Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng QL dạy học định hướng phát triển năng lực hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh tiểu học ở thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái quát giáo dục tiểu học ở thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
2.1.1. Quy mô phát triển trường lớp giáo dục tiểu học của thành phố Thủ Dầu Một
Theo báo cáo tổng kết của Phòng Giáo dục và Đào tạo TP Thủ Dầu Một, năm học 2025-2026 tổng số trường tiểu học: 27 trường, trong đó có 04 trường Tư thục có lớp tiểu học. Tổng số lớp: 725 lớp so với năm học trước tăng 24 lớp. Tổng số học sinh: 25.630 so với năm học trước tăng 1.674 học sinh. Tổng số trường tổ chức 2b/ngày: 22 trường so với năm học trước tăng 02 trường (TH Tương Bình Hiệp, TH Hòa Phú). Tổng số học sinh học 2b/ngày 18.860 so với năm học trước tăng 3.353 em. Tổng số trường tổ chức bán trú: 21 trường so với năm học trước tăng 03 trường (Tương Bình Hiệp, Hòa Phú, Bùi Quốc Khánh). Tổng số học sinh tham gia bán trú: 14.685 so với năm học trước tăng 2.927 em.
Thành phố Thủ Dầu Một với diện tích là 118.67 km² và có tổng cộng 27 trường tiểu học trên toàn thành phố. Như vậy, cứ mỗi 4.40 km² sẽ có một trường tiểu học phục vụ cho nhu cầu của người dân, đây là một kết quả khả quan, cho thấy Phòng Giáo dục của thành phố đã đáp ứng được nhu cầu đến trường của các trẻ tiểu học về mặt số lượng. Không dừng lại ở đó, với tình hình dân số ngày một tăng cao, thành phố Thủ Dầu Một không ngừng đầu tư để mở thêm trường cho trẻ tiểu học. Ngoài ra, về mặt chất lượng,thành phố Thủ Dầu Một cũng nỗ lực nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học của thành phố với số lượng trẻ nhập học ngày một tăng cao và không có trẻ bỏ học.
2.1.2. Chất lượng giáo dục ở các trường tiểu học của thành phố Thủ Dầu Một:
Năm học 2025-2026 ngành giáo dục thành phố tiếp tục thực hiện đánh giá học sinh theo Thông tư 22/2024/TT-BGDĐT. Học sinh hoàn thành chương trình lớp học toàn thành phố là 25.122/25.630 đạt tỷ lệ 98,02% so với năm học trước Phòng Giáo dục vẫn đảm bảo chất lượng dạy và học ngày càng được nâng cao. Học sinh hoàn thành chương trình tiểu học: 4.646/4.647 đạt tỷ lệ 99.98% so với năm học trước giảm 0.02%. Toàn thành phố thực hiện nghiêm túc đề án: “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2016-2028” theo Quyết định số 1400/QĐ-TTg ngày 30/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ. Chương trình tự chọn 2 tiết/tuần hoặc 4 tiết/tuần; trên cơ sở phù hợp điều kiện về đội ngũ và nhu cầu của học sinh, thực hiện đủ 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết cho học sinh, trong đó tập trung phát triển 2 kĩ năng nghe và nói. Kết quả đạt được như sau:
Học sinh được đánh giá “Hoàn thành tốt” 14.541/25.630 tỷ lệ 56.75%; “Hoàn thành”: 10.851/25630 tỷ lệ: 42.35%; “Chưa hoàn thành” 238/25630 tỷ lệ: 0.9%. Trong đó có 5 trường tổ chức dạy Tiếng Anh tăng cường (Hiệp Thành, Định Hòa , Lê Hồng Phong, Trần Phú, Nguyễn Du) với số học sinh tham gia là 874 học sinh).
Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Thủ Dầu Một tăng cường đầu tư CSVC trang thiết bị trong việc tổ chức dạy học môn Tin học trong các trường tiểu học kết quả đạt được như sau: có 23/27 trường thực hiện dạy tin học với 13.025 học sinh tham gia. Học sinh được đánh giá “Hoàn thành tốt”: 8.388/13.025 tỷ lệ 64,4%; “Hoàn thành” : 4.633/13.025 tỷ lệ: 35.57 %; “Chưa hoàn thành” 4/13.025 tỷ lệ: 0,03%. Luận văn: Thực trạng QL dạy học định hướng phát triển năng lực.
Các trường tổ chức cho học sinh tham gia “ câu lạc bộ khoa học vui”, học sinh tự tay làm xà phòng, đất sét, slam, nước rửa tay,..
Tổ chức các hoạt động giao lưu, các sân chơi trí tuệ bổ ích và thân thiện nhằm phát triển năng lực học sinh như: Liên hoan văn nghệ “Tiếng hát dân ca”, Giao lưu tìm hiểu “An toàn giao thông”, Giao lưu Tiếng Việt của chúng em, Đố vui để học, Rung chuông vàng, Câu lạc bộ tiếng Anh, Tin học, …
2.1.3. Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên trường tiểu học thành phố Thủ Dầu Một:
Tổng số giáo viên tiểu học 957/810 nữ trong đó (GV dạy lớp: 689/624; GVBM: 268/186). Tổng số CBQL tiểu học hiện nay: 62/45 nữ trong đó (HT: 23/10 nữ; PHT: 39/35 nữ). Đánh giá chuẩn đội ngũ CBQL: Trình độ chuyên môn CBQL đạt chuẩn trình độ chuyên môn 100% ở các cấp học (Trong đó tiểu học trên chuẩn 98,4%). Đánh giá chuẩn giáo viên dạy lớp: Trình độ chuyên môn đạt chuẩn 100% ở các cấp học (Trong đó tiểu học trên chuẩn 863, tỉ lệ: 90,18%).
Tóm lại, thực trạng tình hình giáo dục tiểu học hiện tại của thành phố Thủ Dầu Một như hiện nay, có thể thấy thành phố đạt được nhiều thành tựu. Đó là việc đáp ứng được nhu cầu giáo dục tiểu học của người dân cũng như luôn dành nhiều ngân sách cho việc phát triển giáo dục nói chung và giáo dục tiểu học nói riêng với việc mở rộng số lượng trường tiểu học và các chính sách nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học. Số lượng trẻ tiểu học và thành tích tốt các em đạt được đều tăng qua các năm. Bên cạnh đó, chất lượng giáo viên cũng được chú trọng phát triển thông qua những yêu cầu, chính sách tuyển dụng và hỗ trợ nâng cao năng lực cho giáo viên.
Tuy nhiên, vẫn tồn tại những nhược điểm đáng kể trong thực trạng giáo dục tiểu học ở thành phố. Có thể kể đến việc số lượng học sinh trong một lớp quá đông khiến cho tiến trình dạy và học giảm chất lượng. Ngoài ra, việc mất cân bằng giới tính trong đội ngũ giáo viên tiểu học cũng phần nào ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục.
2.1.4. Cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ dạy và học ở các trường tiểu học của thành phố Thủ Dầu Một:
Các trường chủ động tham mưu đầu tư cơ sở vật chất, xây dựng thư viện đạt chuẩn, cải tạo cảnh quan trường học đạt tiêu chuẩn xanh – sạch – đẹp, an toàn theo quy định. Phát huy tốt công năng của thư viện và phát triển văn hóa đọc cho học sinh. Các trường thực hiện mô hình thư viện thân thiện, thư viện mini, …
Thực hiện nghiêm túc các quy định về việc sử dụng sách giáo khoa, sách bổ trợ, tài liệu tham khảo (Cv 2372/BGDĐT-GDTrH ngày 11/4/2021).Rà soát, sửa chữa, bổ sung thiết bị dạy học theo danh mục thiết bị dạy học tối thiểu. Thực hiện tốt việc triển khai sưu tập tài nguyên dạy học. Qua Hội thi “Triển lãm tài nguyên đồ dùng dạy học điện tử qua bộ sưu tập đồ dùng dạy học điện tử” cấp Tỉnh đạt giải Nhất toàn đoàn. Bảo quản tốt và sử dụng hiệu quả các loại đồ chơi, thiết bị vận động ngoài trời được cấp.
