Luận văn: Thực trạng quản lí dạy học môn Toán tại Trường tiểu học

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lí dạy học môn Toán tại Trường tiểu học hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lí hoạt động dạy học môn Toán tại Trường tiểu học Bồ Đề, Quận Long Biên, Thành phố Hà Nội dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1 Khái quát về Trường tiểu học Bồ Đề, Quận Long Biên, Thành phố Hà Nội

2.1.1. Vài nét về Trường tiểu học Bồ Đề

Ngày 12/7/1994, Theo quyết định số 134/QĐ-TCUB của UBND Huyện Gia Lâm, Trường tiểu học Bồ Đề được tách ra từ trường phổ thông cấp 1-2 Bồ Đề và được mang tên Trường PTCS cấp I Bồ Đề. Ngày 26/11/1996 Theo quyết định số 461/QĐ-TCUB của UBND Huyện Gia Lâm, trường PTCS cấp I Bồ Đề được đổi tên thành Trường tiểu học Bồ Đề.

Năm 2003, Quận Long Biên được thành lập, theo quyết định số 176/QĐ-UB, tháng 3 năm 2004 của UBND quận Long Biên, Trường tiểu học Bồ Đề chuyển từ đơn vị hành chính thuộc UBND huyện Gia Lâm quản lí sang trực thuộc đơn vị hành chính UBND quận Long Biên quản lí.

  • Hiện nay, Trường tiểu học Bồ Đề có tổng diện tích là 4.328 m2 với 1122 HS, bình quân 3,86 m2/học sinh.

Năm học 2024 – 2025, nhà trường hoàn thiện xây dựng mới, đưa vào sử dụng gồm 36 phòng học, trong đó 30 phòng học cơ bản, 06 phòng học các môn năng khiếu (Tin học, Ngoại ngữ, Âm nhạc, Mĩ thuật), trung bình mỗi phòng rộng 60,2 m2, phòng truyền thống, phòng hoạt động Đội, phòng Thư viện, phòng thiết bị giáo dục, phòng chuyên đề đều có đầy đủ trang thiết bị để GV, HS làm việc và học tập. Khối phòng hành chính quản trị có đủ các phòng: có phòng truyền thống, phòng làm việc của Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, phòng Hội đồng sư phạm, phòng kế toán, thủ quỹ, phòng văn thư, phòng y tế học đường, phòng bảo vệ, có nhà giáo dục thể chất, bếp ăn một chiều và nhà ăn phục vụ HS bán trú.

Hệ thống cơ sở vật chất của nhà trường hiện nay đáp ứng đầy đủ các yêu cầu dạy và học trong giai đoạn mới. Trường có khuôn viên đẹp, khu nhà vệ sinh, nhà để xe, hệ thống nước sạch, sân bãi của trường đáp ứng yêu cầu của hoạt động giáo dục. Thư viện của trường đạt thư viện Tiên tiến, Thiết bị đồ dùng dạy học phục vụ cho việc dạy – học của GV và HS đầy đủ; đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, học tập của cán bộ, GV, nhân viên và HS. Phòng truyền thống có trưng bày đầy đủ các số liệu và hình ảnh minh họa sinh động cụ thể quá trình phát triển của nhà trường. Luận văn: Thực trạng quản lí dạy học môn Toán tại Trường tiểu học.

  • Trường đạt Trường Tiểu học chuẩn Quốc gia mức độ I vào năm 2019;

Trường tiểu học Bồ Đề hiện có 28 lớp với 1122 HS. HS của trường đa số là con em của các gia đình bố mẹ làm thuê, cuộc sống không ổn định, số lượng HS Chùa nhiều (25 em), số lượng con hộ nghèo, cận nghèo còn cao nên việc quan tâm của cha mẹ HS đến việc học của các em còn hạn chế. Tuy vậy, các em rất có tinh thần vượt khó vươn lên trong học tập và đã có nhiều em đạt kết quả cao trong các hội thi do trường và ngành tổ chức.

Đội ngũ cán bộ GV của nhà trường gồm 46 người, trong đó: Quản lí: 03; nhân viên 04; Tổng phụ trách Đội: 01; GV trực tiếp đứng lớp: 38; đảng viên: 22; cán bộ GV có trình độ Đại học: 25, Cao đẳng: 21. Đội ngũ CB, GV, NV nhiệt huyết, năng động, tâm huyết với nghề nghiệp, yêu mến HS, được phụ huynh HS và nhân dân địa phương tin yêu.

Chi bộ nhà trường thực hiện tốt vai trò lãnh đạo trong nhà trường, liên tục đạt Chi bộ trong sạch vững mạnh. Có đầy đủ các tổ chức Công đoàn, Đội TNTP Hồ Chí Minh, Sao Nhi đồng, Ban Đại diện cha mẹ HS trường và các lớp. Các tổ chức hoạt động theo điều lệ, tích cực, hiệu quả góp phần cùng nhà trường hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giáo dục.

Với sự phấn đấu vươn lên không ngừng của tập thể nhà trường, liên tục trong những năm qua nhà trường đều được công nhận danh hiệu Tập thể lao động tiên tiến cấp Quận (Nguồn báo cáo tự đánh giá của Hiệu trưởng Trường tiểu học Bồ Đề tháng 6 năm 2025).

2.1.2. Qui mô trường, lớp

  • Số lớp học
  • Bảng 2.1: Số lớp học Trường tiểu học Bồ Đề

Trường có đủ các khối lớp từ khối lớp 1 đến khối lớp 5. HS trong cùng một khối có trình độ ngang nhau. Năm học 2024 – 2025 trường có 28 lớp học với 1122 HS, trong đó khối 1 có 7 lớp, khối 2 có 6 lớp, khối 3 có 6 lớp, khối 4 có 5 lớp, khối 5 có 4 lớp.

