Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường THCS thuộc quận Hồng Bàng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Cơ sở pháp lí của hoạt động kiểm tra nội bộ

Ngày 18/8/2006, Chính phủ ban hành Nghị định số 85/2006/NĐ-CP “về tổ chức và hoạt động của Thanh tra giáo dục” thay thế Nghị định số 101/2002/NĐ-CP, đồng thời ngày 20/10/2006 Bộ GD&ĐT có Thông tư số 43/2006/TT- BGDĐT “Hướng dẫn thanh tra toàn diện nhà trường, cơ sở giáo dục khác và thanh tra hoạt động sư phạm của nhà giáo”.

Để phù hợp với sự phát triển của xã hội nói chung và giáo dục nói riêng, ngày 09/5/2021, Chính phủ ban hành Nghị định số 42/2021/NĐ-CP “về tổ chức và hoạt động thanh tra giáo dục” thay thế Nghị định số 85/2006/NĐ-CP. Bộ GD&ĐT có Thông tư số 39/2021/TT- BGDĐT ngày 04/12/2021 “Hướng dẫn về thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực giáo dục”.

Luật Giáo dục năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tại chương VII “Quản lý Nhà nước về giáo dục” gồm có 4 mục, 15 điều thì trong đó dành hẳn mục 4 “Thanh tra giáo dục” quy định rõ về quyền hạn, nhiệm vụ, tổ chức và hoạt động của thanh tra giáo dục, phù hợp với Luật Thanh tra. Điều đó cho thấy những bước trưởng thành trong công tác tổ chức và hoạt động của thanh tra giáo dục, góp phần phát huy vai trò tích cực, góp phần chấn chỉnh các mặt công tác quản lý sự nghiệp giáo dục [2].

2.2. Khái quát về thực trạng giáo dục trung học cơ sở quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS.

2.2.1. Cơ sở vật chất và quy mô trường lớp các trường trung học cơ sở

Tính đến 2025 quận có 8 trường trung học cơ sở công lập với 149 lớp, 5.933 học sinh và 308 cán bộ, giáo viên trung học cơ sở, trong đó 100% giáo viên có trình độ đạt chuẩn và 91.6% giáo viên có trình độ trên chuẩn. Khối trường trung học cơ sở của quận đã có 3 trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS hàng năm đều đạt 100%, tỷ lệ học sinh đỗ vào lớp 10 THPT năm sau cao hơn năm trước, tỷ lệ học sinh giỏi được cải thiện đáng kể trong những năm qua.

Về cơ sở vật chất cả 08 trường THCS đều đáp ứng được nhu cầu học tập của học sinh, giảng dạy của giáo viên. Cả 08 trường trên địa bàn quận đều được xây dựng kiên cố, khang trang đảm bảo đủ số lớp/phòng học; 100% các trường có thư viện, phòng học bộ môn, phòng thí nghiệm, phòng thực hành bộ môn; một số trường có phòng tập đa năng (THCS Bạch Đằng), các trường đều có công trình vệ sinh đạt tiêu chuẩn. Các thiết bị đồ dùng dạy và học khá đầy đủ về số lượng, đạt tiêu chuẩn. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số trường có cơ sở vật chất, trang thiết bị được đầu tư, mua sắm chưa đồng bộ nên hiệu quả sử dụng chưa cao.

Về loại hình trường và quy mô trường lớp cấp THCS của quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng, chúng tôi đã thống kê được số liệu ở bảng sau:

Bảng 2.1. Loại hình trường và quy mô trường lớp năm học 2024 – 2025

  • Bảng 2.1 cho thấy:

Quận Hồng Bàng có quy mô trường, lớp không đồng đều giữa các khu vực theo đơn vị hành chính phường. Số lượng lớp và số học sinh chủ yếu tập trung ở trường THCS Hồng Bàng (chiếm một phần năm). Tổng số có 149 lớp với 5933 học sinh, quy mô trường, lớp ở mức trung bình. Số học sinh và số lớp có xu hướng giảm dần từ khối 6 đến khối 9, thực trạng này phù hợp với đánh giá khách quan. Khối trường trung học cơ sở của quận đã có 3 trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia.

2.2.2. Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS.

Tương xứng với quy mô phát triển của trường, lớp cấp THCS thì đội ngũ cán bộ quản lí, giáo viên, nhân viên ở quận Hồng Bàng được tuyển dụng và bố trí như bảng số liệu sau:

Bảng 2.2. Thống kê cán bộ quản lí và giáo viên

  • Bảng 2.2 cho thấy:

Trung bình mỗi trường có từ 2 – 3 cán bộ quản lí là Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng, riêng trường THCS Hồng Bàng có 4 cán bộ quản lí. Số cán bộ quản lí, số giáo viên trên số học sinh mỗi trường có mối tương quan phù hợp, 289 giáo viên/5933 học sinh, tương ứng 1 giáo viên phụ trách 20.5 học sinh.

  • Bảng 2.3. Thống kê trình độ giáo viên THCS quận Hồng Bàng

Bảng 2.3 cho thấy: 100% giáo viên THCS nói chung và giáo viên giảng dạy các môn khoa học tự nhiên nói riêng đều có trình độ đạt chuẩn và trên chuẩn. Trong đó số giáo viên có trình độ trên chuẩn mỗi năm đều tăng, năm học 2021 – 2022 đạt 83.2% thì đến năm học 2024 – 2025 đạt 91.6% trên tổng số giáo viên. Dựa vào số liệu thống kê qua các năm và qua tìm hiểu thực tế, chúng tôi có một số đánh giá sau:

  • Về ưu điểm:

Đội ngũ giáo viên THCS của quận Hồng Bàng có lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, chấp hành tốt mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

GV tâm huyết với nghề, có tinh thần vượt khó, tận tụy với HS, luôn là tấm gương sáng cho đồng nghiệp và cho học sinh noi theo.

Giáo viên có kinh nghiệm giảng dạy, bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu kém. Đây là một thuận lợi cho công tác quản lí, giảng dạy và công tác giáo dục. Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS.

Nhiều GV trẻ có trình độ trên chuẩn, thành thạo ngoại ngữ, có khả năng sử dụng tốt việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và cập nhật kiến thức mới.

  • Về hạn chế:

Vẫn còn một bộ phận GV lớn tuổi, năng lực chuyên môn chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra, ngại đổi mới phương pháp, nhất là việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy, chưa tích cực bồi dưỡng để vươn lên, còn tâm lí “chờ hưu”. Bên cạnh đó, đội ngũ GV trẻ mới ra trường đã được đào tạo cơ bản nhưng chưa có kinh nghiệm giảng dạy, kinh nghiệm tổ chức, quản lí HS và thiếu mạnh dạn trong giao tiếp cũng như trong giải quyết các công việc.

Phần lớn GV còn hạn chế về kỹ năng mềm, như: kỹ năng giải quyết các tình huống sư phạm; kỹ năng ra quyết định; kỹ năng xác định mục tiêu; kỹ năng hướng dẫn, tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động…

Đội ngũ giáo viên cốt cán chưa mạnh dạn trong đổi mới, còn e dè nể nang trong nhận xét, góp ý đồng nghiệp khi thăm lớp dự giờ, còn một số trường hợp để tình cảm cá nhân chi phối kết quả thanh tra, kiểm

Về cơ cấu đội ngũ còn nhiều vấn đề bất cập, môn thừa, môn thiếu giáo viên. Giáo viên giữa các trường trên địa bàn còn chênh lệch nhau về nhiều mặt, càng xa trung tâm trình độ chuyên môn, nghiệm vụ càng hạn chế.

