Luận văn: Thực trạng đội ngũ giảng viên tại cơ sở giáo dục đại học

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng đội ngũ giảng viên tại cơ sở giáo dục đại học hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giảng viên đáp ứng yêu cầu kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục đại học ở Trường Sĩ quan Công binh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát về Trường Sĩ quan Công binh

Trường SQCB thành lập ngày 26/12/1955 ở xã Ninh Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, đến tháng 4 năm 1977, Nhà trường vào tiếp quản Thành Công binh của quân đội Ngụy trước đây, hiện nay đóng quân trên địa bàn hành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương, trung tâm huấn luyện thực hành ở huyện Bắc Tân Uyên, Bình Dương.

Nhà trường với nhiệm vụ trung tâm là đào tạo sĩ quan chỉ huy kỹ thuật công binh cấp phân đội có trình độ bậc đại học, ngoài ra còn phải đào tạo nhiều đối tượng khác như: hoàn thiện đại học, đào tạo chỉ huy tham mưu lữ đoàn công binh, chuyển loại cán bộ chính trị, đào tạo sĩ quan dự bị, đào tạo cán bộ có trình độ cao đẳng cho Bộ Công an và đào tạo học viên quốc tế Lào và Campuchia. Trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước, tháng 9/1998, Nhà trường chính thức được giao nhiệm vụ đào tạo đại học, năm 2002, nhà trường được giao nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực phục vụ CNH, HĐH (đào tạo sinh viên dân sự). Tháng 8 năm 2019, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 1359/QĐ-TTg thành lập Trường Đại học Ngô Quyền trên cơ sở Trường SQCB. Trải qua 65 năm xây dựng và trưởng thành, Nhà trường được Đảng, Nhà nước tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý, năm 2014, Nhà trường được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang.

Trường SQCB nằm trong hệ thống nhà trường Quân đội và hệ thống giáo dục quốc dân là tổ chức có tư cách pháp nhân, hoạt động dưới sự lãnh đạo của Quân ủy Trung ương và BQP mà trực tiếp là Đảng ủy Binh chủng và BTLCB; sự chỉ đạo của các cơ quan chức năng BQP. Nhà trường được biên chế tổ chức theo hệ thống nhà trường quân đội gồm: Ban Giám hiệu, 05 cơ quan, 03 Ban trực thuộc, 08 khoa giảng viên, 07 tiểu đoàn, 01 hệ quản lý sinh viên dân sự, 01 trung tâm tin học và ngoại ngữ.

Bước vào thời kỳ đổi mới đất nước, Nhà trường còn tham gia đào tạo nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đặc biệt, từ khi thực hiện Nghị quyết 86-NQ/ĐUQSTW của Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương) về công tác giáo dục, đào tạo trong tình hình mới, Nhà trường được giao nhiệm vụ đào tạo đa cấp, đa ngành, trong đó nhiệm vụ đào tạo sĩ quan chỉ huy phân đội trình độ đại học là trung tâm; yêu cầu về chất lượng đào tạo ngày càng cao. Quán triệt sâu sắc nhiệm vụ, chủ động khắc phục khó khăn, tập thể cán bộ, giảng viên, học viên, QNCN, CNVCQP, HSQ-BS đã đoàn kết, quyết tâm xây dựng Nhà trường luôn vững mạnh toàn diện và đạt thành tích xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Để nâng cao chất lượng đào tạo, công tác xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo được Nhà trường ưu tiên hàng đầu; bằng nhiều biện pháp tích cực kết hợp đào tạo bồi dưỡng tại chỗ, tại chức với gửi đi đào tạo tại các trường trong và ngoài Quân đội, ĐNGV đã có sự phát triển vượt bậc về chất lượng. Từ chỗ chỉ có 27,7% có trình độ đại học (năm 1992), đến nay ĐNGV: 100% tốt nghiệp đại học, trong đó 75% có trình độ sau đại học, 19 tiến sĩ, 01 Phó Giáo sư; 101 thạc sĩ; 100% có trình độ ngoại ngữ, tin học đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ dạy học và nghiên cứu khoa học, 10 đồng chí được phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú, 48 Nhà Giáo giỏi BQP, 36 đồng chí được công nhận đạt chuẩn chức danh giảng viên chính. Tuy nhiên vẫn còn nhiều tồn tại hạn chế như: Chất lượng ĐNGV chưa đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, một số bộ môn chưa có giảng viên có trình độ cao, tỷ lệ cán bộ, giảng viên có trình độ tiến sĩ quy đổi theo số sinh viên còn thấp so với mặt bằng chung cả nước, chưa đáp ứng được yêu cầu KĐCL cơ sở giáo dục đại học. Luận văn: Thực trạng đội ngũ giảng viên tại cơ sở giáo dục đại học.

  • Bảng 2.1. Tình hình ĐNGV của Trường Sĩ quan Công binh

2.2. Tổ chức khảo sát thực trạng quản lý phát triển đội ngũ giảng viên theo hướng đảm bảo chất lượng cơ sở giáo dục đại học ở Trường Sĩ quan Công binh

2.2.1. Mục đích khảo sát

Mục đích khảo sát nhằm đánh giá thực trạng phát triển ĐNGV cũng như các biện pháp quản lý phát triển ĐNGV ở Trường SQCB, trên cơ sở đó đánh giá những kết quả đã đạt được, những ưu điểm và hạn chế trong thực trạng phát triển ĐNGV cũng như các biện pháp quản lý phát triển ĐNGV, các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý phát triển ĐNGV, từ đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao kết quả quản lý phát triển ĐNGV ở Trường SQCB.

2.2.2. Nội dung điều tra, khảo sát

Nội dung khảo sát thực trạng phát triển ĐNGV cũng như các biện pháp quản lý phát triển ĐNGV ở Trường SQCB tập trung vào các vấn đề chính sau đây:

  • Khảo sát thực trạng ĐNGV Trường
  • Khảo sát thực trạng biện pháp quản lý phát triển ĐNGV theo hướng KĐCL cơ sở giáo dục đại học ở Trường SQCB.
  • Khảo sát thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến biện pháp quản lý phát triển ĐNGV theo hướng KĐCL cơ sở giáo dục đại học ở Trường SQCB.

2.2.3. Đối tượng khảo sát

Tổ chức khảo sát thực trạng quản lý phát triển đội ngũ giảng viên đáp ứng yêu cầu kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục đại học ở Trường Sĩ quan Công binh.

Đề tài tiến hành khảo sát 145 người, trong đó 47 người là cán bộ quản lý từ cấp trung đội trở lên và 98 người là giảng viên, trợ giáo hướng dẫn thực hành.

2.2.4. Công cụ điều tra, khảo sát Luận văn: Thực trạng đội ngũ giảng viên tại cơ sở giáo dục đại học.

Công cụ khảo sát là bảng hỏi là hệ thống các câu hỏi nghiên cứu, tìm hiểu về:

  • Nhận thức về ý nghĩa, công việc cốt lõi trong xây dựng và phát triển ĐNGV của Trường SQCB.

Thực trạng ĐNGV trường SQCB gồm:

  • Thực trạng thực hiện nhiệm vụ của giảng viên.
  • Thực trạng thực hiện tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng.
  • Thực trạng thực hiện tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ.

Thực trạng thực hiện các biện pháp quản lý phát triển ĐNGV đáp ứng yêu cầu KĐCL cơ sở giáo dục đại học ở Trường SQCB về các mặt:

  • Quy hoạch phát triển ĐNGV.
  • Tuyển chọn giảng viên.
  • Sử dụng ĐNGV.
  • Đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV.
  • Đánh giá, xếp loại theo chuẩn.

Thực trạng mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến thực hiện các biện pháp quản lý phát triển ĐNGV đáp ứng yêu cầu KĐCL tại trường SQCB.