  • Cơ cấu khối công trình của Nhà trường
  • Bảng 2.2: Cơ cấu khối công trình Trường tiểu học Bồ Đề

Hằng năm, nhà trường căn cứ vào ngân sách được giao, các nguồn thu tại trường, lập dự toán thu chi, xây dựng qui chế chi tiêu nội bộ để sử dụng kinh phí tài chính hợp lí phát triển giáo dục. Ngay đầu mỗi năm học, Hiệu trưởng căn cứ vào nhiệm vụ năm học để xây dựng kế hoạch kiểm tra nội bộ trường học, trong đó quan tâm đến quản lí đất đai, cơ sở vật chất để phục vụ các hoạt động giáo dục một cách hiệu quả như: Kiểm tra khuôn viên, đất đai, cảnh quan, môi trường, nhà cửa, phòng làm việc, lớp học, phòng chức năng, sân bãi tập thể dục thể thao, khu vệ sinh, khu bán trú, nhà để xe và các công trình phụ trợ khác, kiểm tra các loại đồ dùng bằng gỗ, giấy, thiết bị điện. Đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ học tập.

  • Cán bộ quản lí, giáo viên và nhân viên
  • Bảng 2.3: Cán bộ quản lí, giáo viên và nhân viên Trường tiểu học Bồ Đề

Trên cơ sở đội ngũ hiện có, nhà trường phân công, sử dụng cán bộ quản lí, GV nhân viên rõ ràng, hợp lí đảm bảo hiệu quả các hoạt động dạy và học của nhà trường cũng như khai thác năng lực lợi thế của mỗi thành viên góp phần thúc đẩy hoạt động có chất lượng của nhà trường.

2.2. Tổ chức nghiên cứu thực trạng Luận văn: Thực trạng quản lí dạy học môn Toán tại Trường tiểu học.

2.2.1. Mục đích nghiên cứu thực trạng

Mục đích nghiên cứu thực trạng quản lí dạy học môn Toán tại Trường tiểu học Bồ Đề, quận Long Biên, Hà Nội để đánh giá một cách khách quan, khoa học về thực trạng tổ chức, quản lí hoạt động này, từ đó chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, những thuận lợi và khó khăn, bất cập và nguyên nhân, cung cấp cơ sở thực tiễn để xây dựng các biện pháp có tính cần thiết, khả thi và hiệu quả trong việc quản lí dạy học môn Toán tại Trường tiểu học Bồ Đề, quận Long Biên, Hà Nội.

2.2.2. Nội dung nghiên cứu thực trạng

Khảo sát và chỉ ra thực trạng hoạt động tổ chuyên môn theo hướng nghiên cứu hoạt động dạy học môn Toán tại Trường tiểu học Bồ Đề, quận Long Biên, Hà Nội.

Khảo sát và chỉ ra thực trạng quản lí dạy học môn Toán theo hướng nghiên cứu quản lí hoạt động dạy và học môn Toán tại Trường tiểu học Bồ Đề, quận Long Biên, Hà Nội.

Khảo sát và chỉ ra thực trạng các yếu tố ảnh hưởng tới quản lí hoạt động dạy học môn Toán theo hướng nghiên cứu các hoạt động dạy và học của Trường tiểu học Bồ Đề, quận Long Biên, Hà Nội.

2.2.3. Địa bàn nghiên cứu, khảo sát Luận văn: Thực trạng quản lí dạy học môn Toán tại Trường tiểu học.

  • Luận văn tiến hành nghiên cứu tại Trường tiểu học Bồ Đề, quận Long Biên, Hà Nội.

2.2.4. Phương pháp nghiên cứu thực trạng

  • Xây dựng công cụ nghiên cứu
  • Xây dựng mẫu phiếu điều tra

Công cụ nghiên cứu thực trạng được xác định gồm: phiếu trưng cầu ý kiến, các số liệu thống kê và báo cáo thứ cấp, và quản lí hoạt động dạy và học của Trường tiểu học Bồ Đề, quận Long Biên, Hà Nội như các bản kế hoạch, bản đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch,…

  • Chọn mẫu điều tra

Việc chọn mẫu được tiến hành theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản. Tổng số khách thể được chọn ra để khảo sát là: 38 CBQL và GV. Trong đó, cán bộ quản lí (Phòng GD ĐT và BGH nhà trường) 9 đồng chí; GV 29 đồng chí.

Tổ chức điều tra

  • Thu thập thông tin qua phiếu hỏi: Phát phiếu hỏi đến 38 đồng chí.
  • Thu thập thông tin từ phỏng vấn sâu: Tiến hành phỏng vấn sâu trên 9 đồng chí cán bộ quản lí, 5 GV dạy văn hóa tại Trường tiểu học Bồ Đề, quận Long Biên, Hà Nội.

Xử lí dữ liệu nghiên cứu

  • Đánh giá mức độ thực hiện quản lí dạy học môn Toán tại Trường tiểu học Bồ Đề, quận Long Biên, Hà Nội theo tiêu chí mức độ thực hiện bằng thang đo khoảng cách 3 mức độ: Tốt, Trung bình và Không tốt.

Qui ước khoảng điểm tương đương với các mức độ:

  • Xếp loại Tốt: Điểm trung bình từ 2,5 đến cận 3
  • Xếp loại Trung bình: Điểm trung bình từ 1,5 đến cận 2,5
  • Xếp loại Không tốt: Điểm trung bình từ 0,5 đến cận 1,5

Kết quả nghiên cứu thu được từ phương pháp điều tra bằng bảng hỏi sẽ được tác giả xử lí số liệu bằng thống kê toán học. Trong đó chủ yếu sử dụng trung bình số học và sử dụng tần suất, tỷ lệ phần trăm.

2.3. Thực trạng hoạt động dạy học môn Toán tại Trường tiểu học Bồ Đề

2.3.1 Thực trạng mục tiêu, nội dung, hình thức và phương pháp dạy học môn Toán tại Trường tiểu học Bồ Đề Luận văn: Thực trạng quản lí dạy học môn Toán tại Trường tiểu học.

Để đánh giá thực trạng hoạt động dạy của GV tại Trường tiểu học Bồ Đề, chúng tôi nghiên cứu bằng Phiếu trưng cầu ý kiến các đối tượng nghiên cứu. Kết quả đánh giá được thể hiện thông qua bảng số liệu sau:

  • Bảng 2.4: Kết quả đánh giá thực trạng về hình thức, phương pháp dạy học môn Toán của GV tại Trường tiểu học Bồ Đề

Kết quả đánh giá trên bảng 2.4 cho thấy thực trạng mục tiêu, nội dung, hình thức và phương pháp dạy học môn Toán tại Trường tiểu học Bồ Đề được thực hiện rất tốt. Bốn trên năm tiêu chí đánh giá kết quả đạt được ở mức “Tốt”, tỉ lệ đánh giá từ 68% đến 79%.

