhiều năm liền phát triển cao và ổn định, đạt kết quả khá toàn diện trên nhiều lĩnh vực như công nghiệp, dịch vụ… tổng thu mới ngân sách đều vượt dự toán UBND tỉnh giao. Các chính sách an sinh xã hội luôn được bảo đảm; hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao diễn ra sôi nổi. Tình hình an ninh chính trị – trật tự an toàn xã hội luôn được giữ vững. Đây là những cơ sở để người dân chăm lo toàn diện cho đời sống của bản thân, gia đình trong đó có vấn đề học tập cho con em.

2.1.2. Quy mô, cơ cấu mầm non công lập tại thị xã Dĩ An

Trong năm học 2025 – 2026 thị xã Dĩ An hiện có 10 trường MNCL, tổng số lớp trường MNCL là 159 lớp với gần 6.830 trẻ, trung bình mỗi lớp học có gần 43 học sinh. Tổng số phòng học tại các lớp MNCL là 164 phòng, trung bình 16,4 phòng/trường. Trong số 10 trường có 8/10 trường đạt chuẩn Quốc gia – chiếm tỷ lệ 80%. Các trường đạt chuẩn Quốc gia Mầm non – Mẫu giáo gồm: MG Hoa Hồng 2, MG Hoa Hồng 3, MG Hoa Hồng 4, MG Hoa Hồng 5, MN Hoa Hồng 6, MN Hoa Hồng 7, MN Võ Thị Sáu, MG Thống Nhất. Các trường chưa đạt chuẩn Quốc gia Mầm non – Mẫu giáo gồm MN Hoa Hồng 1 và MG Anh Đào.

  • Bảng 2.1: Quy mô, cơ cấu trường MNCL tại Dĩ An năm học 2025 – 2026

Các trường MNCL trên địa bàn có tổng cộng 613 CBQL, GV, NV, trong đó số cán bộ quản lý (CBQL) là 39, Giáo viên dạy lớp là 372, các công tác khác 202 người. Tỉ lệ đạt chuẩn giáo viên dạy lớp 100%; CBQL 100%; Tỉ lệ trên chuẩn giáo viên dạy lớp 46,05%; CBQL 97,44%. Luận văn: Thực trạng QL cơ sở vật chất các trường MN công lập.

Mức độ đáp ứng CSVC, hiện nay đa số các trường đã cơ bản đảm bảo được số lượng, chất lượng phòng học, phòng chức năng và trang thiết bị; Nâng cao sự hỗ trợ của trang thiết bị trong hoạt động dạy học góp phần nâng cao chất lượng dạy học. Trong quá trình dạy học và vui chơi, GV và trẻ rất thoải mái sử dụng những trang thiết bị. Tuy nhiên vẫn còn một số trường chưa đảm bảo được đầy đủ các trang thiết bị theo yêu cầu, một số đã hư hỏng không sử dụng được hoặc xuống cấp đang trong quá trình xin kinh phí để sửa chữa, thay thế.

Về cách thức sử dụng CSVC: Hầu hết các nhà trường đều yêu cầu GV lên kế hoạch trước khi sử dụng, ký nhận để được thực hiện quản lý tránh mất mát, hư hỏng. Việc bảo quản được thực hiện tại lớp học và phòng chức năng tùy theo loại trang thiết bị. Các yêu cầu trang thiết bị của GV đều nằm trong danh sách của nhà trường vì thế nếu không trùng lắp lịch sử dụng sẽ được giải quyết nhanh chóng.

Về tình hình trang thiết bị: Đối với các trường mới thành lập, thì các trang thiết bị được đầu tư mới nên sử dụng tốt, đúng chức năng, ít xảy ra tình trạng hỏng hóc, công tác bảo quản cũng được quan tâm hơn khi có phòng bảo quản, lưu kho hiện đại. Tuy nhiên ở các trường thành lập đã lâu, phòng học và trang thiết bị có dấu hiệu xuống cấp chưa được đầu tư xây mới, sửa chữa nên nhanh chóng xuống cấp, xuất hiện nhiều hỏng hóc, ảnh hưởng đến chất lượng trang thiết bị.

Về công tác quản lý dạy học của GVMG, các trường MNCL đã tuân thủ quy định pháp luật hiện hành về quản lý, sử dụng tài sản tại nhà trường. Các trường đã lập kế hoạch về xây dựng, trang bị CSVC; trong quá trình dạy – học nhà trường thực hiện phân bổ hợp lý, đáp ứng nhu cầu dạy – học; Tuy nhiên tình trạng hư hỏng do các tác nhân chủ quan, khách quan còn nhiều, bên cạnh đó công tác bảo quản tại một số trường chưa tốt, trong khi việc sửa chữa, trang bị mới chậm dẫn đến một số trang thiết bị không được đưa vào sử dụng, ảnh hưởng đến chất lượng quá trình dạy học.

2.2. Tổ chức khảo sát thực trạng Luận văn: Thực trạng QL cơ sở vật chất các trường MN công lập.

2.2.1. Mẫu khảo sát

Với quy mô gồm 10 trường MNCL tác giả lựa chọn mẫu khảo sát ở tất cả các trường, gồm CBQL (gồm hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn), GV. Tuy nhiên với thời gian, kinh phí có hạn và phải đảm bảo tính thuận tiện trong quá trình khảo sát nên mỗi trường sẽ chỉ giới hạn ở mức 30 phiếu, tổng cộng sẽ có 300 mẫu được thực hiện khảo sát. Với việc chọn mẫu này sẽ đảm bảo dữ liệu thu thập được mang tính khách quan, đảm bảo độ tin cậy để phân tích và khả năng đại diện cho toàn bộ mẫu.

  • Bảng 2.2: Thống kê thành phần mẫu khảo sát
  • Bảng 2.3: Thống kê đặc tính mẫu

Kết quả phân tích bảng 2.3 cho thấy:

Về giới tính: Tỷ lệ nữ giới trong thành phần CBQL trong nhà trường và GV các trường mầm non chiếm tỷ lệ 96,0%, trong khi đó nam chỉ chiếm 4,0%. Điều này cho thấy do tính chất của giáo dục mầm non phải có tính cần cù, chịu khó nên chỉ có giáo viên là nữ mới đáp ứng được.

Về trình độ chuyên môn: Có đến 72,2% số phiếu khảo sát có trình độ Cao đẳng chiếm 35,7%; Cử nhân chiếm 37,7% số lượng khảo sát và 6,0% trình độ Thạc sĩ và trình độ khác chiếm 20,6%. Số liệu trên cho thấy hiện GVMN tại các trường MNCL vẫn đa số là trình độ Cao đẳng và Cử nhân, các thành phần trình độ cao hơn chiếm tỷ lệ hạn chế. Điều này cho thấy mặt bằng chung về trình độ tại các trường MNCL khá tốt, tạo tiền đề trong công tác quản lý nói chung và quản lý CSVC nói riêng.

Về thâm niên công tác: Số lượng đối tượng khảo sát thâm niên công tác dưới 5 năm chiếm tỷ lệ 13,9%; thâm niên từ 5 -10 năm đến 10 năm chiếm 31,7%. Số đối tượng có thâm niên làm việc từ 10 đến 15 năm chiếm 33,7% phiếu khảo sát; Số lượng đối tượng có thâm niên trên 15 năm chiếm 20,6%. Điều này cho thấy mức độ gắn bó của CBQL, GV với các trường rất cao và số lượng tuyển dụng mới rất hạn chế. Điều này là do cơ chế biên chế GV tại các trường MNCL hiện nay.

2.2.2. Cách thức khảo sát Luận văn: Thực trạng QL cơ sở vật chất các trường MN công lập.

  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:

Để xây dựng bảng khảo sát cho quá trình khảo sát định lượng chính thức tác giả thực hiện bằng phiếu hỏi đối CBQL-GV (phụ lục 1). Nội dung phiếu hỏi gồm 2 phần:

  • Thực trạng CSVC ở các trường mầm non công lập.
  • Thực trạng quản lí xây dựng, trang bị, sử dụng, bảo quản CSVC các trường MNCL tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Phương pháp phỏng vấn: Nội dung phỏng vấn tập trung vào công tác quản lý, sử dụng, bảo quản CSVC, trang thiết bị nhà trường; một số khó khăn gặp phải trong quá trình quản lý CSVC và một số đề xuất để nâng cao hiệu quả quản lý CSVC trong thời gian tới (Phụ lục 2). Từ kết quả sẽ tác giả sẽ đưa ra nhận định về những nội dung cụ thể trong bảng khảo sát định lượng được thực hiện sau đó. Kết quả phỏng vấn cũng sẽ góp phần đánh giá được thực trạng công tác quản lý CSVC ở các trường trong phần phân tích thực trạng.

Phương pháp quan sát: Tiến hành quan sát được chúng tôi thực hiện dưới 2 hình thức; quan sát trực tiếp và quan sát gián tiếp (gắn camera bí mật) các hoạt động dạy học chính khóa trong nhà trường có sử dụng phương tiện, thiết bị, đồ dùng, đồ chơi để trực tiếp thu nhận thông tin về khách thể nghiên cứu. Để tránh những nhận định chủ quan của người nghiên cứu, khi tiến hành quan sát, chúng tôi phối hợp với CBQL, GV của nhà trường cùng tham gia quan sát dưới sự hướng dẫn của người nghiên cứu.