2.2.5. Cách tiến hành khảo sát

  • Lập phiếu khảo sát để trưng cầu ý kiến của cán bộ quản lý và giảng viên, nhân viên của nhà trường

Việc triển khai phiếu điều tra được tiến hành theo các bước sau đây:

  • Bước 1: Hình thành phiếu điều tra;
  • Bước 2: Soạn phiếu điều tra;
  • Bước 3: Chọn mẫu khách thể điều tra;
  • Bước 4: Tổ chức lấy ý kiến qua phiếu điều tra và trao đổi với khách thể khảo sát về những vấn đề cần nghiên cứu nhưng chưa được đề cập trong phiếu điều tra; Luận văn: Thực trạng đội ngũ giảng viên tại cơ sở giáo dục đại học.
  • Bước 5: Xử lý thông tin từ các phiếu điều tra.

Trao đổi, phỏng vấn theo chủ đề

  • Nội dung các chủ đề trao đổi tập trung vào các vấn đề sau đây:
  • Thực trạng phát triển ĐNGV.
  • Thực trạng quản lý phát triển ĐNGV theo hướng KĐCL cơ sở giáo dục đại học. Những thuận lợi và khó khăn trong phát triển ĐNGV và quản lý phát triển ĐNGV theo hướng KĐCL cơ sở giáo dục đại học.
  • Những đánh giá về thực trạng quản lý phát triển ĐNGV theo hướng KĐCL cơ sở giáo dục đại học.

Việc triển khai phương pháp trao đổi, phỏng vấn theo chủ đề được tiến hành theo các bước như sau: Xác định các loại khách thể cần trao đổi, thông báo trước cho đối tượng về chủ đề, nội dung trao đổi. Các thành viên tham gia trao đổi chuẩn bị trước những thông tin cần thiết. Tiến hành trao đổi theo các chủ đề đã soạn thảo trước; Xử lý các thông tin thu thập được qua trao đổi.

2.2.6. Đánh giá kết quả khảo sát

Các phiếu điều tra, các ý kiến trả lời phiếu khảo sát được tập hợp lại theo phương pháp thống kê toán học, với ba mức độ, cao, trung bình và thấp.

2.2.7. Cách thức xử lý số liệu

Sau khi thu thập dữ liệu từ các phiếu khảo sát, được quy ra điểm ở các mức độ khác nhau của từng tiêu chí, sử dụng phương pháp thống kê toán học và phần mềm SPSS phiên bản 20.0 để tính điểm trung bình, độ lệch chuẩn, tính hệ số tương quan, từ đó phân tích và rút ra các kết luận về thực trạng. Qui ước thang đo cụ thể như sau:

  • Mức độ cần thiết: cần thiết: 3 điểm; bình thường: 2 điểm; ít cần thiết: 1 điểm;
  • Mức độ thực hiện: tốt: 3 điểm; khá: 2 điểm; trung bình: 1 điểm;
  • Mức độ ảnh hưởng: nhiều: 3 điểm; vừa phải: 2 điểm; ít ảnh hưởng: 1 điểm;
  • Mức độ khả thi: khả thi: 3 điểm; bình thường: 2 điểm; ít khả thi: 1 điểm.

2.3. Thực trạng đội ngũ giảng viên ở Trường Sĩ quan Công binh Luận văn: Thực trạng đội ngũ giảng viên tại cơ sở giáo dục đại học.

2.3.1. Nhận thức của cán bộ giảng viên về phát triển đội ngũ giảng viên của Trường Sĩ quan Công binh

  • Nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng của phát triển ĐNGV

Khảo sát ý kiến cán bộ giảng viên trường SQCB về ý nghĩa, tầm quan trọng của phát triển ĐNGV đáp ứng yêu cầu KĐCL cơ sở giáo dục đại học chúng tôi thu được kết quả ở bảng 2.2 như sau:

  • Bảng 2. 2. Ý kiến của cán bộ giảng viên ý nghĩa, tầm quan trọng của việc xây dựng ĐNGV

Kết quả nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc xây dựng ĐNGV Trường khá cao, với 2,78 điểm. Mặt khác, có thể nhận thấy kết quả nhận thức trên từng ý nghĩa đều ở mức cao. Cụ thể, ở ý nghĩa “Thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học, phục vụ quốc phòng, phục vụ cộng đồng” với kết quả 2,86 điểm. Điều này hoàn toàn phù hợp với yêu cầu thực tiễn cũng như sự vận động, phát triển của một nhà trường trong việc thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm, đó là đào tạo, nghiên cứu khoa học. Do nhận thức được các ý nghĩa quan trọng như vậy sẽ là cơ sở và là động lực quan trọng để nhà trường chủ động xây dựng và phát triển ĐNGV không ngừng đảm bảo về chất lượng, số lượng. Từ nhận thức về thực tế này, không khó để thấy nhận thức về ý nghĩa “Đảm bảo cho ĐNGV đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, hợp lý về cơ cấu” có kết quả rất cao, với 2,80 điểm. Hơn nữa, nhận thức này làm cơ sở và giúp cho việc nhận thức quản lý giảng viên “Phát huy được thế mạnh của ngành công binh trong xây dựng quốc phòng và phục vụ cộng đồng xã hội” đúng định hướng, quan điểm, do vậy ý nghĩa này cũng được nhận thức với kết quả rất cao, với 2,71 điểm.

Tóm lại, kết quả nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc xây dựng ĐNGV của trường có kết quả cao cả về mức độ cần thiết và đánh giá mức độ thực hiện, trong đó ý nghĩa đảm bảo cho ĐNGV đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, hợp lý về cơ cấu và thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học, phục vụ quốc phòng, phục vụ cộng đồng đồng thời có kết quả nhận thức mức độ cần thiết và kết quả thực hiện trội hơn cả.

2.3.2. Thực trạng nhận thức về công việc cốt lõi trong xây dựng và phát triển ĐNGV của Trường Sĩ quan Công binh Luận văn: Thực trạng đội ngũ giảng viên tại cơ sở giáo dục đại học.

Khảo sát ý kiến của cán bộ, giảng viên trường SQCB về công việc cốt lõi trong xây dựng và phát triển ĐNGV chúng tôi thu được kết quả ở bảng 2.3 như sau:

  • Bảng 2.3. Ý kiến của CBGV về các công việc cốt lõi trong xây dựng và phát triển ĐNGV của trường

Có thể thấy kết quả nhận thức 2,59 điểm ở đánh giá chung về các công việc cốt lõi trong xây dựng và phát triển ĐNGV của Trường SQCB là khá tích cực, vừa thể hiện cho sự thống nhất trong nhận thức cũng như tạo động lực để cán bộ quản lý chú trọng vào công tác xây dựng ĐNGV có chất lượng tốt về chuyên môn, năng lực giảng dạy và nghiên cứu khoa học phục vụ cho ngành và cộng đồng.

Các công việc cốt lõi có kết quả khảo sát nổi trội là “Xác định rõ mục tiêu xây dựng và phát triển ĐNGV của trường” với 2,72 điểm, ngoài ra còn có các công việc cốt lõi khác cũng thể hiện nhận thức với kết quả rất cao như: “Xây dựng quy hoạch, kế hoạch, thực hiện quy hoạch, kế hoạch xây dựng, phát triển ĐNGV” với 2,67 điểm. Định hướng phát triển của nhà trường luôn gắn với sự phát triển ĐNGV, đó là điều đảm bảo cho chất lượng đào tạo và nhà trường đã khẳng định đúng đắn vấn đề cốt lõi, trọng tâm để triển khai thực hiện bằng các kế hoạch cụ thể. Vì vậy, ngay cả với các công việc tuy có kết quả thấp hơn như “Đào tạo ĐNGV” với 2,48 điểm và “Đánh giá ĐNGV” với 2,40 điểm đã chỉ ra các khách thể rất quan tâm đến các công việc này.

