Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý dạy học theo định hướng phát triển năng lực hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường tiểu học của thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT
1, Tên đề tài: Quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường tiểu học thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
2. Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận và xác định thực trạng quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường tiểu học của thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, từ đó đề xuất biện pháp nâng cao chất lượng quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh đáp ứng yêu cầu thực tiễn hiện nay.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1 Phương pháp nghiên cứu luận: Phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa các lý thuyết về quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường tiểu học nhằm xây dựng cơ sở lý luận về quản lý hoạt động hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường tiểu học.
3.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp nghiên cứu bằng bảng hỏi
Mục đích: Sử dụng phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi nhằm khảo sát thực trạng quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường tiểu học của thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
Nội dung: khảo sát thực trạng hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường tiểu học của thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
Công cụ: phiếu khảo sát dùng cho các đối tượng là cán bộ quản lý (hiệu trưởng, phó hiệu trưởng) và giáo viên các trường Tiểu học của thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Phương pháp phỏng vấn Luận văn: Quản lý dạy học theo định hướng phát triển năng lực.
Mục đích phỏng vấn: Tìm hiểu về đối tượng nghiên cứu để làm minh chứng và bổ sung vào kết quả nghiên cứu thực trạng. Trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp nâng cao quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường tiểu học của thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
Nội dung phỏng vấn: đánh giá về thực trạng quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường tiểu học của thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
Công cụ: phiếu phỏng vấn chủ thể quản lý và giáo viên.
- Phương pháp chuyên gia
Mục đích: thu thập ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực quản lý giáo dục, đặc biệt là các chuyên gia trong lĩnh vực quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường tiểu học
Nội dung : trao đổi về mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, kiểm tra và đánh giá trong việc quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường tiểu học; trao đổi về cách thức quản lý hiện nay của các trường tiểu học.
3.3. Phương pháp thống kê toán học
Mục đích: xử lý thông tin, số liệu thu được từ các phương pháp nghiên cứu cụ thể. Sử dụng chương trình SPSS dùng trong môi trường Window để xử lý và phân tích thống kê nhằm đánh giá độ tin cậy của các kết quả thu được. Các thông số và phép toán thống kê được sử dụng trong nghiên cứu này là phân tích thống kê mô tả và phân tích thống kê suy luận.
4. Kết quả nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận khoa học về quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường tiểu học, khảo sát phân tích kết quả thực tế ở các trường tiểu học ở TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, đề tài đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh các trường trong giai đoạn hiện nay. Hệ thống các biện pháp đề xuất để có tính cần thiết và khả thi cao.
Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh mà đề tài đề xuất trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước đó, đồng thời xuất phát từ thực tiễn quản lý dạy và học theo định hướng phát triển năng lực học sinh các trường tiểu học ở TP. Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương sẽ mang lại những hiệu quả thực tiễn đối với việc nâng cao chất lượng dạy học của các trường. Các biện pháp có mối quan hệ chặt chẽ, biện chứng với nhau. Tuy nhiên các biện pháp này được sử dụng có hiệu quả khi biết vận dụng linh hoạt các biện pháp kết hợp với tình hình thực tế của đơn vị để cán bộ quản lý có thể tham khảo và lựa chọn những biện pháp phù hợp cho công tác quản lý của mình.
5. Kết luận chủ yếu của đề tài: Luận văn: Quản lý dạy học theo định hướng phát triển năng lực.
Mục tiêu, giải pháp và các bước đi trong Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2019-2028 đòi hỏi giáo dục nói chung, giáo dục tiểu học nói riêng phải xây dựng trong bối cảnh đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục. Việc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục có tác động đến hoạt động dạy học trong nhà trường. Công tác quản lý hoạt động dạy học của nhà quản lý các cấp cũng thay đổi tương ứng theo yêu cầu, đó là yếu tố quan trọng quyết định để nâng cao chất lượng giáo dục đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.
Nội dung quản lý hoạt động dạy học tiểu học theo định hướng phát triển năng lực học sinh trong bối cảnh đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục bao gồm:
Quản lý hoạt động dạy: Quản lý việc xây dựng và thực hiện kế hoạch DH; Quản lý đổi mới PPDH; Quản lý việc triển khai theo định hướng nâng cao năng lực học sinh vào trong hoạt động dạy của GV; Quản lý việc sử dụng và bồi dưỡng đội ngũ GV; Quản lý hoạt động kiểm tra – đánh giá GV
Quản lý hoạt động học: Quản lý triển khai theo định hướng nâng cao năng lực học sinh vào trong hoạt động học của HS; Quản lý việc hình thành kĩ năng tự học cho HS; Quản lý đổi mới đánh giá kết quả học tập của HS theo mục tiêu phát triển năng lực
Quản lý môi trường DH: Quản lý môi trường DH bên trong; Quản lý môi trường bên ngoài nhà trường.
Thực trạng Quản lý hoạt động DH của CBQL cấp Phòng và cấp trường ở các trường TH trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, cho thấy: Quản lý hoạt động DH của CBQL cấp Phòng và cấp trường ở các trường TH đã đạt được một số kết quả đáng phấn khởi như: chất lượng dạy và học trong nhà trường ổn định và có sự phát triển, CSVC phục vụ dạy và học được khai thác có hiệu quả và được nâng cao, nề nếp dạy và học được củng cố,…
Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đó còn những tồn tại như: việc thực hiện kế hoạch DH chưa được đánh giá đúng mức, chất lượng GD trong các trường; các bộ môn chưa đồng đều, chưa thực sự phát huy được tính tích cực của HS, chưa thực sự phát triển phẩm chất và năng lực HS; công tác bồi dưỡng GV chưa thực sự có hiệu quả,.. để đáp ứng mục tiêu đổi mới căn bản và toàn diện GD TH. Luận văn: Quản lý dạy học theo định hướng phát triển năng lực.
Công tác Quản lý dạy và học ở các trường TH có phần chưa phản ánh đúng thực chất kết quả GD – ĐT, chưa đáp ứng mục tiêu đổi mới căn bản và toàn diện GD TH, chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội mà trước hết là nhân dân thành phố Thủ Dầu Một. Để nâng cao chất lượng GD đáp ứng với yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện GD, tác giả đã đề xuất BP:
- Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho đội ngũ CBQL, GV và HS về hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS TH.
- Biện pháp 2: Đổi mới xây dựng kế hoạch hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS TH.
- Biện pháp 3: Tổ chức hoạt động bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho GV về dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS.
- Biện pháp 4: Chỉ đạo giáo viên bồi dưỡng PP học tập, tổ chức các hoạt động trải nghiệm cho HS.
- Biện pháp 5: Đổi mới kiểm tra, đánh giá HS theo định hướng phát triển năng lực.
- Biện pháp 6: Hoàn thiện cơ chế chính sách và các điều kiện hỗ trợ hoạt động giảng dạy, học tập theo hướng PTNL
Các BP đề xuất trên đây có mối quan hệ biện chứng, tác động, hỗ trợ nhau trong quá trình thực hiện. Mỗi BP giữ một vị trí trong quá trình thực hiện, chúng không tách rời nhau và chỉ thực sự phát huy hiệu quả cao nhất khi thực hiện đồng bộ. Song trong điều kiện cụ thể vẫn có thể sắp xếp theo thứ tự ưu tiên để thực hiện.
Kết quả thăm dò cho thấy, các BP đều được CBQL cấp Phòng, cấp trường và GV có kinh nghiệm thừa nhận là cấp thiết và xác nhận tính khả thi của các BP cũng luôn ở tỉ lệ cao ở tất cả các BP. Như vậy, các nhiệm vụ để đạt mục đích nghiên cứu đã được thực hiện và giả thuyết khoa học của đề tài đã được chứng minh. Các BP này có thể áp dụng đồng bộ ở các trường TH trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một nói riêng và các trường TH trong cả nước có đặc thù như thành phố Thủ Dầu Một nói chung.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục và đào tạo là một trong những lĩnh vực được toàn xã hội quan tâm, đóng một vai trò quan trọng và góp phần trực tiếp trong việc bồi dưỡng và đào tạo con người, đào tạo nhân tài, phát triển nguồn nhân lực cho đất nước. Ở giai đoạn nào giáo dục và đào tạo được quan tâm đúng đắn thì khi đó xã hội phát triển lành mạnh, bền vững. Để giúp học sinh phát triển toàn diện hình thành nhân cách con người trong một quốc gia phát triển theo định hướng XHCN như Việt Nam
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”. Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, cần có nhận thức đúng về bản chất của đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học và một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Luận văn: Quản lý dạy học theo định hướng phát triển năng lực.
Giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, có nhiệm vụ xây dựng và phát triển tình cảm , đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và thể chất của trẻ em, nhằm hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển toàn diện nhân cách con người Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa”.
Hoạt động dạy học tiểu học gồm một hệ thống các thành tố cấu trúc có mối quan hệ thống nhất, biện chứng với nhau. Đó là mục đích, nhiệm vụ dạy học, nội dung dạy học, phương pháp, phương tiện dạy học, hình thức tổ chức dạy học, giáo viên, học sinh và kết quả của dạy học. Dạy và học ở tiểu học là hai mặt hoạt động của một quá trình trong đó dưới vai trò chủ đạo của giáo viên, học sinh chủ động, tự giác, tích cực lĩnh hội tri thức, kĩ năng và tự làm phong phú vốn hiểu biết của mình. Do đó, trong quá trình học tập, học sinh phải không ngừng lĩnh hội những kiến thức do giáo viên cung cấp mà còn phải tự tìm ra tri thức mới, kỹ năng mới từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau. Vì vậy, dạy học phải hướng vào hoạt động tự nhận thức của học sinh, giáo viên là người tổ chức, hỗ trợ, người hướng dẫn hoạt động học tập của học sinh như T.Makiguchi-nhà giáo dục học Nhật Bản đã viết trong tác phẩm “Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo” nhấn mạnh “…Nhà giáo, trước hết không phải là người cung cấp thông tin mà là người hướng dẫn đắc lực cho học sinh tự mình học tập tích cực. Họ nên nhường quyền cung cấp tri thức cho sách vở, tài liệu và cuộc sống. Thay vào đó, họ phải đóng vai trò người hỗ trợ cho kinh nghiệm học tập của bản thân người học…”. [30]
Quản lý hoạt động dạy học là tác động có chủ đích, hợp quy luật của cán bộ quản lý giáo dục đến hoạt động dạy học do giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác thực hiện nhằm huy động tối đa mọi nguồn lực giáo dục của nhà trường, của cộng đồng và xã hội để đưa hoạt động dạy học đến mục tiêu phát triển toàn diện năng lực, phẩm chất người học. Quản lý hoạt động dạy học theo quan điểm giáo dục hiện đại đang chuyển từ tiếp cận nội dung sang tiếp cận phát triển năng lực.
Trong những năm qua, ở các trường tiểu học của thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đang đổi mới hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh, đây là nhiệm vụ cơ bản, quan trọng của các trường học, là tiêu chí để đánh giá chất lượng, hiệu quả giáo dục toàn diện. Vì vậy, việc đổi mới phương pháp dạy học đã được các cấp trong ngành giáo dục đề cập khá nhiều, các hội nghị, tập huấn, bồi dưỡng… dành cho cán bộ quản lý, đội ngũ giáo viên được mở ra và nhà trường, giáo viên đã triển khai thực hiện những phương pháp dạy học mới, bước đầu thu được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, tính hiệu quả, sự đồng bộ của đổi mới phương pháp dạy học như mong muốn vẫn còn hạn chế, khiêm tốn nhiều, những khó khăn, trở ngại, vướng mắc trong thực hiện vẫn còn đó, đầy thách thức. Giáo viên đã triển khai thực hiện những phương pháp dạy học mới, bước đầu thu được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, tính hiệu quả, sự đồng bộ của đổi mới phương pháp dạy học vẫn còn hạn chế. Bên cạnh các giáo viên tích cực ủng hộ và cố gắng tiếp thu những cái hay, cái mới có hiệu quả trong công tác giảng dạy thì còn một số giáo viên mang tâm lý “e ngại” cũng như chưa có thái độ tham gia tích cực vào việc đổi mới. Một số giáo viên, phương pháp dạy học truyền thống đã ăn sâu vào nghiệp vụ sư phạm nên rất khó để dứt bỏ.Vì vậy, quản lý hoạt động dạy học ở trường tiểu học sẽ quyết định việc nâng cao chất lượng, hiệu quả nhiệm vụ cung cấp tri thức, rèn luyện kỹ năng, bồi dưỡng nhân cách, phát triển năng lực toàn diện của học sinh.
Thực tiễn công tác quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh đã được các cấp trong ngành giáo dục đề cập khá nhiều, hàng loạt hội nghị, tập huấn, bồi dưỡng…dành cho cán bộ quản lý, đội ngũ giáo viên được mở ra. Tuy nhiên, việc quản lý hoạt động dạy của giáo viên, quản lý hoạt động học của học sinh, quản lý các điều kiện đảm bảo cho hoat động dạy học vẫn còn có nhiều bất cập về nội dung quản lý, chưa đáp ứng tốt yêu cầu đổi mới giáo dục, mục tiêu phát triển năng lực học sinh. Đó cũng chính là vấn đề mà các trường tiểu học ở thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đang giải quyết, nhằm phát huy những thành tựu đã đạt được, khắc phục những bất cập trong hoạt động quản lý giáo dục, góp phần thực hiện mục tiêu “nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”.
Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên tôi chọn nghiên cứu đề tài “Quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường tiểu học của thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương”.