2.2.3. Cách thức xử lý số liệu và quy ước

Kết quả sau quá trình khảo sát định lượng, tác giả tiến hành sàng lọc, loại bỏ phiếu thiếu dữ liệu đánh giá hoặc hư hỏng. Kết quả có 252 hợp lệ, phiếu có đủ dữ liệu, các thông tin để tiến hành phân tích, chiếm 84% số phiếu được thực hiện khảo sát. Số lượng bị loại bỏ rất nhỏ nên không ảnh hưởng nhiều đến kết quả phân tích. Các phiếu đạt yêu cầu sẽ được tác giả đưa vào phân tích dữ liệu và sử dụng các phần mềm hỗ trợ phân tích là SPSS V22 và Excell 2021, trong đó SPSS (viết tắt của Statistical Package for the Social Sciences) được dùng chủ đạo trong phân tích dữ liệu. Tác giả tiến hành nhập dữ liệu vào phần mềm SPSS, thông tin trong bảng hỏi sẽ được mã hóa tương ứng thể hiện trong phần phụ lục. Dữ liệu khảo sát sẽ được tác giả đánh giá tỷ lệ %, điểm trung bình, độ lệch chuẩn của từng câu nội dung khảo sát. Qua đó, tác giả sẽ so sánh, phân tích, tổng hợp và rút ra kết luận.

Quy ước đánh giá điểm trung bình (ĐTB):

Từ 3,26 đến dưới 4 tương ứng với mức đánh giá: Rất tốt/ Rất thường xuyên/ Ảnh hưởng rất nhiều/ Rất cần thiết/ Rất khả thi.

  • Từ 2,51 đến dưới 3,25 tương ứng với mức đánh giá: Khá/ Thường xuyên/ Ảnh hưởng Nhiều/ Cần thiết/ Khả thi.
  • Từ 1,76 đến dưới 2,50 tương ứng với đánh mức đánh giá nội dung là Trung Bình/ Ít thường xuyên/ Ít ảnh hưởng/ Ít cần thiết/ Ít khả thi.
  • Dưới 1,00 đến 1,75 tương ứng với mức đánh giá: Yếu/ Không thường xuyên/ Không ảnh hưởng/ Không cần thiết/ Không khả thi.
  • Kết quả tích sẽ trình bày ở các phần bên dưới.

2.3. Thực trạng cơ sở vật chất ở các trường mầm non công lập tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL cơ sở vật chất các trường MN công lập.

2.3.1. Thực trạng trường sở

Kết quả đánh giá diện tích, khuôn viên và các công trình của nhà trường được trình bày tại bảng 2.4.

  • Bảng 2.4: Đánh giá diện tích, khuôn viên và các công trình của nhà trường

Qua đó cho thấy trung bình mức độ đáp ứng của diện tích, khuôn viên và các công trình các nhà trường được đánh giá Đáp ứng khá với 2,56 điểm. Chỉ có 2 nội dung được đánh giá mức đáp ứng trung bình gồm Diện tích đất (2,41 điểm) và Biển tên trường, tường rào bao quanh khuôn viên trường (2,49 điểm). Cùng với kết quả quan sát và phỏng vấn đối tượng CBQL và GV cho thấy số phòng bán kiên cố ở các trường còn nhiều; Diện tích sàn, phòng học sử dụng bị quá tải do HS quá đông ở mỗi lớp, trung bình lên đến gần 43 HS/lớp; 5 trong số 10 trường có biển tên quá cũ, không thể hiện tốt các thông tin đến phụ huynh và HS. Điều này phản ánh thực tế các trường còn hạn chế về diện tích đất và cơ sở vật chất với hạng mục biển tên trường, tường rào.

Kết quả đánh giá về Sân, vườn và khu vực cho trẻ chơi được trình bày trong bảng 2.5:

  • Bảng 2.5: Đánh giá sân, vườn và khu vực cho trẻ chơi

Qua đó cho thấy nội dung sân, vườn và khu vực cho trẻ chơi được đánh giá chỉ đạt mức đáp ứng TB với 2,36 điểm, điều này cho thấy một số hạn chế trong nhóm nội dung này. Cụ thể nội dung Diện tích sân chơi rộng, thiết kế phù hợp Có vườn cây dành riêng cho trẻ chăm sóc được đánh giá mức thấp với 2,23 điểm trung bình, đứng vị trí thứ 4; nội dung Cây xanh tạo bóng mát cũng được đánh giá ở mức 2,27 điểm tương ứng với mức đáp ứng TB. Điều này cho thấy tại các trường còn hạn chế về sân chơi và vườn cây ngoài trời. Riêng hai nội dung Mức độ an toàn của sân chơi (2,57 điểm) và Các loại đồ chơi ngoài trời (2,53 điểm) được đánh giá ở mức đáp ứng Khá. Mức độ an toàn được đánh giá với vị trí thứ 1, cho thấy sự quan tâm trong công tác đảm bảo an toàn cho trẻ trong công tác quản lý CSVC. Điều này phù hợp với thực tế quan sát và phỏng vấn đối tượng CBQL và GV rằng thiết kế về sân vườn, đồ dùng, khuôn viên còn nhiều hạn chế về tính an toàn, sự thoáng mát và về số lượng, chất lượng đồ chơi ngoài trời. Luận văn: Thực trạng QL cơ sở vật chất các trường MN công lập.

Kết quả đánh giá phòng sinh hoạt chung, phòng ngủ và hiên chơi được trình bày trong bảng 2.6:

  • Bảng 2.6: Đánh giá phòng sinh hoạt chung, phòng ngủ và hiên chơi

Qua đó cho thấy nội dung Đồ dùng, học liệu, tính thẩm mỹ phòng sinh hoạt chung được đánh giá cao nhất trong nhóm với vị trí 1, điều này cho thấy các trường đã chú trọng trang bị đủ bàn ghế cho giáo viên và trẻ, đủ đồ dùng, đồ chơi học liệu cho trẻ hoạt động, có tranh ảnh, hoa, cây cảnh, bố trí hài hoà đẹp, phù hợp và đúng quy cách. Chỉ có nội dung Diện tích và thiết bị phòng ngủ được đánh giá ở vị trí thứ 4 và mức độ đáp ứng TB, điều này chứng tỏ nội dung này được đánh giá thấp nhất trong nhóm.

Kết quả đánh giá Khối phòng hành chính quản trị được trình bày trong bảng bảng 2.7:

  • Bảng 2.7: Đánh giá Khối phòng hành chính quản trị

Qua đó cho thấy Khối phòng hành chính quản trị tại các trường đa số các nội dung đều có mức đáp ứng Khá, trung bình của nhóm là 2,61 điểm. Điều này cho thấy các trường MNCL đã được sự quan tâm của chính quyền địa phương, các ban ngành đoàn thể, lãnh đạo phòng GD&ĐT thị xã Dĩ An chỉ đạo sâu sát và tạo điều kiện thuận lợi cho trường xây dựng, đầu tư trường sở, xây dựng các khối phòng hành chính quản trị. Có 2 nội dung gồm Phòng y tế Phòng dành cho nhân viên được đánh giá mức đáp ứng TB. Điều này là do tại một số trường do được xây dựng lâu năm, một số hạn mục công trình xuống cấp nhưng không được thường xuyên thực hiện việc cải tạo và bảo trì theo quy định, hoặc được xây dựng không đúng theo yêu cầu CSVC hiện tại. Điều này làm giảm khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhà trường, học sinh.

Khi trao đổi với cô HT2 về CSVC, TBDH của trường có đáp ứng được yêu cầu dạy và học chưa? Chúng tôi được Cô chia sẻ: “Hiện nay nhà trường có 12 phòng học, với 471 HS, trung bình mỗi lớp gần 40 HS. Trong khi đó, phòng học, CSVC, TBDH đã được xây dựng và đầu tư lâu năm dẫn đến quá tải và không đáp ứng yêu cầu dạy học hiện nay. Đặc biệt là các đồ dùng, đồ chơi cho trẻ được sử dụng sau một hai năm học không thể sử dụng lại được, trong khi kinh phí để mua sắm, bổ sung rất hạn chế ”.

Qua phân tích kết quả khảo sát, kết hợp phỏng vấn CBQL, GV trong nhà trường về trường sở cho thấy hầu hết các nội dung đạt mức đáp ứng Khá, xuất phát từ những thuận lợi từ sự đầu tư, hiệu trưởng từ phía nhà nước, ngành giáo dục đối với các nhà trường. Tuy nhiên vì một số nguyên nhân chủ quan và khách quan nên một số nội dung chỉ đạt mức đáp ứng TB. Vì vậy trong thời gian tới cần có những biện pháp phù hợp để nâng cao mức độ đáp ứng của CSVC các nhà trường.