2.2. Tổ chức khảo sát thực trạng: Luận văn: Thực trạng QL dạy học định hướng phát triển năng lực.
2.2.1. Mẫu nghiên cứu:
Nghiên cứu được thực hiện chủ yếu qua phương pháp thu thập ý kiến bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu và xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê SPSS. Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu và trong phạm vi của đề tài, tác giả khảo sát 2 nhóm đối tượng là GV và CBQL với 201 phiếu trưng cầu ý kiến, trong đó, gồm có 40 CBQL, 161 GV tiểu học ở địa bàn tỉnh Bình Dương. Mẫu nghiên cứu thể hiện trong bảng sau.
- Bảng 2.1. Số lượng khách thể nghiên cứu
- Bảng 2.2: Trình độ, thâm niên công tác
Trong 201 gồm CBQL và giáo viên được tiến hành khảo sát thì có 195 gồm CBQL và GV có trình độ cử nhân chiếm 97%, có 6 GV có trình độ khác chiếm 3%, không có trình độ thạc sĩ và tiến sĩ. Trong 40 cán bộ quản lí được khảo sát thì có 40 cán bộ quản lí có trình độ cử nhân chiếm 100%. Không có cán bộ quản lí nào được khảo sát có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ. Số liệu cho thấy, độ ngũ giáo viên ở các trường tiểu học ở Thành phố Thủ Dầu Một có trình độ học vấn khá cao, đáp ứng chuẩn nghề nghiệp của giáo viên tiểu về trình độ công tác.
Đối với thâm niên công tác trong ngành giáo dục thì trong 201 gồm CBQL và giáo viên có 37 giáo viên có thâm niên dưới 5 năm chiếm 18%, có 31 giáo viên có thâm niên công tác từ 5 đến 10 năm chiếm 15,5%, 50 giáo viên có thâm niên công tác từ 10- 15 năm chiếm 25%, 83 giáo viên có thâm niên công tác trên 15 năm chiếm 41,5%. Trong 40 cán bộ quản lí thì tất cả đều có thâm niên công tác trên 15 năm. Số liệu cho thấy đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí ở các trường tiểu học tại Thành phố Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương đều đã có những kinh nghiệm công tác khá lâu năm.
2.2.2. Cách thức khảo sát: Luận văn: Thực trạng QL dạy học định hướng phát triển năng lực.
- Lập phiếu điều tra để trưng cầu ý kiến của CBQL và GV:
Phương pháp chính chúng tôi sử dụng trong nghiên cứu này là lập phiếu điều tra để trưng cầu ý kiến của nhóm mẫu khảo sát. Dựa trên cơ sở lí luận và để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, tác giả xây dựng 1 phiếu điều tra cho 2 nhóm đối tượng là CBQL và GV. Nội dung phiếu điều tra về thực trạng quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường tiểu học của thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương gồm 2 phần chính là:
Câu 1 đến câu 6: Khảo sát CBQL và GV tiểu học về thực trạng hoạt động dạy của giáo viên theo định hướng phát triển năng lực học sinh với các thông tin: Nội dung cần thực hiện, nội dung dạy học PTNL, phương pháp và kĩ thuật dạy học, các phương tiện dạy học theo định hướng PTNL, hình thức dạy học phát triển năng lực, các hình thức KTĐG.
Câu 7 đến câu 11: Khảo sát CBQL và GV tiểu học về thực trạng quản lý hoạt động dạy của giáo viên theo định hướng phát triển năng lực học sinh với các thông tin: thực trạng quản lý kế hoạch, chương trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh; thực trạng quản lý hoạt động dạy của giáo viên theo định hướng phát triển năng lực học sinh; thực trạng quản lý hoạt động học của học sinh theo định hướng phát triển năng lực; thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh.
Phỏng vấn sâu lấy ý kiến của CBQL và GV: sử dụng các câu hỏi phỏng vấn sâu về thực trạng quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh tiểu học. ( Danh sách CBQL và GV phỏng vấn đã được mã hóa ở phụ lục 2)
2.2.3. Cách thức xử lý số liệu:
- Sử dụng chương trình SPSS dùng trong môi trường Window: Phân tích ĐTB; Phân tích tương quan; Phân tích thứ hạng
- Phiếu khảo sát dành cho tập thể GV và CBQL với thang đo 4 mức độ.
Do đó, cách thức đọc ĐTB như sau:
- 1.00 điểm – 1.75 điểm: Không quan trọng/ không thực hiện/ không ảnh hưởng/ không cần thiết/ không khả thi
- 1.76 điểm – 2.50 điểm: Ít quan trọng/ ít thường xuyên/ ít ảnh hưởng/ ít cần thiết/ ít khả thi
- 2.51 điểm – 3.25 điểm: Quan trọng/ thường xuyên/ ảnh hưởng/ cần thiết/ khả thi
- 3.26 điểm – 4.00 điểm: Rất quan trọng/ rất thường xuyên/ rất ảnh hưởng/ rất cần thiết/ rất khả thi
2.3. Thực trạng hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường tiểu học thành phố Thủ Dầu Một
2.3.1. Thực trạng nhận thức về hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh Luận văn: Thực trạng QL dạy học định hướng phát triển năng lực.
Nhận thức là một hoạt động vô cùng quan trọng trong mọi hoạt động giáo dục, nhận thức đúng sẽ hướng đến hành động đúng và đạt hiệu quả. Để xác định đúng được thực trạng nhận thức về hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh, tôi đã tiến hành khảo sát thực trạng về nhận thức, kết quả được thể hiện rõ ở bảng sau:
Bảng 2.3: Nhận thức về mức độ quan trọng của các nội dung trong hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh
Kết quả ở bảng 2.3 cho thấy, cán bộ giáo viên đã có nhận thức đúng đắn khi đề cao tầm quan trọng của các nội dung cần thực hiện theo định hướng phát triển năng lực học sinh, ĐTB = 3.23 (ở mức quan trọng). Cụ thể, phương án “Đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học theo định hướng PTNL” xếp hạng cao nhất (TBC= 3,52, mức rất quan trọng); tiếp đến là “Đổi mới thiết kế bài học theo định hướng PTNL” xếp hạng 2 (TBC=3.50, mức rất quan trọng). “Đổi mới thiết kế bài học theo định hướng PTNL” xếp hạng 3 (TBC=3.44, mức rất quan trọng). Hầu hết tất cả các nội dung cần thực hiện trong HĐDH theo định hướng phát triển năng lực học sinh còn lại tuy có thứ hạng 4 “Đổi mới mục tiêu dạy học theo định hướng PTNL” (TBC=3,10, mức quan trọng), hạng 5 “Đổi mới kiểm tra,đánh giá học sinh theo định hướng PTNL” (TBC=2,98, mức quan trọng) nhưng cũng đạt ĐTB tương đối cao. Tuy nhiên, cần chú ý phương án “Đổi mới các điều kiện đảm bảo dạy học theo định hướng PTNL” (TBC=2,88, mức quan trọng) vì nó là nội dung có thứ hạng thấp nhất, hạng 6.
Ngoài ra, việc lựa chọn nội dung cần thực hiện trong HĐDH theo định hướng phát triển năng lực học sinh cần phải lựa chọn những nội dung nhằm đạt được kết quả đầu ra đã quy định, gắn với các tình huống thực tiễn. Chương trình chỉ quy định những nội dung chính, không quy định chi tiết. Chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực là tạo điều kiện quản lý chất lượng theo kết quả đầu ra đã quy định, nhấn mạnh năng lực vận dụng của HS. Tuy nhiên nếu vận dụng một cách thiên lệch, không chú ý đầy đủ đến nội dung dạy học thì có thể dẫn đến các lỗ hổng tri thức cơ bản và tính hệ thống của tri thức.
Tóm lại, từ kết quả khảo sát cho thấy: Ưu điểm trong nhận thức về mức độ quan trọng của các nội dung cần thực hiện trong HĐDH theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở các thầy cô là họ đánh giá cao các nội dung “Đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học theo định hướng PTNL” và “Đổi mới thiết kế bài học theo định hướng PTNL”. Ngược lại, nhược điểm cần chú ý là cần phải nâng cao nhận thức của các thầy cô về mức độ quan trọng của các nội dung “Đổi mới các điều kiện đảm bảo dạy học theo định hướng PTNL”. Luận văn: Thực trạng QL dạy học định hướng phát triển năng lực.