Tóm lại, các công việc cốt lõi trong xây dựng và phát triển ĐNGV của trường có sự thống nhất cao giữa nhận thức và thực hiện. Công việc có kết quả nhận thức và thực hiện nổi trội là xác định rõ mục tiêu xây dựng và phát triển ĐNGV của trường, công việc có kết quả nhận thức và thực hiện thấp hơn là đánh giá ĐNGV, song trên các công việc đều cho thấy có tương quan thuận khá chặt chẽ.

2.3.2. Thực trạng chất lượng đội ngũ giảng viên của Trường Sĩ quan Công binh

Chúng tôi đã tiến hành khảo sát ý kiến của cán bộ giảng viên trường SQCB về thực trạng ĐNGV đáp ứng yêu cầu KĐCL theo tiêu chuẩn 6 Thông tư số 12/2023/TT-BGDĐT của Bộ GD&ĐT, ngày 19 tháng 5 năm 2023, ban hành quy định về KĐCL cơ sở giáo dục đại học. Kết quả khảo sát được thể hiện ở bảng 2.4 sau đây:

Bảng 2.4. Ý kiến của cán bộ giảng viên về ĐNGV trường SQCB đáp ứng yêu cầu KĐCL cơ sở giáo dục đại học

  • Nhận thức mức độ cần thiết: Luận văn: Thực trạng đội ngũ giảng viên tại cơ sở giáo dục đại học.

Nhìn chung mức độ cần thiết khi đánh giá về thực trạng quản lý nhân lực ĐNGV đáp ứng KĐCL cơ sở giáo dục đại học tương đối cao, 2,54 điểm. Thực ra đây cũng là kỳ vọng khá lớn về việc đánh giá đúng về việc quản lý phát triển ĐNGV của nhà trường, đặc biệt ở tiêu chí 6: “Thường xuyên rà soát quy trình, quy hoạch xây dựng phát triển ĐNGV, các chế độ chính sách đối với ĐNGV” kết quả đánh giá thể hiện vượt trội với 2,62 điểm. Đây không chỉ thể hiện ở nhận thức về sự cần thiết mà điều này còn được thể hiện trên cả phương diện công tác cán bộ. Cũng từ nhận thức này, có thể tạo nên sự cộng hưởng trong nhận thức trong kết quả thể hiện ở tiêu chí 1: “ĐNGV được quy hoạch đáp ứng nhu cầu đào tạo, nghiên cứu khoa học phục vụ ngành, cộng đồng xã hội” với 2,57 điểm. Việc phát triển ĐNGV được phổ biến tương đối rộng rãi trong chiến lược phát triển của nhà trường, xây dựng ĐNGV có trình độ chuyên môn vững vàng, có năng lực nghiên cứu khoa học và chuyển giao thành tựu nghiên cứu ở cả lĩnh vực quân sự và cho các hoạt động dân sự và luôn có chiến lược quảng bá rộng rãi.

Ngoài những tiêu chuẩn trên được nhận thức với kết quả khá cao, ở tiêu chí 7: “Cải tiến chế độ chính sách, quy trình, quy hoạch nguồn nhân lực để hỗ trợ đào tạo, nghiên cứu khoa học phục vụ ngành, cộng đồng” cũng có kết quả khá cao 2,56 điểm, thậm chí ở tiêu chí 3: “Xác định và xây dựng tiêu chuẩn năng lực các nhóm cán bộ, giảng viên, nhân viên” tuy kết quả thấp hơn đáng kể song vẫn tương đối cao 2,46 điểm. Nhà trường đang xây dựng đề án vị trí việc làm và trong tương lai sẽ từng bước xây dựng những tiêu chuẩn cụ thể cho từng chức danh đối với giảng viên, bởi vậy nhân thức về mức độ cần thiết của tiêu chí này khá cao.

  • Đánh giá mức độ thực hiện:

Bên cạnh việc đánh giá chung về các tiêu chí xây dựng ĐNGV đáp ứng KĐCL cơ sở đại học của Trường SQCB, đây là điều kiện cần cho việc thực hiện, cũng vì vậy đánh giá về kết quả thực hiện 2,29 điểm, đạt mức khá. Nhà trường đang từng bước xây dựng đề án vị trí việc làm, nên rất quan tâm phát triển ĐNGV đầy đủ trên 6 tiêu chí, do vậy trong đánh giá kết quả thực hiện ở tiêu chí 3: “Xác định và xây dựng tiêu chuẩn năng lực các nhóm cán bộ, giảng viên, nhân viên” kết quả đạt được rất cao, với 2,50 điểm. Để xây dựng được đề án vị trí việc làm rất cần đến việc hoàn thiện những tiêu chuẩn giảng viên, nhưng tiêu chuẩn cụ thể của giảng viên ngành công binh hiện chưa có nên hiện nhà trường đang nghiên cứu và tìm ra giải pháp xây dựng năng lực cho các vị trí chức danh cụ thể. Luận văn: Thực trạng đội ngũ giảng viên tại cơ sở giáo dục đại học.

Từ việc xác định, xây dựng tiêu chuẩn năng lực giảng viên được quan tâm tích cực, đó cũng là cơ sở quan trọng trong việc thực hiện tốt tiêu chí 2: “Tuyển dụng và lựa chọn giảng viên theo các tiêu chuẩn, tiêu chí về phẩm chất chính trị, đạo đức, học thuật” với 2,42 điểm. Trong nhà trường quân đội thì đây không chỉ là nhiệm vụ chuyên môn mà còn là ý thức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước nên kết quả thực hiện đạt được nhiều thành tích. Ngoài ra, kết quả thực hiện ở tiêu chí 7: “Cải tiến chế độ chính sách, quy trình, quy hoạch nguồn nhân lực để hỗ trợ đào tạo, nghiên cứu khoa học phục vụ ngành, cộng đồng” tuy thấp hơn với 2,10 điểm nhưng cũng phản ánh được tình hình thực tế, ngoài những chính sách chung của Nhà nước, nhà trường đã có một số chính sách để phát triển chuyên môn cho ĐNGV, đặc biệt chính sách cho đào tạo, bồi dưỡng, chính sách cho việc nghiên cứu khoa học, do vậy, trên các tiêu chí đa phần cho thấy có tương quan thuận.

Như vậy, cả 6 tiêu chí được nhận thức mức độ cần thiết khá cao, đánh giá kết quả thực hiện ở mức khá, thể hiện rõ nhất qua các tiêu chí xác định và xây dựng tiêu chuẩn năng lực các nhóm cán bộ, giảng viên, nhân viên và tuyển dụng và lựa chọn giảng viên theo các tiêu chuẩn, tiêu chí về phẩm chất chính trị, đạo đức, học thuật. Đồng thời giữa nhận thức mức độ cần thiết và đánh giá kết quả thực hiện có tương quan thuận.

2.4. Thực trạng phát triển đội ngũ giảng viên đáp ứng yêu cầu kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục đại học ở Trường Sĩ quan Công binh Luận văn: Thực trạng đội ngũ giảng viên tại cơ sở giáo dục đại học.