Hai tiêu chí 1 và 2 được đánh giá cao nhất, lần lượt là 76% và 79%. Các mục tiêu của hoạt động dạy học và thực hiện kế hoạch giảng dạy theo nội dung chương trình được các GV tại Trường tiểu học Bồ Đề nắm vững, thực hiện nghiêm túc và đạt kết quả cao.

Tiêu chí 4 đạt kết quả xếp loại trung bình, điều này cho thấy việc sử dụng các hình thức dạy học đánh giá dựa vào năng lực đầu ra của HS còn chưa được GV nắm vững một cách đầy đủ. Thực tế cho thấy, tiêu chí này trong quá trình thực hiện cũng tương đối khó để định lượng được.

2.3.2 Thực trạng hoạt động dạy môn Toán của GV tại Trường tiểu học Bồ Đề

  • Bảng 2.5: Kết quả đánh giá hoạt động dạy môn Toán của GV tại Trường tiểu học Bồ Đề

Dữ liệu bảng 2.5 cho thấy, đa số khách thể nghiên cứu của đề tài đánh giá mức độ thực hiện hoạt động giảng dạy của giáo viên dạy Toán ở mức độ trung bình, và thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau. Trong đó, GV và CBQL giáo dục có xu hướng đánh giá giáo viên là người “Thực hiện kế hoạch giảng dạy theo đúng tiến độ”, đạt 64%. Đây cũng là một trong những yêu cầu của giáo viên giảng dạy môn Toán tại Trường tiểu học Bồ Đề. Luận văn: Thực trạng quản lí dạy học môn Toán tại Trường tiểu học.

Tiếp đến, giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục đánh giá mức độ thực hiện tiêu chí cao hơn các tiêu chí khác đó là: “Nắm vững nội dung chương trình dạy học”, đạt 71% và ”Sử dụng và phối hợp nhuần nhuyễn các phương pháp đặc thù trong dạy học môn Toán”, cũng được đánh mức độ thực hiện tốt 53%. Tuy nhiên, khi được hỏi về “Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học” và “Luôn khuyến khích sự tranh luận, phát biểu của học sinh trong lớp”, tương ứng đều đạt 47%. Điều này chứng tỏ khả năng ứng dụng công nghệ thông tin vào trong quá trình dạy học của các giáo viên thấp, ít sử dụng công nghệ thông tin vào dạy học và đặc biệt giáo viên cũng ít thực hiện việc khuyến khích sự tranh luận, phát biểu của học sinh trong lớp. Đây chính là 2 tiêu chí trong nội dung này mà giáo viên và cán bộ quản lý của Nhà trường cần phải chú ý để có biện pháp thực hiện tốt hơn.

2.3.3 Thực trạng hoạt động học môn Toán của HS tại Trường tiểu học Bồ Đề

  • Bảng 2.6: Kết quả đánh giá thực trạng hoạt động học môn Toán của HS Trường tiểu học Bồ Đề

Thông qua kết quả điều tra ở bảng 2.6 cho thấy chất lượng hoạt động học của học sinh chỉ đạt ở mức Trung bình, điểm trung bình chung toàn thang đo = 2,2. Trong 6 tiêu chí xem xét trên thì có 1 tiêu chí đạt ở mức độ tốt là yêu cầu “Thực hiện tốt nội qui, qui định của trung tâm” đạt 66%. Đây là điều kiện rất quan trọng đối với HS trong học tập môn Toán. Khi thực hiện tốt các qui định này thì các em sẽ có kết quả học tập tốt.

Ngoài ra, có 1 tiêu chí đạt mức độ trung bình thấp nhất là “Trung thực trong học tập, có ý thức chống lại những hành vi sai trái trong học tập”, chỉ đạt 18% Tốt và tới 16% Không tốt. Các tiêu chí 3,4 và 6 cũng chỉ đạt ở mức độ Trung bình.

Như vậy, HS tại Trường tiểu học Bồ Đề đã chấp hành khá tốt những nội qui, qui định của Nhà trường, có tinh thần học tập nghiêm túc, ý thức trách nhiệm cao trong học tập, đa số học sinh đã biết chủ động trong học tập như tìm hiểu, huy động các kiến thức, kỹ năng cần thiết để học tốt.

2.4. Thực trạng quản lí hoạt động dạy học môn Toán tại Trường tiểu học Bồ Đề Luận văn: Thực trạng quản lí dạy học môn Toán tại Trường tiểu học.

2.4.1. Quản lí việc xây dựng và thực hiện kế hoạch dạy học

Xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch DH của mỗi GV dạy Toán trong Nhà trường là cơ sở để các cấp QL kiểm tra, đánh giá, xác định việc hoàn thành và mức độ hoàn thành công việc của GV. Tuy nhiên, để đạt được chất lượng và yêu cầu của mục tiêu GD trong Nhà trường, các cấp QL phải quan tâm và chỉ đạo để GV trong Nhà trường nhận thức đầy đủ mục đích, nội dung, phân phối chương trình của từng môn, từng lớp. Từ đó, xây dựng kế hoạch DH phù hợp với công tác giảng dạy môn Toán của GV.

  • Bảng 2.7: Kết quả đánh giá việc QL xây dựng và thực hiện kế hoạch DH môn Toán của CBQL

Việc QL xây dựng và thực hiện kế hoạch DH các BP đều có mức độ thực hiện chưa thật sự tốt, đều xếp loại “Trung bình” ở hầu hết các BP, chỉ có BP 1,3 mức độ thực hiện xếp loại “Tốt”. Kết quả thực hiện ở các BP 2, 3,4 và 5 ở mức “Không tốt” còn cao, lần lượt là 18%, 16%, 24% và 26%. Điều này phản ánh việc chỉ đạo QL chung còn chưa được các GV quan tâm đúng mức.