2.3.2. Thực trạng thực hiện nội dung dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh:
Nội dung giáo dục theo định hướng phát triển năng lực học sinh nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở cho sự hình thành và phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần, phẩm chất và năng lực. Việc thực hiện nội dung đúng đắn có quyết định lớn đến kết quả đầu ra. Qua khảo sát mức độ thực hiện nội dung dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh, kết quả thể hiện rõ ở bảng số liệu sau:
- Bảng 2.4: Mức độ thực hiện nội dung dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh
Kết quả ở bảng 2.4 cho thấy: Mức độ thực hiện các nội dung dạy học theo định hướng phát triển năng lực nhìn chung được thực hiện ở mức “thường xuyên” với ĐTB là 2.63. Nội dung dạy học được thực hiện nhiều nhất ở các trường Tiểu học thuộc thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương hiện nay là: “NDDH theo chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu phát triển năng lực HS tiểu học” (xếp hạng 1) (TBC=3,72) ở mức “thường xuyên”, “NDDH đảm bảo tính vừa sức chung và vừa sức riêng theo nhóm năng lực HS” (xếp hạng 2) (TBC=3,06) ở mức “thường xuyên”, “NDDH thiết kế theo các hoạt động học tập để phát triển năng lực HS” (xếp hạng 3) (TBC=2,78) ở mức “thường xuyên”, “Nội dung bài học khoa học, đảm bảo đủ nội dung và làm rõ trọng tâm” (xếp hạng 3) (TBC=2,78) ở mức “thường xuyên”.
Các nội dung dạy học theo định hướng phát triển năng lực “ít thường xuyên” được thực hiện như: “Tăng nội dung vận dụng kiến thức giải quyết các vấn đề thực tiễn phù hợp trình độ học sinh tiểu học” (xếp hạng 7) (TBC=2,18) ở mức “ ít thường xuyên”; “Thiết kế NDDH tích hợp giáo dục (bảo vệ môi trường, an toàn giao thông….)” (xếp hạng 9, TBC=2,04) ở mức “ ít thường xuyên” ; “Thiết kế nội dung dạy học liên môn” (xếp hạng 8) (TBC=2,14) ở mức “ ít thường xuyên” . Các nội dung dạy học theo định hướng phát triển năng lực ít thường xuyên được thực hiện cho thấy thực trạng đáng quan ngại về việc thực hiện các nội dung này ở trường tiểu học thuộc thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình
Dương hiện nay. Vì các nội dung mà các thầy cô lựa chọn không được thực hiện ở trường mình có vai trò rất quan trọng trong việc định hướng phát triển năng lực của học sinh, như: Thiết kế nội dung dạy học liên môn (ĐTB = 2.14) ở mức “ ít thường xuyên”; Tăng nội dung vận dụng kiến thức giải quyết các vấn đề thực tiễn phù hợp trình độ học sinh tiểu học (ĐTB = 2.18) ở mức “ ít thường xuyên”; Thiết kế NDDH tích hợp giáo dục (bảo vệ môi trường, an toàn giao thông. ) (ĐTB = 2.04) ở mức “ ít thường xuyên”.
Tóm lại, theo đánh giá của các GV và CBQL, ưu điểm trong việc thực hiện nội dung dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh là “NDDH theo chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu phát triển năng lực HS tiểu học”, “NDDH đảm bảo tính vừa sức chung và vừa sức riêng theo nhóm NĂNG LỰC HS”, “NDDH thiết kế theo các hoạt động học tập để phát triển năng lực HS”, “Nội dung bài học khoa học, đảm bảo đủ nội dung và làm rõ trọng tâm” được thực hiện thường xuyên. Các nội dung ít được thực hiện thường xuyên như “Tăng nội dung vận dụng kiến thức giải quyết các vấn đề thực tiễn phù hợp trình độ học sinh tiểu học”; “Thiết kế NDDH tích hợp giáo dục (bảo vệ môi trường, an toàn giao thông. )”; “Thiết kế nội dung dạy học liên môn”.
2.3.3. Thực trạng về phương pháp và kĩ thuật dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh: Luận văn: Thực trạng QL dạy học định hướng phát triển năng lực.
Phương pháp và kĩ thuật dạy học là cách thức giáo dục nhằm đạt được mục tiêu giáo dục. Lựa chọn phương pháp, kĩ thuật giáo dục nào phù hợp với từng nội dung chương trình giáo dục thể hiện tính khoa học và nghệ thuật của nhà giáo dục, đòi hỏi sự linh hoạt, mềm dẻo đảm bảo tính khoa học và nhân văn trong từng nội dung thực hiện. Để thực hiện tốt các nội dung chương trình, việc lựa chọn phương pháp và kĩ thuật dạy học nào hay kết hợp chặt chẽ, đan xen các hình thức nhằm đạt được mục tiêu giáo dục cao nhất có ý nghĩa quan trọng. Qua khảo sát thực trạng về phương pháp và kĩ thuật dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh thu được kết quả sau:
- Bảng 2.5: Mức độ sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học theo định hướng phát triển năng lực
Kết quả ở bảng 2.5 cho thấy, ĐTB đánh giá chung của GV và CBQL là 2,28 mức độ “ít thường xuyên”, điều này có nghĩa các phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực ít được thực hiện thường xuyên.
Cụ thể, phương pháp “Đàm thoại” xếp hạng 1 cao nhất (TBC=3,52) ở mức “rất thường xuyên”, tiếp đến là “Trực quan” hạng 2 (TBC=3,10) ở mức “thường xuyên”, “Trò chơi” hạng 3 (TBC=2,60) ở mức “thường xuyên”, “Tình huống” hạng 4 (TBC=2,58) ở mức “thường xuyên”. Tất cả những phương pháp này đều có ĐTB trên 2.51, ở mức thường xuyên được thực hiện.
Tuy nhiên, với các phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh có thứ hạng 5, 6, 7, chúng có ĐTB tương đối thấp, ở mức từ không thực hiện cho đến ít thực hiện cụ thể: Các phương pháp ít được thực hiện bao gồm “Thảo luận nhóm” hạng 5 (TBC=2,12) ở mức “ ít thường xuyên” ;
“Đóng vai” hạng 6 (TBC=2,08) ở mức “ ít thường xuyên”; “Thực hành, trải nghiệm” hạng 7 TBC=1,94) ở mức “ ít thường xuyên”. Tuy nhiên, cần chú ý phương pháp “Bàn tay nặn bột” hạng 9 (TBC=1,62) ở mức“ không thực hiện” và “Dạy học theo dự án” hạng 10 (TBC=1,40) ở mức “ không thực hiện”. Vì nó là phương pháp có thứ hạng thấp nhất với ĐTB thuộc mức không thực hiện.
Tóm lại, từ kết quả khảo sát cho thấy: các phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực là phương pháp “Đàm thoại”, “Trực quan”, “Trò chơi”, “Tình huống” được thực hiện thường xuyên. Ngược lại, hạn chế là các phương pháp “Bàn tay nặn bột” và “Dạy học theo dự án”chúng cần được quan tâm chú ý thực hiện nhiều hơn nữa. Thực tế khi trao đổi với GV1 cô cho biết: “Các phương pháp trò chơi, thảo luận nhóm, đóng vai được sử dụng thường xuyên tuy khi tổ chức phương pháp tuy gây ồn ào, có chút ảnh hưởng đến các lớp học xung quanh nhưng học sinh rất thích thú. Còn phương pháp bàn tay nặn bột, dạy học theo dự án, thực hành trải nghiệm thì hầu như không thực hiện vì khi sử dụng phương pháp này cần chuẩn bị nhiều, thay đổi bố trí lớp học nên thực hiện không khả thi, sử dụng phương pháp truyền thống là thường xuyên”
2.3.4. Thực trạng về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh:
Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học là một yếu tố không thể thiếu trong quá trình dạy học, nó góp phần quan trọng cho sự thành công của quá trình dạy học. Mức độ sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học có sự ảnh hưởng rất lớn đến việc tiếp thu kiến thức của học sinh tiểu học. Thực trạng sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh được khảo sát và thể hiện qua bảng số liệu sau: Luận văn: Thực trạng QL dạy học định hướng phát triển năng lực.
