Luận văn: Thực trạng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS theo định hướng phân luồng ở huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát về kinh tế-xã hội ở huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh

2.1.1. Đặc điểm địa lý tự nhiên, lịch sử, văn hóa, kinh tế – xã hội

Gia Bình là huyện nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Bắc Ninh với diện tích tự nhiên 10752,8 ha, dân số 93242 người và 28192 hộ gia đình. Các đơn vị hành chính của huyện Gia Bình gồm 1 thị trấn và 13 xã, trung tâm huyện lỵ là thị trấn Gia Bình; phía Bắc giáp huyện Quế Võ; phía Nam giáp huyện Lương Tài; phía Tây giáp huyện Thuận Thành.

Trong lịch sử, Gia Bình vốn là vùng đất “địa linh nhân kiệt”, nơi sinh thành nhiều bậc hiền tài từng làm “rường cột” của quốc gia, dân tộc, như: thời Thục An Dương Vương có tướng quân Cao Lỗ chế tạo “nỏ thần” đánh lui quân xâm lược; Trạng nguyên khai khoa, Thái sư Lê Văn Thịnh tài cao đức trọng, thày dạy của minh vương Lý Nhân Tông; Trạng nguyên, Thiền sư Huyền Quang – một trong ba vị Tam Tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử; Thám hoa Nguyễn Văn Thực văn chương cái thế như rồng cuốn gấm thêu; Quận công Nguyễn Công Hiệp văn võ toàn tài, đức dày như núi, tâm sáng tựa ngọc đã hưng dựng nên nhiều công trình, danh lam, cổ tự nổi tiếng xứ Bắc Ninh – Kinh Bắc…Nơi đây còn nổi tiếng với những làng nghề như: gò đồng Đại Bái, tre trúc Xuân Lai… Luận văn: Thực trạng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS.

Gia Bình là vùng đồng bằng chiêm trũng song lại có núi, có sông “sơn thuỷ hữu tình”. Dãy núi Thiên Thai trải dài ở phía Tây Bắc của huyện tựa như con Rồng đang vươn mình ra sông Đuống và những mỏm núi được các làng xã đặt những tên cổ kính với các hình ảnh khác nhau. Bên cạnh núi còn có các con sông lớn nhỏ chảy qua huyện. Cũng chính các con sông này từ ngàn đời xưa đã bồi đắp lượng phù sa lớn cho các dân cư bên bờ sông làm nên vùng đất trù phú, màu mỡ của huyện Gia Bình.

Cùng với xu thế phát triển chung của đất nước, huyện Gia Bình đã quan tâm đầu tư phát triển kinh tế công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, từ chỗ trắng về công nghiệp thì đến nay toàn huyện đã có 45 doanh nghiệp, 3 HTX và 4.120 hộ cá thể hoạt động trên lĩnh vực công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, giải quyết việc làm cho 8.000 lao động. Bên cạnh các các làng nghề truyền thống như: tre trúc Xuân Lai, đúc đồng Đại Bái… vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng cao và bền vững, trên địa bàn đã hình thành một số nghề mới như may mặc, thêu zen, đan lát thu hút một số lượng lớn lao động nông thôn tham gia, hình thành lên những làng nghề mới như may gia công Ngăm Lương, Xuân Lai, Cổ Thiết.

Kinh tế phát triển đã tạo điều kiện để huyện Gia Bình đầu tư phát triển hạ tầng cơ sở. Từ chỗ cả huyện chưa có một mét đường bê tông thì trong 15 năm qua huyện đã đầu tư kinh phí đầu tư xây dựng gần 1.300 tỷ đồng xây dựng các tuyến huyện lộ, đường liên xã, thôn có chiều dài trên 400 km, để đến hôn nay bê tông hoá nối dài đến từng ngõ xóm, từng khu dân cư. Huyện Gia Bình đã vinh dự được nhận cờ thi đua của Chính phủ về phong trào làm đường giao thông nông thôn. Đặc biệt được sự quan tâm của tỉnh, đường nối tỉnh lộ 282 – cầu qua Sông Đuống với Quốc lộ 18 được đầu tư xây dựng mở ra cơ hội, triển vọng phát triển mới của huyện trong tương lai.