Sự chênh lệch trong đánh giá của CBQL cấp Phòng và cấp trường với GV và tổ trưởng qua số liệu trên phản ánh mức độ thường xuyên và không thường xuyên của các nội dung, có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chủ yếu là BP QL của các cấp QL về xây dựng và thực hiện kế hoạch DH vẫn còn những vướng mắc cần tháo gỡ để có sự thống nhất giữa xây dựng và thực hiện, giữa chủ thể QL (Ban giám hiệu) và đối tượng QL (GV và các tổ trưởng) trong Nhà trường.

2.4.2 Quản lí đổi mới phương pháp giảng dạy

  • Bảng 2.8: Kết quả đánh giá việc QL đổi mới PPDH của CBQL và GV

Kết quả thực hiện giữa các BP có sự khác nhau. Tỉ lệ GV đánh giá kết quả thực hiện tốt, cao nhất là 68% (BP 3). Tỉ lệ các BP còn lại là từ 66% xuống 55%. Tỉ lệ GV, tổ trưởng đánh giá về kết quả “Không tốt” còn chiếm nhiều như: nội dung 5 là 29%, nội dung 6 là 27%, nội dung 1 là 23%.

Những vấn đề trên đã phản ánh đúng thực trạng công tác QL đổi mới PPDH tại trường TH Bồ Đề. Công tác bồi dưỡng, tập huấn đã thực hiện đầy đủ. Tuy nhiên, thực hiện thường xuyên trong giảng dạy ở nhà trường còn nhiều vấn đề cần khắc phục như: sử dụng các TBDH, việc DH theo nhóm và DH cá thể nhằm phát huy tính tích cực trong học tập của HS, qua đó phát triển phẩm chất và năng lực HS, chất lượng một số tiết giảng dạy theo PP mới chưa đem lại kết quả rõ ràng…

2.4.3 Quản lí triển khai hoạt động dạy học của giáo viên Luận văn: Thực trạng quản lí dạy học môn Toán tại Trường tiểu học.

  • a. Quản lí triển khai hoạt động dạy học của GV thông qua việc soạn bài lên lớp

Chuẩn bị bài và soạn bài lên lớp là hoạt động của GV được tiến hành ở nhà. QL hoạt động này cần có những BP cụ thể, phù hợp như: kiểm tra giáo án đột xuất, định kỳ, duyệt giáo án giảng dạy trước một tuần,… Để đánh giá thực trạng công tác QL này tại Trường tiểu học Bồ Đề tác giả đã tiến hành khảo sát theo bảng 2.8 dưới đây.

  • Bảng 2.9: Kết quả đánh giá việc QL soạn bài lên lớp của GV

Đánh giá của GV về mức độ thực hiện các nội dung trong QL soạn bài lên lớp giữa mức độ “Tốt” là 87%; 79%; 74%; 63%; 84%; 61% và “Không tốt” là 5%; 11%; 0%; 21%; 0%; 16% (theo thứ tự các nội dung). Nội dung 4 có 21% đánh giá là “Không tốt”.

Mức độ đánh giá về các BP trên phản ánh có thể khách quan. Tuy nhiên, một số người làm công tác QL vẫn chưa thấy hết được tầm quan trọng của các BP. Do vậy, có những BP thực hiện không tốt, không được quan tâm đúng mức, nhất là việc chuẩn bị các TB giảng dạy.

Điều này nói lên QL chất lượng bài soạn của GV còn nhiều vấn đề chưa đạt yêu cầu, đồng thời việc QL của các cấp QL chưa chặt chẽ, thiếu kiểm tra, giám sát, giúp đỡ GV nên chất lượng chưa đạt yêu cầu như mong muốn. Điều này dẫn tới việc phát huy tính tích cực, tự giác của HS trong từng tiết dạy nhằm phát triển phẩm chất và năng lực HS ở Trường tiểu học Bồ Đề hiện nay chưa đạt yêu cầu như mong muốn. Nguyên nhân là do GV chưa nhận thức hết tầm quan trọng, ý nghĩa của việc soạn bài đối với chất lượng học tập của từng HS trên lớp. Vấn đề này cần phải được CBQL cấp Phòng và cấp trường, đặc biệt là CBQL nhà trường giúp GV điều chỉnh trong thời gian tới.

  • b. Quản lí triển khai hoạt động dạy học thông qua giờ lên lớp của GV

QL giờ lên lớp của GV là để tạo ra hiệu quả cao trong nhà trường là trách nhiệm của CBQL. Công việc QL đó được thực hiện với những nội dung cụ thể như: qua thời khóa biểu, kế hoạch giảng dạy, sổ đầu bài, lịch trực ban, việc dự giờ, kiểm tra, việc phản ánh của HS, kiểm tra việc sử dụng các đồ dùng TBDH… Việc QL này sẽ tạo sự ổn định, nề nếp hoạt động DH trong nhà trường và cũng là điều kiện để nâng cao chất lượng dạy và học của nhà trường. Mọi nhà trường chỉ thực sự có chất lượng trong GD- ĐT khi những giờ lên lớp của GV được QL tốt, có chất lượng và hiệu quả cao.

Từ những căn cứ trên, việc khảo sát thực trạng QL của CBQL cấp Phòng và cấp trường tại Trường tiểu học Bồ Đề được tác giả tiến hành như sau: Luận văn: Thực trạng quản lí dạy học môn Toán tại Trường tiểu học.

  • Bảng 2.10: Kết quả đánh giá CBQL cấp Phòng và cấp trường QL giờ lên lớp của GV

Kết quả khảo sát bảng 2.10 cho thấy các nội dung trong BP QL giờ dạy trên lớp của một số CBQL cấp Phòng và cấp trường chưa thực sự được chú trọng. Kết quả thực hiện 74% là mức đánh giá tốt cho nội dung 3, các nội dung còn lại kết quả thực hiện chưa thật cao, chỉ đạt 53% đến 68% là kết quả tốt. Nội dung 6 có tới 24% đánh giá ở mức độ “Không tốt”.