- Bảng 2.6: Mức độ sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học theo định hướng phát triển năng lực
Kết quả ở bảng 2.6 cho thấy, cán bộ giáo viên đánh giá cao mức độ sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh, ĐTB là 2.56 (ở mức thường xuyên). Cụ thể, tỉ lệ phương tiện dạy học được sử dụng rất thường xuyên và thường xuyên nhất là: “Sử dụng sách giáo khoa” (xếp hạng1) (TBC=3,64) ở mức “rất thường xuyên”; “Sử dụng tài liệu tham khảo” (xếp hạng 2) (TBC=3,16) ở mức “thường xuyên ; “Sử dụng đồ dùng dạy học tự làm” (xếp hạng 3) (TBC=2,94) ở mức “ thường xuyên”.
- Tỉ lệ phương tiện dạy học ít thường xuyên được sử dụng, không thực hiện:
“Sử dụng máy quay phim, chụp ảnh” (xếp hạng 10) (TBC=1,32) ở mức “không thực hiện”; “Sử dụng máy tính, máy chiếu” (Xếp hạng 9) (TBC=2,22) ở mức “ít thường xuyên”; “Sử dụng đồ dùng thực tế trong đời sống” (Xếp hạng 8) (TBC=2,36) ở mức “ít thường xuyên”; “Sử dụng Internet” (Xếp hạng 7) (TBC=2,38) ở mức “ít thường xuyên”, đây là nhóm cơ sở vật chất, thiết bị không được sử dụng hoặc ít dùng đến.
Tóm lại, các thành tựu đạt được trong việc sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học theo định hướng phát triển năng lực là “Sử dụng sách giáo khoa”; “Sử dụng tài liệu tham khảo”; “Sử dụng đồ dùng dạy học tự làm” do chúng được thường xuyên thực hiện. Thế nhưng, “Sử dụng máy quay phim, chụp ảnh”; “Sử dụng máy tính, máy chiếu”; “Sử dụng đồ dùng thực tế trong đời sống”; “Sử dụng Internet” là các phương tiện ít được sử dụng. Như vậy, các phương tiện kĩ thuật cao, đòi hỏi nhiều kinh phí như máy chiếu, máy quay phim… là mặt hạn chế của các trường, cần được quan tâm đầu tư hơn để nâng cao chất lượng dạy học. Thực tế khi trao đổi với HT1 thì thầy cho biết “Trường có trang bị cho mỗi lớp 1 màn hình LCD và trường có phủ Internet toàn trường nên GV có điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy, các thầy cô trẻ thì sử dụng rất thường xuyên và thành thạo tuy nhiên các cô giáo viên lớn tuổi thì không thường xuyên sử dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy. Sách giáo khoa và đồ dùng dạy học tự làm có sẵn tại phòng thư viện-thiết bị thì cũng được sử dụng thường xuyên trong giảng dạy mỗi ngày. Tuy nhiên, các phương tiện: máy quay phim, Sử dụng đồ dùng thực tế trong đời sống thì không sử dụng”. Khi trao đổi với giáo viên GV3 thì cô cũng có trao đổi như vậy.
2.3.5. Thực trạng về hình thức tổ chức dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh: Luận văn: Thực trạng QL dạy học định hướng phát triển năng lực.
Tổ chức dạy học nhằm giúp học sinh hình thành và phát triển năng, phẩm chất. Tuy nhiên, quá trình tổ chức dạy học để phát huy năng lực cá nhân, tạo điều kiện cho học sinh được sáng tạo và tương trợ lẫn nhau trong học tập thì mỗi tiết học cần sự thay đổi và thay đổi cụ thể trong mỗi giáo viên. Hình thức tổ chức dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh được thực hiện với mức độ như thế nào được thể hiện rõ qua khảo sát với bảng só liệu sau:
- Bảng 2.7: Mức độ thực hiện hình thức tổ chức dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh
Kết quả ở bảng 2.7 cho thấy từ bảng số liệu, với ĐTB là 2,64 ở mức “thường xuyên”, cán bộ giáo viên đánh giá các trường tiểu học thường xuyên thực hiện hình thức tổ chức dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh. Cụ thể, hình thức dạy học phát triển năng lực được sử dụng nhiều nhất: “Dạy học cả lớp” (hạng 1) (TBC=3,84) ở mức “rất thường xuyên”; “Dạy học theo nhóm” (hạng 2) (TBC=2,82) ở mức “thường xuyên”. Hình thức dạy học phát triển năng lực ít được sử dụng nhất: “Tổ chức ngoại khóa, tham quan” (hạng 6) (TBC=1,92) ở mức “ít thường xuyên” và “Dạy học trong môi trường thực tế” (Hạng 5) (TBC=2,06) ở mức “ít thường xuyên”.
Nhìn chung, kết quả thống kê cho thấy: Việc thực hiện hình thức tổ chức dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh đạt được các thành tựu là : “Dạy học cả lớp”; “Dạy học theo nhóm” vì chúng có mức độ thực hiện cao nhất, cần tiếp tục phát huy. Phù hợp với thực tế khi trao đổi với GV1 và GV3 cũng cho biết “dạy học nhóm, dạy học cả lớp, dạy học cá nhân và dạy học trong môi trường giả định được thường xuyên thực hiện. Còn các phương pháp dạy học thực tế và ngoại khóa thì không thực hiện”. Ngược lại, nhược điểm cần phải chú trọng hơn, đẩy mạnh thực hiện nhiều hơn là các hình thức “Tổ chức ngoại khóa, tham quan” và “Dạy học trong môi trường thực tế”. Như vậy, các hình thức liên quan đến hoạt động thực tế trong cuộc sống, kết nối giữa lí thuyết và thực hành là điều mà các thầy cô và CBQL cần phải chú ý.
2.3.6. Thực trạng về kiểm tra và đánh giá hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh:
Công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh được tiến hành xuyên suốt trong quá trình tổ chức hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh. Kiểm tra đánh giá giúp người quản lí có được những thông tin quan trọng để kịp thời điều chỉnh, bổ sung kế hoạch, các quyết định và công tác tổ chức chỉ đạo. Các hình thức kiểm tra đánh giá sẽ giúp GV và CBQL thực hiện đánh giá dễ dàng, mức độ thực hiện các hình thức kiểm tra, đánh giá theo định hướng PTNL HS thể hiện như sau: Luận văn: Thực trạng QL dạy học định hướng phát triển năng lực.
- Bảng 2.8: Mức độ sử dụng các hình thức kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh
Kết quả ở bảng 2.8 cho thấy, cán bộ giáo viên đánh giá cao mức độ thực hiện kiểm tra và đánh giá hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh, ĐTB là 2.62 “ở mức thường xuyên thực hiện”. Cụ thể, hình thức kiểm tra đánh giá được sử dụng nhiều nhất với thứ hạng từ 1 đến 4 là: “Kiểm tra viết”(TBC=3,16) “ở mức thường xuyên” , “Đánh giá thường xuyên quá trình học tập của học sinh” (TBC=3.34)“ở mức rất thường xuyên”, “Đánh giá định kì”(TBC=3,68) “ở mức rất thường xuyên” , “Đánh giá tổng kết” (TBC=3,10) “ở mức thường xuyên”. Hình thức kiểm tra đánh giá ít được sử dụng nhất: “Kiểm tra vấn đáp” (TBC=2,08) “ở mức ít thường xuyên”., “Nhận xét theo nhóm”(TBC=2,04) “ở mức ít thường xuyên”.,“Tổ chức học sinh tự đánh giá: (TBC=1,88) “ở mức ít thường xuyên”., “Tổ chức cho học sinh đánh giá đồng đẳng” (TBC=1,92) “ở mức ít thường xuyên”. (xếp hạng từ 8 đến 11). Phù hợp với thực tế khi trao đổi với GV1, GV2, GV3 và HT1, HT2, HT3 đều thực hiện đánh giá theo TT22/BGD-ĐT về đánh giá xếp loại học sinh Tiểu học.