Nhìn lại chặng đường 18 năm sau ngày tái lập huyện, tuy thời gian chưa phải là dài, nhưng đã kịp để huyện Gia Bình bứt phá đi lên và đạt được những kết quả to lớn. Ghi nhận những thành tích đã đạt được trong 18 năm qua, của cán bộ và nhân dân huyện Gia Bình đã có hàng trăm lượt tập thể, cá nhân được phong tặng, tặng thưởng các danh hiệu khen thưởng của Đảng, Nhà nước và của Tỉnh. Trong đó huyện đã 2 lần được Đảng – Nhà nước tặng thưởng huân chương lao động. Đặc biệt dịp kỷ niệm 15 năm tái lập huyện, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Gia Bình lại vinh dự được đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhì, khẳng định những công lao, thành tích đầy tự hào.

Phát huy truyền thống văn hiến, cách mạng, anh hùng và những thành tựu qua nhiều thời kỳ xây dựng, phát triển, đặc biệt là qua 18 năm tái lập, đang là động lực to lớn, nguồn cổ vũ động viên để Đảng bộ và nhân dân huyện Gia Bình tiếp tục đẩy mạnh thi đua, đoàn kết, chung sức, đồng lòng xây dựng nông thôn mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ công bằng, văn minh, xứng đáng với truyền thống quê hương anh hùng.

2.1.2. Đặc điểm Giáo dục và Đào tạo Luận văn: Thực trạng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS.

Từ khi tái lập huyện năm 1999, được sự quan tâm, chăm lo, đầu tư của các cấp, các ngành và nhân dân các địa phương trong tỉnh, sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo Gia Bình tiếp tục phát triển, đạt được những thành tựu quan trọng, tương đối toàn diện.

  • Công tác quản lý có nhiều đổi mới, chỉ đạo sát thực tế, tạo sự đồng thuận trong ngành và xã hội; Chấn chỉnh việc dạy thêm, học thêm, lạm thu trong trường học; thực hiện có hiệu quả Đề án “Đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2022-2028, định hướng đến năm 2030” của tỉnh.
  • Quy mô, mạng lưới trường, lớp ổn định, phù hợp, đáp ứng được nhu cầu học tập của con em nhân dân; công tác phổ cập giáo dục được chỉ đạo tích cực, đạt kết quả vững chắc; huy động học sinh trong các độ tuổi đến trường đạt tỷ lệ cao. Năm 2020, huyện Gia Bình cùng 8 huyện thị xã, thành phố của tỉnh Bắc Ninh là tỉnh đầu tiên trong cả nước được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận hoàn thành phổ cập Giáo dục Mầm non cho trẻ 5 tuổi; năm 2025 cũng là đơn vị đầu tiên được Bộ GD&ĐT kiểm tra và công nhận PCGD Tiểu học, PCGD THCS đạt mức độ 3, XMC đạt mức độ 2.
  • Chất lượng giáo dục toàn diện có chuyển biến tiến bộ rõ rệt.
  • Đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, cơ cấu tương đối hợp lý, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ trên chuẩn cao, cơ bản đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục; 100% giáo viên có trình độ đạt chuẩn, trình độ trên chuẩn đạt 85%.
  • Cơ sở vật chất trường học được quan tâm đầu tư theo hướng chuẩn hoá và hiện đại, tỷ lệ phòng học kiên cố cao tầng đạt 100%, trường chuẩn quốc gia đạt 100%; cảnh quan sư phạm của các nhà trường luôn đảm bảo xanh- sạch- đẹp.
  • Công tác xã hội hoá giáo dục có hiệu quả, phát huy được các nguồn lực xã hội để phát triển sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo của huyện.
  • Toàn ngành đã triển khai và thực hiện tốt các cuộc vận động lớn, các phong trào thi đua đi vào chiều sâu, hiệu quả và trở thành hoạt động thường xuyên của ngành.