2. Mục đích nghiên cứu Luận văn: Quản lý dạy học theo định hướng phát triển năng lực.
Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận và xác định thực trạng quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường tiểu học của thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, đề xuất biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực ở trường Tiểu học
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường tiểu học của thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
4. Giả thuyết khoa học
Hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh và quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường tiểu học thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đã đạt được một số kết quả nhất định, tuy nhiên công tác này còn hạn chế trong các nôi dung quản lí. Nếu hệ thống hóa cơ sở lý luận phù hợp, đánh giá đúng thực trạng, sẽ có cơ sở đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường tiểu học thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương có tính cầ thiết và khả thi, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục tiểu học hiện nay.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lí luận về quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường tiểu học. Luận văn: Quản lý dạy học theo định hướng phát triển năng lực.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường tiểu học thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường tiểu học thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
6. Phạm vi nghiên cứu
6.1. Giới hạn về nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường tiểu học thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương theo các nội dung quản lí hoạt động dạy học.
6.2. Giới hạn về đối tượng khảo sát
Đề tài khảo sát cán bộ quản lý (hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn), giáo viên ở trường tiểu học Lê Hồng Phong, Nguyễn Du, Hiệp Thành, Trần Phú, Phú Mỹ của thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
- Về thời gian thực hiện đề tài: từ năm 2025 đến năm
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1.Phương pháp luận
7.1.1. Quan điểm hệ thống – cấu trúc
Vận dụng quan điểm này vào đề tài nghiên cứu là tìm hiểu mối quan hệ chặt chẽ giữa công tác quản lí hoạt động giáo dục đạo đức học sinh với quản lí các hoạt động khác trong quản lý hoạt động sư phạm. Từ đó giúp tìm hiểu chính xác thực trạng quản lí hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh.
7.1.2. Quan điểm lịch sử – logic Luận văn: Quản lý dạy học theo định hướng phát triển năng lực.
Tìm hiểu sự hình thành và phát triển của đối tượng nghiên cứu, cụ thể là công tác quản lý hoạt dạy học theo định hướng phát triển học sinh ở các trường tiểu học với những ưu điểm cần phát huy và tồn tại cần khắc phục. Nghiên cứu xác định phạm vi không gian, thời gian và điều kiện hoàn cảnh cụ thể để điều tra thu thập số liệu chính xác, đúng với mục đích nghiên cứu đề tài, trình bày công trình nghiên cứu theo một trật tự logic.
7.1.3. Quan điểm thực tiễn
Qua khảo sát thực tế, phân tích để phát hiện những bất cập, tồn tại trong thực tiễn về công tác quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường tiểu và trên cơ sở thực tiễn đó, đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả quản lí hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục ở các trường tiểu học thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
7.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
7.2.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
Phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa các lý thuyết về quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường tiểu học nhằm xây dựng cơ sở lý luận về quản lý hoạt động hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường tiểu học
7.2.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Mục đích: Sử dụng phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi nhằm khảo sát thực trạng quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường tiểu học của thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Nội dung: khảo sát thực trạng hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường tiểu học của thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Công cụ: phiếu khảo sát dùng cho các đối tượng là cán bộ quản lý (hiệu trưởng, phó hiệu trưởng) và giáo viên các trường Tiểu học của thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
Phương pháp phỏng vấn Luận văn: Quản lý dạy học theo định hướng phát triển năng lực.
- Mục đích phỏng vấn: minh chứng và bổ sung vào kết quả nghiên cứu thực trạng, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp nâng cao quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường tiểu học của thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
- Nội dung phỏng vấn: đánh giá về thực trạng quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường tiểu học của thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Công cụ: phiếu phỏng vấn chủ thể quản lý và giáo viên.
Phương pháp chuyên gia
- Mục đích: thu thập ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực quản lý giáo dục, đặc biệt là các chuyên gia trong lĩnh vực quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường tiểu học
- Nội dung : trao đổi về mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, kiểm tra và đánh giá trong hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường tiểu học; trao đổi về cách thức quản lý hiện nay của các trường tiểu học.
7.3. Phương pháp thống kê toán học
Mục đích: xử lý thông tin, số liệu thu được từ các phương pháp nghiên cứu cụ thể. Sử dụng chương trình SPSS dùng trong môi trường Window để xử lý và phân tích thống kê nhằm đánh giá độ tin cậy của các kết quả thu được. Các thông số và phép toán thống kê được sử dụng trong nghiên cứu này là phân tích thống kê mô tả và phân tích thống kê suy luận.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục nghiên cứu, luận văn gồm có 03 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh tiểu học.
- Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh tiểu học ở thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh tiểu học ở thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
1.1.1. Trên thế giới:
Hoạt động dạy học đã hình thành trong lịch sử nhân loại từ rất sớm. Trong quá trình hình thành và phát triển của xã hội, để tồn tại và phát triển, con người luôn phải nhận thức thế giới xung quanh, học hỏi, tích lũy các kinh nghiệm và truyền đạt đến cho các thế hệ sau. Quá trình dạy học hình thành từ những hình thức đơn giản, sơ khai đến những phương thức dạy học hiện đại ngày nay. Từ một hiện tượng tự phát diễn ra đơn giản theo lối quan sát – bắt chước, dần dần dạy học trở thành một hoạt động có ý thức. Con người đã biết xác định mục đích, hoàn thiện nội dung và tìm ra các phương pháp để tổ chức quá trình này một cách hiệu quả [11]. Luận văn: Quản lý dạy học theo định hướng phát triển năng lực.
Từ thời cổ đại, hoạt động dạy học đã được nhiều nhà triết học đồng thời là nhà GD ở cả phương Tây và phương Đông đề cập đến. Trước công nguyên, Platon (427 – 347 TCN) đã khẳng định được vai trò tất yếu của giáo dục trong xã hội, tính quyết định của chính trị đối với giáo dục, phần nào nói lên tầm quan trọng của thể chế xã hội đối với giáo dục nói chung và hoạt động dạy học nói riêng. Khổng Tử (551 – 479 TCN) với quan điểm hoạt động dạy học là: “Dùng cách gợi mở, đi từ gần tới xa, từ đơn giản đến phức tạp, nhưng vẫn đòi hỏi người học phải tích cực suy nghĩ…, đòi hỏi học trò phải tập luyện, phải hình thành nề nếp, thói quen học tập” và “học không biết chán, dạy không biết mỏi”. Quan điểm của ông là đề cao các quy định về nề nếp hoạt động, sự rèn luyện thưởng xuyên, nâng cao trình độ của người dạy để lựa chọn được những PPDH theo hướng đề cao năng lực tự học, phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của người học. Các quan điểm và tư tưởng giáo dục của Khổng Tử đã có ảnh hưởng rất lớn và góp phần hình thành hệ thống giáo dục của nhiều nước phương Đông, đặc biệt là các nước châu Á [9].
Từ cuối thế kỷ XIV, vấn đề dạy học và quản lý dạy học đã được nhiều nhà giáo dục thật sự quan tâm. Ở các nước xã hội chủ nghĩa, những vấn đề chủ yếu trong các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin [6] đã định hướng cho hoạt động GD là các quy luật về “sự hình thành cá nhân con người”, về “tính quy luật của kinh tế – xã hội đối với GD…”. Các quy luật đặt ra những yêu cầu đối với GD và tính ưu việt của xã hội đối với việc tạo ra các phương tiện và điều kiện cần thiết cho GD. Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, nhiều nhà khoa học Xô Viết cũ đã có các thành tựu khoa học đáng trân trọng về QLGD và QL hoạt động dạy học. Cũng trong khoảng thời gian này, vấn đề tổ chức HĐDH được nghiên cứu rộng rãi ở Mỹ và các nước châu Âu. Các nhà nghiên cứu không chỉ quan tâm tới hệ thống chương trình hay cách giảng dạy HS, mà còn chú ý tới sự phụ thuộc của HĐDH vào các yếu tố, các điều kiện đảm bảo khác. Đến thế kỷ XVIII, cùng với sự phát triển của xã hội tư bản, nhiều nhà tư tưởng giáo dục đã đưa ra những lý luận, quan điểm tiến bộ và làm thay đổi nền giáo dục thế giới [11].
Jean-Jacques Rousseau (1712 – 1788), Pháp đã chỉ ra mục tiêu của giáo dục không phải là dạy cho trẻ kiến thức, mà dạy cho trẻ biết làm thế nào để có kiến thức. Rousseau muốn đứa trẻ phải tự học hỏi, phải tự sử dụng lý trí của mình chứ không phải sử dụng lý trí của người khác; ông không dạy đứa trẻ khoa học mà dạy nó tiếp thu khoa học theo nhu cầu [13]. Johann Heinrich Pestalozzi (1746 – 1872), nhà cải cách giáo dục Thụy Sỹ nổi tiếng với việc phát triển các PP giáo dục nhằm thúc đẩy khả năng của trẻ [15].
Cùng với sự phát triển của xã hội và hội nhập toàn cầu, nền giáo dục bắt buộc phải thay đổi để đáp ứng những yêu cầu thực tiễn và đa chiều hơn. Quan điểm giáo dục hiện đại, xuất hiện từ cuối thế kỷ XVIII, đưa ra phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm, có mục tiêu đào tạo, phát triển năng lực học sinh một cách toàn diện. Trong cuốn“A learning integrated assessment system, Educational Research Review, 2014 ” , Birenbaum và các cộng sự đã quan niệm năng lực của học sinh không chỉ là khả năng tái hiện kiến thức mà là khả năng sử dụng kiến thức, kĩ năng và thái độ một cách kết hợp để giải quyết các vấn đề trong bối cảnh cụ thể, đáp ứng được các yêu cầu của nhà trường và xã hội [1]
A.X.Makarenko (1888 – 1939), Ucraina khi nói về đào tạo những con người mới, theo ý ông, phải dùng những PP mới, tức là PP giáo dục cộng sản. Theo Makarenko, nhiệm vụ trọng đại của thầy giáo là xây dựng một tập thể vững mạnh và tự giác. Cái tập thể đó phải cùng thầy giáo và dưới sự chỉ đạo của thầy giáo tiến hành công tác giáo dục mọi người trong tập thể. Người thầy và tập thể phải chú ý đến cá tính muôn màu, muôn vẻ, chứ không chỉ đóng khung trong một PP chung chung, bất di bất dịch. Nghệ thuật của người thầy là kết hợp sự lãnh đạo của mình với sự tham gia ý kiến của tập thể HS. Muốn thế, người GV phải làm thế nào cho ý chí của mình thống nhất với ý chí của tập thể HS [18].
Định hướng thực hiện đào tạo người học theo nội dung các kỹ năng cần thiết để thực hiện công việc cũng xuất hiện từ cuối thập niên 60. Năm 1868, Victor Vos Della đã đề xuất phân tích nghề, tức là phân tích mỗi nghề thành các động tác cơ bản, xếp các động tác này theo trật tự từ dễ đến khó và xây dựng chương trình đào tạo theo cơ sở phân tích này, như vậy người học sẽ được đào tạo theo đúng quá trình thực hiện nghề, đảm bảo người học có thể thực hiện tốt công việ sau khi được đào tạo [11]
Năm 1968, Liên Bang Mỹ bắt đầu ứng dụng việc biên soạn chương trình và tài liệu bồi dưỡng GV theo NLTH. Bắc Mỹ chấp nhận và vận dụng việc đào tạo theo NLTH một cách phổ biến. Theo cách đào tạo này, khóa học không còn bị quy định bằng thời gian mà là lượng kiến thức, kỹ năng theo tiêu chuẩn chuyên môn đã được quy định (Standard of profession) cho một nghề làm đơn vị đo. Các năm cuối thập kỷ 1970, cách giáo dục đào tạo này được ứng dụng rộng rãi ở Mỹ và Canada, tuy nhiên đến thời điểm đầu những năm 1980, đào tạo theo hướng tiếp cận NLTH và chương trình đào tạo theo NLTH vẫn chưa được đưa ra định nghĩa và tiêu chí chính thức [11]. Luận văn: Quản lý dạy học theo định hướng phát triển năng lực.
Năm 1982, William E.Blank đã đề cập đến việc hệ thống lại các vấn đề phân tích nghề, xây dựng hồ sơ năng lực, phát triển công cụ đánh giá, phát triển các gọi học tập, chương trình đào tạo trong tài liệu Sổ tay phát triển chương trình đào tạo dựa trên NLTH- “Handbook for developing competence – based training programe”. Năm 1992, tác giả Shirley Fletcher phân tích các nguyên tắc và thực thành đánh giá theo tiêu chuẩn, việc thiết lập các tiêu chí trong thực hiện trong cuốn “Competence-based Assessment Techniques – Các kỹ thuật đánh giá dựa trên NLTH”. Ông tiếp tục phát triển, mở rộng nghiên cứu và tiếp tục đưa ra tài liệu “Designing Competence-based Training” – Thiết kế đào tạo dựa trên NLTH năm 1997, cuốn sách trình bày nội dung dựa vào cơ sở khoa học của việc thiết lập tiêu chuẩn đào tạo, các kỹ năng phân tích nhu cầu người học và phân tích công việc để xây dựng mô-đun dạy học và khung chương trình. Việc nghiên cứu về giáo dục và đào tạo dựa trên NLTH được mở rộng ở nhiều nước vào cuối các năm 1980. Ở Australia , các tác giả như Roger Harris, Hugh Guthrie, Bary Hobart, David Lundberg đã đưa ra nhiều kết quả nghiên cứu khá toàn diện, đặc biệt nhấn mạnh đến tiêu chuẩn NLTH, phát triển chương trình, đánh giá người học trong hệ thống đào tạo theo tiếp cận NLTH. Các kết quả này đã thúc đẩy, tạo ra cuộc cải cách giáo dục đào tạo nghề, thiết lập hệ thống đào tạo theo NLTH ở Australia [9]
Bắt đầu từ những năm 2000, các tác giả và nhà nghiên cứu đã đưa thực hiện các công trình nghiên cứu về các chương trình đào tạo, hệ thống đào tạo theo hướng tiếp cận NL và mở rộng đề tài nghiên cứu sang các ngành nghề trong xã hội. Ở Trung Quốc, năng lực thực hành sư phạm của giảng viên được đặc biệt quan tâm, Ủy ban giáo dục thành phố Bắc Kinh đã tiến hành hợp tác thực hiện các dự án chương trình phát triển NLTH cho giảng viên các cơ sở giáo dục và đào tạo nghề nhằm cải thiện việc giảng dạy ở bậc chuyên nghiệp từ năm 2015 đến năm 2018. Dự án được thực hiện ở tất cả các trường ở Bắc Kinh, với mục tiêu thông qua việc cải thiện NLTH ở GV để nâng cao chất lượng GD [11].