Tóm lại, các ưu điểm trong việc sử dụng các hình thức kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh đã đạt được là “Kiểm tra viết”, “Đánh giá thường xuyên quá trình học tập của học sinh”, “Đánh giá định kì”, “Đánh giá tổng kết” với mức độ thực hiện cao. Tuy nhiên, các hình thức “Kiểm tra vấn đáp”, “Nhận xét theo nhóm”, “Tổ chức học sinh tự đánh giá: “Tổ chức cho học sinh đánh giá đồng đẳng” có mức độ thực hiện thấp. Chúng là các hạn chế mà CBQL, thầy cô cần chú ý để đa dạng hóa các phương pháp đánh giá, đổi mới tiến trình dạy học và kiểm tra đánh giá. Các hình thức kiểm tra đánh giá thông qua trao đổi trực tiếp với học sinh, lắng nghe ý kiến của các em là điều mà trường ít thực hiện. Đây là một trong các hình thức mới, được nhiều nền giáo dục tiên tiến trên thế giới áp dụng nhưng còn hạn chế ở Việt Nam.
2.4. Thực trạng quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường tiểu học thành phố Thủ Dầu Một Luận văn: Thực trạng QL dạy học định hướng phát triển năng lực.
2.4.1. Thực trạng quản lý kế hoạch, chương trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh:
Quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh đòi hỏi người quản lý cần có kế hoạch cụ thể, quản lý về nội dung chương trình cũng như các yếu tố dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh một cách khoa học. Việc quản lý ấy thể hiện rõ từng mức độ trong bảng số liệu sau:
- Bảng 2.9. Mức độ thực hiện quản lý kế hoạch, chương trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh
Kết quả ở bảng 2.9 cho thấy các cách thức quản lý kế hoạch, chương trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh có ĐTB là 2.66 “mức thường xuyên”. Cụ thể, hình thức được sử dụng nhiều nhất: “Phổ biến kế hoạch, chương trình, văn bản chỉ đạo chuyên môn của Bộ, Sở GDĐT, nhà trường đến GV” (hạng 1) (TBC=3,02) ở mức “thường xuyên”; “CBQL xây dựng kế hoạch dạy học của Trường và tổ CM” (hạng 2) (TBC=2,92) ở mức “thường xuyên”; “CBQL nắm vững kế hoạch, chương trình dạy học các môn học” (hạng 3) (TBC=2,88) ở mức “thường xuyên”.
Hình thức thực hiện quản lý kế hoạch, chương trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ít được sử dụng nhất: “Chỉ đạo, hướng dẫn GV lập kế hoạch dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh” (hạng 7) (TBC=2,10) ở mức “ít thường xuyên”; “Hướng dẫn các quy định, yêu cầu về lập kế hoạch bài học của GV” (hạng 6) (TBC=2,34) ở mức “ ít thường xuyên”
Tóm lại, việc quản lý kế hoạch, chương trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh đạt được các thành tựu là “Phổ biến kế hoạch, chương trình, văn bản chỉ đạo chuyên môn của Bộ, Sở GDĐT, nhà trường đến GV”; “CBQL xây dựng kế hoạch dạy học của Trường và tổ CM”; “CBQL nắm vững kế hoạch, chương trình dạy học các môn học” vì chúng được quan tâm chú ý thực hiện thường xuyên. Khi trao đổi với HT0001 thì được cô cho biết “Trong cuộc họp đầu năm học nhà trường luôn triển khai đầy đủ kế hoạch chương trình đế giáo viên, phổ biến các văn bản chỉ đạo của ngành, hiện nay thì trong các cuộc họp hàng tháng vẫn triển khai văn bản đến giáo viên kịp thời”.
Trao đổi với GV2 cô cho biết: “GV chúng tôi đều được triển khai kế hoạch chương trình và được triển khai văn bản kịp thời”. Thế nhưng, mặt hạn chế cần phải chú ý là các nội dung “Chỉ đạo, hướng dẫn GV lập kế hoạch dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh”; “Hướng dẫn các quy định, yêu cầu về lập kế hoạch bài học của GV” vì ít được thực hiện nhất. Có thể thấy, các CBQL cần chú ý hơn trong việc thực hiện trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn GV của mình. Thêm vào đó, các GV cũng có nhu cầu tập huấn, hướng các qui định mới trong việc dạy học theo định hướng mới là phát triển năng lực học sinh. Điều này là rất cần thiết bởi một sự đổi mới nào cũng cần được hướng dẫn rõ ràng để các thầy cô hiểu được và thực hiện đúng.
2.4.2. Thực trạng hoạt động chỉ đạo hoạt động dạy học của giáo viên theo định hướng phát triển năng lực học sinh: Luận văn: Thực trạng QL dạy học định hướng phát triển năng lực.
Để quản lý hiệu quả hoạt động dạy học của GV theo định hướng phát triển năng lực học sinh, trước hết CBQL cần chỉ đạo thực hiện tốt về quản lý việc xây dựng và thực hiện kế hoạch dạy học phải dựa vào chương trình dạy học quy định phần cứng và phần mềm, dựa vào trình độ, kỹ năng sư phạm của giáo viên, khả năng học sinh, kết quả học tập của các năm trước và điều kiện cụ thể của nhà trường đảm bảo cho dạy học. Mức độ thực hiện việc quản lý hoạt động dạy của giáo viên theo định hướng phát triển năng lực học sinh được thể hiện qua bảng số liệu sau:
- Bảng 2.10: Mức độ thực hiện việc quản lý hoạt động dạy của giáo viên theo định hướng phát triển năng lực học sinh
Kết quả ở bảng 2.10 cho thấy, cán bộ giáo viên đánh giá mức độ thực hiện việc quản lý hoạt động dạy của giáo viên theo định hướng phát triển năng lực học sinh chỉ ở mức “ít thường xuyên” với ĐTB là 2,22. Đây là một điều mà các CBQL ở các trường tiểu học của thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương cần phải chú ý trong việc nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh.
Cụ thể, mức độ thực hiện việc quản lý hoạt động dạy của giáo viên theo định hướng phát triển năng lực học sinh khác nhau giữa các hoạt động. Các hoạt động được tiến hành nhiều nhất với thứ hạng cao nhất (từ 1 đến 4): “Chỉ đạo, hướng dẫn GV thiết kế và thực hiện bài học theo hướng phát triển năng lực” (TBC=2,22) ở mức “ít thường xuyên”, “Quản lý giờ dạy của GV thông qua TKB, kế hoạch dạy học, sổ báo giảng” (TBC=3,10) ở mức “ thường xuyên”, “Quy định chế độ thông tin báo cáo, sắp xếp, thay thế hoặc dạy bù trong trường hợp vắng GV(TBC=3,12) ở mức “ thường xuyên””, “Quản lý hồ sơ chuyên môn của GV” (TBC=2,76) ở mức “ thường xuyên”.
Phù hợp với thực tế khi trao đổi với HT3 “ban giám hiệu quản lý hoạt động của giáo viên dựa vào hồ sơ sổ sách được nộp lên hàng tháng, đánh giá kết quả học tập của học sinh thông qua việc đánh giá báo cáo hàng tháng của GV và các buổi dự giờ thăm lớp. Bên cạnh đó chúng tôi bồi dưỡng giáo viên phương pháp dạy học tích cực qua các tiết dạy minh họa theo chuyên đề tháng, qua các cuộc họp chuyên môn hàng tháng cũng chỉ thực hiện 1 lần/ 1 tháng”.
- Các hoạt động ít được thực hiện với thứ hạng thấp nhất (từ 10 đến 13):
“Xây dựng chuẩn giờ lên lớp theo theo hướng phát triển năng lực học sinh” (TBC=1,78) ở mức “ít thường xuyên”, “Tổ chức dự giờ, thao giảng và phân tich giờ dạy của GV theo hướng phát triển năng lực học sinh” (TBC=1,92) ở mức “ít thường xuyên”, “Tổ chức, hướng dẫn GV, bồi dưỡng, nắm vững PPDH tích cực” (ĐTB=1,74) ở mức “không thực hiện”, “Cung cấp tài liệu, sách báo khoa học về dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS” (TBC=1,78) ở mức “không thực hiện”.