Kết quả Đánh giá Phòng giáo dục thể chất, nghệ thuật, bếp ăn, nhà vệ sinh được thể hiện trong bảng 2.8:

  • Bảng 2.8: Đánh giá phòng giáo dục thể chất, nghệ thuật, bếp ăn, nhà vệ sinh

Qua đó cho thấy tất cả các nội dung đánh giá Phòng giáo dục thể chất, nghệ thuật, bếp ăn, nhà vệ sinh đều có đáp ứng Khá, trung bình nhóm là 2,69 điểm. Điều này cho thấy các trường MNCL tại địa bàn đã chú ý trang bị tương đối đầy đủ các loại thiết bị dạy học theo quy định của Bộ GD&ĐT cho từng phòng chức năng, qua đó góp phần đảm bảo chất lượng dạy học về thể chất, nghệ thuật trong trường cũng như hoạt động ăn uống vệ sinh của trẻ.

2.3.2. Thực trạng về thiết bị Luận văn: Thực trạng QL cơ sở vật chất các trường MN công lập.

Kết quả Đánh giá Thiết bị, đồ dùng, đồ chơi được trình bày trong bảng 2.9:

  • Bảng 2.9: Đánh giá Thiết bị, đồ dùng, đồ chơi

Bảng 2.9 cho thấy nhóm thiết bị, đồ dùng, đồ chơi ở các trường chỉ đáp ứng mức TB với trung bình nhóm là 2,43 điểm. Qua đó có thể nhận định rằng các trường đang thiếu về số lượng và hạn chế về chất lượng của các thiết bị, đồ dùng, đồ chơi cho trẻ. Về Tính giáo dục, an toàn, phù hợp với trẻ của đồ chơi cũng chưa phù hợp, mức đáp ứng chưa cao khi điểm trung bình chỉ ở mức 2,39 điểm, điều này tác động không tốt đến chất lượng giáo dục trẻ thông qua thiết bị, đồ dùng, đồ chơi trong các trường hiện nay. Một nội dung được đánh giá đáp ứng Khá Hoạt động sửa chữa, thay thế, bổ sung, nâng cấp, cho thấy các trường hiện đã có sự quan tâm đến công tác bảo trì thiết bị, đồ dùng, đồ chơi trong nhà trường.

Kết quả phân tích về trang thiết bị trong trường MNCL cho thấy các trường hiện đã thực hiện mua sắm và trang bị các trang thiết bị nuôi dạy trẻ theo quy định và đáp ứng yêu cầu nuôi dạy trẻ. Trang thiết bị tương đối đầy đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng và tính an toàn tương đối cao. Hoạt động sửa chữa, thay thế, bổ sung, nâng cấp trang thiết bị cũng được chú ý thực hiện.

Bên cạnh đó do một số nhà trường có khuôn viên không đảm bảo yêu cầu đã làm hạn chế triển khai một số thiết bị dạy học như sân tập ngoài trời, các đồ dùng thiết bị ngoài trời chưa đa dạng, đầy đủ; Một số trường có sân chơi, bãi tập nhỏ hẹp làm ảnh hưởng đến chất lượng dạy môn thể dục cũng như các hoạt động ngoài giờ lên lớp khác; Một số trường không có phòng thể chất, các trang bị công nghệ lỗi thời; thiếu thốn cả về số lượng và chất lượng thiết bị, đồ dùng, đồ chơi. Từ đó làm hạn chế đến chất lượng giáo dục thông qua CSVC.

2.4. Thực trạng quản lý cơ sở vật chất các trường mầm non

2.4.1. Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên về quản lý cơ sở vật chất

Hành động của con người xuất phát từ nhận thức, nếu nhận thức phù hợp thì hành động là tích cực và ngược lại nếu nhận thức sai làm thì hành động sẽ có tác động tiêu cực, đi ngược lại thực tại khách quan. Chính vì vậy để thực hiện quản lý CSVC một cách tích cực, có hiệu quả thì ngay từ khâu nhận thức của CBQL và GV phải đúng đắn, phù hợp trong các hoạt động quản lý CSVC như xây dựng, mua sắm, sử dụng, bảo quản trường sở và trang thiết bị dạy học trong nhà trường.

  • Biểu đồ 2.1: Mức độ quan trọng của cơ sở vật chất đối với chất lượng dạy học Luận văn: Thực trạng QL cơ sở vật chất các trường MN công lập.

Phân tích biểu đồ 2.1 cho thấy đa phần CBQL và GV có mức đánh giá Rất quan trọng (52,4%) và Quan trọng (27,0%), tổng tỷ lệ hai đánh giá này đạt 79,4%. Điều này cho thấy đa phần CBQL và GV đã nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của CSVC đối với chất lượng dạy học trong nhà trường. CSVC là một thành phần đóng góp quan trọng trong quá trình dạy học, cấu thành quá trình giáo dục và dạy học. CSVC cũng đóng vai trò quan trọng trong mối quan hệ giữa mục tiêu, nội dung, phương pháp, giáo viên, trẻ và phương tiện dạy học. Dựa trên các phương tiện dạy học GV sẽ có những cách dạy, cách chăm sóc trẻ khác nhau. Trong thời đại công nghệ thì trong dạy học cần thiết phải trang bị những phương tiện công nghệ mới có thể dạy trẻ những kiến thức, kỹ năng mới phù hợp với trình độ phát triển của xã hội. Điều này rõ ràng tác động mạnh mẽ đến chất lượng dạy học và chăm sóc trẻ trong các trường MNCL. Với mức độ nhận thức cao như trên sẽ là động lực, cơ sở để các trường quản lý có hiệu quả CSVC trong nhà trường.

Tuy nhiên qua biểu đồ cũng cho thấy còn một tỷ lệ không nhỏ chưa có nhận thức đúng đắn về Mức độ quan trọng của CSVC đối với chất lượng dạy học. Cụ thể 15,5% đánh giá Ít quan trọng và 5,2% đánh giá Không quan trọng. Tổng tỷ lệ hai đánh giá này đạt 20,7%. Điều này sẽ ảnh hưởng làm cản trở các chính sách quản lý CSVC của nhà trường, tác động đến chất lượng giáo dục.

Vì vậy cần phải có biện pháp tiếp tục nâng cao nhận thức của một bộ phận CBQL, GV về mức độ quan trọng của CSVC trong thời gian tới để nâng cao hiệu quả quản lý CSVC trong các nhà trường.

2.4.2. Thực trạng quản lý xây dựng, trang bị cơ sở vật chất

Để quản lý xây dựng, trang bị CSVC nhà trường cần thực hiện các nội dung như: lập kế hoạch, chỉ đạo và kiểm tra xây dựng, trang bị CSVC… Kết quả khảo sát dựa vào số ĐTB và xếp thứ tự về mức độ thường xuyên thực hiện của từng nội dung được thể hiện trong bảng 2.10:

  • Bảng 2.10: Đánh giá thực trạng quản lý xây dựng, trang bị cơ sở vật chất

Qua đó bảng 2.10 cho thấy hoạt động quản lý xây dựng, trang bị CSVC chỉ được thực hiện mức Ít thường xuyên (ITX) với ĐTB 2,36 điểm. Luận văn: Thực trạng QL cơ sở vật chất các trường MN công lập.

  • Cụ thể:

Nội dung Lập kế hoạch xây dựng, mua sắm, trang bị, tiếp nhận trang thiết bị đạt 2,29 điểm trung bình, mức đánh giá ITX. Điều này cho thấy nhà trường còn ít quan tâm đúng mức đến công tác lập kế hoạch xây dựng, mua sắm, trang bị, tiếp nhận trang thiết bị. Kế hoạch chỉ được thực hiện theo chỉ đạo của cấp trên, không thực sự phù hợp với nhu cầu, điều kiện hiện có của nhà trường. Trong xây dựng, mua sắm các hạng mục quan trọng, cùng với việc phụ thuộc kinh phí thì nhà trường cũng phụ thuộc vào kế hoạch xây dựng vì thế vấn đề xây dựng, mua sắm nhà trường ít khi thực hiện lập kế hoạch.

Nội dung Tổ chức bộ máy, phân công trách nhiệm trong xây dựng, trang bị CSVC đạt 2,43 điểm trung bình, mức đánh giá ITX, xếp vị trí 4. Điều này là do hiện nhà trường tuy có Bộ phận Cơ sở vật chất – Thiết bị dạy học, nhưng đây là bộ phận kiêm nhiệm, đứng đầu là một Phó hiệu trưởng, bên dưới được bố trí theo yêu cầu của hiệu trưởng gồm tổ trưởng chuyên môn, giáo viên và kế toán. Sự kiêm nhiệm ảnh hưởng đến chất lượng công việc, tuy nhiên đây là lựa chọn để giảm chi phí và giảm biên chế cho nhà trường.

Nội dung Thực hiện đào tạo, bồi dưỡng CBQL và GV phụ trách xây dựng, trang bị CSVC được đánh giá 2,13 điểm trung bình, tương ứng với mức thực hiện ITX với, có thứ hạng là 8 trong các nội dung. Điều này cho thấy các trường chưa thực hiện tốt công tác đào tạo cán bộ, GV trong xây dựng và trang bị CSVC.