Các quan điểm về giáo dục và hoạt động giáo dục đều thể hiện các tư tưởng triết học và chính trị theo từng giai đoạn lịch sử. Trong một thời gian dài, quá trình dạy học diễn ra theo quan hệ một chiều, sự truyền đạt tri thức từ người dạy đến người học, người dạy truyền đạt và người học tiếp nhận. Với tư tưởng và phương pháp dạy học này, người học tiếp thu một cách bị động, khiến người học thiếu tính độc lập, sáng tạo và rập khuôn theo những gì được tiếp nhận. Hầu hết học sinh chỉ tiếp nhận các kiến thức dạng lý thuyết, không có khả năng áp dụng kiến thức vào thực tế cuộc sống để giải quyết vấn đề. Nhận thấy sự cần thiết và hiệu quả của việc dạy học theo NLTH, các nhà nghiên cứu đã đi sâu tìm hiểu và xây dựng hệ thống lý luận đào tạo tiếp cận NL theo nhiều góc độ và ứng dụng vào nhiều cấp học giáo dục, ngành nghề khác nhau. Với quan điểm giáo dục hiện đại, dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh và quản lý dạy học theo định hướng PTNL học sinh là yêu cầu bắt buộc để nâng cao chất lượng giáo dục, đảm bảo năng lực làm việc của người lao động sau khi được đào tạo.
1.1.2. Ở Việt Nam: Luận văn: Quản lý dạy học theo định hướng phát triển năng lực.
Bằng việc kế thừa những tinh hoa của các tư tưởng GD tiên tiến và việc vận dụng sáng tạo phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho GD Việt Nam nền tảng lý luận về: vai trò của giáo dục, định hướng phát triển giáo dục, mục đích dạy học, các nguyên lý dạy học, các phương thức dạy học, vai trò của quản lý và cán bộ quản lý GD, phương pháp lãnh đạo và quản lý… “Hệ thống các tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục có giá trị cao trong quá trình phát triển lý luận dạy học, lý luận GD của nền giáo dục cách mạng Việt Nam” [13].
Dưới tư tưởng và đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, các nhà khoa học nước ta hiện nay cũng có nhiều công trình nghiên cứu tìm hiểu về GD và quản lý GD. Trong đó, đề tài dạy học và QL dạy học tại các nhà trường phổ thông được nhiều tác giả đề cập đến dưới các góc độ khác nhau tiếp; các tác phẩm tiêu biểu như: “PP luận khoa học giáo dục” của Phạm Minh Hạc; “Khoa học Quản lý Giáo dục – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Trần Kiểm; “Vấn đề hoàn thiện PPDH” của Đặng Vũ Hoạt và Ngô Hiệu; “Các PPDH hướng vào người học ở phương Tây” của Đặng Thành Hưng; “Đổi mới PPDH ở tiểu học” của Nhà xuất bản Giáo dục [8], [10], [13], [34]
Các tác giả đã tìm hiểu, nghiên cứu về đào tạo dạy học theo định hướng PTNL từ nhiểu khía cạnh khác nhau đồng thời kết hợp với các đặc điểm thực tiễn của giáo dục Việt Nam để đưa ra những chương trình đào tạo phù hợp với các cấp học ở Việt Nam. Để hoạt động dạy học theo định hướng PTNL có hiệu quả, nhiều nhà nghiên cứu đã thực hiện các công trình nghiên cứu về vấn đề quản lý và quản lý hoạt động dạy học theo định hướng PTNL. Điển hình là các tài liệu: “Quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực theo ISO & TQM” của Trần Khánh Đức (2012); “Những xu thế quản lý hiện đại và việc vận dụng vào quản lý giáo dục” của Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2013); “Tiếp cận hiện đại trong quản lý giáo dục” của Trần Kiểm (2014); “Lý luận về quản lý” của Nguyễn Lộc (2018) … .Các tác giả đã nêu, phân tích và chọn lọc một số cách tiếp cận có thể vận dụng vào trong quản lý giáo dục hiện nay, nguyên tắc chung của công tác quản lý chuyên môn, và các biện pháp quản lý hoạt động dạy học [21], [31], [32]…
Đứng trước nhiệm vụ đổi mới giáo dục đào tạo nói chung và thực hiện dạy học theo định hướng PTNL nói riêng, nhiều nhà nghiên cứu đã đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện các vấn đề về vị trí, vai trò của việc tổ chức quá trình dạy học, ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng dạy học, những ưu và nhược điểm của các hình thức tổ chức dạy học hiện nay, bản chất của mối quan hệ giữa hoạt động dạy và hoạt động học, vai trò của người dạy và người học, việc đổi mới nội dung và phương pháp dạy học. Công tác QL HĐDH bao gồm rất nhiều nội dung công việc, nhưng có 2 nội dung chính mà nhà trường cần quan tâm thực hiện là QL hoạt động dạy của GV và QL hoạt động học của HS. Để nâng cao hiệu quản lý nhà trường, đặc biệt là quản lý hoạt động dạy học theo định hướng PTNL của học sinh các nhà quản lý phải nghiên cứu để tìm ra các giải pháp phù hợp với thực tế ở địa phương . Tuy nhiên, đây là một nội dung hết sức mới mà người lãnh đạo nhà trường vẫn còn gặp nhiều khó khăn, chưa rõ công tác quản lý của mình phải tác động vào những khâu chủ yếu nào và cách làm, cách giải quyết như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất [5]. Luận văn: Quản lý dạy học theo định hướng phát triển năng lực.
Với nghị quyết 29-NQ/TW được thông qua năm 2021 của Đảng [2], dạy học theo định hướng phát triển năng lực là vấn đề nhận được sự quan tâm đặc biệt của các cấp quản lý và của toàn xã hội. Thời gian qua, nhiều cuộc hội thảo về dạy học theo định hướng PTNL đã được tiến hành. Tháng 12/2022, hội thảo khoa học “Quản lý dạy học chuyển từ tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực:
“Vấn đề và giải pháp” được Học viên Quản lý giáo dục tổ chức tại Hà Nội đã có sự tham gia của nhiều nhà giáo, nhà khoa học, cán quản lý giáo dục, các nhà nghiên cứu và nhà quản lý giáo dục trên cả nước. Tháng 11/2023 đơn vị tổ Tâm lý học – Giáo dục học đã tổ chức Hội thảo với chủ đề “ Cách dạy – học theo hướng phát triển năng lực người học”…. và nhiều hội thảo khác cùng với nhiều bài viết khoa học tại các trường Sư phạm, Học viện…. Các tác giả đều chung nhận định, việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học được xem là chìa khóa để đổi mới giáo dục. Đồng thời, dạy học theo định hướng PTNL của HS đang là xu hướng chung của giáo dục thế giới, ngành GD Việt Nam cần đổi mới, cập nhật, cập nhật để đuổi kịp với GD thế giới [12].
Có thể thấy khá nhiều đề tài nghiên cứu đề cập đến biện pháp quản lý HĐDH ở các trường tiểu học nói riêng và các cấp học nói chung, ở những mức độ khác nhau, các loại hình trường học và ở trên địa bàn khác nhau. Các công trình nghiên cứu này thực sự có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn đối với hoạt động quản lý giáo dục tại địa phương, giúp cho giáo viên và cán bộ quản lý đang làm việc ở trường học tham khảo để vận dụng trong công tác QL, đồng thời cũng đóng góp những viên gạch xây dựng nền tảng hệ thống các biện pháp quản lý giáo dục trên cả nước. Mặc dù có nhiều nghiên cứu như vậy, nhưng chưa có những nghiên cứu cụ thể về vấn đề quản lý hoạt động dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường tiểu học thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
1.2. Một số khái niệm cơ bản: Luận văn: Quản lý dạy học theo định hướng phát triển năng lực.
1.2.1. Hoạt động dạy học:
Giáo dục được thực hiện bằng nhiều con đường khác nhau, một trong những con đường hiệu quả nhất là tổ chức hoạt động dạy học. Thông qua HĐDH, học sinh được tiếp cận hệ thống kiến thức khoa học, bồi dưỡng phương pháp tư duy sáng tạo và kĩ năng thực tiễn, nhằm nâng cao trình độ học vấn, hình thành lối sống, văn hóa.
Theo tác giả Thái Duy Tuyên: “Dạy học là một bộ phận của quá trình giáo dục (nghĩa rộng), là quá trình tác động qua lại giữa giáo viên và học sinh nhằm truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người (kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo…) để phát triển những năng lực và phẩm chất của người học theo mục đích giáo dục” [27].
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Dạy học là một chức năng xã hội, nhằm truyền đạt và lĩnh hội kiến thức, kinh nghiệm xã hội đã tích lũy được, nhằm biến kiến thức, kinh nghiệm thành phẩm chất và năng lực cá nhân” [22].
HĐDH là một hệ thống toàn vẹn bao gồm nhiều thành tố tham gia, các thành tố này tương tác với nhau để thực hiện nhiệm vụ HĐDH, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả HĐDH. Quá trình dạy học bao gồm các thành tố: Mục tiêu, Nội dung; Phương pháp; Phương tiện dạy học; Hình thức tổ chức dạy học; Giáo viên; Học sinh và Kết quả dạy học [28].
Như vậy, có thể hiểu: “Hoạt động dạy học là hoạt động dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của người giáo viên, người học tự giác tích cực, chủ động tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức – học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học” [28].
1.2.2. Hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh:
- Năng lực:
Theo Từ điển Giáo dục học (2001), “NL là khả năng được hình thành hoặc phát triển, cho phép một con người đạt thành công trong hoạt động thể lực, trí lực hoặc nghề nghiệp. NL được thể hiện bằng khả năng thi hành một hoạt động hoặc thực hiện một nhiệm vụ. NL được coi là khả năng của con người khi đối mặt với những vấn đề mới và những tình huống mới; gợi tìm lại được những thông tin và những kỹ thuật đã được sử dụng trong những thực nghiệm trước đây” [36]
Theo tác giả Vũ Dũng trong Từ điển Tâm lý học, “NL là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý các nhân, đóng vai trò là điều khiển bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định” [36]
Một cách khái quát, có thể hiểu năng lực là khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng, thái độ và hứng thú để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống.
- b) Năng lực của học sinh: Luận văn: Quản lý dạy học theo định hướng phát triển năng lực.
NL của HS là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ,… phù hợp với lứa tuổi và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra cho chính bản thân học sinh trong cuộc sống. Nhóm tác giả nghiên cứu biên soạn chương trình GD phổ thông sau 2023 đã tách các năng lực cần hình thành ở người học phổ thông thành 2 nhóm năng lực:
Các năng lực chung: Nhóm năng lực làm chủ và phát triển bản thân: Năng lực tự học; Năng lực giải quyết vấn đề; Năng lực sáng tạo; Năng lực tự QL. Nhóm năng lực về quan hệ xã hội: Năng lực giao tiếp; Năng lực hợp tác. Nhóm năng lực công cụ: Năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT); Năng lực sử dụng ngôn ngữ; Năng lực tính toán.
Các năng lực chuyên biệt: (chia thành 7 môn học/lĩnh vực học tập) (1) Tiếng Việt; (2) Tiếng nước ngoài; (3) Toán; (4) Khoa học Tự nhiên, công nghệ; (5) Khoa học xã hội và nhân văn; (6) Thể chất; (7) Nghệ thuật; ….
Như vậy, năng lực của học sinh là một cấu trúc động (trừu tượng), có tính mở, đa thành tố, đa tầng bậc, hàm chứa trong nó không chỉ là kiến thức, kĩ năng,…mà cả niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội,…thể hiện ở tính sẵn sàng hành động của HS trong môi trường sống thực tế.
- c) Hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh:
Giáo dục theo định hướng phát triển năng lực không chỉ giới hạn trong mục tiêu phát triển NL chuyên môn tri thức – kĩ năng chuyên môn, mà còn phát triển nhóm những năng lực khác của học sinh. Bốn loại năng lực thành phần của HS tiểu học: năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội và năng lực cá thể tương ứng với 4 trụ cột giáo dục mà UNESCO đề xuất ( Báo cáo “Learning: The Treasure Within”, Jacques Delors, 1996).
Theo định hướng PTNL, việc đánh giá kết quả học tập không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trung tâm của việc đánh giá, mà là khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau. Trong quá trình dạy và học, HĐDH vận dụng linh hoạt các PPDH tích cực, tổ chức các hình thức dạy học đa dạng phong phú giúp HS nắm vững nội dung tri thức và kỹ năng, chú trọng việc nhận xét, động viên, góp ý học sinh trong quá trình học tập. Kết quả học tập của học sinh được đánh giá dựa trên mục tiêu giáo dục và các mức năng lực đạt được như thế nào sau khi kết thúc một chương trình giáo dục.
Như vậy, HĐDH theo định hướng PTNL là kiểu dạy học lấy học sinh làm trung tâm, tiếp cận tập trung vào đầu ra của quá trình dạy học, tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên-học sinh theo hướng cộng tác, phát huy tính chủ động, tích cực, tự học, phát triển năng lực học sinh.