2.4.1. Về công tác quy hoạch phát triển đội ngũ giảng viên

Khảo sát ý kiến của cán bộ, giảng viên Trường SQCB về thực hiện quy hoạch phát triển đội ngũ giảng viên chúng tôi thu được kết quả ở bảng 2.7 như sau:

Bảng 2.5. Ý kiến của cán bộ giảng viên về thực hiện quy hoạch phát triển đội ngũ giảng viên

  • Nhận thức mức độ cần thiết:

Mức độ cần thiết có kết quả khá cao với 2,71 điểm, trong đó công tác “Lập quy hoạch, kế hoạch phát triển ĐNGV đúng quy định và phù hợp với điều kiện thực tế của đơn vị” có kết quả nhận thức nổi trội, với 2,81 điểm, ngay sau đó là kết quả nhận thức sự cần thiết của biện pháp “Lập quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV theo trình độ chuyên môn, nghiệp vụ” với 2,75 điểm. Không khó để nhận thấy Hiệu trưởng, Ban Giám hiệu Nhà trường đã có nhiều hoạt động quản lý phát triển ĐNGV phù hợp với yêu cầu thực tế, trong đó công việc quy hoạch, lập kế hoạch đáp ứng tốt các nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ đặt ra và được cụ thể hóa qua các kế hoạch cụ thể. Mặt khác, việc “Lập quy hoạch, kế hoạch về phát triển ĐNGV theo vị trí việc làm” với kết quả 2,71 điểm cũng như nhận thức về sự cần thiết của việc lập quy hoạch “Đảm bảo sự kế cận về độ tuổi” với 2,65 điểm hay “Đảm bảo cơ cấu số lượng hợp lý giảng viên giữa các môn” với 2,60 điểm. Chứng tỏ các khách thể cho rằng việc lập quy hoạch, kế hoạch phát triển ĐNGV của nhà trường rất cần được quan tâm. Vì thực tế ĐNGV của nhà trường có sự phát triển về nhiều mặt trong thời gian qua nhưng trước yêu cầu thực tiễn đang thay đổi nhanh chóng thì yêu cầu đặt ra với ĐNGV cũng rất cần được quan tâm.

  • Đánh giá mức độ thực hiện:

Nhìn chung kết quả đánh giá với 2,17 điểm, đây là kết quả chưa thật đậm nét. Tuy nhiên, trong một số công việc đã đạt được những kết quả khá tích cực, như “Lập quy hoạch, kế hoạch phát triển ĐNGV đúng quy định và phù hợp với điều kiện thực tế của đơn vị” với 2,36 điểm, thể hiện sự quan tâm của Hiệu trưởng, Ban Giám hiệu nhà trường đã chủ động phát triển ĐNGV dựa trên các điều kiện hiện có của nhà trường cũng như chiến lược phát triển, hơn nữa “Lập quy hoạch, kế hoạch về phát triển ĐNGV theo vị trí việc làm” được quan tâm khá rõ với 2,25 điểm. Ngược lại, một số công việc như “Đảm bảo cơ cấu số lượng hợp lý giảng viên giữa các môn” với 1,97 điểm và “Đảm bảo sự kế cận về độ tuổi” với 2,04 điểm, chứng tỏ các công việc này còn khá hạn chế. Tuy nhiên, giữa mức độ cần thiết và đánh giá mức độ thực hiện có tương quan ở mức trung bình khá.

Tóm lại, công tác quy hoạch phát triển ĐNGV có kết quả nhận thức sự cần thiết khá cao, nhưng kết quả thực hiện chưa thực sự đậm nét. Có tương quan thuận giữa nhận thức mức độ cần thiết và kết quả đánh giá mức độ thực hiện.

2.4.2. Tuyển chọn giảng viên Luận văn: Thực trạng đội ngũ giảng viên tại cơ sở giáo dục đại học.

Khảo sát ý kiến của cán bộ, giảng viên, trợ giảng của Trường SQCB về thực hiện biện pháp cơ bản trong tuyển chọn ĐNGV của trường chúng tôi thu được kết quả ở bảng 2.8 như sau:

Bảng 2.6. Ý kiến của cán bộ giảng viên về thực hiện biện pháp cơ bản trong tuyển chọn ĐNGV của trường

  • Nhận thức mức độ cần thiết:

Theo đánh giá chung với 2,69 điểm, đây là kết quả khá cao, chứng tỏ các khách thể được khảo sát có nhận thức khá thống nhất cho rằng việc thực hiện biện pháp cơ bản trong tuyển chọn ĐNGV của trường là rất cần thiết. Nhận thức này là cơ sở quan trọng để tổ chức thực hiện tuyển chọn được ĐNGV có chất lượng cao. Biện pháp “Công khai về tiêu chuẩn, điều kiện, số lượng, thủ tục, hồ sơ dự tuyển’ có kết quả nổi trội với 2,78 điểm. Việc tuyển chọn giảng viên của nhà trường trong những năm qua luôn có sự công khai trên báo chí, trên trang thông tin điện tử của nhà trường. Ngoài ra, nhà trường luôn ý thức rõ sự cần thiết của việc “Căn cứ vào nhu cầu thực tế, kế hoạch, quy hoạch, biên chế ĐNGV” với kết quả 2,71 điểm. Các khoa căn cứ vào nhu cầu thực tế báo cáo nhà trường về chiến lược nhân sự, nhà trường hằng năm đều có kế hoạch chung và kế hoạch phát triển ĐNGV, trước những thông tin rộng rãi, các căn cứ về mặt pháp luật được vận dụng tích cực, nên ý thức về tính “Nghiêm túc, dân chủ, công bằng” rất cao, với 2,70 điểm. Nhưng với những ứng viện trẻ, các ứng viên nộp hồ sơ tuyển dụng từ các trường ngoài lĩnh vực quân sự sẽ có những khó khăn khi đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn do nhà trường đặt ra, song điều này hoàn toàn có thể được bổ sung khi trúng tuyển họ có cơ hội được cử đi đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, chuẩn nghề nghiệp, nhưng khó khăn này cũng được ý thức khá rõ “Đảm bảo đủ các tiêu chuẩn giảng viên đại học theo chuẩn nghề nghiệp dạy học ở bậc đại học” với 2,61 điểm, tiến tới thực hiện tốt việc thực hiện tuyển chọn giảng viên.

  • Đánh giá mức độ thực hiện: Luận văn: Thực trạng đội ngũ giảng viên tại cơ sở giáo dục đại học.

Đánh giá trên mẫu chung với 2,23 điểm, đây là kết quả khá cao bởi trong bối cảnh đổi mới giáo dục cũng như việc xác định vị trí việc làm, xây dựng bản mô tả công việc đang đặt ra cho các trường không ít khó khăn để tuyển chọn được ĐNGV đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn theo yêu cầu mới, song thực tế ở biện pháp “Đảm bảo đủ các tiêu chuẩn giảng viên đại học theo chuẩn nghề nghiệp dạy học ở bậc đại học” kết quả thực hiện tương đối cao, với 2,37 điểm, cùng với đó còn có biện pháp “Kịp thời, hợp lý, đúng quy định của Luật Cán bộ công chức, viên chức, Luật Giáo dục, Luật Sĩ quan” cũng có kết quả khá tích cực với 2,26 điểm. Nhà trường luôn chủ động bám sát các quy định, tiêu chuẩn, quy chế về công tác cán bộ của Đảng và Nhà nước, của BQP và tiêu chuẩn giảng viên của Bộ GD&ĐT. Đây là những căn cứ quan trọng và đang được triển khai rộng rãi, công khai nên kết quả thực hiện có sự đồng thuận tương đối cao trong nhà trường cũng như sự ủng hộ của các cấp quản lý.

Ngay cả biện pháp “Nghiêm túc, dân chủ, công bằng” có kết quả đánh giá ở mức trung bình khá 2,12 điểm nhưng kết quả thể hiện cho tính kỷ luật trong nhà trường quân đội, luôn có sự thẳng thắn, sự chính trực của cán bộ quản lý, sự thống nhất trong hành động giữa cán bộ quản lý và giảng viên, nhân viên. Mức độ cần thiết và mức độ thực hiện có tương quan thuận ở hầu hết biện pháp, ngoại trừ biện pháp nghiêm túc, dân chủ, công bằng và công khai về tiêu chuẩn, điều kiện, số lượng, thủ tục, hồ sơ dự tuyển, đó có thể là do chưa có sự thống nhất trong nhận thức giữa các nhóm khách thể, vấn đề này rất cần được quan tâm hơn.

Tóm lại, kết quả nhận thức cũng như kết quả thực hiện khá cao, nhưng nổi trội ở các biện pháp căn cứ vào nhu cầu thực tế, kế hoạch, quy hoạch, biên chế ĐNGV và đảm bảo đủ các tiêu chuẩn giảng viên đại học theo chuẩn nghề nghiệp dạy học ở bậc đại học.