Việc đánh giá giữa CBQL và GV về thực hiện các nội dung trong QL giờ lên lớp có sự chênh lệch đáng kể. Như vậy, việc QL giờ lên lớp ở Trường tiểu học Bồ Đề chưa đạt hiệu quả cao như mong muốn. Việc tuyên truyền, phổ biến tầm quan trọng và mục đích của QL giờ lên lớp, cũng như cách thực hiện của CBQL cấp Phòng và cấp trường chưa hoàn toàn thuyết phục. Do đó, kết quả thực hiện chưa cao.

2.4.4 Quản lí việc sử dụng, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên

  • a. Quản lí việc phân công giảng dạy cho giáo viên

Việc phân công giảng dạy cho GV tại Trường tiểu học Bồ Đề phụ thuộc vào những qui định của Bộ GD-ĐT, CBQL vận dụng phù hợp với đặc điểm của Nhà trường. Đây là công tác QL được các CBQL Nhà trường quan tâm và đưa ra những tiêu chuẩn để làm căn cứ phân công GV giảng dạy cho phù hợp. Thực trạng công tác này được thể hiện qua kết quả sau:

  • Bảng 2.11: Kết quả đánh giá công tác QL phân công giảng dạy cho GV của CBQL nhà trường

Kết quả bảng 2.11 cho thấy CBQL nhà trường phân công giảng dạy cho GV chủ yếu căn cứ vào năng lực chuyên môn của GV, ở nội dung 1 và 3 đánh giá là 61% và 63% thực hiện “Tốt”. Điều đó chứng tỏ, năng lực chuyên môn có vai trò quan trọng đối với công tác giảng dạy của mỗi GV và đối với hoạt động DH của nhà trường.

Bên cạnh đó, việc phân công giảng dạy của GV được CBQL nhà trường quan tâm là năng lực của GV phù hợp với đặc điểm của lớp. Những lớp cuối cấp, lớp chất lượng cao thì những GV ngoài năng lực chuyên môn còn năng lực sư phạm, trách nhiệm nghề nghiệp sẽ được ưu tiên (có 63% ý kiến đồng ý). Luận văn: Thực trạng quản lí dạy học môn Toán tại Trường tiểu học.

Nội dung 4 (CBQL nhà trường phân công giảng dạy cho GV theo nguyện vọng của PHHS và HS) chỉ chiếm tỉ lệ 34% ý kiến đánh giá “Tốt”. Điều này chứng tỏ, nội dung này không là tiêu chí quan trọng để CBQL nhà trường chú trọng làm căn cứ phân công giảng dạy cho GV.

Tuy nhiên, ở nội dung 5, phân công theo cảm tính chủ quan của CBQL nhà trường vẫn có tới 37% ý kiến của GV và tổ trưởng đưa ra là “Không tốt”. Đây là vấn đề còn gây nhiều băn khoăn cho GV trong nhà trường với những ý kiến trái ngược nhau.

  • b. Quản lí việc bồi dưỡng giáo viên

Bồi dưỡng GV giảng dạy môn Toán nói riêng và GV giảng dạy của Nhà trường nói chung là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục, không thể thiếu trong chiến lược phát triển GD và của Trường tiểu học Bồ Đề. Công tác bồi dưỡng sẽ tạo điều kiện cho GV được nâng cao trình độ kiến thức về chuyên môn và xã hội, góp phần nâng cao chất lượng GD. Công tác này được CBQL Nhà trường thực hiện qua kết quả khảo sát:

  • Bảng 2.12: Kết quả đánh giá công tác QL việc bồi dưỡng GV

Kết quả bảng 2.12 cho thấy, các nội dung trong BP QL công tác bồi dưỡng GV đều được đánh giá mức độ quan tâm thực hiện “Không tốt” còn cao, từ 21% đến 32%. Trong 6 nội dung trên, nội dung 6 mức độ quan tâm và thực hiện là chưa cao so với 5 nội dung (chỉ đạt 53%). Như vậy công tác kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm BP để thực hiện tốt hơn cần phải được quan tâm thường xuyên hơn trong QL của CBQL Nhà trường.

Công tác bồi dưỡng GV được thực hiện theo chu kỳ hàng năm của Phòng GD- ĐT, được Trường tiểu học Bồ Đề thực hiện tốt. Một trong những nội dung QL bồi dưỡng GV mà CBQL cấp Phòng và cấp trường có thể làm tốt là tổ chức cho các tổ sinh hoạt chuyên môn, sinh hoạt chuyên đề, tổ chức giao lưu học tập giúp GV tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ.

2.4.5 Quản lí việc kiểm tra, đánh giá giáo viên

Kiểm tra, đánh giá là một khâu quan trọng không thể thiếu được trong quá trình GD và được thực hiện thường xuyên trong quá trình DH. Luận văn: Thực trạng quản lí dạy học môn Toán tại Trường tiểu học.

Trong Điều lệ trường TH, ban hành theo kèm theo Thông tư số 41/2016/TT- BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT, Điều 20, mục 5 đã qui định nhiệm vụ và quiền hạn của Hiệu trưởng, trong đó có nội dung: Phân công, QL, đánh giá, xếp loại; khen thưởng, thi hành kỉ luật đối với GV, NV theo qui định (Nguồn Bộ GD&ĐT, Điều lệ Trường tiểu học).

Việc kiểm tra, đánh giá GV là BP QL nhằm nâng cao chất lượng DH trong nhà trường. Thực trạng của công tác này thực hiện tại Trường tiểu học Bồ Đề được thể hiện qua bảng khảo sát sau:

  • Bảng 2.13: Kết quả đánh giá CBQL cấp Phòng và cấp trường QL kiểm tra, đánh giá GV

Kết quả được thể hiện qua bảng 2.13 đã cho thấy việc triển khai các văn bản và việc thông báo kết quả của BP kiểm tra, đánh giá GV (nội dung 1 và 4) được thực hiện tốt, kết quả tốt đều đạt được 71%.

Tuy vậy, ở nội dung: Xây dựng kế hoạch, thực hiện kế hoạch và điều chỉnh các nội dung sau khi kiểm tra đánh giá (nội dung 2, 3, 5) lại được đánh giá chưa cao. Ở mức độ này thì kết quả đạt được tốt chỉ là 55%; 53%; 58%, cũng còn 24%, 26%, 16% kết quả được đánh giá ở mức độ “Không tốt” ở ba nội dung trên.