1.2.3. Quản lý trường tiểu học: Luận văn: Quản lý dạy học theo định hướng phát triển năng lực.
- Quản lý:
Theo quan niệm của Mác: “Quản lý là một chức năng tất yếu của lao động xã hội, nó gắn chặt với sự phân công và phối hợp”. “Bất cứ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân. Sự chỉ đạo đó phải là những chức năng chung, tức là những chức năng phát sinh từ sự khác nhau giữa sự vận động chung của cơ thể sản xuất với những vận động cá nhân của những khí quan độc lập hợp thành cơ thể sản xuất đó. Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng” [6].
Harold Koontz, Cyril Odonnell và Heinz Weihrich cho rằng: “Quản lý là hoạt động đảm bảo sự phối hợp giữa nỗ lực các cá nhân nhằm đảm bảo mục tiêu quản lý trong điều kiện chi phí thời gian, công sức, tài lực, vật lực ít nhất đạt được kết quả cao nhất” [10]
Các tác giả Mai Quang Huy, Đinh Thị Kim Thoa và Trần Anh Tuấn đưa ra khái niệm: “ Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức, làm cho tổ chức đó vận động trên cơ sở phát huy tốt nhất các tiềm lực vốn có và đảm bảo phát triển của tổ chức”[16]
Theo tác giả Phạm Minh Châu – Trần Thị Sinh thì “Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý (tập thể người lao động) nhằm thực hiện mục tiêu đề ra.[19]
Một cách khái quát, quản lý là sự tác động liên tục một cách hệ thống, có định hướng, mục đích của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý để tổ chức vận hành hiệu quả và đạt được các mục tiêu đã đề ra. Các hành động trong quá trình quản lý được chia thành 4 chức năng quản lý chính bao gồm: Kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá.
- b) Quản lý giáo dục:
Giáo dục là một hiện tượng xã hội, hình thành một cách tự phát trong lịch sự phát triển của con người, nhằm thực hiện truyền đạt những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của đời trước cho đời sau kế thừa và phát triển. Do đó quản lý giáo dục xuất phát từ quản lý xã hội là một tất yếu khách quan, nói cách khác, quản lý giáo dục cũng là một loại hình quản lý xã hội.
Các tác giả Mai Quang Huy, Đinh Thị Kim Thoa và Trần Anh Tuấn trong cuốn “Tổ chức và quản lý hoạt động giáo dục trong nhà trường” cho rằng: “Quản lý giáo dục là thực thi các chức năng tổ chức, quản lý trong lĩnh vực giáo dục nhằm đạt được các mục tiêu giáo dục. Đó là sự tác động chủ động, có ý thức của chủ thể quản lý nhằm phát huy tốt nhất các nguồn lực của hệ thống giáo dục/cơ sở giáo dục nhằm bảo đảm các hoạt động sư phạm đạt được các mục tiêu giáo dục với chất lượng, hiệu quả tối ưu”[19]. Luận văn: Quản lý dạy học theo định hướng phát triển năng lực.
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là quản lý trường học, thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục.” [22]
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Khóa VIII Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã viết: “Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng hiệu quả cao nhất.”[3]
Một cách khái quát, có thể hiểu quản lý giáo dục chính là quá trình tác động định hướng có chủ đích của nhà quản lý với các đối tượng bị quản lý nhằm đạt được những mục tiêu giáo dục đào tạo đã đề ra.
- c) Quản lý trường tiểu học:
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh.”[22]
Các tác giả Mai Quang Huy, Đinh Thị Kim Thoa và Trần Anh Tuấn cho rằng: “Quản lý nhà trường là hoạt động chuyên biệt của các chủ thể quản lý (các cơ quan quản lý giáo dục, người lãnh đạo nhà trường) nhằm tập hợp, tổ chức và phát huy tối đa sức mạnh các nguồn lực giáo dục trong và ngoài nhà trường, đảm bảo triển khai các hoạt động giáo dục – dạy học của nhà trường đạt được các mục tiêu phát triển với chất lượng, hiệu quả nhất.” [19]
Như vậy có thể hiểu quản lý trường tiểu học là quá trình tác động có kế hoạch, có mục đích, hợp quy luật của hiệu trưởng để nhà trường vận hành theo quan điểm của Đảng, đường lối của Nhà nước, thực hiện được mục tiêu giáo dục và tính chất sư phạm là hình thành phát triển năng lực, nhân cách của người học theo yêu cầu xã hội.
1.2.4. Quản lý hoạt động dạy học: Luận văn: Quản lý dạy học theo định hướng phát triển năng lực.
Quản lý hoạt động dạy học là quản lý việc chấp hành các quy định về hoạt động giảng dạy của giáo viên và hoạt động học tập của học sinh, đảm bảo cho hoạt động đó được tiến hành tự giác, có nền nếp ổn định, có chất lượng và hiệu quả cao. Quản lý HĐDH tức là quản lý các thành tố của quá trình dạy học, quản lý việc vận hành của quá trình một cách có kế hoạch, có tổ chức, có điều khiển, điều chỉnh nhằm đạt đến mục tiêu xác định. [28]
Một cách khác, quản lý hoạt động dạy học là tác động có chủ đích, hợp quy luật của cán bộ quản lý trường học đến hoạt động dạy học do đội ngũ giáo viên, học sinh và sự hỗ trợ của các lực lượng giáo dục khác… nhằm huy động tối đa mọi nguồn lực để đưa hoạt động dạy học đến mục tiêu phát triển toàn diện năng lực, phẩm chất, nhằm hoàn thiện nhân cách người học. [23]
1.2.5 Quản lý hoạt động dạy học định hướng phát triển năng lực học sinh:
Hoạt động dạy học định hướng phát triển năng lực học sinh tập trung vào việc mô tả năng lực đầu ra, có thể coi là „„sản phẩm cuối cùng‟‟ của quá trình dạy học. Việc quản lý chất lương dạy học chuyển từ việc “điều khiển đầu vào” sang “điều khiển đầu ra”, tức là kết quả học tập của học sinh. Hoạt động dạy học định hướng PTNL không quy định những nội dung dạy học chi tiết mà quy định những kết quả đầu ra mong muốn của quá trình đào tạo, trên cơ sở đó đưa ra những hướng dẫn chung về việc lựa chọn nội dung, phương pháp, tổ chức và đánh giá kết quả dạy học nhằm đảm bảo thực hiện được mục tiêu dạy học, tức là đạt được kết quả đầu ra mong muốn. [27]
Căn cứ vào các khái niệm trên, có thể khái quát quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh là quá trình tác động của chủ thể quản lý trường tiểu học (cán bộ quản lý) tới hoạt động dạy học nhằm phát triển năng lực người học – là năng lực người học biết vận dụng tri thức, kỹ năng, thái độ đã học vào giải quyết được các nhiệm vụ trong thực tiễn.
1.3. Hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường tiểu học: Luận văn: Quản lý dạy học theo định hướng phát triển năng lực.
1.3.1. Bản chất hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh tiểu học:
HĐDH ở trường tiểu học về bản chất là quá trình nhận thức độc đáo của học sinh tiểu học dưới vai trò tổ chức, điều khiển của giáo viên nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học tiểu học.Với quan điểm dạy học theo hướng PTNL cho HS, HS dưới vai trò chủ đạo của GV sẽ tự giác, tích cực, chủ động lĩnh hội tri thức, kĩ năng và tự làm phong phú vốn hiểu biết của mình. Đồng thời, trong quá trình học tập, các chân lý khoa học, khái niệm khoa học được HS tiếp nhận, lĩnh hội không phải một cách máy móc, sao chép y nguyên mà luôn biết sáng tạo, có óc phê phán, có phủ định, hoài nghi, có sự lật ngược vấn đề, đào sâu, mở rộng.
Hoạt động học của HS (người học) có vai trò chủ động, là hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức, học tập của mình nhằm thu nhận, xử lý và biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức của bản thân, qua đó người học thể hiện mình, biến đổi mình, tự làm phong phú những giá trị của mình.
Theo quan điểm dạy học theo định hướng PTNL cho HS, mọi HĐ DH đều lấy HS làm trung tâm, GV có vai trò tổ chức, đưa ra vấn đề và hướng dẫn để HS tự giải quyết vấn đề, thông qua đó, HS lĩnh hội được kiến thức mà GV muốn truyền đạt. Vì vậy, trong HĐDH theo định hướng PTNL cho HS, vai trò GV thể hiện:
- Định hướng, đề xuất vấn đề, gây cho học sinh ý thức nhiệm vụ học tập.
- Tổ chức, điều khiển học sinh lĩnh hội tri thức mới và củng cố tri thức.
- Tổ chức, điều khiển học sinh rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, kích thích tính tự giác, tích cực độ lập, sáng tạo trong học tập của học sinh.
- Tổ chức, điều khiển kiểm tra, đánh giá việc nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống của học sinh và tổ chức cho để HS tự kiểm tra, tự đánh giá.
- Phân tích kết quả từng giai đoạn, từng bước nhất định của quá trình dạy học, đánh giá, điều chỉnh và xác nhận kết quả học tập của học sinh.
Như vậy, bản chất hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh là một hoạt động tương tác có tổ chức và có định hướng của GV và HS nhằm giúp học sinh từng bước có năng lực tư duy và năng lực hành động với mục đích chiếm lĩnh các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các kỹ năng, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được để trên cơ sở đó có khả năng giải quyết được các bài toán/vấn đề thực tế đặt ra trong toàn bộ cuộc sống của mỗi học sinh.
1.3.2. Mục tiêu dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh tiểu học: Luận văn: Quản lý dạy học theo định hướng phát triển năng lực.
Mục tiêu dạy học theo định hướng PTNL cho học sinh tiểu học là phát triển tối đa, toàn diện năng lực của học sinh, nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học, tạo tiền đề vững chắc cho học sinh ở các cấp học sau cũng như trong cuộc sống tương lai. Mục tiêu dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh tiểu học gồm:
Về mặt kiến thức: HS nắm được hệ thống tri thức khoa học khách quan về nhiều lĩnh vực khác nhau làm cơ sở vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn, chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp.
Về mặt kĩ năng: rèn cho học sinh khả năng giải quyết vấn đề gắn với thực tiễn. HS sẽ hình thành các kỹ năng học tập cơ bản (Kĩ năng nhận thức học tập; Kĩ năng QL học tập; Kĩ năng giao tiếp học tập), làm nền tảng để tiếp thu, lĩnh hội với các kiến thức, kĩ năng khác được truyển đạt trong quá trình dạy học để xây dựng, phát triển các NL cần thiết.
Về thái độ: HS có thái độ học tập, làm việc đúng đắn, tự giác tích cực, có khát vọng học tập và cải thiện; có thể độc lập làm việc cá nhân nhưng đồng thời có khả năng làm việc cùng người khác trong tổ nhóm; tự tin, muốn hành động và sẵn sàng hành động,
1.3.3. Nội dung chương trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh tiểu học:
Nội dung chương trình dạy học theo định hướng PTNL học sinh tiểu học phải thực hiện đúng các quy định về chương trình và nội dung GD cấp học đã quy định trong Luật GD, đáp ứng yêu cầu GD toàn diện, phải đảm bảo phát triển hài hòa về đức, trí, thể, mỹ, các kĩ năng cơ bản, hình thành và phát triển cơ sở ban đầu về phẩm chất, kĩ năng cần thiết.
Theo Bộ GD&ĐT, nội dung chương trình giáo dục cấp tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự hình thành và phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần, phẩm chất và năng lực; định hướng chính vào giá trị gia đình, dòng tộc, quê hương, những thói quen cần thiết trong học tập và sinh hoạt; có được những kiến thức và kỹ năng cơ bản nhất để tiếp tục học trung học cơ sở. Nội dung chương trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh tiểu học yêu cầu:
Nội dung dạy học theo chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu phát triển năng lực HS tiểu học: Chuẩn kiến thức, kĩ năng được thể hiện, cụ thể hoá ở các chủ đề của chương trình môn học là cơ sở pháp lý cho công tác chỉ đạo, quản lý, dạy học, là mức độ cần đạt để GV thực hiện dạy học đảm bảo những yêu cầu cơ bản, tối thiểu của chương trình giáo dục cấp tiểu học; thực hiện dạy học phù hợp với các đối tượng, tạo cơ hội cho GV chủ động, linh hoạt trong dạy học, từng bước thực hiện chất lượng giáo dục và bình đẳng trong phát triển năng lực của mỗi HS. Luận văn: Quản lý dạy học theo định hướng phát triển năng lực.
Nội dung dạy học đảm bảo tính vừa sức chung và vừa sức riêng theo nhóm năng lực HS: dạy học vừa sức có nghĩa là trong dạy học phải tạo nên khó khăn vừa sức, những yêu cầu và nhiệm vụ học tập đề ra phải tương ứng với giới hạn cao nhất của vùng phát triển trí tuệ gần nhất. Dạy học vừa sức không có nghĩa là sức học sinh đến đâu thì dạy đến đó, mà bao giờ cũng đề ra những khó khăn mà dưới sự chỉ đạo của người giáo viên, người học bằng sự nỗ lực của mình cũng đều khắc phục được. Dạy học như vậy mới đảm bảo đi trước sự phát triển, thúc đẩy sự phát triển của học sinh. Qua đó đòi hỏi trong quá trình dạy học, khi lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phải không ngừng nâng cao mức độ khó khăn trong học tập, gây nên sự căng thẳng về trí lực, thể lực một cách cần thiết.
Nội dung dạy học thiết kế theo các hoạt động học tập để phát triển năng lực HS: Tổ chức dạy học nhằm giúp học sinh hình thành và phát triển năng, phẩm chất là quá trình tổ chức dạy học để phát huy năng lực cá nhân, tạo điều kiện cho học sinh được sáng tạo và tương trợ lẫn nhau trong học tập thì mỗi tiết học cần sự thay đổi và thay đổi cụ thể trong mỗi giáo viên. Một thay đổi cần làm cụ thể, thiết thực và quan trọng để dạy học hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực của cá nhân là lập kế hoạch, tổ chức một số tiết học.