2.4.3. Sử dụng đội ngũ giảng viên

Khảo sát ý kiến của cán bộ, giảng viên, trợ giảng của Trường SQCB về thực hiện biện pháp cơ bản trong sử dụng ĐNGV của trường chúng tôi thu được kết quả ở bảng 2.9 như sau:

Bảng 2.7. Thực hiện biện pháp cơ bản trong sử dụng ĐNGV của trường 1 điểm ≤ ĐTB ≤ 3 điểm

  • Nhận thức mức độ cần thiết: Luận văn: Thực trạng đội ngũ giảng viên tại cơ sở giáo dục đại học.

Mức điểm khảo sát nhận thức sự cần thiết của việc thực hiện biện pháp cơ bản trong sử dụng ĐNGV của trường rất cao, với 2,74 điểm. Điều này có cơ sở khẳng định rằng các khách thể kỳ vọng rất lớn đối với đội ngũ cán bộ quản lý có đủ phẩm chất, năng lực, kinh nghiệm quản lý phát triển ĐNGV để dẫn dắt nhà trường. Tiêu chuẩn “Bổ nhiệm, bổ nhiệm lại cán bộ quản lý ĐNGV đảm bảo tiêu chuẩn, nguyên tắc theo quy định” có kết quả khảo sát nổi trội, với 2,83 điểm. Trên thực tế, đã có các văn bản hướng dẫn việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại khá rõ ràng, Điều 51 Luật Cán bộ, công chức năm 2014 quy định việc bổ nhiệm đối với công chức, viên chức giữ chức vụ quản lý là phải căn cứu vào nhu cầu, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị và căn cứ vào các tiêu chuẩn, điều kiện của chức vụ quản lý. Ngoài ra còn có hướng dẫn chi tiết tại Điều 40, Nghị định 24 năm 2016. nêu rõ, tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm lại theo từng chức danh, hồ sơ, độ tuổi, sức khỏe và còn được thực hiện dựa trên khoản 5 Điều 6 Quyết định 27/2003/QĐ-TTg, cán bộ được bổ nhiệm lại không trong thời gian bị thi hành kỷ luật từ hình thức khiển trách đến cách chức. Mặt khác, biện pháp “Phân công nhiệm vụ phù hợp với trình độ chuyên môn đã được đào tạo” với 2,79 điểm và “Bố trí, phân công giảng viên vào khoa, bộ môn, nhóm chuyên môn đúng yêu cầu, hợp lý” với 2,74 điểm, các kết quả này cho thấy ý nghĩa thực sự của việc sử dụng ĐNGV, ngay cả với biện pháp “Phân công giảng viên căn cứ vào nhu cầu nhân lực của cơ sở đào tạo” có kết quả nhận thức thấp hơn, với 2,64 điểm nhưng kết quả này hoàn toàn khẳng định mức độ cần thiết được nhận thức khá đậm nét.

  • Đánh giá mức độ thực hiện:

Kết quả thực hiện việc sử dụng ĐNGV thấp hơn đáng kể, với 2,15 điểm so với kết quả nhận thức mức độ cần thiết. Công tác cán bộ luôn là vấn đề khó nhất trong mọi cái khó về quản lý phát triển ĐNGV, bởi mỗi người có nhu cầu, năng lực, sở trường, sở đoản riêng. Vì lẽ đó, ngay cả ở biện pháp “Bố trí, phân công giảng viên vào khoa, bộ môn, nhóm chuyên môn đúng yêu cầu, hợp lý” với 2,24 điểm, kết quả thực hiện trội hơn, nhưng chỉ đạt ở mức khá và việc xác định đúng trình độ thực tế, năng lực, kinh nghiệm và thế mạnh của mỗi giảng viên là điều rất khó khăn, cũng như đánh giá đúng tiềm năng để sự dụng càng trở nên khó khăn, cho nên việc “Phân công nhiệm vụ phù hợp với trình độ chuyên môn đã được đào tạo” chỉ với 2,20 điểm. Các giảng viên đều được bố trí theo đúng trình độ được đào tạo, theo chuyên ngành đào tạo và theo ngạch bậc, nhưng thực tế có những giảng viên có thể giảng dạy tốt ở một số môn học, trong khi đó có một số giảng viên kết quả đào tạo rất có chất lượng nhưng còn trẻ, nên việc bố trí, sắp xếp cần có sự chuẩn bị rất kỹ.

Bên cạnh việc sử dụng ĐNGV, với đội ngũ cán bộ quản lý, việc “Bổ nhiệm, bổ nhiệm lại cán bộ quản lý ĐNGV đảm bảo tiêu chuẩn, nguyên tắc theo quy định” có kết quả thấp hơn đáng kể, với 2,03 điểm. Tuy có sự khác biệt khá rõ về kết quả đánh giá trên từng biện pháp cũng như theo mẫu chung, nhưng giữa mức độ cần thiết và mức độ thực hiện đều có tương quan thuận ở mức trung bình.

Tóm lại, thực trạng quản lý sử dụng ĐNGV có kết quả nhận thức chung khá cao, trong đó các biện pháp như phân công nhiệm vụ phù hợp với trình độ chuyên môn đã được đào tạo đạt được những kết quả tích cực, song kết quả thực hiện bổ nhiệm, bổ nhiệm lại cán bộ quản lý, ĐNGV đảm bảo tiêu chuẩn, nguyên tắc theo quy định chưa đáp ứng tốt yêu cầu thực tế.

2.4.4. Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên Luận văn: Thực trạng đội ngũ giảng viên tại cơ sở giáo dục đại học.

Khảo sát ý kiến của cán bộ, giảng viên của Trường SQCB về công tác đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV của trường chúng tôi thu được kết quả ở bảng 2.11 như sau: Bảng 2.8. Ý kiến của cán bộ giảng viên về công tác đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV của trường

  • Nhận thức mức độ cần thiết:

Kết quả đánh giá chung việc thực hiện biện pháp cơ bản trong đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV với 2,58 điểm, chứng tỏ các khách thể đã ý thức rất rõ về sự cần thiết của các hoạt động này. Hơn nữa, có thể thấy một số nội dung có kết quả đánh giá khá cao như “Đường lối, chính sách, Nghị quyết về phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, an ninh quốc gia, an toàn xã hội” với 2,71 điểm, “Lý luận chính trị, chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” với 2,68 điểm. Một trong những yêu cầu quan trọng hàng đầu đối với giảng viên các trường quân sự là nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, nên các kết quả khảo sát trên phản ánh được tinh thần và trách nhiệm của giảng viên không chỉ trong hoạt động chuyên môn mà còn thể hiện ý thức chính trị rất rõ.

Ngoài ra “Các chuyên đề đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp, sử dụng các phương tiện, thiết bị hiện đại trong dạy học, huấn luyện học viên” với 2,61 điểm. Trước yêu cầu đổi mới giáo dục theo hướng tiếp cận năng lực theo tinh thần Nghị quyết 29 của Đảng và Văn kiện Đại hội XII được giảng viên nhà trường tiếp thu đầy đủ nên luôn có ý thức về việc đổi mới nội dung giảng dạy, phương pháp giảng dạy, đồng thời nhà trường luôn ý thức được điều này nên thường xuyên cử giảng viên đi học tập, nâng cao trình độ về việc sử dụng trang thiết bị, phương tiện, thiết bị dạy học nên có thể nói giảng viên của nhà trường có nhận thức khá thống nhất trong việc tự bồi dưỡng khả năng sử dụng trang thiết bị vào việc nâng cao kết quả giảng dạy. Cũng vì vậy, một trong những nội dung khá khó khi thực hiện là “Nâng cao trình độ tin học, sử dụng công nghệ 4M trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học phục vụ quân đội và cộng đồng” nhưng cũng có kết quả 2,43 điểm, rất khả quan để nâng cao kết quả thực hành hoạt động giảng dạy.