  • Một số nguyên nhân dẫn đến hạn chế trên:

Công tác lãnh chỉ đạo của Ban giám hiệu, hiệu trưởng các trường chưa hiệu quả, thiếu sự sâu sát, sự quyết tâm, chưa nắm bắt kịp thời tâm tư nguyện vọng của cán bộ giáo viên để có biện pháp động viên, khuyến khích họ cống hiến.

Chế độ đãi ngộ giáo viên còn thấp so với nhiều ngành nghề, đa số giáo viên còn khó khăn về kinh tế nên chưa giành hết tâm huyết cho công tác dạy học và giáo dục.

Còn nhiều cán bộ giáo viên chưa tích cực và chủ động trong học tập và bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn, đáp ứng yêu cầu mới.

Công tác thanh tra, kiểm tra, đánh giá chưa chặt chẽ, còn mang tính hình thức. Các báo cáo của các đơn vị còn nặng về thành tích, chưa nhìn thẳng vào những yếu kém trong công tác quản lí chỉ đạo bồi dưỡng giáo viên.

2.3. Khái quát về khảo sát thực trạng quản lí hoạt động kiểm tra nội bộ tại các trường trung học cơ sở thuộc quận Hồng Bàng

2.3.1. Mục đích khảo sát Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS.

Khảo sát nhằm phát hiện thực trạng hoạt động KTNB và thực trạng quản lí hoạt động KTNB ở trường THCS quận Hồng Bàng. Trên có sở đó, đề xuất các biện pháp quản lí hoạt động KTNB ở trường THCS quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.

2.3.2. Nội dung khảo sát

Thực trạng hoạt động KTNB ở 8 trường THCS và thực trạng quản lí hoạt động KTNB ở trường THCS quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.

2.3.3. Đối tượng khảo sát

  • Khảo sát 100 đồng chí cán bộ quản lí và giáo viên tham gia hoạt động KTNB ở 8 trường THCS.

2.3.4. Phương pháp khảo sát

  • Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động KTNB của cán bộ quản lí và Ban KTNB ở các trường THCS quận Hồng Bàng.
  • Phương pháp nghiên cứu hồ sơ hoạt động: Nghiên cứu các quyết định quản lí, các văn bản tài liệu, các kế hoạch KTNB, báo cáo tổng kết công tác KTNB ở trường THCS quận Hồng Bàng.
  • Phương pháp phỏng vấn trực tiếp: Lấy ý kiến các cán bộ quản lý và giáo viên có kinh nghiệm về đánh giá thực trạng về công tác KTNB tại các trường THCS quận Hồng Bàng.
  • Phương pháp điều tra viết bằng phiếu khảo sát: Đây là phương pháp quan trọng nhất để nghiên cứu thực trạng hoạt động KTNB ở trường THCS và thực trạng quản lí hoạt động KTNB ở trường THCS quận Hồng Bàng.
  • Phương pháp thống kê toán học: Phân tích số liệu từ các mẫu phiếu điều tra để có cơ sở đề xuất các biện pháp cần thiết có tính khả thi. Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS.

Phương pháp khảo nghiệm bằng phiếu khảo sát: Trưng cầu ý kiến các cán bộ quản lý và giáo viên có kinh nghiệm về nội dung nghiên cứu, đánh giá thực trạng nghiên cứu, đánh giá về tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp được đề xuất.

  • Phiếu điều tra có nội dung sau đây:

Bước 1: Khảo sát thử trên một nhóm mẫu gồm 10 CBQL, GV với mục đích kiểm tra độ tin cậy của bảng hỏi, chính xác hóa phiếu điều tra. Xin ý kiến GV hướng dẫn để chỉnh sửa mẫu phiếu điều tra.

Bước 2: Xây dựng chính thức mẫu phiếu điều tra khảo sát thực trạng hoạt động KTNB ở trường THCS và thực trạng quản lí hoạt động KTNB ở trường THCS quận Hồng Bàng.

Trên cơ sở kết quả của phiếu điều tra, xử lí kết quả thu được, định hướng tổng hợp kết quả nghiên cứu.

2.4. Thực trạng hoạt động kiểm tra nội bộ tại các trường trung học cơ sở thuộc quận Hồng Bàng

2.4.1. Thực trạng nhận thức của cán bộ, giáo viên, nhân viên về hoạt động kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở tại quận Hồng Bàng

Trong những năm qua có rất nhiều CBQL, GV, nhân viên chưa nhận thức rõ vai trò, chức năng, tầm quan trọng của KTNB, hiểu KTNB chỉ như một hoạt động kiểm tra định kỳ hàng năm, coi đó chỉ là biện pháp để đánh giá. Nhiều người còn cho rằng kiểm tra để dẫn tới kiểm điểm nên đã hạn chế hiệu lực của KTNB trường học.

Một số cán bộ quản lý còn cho rằng kiểm tra chỉ đơn thuần là một biện pháp quản lý trường học, chưa thấy được đó chính là chức năng cơ bản của quản lý trong quá trình quản lý nhà trường. Thời gian CBQL dành cho hoạt động kiểm tra còn ít so với các chức năng quản lý khác. Sự hiểu biết chưa đúng đắn đã ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng các cuộc kiểm tra; đồng thời, làm giảm vai trò, tác dụng của nó đối với chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường.

Nhiều cán bộ quản lý chưa nắm được chức năng cơ bản của quá trình quản lý nên chưa nhận thức đúng chức năng kiểm tra, từ đó việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện hoạt động KTNB chưa nghiêm túc, việc kiểm tra chỉ mang tính hình thức, chung chung, thậm chí còn biểu hiện tính quan liêu, xa vời, không sát thực tế. Chính vì thế hoạt động KTNB chưa trở thành công cụ sắc bén nhằm tăng cường hiệu lực quản lý trường học. Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS.

Giáo viên và học sinh chưa có nhận thức đúng về hoạt động kiểm tra nên thường có thái độ đối phó với hoạt động kiểm tra của các cấp quản lý, chưa biến các quá trình kiểm tra của các cấp quản lý thành quá trình tự kiểm tra của chính mình. Do đó hiệu quả kiểm tra đạt được chưa cao.

Mặt khác do bệnh thành tích nên cả chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý trong quá trình kiểm tra thường qua loa, chiếu lệ, việc xác định chuẩn và đánh giá đúng thực trạng so với chuẩn còn nhiều bất cập.

Để đánh giá được thực trạng nhận thức của CBQL củng như của GV THCS về hoạt động KTNB trường học, từ đó đánh giá vai trò của nó đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở các trường THCS, chúng tôi đã dùng phiếu trưng cầu ý kiến Hiệu trưởng, các phó Hiệu trưởng, cán bộ cốt cán (thành viên Ban KTNB) và một số GV. Kết quả phiếu trưng cầu thu được từ 12 đồng chí là lãnh đạo chuyên viên phòng GD&ĐT quận; 20 đồng chí là cán bộ quản lý và 68 đồng chí giáo viên cốt cán của các nhà trường, kết quả được thống kê trong các bảng sau:

Bảng 2.4. Thực trạng về nhận thức của CBQL và GV các trường THCS quận Hồng Bàng về hoạt động KTNB trường học

  • Phân tích thống kê trên cho thấy:

Về thẩm quyền KTNB trường học: có 62 người xác định quyền KTNB trường học thuộc thẩm quyền của phòng Giáo dục và cấp trên, 64 người xác định thuộc quyền của hiệu trưởng nhà trường, 59 người xác định thuộc quyền của Ban KTNB trường học, qua đó cho thấy có tới 85 người chọn đến hai hoặc cả 3 nội dung phỏng vấn trong phần này (họ còn phân vân, chưa rõ về thẩm quyền KTNB). Với tỷ lệ 64/100 người xác định đúng, cho ta thấy cán bộ quản lý và giáo viên còn nhiều người không nắm chắc cơ cấu tổ chức bộ máy giáo dục trong nhà trường (trong đó có cơ cấu tổ chức KTNB trường học). Rất nhiều giáo viên được hỏi cho rằng Phòng giáo dục và Ban giám hiệu nhà trường có quyền thực hiện chức năng KTNB, họ không dám khẳng định chắc chắn KTNB trường học thuộc thẩm quyền của Hiệu trưởng và còn mơ hồ về chức năng KTNB trường học là của cấp trên hay của hiệu trưởng nhà trường.