Nội dung bài học khoa học, đảm bảo đủ nội dung và làm rõ trọng tâm: Khi soạn thiết kế bài dạy, giáo viên vẫn đảm bảo các nôi dung quy định theo chuẩn kiến thức kĩ năng yêu cầu của ngành, thiết kế sao cho vẫn đảm bảo nội dung trọng tâm mà vẫn phát triển tốt các năng lực cần đạt
Giảm nội dung lí thuyết, tăng nội dung thực hành, luyện tập: Một trong những định hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển từ nền giáo dục mang tính hàn lâm, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú trọng việc hình thành năng lực hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học. Định hướng quan trọng trong đổi mới PPDH nói chung và đổi mới PPDH ở Tiểu học nói riêng là phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực hành động, năng lực cộng tác làm việc của người học. Đó cũng là những xu hướng tất yếu trong cải cách PPDH ở mỗi nhà trường.
Tăng nội dung vận dụng kiến thức giải quyết các vấn đề thực tiễn phù hợp trình độ học sinh tiểu học: Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì qua việc học. Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất. Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên – học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập tích hợp liên môn nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp. Luận văn: Quản lý dạy học theo định hướng phát triển năng lực.
Thiết kế NDDH tích hợp giáo dục (bảo vệ môi trường, an toàn giao thông. ): Thiết kế bài dạy nhằm tăng cường tích hợp nhiều nội dung trong cùng một môn học, xây dựng một số môn học tích hợp mới ở các cấp học, tinh thần chung là tích hợp mạnh ở các lớp học dưới và phân hoá dần ở các lớp học trên; yêu cầu tích hợp được thể hiện cả trong mục tiêu, nội dung, phương pháp và thi, kiểm tra, đánh giá giáo dục.
Thiết kế nội dung dạy học liên môn: Xây dựng các chủ đề tích hợp liên môn. Cụ thể, xây dựng nội dung dạy học tích hợp liên môn bằng cách rà soát chương trình các môn học có liên quan với nhau trong chương trình giáo dục phổ thông hiện hành, tìm ra những kiến thức chung để xây dựng thành các chủ đề dạy học tích hợp liên môn.
Thiết kế nội dung dạy học phân hóa đối tượng học sinh: Dạy học phân hóa là xu thế dân chủ hóa nền giáo dục, xu thế của thời đại. Xu thế này nhằm đảm bảo cho đạt được những tầm cao văn hóa, phát huy hết năng lực của người học, tạo điều kiện thuận lợi để người học có thể khắc phục được những trở ngại trên bước đường học tập, tạo cơ hội cho mỗi người tiếp tục được học tập và phát triển không ngừng.
1.3.4. Hình thức, phương pháp, phương tiện dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh tiểu học: Luận văn: Quản lý dạy học theo định hướng phát triển năng lực.
- Hình thức dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh:
Dạy học cả lớp: là hình thức tổ chức dạy học (HTTCDH) mà đối tượng tiếp nhận kiến thức là toàn bộ học sinh trong lớp học. Theo HTTCDH này, hoạt động trong giờ học chủ yếu là GV, HS làm ít và tiếp nhận thông tin một cách thụ động.
Dạy học theo nhóm: Dạy học theo nhóm là hình thức tổ chức dạy học hợp tác, qua đó HS được tổ chức để chia sẻ những hiểu biết của mình và đối chiếu sự hiểu biết của mình với bạn học. HTTCDH này khai thác trí tuệ của tập thể HS, đồng thời HS được rèn luyện thông qua hoạt động tập thể. Dạy học theo nhóm là HTTCDH mới – một trong những hình thức thực hiện tốt nhất việc dạy học phát huy tính tích cực và tương tác của HS. Với hình thức này, HS được lôi cuốn vào các hoạt động học tập, tiếp thu kiến thức bằng chính khả năng của mình với sự tổ chức, hướng dẫn của GV.
Dạy học cá nhân: Dạy học cá nhân là hình thức GV dạy trực tiếp cho một cá nhân hoặc GV có thể sử dụng các tài liệu, phương tiện dạy học (phiếu học tập, sách bài tập, câu hỏi trắc nghiệm trên máy tính), giao việc cụ thể cho từng HS. GV cũng có thể yêu cầu từng em tự làm một số thí nghiệm, sưu tầm tranh ảnh, làm đồ dùng dạy học, điều tra… Sau đó, từng HS hoàn thành nhiệm vụ học tập được giao. Hình thức dạy học cá nhân cần được sử dụng vì có nhiều kiến thức HS đã tri giác được ở môi trường sống xung quanh. Tuy nhiên, các em chưa nhận thức đầy đủ và thường có những thắc mắc khác nhau về kiến thức này.
Dạy học trong môi trường thực tế: là hình thức tổ chức dạy học sinh động, tạo hứng thú học tập cho HS. Thông qua việc quan sát thiên nhiên, học sinh thêm yêu quý, có ý thức bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường sống. Các bài học ngoài thiên nhiên giúp cho HS quan sát trực tiếp các đối tượng học tập mà không có loại đồ dùng dạy học, hoặc lời miêu tả nào của GV có thể sánh được về mặt trực quan, từ đó hình thành cho các em biểu tượng cụ thể, sinh động về thế giới TN – XH xung quanh.
Tổ chức ngoại khóa, tham quan: Tham quan là một hình thức tổ chức dạy học ngoài trời giúp cho HS tìm hiểu những sự vật và hiện tượng có liên quan đến bài học trong chương trình. Các buổi tham quan giúp cho HS thấy được sự vật, hiện tượng trong môi trường TN- XH phức tạp, đa dạng và phong phú hơn nhiều so với những điều đã học được trên lớp, từ đó mở rộng tầm nhìn, vốn hiểu biết của HS, gây hứng thú học tập.
Phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh: Với các đặc thù và ý nghĩa đặc biệt của cấp học đầu tiên, đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện để đưa ra các PP dạy học phù hợp cho học sinh tiểu học. Nhằm mục tiêu phát triển năng lực thực hiện của HS, các nhà giáo dục học đã đưa ra các PPDH theo hướng tiếp cận NLTH cho HS tiểu học phù hợp và hiệu quả. Các PPDH này đều có các ưu điểm và hạn chế riêng, để sử dụng có hiệu quả, giáo viên còn có sự lựa chọn và kết hợp linh hoạt các PPDH phù hợp với nội dung bài giảng và PP học của học sinh. Một số PPDH tích cực như sau:
- Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề: Luận văn: Quản lý dạy học theo định hướng phát triển năng lực.
“Nêu và giải quyết vấn đề, đặt và giải quyết vấn đề, giải quyết vấn đề, phát hiện và giải quyết vấn đề… là những thuật ngữ được dùng trong lý luận dạy học các môn học nhau. Tuy thuật ngữ có khác nhau đôi chút nhưng đặc điểm chung của PP này là đặt và giải quyết được vấn đề và kết luận vấn đề để rút ra kiến thức cần lĩnh hội hoặc áp dụng kiến thức và thực tiễn”. Điều kiện để thực hiện có hiệu quả: HS phải nêu được điều chưa biết cần tìm hiểu, chỉ ra mối quan hệ giữa cái chưa biết và đã biết. Các tình huống có vấn đề phải kích thích hứng thú nhận thức, tính tò mò, ham hiểu biết, thích khám phá của HS. Các tình huống có vấn đề phù hợp trình độ nhận thức HS.
Ưu điểm: Kích thích khả năng ham hiểu biết, tính tò mò, khám phá của học sinh; giúp HS thể hiện cái “tôi” của mình. Hạn chế: không thu hút hết tất cả HS tham gia vào hoạt động học tập. [11]
- Phương pháp thảo luận nhóm:
Trong dạy học hợp tác, giáo viên tổ chức cho học sinh hoạt động trong những nhóm nhỏ để học sinh cùng thực hiện một nhiệm vụ nhất định trong một thời gian nhất định. Trong nhóm, dưới sự chỉ đạo của nhóm trưởng học sinh kết hợp giữa làm việc cá nhân, làm việc theo cặp, chia sẻ kinh nghiệm và hợp tác cùng nhau để giải quyết nhiệm vụ được giao. Điều kiện để thực hiện có hiệu quả: phòng học có đủ không gian; bàn ghế dễ di chuyển; nhiệm vụ học tập đủ khó để thực hiện dạy học nhóm; GV cần hiểu rõ bản chất của PP này tránh hình thức, hời hợt; cần tạo co HS thói quen học tập, hợp tác, hình thành các kĩ năng điều khiển, tổ chức và các kĩ năng xã hội; thời gian đủ để HS làm việc nhóm và trình bày kết quả [11]
Ưu điểm: Có sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành viên; thể hiện được trách nhiệm của cá nhân; HS rèn luyện được kĩ năng lắng nghe, thuyết phục, ra quyết định,… Hạn chế: thời gian của một tiết học ngắn (35 phút – 40 phút), HS ở lớp 1; 2; 3 chưa biết phân công nhiệm vụ, một số HS chậm ỷ lại vào các bạn giỏi, sĩ số lớp học đông (thường trên 35 HS);…[11]
- Phương pháp sắm vai:
Phương pháp sắm vai là PP tổ chức cho HS thực hành, “làm thử” một số cách ứng xử trong một vài tình huống giả định. Đây là phương pháp nhằm giúp HS suy nghĩ sâu sắc vấn đề bằng cách tập trung vào một sự việc cụ thể mà các em vừa thực hiện được hoặc quan sát được. Điều kiện để thực hiện có hiệu quả: tình huống đóng vai phải phù hợp chủ đề bài học, không vượt quá kinh nghiệm thực tế của HS; tình huống cần để mở, có nhiều cách giải quyết để HS tự tìm ra cách ứng xử phù hợp, không đưa trước lời thoại, kịch bản; GV phải dành thời gian phù hợp cho học sinh xây dựng kịch bản, chuẩn bị đóng vai; các vai diễn nên để HS tự phân công; khích lệ HS nhút nhát tham gia; nên có đạo cụ hóa trang để tăng tính hấp dẫn.
Ưu điểm: HS thể hiện được vốn sống, kinh nghiệm bản thân qua cách xử lý tình huống; khả năng giao tiếp của HS được tăng cường. Hạn chế: trong thời gian ngắn của 1 tiết học chỉ 1 đến 2 nhóm HS được thể hiện trước lớp. GV ít khi chuẩn bị được những đạo cụ phù hợp. [11] Luận văn: Quản lý dạy học theo định hướng phát triển năng lực.
- Phương pháp đàm thoại:
Phương pháp vấn đáp chủ yếu phụ thuộc vào việc đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi, GV đặt ra những câu hỏi để HS trả lời hoặc có thể tranh luận với nhau về cùng một vấn đề, qua đó, HS lĩnh hội được nội dung bài học. Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức có 3 hình thức vấn đáp là vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải thích và vấn đáp gợi mở. Điều kiện để thực hiện có hiệu quả là: GV cần chuẩn bị tốt hệ thống câu hỏi. Các câu hỏi có sự liên kết với nhau, câu hỏi trước làm tiền đề cho câu hỏi sau, câu hỏi sau là sự kế tục và phát triển kết quả của câu hỏi trước. Mỗi câu hỏi là một cái “nút” của từng bộ phận mà HS cần tháo gỡ thì mới tìm được kết quả cuối cùng. Để tăng thêm hiệu quả của phương pháp nay, GV cần tổ chức đối thoại theo nhiều chiều: GV hỏi HS, HS hỏi HS, HS hỏi GV.
Ưu điểm: HS có cơ hội thể hiện ý kiến cá nhân, năng lực cá nhân, khả năng giao tiếp. Hạn chế: chỉ một vài HS tích cực tham gia trả lời. [11]
- Phương pháp trò chơi học tập:
Phương pháp trò chơi là PP tổ chức cho HS tìm hiểu một vấn đề hay luyện tập, thực hành những thao tác, kĩ năng, hành vi thông qua một trò chơi cụ thể. Điều kiện để thực hiện có hiệu quả: trò chơi phải dễ tổ chức và thực hiện, phù hợp với chủ đề bài học, phục vụ cho mục đích học tập; HS nắm được qui tắc trò chơi và tôn trọng luật chơi; GV phải qui định rõ thời gian, địa điểm chơi; phát huy được tính tích cực, chủ động của HS; trò chơi phải được luân phiên, tránh gây nhàm chán cho HS.
Ưu điểm: phù hợp tâm lý học sinh tiểu học, tạo được không khí sôi nổi, hứng thú của HS. Hạn chế: nếu giáo viên thiếu kĩ năng quản lớp sẽ gây mất trật tự trong giờ học, không thực hiện được nhiệm vụ đề ra qua trò chơi. [11]
- Phương pháp “bàn tay nặn bột”:
Phương pháp bàn tay nặn bột (Tiếng Pháp là La main à la pate, “LAMAP”; tiếng Anh là Hand-on), là phương pháp dạy học khoa học dựa trên cơ sở của sự tìm tòi, nghiên cứu, áp dụng cho việc dạy học các môn khoa học tự nhiên. Phương pháp này được khởi xướng bởi Giáo sư Georges Charpak (giải Nobel Vật lý năm 1992) từ năm 1995. Phương pháp này được áp dụng ở Tiểu học trong vài năm gần đây. Chủ yếu được sử dụng ở môn Tự nhiên xã hội lớp 1; 2; 3 và Khoa học lớp 4; 5. Điều kiện thực hiện có hiệu quả: GV phải nắm vững quy trình tổ chức của phương pháp; chuẩn bị đủ vật dụng, dụng cụ phục vụ cho thí nghiệm; GV có kiến thức sâu rộng về vấn đề cần tìm hiểu; có đủ thời gian cho từng nhóm HS trình bày dự đoán và kết quả sau thí nghiệm kiểm chứng. Luận văn: Quản lý dạy học theo định hướng phát triển năng lực.