  • Đánh giá mức độ thực hiện: Luận văn: Thực trạng đội ngũ giảng viên tại cơ sở giáo dục đại học.

So với kết quả nhận thức mức độ cần thiết, kết quả đánh giá mức độ thực hiện thấp hơn đáng kể, với 2,22 điểm. Tuy nhiên, ở một số biện pháp, kết quả thực hiện khá cao như xây dựng, bồi dưỡng về “Lý luận chính trị, chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” với 2,47 điểm và “Đường lối, chính sách, Nghị quyết về phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, an ninh quốc gia, an toàn xã hội” với 2,35 điểm. Sau khi được tuyển dụng, ĐNGV, kể cả giảng viên lý luận chung vẫn tiếp tục được cử đi đào tạo, nghiên cứu chuyên sâu về quan điểm, đường lối của Đảng, bởi trong nhà trường quân đội, việc bồi dưỡng lý tưởng cách mạng không phải chỉ là đào tạo hay bồi dưỡng một lần mà đó còn là nhiệm vụ có tính thường xuyên, để củng cố, nâng cao đạo đức cách mạng của giảng viên công tác trong nhà trường quân đội.

Bên cạnh những biện pháp có kết quả khá khả quan thì các biện pháp “Nâng cao trình độ ngoại ngữ đạt chuẩn nghề nghiệp giảng viên đại học” với 2,08 điểm và “Nâng cao trình độ tin học, sử dụng công nghệ 4M trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học phục vụ quân đội và cộng đồng” với 1,97 điểm. Có thể thấy đây không chỉ là hạn chế riêng của nhà trường mà cũng là hạn chế chung của đội ngũ giảng hiện nay trong các nhà trường đó là năng lực sử dụng ngoại ngữ và năng lực ứng dụng khoa học, công nghệ vào giảng dạy, nguyên nhân cơ bản là ngay từ khâu đào tạo trong nhà trường, nội dung, phương pháp đào tạo vẫn khá coi trọng dạy học theo tiếp cận nội dung nên chưa hình thành được những năng lực chuyên môn, nghiệp vụ theo yêu cầu của thị trường lao động, cho nên chưa đáp ứng tốt yêu cầu KĐCL giáo dục. Kiểm định tương quan cho thấy có tương quan thuận ở mức trung bình giữa mức độ cần thiết và mức độ thực hiện.

Tóm lại, thực trạng đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng khá tích cực, song ở khía cạnh bồi dưỡng ngoại ngữ, năng lực chuyên sâu về khoa học công nghệ chưa thực sự đạt được hiệu quả như mong muốn, nên kết quả tương quan thuận giữa mức độ cần thiết và mức độ thực hiện không cao.

2.4.5. Đánh giá, xếp loại theo chuẩn

Khảo sát ý kiến của cán bộ, giảng viên của Trường SQCB về công tác đánh giá, xếp loại ĐNGV của trường chúng tôi thu được kết quả ở bảng 2.12 như sau:

Bảng 2.9. Ý kiến của cán bộ giảng viên về công tác đánh giá, xếp loại ĐNGV của trường

  • Nhận thức mức độ cần thiết: Luận văn: Thực trạng đội ngũ giảng viên tại cơ sở giáo dục đại học.

Có thể khẳng định với kết quả 2,65 điểm trên mẫu chung cho thấy mức độ cần thiết được các khách thể đánh giá cao và đậm nét, trong đó xét trên từng yếu tố cho thấy nổi trội là “Kết luận chung về đánh giá, xếp loại, thông báo công khai”, với 2,72 điểm và “Tiến hành theo quy trình đánh giá, xếp loại giảng viên theo tiêu chuẩn: giảng viên tự đánh giá, xếp loại; tổ bộ môn đánh giá, xếp loại; Khoa đánh giá, xếp loại; Nhà trường đánh giá, xếp loại” với 2,70 điểm. Các kết quả này thể hiện đặc sắc của một nhà trường quân sự với những yếu tố như tính công khai, minh bạch các thông tin theo quy định của Bộ GD&ĐT, theo quy định của BQP và những quy định, quy chế về công tác cán bộ, công tác đánh giá, xếp loại của nhà trường. Mặt khác các kết quả đánh giá giảng viên hằng năm đều thể hiện khá rõ quy trình đánh giá với các bước được tiến hành tuần tự: giảng viên nhận xét, đánh giá về bản thân, tập thể đánh giá và người đứng đầu tổ bộ môn, khoa nhận xét, đánh giá, kết luận, nên thể hiện được tính dân chủ và cuối cùng là đánh giá, phê duyệt của Hiệu trưởng, điều này luôn nhận được sự tín nhiệm, đồng tình cao trong toàn thể cán bộ giảng viên của nhà trường qua các năm.

Cùng với các yếu tố trên, yếu tố “Căn cứ vào kết quả của các công nghệ thực hiện nhiệm vụ của giảng viên phản ánh đúng thực lực về phẩm chất, năng lực giảng viên” và “Sử dụng kết quả đánh giá giảng viên theo từng năm học để bình bầu danh hiệu thi đua, khen thưởng hay nhắc nhở” có kết quả khảo sát tương đối cao, lần lượt là 2,64 điểm và 2,59 điểm. Đối với giảng viên của nhà trường và với đặc thù là trường đào tạo các chuyên ngành cả dân sự và quân sự đều liên quan đến kỹ thuật nên yêu cầu đặt ra cho giảng viên giảng dạy các môn chuyên ngành đều phải nắm vững công nghệ để giảng dạy, hướng dẫn học viên. Trong đánh giá, bình xét, phân loại giảng viên hằng năm, các đánh giá đều được thực hiện rất dân chủ, công khai nên có tác dụng khích lệ giảng viên tự đánh giá và các giảng viên khác tích cực tham gia đánh giá, giúp các giảng viên nhận rõ các điểm mạnh và giảm thiểu những hạn chế ở bản thân.

  • Đánh giá mức độ thực hiện:

Kết quả đánh giá chung với 2,24 điểm, thực chất đây là kết quả ở mức khá, phản ánh thực trạng đánh giá, xếp loại theo chuẩn đã đạt được những thành tích nhất định. Trong số các nội dung đánh giá “Kết luận chung về đánh giá, xếp loại, thông báo công khai” có kết quả trội hơn, với 2,39, cùng với nội dung này còn có các nội dung “Căn cứ vào kết quả của các công nghệ thực hiện nhiệm vụ của giảng viên phản ánh đúng thực lực về phẩm chất, năng lực giảng viên” với 2,31 điểm và “Đảm bảo tính trung thực, toàn diện, dân chủ, công bằng” với 2,23 điểm được đánh giá với kết quả nổi trội. Những kết quả này ghi nhận việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở đã được thực hiện có hiệu quả cũng như trách nhiệm của người đứng đầu đã được phát huy tương đối tích cực, tạo nên sự quy tụ, sự đồng thuận, bởi ngay từ khâu nhận thức mức độ cần thiết, các nội dung có kết quả khảo sát tương đối tích cực. Đó cũng là nguyên nhân quan trọng chứng minh nội dung “Tiến hành theo quy trình đánh giá, xếp loại giảng viên theo tiêu chuẩn: giảng viên tự đánh giá, xếp loại; tổ bộ môn đánh giá, xếp loại; khoa đánh giá, xếp loại; Nhà trường đánh giá, xếp loại” có kết quả thấp hơn, với 2,12 điểm. Trên thực tế trong những năm qua có nhiều văn bản hướng dẫn, đánh giá, xếp loại nên gây không ít khó khăn cho việc bình xét, phân loại, đánh giá và sự khống chế mức độ kết quả hoàn thành nhiệm vụ khi tiến hành bình xét. Đây có thể là lý do cơ bản khiến cho việc đánh giá kết quả thực hiện chưa đạt như mong muốn, và cũng là nhu cầu, nguyện vọng của giảng viên cần có những cách đánh giá linh hoạt, tiếp cận tốt với các kết quả thực hiện hoạt động chuyên môn mà giảng viên thực hiện hằng năm. Luận văn: Thực trạng đội ngũ giảng viên tại cơ sở giáo dục đại học.