Về mục đích KTNB trường học: có 91/100 người xác định đúng mục đích của KTNB; 25/100 người cho rằng việc KTNB chỉ để hoàn thành chỉ tiêu giáo viên phải kiểm tra trong một năm học để đánh giá xếp loại thi đua trong năm học đó; 63/100 người cho rằng mục đích của KTNB là nhằm phát hiện, kết luận, xử lý kỷ luật người vi phạm qui chế chuyên môn. Như vậy có đến 79 người xác định chọn từ 2 tiêu chí trở lên trong mục này, họ vừa cho rằng mục đích của KTNB là để phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa sai phạm, nhưng cũng cho rằng KTNB là nhằm mục đích phát hiện xử lý kỷ luật người vi phạm qui chế chuyên môn.

Về đối tượng KTNB: 71/100 số người xác định đầy đủ đối tượng thanh tra chuyên môn; 43/100 số người cho rằng đối tượng KTNB là những giáo viên vi phạm qui chế chuyên môn; 49 người cho rằng kiểm tra cơ sở vật chất- các phần hành và chi tiêu tài chính, về nội dung này cũng có 63 người chọn từ hai tiêu chí trở lên.

  • Nhận xét: Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS.

Tỷ lệ số người được hỏi còn mơ hồ và xác định chưa đúng về thẩm quyền, mục đích, đối tượng của KTNB trường học nên chọn nhiều tiêu chí trong cùng nội dung; Như vậy, nhận thức về hoạt động KTNB của đội ngũ cán bộ QLGD, giáo viên còn hạn chế; chứng tỏ họ chưa hiểu thấu đáo về công tác KTNB, công tác tuyên truyền, bồi dưỡng về công tác KTNB còn bất cập, cần phải được bồi dưỡng, nâng cao.

  • Bảng 2.5. Thực trạng nhận thức của CBQL và GV về nội dung KTNB trường học

Với kết quả điều tra trên, chúng tôi nhận thấy hầu hết người trả lời đều xác định chắc chắn các nội dung của KTNB. Rõ ràng các mặt hoạt động trên có liên quan mật thiết với nhau để đạt mục tiêu giáo dục: Đó là chất lượng giáo dục toàn diện của học sinh. Tuy vậy, chúng ta cũng không bỏ qua 4 ý kiến cho rằng tự kiểm tra công tác kế hoạch của hiệu trưởng và 7 ý kiến cho rằng kiểm tra nề nếp sinh hoạt tổ, chế độ dự giờ thăm lớp, hội giảng là không quan trọng trong KTNB. Điều này cho thấy chất lượng nề nếp sinh hoạt tổ, chế độ dự giờ thăm lớp, hội giảng chưa được chú trọng đúng mức. Một số giáo viên cho rằng việc làm đó nặng về hình thức, không nên quá coi trọng, trong khi cái tạo nên chất lượng thực sự của giáo dục – đào tạo lại phụ thuộc vào chất lượng giờ dạy trên lớp từng ngày. Đối với Hiệu trưởng, trong công tác tự kiểm tra, thì tự kiểm tra việc lập kế hoạch và việc tự kiểm tra, đánh giá để điều chỉnh chính mình được đánh giá cao là rất quan trọng.

  • Nhận xét:

Tỷ lệ số người được hỏi xác định đúng về nội dung KTNB, nghĩa là nhận thức về vai trò các mặt hoạt động KTNB nhằm tạo nên chất lượng giáo dục toàn diện của đội ngũ cán bộ QLGD, giáo viên là đúng đắn; chứng tỏ trong công tác KTNB cần căn cứ vào kết quả đánh giá các mặt hoạt động chủ yếu: Số lượng, chất lượng học sinh; việc thực hiện quy chế chuyên môn của giáo viên; việc xây dựng, sử dụng cơ sở vật chất – thiết bị dạy học; công tác tự kiểm tra của Hiệu trưởng để điều chỉnh nhà trường đi tới mục tiêu. Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS.

2.4.2. Thực trạng về chuyên môn nghiệp vụ kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở

Đội ngũ cán bộ quản lý và cộng tác viên kiểm tra của các trường THCS đa số chưa được bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ thanh tra, kiểm tra một cách bài bản, một số thành viên Ban KTNB trường học trình độ chuyên môn nghiệp vụ còn yếu do đó gặp nhiều khó khăn trong quá trình thực thi nhiệm vụ. Cán bộ quản lý chưa nắm được những phương pháp, biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ mang tính chất khoa học để xem xét, đánh giá, khẳng định xem các bộ phận, cá nhân trong trường có hoạt động theo đúng mục tiêu, quyết định và kế hoạch đã đề ra hay không để đưa ra các biện pháp uốn nắn, giúp đỡ cần thiết; chưa có kỹ năng kiểm tra theo mục tiêu, kế hoạch và hệ thống. Trình độ nghiệp vụ của đội ngũ kiểm tra trong trường còn yếu; coi kiểm tra giảng dạy chỉ là dự vài giờ lên lớp, chỉ kiểm tra khía cạnh tổ chức bài học, thiếu đi sâu vào nội dung, phương pháp, phân tích bài học hời hợt, thiếu liên hệ giữa việc thực hiện chương trình và tri thức, ít phân tích tác dụng của bài học.

Cán bộ quản lý ít chú ý đến việc nghiên cứu và phổ biến kinh nghiệm sư phạm trước và sau kiểm tra. Công tác kiểm tra của Hiệu trưởng được thực hiện chủ yếu bằng kinh nghiệm, thiếu cơ sở khoa học.

Việc nâng cao chuyên môn nghiệp vụ nhằm phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra càng trở nên bức xúc khi công tác KTNB được đặt ra đúng mức, thường xuyên. Đồng thời, công cuộc đổi mới giáo dục phổ thông – đặc biệt là những thay đổi về nội dung chương trình, phương pháp dạy học, ứng dụng CNTT, sử dụng trang thiết bị trong dạy học … bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng của người cán bộ thực hiện kiểm tra phải tương ứng để hoàn thành nhiệm vụ.

2.4.3. Thực trạng tổ chức hoạt động của Ban kiểm tra nội bộ trường học Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS.

Nhằm đánh giá thực trạng về tổ chức hoạt động của Ban KTNB trường học, chúng tôi khảo sát với 8 trường THCS trên địa bàn quận (qua số liệu kiểm tra thực hiện nhiệm vụ năm học 2024 – 2025). Kết quả cụ thể như sau:

  • Bảng 2.6. Trạng về tổ chức hoạt động của Ban KTNB trường học

Qua khảo sát cho thấy có 20% trường chưa có Quyết định thành lập Ban KTNB trường học mặc dù ban này vẫn tồn tại và hoạt động; có 27% trường chưa có quy chế hoạt động; 53% trường chưa có quy định trách nhiệm, quyền hạn các thành viên Ban KTNB và người được kiểm tra; 80% trường chưa có tổ chức họp Ban KTNB trường học định kỳ và 67% chưa xây dựng tiêu chuẩn để chọn vào Ban KTNB nhà trường.