Ưu điểm: phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; qua thực nghiệm, thí nghiệm HS tự phát hiện ra kiến thức mới sẽ ghi nhớ lâu hơn; dễ vận dụng vào thực tế cuộc sống hơn. Hạn chế: ở các trường tiểu học chưa có phòng thí nghiệm riêng biệt; nhiều trường trang bị vật dụng, dụng cụ thí nghiệm chưa đầy đủ; mất nhiều thời gian để học sinh trình bày. [11]
- Phương pháp học theo dự án:
Học theo dự án (Project Work) là hoạt động học tập nhằm tào cơ hội cho học sinh tổng hợp kiến thức từ nhiều lĩnh vực học tập và áp dụng một cách sáng tạo vào thực tế cuộc sống [11]. Điều kiện thực hiện có hiệu quả: Xác định rõ mục tiêu học tập của HS, HS đạt được gì về kiến thức, kĩ năng, thái độ. Tập trung vào tư duy bậc cao, không chỉ là những kĩ năng đọc sách hay sử dụng công nghệ thông tin… Nội dung/chủ đề gắn với thực tiễn hoặc với những vấn đề đang diễn ra trong cuộc sống xung quanh, mang tính thời sự, tính xã hội liên quan đến nội dung bài học. Ví dụ: khủng hoảng năng lượng, ô nhiễm môi trường, thiên tai, bệnh tật, an toàn thực phẩm [11]].
Ưu điểm: Khi áp dụng dạy học theo dự án, ta có thể thấy có những ưu điểm nổi bật sau: Gắn lý thuyết với thực tiễn; kích thích động cơ, hứng thú học tập cho người học; phát huy tính tự lực, tính trách nhiệm, sáng tạo; phát triển năng lực cộng tác làm việc và kĩ năng giao tiếp; rèn luyện tính bề bỉ, kiên nhẫn; phát triển năng lực đánh giá [11]. Hạn chế: Học theo dự án đòi hỏi có thời gian để HS nghiên cứu, tìm hiểu; đòi hỏi phương tiên vậ chất phù hợp; yêu câu GV phải có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm, tích cực, yêu nghề [11].
- Phương pháp thực hành, trải nghiệm:
Trải nghiệm là quá trình nhận thức, khám phá đối tượng bằng việc tương tác với đối tượng thông qua các thao tác vật chất bên ngoài (nhìn, sờ, nếm, ngửi…) và các quá trình tâm lý bên trong (chú ý, ghi nhớ, tư duy, tưởng tượng). Thông qua đó,chủ thể có thể học hỏi, tìm tòi, sáng tạo, tiếp thu, tích lũy được những kinh nghiệm cho bản thân và hoàn thiện các kĩ năng trong cuộc sống. Học tập trải nghiệm là quá trình liên tục bắt nguồn từ kinh nghiệm để tạo ra tri thức. Có nghĩa là nguồn gốc những kiến thức mà học sinh có được xuất phát từ thực hành chứ không phải là một lý thuyết. Từ những kinh nghiệm đã có đó, kết hợp với những gì mà học sinh cảm nhận được bằng các giác quan để xây dựng, một kiến thức mới hoặc mở rộng kiến thức của bản thân.[11]
Ưu điểm: Phương pháp khiến người học sử dụng tổng hợp các giác quan (nghe, nhìn, chạm, ngửi…) có thể tăng khả năng lưu giữ những điều đã học được lâu hơn. Các cách thức dạy và học đa dạng của phương pháp có thể tối đa hóa khả năng sáng tạo, tính năng động và thích ứng của người học. Người học được trải qua quá trình khám phá kiến thức và tìm giải pháp từ đó giúp phát triển năng lực cá nhân và tăng cường sự tự tin. Việc học trở nên thú vị hơn với người học và việc dạy trở nên thú vị hơn với người dạy. Khi học sinh được chủ động tham gia tích cực vào quá trình học, các em sẽ có hứng thú và chú ý hơn đến những điều học được và ít gặp vấn đề về tuân thủ kỷ luật. Học sinh có thể học các kỹ năng sống mà được sử dụng lặp đi lặp lại qua các bài tập, hoạt động, từ đó tăng cường khả năng ứng dụng các kỹ năng đó vào thực tế.[11]
Hạn chế: Phương pháp, với đặc điểm chú ý đến trải nghiệm của từng người học, có thể trông không được quy củ và có thể không thoải mái với những người dạy có phong cách mô phạm truyền thống. Phương pháp đòi hỏi nhiều sự chuẩn bị hơn từ người dạy và có thể cần nhiều thời gian hơn để thực hiện với người học. Thường là không có câu trả lời đơn thuần “đúng” cho các câu hỏi trong các bước thực hiện của phương pháp.[11]
Trên thực tế, không có PP nào là PP hoàn toàn thụ động hay hoàn toàn tích cực, cũng như không có PP nào là tối ưu. Vận dụng PPDH theo năng lực không có nghĩa là gạt bỏ các phương pháp truyền thống, mà vấn đề là giáo viên bản lĩnh nghề nghiệp, phối hợp khéo léo các PP, kĩ thuật dạy học nhằm phát huy tính tích cực và sáng tạo của HS, giúp các em dùng kiến thức và kĩ năng tiếp thu được để giải quyết thành công một vấn đề nào đó trong cuộc sống. Điều đó đòi hỏi GV phải có năng lực chuyên môn, nang động, sáng tạo trong việc vận dụng linh hoạt các PPDH một cách phù hợp, có hiệu quả. Tuy nhiên, cho dù lựa chọn PPDH nào thì vẫn cần phải tạo điều kiện cho người học được khám phá, chủ động sáng tạo trong việc tìm kiếm kiến thức, giải quyết vấn đề, gắn kiến thức với thực tiễn [11]. Luận văn: Quản lý dạy học theo định hướng phát triển năng lực.
- c) Phương tiện dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh:
Việc tổ chức sử dụng thiết bị, phương tiện dạy học đảm bảo hoạt động dạy học theo hướng tích hợp góp phần quan trọng để thực hiện có hiệu quả hoạt động dạy học theo hướng tích hợp, đáp ứng được yêu cầu tổ chức các hoạt động học tập tích cực của học sinh trong giờ lên lớp. Các phương tiện dạy học bao gồm: Sử dụng máy tính, máy chiếu; Sử dụng máy quay phim, chụp ảnh; Sử dụng đồ dùng dạy học tự làm; Sử dụng đồ dùng thực tế trong đời sống; Sử dụng Internet; Sử dụng phim tư liệu; Sử dụng sách giáo khoa; Sử dụng tài liệu tham khảo; Sử dụng báo chí, tạp chí; Các phương tiện khác.
1.3.5. Đánh giá hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh tiểu học
Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập thông tin, phân tích và xử lý thông tin, giải thích thực trạng việc đạt mục tiêu GD, tìm hiểu nguyên nhân, ra những quyết định sư phạm, phương pháp học tập phù hợp giúp HS học tập ngày càng tiến bộ. Sự đánh giá phải hướng tới sự phát triển phẩm chất và NL của HS thông qua mức độ đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ và các biểu hiện năng lực của HS dựa trên mục tiêu giáo dục tiểu học. Thông tư 22/ BGD-ĐT quy định về đánh giá học sinh Tiểu học gồm:
Mục đích đánh giá học sinh tiểu học là: Giúp giáo viên điều chỉnh, đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động dạy học, hoạt động trải nghiệm ngay trong quá trình và kết thúc mỗi giai đoạn dạy học, giáo dục; kịp thời phát hiện những cố gắng, tiến bộ của học sinh để động viên, khích lệ và phát hiện những khó khăn chưa thể tự vượt qua của học sinh để hướng dẫn. Giúp cha mẹ học sinh hoặc người giám hộ (sau đây gọi chung là cha mẹ học sinh) tham gia đánh giá quá trình và kết quả học tập, rèn luyện, quá trình hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của con em mình; tích cực hợp tác với nhà trường trong các hoạt động giáo dục học sinh. Giúp cán bộ quản lí giáo dục các cấp kịp thời chỉ đạo các hoạt động giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp đánh giá nhằm đạt hiệu quả giáo dục.
Yêu cầu đánh giá học sinh tiểu học là: Căn cứ vào chuẩn kiến thức và kĩ năng của từng môn học ở từng lớp; yêu cầu cơ bản cần đạt về kiến thức, kỹ năng, thái độ của học sinh sau mỗi lớp, mỗi giai đoạn, mỗi cấp học. Phối hợp đánh giá thường xuyên và đánh giá định kỳ, giữa đánh giá của giáo viên và tự đánh giá của học sinh, giữa đánh giá của nhà trường và đánh giá của gia đình, cộng đồng. Xây dựng công cụ đánh giá thích hợp nhằm đánh giá toàn diện, công bằng, trung thực, có khả năng phân loại tích cực, giúp học sinh sửa chữa thiếu sót kịp thời.
Nội dung của đánh giá học sinh tiểu học: đánh giá các hoạt động trên lớp; đánh giá qua hồ sơ học tập, vở học tập; đánh giá qua các kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập; kết hợp đánh giá trong quá trình dạy học, GD và đánh giá tổng kết cuối kỳ, cuối năm học. Kết hợp đánh giá của GV với tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của HS, đánh giá của cha mẹ HS và cộng đồng. Coi trọng đánh giá sự tiến bộ của mỗi HS: coi trọng việc động viên, khuyến khích sự hứng thú, tính tích cực và vượt khó trong học tập, rèn luyện của HS; Đánh giá kết quả học tập đối với các môn học là biện pháp chủ yếu nhằm xác định mức độ thực hiện mục tiêu dạy học, có vai trò quan trọng trong việc cải thiện kết quả học tập của HS tiểu học.
Các hình thức kiểm tra đánh giá: Đánh giá thường xuyên: về học tập, đánh giá thường xuyên về năng lực, phẩm chất. Đánh giá định kì: Đánh giá định kì về học tập; đánh giá định kì về năng lực, phẩm chất.
1.4. Quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường tiểu học: Luận văn: Quản lý dạy học theo định hướng phát triển năng lực.
1.4.1. Phân cấp quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường tiểu học:
Để công tác dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường tiểu học có hiệu quả ngoài việc giảng dạy của GV, chỉ đạo của tổ chuyên môn thì công tác quản lý các hoạt động này cũng là vấn đề cấp thiết trong quá trình GD của nhà trường. Công tác quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường không phải của riêng Ban giám hiệu nhà trường hay của một bộ phận nào mà cần có sự chung tay góp sức của cả cả nhà trường thì mới mang lại những kết quả mong muốn.
- Ban giám hiệu: trực tiếp chỉ đạo mọi hoạt động xuống tổ chuyên môn thông qua các tổ trưởng chuyên môn.
- Nhiệm vụ của tổ chuyên môn: Xây dựng kế hoạch hoạt động chung của tổ theo tuần, tháng, năm học nhằm thực hiện chương trình, kế hoạch dạy học và hoạt động giáo dục; Thực hiện bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, kiểm tra, đánh giá chất lượng, hiệu quả giảng dạy, giáo dục và quản lý sử dụng sách, thiết bị của các thành viên trong tổ theo kế hoạch của nhà trường; Tham gia đánh giá, xếp loại giáo viên theo quy định Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học và giới thiệu tổ trưởng, tổ phó. Tổ chuyên môn sinh hoạt định kì hai tuần một lần và các sinh hoạt khác khi có nhu cầu công việc.
Như vậy công tác phân cấp quản lý nhằm mục đích phối hợp trong việc tham mưu, đề xuất với Ban giám hiệu cơ chế, giải pháp nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh. Cung cấp, trao đổi thông tin phục vụ công tác quản lý các hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh của nhà trường. Phối hợp thực hiện các hoạt động, kế hoạch, định hướng đúng chủ trương, đường lối phát triển nhà trường. Các biện pháp, giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo, công tác chuyên môn liên quan đến dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh của nhà trường;
Phát hiện những bất cập trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, chức năng, kịp thời phản ánh, tham mưu cho Ban giám hiệu sửa đổi, bổ sung.
1.4.2. Quản lý kế hoạch, chương trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh tiểu học Luận văn: Quản lý dạy học theo định hướng phát triển năng lực.
Kế hoạch dạy học là văn bản quy định thành phần các môn học trong nhà trường, trình tự dạy học các môn trong từng năm, từng lớp, số giờ dành cho từng môn học trong cả năm, trong từng tuần, cấu trúc và thời gian của năm học. Trên cơ sở được giao quyền chủ động trong việc xây dựng và thực hiện kế hoạch dạy học định hướng PTNL HS, CBQL nắm vững kế hoạch, chương trình dạy học các môn học, chủ động triển khai công tác quản lý việc xây dựng kế hoạch dạy học trong nhà trường phù hợp với điều kiện thực tế của đơn vị, địa phương và khả năng học tập của HS, sắp xếp thời gian luyện tập, ôn tập, thí nghiệm, thực hành, tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo và kiểm tra định kỳ.
Việc quản lý chương trình dạy học của GV là việc quản lý dạy đúng và đủ chương trình theo quy định. Muốn vậy CBQL phải yêu cầu GV lập kế hoạch giảng dạy bộ môn, đảm bảo thời gian quy định cho chương trình, thường xuyên theo dõi chương trình hàng tuần, hàng tháng. CBQL nhà trường xây dựng kế hoạch dạy học của Trường, chỉ đạo TCM xây dựng kế hoạch năm học. Kế hoạch của TCM được xây dựng dựa trên kế hoạch của trường, đi sâu vào việc đổi mới phương pháp DH, sinh hoạt nhóm chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học, hội thảo chuyên đề, ôn thi HS giỏi, phụ đạo HS yếu và ôn thi THPT quốc gia, thống nhất cách soạn giáo án của từng nhóm chuyên môn. HT duyệt kế hoạch của TCM.