2.4.6 Quản lí việc triển khai học tập cho học sinh

Công tác QL việc triển khai học tập cho HS trong nhà trường được người CBQL cấp Phòng và cấp trường thực hiện cơ bản ở mức độ khá tốt. Thực trạng của công tác này tại Trường tiểu học Bồ Đề được khảo sát với kết quả sau:

  • Bảng 2.14: Kết quả đánh giá việc triển khai học tập cho HS trong nhà trường

Trong nội dung 1 và 4 được CBQL, GV và tổ trưởng đánh giá mức “Tốt” là 68%; 71%. Công tác triển khai các văn bản và kiểm tra, theo dõi học tập của HS được CBQL cấp Phòng và cấp trường tổ chức, thực hiện đạt kết quả cao.

Tuy nhiên ở 3 nội dung còn lại là: Kiểm tra phân loại HS, phân công GV cho phù hợp đối tượng HS và đánh giá rút kinh nghiệm, điều chỉnh, chưa được quan tâm đúng mức. CBQL và GV đánh giá kết quả thực hiện tốt chỉ đạt 63% và cùng 53% ở hai nội dung 3 và 5, kết quả “Không tốt” từ 21% tới 26%.

Với kết quả trên có thể thấy, CBQL cấp Phòng và cấp trường chưa thực sự quan tâm nhiều tới đối tượng HS của nhà trường để tổ chức cho phù hợp. Đây là vấn đề mà GD trong nhà trường hiện nay đang dần cần có những đổi mới. Người QL, lãnh đạo nhà trường cần có sự năng động, linh hoạt trong tổ chức học tập cho HS trong nhà trường để đạt được hiệu quả cao nhất.

2.4.7 Quản lí việc hình thành kĩ năng tự học cho học sinh Luận văn: Thực trạng quản lí dạy học môn Toán tại Trường tiểu học.

  • Bảng 2.15: Kết quả đánh giá công tác QL hoạt động tự học của HS

Kết quả bảng 2.15 đã thể hiện cho BP qui định nề nếp học tập trên lớp của HS, GD ý thức động cơ và thái độ học tập được đánh giá “Tốt” khá cao (66%). CBQL Nhà trường đã quan tâm đến GD ý thức động cơ học tập cho HS, song với đa số HS có năng lực chưa đạt thì nhận thức về động cơ học tập chưa rõ ràng.

BP tổ chức theo dõi việc thực hiện nề nếp của HS, GD PP học tập cho HS được đánh giá “Tốt” ở mức khá (55%), HS thực hiện nề nếp là công việc diễn ra hàng ngày ở trường, các nhà trường đã chú ý đưa HS vào nề nếp. HS có năng lực học tốt thì công việc GD, hướng dẫn về PP học được thuận lợi, những HS có năng lực học chưa tốt thì gần như không có PP học tập cho môn học, dẫn đến ý thức thực hiện qui định cũng kém.

BP qui định nề nếp tự học của HS ở nhà đạt hiệu quả khá (50%), việc qui định nề nếp tự học ở nhà cho HS là một vấn đề khó, CBQL và GV chỉ tư vấn hướng dẫn, kết hợp với CMHS đôn đốc thực hiện. Do CMHS một phần không nhỏ bận rộn công việc mưu sinh, ít chú ý đến con cái học hành, nên chưa thường xuyên nhắc nhở nề nếp học tập của con.

Nguyên nhân có thể nằm ngay trong việc thực hiện của CBQL cấp Phòng và cấp trường chưa được thường xuyên (theo kết quả tự đánh giá), việc thực hiện còn lúng túng nên triển khai mà kết quả chưa cao.

2.4.8. Quản lí việc đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh

Đây là một nội dung trong BP QL hoạt động DH của CBQL cấp Phòng và cấp trường tại Trường tiểu học Bồ Đề, đồng thời cũng là quá trình nghiệm thu sự phấn đấu rèn luyện của HS, đánh giá chất lượng giảng dạy của GV. Thông qua kết quả kiểm tra, đánh giá HS, GV điều chỉnh hoạt động dạy của mình và CBQL cấp Phòng và cấp trường điều chỉnh, chỉ đạo hoạt động QL đạt mục tiêu đã đề ra. Qua khảo sát thực trạng QL của CBQL cấp Phòng và cấp trường tại Trường tiểu học Bồ Đề, BP đó được thực hiện với kết quả sau: Luận văn: Thực trạng quản lí dạy học môn Toán tại Trường tiểu học.

  • Bảng 2.16: Kết quả đánh giá hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS

Kết quả bảng 2.16 đã thể hiện việc CBQL triển khai các văn bản, qui định kiểm tra, đánh giá HS được đánh giá cao, kết quả đạt được tốt là 68%. Việc chỉ đạo các kì kiểm tra nghiêm túc, chất lượng; kiểm tra sổ theo dõi chất lượng GD, học bạ của HS cũng được đánh giá 71% ở mức độ tốt. Nội dung 2 và 6 là kiểm tra phân loại HS và đánh giá, điều chỉnh được CBQL, GV và tổ trưởng đánh giá đạt 53% và 50% thực hiện “Tốt”. Kết quả đạt được “Trung bình” là 26%, còn 21% và 24% ở mức “Không tốt”. Nội dung 3 mức độ thực hiện cũng được đánh giá là chưa cao.

Các nội dung trong BP QL được CBQL tổ chức triển khai, thực hiện ngay từ đầu năm học, nhưng kết quả của một vài nội dung là chưa cao, nhất là việc kiểm tra, phân loại HS, kiểm tra việc chấm trả bài của GV. Qua thực tế hiện nay, tác giả thấy rằng GV TH đang rất nặng nề trong việc đánh giá kết quả học tập của HS. Nhiều GV đã tổ chức kiểm tra, chấm bài tập của HS sau mỗi tiết học vào vở HS để HS mang vở về nhà cho cha mẹ thấy nhận xét hàng ngày của con mình. Tác giả nhận thấy GV dạy một buổi 4-5 tiết, lượng bài tập của từng tiết, môn học cũng tương đương số tiết/buổi. Mỗi lớp trung bình 40-45 HS thì số lượng bài tập GV phải chấm và nhận xét vào vở HS là rất lớn (4 tiết x 40 HS = 160 bài/buổi). Nếu DH 2 buổi/ngày còn tăng lên đáng kể. Chưa nói đến thời gian ngồi viết nhận xét, thời gian nghiên cứu bài, thời gian soạn bài,… là những vấn đề bức xúc cho GV TH.