Có 100% trường được khảo sát có phân công thành viên Ban KTNB kiểm tra hoạt động sư phạm nhà giáo cụ thể, rõ ràng. Tuy nhiên, vẫn có từ 15% đến 30% trường chưa có phân công thành viên Ban KTNB kiểm tra hoạt động tài chính và các hoạt động khác cụ thể.

  • Nhận xét:

Cán bộ quản lý ở các trường trung học cơ sở quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng hầu như chỉ tập trung kiểm tra hoạt động sư phạm nhà giáo là chính, chưa chú ý đến việc xây dựng quy chế hoạt động mà chỉ làm theo kinh nghiệm; chưa quy định trách nhiệm cụ thể các thành viên và việc chọn lựa các thành viên vào Ban KTNB, dẫn đến việc có một số thành viên Ban KTNB chỉ có tên trong Quyết định cho đủ thành phần, cơ cấu, chưa phát huy hết vai trò của các thành viên Ban KTNB. Công tác kiểm tra tài chính và các hoạt động khác tuy có kiểm tra nhưng vẫn còn sơ sài, mang tính hình thức, thậm chí có trường nhầm lẫn vai trò của Ban Thanh tra nhân dân trong việc kiểm tra tài chính nhà trường.

2.4.4. Thực trạng nội dung kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở

Nhằm đánh giá thực trạng về nội dung KTNB trường học, chúng tôi khảo sát với 8 trường THCS trên địa bàn quận (qua số liệu kiểm tra thực hiện nhiệm vụ năm học 2024 – 2025). Kết quả cụ thể như sau:

  • Bảng 2.7. Thực trạng về nội dung KTNB ở các trường THCS quận Hồng Bàng

Qua khảo sát, nội dung KTNB ở các trường như sau:

  • Có 100% các trường kiểm tra hoạt động sư phạm nhà giáo; hồ sơ sổ sách của giáo viên;
  • Có 80% – 95% các trường kiểm tra tài chính; công tác Đội; thư viện; thiết bị, đồ dùng dạy học, phòng thực hành thí nghiệm; y tế trường học; Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS.
  • Có 55% – 75% các trường kiểm tra công tác chủ nhiệm; sinh hoạt tổ chuyên môn;
  • Chỉ có 15% – 40% các trường kiểm tra hoạt động ngoại khóa; an toàn, an ninh trật tự trường học; điều kiện về cơ sở vật chất.

Nhận xét:

Các trường trung học cơ sở quận Hồng Bàng đã xây dựng kế hoạch KTNB với đầy đủ các nội dung theo định hướng của Phòng GD&ĐT quận như hoạt động sư phạm nhà giáo; hồ sơ sổ sách của giáo viên; tài chính; công tác Đội; thư viện; thiết bị, đồ dùng dạy học, phòng học bộ môn; y tế; công tác chủ nhiệm; sinh hoạt tổ chuyên môn khá tốt, chu đáo. Tuy nhiên Hiệu trưởng các trường còn chủ quan trong việc kiểm tra hoạt động ngoại khóa; điều kiện về cơ sở vật chất; an ninh trật tự và an toàn trường học. Việc kiểm tra này là hết sức cần thiết nhằm tránh những việc đáng tiếc xảy ra trong nhà trường, đồng thời giúp học sinh được phát triển một cách toàn diện nhất.

2.4.5. Thực trạng về hình thức kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở

Qua nghiên cứu hồ sơ công tác KTNB tại 8 trường THCS quận Hồng Bàng, đồng thời tiến hành phỏng vấn một số CBQL, GV về hình thức KTNB của các trường đã tiến hành, kết quả thu được như sau:

Bảng 2.8. Thực trạng hình thức KTNB ở các trường THCS quận Hồng Bàng

  • Kết quả điều tra trên cho thấy:

Bình quân số lần nhà trường kiểm tra các tổ chức cá nhân trong một năm học là hợp lý, nhưng chưa đồng đều. Hình thức kiểm tra chủ yếu là kiểm tra thường kỳ, việc kiểm tra đột xuất còn rất hạn chế. Điều này cho thấy, nhà trường cần phải có kế hoạch hoá công tác KTNB và tổ chức thực hiện kế hoạch này một cách nghiêm túc.

Để thực hiện kiểm tra toàn diện GV, HS; kiểm tra theo chuyên đề; kiểm tra thường xuyên; kiểm tra từng mặt CBGV hàng năm đủ số lượng qui định và xây dựng được nền nếp KTNB ở nhà trường, Hiệu trưởng cần thực hiện và chỉ đạo các tổ chức, cá nhân thực hiện nghiêm túc kế hoạch hoá theo từng năm học.

2.4.6. Thực trạng tổ chức thực hiện công tác kiểm tra nội bộ và xử lí kết quả kiểm tra

Nhằm khảo sát việc thực hiện công tác KTNB nhà trường đang diễn ra như thế nào, chúng tôi đã xem xét 50 biên bản kiểm tra hoạt động sư phạm nhà giáo, 20 biên bản kiểm tra các hoạt động khác của 8 trường trung học cơ sở quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng. Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS.

Bảng 2.9. Thực trạng tổ chức thực hiện KTNB trường học và xử lí kết quả kiểm tra ở các trường THCS quận Hồng Bàng

Qua khảo sát cho thấy:

  • Về tiến độ thực hiện kế hoạch kiểm tra; biên bản kiểm tra được thiết lập theo mẫu quy định; nội dung kiểm tra được đánh giá Khá, Tốt chiếm tỉ lệ từ 84,3% – 88,6%;
  • Về thời điểm kiểm tra; nhận xét, nhận định, kiến nghị trong biên bản kiểm tra cũng như ý kiến của người được kiểm tra đối với các cấp trong và ngoài nhà trường được đánh giá chưa tốt chiếm tỉ lệ từ 30,0% lên đến 78,6%;
  • Về các tư vấn, kiến nghị cụ thể, có giá trị đối với công tác quản lý của Hiệu trưởng được đánh giá Khá, Tốt cũng chỉ đạt 78,6%.

Lấy ý kiến của 50 giáo viên, nhân viên trong 8 trường THCS trên.

Bảng 2.10. Ý kiến của giáo viên, nhân viên được kiểm tra về thực hiện công tác KTNB trường học

Qua khảo sát, cho thấy:

  • Đa số nhất trí với việc kiểm tra là một hoạt động tất yếu của Hiệu trưởng để quản lý nhà trường; người được kiểm tra luôn chuẩn bị tốt khi có thông báo kiểm tra và hợp tác tốt với người kiểm tra;
  • Có ít trường hợp người được kiểm tra không cần xem qua biên bản; đồng thời, đa số đều muốn nắm thông tin về kết quả kiểm tra các cá nhân, bộ phận trong nhà trường;
  • Còn 24% chưa công nhận được trả thông tin kịp thời sau kiểm tra, điều đó có nghĩa có những trường hợp kiểm tra nhưng trả thông tin thiếu kịp thời hoặc không trả thông tin kiểm tra cho đối tượng được kiểm tra;
  • Còn 18% chưa công nhận các thành viên Ban KTNB có nghiệp vụ chuyên môn tốt;

Nhận xét: Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS.