CBQL phổ biến kế hoạch, chương trình, văn bản chỉ đạo chuyên môn của Bộ, Sở GDĐT, nhà trường đến GV, tổ chức xây dựng kế hoạch chuyên môn nhà trường trong năm học. Kế hoạch phải dựa trên chỉ thị của Bộ GD&ĐT, quyết định của UBND tỉnh về khung thời gian năm học, hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ của Sở GD&ĐT, đặc điểm nhà trường. Kế hoạch nêu rõ thời gian DH, nhiệm vụ trọng tâm, nhiệm vụ cụ thể, chỉ tiêu phấn đấu, công việc từng tháng, từng tuần; phân công người phụ trách từng công việc. CBQL cần huy động sự tham gia của tập thể HĐSP để đảm bảo dân chủ, tạo sự đồng thuận khi thực hiện.
CBQL hướng dẫn các quy định, yêu cầu về lập kế hoạch bài học của GV, triển khai đầy đủ các văn bản hướng dẫn, tài liệu hướng dẫn về lập kế hoạch bài học đến từng giáo viên. Tổ chức các buổi tập huấn, học tập về chuyên đề lập kế hoạch bài học theo định hướng phát triển năng lực học sinh. Từ đó chỉ đạo, hướng dẫn GV lập kế hoạch dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh: Chỉ đạo Tổ trưởng chuyên môn hướng dẫn GV xây dựng kế hoạch DH. Kế hoạch của GV phải chi tiết hóa mọi công việc được phân công, chỉ tiêu phấn đấu, kế hoạch DH từng chương, bài, lớp…Các nguyên tắc xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch dạy học định hướng PTNL HS, TTCM duyệt kế hoạch của GV làm căn cứ pháp lý phục vụ công tác KT nội bộ nhà trường. Việc hướng dẫn xây dựng kế hoạch của chủ thể quản lý là hết sức quan trọng, giúp GV xây dựng được một kế hoạch, chương trình dạy học đúng trọng tâm, trọng điểm, bám sát tình hình, yêu cầu của HĐDH định hướng NL. Việc hướng dẫn phải được thực hiện một cách hợp lý, đúng đắn và nhanh chóng.
CBQL cần phối hợp với Tổ trưởng CM để kiểm tra việc thực hiện kế hoạch, chương trình của GV, CBQL duyệt kế hoạch, chương trình dạy học của tổ chuyên môn và GV, có những phân tích, trao đổi, thống nhất và chấp thuận kế hoạch, chương trình dạy học của các đối tượng thông qua việc phê chuẩn vào văn bản kế hoạch, chương trình dạy học của các đối tượng và các văn bản thông báo công nhận được đưa ra. Kết quả việc thực hiện kế hoạch, chương trình của GV được sử dụng làm cơ sở đánh giá xếp loại thi đua cuối năm: Cuối năm Hiệu trưởng căn cứ vào kết quả thực hiện theo kế hoạch đã đề ra.
1.4.3. Quản lý hoạt động dạy của giáo viên theo định hướng phát triển năng lực học sinh tiểu học: Luận văn: Quản lý dạy học theo định hướng phát triển năng lực.
Nhà trường thường xuyên phổ biến nội dung chương chương trình theo định hướng phát triển năng lực học sinh vào các buổi họp Hội đồng nhằm giúp GV thực hiện tốt hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh. Chỉ đạo, hướng dẫn GV thiết kế và thực hiện bài học theo hướng phát triển năng lực. Tổ chức, hướng dẫn, giám sát, khuyến khích GV xác định mục tiêu, lựa chọn nội dung từng tiết giảng, từng bài, từng chương và từng môn học nhằm thực hiện đúng mục đích phát triển GD tiểu học.
HT quản lí giờ dạy của GV thông qua TKB, kế hoạch dạy học, sổ báo giảng, chỉ đạo GV lên lớp đúng giờ, dạy đúng TKB và báo giảng, không cắt xén hoặc dồn nén chương trình, đề ra nhiệm vụ học tập và yêu cầu HS hoàn thành; thường xuyên rèn luyện năng lực tự học cho HS thông qua việc chủ động nghiên cứu trước nội dung bài học; rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề cho HS bằng cách tạo ra các tình huống trong học tập để HS tìm cách giải quyết. HT quy định chế độ thông tin báo cáo và sắp xếp thay thế hoặc dạy bù trong trường hợp GV vắng. Với những trường hợp đi công tác hoặc nghỉ theo chế độ thì Ban giám hiệu nhà trường chủ động phân người thay thế. Với những trường hợp vắng đột xuất một hoặc hai tiết thì GV chủ động báo cáo cho Tổ trưởng chuyên môn điều động người dạy thay. Đây cũng là một trong những tiêu chí của nhà trường để đánh giá thi đua.
CBQL cần xây dựng chuẩn giờ lên lớp theo theo hướng phát triển năng lực học sinh, ngoài những yêu cầu có tính chất truyền thống như: bám sát mục tiêu giáo dục, nội dung dạy học, đặc trưng môn học; phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh (HS); giờ học đổi mới PPDH còn có những yêu cầu mới như: được thực hiện thông qua việc GV tổ chức các hoạt động học tập cho HS theo hướng chú ý đến việc rèn luyện phương pháp tư duy, khả năng tự học, nhu cầu hành động và thái độ tự tin; được thực hiện theo nguyên tắc tương tác nhiều chiều: giữa GV với HS, giữa HS với nhau (chú trọng cả hoạt động dạy của người dạy và hoạt động học của người học).
CBQL tổ chức dự giờ, thao giảng và phân tích giờ dạy của GV theo hướng phát triển năng lực học sinh. Kết hợp tốt giữa dự giờ theo kế hoạch và dự giờ đột xuất. Phân công thành viên trong BGH dự giờ của GV; huy động sự tham gia của TCM dự giờ. Trong dự giờ chú ý quan sát, thu thập thông tin, ghi chép nghiêm túc để đánh giá giờ dạy của GV theo hướng phát triển năng lực người học như sự tích cực tham gia phát biểu ý kiến xây dựng bài; khả năng vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề bài học đặt ra; thái độ học tập; khai thác các thiết bị DH. Chỉ đạo việc góp ý, rút kinh nghiệm, góp ý với tinh thần xây dựng để giúp GV nâng cao trình độ tay nghề. Hoạt động dự giờ và phân tích sư phạm bài học là hình thức quản lý đặc thù của QL trường học, không có ở các dạng QL khác, đây là một chức năng quan trọng của HT để chỉ đạo hoạt động dạy và học, là biện pháp quan trọng hàng đầu để QL giờ lên lớp. HT nhà trường luôn luôn tạo điều kiện và kích thích khả năng của GV để phát huy hết tiềm năng trong mỗi GV, quán triệt cho GV đổi mới PPDH theo định hướng phát triển năng lực HS
CBQL chỉ đạo GV bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ theo Thông tư số 30/2019/TT BGDÐT ngày 08/8/2019 của Bộ GD và Ðào tạo. Hàng năm, hướng dẫn GV lựa chọn nội dung bồi dưỡng để nắm vững chương trình và sách giáo khoa toàn cấp của môn mà GV được phân công giảng dạy; cập nhật những kiến thức mới phục vụ DH, đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức DH. Bồi dưỡng về đổi mới KT – ĐG kết quả học tập của HS. Bồi dưỡng nâng cao năng lực chủ nhiệm cho GV làm công tác chủ nhiệm. Chú ý xây dựng đội ngũ GV cốt cán làm nòng cốt cho hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho GV. Thường xuyên KT công tác tự bồi dưỡng của GV. Luận văn: Quản lý dạy học theo định hướng phát triển năng lực.
Nhà trường phối hợp với Phòng giáo dục tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng sử dụng thiết bị dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS. việc sử dụng TBDH sẽ tránh được tình trạng truyền thụ kiến thức một chiều; tạo động lực khuyến khích tư duy sáng tạo của đội ngũ giáo viên và học sinh, bồi dưỡng năng lực tự học, phát triển năng lực thực hành. Có được các TBDH thích hợp, người giáo viên sẽ phát huy hết năng lực sáng tạo của mình trong công tác giảng dạy, làm cho hoạt động nhận thức của học sinh trở nên nhẹ nhàng và hấp dẫn hơn, tạo ra cho học sinh những tình cảm tốt đẹp với môn học. Cung cấp tài liệu, sách báo khoa học về dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS: Quản lý việc bổ sung, bảo quản tài liệu sách báo khoa học về dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS trong thư viện trường, tạo điều kiện cho giáo viên nghiên cứu tài liệu, sách báo khoa học về dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS
Hồ sơ chuyên môn của người GV là phương tiện phản ánh quá trình QL có tính khách quan và cụ thể, giúp người HT nắm chắc hơn, cụ thể hơn tình hình thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của GV. Có thể nói hồ sơ chuyên môn của GV là cơ sở pháp lý để nói lên nội dung công việc mà GV đó được phân công, là cơ sở để đánh giá sự chuẩn bị, đầu tư cho chuyên môn của GV đó.
Quản lý kiểm tra – đánh giá kết quả giảng dạy của giáo không chỉ ở kết quả cuối cùng mà trong suốt quá trình dạy. Phát hiện những ưu điểm, nhược điểm; kịp thời uốn nắn, động viên khen thưởng hay trách phạt, đồng thời qua kiểm tra – đánh giá để xem xét điều chỉnh hoạt động giáo dục của GV cho phù hợp với mục tiêu dạy học. Cần kiểm tra đánh giá HĐGD của GV với những nội dung: Kế hoạch dạy học, thực hiện nội dung chương trình, PPDH, kế hoạch kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh.
Như vậy, QL hoạt động dạy là quá trình QL một quá trình chủ đạo của người quản lý trong quá trình dạy học, đòi hỏi người QL phải hiểu hết nội dung, yêu cầu QL để đưa ra những quyết định đúng đắn, chính xác đồng thời cũng đảm bảo sự mềm dẻo, linh hoạt để đưa hoạt động dạy của nhà giáo vào kỷ cương, nề nếp, nhưng vẫn phát huy được khả năng sáng tạo của GV trong việc thực hiện được nhiệm vụ của mình.
1.4.4. Quản lý hoạt động học của học sinh theo định hướng phát triển năng lực:
Giáo viên là người quản lí trực tiếp hoạt động học của học sinh theo định hướng phát triển năng lực. Vì vậy CBQL nhà trường tổ chức chỉ đạo GV giáo dục mục đích, động cơ học tập của học sinh, xây dựng nề nếp học tập, kỷ luật học tập của HS là những quy định cụ thể về thái độ, hành vi ứng xử của người HS nhằm làm cho hoạt động học tập diễn ra có hiệu quả. Nề nếp, thái độ học tập của HS sẽ quyết định nhiều đến hiệu quả học tập, vì vậy CBQL và GV cần xây dựng được những nề nếp học tập cho học sinh. Luận văn: Quản lý dạy học theo định hướng phát triển năng lực.
Để tổ chức kiểm tra việc chấp hành các quy định, nề nếp học tập cần thông qua trực ban hàng ngày để quản lý nề nếp trong các buổi học, nắm bắt thông tin từ TTCM, tổ trưởng chuyên môn, GV chủ nhiệm, kiểm tra trực tiếp về thực trạng các giờ dạy của GV. Để quản lý tốt nề nếp giờ lên lớp của GV, CBQL cần xây dựng được các yêu cầu chủ yếu gồm: Xây dựng được “chuẩn” giờ lên lớp để quản lý nề nếp của cả thầy và trò.
CBQL chỉ đạo GV nắm vững trình độ, năng lực, tình hình học tập của học sinh, kịp thời điều chỉnh HS, chỉ đạo GV thường xuyên quan tâm đến tình hình học tập của HS, chú ý bồi dưỡng học sinh giỏi và phụ đạo HS chưa đạt chuẩn. Phương pháp học tập là yếu tố quyết định chất lượng học tập của người học, vì vậy việc QL, GD phương pháp học tập cho HS cần làm cho HS nắm được phương pháp, kỹ năng chung của hoạt động học tập, kỹ năng học tập phù hợp với từng bộ môn. Giúp HS có phương pháp học tập ở lớp và có phương pháp tự học ở nhà. Trong việc quản lý các hoạt động học tập của HS, các hoạt động học tập, vui chơi giải trí phải được tổ chức một cách hợp lý, phù hợp với sự phát triển tâm lý, sức khỏe của HS. Điều này đòi hỏi nhà trường, CBQL, giáo viên phải có sự cân nhắc, tính toán, điều khiển cân đối giữa các hoạt động trong từng tháng, từng học kỳ, năm học để HS hứng thú để học tập nhưng tránh gây ảnh hưởng đến việc học tập, rèn luyện của học sinh, gây xáo trộn chương trình dạy học.
Chỉ đạo GV đánh giá kết quả học tập của HS theo định hướng phát triển năng lực học sinh là phân tích, đánh giá kết quả học tập của HS là yêu cầu cần thiết trong QLHT. Điểm số của HS phải được cập nhật, các bài kiểm tra viết phải được trả cho HS đúng thời gian quy định của ngành GD, mỗi bài kiểm tra trước khi công bố điểm GV phải xem kỹ lưỡng, có lời nhận xét, phát hiện lỗi khi HS mắc phải, chữa tại lớp để rút kinh nghiệm. Phát hiện những bài làm có ý tưởng hay, mới, biểu dương những bài làm có kết quả tốt. Căn cứ vào sổ điểm của lớp, công tác dự giờ thăm lớp, phân tích đánh giá kết quả học tập của HS thường xuyên hàng tuần, hàng tháng từ đó có sự so sánh để thấy được sự chuyển biến của chất lượng GD. Những kết quả sau khi phân tích sẽ giúp cho HT thấy rõ thêm HĐDH, trên cơ sở đó có những quyết định QL kịp thời chính xác.