Về Tổ chức phong trào tự làm thiết bị giáo dục được nhà trường thực hiện TX với đánh giá 2,79 điểm trung bình, đứng vị trí thứ 1 trong các nội dung. Với sự khuyến khích của Sở, Phòng GD&ĐT thị xã trong phong trào làm đồ dùng dạy học, các trường MNCL thời gian qua đã thực hiện tốt phong trào tự làm thiết bị giáo dục bằng các vật liệu tái chế nhằm vừa có đồ dùng học tập, vừa góp phần bảo vệ môi trường. Chính vì vậy hoạt động này được CBQL và GV đánh giá cao.

Nội dung Thu thập ý kiến, trao đổi với CBQL và GV trong quá trình xây dựng, trang bị CSVC chỉ thực hiện ở mức ITX, với 2,23 điểm trung bình, tương ứng vị trí thứ 6 trong các nội dung khảo sát. Điều này cho thấy vấn đề thu thập ý kiến tuy được thực hiện nhưng chưa có ý nghĩa nhiều trong các quyết định xây dựng, trang bị CSVC, hiệu trưởng vẫn là người quyết định dựa theo kinh nghiệm bản thân và quy định của ngành giáo dục.

Nội dung Xây dựng, hướng dẫn các quy định về đề xuất nhu cầu xây dựng, trang bị CSVC đối với CBQL, GV được đánh giá thực hiện ITX với 2,15 điểm trung bình và vị trí thứ 7. Hiện các trường đã ra các quy định, kế hoạch sơ bộ về đề xuất nhu cầu xây dựng, trang bị CSVC đối với CBQL, GV. Theo đó các tổ trưởng chuyên môn, Hiệu phó quản lý CSVC sẽ thống kê trang thiết bị dạy học và đề xuất tăng cường các thiết bị, dụng cụ giảng dạy mới vào đầu năm học để nhà trường có kế hoạch mua sắm và chi ngân sách. Tuy nhiên công tác này chưa được đánh giá cao. Luận văn: Thực trạng QL cơ sở vật chất các trường MN công lập.

Nội dung Khuyến khích, khen thưởng các đóng góp trong xây dựng, trang bị CSVC chưa được các trường quan tâm đúng mức vì thế được đánh giá 1,81 điểm trung bình, mứa đánh giá ITX, đứng vị trí cuối trong 9 nội dung khảo sát. Điều này sẽ làm hạn chế sự hứng thú, tìm tòi và sáng tạo của CBQL, GV trong việc góp phần xây dựng, trang bị CSVC như tự làm đồ dùng dạy học, trồng hoa, cây cảnh trong khuôn viên nhà trường… tác động đến số lượng và chất lượng trang thiết bị và cảnh quan nhà trường. Chính vì thế các trường cần phải tăng cường biện pháp này trong thời gian tới.

Công tác Kiểm tra, đánh giá chất lượng và hiệu quả trong xây dựng, trang bị CSVC được đánh giá ở 2,79 điểm trung bình, tương ứng mức TX, được đồng xếp vị trí thứ 1 trong các nội dung. Điều này cho thấy các trường đã thực hiện việc kiểm tra, đánh giá ở mức độ khá tốt, có sổ sách ghi rõ số lượng và chất lượng các trang thiết bị, các phòng chức năng… được thực hiện trong hoạt động trong xây dựng, trang bị CSVC tại trường. Đây cũng là một trong những nội dung được hiệu trưởng đảm nhận để thông báo với cấp quản lý hàng năm.

Nội dung Điều chỉnh, thay đổi bổ sung nhằm nâng cao hiệu quả trong xây dựng, trang bị CSVC có điểm trung bình 2,69 và xếp vị trí thứ 3. Kết quả cho thấy việc điều chỉnh hoạt động quản lý xây dựng, trang bị CSVC sau kiểm tra đánh giá của các trường được thực hiện khá tốt. Các điều chỉnh được thực hiện ở cuối giai đoạn, như cuối học kỳ hoặc năm học nhằm cải thiện những hạn chế, tuy nhiên qua đó cũng tác động đến mức độ đáp ứng của CSVC của các trường vì quá trình dạy học là quá trình xuyên suốt nên việc đáp ứng của CSVC bị gián đoạn sẽ tác động không tốt đến chất lượng dạy học.

Ngoài kết quả khảo sát định lượng, chúng tôi còn tiến hành phỏng vấn CBQL, GV về việc quản lý xây dựng, trang bị CSVC. Trao đổi với HT1 chia sẻ “Cơ sở vật chất, đồ dùng dạy học, đồ chơi là thành tố không thể thiếu được trong công tác giáo dục trẻ, nó góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục. Tuy nhiên trong những năm gần đây việc quản lý, xây dựng, trang bị CVSC trong các trường mầm non còn buông lỏng, công tác lập kế hoạch trang bị, mua sắm, trang bị, tiếp nhận,…. chưa chặt chẽ dẫn đến thất thoát, hư hao nhiều. Mặc dù còn nhiều khó khăn, song với tinh thần đoàn kết tập thể hội đồng sư phạm nhà trường và học sinh luôn hoàn thành tốt các nhiệm vụ giáo dục, chất lượng giáo dục hàng năm đều được đánh giá cao, nhiều năm nhà trường đạt danh hiệu trường tiên tiến cấp Thị xã, cấp tỉnh, tạo được lòng tin của nhân dân và chính quyền địa phương và tạo được sự tin tưởng và quan tâm của Phòng giáo dục, Sở giáo dục, vì thế CSVC, TBDH đang từng bước được tu sửa và bổ sung”.

Kết quả phân tích trên có thể kết luận: 1) công tác quản lý xây dựng, trang bị CSVC được các trường thực hiện ở mức ít thường xuyên, 2) việc quản lý xây dựng, trang bị CSVC chưa thực sự khoa học, chưa mang lại hiệu quả cao. Vì vậy, trong thời gian tới các trường cần có những giải pháp đồng bộ, đặc biệt quan tâm hơn nữa tới nội dung khuyến khích, khen thưởng những đóng góp của cá nhân, tập thể trong xây dựng, trang bị CSVC.

2.4.3. Thực trạng quản lý sử dụng cơ sở vật chất Luận văn: Thực trạng QL cơ sở vật chất các trường MN công lập.

Kết quả đánh giá công tác quản lý sử dụng cơ sở vật chất được trình bày ở bảng 2.11:

  • Bảng 2.11: Đánh giá thực trạng quản lý sử dụng cơ sở vật chất

Qua bảng 2.11 cho thấy công tác quản lý sử dụng CSVC ở các trường được đánh giá được thực hiện ITX, điểm trung bình nhóm 2,21 điểm. Điều này cho thấy công tác này còn nhiều hạn chế. Cụ thể:

Nội dung Lập kế hoạch chi tiết nhu cầu sử dụng CSVC được đánh giá 2,19 điểm trung bình, tương ứng với mức thực hiện ITX. Điều này cho thấy hiện công tác lập kế hoạch sử dụng CSVC được thực hiện nhưng chưa được đánh giá cao, thường việc sử dụng được tổ chuyên môn, GV đề xuất sử dụng khi có nhu cầu, vì thế vấn đề lập kế hoạch trước ít được quan tâm thực hiện. kế hoạch sử dụng chỉ được thực hiện đối với các buổi thao giảng, sinh hoạt tập thể, còn vấn đề dạy học, chăm sóc trẻ hàng ngày vấn đề kế hoạch chỉ được thực hiện trong khoảng thời gian ngắn hạn. Điều này sẽ tác động đến sự phân bổ, bố trí CSVC trong các lớp học, cho GV và trẻ trong nhà trường.

Hiện các trường đã Ban hành nội quy sử dụng CSVC và hướng dẫn sử dụng trang thiết bị theo quy định quản lý thiết bị giáo dục hiện hành, vì thế nội dung này được CBQL và GV đánh giá cao với 2,47 điểm trung bình, mức ITX, xếp vị trí thứ 2 trong các nội dung. Nội quy này thường được sử dụng lại sau 1 lần ban hành cho nhiều năm, vì thế nội quy dần không đáp ứng các yêu cầu trang thiết bị mới. Một số trường thì ban hành nội quy nhưng các quy định chưa chặt chẽ, rõ ràng gây khó khăn và làm giảm hiệu quả trong công tác quản lý, vì thế mức đánh giá chưa đạt tối đa.

Nội dung Xây dựng cơ chế phối hợp trong sử dụng CSVC, nội dung này thường được chứa đựng trong nội quy sử dụng CSVC trong đó xác định quyền hạn, trách nhiệm trong quá trình sử dụng của từng đối tượng như CBQL, GV, nhân viên trong quá trình sử dụng các phòng chức năng, trang thiết bị. Điều này nhằm tránh việc mất mát, hư hao trong quá trình sử dụng và quy được trách nhiệm cho đối tượng sử dụng cụ thể. Tuy nhiên nội dung này chưa được đánh giá cao với 2,39 điểm trung bình, tương ITX.