Kết quả phân tích tương quan cho thấy, giữa mức độ cần thiết và mức độ khả thi đều có tương quan thuận, tuy không cao nhưng đã chứng tỏ các nội dung được nhận thức và thực hiện khá thống nhất.

Tóm lại, nội dung kết luận chung về đánh giá, xếp loại, thông báo công khai có kết quả nhận thức về mức độ cần thiết và kết quả thực hiện nổi trội, trong khi đó biện pháp tiến hành theo quy trình đánh giá, xếp loại giảng viên theo tiêu chuẩn: giảng viên tự đánh giá, xếp loại; tổ bộ môn đánh giá, xếp loại; khoa đánh giá, xếp loại; nhà trường đánh giá, xếp loại kết quả nhận thức khá cao nhưng kết quả thực hiện chưa thực sự đậm nét. Mặt khác, các nội dung này đồng thời có tương quan thuận nhưng đa phần ở mức chưa chặt chẽ.

2.5. Thực trạng mức độ ảnh hưởng của các yêu tố đến việc thực hiện các biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên đáp ứng yêu cầu chất lượng

Khảo sát ý kiến của cán bộ, giảng viên của Trường SQCB về mức độ ảnh hưởng của các yêu tố đến việc thực hiện các biện pháp phát triển ĐNGV đáp ứng yêu cầu chất lượng chúng tôi thu được kết quả ở bảng 2.12 như sau:

Bảng 2.10. Mức độ ảnh hưởng của các yêu tố đến việc thực hiện các biện pháp phát triển ĐNGV đáp ứng yêu cầu chất lượng

Các yếu tố chủ quan và khách quan đồng thời ảnh hưởng rất đậm nét đến quản lý phát triển giảng viên đáp ứng yêu cầu KĐCL giáo dục tại Trường SQCB, có thể những ảnh hưởng cụ thể đến từng mặt như sau:

  • Ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan:

Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng ở mức cao, với 2,62 điểm, trong đó yếu tố “Sự quan tâm lãnh đạo trực tiếp, sát sao, năng lực quản lý của các cấp quản lý trong nhà trường” có ảnh hưởng rõ nhất, với 2,70 điểm, xếp thứ bậc 1. Điều này rất phù hợp với thực tế về vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp quản lý trong phát triển nhà trường nói chung cũng như trong phát triển ĐNGV, cũng có nghĩa sự quan tâm của các cấp quản lý luôn tỷ lệ thuận thới sự phát triển ĐNGV về số lượng, chất lượng và cơ cấu. Tiếp theo là ảnh hưởng của yếu tố “Sự nỗ lực, quyết tâm xây dựng ĐNGV của tổ chuyên môn”, xếp thứ bậc 2, với 2,63 điểm. Cùng với vai trò của các cấp quản lý thì tổ bộ môn có tác động trực tiếp đến sự chủ động của mỗi giảng viên trong bồi dưỡng và tự bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn. Luận văn: Thực trạng đội ngũ giảng viên tại cơ sở giáo dục đại học.

Xếp ở vị trí thứ bậc 3 là yếu tố “Phẩm chất, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ý chí phấn đấu, công tác nghiên cứu, học tập, vươn lên của giảng viên” với 2,59 điểm và cuối cùng là yếu tố “Truyền thống xây dựng nhà trường vững mạnh” có kết quả 2,54 điểm. Tuy thấp hơn các yếu tố khác nhưng có thể khẳng định truyền thống nhà trường tạo nên bản sắc, thương hiệu của nhà trường, điều này cũng được thực tế chứng minh các trường đại học lớn, có lịch sử lâu đời luôn xác lập được vị thế trên mọi phương diện về kết quả nghiên cứu khoa học, ĐNGV xuất sắc, tỷ lệ sinh viên tìm được việc làm ngay sau khi ra trường, đó cũng là cơ sở thực tiễn khẳng định về tương quan giữa bản sắc, truyền thống của nhà trường với chất lượng chuyên môn của ĐNGV.

  • Ảnh hưởng của các yếu tố khách quan

Kết quả đánh giá chung về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố khách quan với 2,60 điểm, mức điểm khá cao, trong đó ảnh hưởng đậm nét hơn là yếu tố “Chủ trương, chính sách, công tác tổ chức cán bộ, quản lý xây dựng, tổ chức quản lý nhân lực của Đảng và Nhà nước” với 2,68, xếp thứ bậc 1. Rõ ràng, sự lớn mạnh của nhà trường, chất lượng chuyên môn của giảng viên luôn phụ thuộc rất lớn vào chủ trương của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và một yếu tố khác; xếp thứ bậc 2 đó là “Sự quan tâm, chỉ đạo trực tiếp của BQP, BTLCB về công tác xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ giảng viên các trường quân đội” với 2,63 điểm. Trường SQCB thuộc quản lý trực tiếp của BTLCB, nhất là sự quản lý về công tác cán bộ và cả về mặt chuyên môn, thể hiện rõ qua một số chuyên ngành đặc thù nhà trường đào tạo cho quân đội gồm 4 chuyên ngành: Cử nhân chuyên ngành Công trình, Cầu đường, Vượt sống và Xe máy. Hơn nữa, trường còn tham gia đào tạo ở cả kỹ sư, cử nhân dân sự ở một số ngành còn có sự quản lý của chuyên môn của Bộ GD&ĐT, song giảng viên đều ý thức rõ điều này và ĐNGV đều biên chế thuộc BQP, như là sự đảm bảo chắc chắn về đạo đức, phương pháp làm việc.

Ảnh hưởng của yếu tố “Cơ chế, chính sách, chế độ đãi ngộ của Nhà nước, BQP, các điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị của trường”, xếp thứ bậc 3, với 2,60 điểm. Hiện nay, chế độ đãi ngộ của Đảng và Nhà nước đối với các nhà trường quân sự nói chung và đối với giảng viên quân sự nói riêng đã đáp ứng ngày càng tốt nhu cầu cơ bản để giảng viên yên tâm công tác. Chính vì vậy ĐNGV tốt nghiệp loại giỏi và xuất sắc thi tuyển, tuyển dụng để trở thành giảng viên của nhà trường ngày càng cao, nên chất lượng giảng viên ngày càng nâng lên để đáp ứng tốt yêu cầu của xã hội, cũng vì vậy đánh giá mức độ ảnh hưởng của yếu tố “Sự ủng hộ của xã hội” với 2,50 xếp thứ bậc 4 cho thấy xã hội đã thừa nhận chất lượng đào tạo của nhà trường, mà chất lượng đào tạo luôn phản ánh chất lượng ĐNGV.

Tóm lại, các yếu tố chủ quan và khách quan đều có ảnh hưởng tương đối đậm nét đến quản lý phát triển ĐNGV, trong đó về phía chủ quan, sự quan tâm lãnh đạo trực tiếp, sát sao, năng lực quản lý của các cấp quản lý trong nhà trường và về phía khách quan, chủ trương, chính sách, công tác tổ chức cán bộ, quản lý xây dựng, tổ chức quản lý nhân lực của Đảng và Nhà nước là những yếu tố có ảnh hưởng đậm nét hơn.

2.6. Đánh giá chung thực trạng xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên theo yêu cầu kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục Luận văn: Thực trạng đội ngũ giảng viên tại cơ sở giáo dục đại học.

  • Những kết quả đạt được:

Các khách thể được khảo sát ý thức được tầm quan trọng của việc xây dựng ĐNGV của trường luôn ở mức rất cao, cũng như vậy đa số ý nghĩa được thực hiện có kết quả khá tốt. Chính vì vậy, một số công việc cốt lõi đều có kết quả nhận thức và kết quả thực hiện khá cao. Hơn nữa, trong việc thực hiện các tiêu chí, tiêu chuẩn tuyển chọn giảng viên, nhà trường khá coi trọng các phẩm chất, năng lực và làm tốt công tác quy hoạch, lập kế hoạch tuyển dụng.