Đây là một tính hiệu đáng mừng khi hầu hết giáo viên, nhân viên xem kiểm tra là một hoạt động tất yếu của Hiệu trưởng để quản lý nhà trường; đã có sự hợp tác hai chiều giữa người kiểm tra và người được kiểm tra. Điều này tạo nên môi trường làm việc thoải mái, không gò ép; các cá nhân, bộ phận có trách nhiệm trong công việc của mình, lắng nghe các ý kiến đóng góp để rút kinh nghiệm cho bản thân, đồng thời người kiểm tra cũng đã đưa ra những ý kiến góp ý chân thành trên tinh thần xây dựng, hỗ trợ lẫn nhau. Tuy nhiên các nội dung kiểm tra cần được trả thông tin kịp thời cho đối tượng được kiểm tra thì mới phát huy được hiệu quả. Song song đó, thành viên Ban KTNB phải luôn nêu cao tinh thần tôn trọng đồng nghiệp, trao dồi nghiệp vụ chuyên môn để hoàn thành tốt công tác kiểm tra được giao.

Bảng 2.11. Thực trạng thực hiện công tác sau KTNB trường học ở các trường THCS quận Hồng Bàng

  • Qua khảo sát, ta thấy:

Có 80% đánh giá khá tốt việc Hiệu trưởng có thông tin, phân tích cụ thể về kết quả kiểm tra trong các cuộc họp định kỳ của nhà trường; có 60% đánh giá khá tốt việc Hiệu trưởng có tổng hợp các kiến nghị của Ban KTNB để tiến hành điều chỉnh hoạt động của nhà trường;

Có 100% Hiệu trưởng các trường sử dụng biện pháp góp ý, nhắc nhở khi xảy ra những vấn đề phát sinh vi phạm;

Có từ 40% – 66,7% đánh giá khá tốt việc sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn, có nội dung thảo luận kết quả kiểm tra của nhà trường để rút kinh nghiệm và có tìm biện pháp khắc phục; dùng kết quả kiểm tra để đánh giá tiến độ và chất lượng thực hiện công việc theo kế hoạch năm học; Ban KTNB có duy trì sinh hoạt định kỳ để rút kinh nghiệm, theo dõi tiến độ thực hiện kế hoạch kiểm tra và điều chỉnh những phát sinh (nếu có); có biện pháp tập trung khắc phục những hạn chế cũng như nhân rộng điển hình các mặt tích cực mà qua kiểm tra đã phát hiện;

Chỉ có 40% đánh giá khá tốt việc điều chỉnh, bổ sung kế hoạch KTNB trường học trong năm học.

  • Nhận xét:

Với kết quả thống kê trên cho thấy, việc thực hiện công tác sau KTNB ở các trường trung học cơ sở chưa tốt. Hiệu trưởng các trường chưa làm tốt công tác tổng hợp kết quả từng mảng công việc và công khai trong hội đồng sư phạm nhà trường để các cá nhân, bộ phận rút kinh nghiệm; từ đó kịp thời điều chỉnh các hoạt động trong nhà trường trong thời gian tiếp theo. Hiệu trưởng các trường có quan tâm đến việc nhân rộng điển hình các cá nhân, bộ phận làm tốt cũng như chỉ rõ những việc làm còn hạn chế để tìm biện pháp khắc phục, nhưng chưa kịp thời cũng như chưa tạo động lực thúc đẩy các hoạt động giáo dục trong nhà trường được thực hiện một cách hiệu quả hơn. Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS.

Thăm dò 100 giáo viên của 8 trường THCS qua trao đổi phỏng vấn trực tiếp về việc sử dụng kết quả KTNB chúng tôi có bảng sau:

Bảng 2.12. Thực trạng về việc sử dụng kết quả KTNB ở các trường THCS quận Hồng Bàng

  • Qua bảng số liệu cho thấy:

Có 66% kết quả KTNB trường học đã được các trường chú ý đưa vào xét thi đua cuối kỳ, cuối năm cho cán bộ, giáo viên, nhân viên; 68% số giáo viên xếp loại tốt trong các đợt KTNB được nhà trường biểu dương, khen thưởng, 69% kết quả KTNB được sử dụng để xem xét trong đề xuất cán bộ nguồn, đề bạt cán bộ quản lý.

Có 48% kết quả KTNB trường học của giáo viên không được sử dụng kết hợp để đánh giá trong các đợt thanh tra của Phòng GD&ĐT, Sở GD&ĐT. Điều này cho thấy kết quả KTNB chưa phản ánh thực chất năng lực của giáo viên nên kết quả đánh giá của của đoàn thanh tra và kết quả đánh giá trong KTNB có sự sai lệch.

Việc sử dụng kết quả KTNB hàng năm được được các nhà trường chú ý để xem xét trong đề xuất cán bộ nguồn, đề bạt cán bộ quản lý. Tuy nhiên có 31% cho rằng chưa sử dụng kết quả KTNB hàng năm.

Việc sử dụng kết quả KTNB trong công tác thi đua, khen thưởng, đề xuất cán bộ nguồn, đề bạt cán bộ quản lý là rất quan trọng, nó tạo được động lực phấn đấu liên tục trong mỗi cá nhân để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, để được động nghiệp, lãnh đạo nhà trường, cấp trên ghi nhận. Chính vì thế Hiệu trưởng nhà trường cần đánh giá đúng và sử dụng tốt kết quả KTNB.

2.5. Thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ trường học ở các trường THCS quận Hồng Bàng Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS.

2.5.1. Lập kế hoạch kiểm tra nội bộ

Các trường THCS có xây dựng kế hoạch KTNB trường học ngay từ đầu năm học. Tuy nhiên kế hoạch còn chung chung, bất cập, chưa có kế hoạch cụ thể từng tuần, tháng. Kế hoạch kiểm tra không được công khai ở văn phòng trường.

  • Bảng 2.13. Thực trạng lập kế hoạch KTNB tại các trường THCS quận Hồng Bàng

Nhìn vào kết quả điều tra ở bảng 2.13, chúng tôi thấy hầu hết các ý kiến được hỏi đều xác định đúng đắn rằng: công tác lập kế hoạch KTNB là tốt chiếm tỉ lệ cao như: Xây dựng kế hoạch kiểm tra nội bộ trường học phù hợp với tình hình, điều kiện cụ thể cho phép của nhà trường và có tính khả thi; Nội dung kiểm tra có sức thuyết phục, hình thức kiểm tra gọn nhẹ không gây tâm lí nặng nề cho đối tượng, cần huy động nhiều lực lượng tham gia kiểm tra và dành thời gian cần thiết, thích đáng cho kiểm tra. Tuy nhiên, ở nội dung: Kế hoạch kiểm tra nội bộ trường học được thiết kế dưới dạng sơ đồ hoá và được treo ở văn phòng nhà trường; Kế hoạch kiểm tra nội bộ trường học được công bố công khai từ đầu năm học; Cụ thể hóa kế hoạch kiểm tra năm học thành kế hoạch kiểm tra học kì, kế hoạch kiểm tra hàng tháng, kế hoạch kiểm tra tuần… với những lịch biểu cụ thể tỷ lệ Tốt còn quá thấp (đạt 32,14%; 16,07% và 17,86%). Như vậy có thể khẳng định rằng ở các nhà trường hiện nay công tác kiểm tra nội bộ đã được chú trọng nhưng mới dừng lại ở việc xây dựng kế hoạch và lựa chọn nội dung kiểm tra. Việc lập kế hoạch còn nặng về hình thức, chưa phát huy hết được vai trò của nó.