Nội dung Tổ chức hướng dẫn CBQL, GV trong sử dụng trang thiết bị được đánh giá 2,65 điểm trung bình, xếp thứ 1 về độ lớn trong nhóm, đạt đánh giá TX. Hiện nay đối với các trang thiết bị GV được tổ chức hướng dẫn từ phía nhà cung cấp, từ phía tổ chuyên môn và ban giám hiệu. Ngoài ra trước khi sử dụng GV được cung cấp tài liệu hướng dẫn sử dụng của thiết bị. Khi nào nắm chắc được cách thức sử dụng thì nhà trường mới cung cấp để GV thực hiện dạy học. Điều này cho thấy việc hướng dẫn sử dụng trang thiết bị trong nhà trường được thực hiện khá chặt chẽ nhằm nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng, tránh những hỏng hóc do, ảnh hưởng đến kết quả dạy học. Nội dung Ban hành quy định sử dụng CSVC trong đánh giá, xếp loại thi đua CBQL, GV được đánh giá ở mức 1,83 điểm trung bình, tương ứng với đánh giá ITX, xếp hạng thứ 9 trong nhóm. Điều này thể hiện rằng một số trường có quy định về xử lý CBQL, GV, cụ thể gồm các mức độ xử lý căn cứ vào số lần vi phạm và mức độ vi phạm chắc nhở; thông báo trong toàn trường; đề nghị hạ bậc khi xét danh hiệu thi đua; đề nghị xử lý kỷ luật. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện nội dung này ít khi được đem ra sử dụng, vì thế nội dung này có mức đánh giá không cao.

Nội dung Khuyến khích, khen thưởng khi CBQL, GV sử dụng hiệu quả CSVC được đánh giá mức thấp trong các nội dung với 1,91 điểm, tương ứng mức ITX. Điều này là do các trường hiện chỉ quy định về xử lý sai phạm trong sử dụng CSVC mà chưa có quy định về khuyến khích, khen thưởng. Luận văn: Thực trạng QL cơ sở vật chất các trường MN công lập.

Nội dung Đánh giá chất lượng và hiệu quả sử dụng CSVC được đánh giá thực hiện ITX với 2,19 điểm trung bình, xếp vị trí thứ 4 trong các nội dung. Theo quy định về quản lý CSVC trong trường MNCL thì hiệu trưởng nhà trường chịu trách nhiệm toàn bộ quá trình quản lý CSVC trong nhà trường, thường xuyên kiểm tra, đánh giá hiệu quả sử dụng thiết bị giáo dục và lập báo cáo lên cơ quan cấp trên mỗi năm một lần. Vì thế công tác này được các trường MNCL quan tâm thực hiện, tuy nhiên mức độ thực hiện ở mức độ vừa.

Nội dung Điều chỉnh, thay đổi bổ sung nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng CSVC được đánh giá mức thực hiện ITX, với 2,11 điểm trung bình, xếp vị trí thứ 7 trong 9 nội dung. Điều này cho thấy sự điều chỉnh và thay đổi sau công tác kiểm tra trong sử dụng CSVC, trang thiết bị ít được quan tâm thực hiện, điều này ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý sử dụng thiết bị.

Bên cạnh kết quả khảo sát định lượng, chúng tôi còn tiến hành phỏng vấn CBQL, GV về việc sử dụng CSVC, trang thiết bị trong hoạt động quản lý và giảng dạy cho thấy: hầu hết các ý kiến cho rằng việc khai thác và sử dụng CSVC mới chỉ dừng lại ở mức biết sử dụng chứ chưa thực sự khai thác được hết ưu thế và tiềm năng của CSVC hiện có trong nhà trường.

Trao đổi với HT2 cho biết: “Việc quản lý sử dụng CSVC, trang bị thiết bị hiện nay được các cấp lãnh đạo cũng như Ban Giám hiệu nhà trường rất quan tâm, nhưng công tác đào tạo và bồi dưỡng CBQL, GV trong quá trình sử dụng, khai thác CSVC chưa được thực hiện một cách thường xuyên nên hiệu quả sử dụng CSVC chưa cao”.

Cô TT1 cho biết: “Nhà trường hiện nay ban hành quy định về việc xây dựng kế hoạch sử dụng CSVC quá cứng nhắc, mỗi khi muốn sử dụng phải báo trước cho tổ chuyên môn cả tuần, thậm chí cả tháng. Vì vậy, việc sử dụng các phương tiện chỉ được thực hiện đối với các buổi thao giảng, sinh hoạt tập thể…”.

Qua dự giờ của cô GV1 với chủ đề thế giới động vật, tiết dạy “Rong và Cá” cho trẻ qua tiết dạy 4-5 tuổi chúng tôi nhận thấy “Kỹ năng sử dụng các đồ dùng dạy học chưa thực sự hiệu quả, chưa phát huy hết tiềm năng của các thiết bị dạy học. Sau khi sử dụng tranh cho trẻ quan sát nhưng khi chuyển sang hoạt động khác cô cũng không cất tranh đi dẫn đến việc trẻ bị phân tán khi cô đã chuyển sang hoạt động mới”. Luận văn: Thực trạng QL cơ sở vật chất các trường MN công lập.

Qua phân tích định lượng và định tính có thể kết luận rằng, công tác quản lý sử dụng CSVC, trang thiết vị giáo dục mới chỉ dừng lại ở mức độ vừa phải, hiệu quả một số nội dung không cao như hoạt động lập kế hoạch; khuyến khích, khen thưởng; điều chỉnh, thay đổi bổ sung sau kiểm tra hoạt động sử dụng CSVC… Điều này tác động làm giảm hiệu quả sử dụng CSVC tại các trường MNCL. Chính vì vậy trong thời gian tới cần phải có những biện pháp nâng cao hiệu quả trong quản lý sử dụng CSVC tại các trường MNCL trên địa bàn.

2.4.4. Thực trạng quản lý bảo quản cơ sở vật chất

Công tác quản lý bảo quản CSVC được thực hiện theo 4 chức năng cơ bản của quản lý gồm: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra kết quả. Kết quả đánh giá quản lý bảo quản cơ sở vật chất được trình bày trong bảng 2.12:

  • Bảng 2.12: Đánh giá quản lý bảo quản cơ sở vật chất

Qua bảng 2.12 cho thấy công tác bảo quản được đánh giá được thực hiện mức độ ITX với trung bình nhóm 2,08 điểm. Điều này thể hiện công tác bảo quản CSVC ở các trường chưa được đánh giá cao. Cụ thể:

Nội dung Chỉ đạo lập hồ sơ thống kê số lượng, tình trạng bảo quản đối với từng trang thiết bị, công trình được thực hiện ở mức TX, với 2,69 điểm trung bình. Hiện nay các trường đều thực hiện việc lập thống kê theo đúng quy định của Nhà nước về quản lý tài sản hàng năm. Một số trường hợp cần phải được tiến hành kiểm kê, lập hồ sơ bất thường như xảy ra thiên tai, trộm cắp, thay đổi nhiệm kỳ người phụ trách hay yêu cầu từ cơ quan quản lý. Điều này được quy định rõ trong quản lý tài sản tại các trường MNCL nên được các trường thực hiện ở mức TX, mức đánh giá xếp thứ 1 trong các nội dung.

Tuy nhiên nội dung Xây dựng và ban hành nội quy bảo quản CSVC lại có mức đánh giá 1,91 điểm trung bình, tương ứng với mức ITX, xếp vị trí thứ 7 trong 10 nội dung của nhóm. Điều này cho thấy các trường chưa quan tâm nhiều đến nội quy trong nhà trường về bảo quản CSVC, các hướng dẫn chỉ được bên cung cấp thực hiện theo hợp đồng cung cấp thiết bị, vì thế việc bảo quản chưa xác với thực tế nhà trường. Luận văn: Thực trạng QL cơ sở vật chất các trường MN công lập.

Nội dung Biên chế bộ phận chuyên trách bảo vệ CSVC được đánh giá thấp, mức thực hiện TX với 2,53 điểm trung bình, xếp vị trí thứ 2. Điều này cho thấy hiện nay các trường đã có bộ phận Cơ sở vật chất – Thiết bị dạy học, là bộ phận kiêm nhiệm, cùng với các chức năng như văn thư, kế toán hoặc GV… tùy từng trường, phù hợp để hỗ trợ nhau, không xung đột. Ngoài ra mỗi trường có từ 1 đến 2 bảo vệ thực hiện chức năng bảo vệ tất cả tài sản trong nhà trường. Điều này giúp nhà vừa giảm được nhân sự vừa đảm bảo hiệu quả bảo quản, bảo vệ CSVC, trang thiết bị trong nhà trường.