Tóm lại, từ số liệu khảo sát cho thấy: Việc quản lý hoạt động dạy của giáo viên theo định hướng phát triển năng lực học sinh đạt được các thành tựu là “Chỉ đạo, hướng dẫn GV thiết kế và thực hiện bài học theo hướng phát triển năng lực”, “Quản lý giờ dạy của GV thông qua TKB, kế hoạch dạy học, sổ báo giảng”, “Quy định chế độ thông tin báo cáo, sắp xếp, thay thế hoặc dạy bù trong trường hợp vắng GV”, “Quản lý hồ sơ chuyên môn của GV”. Đây là các nội dung được thực hiện nhiều nhất. Trái lại, “Xây dựng chuẩn giờ lên lớp theo theo hướng phát triển năng lực học sinh”, “Tổ chức dự giờ, thao giảng và phân tich giờ dạy của GV theo hướng phát triển năng lực học sinh”, “Tổ chức, hướng dẫn GV, bồi dưỡng, nắm vững PPDH tích cực”, “Cung cấp tài liệu, sách báo khoa học về dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS” là các mặt hạn chế cần chú ý vì ít được thực hiện. Như vậy, các giáo viên cần có các tiêu chuẩn giảng dạy cụ thể để thực hiện cũng như được nhận xét, đánh giá khi thực hiện các tiêu chuẩn mới này. Thêm vào đó, trong thực tế giảng dạy theo định hướng mới, các thầy cô cũng cần được hỗ trợ, bồi dưỡng và hướng dẫn lẫn cung cấp thêm nguồn tài nguyên sách vở để tham khảo thì mới nâng cao nhận thức về dạy học phát triển năng lực học sinh. Luận văn: Thực trạng QL dạy học định hướng phát triển năng lực.
2.4.3. Thực trạng công tác tổ chức hoạt động học của học sinh tiểu học theo định hướng phát triển năng lực:
Hoạt động học của học sinh phần nào đánh giá quá trình giảng dạy của GV và công tác quản lý của CBQL, kết quả đầu ra của học sinh góp phần giúp CBQL có sự điều chỉnh hợp lý hơn công tác quản lý hoạt động học đối với học sinh của mình. Việc thực hiện quản lý hoạt động học của học sinh được thực hiện ở mức độ sau:
- Bảng 2.11: Mức độ thực hiện việc quản lý hoạt động học của học sinh theo định hướng phát triển năng lực
Kết quả ở bảng 2.11 cho thấy: cán bộ giáo viên đánh giá việc quản lý hoạt động học của học sinh theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh ở mức độ thấp với ĐTB là 2,40 “ở mức ít thực hiện”. Trong đó, mức độ thực hiện việc quản lý hoạt động học của học sinh theo định hướng phát triển năng lực có sự khác nhau.
Cụ thể, hoạt động được thực hiện nhiều nhất: “Chỉ đạo GV nắm vững trình độ, năng lực, tình hình học tập của học sinh, kịp thời điều chỉnh HS” (xếp hạng 1) (TBC=3,0) ở mức “thường xuyên”, “Tổ chức kiểm tra việc chấp hành các quy định, nề nếp học tập” (xếp hạng 2) (TBC=2,78) ở mức “thường xuyên”, “Tổ chức chỉ đạo GV giáo dục mục đích, động cơ học tập của học sinh” (xếp hạng 3)(TBC=2,56) ở mức “thường xuyên”. Hoạt động thực hiện ít nhất với thứ hạng đứng cuối là: “Tổ chức các hoạt động ngoại khóa học tập cho HS theo định hướng phát triển năng lực” (xếp hạng 7) (TBC=2,08) ở mức “ít thường xuyên”, “Tổ chức, hướng dẫn học sinh lập kế hoạch tự học” (xếp hạng 8) (TBC=1,90) ở mức “ít thường xuyên”
Nói chung, số liệu khảo sát cho thấy: Việc quản lý hoạt động học của học sinh theo định hướng phát triển năng lực đạt được các thành tựu là “Chỉ đạo GV nắm vững trình độ, năng lực, tình hình học tập của học sinh, kịp thời điều chỉnh HS”, “Tổ chức kiểm tra việc chấp hành các quy định, nề nếp học tập”, “Tổ chức chỉ đạo GV giáo dục mục đích, động cơ học tập của học sinh”. Đây là các nội dung được thực hiện nhiều nhất. Khi trao đổi với GV2 cô có nói “tôi luôn khuyến khích học sinh nói lên sự hiểu biết của mình, mạnh dạn trong các hoạt động để tôi có dịp nắm bắt tình hình học tập của học sinh, chấn chỉnh các em ngay khi thấy các em chưa đúng. Về thực hiện nề nếp học tập tôi luôn khen thưởng kịp thời khi các em thực hiện tốt và chấn chỉnh ngay các em thực hiện sai quy định nề nếp lớp học”. Trái lại, cần phải chú ý các hạn chế sau vì chúng ít được thực hiện. Đó chính là “Tổ chức các hoạt động ngoại khóa học tập cho HS theo định hướng phát triển năng lực”, “Tổ chức, hướng dẫn học sinh lập kế hoạch tự học”. Ta thấy, các nội dung liên quan đến việc kết nối giữa nhà trường và thực tiễn cuộc sống, cho các em học sinh thực hành, khám phá đời sống thực để rút gắn khoảng cách giữa lí thuyết và thực tiễn là điểm yếu của trường. CBQL cần phải chú ý nâng cao thực hiện việc này nhiều hơn.
2.4.4. Thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh: Luận văn: Thực trạng QL dạy học định hướng phát triển năng lực.
Kiểm tra đánh giá là bộ phận không thể tách rời của quá trình dạy học, là động lực để thúc đẩy sự đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới quản lý. Việc thực hiện quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh là một yêu cầu rất cần thiết, thể hiện rõ mức độ thực hiện qua bảng số liệu sau:
- Bảng 2.12: Mức độ thực hiện việc quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh
Kết quả ở bảng 2.12 cho thấy: cán bộ giáo viên đã đánh giá việc quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh “ít thường xuyên” với ĐTB là 2,36. Cụ thể, hoạt động được thực hiện thường xuyên nhất: “Tổ chức, hướng dẫn GV ra đề, chấm, trả bài đúng quy định” (hạng 1) (TBC=3,12) ở mức “thường xuyên”, “Kiểm tra việc thực hiện ghi điểm, vào sổ điểm, nhập điểm vào trang web” (hạng 2) (TBC=3,00) ở mức “thường xuyên”, “Nâng cao nhận thức của GV về đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS theo định hướng phát triển năng lực” (hạng 3) (TBC=2,28) ở mức “ít thường xuyên”.
Hoạt động quản lý việc kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh ít được thực hiện nhất: “Tổ chức tập huấn bồi dưỡng GV về phương pháp, kĩ thuật đánh giá HS” (hạng 6) (TBC=1,82) ở mức “ ít thường xuyên”, “Chỉ đạo ứng dụng CNTT trong đánh giá và quản lý kết quả học tập của HS” (hạng 5) (TBC=1,86) ở mức “ít thường xuyên”. Ta thấy, có sự chênh lệch lớn trong ĐTB mức độ thực hiện các nội dung quản lý việc kiểm tra, đánh giá giữa nhóm có thứ hạng cao với nhóm có thứ hạng thấp. Điều này cho thấy các nội dung được thực hiện không đồng đều, có nội dung bị bỏ sót.
Tóm lại, kết quả khảo sát cho thấy: Ưu điểm trong việc quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh là các nội dung : “Tổ chức, hướng dẫn GV ra đề, chấm, trả bài đúng quy định”, “Kiểm tra việc thực hiện ghi điểm, vào sổ điểm, nhập điểm vào trang web”, “Nâng cao nhận thức của GV về đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS theo định hướng phát triển năng lực”. Đây là các nội dung được thực hiện nhiều nhất.
Ngược lại, cần phải chú ý các nội dung còn hạn chế, ít được thực hiện là “Tổ chức tập huấn bồi dưỡng GV về phương pháp, kĩ thuật đánh giá HS”, “Chỉ đạo ứng dụng CNTT trong đánh giá và quản lý kết quả học tập của HS”. Như vậy, kết quả một lần nữa cho thấy nhu cầu cần được bồi dưỡng, huấn luyện của các thầy cô để thực hiện tốt việc giảng dạy theo định hướng mới, cụ thể là hướng dẫn cách kiểm tra, đánh giá học sinh. Thêm vào đó, việc ứng dụng CNTT cũng là điều mà nhà trường cần xem xét đầu tư trang thiết bị và đưa vào sử dụng thực tế. Đây có thể là một điều khó khăn cho trường với tình hình kinh phí thấp. Trao đổi với HT1, HT2, GV2 thì đều nhận được câu trả lời “ tất cả GV đều được triển khai học tập lại việc đánh giá học sinh trước khi tiến hành các kì kiểm tra. GV tiến hành gửi đề tham khảo, tổ chức chấm bài có sự giám sát của ban giám hiệu, trả bài đúng quy định, công khai kết quả khi được sự cho phép của ban giám hiệu nhà trường”.