Theo chúng tôi, công tác lập kế hoạch kiểm tra nội bộ trường học công bố công khai từ đầu năm học và cụ thể hóa kế hoạch một cách chi tiết là rất quan trọng vì như vậy sẽ giúp cho cán bộ, giáo viên hình dung được một cách tổng quát công việc của nhà trường và của giáo viên trong một học kỳ hay một năm học, qua đó giáo viên chủ động hơn trong công tác của mình. Vì vậy, lập kế hoạch kiểm tra nội bộ cần phải được các nhà quản lý chú trọng nhiều hơn nữa.

2.5.2. Tổ chức hoạt động kiểm tra nội bộ Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS.

Kết quả khảo sát 56 cán bộ, giáo viên thuộc 8 trường THCS về thực trạng tổ chức hoạt động KTNB thu được kết như sau

  • Bảng 2.14. Thực trạng tổ chức hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường THCS quận Hồng Bàng

Từ bảng số liệu 2.14, ta có: Đề cập đến tô chức lực lượng kiểm tra có 35,71% tốt; 46,43% bình thường; 17,86% chưa đạt. Phân cấp trong kiểm tra có 44,64% tốt; 35,71% bình thường; 19,64% chưa đạt. Xây dựng chuẩn kiểm tra có 21,43% tốt; 8,93% bình thường; có tới 69,64% chưa đạt. Nội dung xây dựng chế độ kiểm tra có 57,14% tốt; 21,43% bình thường; 21,43% chưa đạt.

Như vậy qua cả bốn nội dung còn rất nhiều ý kiến khẳng định rằng công tác tô chức và thực hiện hoạt động kiểm tra nội bộ là bình thường và chưa tốt. Về lực lượng kiểm tra tại các nhà trường chủ yếu là ban giám hiệu – lực lượng rất mỏng do đó không thể kiểm tra sát sao hết các hoạt động trong nhà trường. Hay trong phân cấp kiểm tra còn chồng chéo, công việc không cụ thể, phân cấp không rõ ràng. Phân cấp trong kiểm tra là một yêu cầu quản lý khoa học cho các hệ thống quản lý phức tạp. Do vậy phân cấp trong kiểm tra phải phù hợp với phân cấp trong quản lý. Về quyền lợi cho mỗi đợt kiểm tra không thực hiện theo đúng theo hướng dẫn, thường là không chi trả chế độ cho hoạt động kiểm tra nội bộ mà chỉ chi trả cho thanh tra viên kiêm nghiệm của các đợt thanh tra do Sở tô chức. Qua khảo sát chúng ta có thể khẳng định rằng ở các đơn vị trường học Hiệu trưởng cần quy định thể thức làm việc, nhiệm vụ cụ thể, thời gian, quy trình tiến hành, thanh toán chế độ cho người kiểm tra. Ngoài ra cần trang bị những phương tiện, thiết bị, cung cấp thông tin, mẫu biên bản cho hoạt động kiểm tra; phát huy mọi khả năng, sáng tạo của các thành viên trong ban kiểm tra.

Để hoạt động kiểm tra nội bộ đạt được hiệu quả cao cần căn cứ vào cả bốn nội dung đã nêu. Qua khảo sát ở các nhà trường thì trong cả bốn nội dung đều có rất nhiều ý kiến khẳng định là chưa tốt. Điều này đồng nghĩa với việc ở trong các nhà trường chưa thật sự sát sao và quan tâm đúng mức tới hoạt động kiểm tra nội bộ.

2.5.3. Chỉ đạo hoạt động kiểm tra nội bộ

Bằng các phương pháp quan sát, nghiên cứu hồ sơ và phỏng vấn CBQL của các nhà trường, tác giả nhận thấy:

Thực hiện kiểm tra hoạt động sư phạm của giáo viên 30% GV mỗi năm. Mỗi năm có 100% giáo viên được kiểm tra toàn diện hoặc từng mặt. Các nhà trường thực hiện kiểm tra hồ sơ chuyên môn mỗi năm 2 lần vào cuối học kỳ. Chất lượng hồ sơ chuyên môn mỗi năm đạt tỷ lệ khá giỏi gần 80%, không có hồ sơ loại yếu.

Mỗi giáo viên thực hiện dự giờ 10 tiết/ học kỳ. Sau dự giờ có đánh giá, xếp loại. Kết quả đánh giá dự giờ loại khá, tốt chiếm 80%, không có loại yếu Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS.

Điểm yếu của kiểm tra dự giờ đó là chưa thực hiện đủ số tiết dự giờ theo Thông tư 49/1979/TT-BGDĐT ngày 25 tháng 12 năm 1979 của Bộ giáo dục, giáo viên không có kỹ năng phân tích sư phạm bài học. Việc phân tích sư phạm giờ dạy thể hiện nhiều hạn chế do lực lượng giáo viên làm công tác kiểm tra có tuổi, nhận thức về vai trò của kiểm tra chưa cao, ngại va chạm. Chưa đi sâu phân tích bài dạy, nhận xét giờ dạy còn chung chung, qua loa, đại khái, không mỗ xẻ được vấn đề cho nên không mang tính thuyết phục. Nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động KTNB trường học chưa cao, khoảng 20% giáo viên đối phó kiểm tra.

Công việc tư vấn, thúc đẩy không được chú trọng. Dẫn đến hoạt động dự giờ dạy của GV chưa thực sự trở thành công cụ hữu hiệu nâng cao chất lượng giờ dạy.

Kiểm tra hoạt động của tổ, nhóm chuyên môn chưa tiến hành thường xuyên, chưa thực hiện đánh giá được năng lực của đội ngũ tổ trưởng.

Việc kiểm tra CSVC thiết bị thực hiện nghiêm túc, có quy định chặt chẽ việc sử dụng và bảo vệ tài sản nhà trường. Định kỳ mỗi năm học thực hiện kiểm tra CSVC lớp học 6 lần, mỗi học kỳ 3 lần. Kết quả kiểm tra được đưa vào thi đua đoàn. Thực hiện kiểm kê tài sản cuối năm học. Đây là ưu điểm nổi bật trong công tác quản lý CSVC của hiệu trưởng. Vấn đề kiểm tra tài chính được thực hiện chủ yếu bằng kinh nghiệm. Chưa có nghiệp vụ kiểm tra. Công tác giải quyết khiếu nại tố cáo thực hiện nghiêm túc, nên các năm gần đây không có tình trạng đơn thư kéo dài và vượt cấp.

2.5.4. Kiểm tra, đánh giá công tác kiểm tra nội bộ và xử lý kết quả kiểm tra nội bộ

Nhìn chung, các nhà trường chưa tiến hành đánh giá công tác KTNB định kỳ, mỗi học kỳ và kết thúc năm học, việc đưa các thông tin kiểm tra vào đánh giá còn nhiều bất cập, cho nên đánh giá còn lỏng lẻo. Chưa có hình thức biểu dương khen thưởng cá nhân, tập thể làm tốt hoạt động này. Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS.

  • Bảng 2.15. Thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động KTNB và xử lý kết quả KTNB ở các trường THCS quận Hồng Bàng

Qua điều tra bằng phiếu điều tra và kết hợp hỏi ý kiến trực tiếp của cán bộ, giáo viên của các trường trên địa bàn quận chúng tôi thu được kết quả ở bảng 2.15. Phân tích số liệu chúng tôi nhận thấy: Thực trạng tự kiểm tra của Hiệu trưởng có 37,5% và 48,21% tốt và bình thường; có tới 14,29% là chưa đạt. Đánh giá công tác KTNB có 30,36% và 50% tốt và bình thường; có tới 19,64% là chưa đạt. Xử lí kết quả KTNB có 33,93% và 35,71% tốt và bình thường; có tới 30,36% là chưa tốt.