Nội dung Xây dựng cơ chế phối hợp trong bảo quản CSVC được đánh giá với mức thực hiện ITX với 1,97 điểm trung bình, được xếp vị trí 5 trong các nội dung. Điều này là do cơ chế phối hợp trong bảo quản CSVC được quy định trong nội quy sử dụng CSVC mà các trường đã ban hành, trong đó quy định nhiệm vụ, trách nhiệm của các cá nhân trong quá trình sử dụng và bảo quản thiết bị dạy học, các phòng chức năng trong nhà trường. Tuy nhiên sự phối hợp giữa CBQL và GV trong bảo quản CSVC chưa đạt kết quả cao, khi nhu cầu có vấn đề về thiết bị GV gửi lại bộ phận Cơ sở vật chất – Thiết bị dạy học của trường, tại đây các hư hỏng sẽ được sửa chữa và bảo quản.

Nội dung Tổ chức đào tạo, hướng dẫn trong bảo quản CSVC có mức thực hiện ITX với 1,81 điểm trung bình, được xếp vị trí 8 trong các nội dung. Điều này là do hiện nay bộ phận Cơ sở vật chất – Thiết bị dạy học do GV hoặc nhân viên văn thư đang kiêm nhiệm, dưới sự quản lý của một phó hiệu trưởng phụ trách CSVC, nhà trường không có nhân viên chuyên trách CSVC. Chính vì vậy việc đào tạo, hướng dẫn trong bảo quản CSVC chỉ được tham gia một số khóa học do Phòng GD&ĐT tổ chức, một số GV, nhân viên phụ trách CSVC được tham gia các buổi hướng dẫn sử dụng thiết bị trong nhà trường, hoặc được các đơn vị cung cấp thiết bị tư vấn. Chính vì vậy trong quá trình sử dụng xảy ra một số sai sót và dẫn đến những hỏng hóc, hư hại ảnh hưởng đến công tác bảo quản CSVC trong nhà trường.

Nội dung Phổ biến yêu cầu giáo dục, tinh thần làm chủ của tập thể trong bảo quản CSVC được đánh giá thực hiện TX với 2,53 điểm xếp đồng vị trí thứ 2 trong các nội dung. Điều này cho thấy hiện nay các trường MNCL đã thực hiện tốt việc phổ biến cho CBQL, GV về các quy định về quản lý CSVC như Quy chế thiết bị giáo dục trong trường mầm non; Danh mục Đồ dùng – Đồ chơi – Thiết bị dạy học tối thiểu dùng cho Giáo dục mầm non; Điều lệ trường mầm non… và thực hiện quy chế công khai, dân chủ trong nhà trường trong công tác xây dựng, mua sắm, sử dụng và bảo quản CSVC, trang thiết bị. Từ đó CBQL, GV đã nắm bắt và nêu cao tinh thần làm chủ của tập thể trong công tác bảo quản nói riêng và quản lý CSVC nói chung trong nhà trường. Tuy nhiên để tinh thần làm chủ phát huy tác dụng cần phải có nhiều yếu tố như khuyến khích, khen thưởng đối với tập thể cá nhân thực hiện tốt khâu bảo quản. Tuy nhiên đây lại là việc mà các trường chưa quan tâm đúng mức và cũng chưa có cơ chế nào để thực hiện. Luận văn: Thực trạng QL cơ sở vật chất các trường MN công lập.

Thể hiện cho nhận định trên thì trong nội dung Khuyến khích, khen thưởng đối với cá nhân, bộ phận có thành tích trong bảo quản CSVC được đánh giá thấp với 1,73 điểm trung bình, xếp thứ 9 trong các nội dung. Vấn đề này thể hiện trong việc bảo quản CSVC nhà trường mặc nhiên là trách nhiệm của tất cả cán bộ, GV, nhân viên trong nhà trường vì thế không xem đó là làm để phải phấn đấu, ganh đua trong nhà trường, vì thế không có cơ chế với cá nhân, bộ phận có thành tích trong bảo quản CSVC. Điều này có thể ảnh hưởng đến tinh thần của cán bộ, GV, nhân viên có mong muốn đóng góp cho công tác bảo quản CSVC, nhất là trong hoạt động sửa chữa trang thiết bị bị hư hỏng, nâng cao chất lượng CSVC trong nhà trường.

Nội dung Đánh giá hiệu quả công tác bảo quản CSVC được đánh giá thực hiện ITX, với 1,65 điểm trung bình, xếp vị trí thứ 10 trong 10 nội dung. Điều này cho thấy vấn đề đánh giá hiệu quả tuy được thực hiện theo quy định của cấp quản lý về quản lý tài sản trong trường MNCL. Tuy nhiên các đánh giá này được chỉ mang tính báo cáo với cơ quan quản lý, hiệu quả dành cho công tác bảo quản CSVC không cao.

Nội dung Điều chỉnh, thay đổi bổ sung hướng dẫn nhằm nâng cao hiệu quả bảo quản CSVC được đánh giá thực hiện ITX, với 1,97 điểm trung bình, xếp vị trí thứ 6 trong 10 nội dung. Cũng giống với công tác đánh giá hiệu quả công tác bảo quản CSVC thì sau khi đánh giá, việc điều chỉnh, thay đổi bổ sung hướng dẫn nhằm nâng cao hiệu quả bảo quản CSVC chỉ được nhà trường thực hiện ở mức độ vừa phải, hiệu quả chưa cao trong việc đề ra các biện pháp thích hợp sau quá trình đánh giá trong bảo quản CSVC.

Khi phỏng vấn CBQL, GV về việc có cần thành lập một bộ phận chuyên trách thực hiện công tác quản lý, sử dụng CSVC trong nhà trường không? Chúng tôi được Cô HT1 chia sẻ: “Việc thành lập bộ phận chuyên trách thực hiện quản lý CSVC là rất cần thiết. Ngay từ đầu năm học nhà trường đã quyết định thành lập Ban quản lý CSVC, kiểm kê tài sản gồm các thành phần như sau: Ban Giám hiệu, Kế toán, chủ tịch Công đoàn, Thanh tra nhân dân, các cán bộ thiết bị, cán bộ thư viện và một số giáo viên am hiểu về thiết bị dạy học. Nhiệm vụ của Ban quản lý CSVC là kiểm kê số lượng tài sản theo từng chủng loại, đối chiếu với sổ sách kế toán; đồng thời đánh giá chất lượng còn lại của tài sản. Đối với những tài sản hư hỏng không sửa chữa được, Ban quản lý CSVC lập biên bản đề nghị thanh lý. Căn cứ các quy định về quản lý tài sản hiện hành, Hiệu trưởng nhà trường quyết định cho thanh lý đối với những tài sản thuộc thẩm quyền hoặc đề nghị cấp trên cho thanh lý đối với những tài sản thuộc thẩm quyền quyết định của cấp trên…”

Bên cạnh đó khi dự giờ cô GV2 chúng tôi kỹ năng sử dụng và bảo quản CSVC, TBDH còn hạn chế. “Thứ nhất là số lượng chữ trong một slide quá nhiều, trong khi hình ảnh cần thiết và phù hợp với trẻ mầm non lại quá ít; thứ hai là hình và nền lại không tương thích nên việc quan sát gặp nhiều khó khăn; thứ ba là khi tắt máy lại tắt một cách cơ học và rút ngay nguồn điện khi cánh quạt làm mát cho máy chưa dừng nên dễ dẫn đến việc hư hỏng máy móc… ”. Đây là những hạn chế về việc quản lý sử dụng, bảo quản CSVC do thiếu tập huấn về kỹ năng sử dụng.

Tóm lại, công tác quản lý bảo quản CSVC chỉ được các trường thực hiện ở mức độ vừa phải, chưa mang lại hiệu quả cao trong quản lý CSVC trong các trường MNCL. Một số nội dung bị đánh giá thấp như công tác lập kế hoạch bảo quản; tổ chức đào tạo, hướng dẫn trong bảo quản CSVC; Khuyến khích, khen thưởng đối với cá nhân, bộ phận có thành tích trong bảo quản CSVC. Điều này cho thấy cần phải có những biện pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quản lý bảo quản CSVC tại các trường MNCL trong thời gian tới.

2.5. Đánh giá chung và nguyên nhân về thực trạng quản lý cơ sở vật chất các trường mầm non công lập tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL cơ sở vật chất các trường MN công lập.

2.5.1. Đánh giá chung thực trạng

  • Ưu điểm

Các trường MNCL trên địa bàn đều được sự quan tâm của các cấp quản lý trong hoạt động giáo dục nói chung và trong đầu tư xây dựng CSVC, mua sắm trang thiết bị dạy học, chăm sóc trẻ nói riêng. Chính vì vậy trong thời gian qua các trường đã được đầu tư theo hướng kiên cố hóa và chuẩn hóa trường lớp. Các trang thiết bị cũng ngày càng đảm bảo về số lượng và chất lượng theo quy định hiện hành. Mức đáp ứng của các tiêu chí như Diện tích, khuôn viên và các công trình của nhà trường; Sân, vườn và khu vực cho trẻ chơi; Phòng sinh hoạt chung, phòng ngủ và hiên chơi; Phòng giáo dục thể chất, nghệ thuật, bếp ăn, nhà vệ sinh; Khối phòng hành chính quản trị; Thiết bị, đồ dùng, đồ chơi cũng đạt mức cao. Tuy chưa đáp ứng hoàn toàn các yêu cầu thực tế nhưng theo quy định thì hiện đã có 8 trường đạt các yêu cầu chuẩn quốc gia và 2 trường đang trong quá trình phấn đấu chuẩn quốc gia về các tiêu chí CSVC.