2.4.5. Thực trạng quản lý các điều kiện phục vụ cho hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh:
Quản lý các điều kiện phục vụ cho hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh là một khâu rất cần thiết làm nên sự thành công của quá trình dạy học, việc thực hiện quản lý ấy thể hiện các mức độ sau:
- Bảng 2.13: Mức độ thực hiện việc quản lý các điều kiện phục vụ cho hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh Luận văn: Thực trạng QL dạy học định hướng phát triển năng lực.
Kết quả ở bảng 2.13 cho thấy: cán bộ giáo viên đánh giá mức độ thực hiện việc quản lý các điều kiện phục vụ cho hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh có ĐTB chung là 2,21 ở mức “ít thực hiện”. Cụ thể, hoạt động được thực hiện nhiều nhất: “Theo dõi, đánh giá việc sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học” (hạng 1) (TBC=2,48) ở mức “ít thường xuyên”, “Xây dựng kế hoạch trang bị, bổ sung thiết bị và đồ dùng dạy học” (hạng 2) (TBC=2,40) ở mức “ít thường xuyên”. Hoạt động ít được thực hiện nhất: “Sử dụng kết quả kiểm tra việc sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học để đánh giá GV” (Hạng 5)(TBC=1,84) ở mức “ít thường xuyên”.
Nói chung, “Theo dõi, đánh giá việc sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học”, “Xây dựng kế hoạch trang bị, bổ sung thiết bị và đồ dùng dạy học” là những thành tựu đạt được trong công tác quản lý các điều kiện phục vụ cho hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh vì chúng được thực hiện nhiều nhất. Ngược lại, “Sử dụng kết quả kiểm tra việc sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học để đánh giá GV” là hạn chế cần chú ý thực hiện nhiều hơn. Như vậy, ta thấy, công tác áp dụng kết quả kiểm tra đánh giá vào thực tiễn dạy học là điều mà các CBQL cần phải chú ý hơn. Mọi kết quả khảo sát, kiểm tra là để các giáo viên nắm được thực trạng giảng dạy để cải thiện.
2.5. Đánh giá chung và nguyên nhân thực trạng quản lý hoạt động dạy học trong các trường tiểu học của thành phố Thủ Dầu Một Luận văn: Thực trạng QL dạy học định hướng phát triển năng lực.
2.5.1. Đánh giá chung thực trạng
Kết quả tổng hợp thực trạng quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường tiểu học thành phố Thủ Dầu Một thể hiện trên biểu đồ sau:
- Biểu đồ 2.1: Tổng hợp thực trạng quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh
Kết quả ở biểu đồ 2.1. cho thấy, nội dung được thực hiện thường xuyên nhất là “Quản lý kế hoạch, chương trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh” (ĐTB = 2,66, ở mức thường xuyên). Kế đến là nội dung “Quản lý hoạt động học của học sinh theo định hướng phát triển năng lực” (ĐTB = 2,40, ở mức ít thường xuyên). “Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh” xếp hạng 3 (ĐTB = 2,36, ở mức ít thường xuyên). Hạng tư thuộc về nội dung “Quản lý hoạt động dạy của giáo viên theo định hướng phát triển năng lực học sinh” (ĐTB = 2,22, ở mức ít thường xuyên) và cuối cùng là “Quản lý các điều kiện phục vụ cho hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh” (ĐTB = 2,21, ở mức ít thường xuyên).
- a) Ưu điểm
Từ kết quả khảo sát cho thấy: Ưu điểm trong quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường tiểu học thành phố Thủ Dầu là: Công tác quản lý kế hoạch, chương trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh đạt được các thành tựu là “Phổ biến kế hoạch, chương trình, văn bản chỉ đạo chuyên môn của Bộ, Sở GDĐT, nhà trường đến GV”; “CBQL xây dựng kế hoạch dạy học của Trường và tổ CM”; “CBQL nắm vững kế hoạch, chương trình dạy học các môn học”. Công tác quản lý hoạt động dạy của giáo viên theo định hướng phát triển năng lực học sinh đạt được các thành tựu là “Chỉ đạo, hướng dẫn GV thiết kế và thực hiện bài học theo hướng phát triển năng lực”, “Quản lý giờ dạy của GV thông qua TKB, kế hoạch dạy học, sổ báo giảng”, “Quy định chế độ thông tin báo cáo, sắp xếp, thay thế hoặc dạy bù trong trường hợp vắng GV”, “Quản lý hồ sơ chuyên môn của GV”. Công tác quản lý hoạt động học của học sinh theo định hướng phát triển năng lực đạt được các thành tựu là “Chỉ đạo GV nắm vững trình độ, năng lực, tình hình học tập của học sinh, kịp thời điều chỉnh HS”, “Tổ chức kiểm tra việc chấp hành các quy định, nề nếp học tập”, “Tổ chức chỉ đạo GV giáo dục mục đích, động cơ học tập của học sinh”. Ưu điểm trong việc quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh là các nội dung: “Tổ chức, hướng dẫn GV ra đề, chấm, trả bài đúng quy định”, “Kiểm tra việc thực hiện ghi điểm, vào sổ điểm, nhập điểm vào trang web”, “Nâng cao nhận thức của GV về đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS theo định hướng phát triển năng lực”; “Theo dõi, đánh giá việc sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học”, “Xây dựng kế hoạch trang bị, bổ sung thiết bị và đồ dùng dạy học” là những thành tựu đạt được trong công tác quản lý các điều kiện phục vụ cho hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh. Luận văn: Thực trạng QL dạy học định hướng phát triển năng lực.
- b) Hạn chế
Nhược điểm trong quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường tiểu học thành phố Thủ Dầu Một là: Công tác quản lý kế hoạch, chương trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh bị các hạn chế là “Chỉ đạo, hướng dẫn GV lập kế hoạch dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh”; “Hướng dẫn các quy định, yêu cầu về lập kế hoạch bài học của GV”. Công tác quản lý hoạt động dạy của giáo viên theo định hướng phát triển năng lực học sinh vẫn còn các hạn chế là “Xây dựng chuẩn giờ lên lớp theo hướng phát triển năng lực học sinh”, “Tổ chức dự giờ, thao giảng và phân tich giờ dạy của GV theo hướng phát triển năng lực học sinh”, “Tổ chức, hướng dẫn GV, bồi dưỡng, nắm vững PPDH tích cực”, “Cung cấp tài liệu, sách báo khoa học về dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS”. Công tác quản lý hoạt động học của học sinh theo định hướng phát triển năng lực đạt có hạn chế là “Tổ chức các hoạt động ngoại khóa học tập cho HS theo định hướng phát triển năng lực”, “Tổ chức, hướng dẫn học sinh lập kế hoạch tự học”. Hạn chế trong việc quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh là các nội dung: “Tổ chức tập huấn bồi dưỡng GV về phương pháp, kĩ thuật đánh giá HS”, “Chỉ đạo ứng dụng CNTT trong đánh giá và quản lý kết quả học tập của HS”. “Sử dụng kết quả kiểm tra việc sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học để đánh giá GV” là những hạn chế cần chú ý trong công tác quản lý các điều kiện phục vụ cho hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh.
2.5.2. Nguyên nhân của hạn chế:
Khắc phục hạn chế sẽ giúp công tác quản lý thành công hơn, mức độ ảnh hưởng của các yếu tố hạn chế trong công tác quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS hiện nay được thể hiện như sau:
- Bảng 2.14: Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố hạn chế đối với công tác quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS hiện nay
Kết quả ở bảng 2.14 cho thấy: cán bộ giáo viên đánh giá mức độ mức độ ảnh hưởng của các yếu tố hạn chế công tác quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS ở mức ảnh hưởng, trong đó, yếu tố chủ quan có ĐTB là 2,84 ở mức “hạn chế” và cao hơn yếu tố khách quan (ĐTB = 2,74) ở mức “hạn chế”. Điều này cho thấy các mặt hạn chế trong khâu quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường tiểu học thành phố Thủ Dầu Một chịu nhiều ảnh hưởng từ các bản thân thầy cô giáo, CBQL. Luận văn: Thực trạng QL dạy học định hướng phát triển năng lực.