Như vậy, qua kết quả điều tra trên đã nói lên rằng công tác đánh giá kết quả KTNB đã bắt đầu được chú trọng. Tuy nhiên, hạn chế vẫn tồn tại ở công tác tự kiểm tra của Hiệu trưởng và xử lí kết quả KTNB. Ở trong các nhà trường Hiệu trưởng là người quản lý chung mọi công việc do đó thời gian dành cho hoạt động kiểm tra nội bộ còn nhiều hạn chế. Có thể công tác tự kiểm tra của Hiệu trưởng rất tốt ở mặt này nhưng lại chưa tốt ở mặt kia hay nói cách khác kiểm tra một cách toàn diện và chi tiết là một vấn đề rất khó khăn. Mặt khác, khi có kết quả kiểm tra, cán bộ kiểm tra xử lý kết quả ấy lại chưa minh bạch, chưa thỏa đáng dẫn đến đối tượng được kiểm tra không khâm phục (điều đó thể hiện có 17 ý kiến đánh giá là chưa tốt).

2.5.5. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí hoạt động KTNB ở các trường THCS

Qua trao đổi, phỏng vấn 56 CBQL và GV của 8 trường THCS quận Hồng Bàng về các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí hoạt động KTNB trường học, tổng hợp các ý kiến tập trung vào một số vấn đề sau:

  • Hệ thống văn bản pháp luật, quy định liên quan đến công tác KTNB trường học nói chung và KTNB trường THCS nói riêng còn có những bất cập nhất định.
  • Nhận thức của đội ngũ CBQL và cộng tác viên kiểm tra về công tác kiểm tra nội bộ còn hạn chế.
  • Năng lực và nghiệp vụ của cộng tác viên tham gia công tác kiểm tra nội bộ chưa đáp ứng được yêu cầu công việc.
  • Hệ thống thông tin quản lý giáo dục có nhiều thông tin chưa đảm bảo tính chính xác đã được lan truyền trên các trang mạng xã hội.
  • Cơ sở vật chất, tài chính và chế độ chính sách đảm bảo cho đội ngũ tham gia hoạt động KTNB.
  • Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động KTNB

Qua khảo sát 56 CBQL và GV của 8 trường THCS quận Hồng Bàng về thực trạng quản lí hoạt động KTNB trường học, kết quả thu được như sau:

  • Bảng 2.16. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động KTNB ở các trường THCS quận Hồng Bàng

Qua phân tích số liệu ở bảng về thực trạng quản lý công tác KTNB chúng tôi nhận thấy rằng công tác này ở các trường THCS trên địa bàn quận Hồng Bàng đã được chú trọng (tốt và bình thường chiếm tỷ lệ khá cao trong các nội dung được khảo sát). Tuy nhiên, tỷ lệ chưa tốt chiếm ở các nội dung được khảo sát còn ở mức cao đặc biệt là tính kế hoạch hóa trong công tác KTNB là 26,79% và sự bảo đảm điều kiện CSVC, tài chính cho hoạt động KTNB là 39,29%. Vì vậy công tác quản lý KTNB cần được quan tâm nhiều hơn nữa.

2.6. Đánh giá chung về thực trạng Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS.

2.6.1. Ưu điểm

Công tác KTNB trường học là phần việc quan trọng trong quản lý, chỉ đạo nhà trường trong từng năm học; là việc làm tất yếu khi nhà quản lý muốn thu nhận các thông tin ngược trong quá trình quản lý giáo dục. KTNB trường Trung học cơ sở có được một số kết quả trong những năm học qua là nhờ sự nhận thức đúng đắn đó của Hiệu trưởng các nhà trường Trung học cơ sở và đã chuyển hoá nó thành quá trình chỉ đạo trong công tác quản lý.

Đội ngũ Hiệu trưởng và các cộng tác viên kiểm tra trong các nhà trường có trình độ chuyên môn đảm bảo, có phẩm chất chính trị tốt, nhiệt tình với công việc, đã nổ lực, cố gắng hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Các trường học đã chú trọng việc xây dựng kế hoạch KTNB, tổ chức, chỉ đạo hoạt động KTNB trường học theo đúng yêu cầu chỉ đạo của Phòng GD&ĐT và xác định được “kiểm tra là hoạt động nghiệp vụ quản lý của Hiệu trưởng”. Các trường đã có Quyết định thành lập Ban KTNB trường học ngay từ đầu năm học và chỉ đạo ban KTNB tiến hành kiểm tra được hầu hết các nội dung cơ bản cần kiểm tra đối với một đơn vị trường học. Đặc biệt đối với hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh được chú ý, dành thời gian nhiều hơn, thường xuyên hơn nhằm nắm bắt thông tin sát thực nhất cho các quyết định quản lý của mình. Nhờ có hoạt động kiểm tra được tiến hành thường xuyên mà mọi hoạt động của nhà trường được thực hiện có hiệu quả.

Tất cả các trường được khảo sát đều có tổ chức hoạt động KTNB thường xuyên. Kết quả kiểm tra được phản ánh đầy đủ, khá cụ thể trong hồ sơ quản lý của hiệu trưởng.

2.6.2. Nhược điểm Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS.

Đội ngũ Hiệu trưởng và cộng tác viên kiểm tra tuy có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có phẩm chất chính trị tốt, có kinh nghiệm quản lý, kinh nghiệm kiểm tra nhưng chưa được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra, kiểm tra giáo dục nên hiệu quả các cuộc kiểm tra chưa cao.

Nhà trường chưa quan tâm đến chế độ, quyền lợi của các thành viên trong ban kiểm tra, chưa thực sự tạo điều kiện về vật chất, tinh thần cho ban kiểm tra hoạt động thuận lợi. Điều đó đã ảnh hưởng tới định mức hoàn thành công việc và ảnh hưởng đến thái độ, chất lượng các cuộc kiểm tra.

Trong kiểm tra còn nể nang hoặc đưa ra những nhận xét thiếu cụ thể, chưa có tính thuyết phục, chưa có những quyết định dứt khoát khiến cho giáo viên chưa biết hướng phấn đấu, sửa chữa, sự tư vấn và thúc đẩy chưa được phát huy. Kiểm tra học sinh chủ yếu thông qua kết quả kiểm tra định kỳ và thông qua giáo viên chủ nhiệm. Việc kiểm tra trực tiếp học sinh của Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng còn ít, thường chỉ khảo sát chất lượng cuối giờ dạy thao giảng hoặc kết hợp với kiểm tra toàn diện giáo viên.

Việc xử lý sau kiểm tra khi có sai phạm còn nhẹ nhàng, chưa đưa ra những biện pháp mạnh để xử lý khiến cho giáo viên “nhờn” với kiểm tra. Ngược lại, người làm tốt cũng chưa có sự khích lệ kịp thời bằng vật chất, tinh thần xứng đáng để họ phát huy. Nhìn chung, việc kiểm tra còn mang tính hình thức, chưa mang lại tác dụng thực sự. Chưa làm tốt việc sử dụng kết quả kiểm tra trong công tác thi đua khen thưởng cuối kỳ, cuối năm học.

Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên chưa nhận thức rõ vai trò, vị trí, chức năng, tầm quan trọng của KTNB; hiểu KTNB chỉ như một hoạt động phối hợp nằm trong biện pháp động viên thi đua, coi đó chỉ là biện pháp để đánh giá do đó dẫn đến tư tưởng đối phó, hình thức.