Một điểm đặc biệt là GV đánh giá chưa vì sự tiến bộ của HS, chưa giúp HS nhận ra mình đang ở đâu trên con đường đạt đến mục tiêu bài học/chuẩn kiến thức, kĩ năng… Kiểm tra, đánh giá HS hiện tại chủ yếu là chấm điểm, mà không có sự phản hồi cho HS. Một số GV chấm bài có sự phản hồi nhưng phản hồi không đủ, phản hồi tiêu cực, không mang tính xây dựng. Đánh giá lại không nhằm bộc lộ năng lực suy nghĩ, sự trải nghiệm đa dạng, phong phú của HS, tức tập trung vào một số kiểu đề và chỉ để đáp ứng các kì kiểm tra, điều này làm cho quá trình DH bị bóp méo chỉ để phục vụ mục đích kiểm tra, không nhằm mục tiêu phát triển năng lực cho HS.

Nguyên nhân có thể nằm ngay trong việc thực hiện của CBQL Nhà trường chưa được tốt (theo kết quả tự đánh giá), việc thực hiện còn lúng túng nên triển khai tốt mà kết quả chưa cao.

2.5. Thực trạng yếu tố ảnh hưởng đến quản lí hoạt động dạy học môn Toán tại Trường tiểu học Bồ Đề Luận văn: Thực trạng quản lí dạy học môn Toán tại Trường tiểu học.

Để tìm hiểu mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan và khách quan tới quản lí dạy học môn Toán tại Trường tiểu học Bồ Đề, tác giả cũng tiến hành khảo sát các đối tượng tham gia phỏng vấn. Với câu hỏi 3 mức độ, mỗi biện pháp được trả lời “Ảnh hưởng”, “Bình thường”, “Không ảnh hưởng”. Kết quả nghiên cứu được tổng hợp tại bảng số liệu dưới đây.

Bảng 2.17: Kết quả đánh giá thực trạng yếu tố ảnh hưởng đến quản lí hoạt động dạy học môn Toán tại Trường tiểu học Bồ Đề

Qua bảng số liệu trên cho thấy, các ý kiến cho rằng có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quản lý dạy học môn Toán, trong đó yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất là “Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ hoạt động dạy học” với 74% cho rằng có ảnh hưởng, 21% cho rằng bình thường, chỉ có 5% ý kiến cho rằng không ảnh hưởng; tiếp theo là yếu tố “Phẩm chất, năng lực, trình độ quản lí của nhà quản lí” với 71% cho rằng có ảnh hưởng, 18% cho rằng bình thường và 11% không ảnh hưởng. Yếu tố “Điều kiện về số lượng, cơ cấu, chất lượng đội ngũ GV và HS” với 68% ý kiến cho rằng ảnh hưởng, 24% trung dung, 8% cho rằng không ảnh hường.

Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quản lí dạy học môn Toán trọng trường tiểu học, từ các yếu tố thuộc về chủ thể quản lý, đến đối tượng quản lý, đến môi trường quản lý. Muốn nâng cao quản lí hoạt động dạy học môn Toán tại Trường tiểu học Bồ Đề, Nhà trường cần phải có biện pháp khắc phục mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này.

2.6. Đánh giá thực trạng quản lí hoạt động dạy học môn Toán tại Trường tiểu học Bồ Đề, Quận Long Biên, Thành phố Hà Nội

2.6.1. Những mặt đạt được

CBQL cấp phòng và Trường tiểu học Bồ Đề đã xây dựng được khối đoàn kết trong tập thể sư phạm nhà trường, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai và thực hiện các văn bản, qui định về QL hoạt động DH môn Toán tại Trường TH Bồ Đề.

Việc tiến hành đổi mới PPDH trong các nhà trường đều được thực hiện nghiêm túc và có những chuyển biến tích cực về chất lượng. Luận văn: Thực trạng quản lí dạy học môn Toán tại Trường tiểu học.

Việc khai thác CSVC, trang TB, điều kiện hỗ trợ cho hoạt động DH bước đầu đạt kết quả, tạo ra sự chuyển biến mới trong QL hoạt động DH trong Nhà trường. Từ đó, CSVC nhà trường ngày càng được nâng cao, phục vụ tốt hơn cho hoạt động DH.

Các BP khác như: QL việc soạn bài và giờ lên lớp của GV; tổ chức học tập cho HS trong nhà trường; kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS,… cũng được thực hiện có hiệu quả, tạo được sự ổn định, phát triển trong QL hoạt động DH.

Những mặt mạnh của Nhà trường, cũng chính là những kết quả đạt được của BP QL hoạt động DH mà CBQL nhà trường đã thực hiện.

2.6.2. Những mặt chưa đạt được

Việc nhận thức không đồng đều ở những công việc khác nhau trong các BP QL của CBQL cấp Phòng và cấp trường dẫn đến mức độ thực hiện chưa thường xuyên ở một số BP vẫn còn cao.

CBQL cấp Phòng và cấp trường quan tâm đến việc QL xây dựng kế hoạch DH và thực hiện kế hoạch DH nhưng tính khả thi của kế hoạch DH chưa cao, kết quả đem lại chưa tương xứng với mục đích đề ra.

Việc phân công giảng dạy cho GV vẫn còn mang tính chủ quan và dựa vào cảm tính, CBQL cấp Phòng và cấp trường chưa thật khách quan, khoa học.

Công tác bồi dưỡng GV còn nhiều phụ thuộc vào các chính sách của cấp trên, CBQL cấp Phòng, cấp trường chưa thực sự chủ động, linh hoạt.