GV hướng dẫn HS tự lập kế hoạch học tập tại nhà và nghiên cứu kiến thức qua các tài liệu mà giáo viên cung cấp. HT chỉ đạo GVCN, GV bộ môn kết hợp với Đoàn thanh niên xây dựng kế hoạch và tổ chức các hoạt động ngoại khóa để HS mở rộng kiến thức, phát triển năng lực hoạt động tập thể, tăng cơ hội cho học sinh vận dụng kiến thức vào thực tiễn để hình thành và phát triển năng lực. Kết thúc chương trình ngoại khóa yêu cầu HS viết bài thu hoạch để đánh giá mức độ tiếp thu kiến thức. HT cần tổ chức cho HS tham gia lao động với thời lượng và công việc hợp lý để HS thực hành, thực hiện nguyên lý “Học đi đôi với hành”. Thường xuyên tổ chức các phong trào thi đua học tập cho HS theo định hướng phát triển năng lực.
1.4.5. Quản lý các điều kiện phục vụ cho hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh tiểu học:
Tâm lý học sinh Tiểu học: Đối tượng của cấp tiểu học là trẻ em từ 6 đến 11 tuổi. Học sinh tiểu học là một thực thể hồn nhiên, ngây thơ và trong sáng. Ở mỗi trẻ em tiềm tàng khả năng phát triển về trí tuệ, lao động, rèn luyện và hoạt động xã hội để đạt một trình độ nhất định về lao động nghề nghiệp, về quan hệ giao lưu và chăm lo cuộc sống cá nhân, gia đình. Trẻ em ở lứa tuổi tiểu học là thực thể đang hình thành và phát triển cả về mặt sinh lý, tâm lý, xã hội các em đang từng bước gia nhập vào xã hội thế giới của mọi mối quan hệ. Học sinh tiểu học dễ thích nghi và tiếp nhận cái mới và luôn hướng tới tương lai. Nhưng cũng thiếu sự tập trung cao độ, khả năng ghi nhớ và chú ý có chủ định chưa được phát triển mạnh, tính hiếu động, dễ xúc động còn bộc lộ rõ nét. Trẻ nhớ rất nhanh và quên cũng nhanh, tri giác của học sinh tiểu học phản ánh những thuộc tính trực quan, tri giác giúp cho trẻ định hướng nhanh chóng và chính xác hơn trong thế giới. Tri giác còn giúp cho trẻ điều chỉnh hoạt động một cách hợp lý. Trong sự phát triển tri giác của học sinh, giáo viên tiểu học có vai trò rất lớn trong việc chỉ dạy cách nhìn, hình thành kỹ năng nhìn cho học sinh, hướng dẫn các em biết xem xét, biết lắng nghe. Bên cạnh sự phát triển của tri giác, chú ý có chủ định của học sinh tiểu học còn yếu, khả năng điều chỉnh chú ý có ý chí chưa mạnh. Vì vậy, việc sử dụng đồ dùng dạy học là phương tiện quan trọng để tổ chức sự chú ý cho học sinh. Nhu cầu hứng thú có thể kích thích và duy trì chú ý không chủ định cho nên giáo viên cần tìm cách làm cho giờ học hấp dẫn để lôi cuốn sự chú ý của học sinh. Đối với học sinh tiểu học có trí nhớ trực quan – hình tượng phát triển chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ – logíc. Tư duy của trẻ em mới đến trường là tư duy cụ thể, dựa vào những đặc điểm trực quan của đối tượng và hiện tượng cụ thể.
CSVC và TBTH là một trong những thành tố cấu thành của quá trình dạy học, một điều kiện rất quan trọng để đổi mới nội dung, hình thức, chương trình, PPDH. Các thiết bị dạy học công nghệ cao hỗ trợ trình bày bài học một cách sinh động, hỗ trợ cho học sinh tiếp nhận kiến thức dễ dàng, thực hiện các PPDH trực quan, thực nghiệm, tạo ra khả năng thực hành, củng cố kiến thức, rèn luyện kỹ năng làm việc, học tập, sự khéo léo chân tay, bồi dưỡng khả năng tự học, tự chiếm lĩnh tri thức, tạo ra sự hứng thú, lôi cuốn khi học, tiết kiệm thời gian trên lớp, cải tiến các hình thức dạy học, khả năng tổ chức một cách khoa học và điều khiển HĐDH. Luận văn: Quản lý dạy học theo định hướng phát triển năng lực.
Quản lý các điều kiện phục vụ cho hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh tiểu học gồm xây dựng kế hoạch trang bị, bổ sung thiết bị và đồ dùng dạy học; Phân công, phân nhiệm cho lãnh đạo phụ trách chung và các giáo viên trực tiếp phụ trách kiêm nhiệm xây dựng kế hoạch trang bị, bổ sung thiết bị và đồ dùng dạy học, từng nội dung cụ thể; Xây dựng quy định sử dụng thiết bị đồ dùng dạy học; Tổ chức hướng dẫn sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học. Việc ứng dụng các phát triển khoa học công nghệ vào hoạt động dạy học là bắt buộc và cần thiết để nâng cao chất lượng giáo dục. Các điều kiện phục vụ dạy học bao gồm tất cả các phương tiện kỹ thuật vật chất, kỹ thuật và sản phẩm khoa học công nghệ được huy động vào các hoạt động GD trong nhà trường. Theo dõi, đánh giá việc sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học đòi hỏi có đầy đủ hồ sơ quản lý CSVC của nhà trường, hồ sơ phải được cập nhật thường xuyên và khoa học. Chỉ đạo giáo viên phụ trách cho giáo viên ký mượn thiết bị, ĐDDH, sách giáo khoa, sách tham khảo qua sổ mượn trả và báo cáo lãnh đạo phụ trách. Chỉ đạo GV lập kế hoạch sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học ngay từ đầu năm học. Kiểm tra việc sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học của giáo viên thông qua kiểm tra đột xuất trên lớp hoặc qua sổ sử dụng. Kiểm tra hiện trạng CSVC, thiết bị để nắm bắt tình trạng sử dụng của giáo viên đồng thời phát hiện những hỏng hóc để sửa chữa và bổ xung kịp thời.
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động học theo định hướng phát triển năng lực học sinh tiểu học: Luận văn: Quản lý dạy học theo định hướng phát triển năng lực.
1.5.1. Các yếu tố chủ quan:
Phẩm chất, năng lực cán bộ quản lý: Phẩm chất và năng lực quản lý của CBQL trường tiểu học có ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý hoạt động dạy học theo định hướng PTNLHS ở trường tiểu học. CBQL muốn quản lý tốt hoạt động dạy học theo định hướng PTNLHS tại các trường tiểu học, trước hết phải là người có phẩm chất chính trị vững vàng, có đạo đức, tác phong mẫu mực, đi đầu trong mọi lĩnh vực hoạt động của nhà trường, phải quản lý thuyết phục cán bộ trong nhà trường bằng chính năng lực của mình, phải nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, chỉ đạo đúng hướng, đúng mục tiêu cấp học.Đồng thời, CBQL nhà trường phải là người có trình độ nghiệp vụ quản lý cao, có năng lực quản lý sâu đồng thời không ngừng học hỏi để nâng cao trình độ quản lý của bản thân. Không những có hiểu biết sâu sắc về nội dung quản lý HDDH theo định hướng PTNLHS mà còn có uy tín, được GV và phụ huynh tin tưởng kính phục.
Trình độ chuyên môn của GV: Giáo viên là yếu tố quan trọng nhất cho chất lượng giảng dạy bởi vì giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn, dẫn dắt người học tiếp cận các tri thức, kiến thức lý luận chính trị theo mục đích của chương trình học. Do đó giáo viên phải trang bị chuẩn về chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn và kiến thức thực tiễn, kỹ năng sư phạm. Kỹ năng sư phạm giúp giáo viên có phương pháp truyền thụ tốt, linh hoạt trong việc phối hợp các phương pháp, phương tiện giảng dạy, nắm bắt được tâm lý người học một cách nhanh chóng từ đó thu hút được người học một cách có hiệu quả. Kiến thức chuyên môn vững kết hợp với kỹ năng sư phạm giúp giáo viên chủ động trong quá trình truyền tải và nắm bắt thông tin từ người học từ đó có sự điều chỉnh hợp lý việc phối hợp các phương pháp giảng dạy.
Không những vây, GV phải nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của dạy học theo định hướng PTNLHS, từ đó chủ động thay đổi phương pháp, nội dung giảng dạy và sự tương tác của mình với HS, và các lực lượng khác. Có ý thức bồi dưõng và tự dưỡng thường xuyên, liên tục. Luôn học hỏi, tự điều chỉnh nghiệp vụ sư phạm và tiếp thu thêm các tri thức mới, các kinh nghiệm hay về dạy học tiểu học từ các đồng nghiệp, nhà trường khác cũng từ các nước trên thế giới.
Ý thức học tập, tính tích cực tự giác của học sinh: Dạy học là quá trình tác động biện chứng giữa người dạy và người học, người học là đối tượng tiếp nhận thông tin mà người dạy hướng đến, do đó, người học có tác động đến chất lượng hoạt động của người dạy. Quan trọng hơn, trong định hướng dạy học PTNL học sinh tiểu học, học sinh là trung tâm của quá trình giảng dạy, học sinh tiếp nhận kiến thức không phải một cách thụ động mà là chủ thể của quá trình nhận thức, chủ động trong việc tiếp nhận thông tin. Do đó, chất lượng giảng dạy phải được xét đến việc tỷ lệ tri thức mà học sinh tiếp nhận được. Mặt khác, sự tham gia các hoạt động của học sinh tiểu học trong quá trình tiếp nhận tri thức có ảnh hưởng ngược lại đến hiệu quả giảng dạy của giáo viên.
Hoạt động DH theo định hướng PTNL HS yêu cầu sự chủ động và tích cực cao từ phí HS. GV chỉ có vai trò hướng dẫn, gợi mở các chủ đề, hoạt động dạy học, HS phải tự giác tham gia các hoạt động trên lớp, tự suy nghĩ và tìm hiểu vấn đề từ đó đưa ra cách giải quyết. Quá trình này sẽ giúp HS làm chủ được kiến thức, hình thành nên các năng lực sau này. Vì vậy các đặc điểm, năng lực và khả năng tiếp thu, thái độ học tập của HS có ảnh hưởng vô cùng lớn đến hiệu quả của QL HĐDH theo định hướng PTNLHS ở trường tiểu học.
1.5.2. Các yếu tố khách quan: Luận văn: Quản lý dạy học theo định hướng phát triển năng lực.
Cơ sở vật chất, các điều kiện phục vụ dạy học theo PTNL: Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học là một điều kiện rất quan trọng để đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Phương tiện kỹ thuật và thiết bị thực hành giúp cho giáo viên tổ chức các hoạt động dạy học một cách dễ dàng, hiệu quả hơn, giúp phát huy được tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học và hơn nữa phương tiện kỹ thuật và thiết bị thực hành góp phần lớn vào việc cải tiến và đổi mới phương pháp giáo dục dạy học, phát triển được năng lực của HS.
Môi trường kinh tế – xã hội địa phương: Thực tế cho thấy HS, đặc biệt là HS tiểu học chịu ảnh hưởng rất lớn từ môi trường sống và học tập. Hoạt động và chất lượng của một nhà trường chịu ảnh hưởng không nhỏ bởi môi trường địa phương, trong đó có ảnh hưởng của điều kiện kinh tế – văn hóa – xã hội địa phương. Kinh tế – văn hóa xã hội của địa phương ảnh hưởng rất nhiều đến giáo dục và hoạt động dạy học của nhà trường. Không những thế, trong quá trình DH theo định hướng PTNL HS, nhà trường cần liên kết hợp tác với các lực lượng giáo dục trong xã hội để giáo dục một cách thống nhất, toàn diện học sinh, vì vậy, các điều kiện văn hoá, kinh tế – xã hội có ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng dạy và học ở nhà trường. CBQL nhà trường, quan tâm đến các vấn đề như chủ trương, đường lối , các chính sách địa phương, phải khai thác được thế mạnh, hạn chế những khó khăn của địa phương nhằm tranh thủ sự ủng hộ của chính quyền địa phương, sự tham gia giáo dục học sinh của các tổ chức đoàn thể và nhân dân địa phương, phối hợp tích cực có hiệu quả công tác giáo dục giữa gia đình và nhà trường.
Tiểu kết chương 1 Luận văn: Quản lý dạy học theo định hướng phát triển năng lực.
Đổi mới dạy học theo định hướng phát triển năng lực, phẩm chất người học là một xu thế chung của thời đại. Muốn phát triển năng lực, phẩm chất người học trong quá trình dạy học phải đảm bảo thực hiện nguyên lý giáo dục “học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, nhà trường gắn liền với gia đình và xã hội”; phải tổ chức các hình thức dạy học linh hoạt, đa dạng mà ở đó người học được tham gia vào các hoạt động trải nghiệm, sáng tạo, được thể hiện bản thân… Hiện nay, quản lý HĐDH theo định hướng phát triển toàn diện năng lực, phẩm chất người học là một yêu cầu tất yếu, khách quan, là nhiệm vụ trọng tâm của mỗi nhà trường, là khâu quan trọng để tạo nên sự tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo.
Quản lý HĐDH theo định hướng phát triển toàn diện năng lực, phẩm chất người học là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến hoạt động dạy của GV, đến hoạt động học của HS, đến các điều kiện CSVC, trang thiết bị, phương tiện phục vụ dạy học của nhà trường nhằm thực hiện chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển năng lực, phẩm chất của người học.
Nội dung quản lý HĐDH bao gồm: Quản lý mục tiêu, xây dựng kế hoạch dạy học; Quản lý việc phân công giảng dạy; Quản lý hoạt động dạy của GV; Quản lý hoạt động học của HS; Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho dạy học và những yếu tố tác động tới quản lý hoạt động dạy học. Những vấn đề trên đây là cơ sở lý luận để tiếp tục nghiên cứu, đề ra các biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh tiểu học ở thành phố Thủ Dầu Một nói riêng và tỉnh Bình Dương nói chung. Luận văn: Quản lý dạy học theo định hướng phát triển năng lực.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng QL dạy học định hướng phát triển năng lực

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