Khâu đánh giá trong kiểm tra còn bị xem nhẹ: việc xác định các chuẩn chưa đúng (thường là hạ thấp chuẩn); việc so sánh thực trạng với chuẩn còn nhiều bất cập.

Nội dung kiểm tra, đối tượng kiểm tra chưa đầy đủ. Thường chỉ tập trung chủ yếu vào một số hoạt động như kiểm tra hồ sơ, dự giờ… và không thường xuyên; các hoạt động kiểm tra chủ yếu tập trung vào các đợt thi đua trong năm học, chuẩn bị kết thúc học kỳ và kết thúc năm học.

Xác định mục tiêu của hoạt động kiểm tra chưa đầy đủ. Chưa chú ý đến việc đề ra các biện pháp uốn nắn, giúp đỡ cần thiết.

Trình độ nghiệp vụ của người kiểm tra còn hạn chế, hầu như coi việc kiểm tra giảng dạy chỉ là dự một vài tiết lên lớp, với việc quan sát tổ chức bài học mà chưa thật sự chú trọng phân tích để rút ra được những kinh nghiệm sư phạm cần thiết sau mỗi tiết lên lớp. Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS.

Việc tổ chức, chỉ đạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm tra và hướng dẫn cách làm cụ thể cho cán bộ, giáo viên cũng như việc phân cấp trong kiểm tra chưa được chú trọng đúng mức; ít chú ý đến việc nghiên cứu và phổ biến kinh nghiệm sư phạm trước và sau kiểm tra.

2.6.3. Nguyên nhân của thực trạng

  • Nguyên nhân khách quan

Với việc xác định GD&ĐT là quốc sách hàng đầu, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm chăm lo cho sự nghiệp giáo dục. Từ đó, cơ chế chính sách đối với giáo dục cũng có những thay đổi theo từng giai đoạn.

Công cuộc đổi mới đặt ra cho ngành GD&ĐT nói chung, giáo dục quận Hồng Bàng nói riêng những yêu cầu cấp bách cần giải quyết, trong đó có đổi mới công tác quản lý; từ đó có những thay đổi trong công tác thanh, kiểm tra mà KTNB là một bộ phận. Những thay đổi trong nhận thức đã dẫn đến thay đổi trong hành động; công tác KTNB ngày càng đi đúng hướng hơn với vị trí, vai trò và chức năng, nhiệm vụ của nó.

Tuy nhiên, trong cơ chế chính sách cũng bộc lộ những bất cập ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động KTNB. Theo Nghị định số 42/2021/NĐ-CP ngày 09/5/2021 của Chính phủ “Về tổ chức và hoạt động thanh tra giáo dục” của Chính phủ và Thông tư số 39/2021/TT-BGDĐT ngày 04/12/2021 của Bộ GD&ĐT“Hướng dẫn về thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực giáo dục” trước hết, đó là sự giới hạn vai trò của phòng GD&ĐT trong công tác thanh, kiểm tra. Bên cạnh đó là những hướng dẫn thiếu tính cụ thể cũng như chế độ chính sách đối với đội ngũ làm công tác KTNB không được quan tâm cũng có tác động không nhỏ tới hoạt động này. Những bất cập về cơ chế kiểm tra trực tiếp tập trung vào việc xây dựng và thực hiện chuẩn đánh giá: tính chính xác của chuẩn, tính công bằng dân chủ, cách áp dụng chuẩn cũng như tính thống nhất cụ thể trong các cộng tác viên chưa đồng đều. Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS.

Với hoạt động KTNB, vai trò của Hiệu trưởng có ý nghĩa quyết định. Tuy nhiên trong quá trình đào tạo và bồi dưỡng ở các trường Sư phạm, nội dung này chưa được quan tâm đúng mức. Nói cách khác, Hiệu trưởng các trường THCS chưa được trang bị vốn kiến thức đầy đủ về công tác KTNB.

  • Nguyên nhân chủ quan

Nhưng cũng cần thấy rằng nhận thức của một bộ phận cán bộ quản lý còn hạn chế, chưa mạnh dạn đổi mới, chưa dám nhìn thẳng vào sự thật; chưa năng động, sáng tạo tìm ra những biện pháp phù hợp mà còn mang nặng tính áp đặt máy móc. Thời gian cán bộ quản lý dành cho hoạt động kiểm tra nhìn chung còn chưa tương xứng so với các chức năng quản lý khác và chưa thật sự chú trọng việc tổ chức, chỉ đạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm tra và hướng dẫn cách làm cụ thể cho cán bộ, giáo viên cũng như việc phân cấp trong kiểm tra chưa được chú trọng đúng mức; ít chú ý đến việc nghiện cứu và phổ biến kinh nghiệm sư phạm trước và sau kiểm tra.

  • Về chế độ chính sách đối với đội ngũ cộng tác viên chưa phù hợp.

Một bộ phận cán bộ quản lý còn cho rằng kiểm tra chỉ đơn thuần là một biện pháp quản lý trường học, chưa thấy được đó chính là chức năng cơ bản của quản lý trong quá trình quản lý nhà trường. Thời gian cán bộ quản lý dành cho hoạt động kiểm tra nhìn chung còn ít so với các chức năng quản lý khác và chưa thật sự chú trọng việc tổ chức, chỉ đạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm tra nội bộ trường học và hướng dẫn cách làm cụ thể cho cán bộ, giáo viên, nhân viên trong trường, việc phân cấp trong kiểm tra chưa mạnh dạn và rõ ràng.

Kết luận chương 2 Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS.

Trong những năm gần đây, nhìn chung công tác quản lý hoạt động KTNB các trường THCS thuộc quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng đã đạt được những kết quả nhất định, góp phần không nhỏ vào thành tích chung của phong trào giáo dục quận, khẳng định vị thế của một địa phương có truyền thống hiếu học, quận trung tâm đi đầu thành phố.

Tuy nhiên do nhiều điều kiện cả khách quan và chủ quan, công tác quản lý hoạt động KTNB trường học vẫn chưa thực sự được chú trọng và đặc biệt là chưa được triển khai thực hiện nghiêm túc, đúng quy định. Cụ thể: Nhận thức của một số bộ phận cán bộ quản lý còn hạn chế, chưa mạnh dạn đổi mới, chưa dám nhìn thẳng vào sự thật; các tiêu chí đánh giá phong trào thi đua chưa phù hợp với thực tế vì vậy phần nào tạo ra cách quản lý và kiểm tra mang tính hình thức; đội ngũ cán bộ quản lý ở một số nơi chưa năng động, chưa sáng tạo để tìm ra những biện pháp phù hợp mà còn mang nặng áp đặt máy móc. Từ đó làm cho việc quản lý hoạt động KTNB trường học nặng nề chưa hiệu quả. Cán bộ quản lý chưa chủ động tổng kết kinh nghiệm thực tiễn trong quản lý hoạt động KTNB trường THCS; trong chỉ đạo, điều hành thiếu mô hình cụ thể, thiếu quy trình.

Trước những yêu cầu phát triển ngày càng cao của xã hội đối với sự nghiệp giáo dục, công tác quản lý hoạt động KTNB ở các trường THCS quận Hồng Bàng phải được tiếp tục cải tiến để theo kịp với thực tiễn đổi mới. Đó là một trong những vấn đề cấp bách đang đặt ra hiện nay. Những phân tích về thực trạng công tác KTNB ở các trường THCS ở chương hai này là cơ sở khoa học cho những đề xuất biện pháp quản lý chỉ đạo hoạt động KTNB ở các trường THCS thuộc quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng trong chương ba dưới đây với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng công tác KTNB ở các trường THCS trên địa bàn. Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993