Công tác quản lý xây dựng, trang bị CSVC đã dần đi vào nề nếp, thực hiện theo các quy định của ngành giáo dục trong quản lý tài sản trong các cơ sở công. Công tác quản lý sử dụng CSVC hiện được các trường thực hiện theo quy định hiện hành trong quản lý CSVC do ngành giáo dục ban hành. Công tác quản lý bảo quản cơ sở vật chất được ở mức độ vừa phải. Nhìn chung trong công tác quản lý CSVC tại các trường MNCL qua phân tích khảo sát cho thấy các trường đã thực hiện tất cả các chức năng quản lý như công tác lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá kết quả thực hiện. Mức độ thực hiện được đánh giá ở mức TX và RTX, hiệu quả ngày càng được nâng cao.

Nhìn chung các trường đã dần thực hiện công tác quản lý CSVC một cách thường xuyên trong vấn đề đầu tư xây dựng trường sở, mua sắm trang thiết bị và thực hiện quản lý sử dụng, bảo quản đạt kết quả ngày càng cao, từ đó giúp nâng cao chất lượng giáo dục trong các trường. Luận văn: Thực trạng QL cơ sở vật chất các trường MN công lập.

  • Hạn chế

Tuy nhiên bên cạnh những ưu điểm thì công tác quản lý CSVC tại các trường MNCL tại thị xã Dĩ An còn một số hạn chế. Cụ thể:

Một số CBQL, GV chưa nhận thức đúng về vai trò của CSVC đối với hoạt động dạy học và chăm sóc trẻ, sự tác động của CSVC đến chất lượng dạy học trong trường MNCL. Tư duy, trình độ của một số GV chưa đáp ứng theo kịp sự đổi mới của yêu cầu giáo dục hiện tại, kinh nghiệm còn non.

Hoạt động xây dựng kế hoạch trang bị, sử dụng và bảo quản CSVC chưa được chú trọng, đáp ứng tốt yêu cầu. Một số trường lập kế hoạch theo kiểu sao chép, đối phó với các cơ quan quản lý. Việc lập kế hoạch không phù hợp với thực tế từng nhà trường, ít tham khảo ý kiến của GV và các thành viên khác trong nhà trường. Công tác lập kế hoạch quản lý CSVC còn hạn chế ở một số trường, việc lên kế hoạch còn manh mún, không được thực hiện thường xuyên và khoa học, thiếu đâu đề xuất đấy, xuống cấp rồi mới tu sửa… điều này làm cho hiệu quả công tác kế hoạch quản lý CSVC của nhà trường chưa cao, gây ra một số khó khăn, sai sót trong quá trình thực hiện, kiểm tra, bố trí nhân sự trong quản lý CSVC.

Hiện nay năng lực sử dụng CSVC của một số CBQL – GV hạn chế, nhất là việc sử dụng các trang thiết bị hiện đại như máy chiếu, sử dụng các phần mềm dạy học, phần mềm dinh dưỡng, sử dụng internet trong quá trình dạy học… Điều này gây hạn chế mức độ khai thác thiết bị, hiệu quả không cao cũng như có thể gây các hư hỏng trong quá trình sử dụng, bảo quản.

Công tác bảo quản, bảo vệ CSVC tại một số trường chưa được thực hiện một cách khoa học, thiếu điều kiện bảo quản. Nhân tố con người trong hoạt động bảo quản, sửa chữa, bảo trì còn thiếu dẫn đến một số hạn mục, trang thiết bị bị xuống cấp nhanh chóng. Các hỏng hóc nhỏ nhưng không được sửa chữa, bảo trì dẫn đến trang thiết bị không thể hoạt động, không khai thác được. Một số trang thiết bị thất lạc trong quá trình sử dụng hoặc bị mất hoặc bị phá hoại do các tác nhân bên ngoài.

Công tác xã hội hóa trong xây dựng, trang bị CSVC chưa đạt được hiệu quả cao, vì vậy chưa thu hút được các nguồn lực xã hội trong việc đầu tư, sửa chữa, xây dựng để tạo điều kiện nâng cao chất lượng dạy học và chăm sóc trẻ.

Ý thức giữ gìn, bảo quản CSVC của các thành viên trong nhà trường chưa cao, Cán bộ quản lý CSVC nhà trường là kiêm nhiệm, chưa chuyên nghiệp cũng như trình độ chưa chuyên môn chưa cao, khâu đào tạo bồi dưỡng quản lý CSVC trường học chưa đảm bảo và chưa thường xuyên. Điều này ảnh hưởng đến hoạt động quản lý CSVC trong các trường MNCL trên địa bàn thời gian qua.

2.5.2. Nguyên nhân hạn chế thực trạng quản lý cơ sở vật chất các trường mầm non công lập tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương

  • Yếu tố chủ quan Luận văn: Thực trạng QL cơ sở vật chất các trường MN công lập.
  • Bảng 2.13 Đánh giá mức ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan

Các yếu tố chủ quan xuất phát từ nội tại của nhà trường trong hoạt động quản lý CSVC, từ đó tác động hạn chế đến công tác quản lý. Các yếu tố bao gồm Nhận thức của CBQL, GV, phụ huynh về CSVC; Trình độ, năng lực quản lý CSVC của CBQL; Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ về CSVC của giáo viên và nhân viên không đồng đều, thiếu kỹ năng sử dụng…; Ý thức, thái độ của giáo viên và nhân viên đối với CSVC. Cụ thể:

Yếu tố Nhận thức của CBQL, GV, phụ huynh về CSVC còn hạn chế sẽ tác động đến chất lượng công tác quản lý CSVC trong nhà trường vì mọi hoạt động của con người đều xuất phát từ nhận thức. Nếu nhận thức về vấn đề đúng sẽ hành động đúng và ngược lại sẽ làm trì trệ, giảm hiệu quả và thậm chí là phá hoại hoạt động. Vậy nếu nhận thức của CBQL về CSVC bị hạn chế sẽ tác động đến công tác lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá thực hiện kế hoạch, có khả năng gây sai lệch hoặc không đạt được mục tiêu đề ra trong quản lý CSVC. Nhận thức GV, phụ huynh về CSVC hạn chế sẽ ảnh hưởng đến các hoạt động xây dựng, mua sắm sử dụng và bảo quản CSVC, nhất là khâu sử dụng, bảo quản sẽ tác động mạnh nhất. Chính vì vậy về yếu tố này các CBQL và GV đánh giá mức Ảnh hưởng nhiều với 3,13 điểm trung bình, đứng thứ 1 trong các yếu tố chủ quan được khảo sát.

Yếu tố Trình độ, năng lực quản lý CSVC của CBQL yếu có ảnh hưởng mạnh nhất trong các yếu tố liên quan đến quản lý CSVC. Vì năng lực là khả năng thực hiện công việc một cách khoa học, tác động đến chất lượng công việc, năng lực là cầu nối giữa nhận thức và kết quả công việc. Nhận thức dù tốt đến đâu nhưng năng lực thực hiện yếu kém thì kết quả sẽ rất hạn chế. Vì thế yếu tố này được đánh giá 2,88 điểm trung bình, đứng thứ 3 trong các yếu tố chủ quan.

Yếu tố Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ về CSVC của giáo viên và nhân viên không đồng đều, thiếu kỹ năng sử dụng…cũng như yếu tố trình độ năng lực của CSVC thì trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của giáo viên và nhân viên trong nhà trường cũng tác động rất lớn đến hiệu quả quản lý CSVC. Đây là đối tượng trực tiếp sử dụng, bảo quản, bảo trì, thay thế… nếu trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của họ không đảm bảo sẽ dẫn đến những sai sót, gây hư hỏng hoặc không khai thác hết khả năng của CSVC được trang bị, dẫn đến hiệu quả dạy học và chăm sóc trẻ không cao. Yếu tố này được đánh giá mức ảnh hưởng Nhiều với 2,99 điểm trung bình, xếp hạng thứ 2. Luận văn: Thực trạng QL cơ sở vật chất các trường MN công lập.

Yếu tố Ý thức, thái độ của giáo viên và nhân viên đối với CSVC chưa tích cực được đánh giá cao về mức ảnh hưởng với vị trí thứ 4 và 2,83 điểm trung bình. Ý thức thái độ của giáo viên và nhân viên tác động đến sự tích cực trong hành động của họ, dù nhận thức, năng lực có cao nhưng trong hành động lại thiếu ý thức, có thái độ không tốt thì không thể đạt được mục tiêu mà nhà quản lý đề ra. Những người ý thức, thái độ kém thì chỉ cần một chút khó khăn họ sẽ lùi bước, điều này sẽ ảnh hưởng đến công tác hoạch định, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá trong quản lý CSVC tại các trường MNCL.