Trong việc thực hiện các tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, đối với giảng viên cao cấp, nhóm này nhận thức khá rõ về nghề nghiệp cũng như kỹ năng, kinh nghiệm thể hiện nổi trội hơn so với đánh giá trên ĐNGV chính. Mặt khác, với đánh giá nổi trội so với cán bộ quản lý, chứng tỏ giảng viên cao cấp cũng như giảng viên chính thể hiện khá đậm nét sự chủ động và trách nhiệm trong thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học.

Các biện pháp trong quản lý phát triển giảng viên tuy kết quả đạt được chưa có sự tương thích cao giữa các công việc, nhưng nhìn chung đã đạt được nhiều thành tích quan trọng, rõ nhất qua công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ giảng viên, do vậy chất lượng giảng viên ngày càng đảm bảo về chất lượng, số lượng, đồng bộ về cơ cấu.

Những hạn chế và nguyên nhân:

  • Hạn chế:

Mặc dù kết quả về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc xây dựng ĐNGV của trường về mức độ cần thiết được nhận thức với kết quả khá cao, nhưng kết quả thực hiện, giữa các ý nghĩa kết quả đạt được chưa thống nhất cao, còn có sự chênh lệch khá rõ ràng. Từ nhận thức và thực hiện như vậy, có thể có những ảnh hưởng đến việc thực hiện quản lý nhân lực ĐNGV đáp ứng KĐCL, nên kết quả thực hiện chưa tương xứng với yêu cầu thực tế.

Nhận thức và đánh giá về kết quả thực hiện các công việc cốt lõi trong xây dựng và phát triển ĐNGV chưa có sự thống nhất cao giữa kết quả nhận thức và kết quả thực hiện, trong khi nhận thức khá cao thì khi thực hiện đôi khi còn lúng túng, chưa thực sự chủ động. Luận văn: Thực trạng đội ngũ giảng viên tại cơ sở giáo dục đại học.

Kết quả thực hiện các tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giảng viên đại học trường quân sự trong tuyển chọn, sử dụng, đánh giá, bồi dưỡng tuy đã đạt được những kết quả tích cực nhưng chưa có sự thống nhất giữa cán bộ quản lý và ĐNGV. Do vậy, kết quả thực hiện các biện pháp cơ bản trong xây dựng phát triển ĐNGV của trường trong các khâu của công tác cán bộ như: Tuyển chọn giảng viên; sử dụng ĐNGV; quản lý ĐNGV; đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV và đánh giá, xếp loại theo chuẩn có sự khác biệt nhất định.

  • Nguyên nhân:

Một là, sự chủ động, kinh nghiệm và nhận thức về xây dựng phát triển ĐNGV theo yêu cầu KĐCL cơ sở giáo dục đại học chưa thống nhất, nhất là giữa cán bộ quản lý vẫn đi theo những quan điểm và cách tiếp cận theo nhiệm vụ công việc. Mặt khác, việc kiểm định chất lượng giáo dục chưa thực sự có sự gắn kết với việc các chiến lược về công tác cán bộ, nhất là chiến lược phát triển giảng viên gắn với việc tiếp cận giảng dạy theo định hướng phát triển năng lực thực tiễn của người học chưa được đặt ra như một nhiệm vụ quan trọng.

Hai là, chủ trương xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển ĐNGV theo yêu cầu KĐCL cơ sở giáo dục đại học vẫn phần nhiều dựa trên định hướng chung của BQP, Bộ GD&ĐT, chưa xây dựng được hệ thống chiến lược riêng có của nhà trường trong đào tạo ở một lĩnh vực rất đặc thù, do vậy cũng cần có chiến lược phát triển ĐNGV phù hợp với mục tiêu, yêu cầu đào tạo.

Ba là, việc thực hiện theo các yêu cầu tại Thông tư số 12/2023/TT-BGDĐT mới chỉ là những yêu cầu chung, chưa phải là những yêu cầu riêng để đào tạo học viên quân sự, nên chưa thể hiện được những đặc sắc riêng biệt, nét riêng trong chiến lược xây dựng và phát triển ĐNGV.

Bốn là, chiến lược bồi dưỡng ngoại ngữ, công nghệ thông tin, khoa học kỹ thuật, nghiên cứu khoa học ngành công binh của ĐNGV tuy được chú ý nhưng kết quả thực hiện chưa tương xứng với nhiệm vụ cũng như tiềm năng, thế mạnh của nhà trường, chưa khai thác hết thế mạnh của giảng viên trong việc chia sẻ, phổ biến kinh nghiệm học tập, nghiên cứu khoa học và xã hội hóa các nghiên cứu khoa học một cách rộng rãi.

Năm là, cơ sở vật chất, trang thiết bị phương tiện, điều kiện, kinh phí cho giảng dạy, nghiên cứu khoa học ngành công binh được đầu tư, nâng cấp tương đối tích cực, nhưng trước bối cảnh phát triển của khoa học và công nghệ, công nghệ quốc phòng thế giới, chính vì vậy việc đầu tư này còn khá khiêm tốn cũng như chế độ, chính sách cho ĐNGV mới chỉ thực hiện ở mặt bằng chung cho giảng viên ở trường quân đội mà chưa tạo được lợi thế trong chính sách thu hút trọng dụng và đãi ngộ cho giảng viên.

Tiểu kết Chương 2 Luận văn: Thực trạng đội ngũ giảng viên tại cơ sở giáo dục đại học.

Thực trạng phát triển đội ngũ giảng viên đáp ứng yêu cầu KĐCL cơ sở giáo dục ở Trường SQCB cho thấy nhận thức cũng như đánh giá về kết quả thực hiện các yêu cầu của việc xây dựng ĐNGV của trường tương đối cao nhưng giữa nhận thức và thực hiện chưa có sự nhất quán. Hơn nữa, trong thực hiện các công việc cốt lõi tuy đạt kết quả chung khá cao nhưng chưa có sự thống nhất về mặt nhận thức. Đây cũng có thể một trong những mặt tác động đến kết quả thực hiện quản lý phát triển ĐNGV đáp ứng KĐCL cơ sở đại học ở cán bộ quản lý đánh giá khá cao, trong khi đó ở giảng viên thấp hơn đáng kể…..Ngoài ra, mặc dù trong các biện pháp cơ bản trong xây dựng phát triển ĐNGV ở khâu tuyển chọn giảng viên và sử dụng ĐNGV đạt kết quả nổi trội nhưng về cơ bản so với các tiêu chuẩn KĐCL hiện hành và để đáp ứng yêu cầu phát triển của Trường trong giai đoạn tới thì các khâu quy hoạch, đào tạo, tuyển dụng, sử dụng… cần có các biện pháp kịp thời hơn nữa. Về các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện các biện pháp phát triển ĐNGV đáp ứng yêu cầu KĐCL có sự tương đồng khá rõ ở kết quả đánh giá về sự tác động của các yếu tố khách quan và chủ quan, đồng thời khá đậm nét; trong đó về phía chủ quan, sự quan tâm lãnh đạo trực tiếp, sát sao, năng lực quản lý của các cấp quản lý trong nhà trường; về phía khách quan, chủ trương, chính sách, công tác tổ chức cán bộ, quản lý xây dựng, tổ chức quản lý nhân lực của Đảng và Nhà nước là những yếu tố có ảnh hưởng đậm nét hơn. Trên cơ sở hạn chế này tác giả đề xuất các biện pháp (chương 3) phát triển đội ngũ đáp ứng yêu cầu KĐCL cơ sở giáo dục tại Trường SQCB. Luận văn: Thực trạng đội ngũ giảng viên tại cơ sở giáo dục đại học.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp đội ngũ giảng viên tại cơ sở giáo dục đại học

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993