Chất lượng đội ngũ GV mặc dù được nâng lên về trình độ và tay nghề. Tuy nhiên, về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ DH, khả năng tổ chức thực hiện đổi mới PPDH chưa tương xứng, chưa đồng đều trong đội ngũ của nhà trường. GV ngại đổi mới và chưa chủ động cách soạn bài, cách thiết kế bài học và tổ chức tiết học theo các PPDH tích cực, lấy HS làm trung tâm, phát triển phẩm chất, năng lực HS nhằm đáp ứng với mục tiêu đổi mới căn bản và toàn diện GD hiện nay.

Việc chuẩn bị bài dạy của GV chưa đảm bảo theo yêu cầu đổi mới PPDH nhằm phát huy tính tích cực chủ động của HS, phát triển phẩm chất, năng lực HS. GV chưa mạnh dạn áp dụng các PP, kĩ thuật DH tích cực.

Việc tiến hành đổi mới PPDH còn mang tính phong trào, hình thức theo giai đoạn, chưa chú ý tới chất lượng, hiệu quả của việc đổi mới. Tổ chức tốt tiết học phát huy tính tích cực của HS và Hội giảng, nhưng việc rút kinh nghiệm qua các tiết, các giờ Hội giảng chưa được quan tâm đúng mức, nhất là chưa chú ý đến việc phát triển phẩm chất, năng lực HS nhằm đáp ứng với mục tiêu đổi mới căn bản và toàn diện GD hiện nay.

QL đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS chưa thật sự là mục tiêu để động viên, khuyến khích GV tiến hành đổi mới PPDH hiệu quả. Bên cạnh đó, việc QL kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS chưa đạt yêu cầu.

Công tác QL sử dụng CSVC, trang TB, điều kiện hỗ trợ cho hoạt động DH chưa thực sự phát huy tác dụng. Chính sách động viên, hỗ trợ GV tự làm đồ dùng DH chưa thiết thực, chưa kích thích sự say mê nghiên cứu, tìm tòi của GV, HS trong giảng dạy và học tập.

2.6.3. Nguyên nhân của những mặt chưa đạt được Luận văn: Thực trạng quản lí dạy học môn Toán tại Trường tiểu học.

Nhận thức và năng lực QL của CBQL cấp Phòng và cấp trường chưa thực sự đáp ứng việc tiến hành đổi mới QL trong GD nói chung và QL hoạt động DH tại Trường tiểu học Bồ Đề.

Việc QL, xây dựng kế hoạch DH còn nhiều yếu tố kinh nghiệm, chưa dựa vào yếu tố khách quan, khoa học. Bởi có CBQL cấp Phòng và cấp trường không được ĐT hoặc không được bồi dưỡng về khoa học QL GD một cách cơ bản, một số CBQL trẻ được ĐT cơ bản nhưng lại thiếu kinh nghiệm thực tiễn để đáp ứng được yêu cầu phát triển của GD TH hiện nay.

Cơ chế QL trường học nói chung và QL hoạt động DH nói riêng ở Trường tiểu học Bồ Đề hiện nay còn những yếu tố chưa phù hợp và chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của kinh tế – xã hội địa phương, chưa đáp ứng được mục tiêu đổi mới căn bản và toàn diện GD TH hiện nay.

Trong QL, còn những thiếu sót chưa được khắc phục kịp thời như: phân công GV giảng dạy chưa phù hợp, sử dụng CSVC, trang TB, điều kiện hỗ trợ hoạt động DH còn nặng về hình thức, đánh giá kết quả học tập của HS chưa thực sự, công tác thi đua, khen thưởng chưa kịp thời, khách quan… đã không tạo được động lực phấn đấu giảng dạy và học tập của GV và HS trong nhà trường.

Một số nội dung, BP QL hoạt động DH trong nhà trường TH chưa có sự đổi mới để theo kịp sự phát triển của xã hội trong bối cảnh đổi mới căn bản và toàn diện GD TH hiện nay.

Tiểu kết chương Luận văn: Thực trạng quản lí dạy học môn Toán tại Trường tiểu học.

Qua nghiên cứu thực trạng GD – ĐT, thực trạng QL hoạt động DH tại Trường tiểu học Bồ Đề, cho thấy:

QL hoạt động DH của CBQL và GV tại trường TH Bồ Đề đã đạt được một số kết quả đáng phấn khởi như: chất lượng dạy và học trong nhà trường ổn định và có sự phát triển, CSVC phục vụ dạy và học được khai thác có hiệu quả và được nâng cao, nề nếp dạy và học được củng cố,… Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đó còn những tồn tại như: việc thực hiện kế hoạch DH chưa được đánh giá đúng mức; chất lượng GD trong Nhà trường, các bộ môn chưa đồng đều, chưa thực sự phát huy được tính tích cực của HS, chưa thực sự phát triển phẩm chất và năng lực HS; công tác bồi dưỡng GV chưa thực sự có hiệu quả,.. để đáp ứng mục tiêu đổi mới căn bản và toàn diện GD TH.

Công tác QL hoạt động dạy và học ở Trường TH Bồ Đề có phần chưa phản ánh đúng thực chất kết quả GD – ĐT, chưa đáp ứng mục tiêu đổi mới căn bản và toàn diện GD TH, chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội mà trước hết là nhân dân Thành phố Hà Nội.

Các nguyên nhân tồn tại, hạn chế cơ bản của công tác QL hoạt động DH ở Trường TH Bồ Đề của CBQL cần được xác định, nhằm mục đích để CBQL khắc phục, cải tiến trong công tác QL cho phù hợp với mục tiêu đổi mới căn bản và toàn diện GD TH hiện nay. Luận văn: Thực trạng quản lí dạy học môn Toán tại Trường tiểu học.

Kết quả nghiên cứu thực trạng trên, đã chứng minh các vấn đề lí luận về QL hoạt động DH trong nhà trường TH ở chương l là hoàn toàn đúng đắn. Đồng thời, đây cũng là căn cứ, là cơ sở để xây dựng các BP nhằm tăng cường QL hoạt động DH ở Trường tiểu học Bồ Đề trong bối cảnh đổi mới căn bản và toàn diện GD.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp quản lí dạy học môn Toán tại Trường tiểu học

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993