  • Yếu tố khách quan
  • Bảng 2.14: Đánh giá mức ảnh hưởng của các yếu tố khách quan

Kết quả phân tích bảng 2.14 cho thấy:

Yếu tố Nguồn kinh phí để xây dựng, mua sắm, trang bị, bảo quản CSVC thiếu thốn. Hiện nay trong vấn đề xây dựng CSVC, mua sắm trang thiết bị các trường có các nguồn chính là từ các cấp quản lý như phòng GD&ĐT, chính quyền địa phương và sự hỗ trợ của các tầng lớp xã hội. Tuy nhiên so với yêu cầu hiện tại thì các trường còn rất nhiều hạn mục chưa được đầu tư xây dựng, mua sắm đầy đủ, nhất là các thiết bị vì nguồn kinh phí có giới hạn và chỉ được chi trả theo dự án, theo giai đoạn đã được lên kế hoạch. Vì vậy hiện các trường rất thiếu nguồn kinh phí trong đầu tư mở rộng, thực hiện mua sắm, nâng cấp trang thiết bị, phòng chức năng, nhất là các thiết bị máy móc hiện đại, chi phí cao trong đáp ứng yêu cầu dạy học hiện nay. Chính vì vậy yếu tố này được đánh giá mức ảnh hưởng lớn nhất các yếu tố được nêu với 3,67 điểm trung bình.

Yếu tố Cơ sở pháp lý về quản lý CSVC trường MN bất cập. Yếu tố này quy định vấn đề quản lý tài sản, CSVC trong các trường công lập. Đây là cơ sở để các nhà trường thực hiện công tác quản lý trong nhà trường, vì thế ảnh hưởng rất lớn đến công tác này. Mức ảnh hưởng được đánh giá là Ảnh hưởng nhiều với 3,05 điểm trung bình, xếp vị trí thức 5.

Yếu tố Thiếu chính sách, chế độ động viên khuyến khích CBQL-GV như các phân tích ở các phần trên, đây là yếu tố tác động đến động lực làm việc của CBQL-GV trong vấn đề mua sắm, xây dựng, sử dụng và bảo quản CSVC trong nhà trường. Yếu tố này được đánh giá là Ảnh hưởng nhiều với 3,07 điểm trung bình. Thiếu động lực sẽ tác động tiêu cực đến hiệu quả làm việc, tác động đến kết quả chung của công tác quản lý CSVC trong nhà trường.

Yếu tố Mức độ đầu tư vào giáo dục của địa phương chưa đủ. Hiện thị xã Dĩ An đang có rất nhiều hạng mục phải được đầu tư đồng bộ, chính vì thế nguồn kinh phí dành cho giáo dục còn hạn chế, mức độ đầu tư vào giáo dục chưa đủ, chưa đồng bộ. Một số trường, hạng mục trường đã được đầu tư xây dựng nhiều năm nên xuống cấp cũng chưa có nguồn kinh phí sửa chữa, xây mới hoặc thay thế. Điều này sẽ tác động đến sự đồng bộ và hiện đại của các trường trong đầu tư xây dựng và mua sắm CSVC trong nhà trường. Yếu tố này được đánh giá Ảnh hưởng rất nhiều với mức 3,39 điểm trung bình, xếp vị trí thứ 3.

Yếu tố Xã hội hóa giáo dục chưa hiệu quả. Ngày nay nguồn lực xã hội hóa là rất quan trọng trong thúc đẩy đầu tư CSVC của các trường nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Tuy nhiên các trường MNCL trên địa bàn chưa thực hiện xã hội hóa một cách hiệu quả, sự minh bạch công khai trong xã hội hóa cũng chưa được thực hiện một cách rõ ràng. Mặt khác điều kiện kinh tế của nhân dân ở địa phương còn nhiều khó khăn nên việc huy động các nguồn lực còn hạn chế. Điều này ảnh hưởng đến chất lượng công tác xã hội hóa tại các trường hiện nay. Yếu tố này được đánh giá Ảnh hưởng rất nhiều với 3,52 điểm trung bình, xếp vị trí thứ 2 trong 5 yếu tố được đưa ra. Luận văn: Thực trạng QL cơ sở vật chất các trường MN công lập.

Tuy nhiên, khi trao đổi với Cô HT2 cho biết: “Hiện nay, nguồn kinh phí để xây dựng, mua sắm CSVC rất hạn chế, nhà trường phải huy động kinh phí từ phía phụ huynh theo tinh thần xã hội hóa, nhưng vấn đề giải trình cho những nội dung mua sắm từ các nguồn xã hội hóa gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là vấn đề chứng từ, quyết toán, nên nhà trường cũng e dè khi thực hiện”.

Qua kết quả phỏng vấn CBQL và GV về các khó khăn lớn nhất trong công tác quản lý CSVC ở trường MNCL thì Công tác xã hội hóa trong xây dựng, trang bị CSVC chưa đạt được hiệu quả được đánh giá là một trong những khó khăn lớn. Và các đối tượng này đều cho rằng cần cần phải thúc đẩy công tác xã hội hóa trong xây dựng, trang bị CSVC và tăng cường tổ chức công tác bảo quản, bảo vệ, sửa chữa CSVC, thiết bị để tăng hiệu quả sử dụng.

Tóm lại, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng gây hạn chế đến công tác quản lý CSVC trong nhà trường bao gồm yếu tố chủ quan và khách quan. Với kết quả này có thể nhận biết được mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố, từ đó đưa ra những biện pháp nhằm hạn chế sự ảnh hưởng của các yếu tố này đến công tác quản lý CSVC tại các trường MNCL trên địa bàn thị xã trong thời gian tới.

Tiểu kết chương 2

Trong chương 2, tác giả đã đi tìm hiểu khái quát về các trường; đánh giá thực trạng cơ sở vật chất ở các trường mầm non công lập tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương thông qua việc thu thập dữ liệu thứ cấp và sơ cấp (khảo sát), từ đó đưa ra các nhận định về thực trạng quản lý CSVC của các trường. Qua khảo sát, tìm hiểu và phân tích số liệu từ các kết quả thu được từ 252 khách thể bao gồm CBQL, TTCM, GV ở các trường MNCL tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương bước đầu tác giả có thể kết luận về thực trạng quản lý CSVC ở các trường như sau:

Thứ nhất: Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học ở các trường MNCL tại thĩ xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương cơ bản đáp ứng được yêu cầu để tổ chức hoạt động dạy học và giáo dục. Tuy nhiên, thiết bị dạy học, đồ dùng, đồ chơi cho trẻ của các trường chủ yếu là thiết bị dạy học tối thiếu được đầu tư từ lâu, đã hư hỏng, hao hụt nhiều, các thiết bị phòng học bộ môn, thiết bị dạy học tiên tiến, hiện đại chưa được đầu tư nhiều. Luận văn: Thực trạng QL cơ sở vật chất các trường MN công lập.

Thứ hai: Nhận thức của CBQL, GV tại các trường MNCL tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương về quản lý xây dựng, trang bị, sử dụng và bảo quản CSVC tương đối đúng nhưng chưa thực sự đầy đủ. Tuy nhiên CBQL, GV tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương đều đánh giá cao tầm quan trọng của công tác quản lý xây dựng, trang bị, sử dụng và bảo quản CSVC phục vụ cho hoạt động dạy học ở các trường Mầm non, đây là điểm thuận lợi để giúp CBQL, GV thực hiện nội dung chăm sóc và giáo dục trẻ một cách hiệu quả.

Thứ ba: Nhìn chung CBQL, GV đánh giá thực trạng quản lý xây dựng, trang bị, sử dụng cơ sở vật chất ở mức độ thường xuyên. Tuy nhiên, nội dung lập kế hoạch xây dựng, mua sắm, trang bị, tiếp nhận trang thiết bị chưa được quan tâm một cách đúng mức. Vì vậy, CBQL, GV cần xây dựng kế hoạch, xác lập các danh mục đồ dùng, đồ chơi còn thiếu và hư hỏng một cách thường xuyên để đáp ứng được yêu cầu dạy và học là việc làm vô cùng cần thiết.

Thứ tư: Công tác quản lý xây dựng, trang bị, sử dụng, bảo quản cơ sở vật chất được CBQL, GV thực hiện chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, thiếu cơ sở khoa học. Vì vậy, vấn đề bồi dưỡng CBQL, GV năng lực quản lý CSVC, cung cấp tài liệu hướng dẫn là rất cần thiết.

Kết quả đánh giá thực trạng ở chương 2 cho thấy công tác quản lý CSVC trong các trường hiện đã được thực hiện ở các nội dung quản lý xây dựng, trang bị; quản lý sử dụng; và quản lý bảo quản cơ sở vật chất ở mức độ thường xuyên và kết quả ngày càng cao. Tuy nhiên một số hạn chế chưa được giải quyết ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện quản lý CSVC trong các trường thời gian qua, chương 2 cũng đã phân tích các nguyên nhân về thực trạng. Đây là cơ sở để đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý CSVC các trường MNCL trên địa bàn thị xã Dĩ An trong thời gian tới. Luận văn: Thực trạng QL cơ sở vật chất các trường MN công lập.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp QL cơ sở vật chất các trường MN công lập

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993