Cụ thể, yếu tố chủ quan ảnh hưởng nhiều nhất: “Đổi mới phương pháp dạy học trong giáo viên còn chậm, nhiều giáo viên còn dạy theo phương pháp cũ” (ĐTB=3,10) ở mức độ “hạn chế”, “Các hoạt động bồi dưỡng trình độ chuyên môn và nghiệp vụ cho CBQL, GV chưa được tổ chức nhiều”(ĐTB=3,18) ở mức độ “hạn chế” và “GV chưa có ý thức tự học hỏi, nghiên cứu tự bồi dưỡng các kiến thức về dạy học theo định hướng PTNL HS” (ĐTB=3,32) ở mức độ “rất hạn chế”. Yếu tố khách quan ảnh hưởng nhiều nhất: “Các điều kiện phục vụ dạy học chưa đáp ứng được điều kiện dạy học PTNL” (ĐTB=3,12) ở mức độ “hạn chế”, “Nhiều phụ huynh chưa nhận thức được tầm quan trọng của PTNL” (ĐTB=2,92) ở mức độ “hạn chế” và “Sách giáo khoa chưa phù hợp với dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh” (ĐTB=3,08) ở mức độ “hạn chế”. Đây là các yếu tố mà các GV và CBQL cần phải chú ý trong việc cải thiện mặt yếu trong việc quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh. Đặc biệt là các vấn đề liên quan đến điều kiện phục vụ dạy học.
Do đó, có thể kết luận là đa số các mục có ĐTB đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố hạn chế công tác quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS khác so với ĐTB=2,5. Các yếu tố này có những mức độ ảnh hưởng khác nhau. Cụ thể, ĐTB ảnh hưởng của yếu tố chủ quan chạy từ 2.26 đến 3.32; ĐTB ảnh hưởng của yếu tố khách quan chạy từ 2.46 đến 3.12, thuộc mức ít ảnh hưởng đến ảnh hưởng.
Như vậy, có thể thấy: Việc nhận thức không đồng đều ở những công việc khác nhau trong các BP QL của CBQL cấp Phòng và cấp trường dẫn đến mức độ thực hiện chưa thường xuyên ở một số BP.
CBQL cấp Phòng và cấp trường quan tâm đến việc QL xây dựng kế hoạch DH và thực hiện kế hoạch DH nhưng tính khả thi của kế hoạch DH chưa cao, kết quả đem lại chưa tương xứng với mục đích đề ra.
Việc phân công giảng dạy cho GV vẫn còn mang tính chủ quan và dựa vào cảm tính, CBQL cấp Phòng và cấp trường chưa thật khách quan, khoa học.
Công tác bồi dưỡng GV còn nhiều phụ thuộc vào các chính sách của cấp trên, CBQL cấp Phòng, cấp trường chưa thực sự chủ động, linh hoạt. Luận văn: Thực trạng QL dạy học định hướng phát triển năng lực.
Chất lượng đội ngũ GV mặc dù được nâng lên về trình độ và tay nghề. Tuy nhiên, về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ DH, khả năng tổ chức thực hiện đổi mới PPDH chưa tương xứng, chưa đồng đều trong đội ngũ của nhà trường. GV ngại đổi mới và chưa chủ động cách soạn bài, cách thiết kế bài học và tổ chức tiết học theo các PPDH tích cực, lấy HS làm trung tâm, phát triển phẩm chất, năng lực HS nhằm đáp ứng với mục tiêu đổi mới căn bản và toàn diện GD hiện nay.
Nhận thức và năng lực QL của CBQL cấp Phòng và cấp trường chưa thực sự đáp ứng việc tiến hành đổi mới QL trong GD nói chung và QL hoạt động DH tại các trường TH trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một nói riêng.
Việc QL, xây dựng kế hoạch DH còn nhiều yếu tố kinh nghiệm, chưa dựa vào yếu tố khách quan, khoa học. Bởi có CBQL cấp Phòng và cấp trường không được đào tạo hoặc không được bồi dưỡng về khoa học QL GD một cách cơ bản, một số CBQL trẻ được đào tạo cơ bản nhưng lại thiếu kinh nghiệm thực tiễn để đáp ứng được yêu cầu phát triển của GD TH hiện nay.
Cơ chế QL trường học nói chung và QL hoạt động DH nói riêng ở các trường TH trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một hiện nay còn những yếu tố chưa phù hợp và chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của kinh tế – xã hội địa phương, chưa đáp ứng được mục tiêu đổi mới căn bản và toàn diện GD TH hiện nay.
Trong QL, còn những thiếu sót chưa được khắc phục kịp thời như: phân công GV giảng dạy chưa phù hợp, sử dụng CSVC, trang TB, điều kiện hỗ trợ hoạt động DH còn nặng về hình thức, đánh giá kết quả học tập của HS chưa thực sự, công tác thi đua, khen thưởng chưa kịp thời, khách quan… đã không tạo được động lực phấn đấu giảng dạy và học tập của GV và HS trong nhà trường.
Một số nội dung, BP QL hoạt động DH trong nhà trường TH chưa có sự đổi mới để theo kịp sự phát triển của xã hội nói chung và của GD thành phố Thủ Dầu Một nói riêng trong bối cảnh đổi mới căn bản và toàn diện GD TH hiện nay.
Công tác tuyên truyền, phối hợp các nguồn lực trong và ngoài nhà trường để QL tốt hoạt động DH còn nhiều hạn.
Nguồn kinh phí đầu tư cho GD còn hạn hẹp, CSVC phục vụ dạy và học trong các trường TH trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường nhằm đáp ứng mục tiêu đổi mới căn bản và toàn diện GD TH hiện nay.
Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng QL dạy học định hướng phát triển năng lực.
Thực trạng QL hoạt động DH theo định hướng phát triển năng lực học sinh tiểu học của CBQL cấp Phòng và cấp trường ở các trường TH trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, cho thấy: QL hoạt động DH của CBQL cấp Phòng và cấp trường ở các trường TH đã đạt được một số kết quả đáng phấn khởi như: chất lượng dạy và học trong nhà trường ổn định và có sự phát triển, CSVC phục vụ dạy và học được khai thác có hiệu quả và được nâng cao, nề nếp dạy và học được củng cố,… Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đó còn những tồn tại như: việc thực hiện kế hoạch DH chưa được đánh giá đúng mức; chất lượng GD trong các trường, các bộ môn chưa đồng đều, chưa thực sự phát huy được tính tích cực của HS, chưa thực sự phát triển phẩm chất và năng lực HS; công tác bồi dưỡng GV chưa thực sự có hiệu quả,.. để đáp ứng mục tiêu đổi mới căn bản và toàn diện GD TH.
Công tác QL hoạt động dạy và học ở các trường TH có phần chưa phản ánh đúng thực chất kết quả GD – ĐT, chưa đáp ứng mục tiêu đổi mới căn bản và toàn diện GD TH, chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội mà trước hết là nhân dân thành phố Thủ Dầu Một.
Các nguyên nhân tồn tại, hạn chế cơ bản của công tác QL hoạt động DH ở các trường TH trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một của CBQL cấp Phòng và cấp trường được xác định, nhằm mục đích để CBQL cấp Phòng và cấp trường khắc phục, cải tiến trong công tác QL cho phù hợp với mục tiêu đổi mới căn bản và toàn diện GD TH hiện nay.
Kết quả nghiên cứu thực trạng trên, đã chứng minh các vấn đề lý luận về QL hoạt động DH trong nhà trường TH ở chương l là hoàn toàn đúng đắn. Đồng thời, đây cũng là căn cứ, là cơ sở để xây dựng các BP nhằm tăng cường QL hoạt động DH ở các trường TH trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một trong bối cảnh đổi mới căn bản và toàn diện GD. Luận văn: Thực trạng QL dạy học định hướng phát triển năng lực.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp QL dạy học định hướng phát triển năng lực

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