2.2. Thực trạng phân luồng học sinh THCS trên địa bàn huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh Luận văn: Thực trạng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS.

Để khảo sát thực trạng công tác phân luồng học sinh sau THCS và thực trạng công tác quản lý phân luồng học sinh sau THCS ở huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh, chúng tôi sử dụng phiếu thăm dò ý kiến với những câu hỏi kín và tiến hành khảo sát tại 6 trường THCS, Phòng GD&ĐT, Trung tâm GDTX trên địa bàn ở 3 nhóm đối tượng:

  • Nhóm CBQL và GV:

Gồm 98 người gồm cán bộ Phòng GD&ĐT, Hiệu trưởng/ Giám đốc, Phó Hiệu trưởng/ Phó Giám đốc, Tổ trưởng chuyên môn, GV chủ nhiệm, GV phụ trách công tác hướng nghiệp, dạy nghề phổ thông, tham gia thực hiện nhiệm vụ phân luồng học sinh.

Nội dung phiếu thăm dò ý kiến: Liệt kê từng nội dung, hình thức và nhận thức về công tác phân luồng học sinh sau THCS; liệt kê các công việc của nhà quản lý cần phải thực hiện trong công tác quản lý phân luồng học sinh sau THCS, xây dựng kế hoạch phân luồng học sinh sau THCS, tổ chức, chỉ đạo thực hiện các nội dung phân luồng học sinh sau THCS, tổ chức quản lý sự phối hợp trong phân luồng học sinh sau THCS, quản lý các điều kiện đảm bảo phân luồng học sinh sau THCS, kiểm tra đánh giá công tác phân luồng học sinh sau THCS, những yếu tố gây khó khăn trong công tác phân luồng học sinh sau THCS.

  • Nhóm cha mẹ HS: Luận văn: Thực trạng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS.

Gồm 165 cha mẹ HS lớp 9 đang học ở 6/15 trường THCS trên địa bàn huyện Gia Bình.

Nội dung phiếu thăm dò ý kiến: cũng như nội dung phiếu thăm dò ý kiến CBQL và GV. Tuy nhiên, một số nội dung thuộc về nghiệp vụ chuyên môn của nhà quản lý thì CMHS không được hỏi.

  • Nhóm học sinh:

Gồm 292 HS lớp 9 tại 6/15 trường THCS.

Nội dung phiếu thăm dò ý kiến của HS khá đơn giản, chỉ hỏi về mức độ hiểu biết của các em đối với nội dung, hình thức và nhận thức về công tác phân luồng học sinh sau THCS; mức độ hiểu biết về một số công việc của nhà quản lý trong tổ chức – chỉ đạo thực hiện các nội dung phân luồng học sinh sau THCS, những yếu tố gây khó khăn trong công tác phân luồng học sinh sau THCS. Một số nội dung thuộc về nghiệp vụ chuyên môn của nhà quản lý thì HS không được hỏi.

Ngoài ra, để tìm hiểu nguyện vọng tiếp tục học lên sau THCS, chúng tôi có một câu hỏi nhiều lựa chọn chỉ dành cho CMHS và HS.

Bảng 2.1. Danh sách các đơn vị tham gia khảo sát

  • Cách thức xử lý số liệu:

Ngoài một số câu hỏi được đánh giá theo tỉ lệ %, các câu hỏi trong phiếu khảo sát được đánh giá theo thang điểm như sau: Tốt/ Rất nhiều/ Rất thường xuyên có giá trị 4, Khá/ Nhiều/ Thường xuyên có giá trị 3, Trung bình/ Ít/ Không thường xuyên có giá trị 2, Yếu/ Không/ Không thực hiện có giá trị 1.

Quy ước thang đo:

  • Mức 4 (ĐTB từ 5 đến 4.0): Tốt / Rất nhiều/ Rất thường xuyên
  • Mức 3 (ĐTB từ 5 đến dưới 3.5): Khá/ Nhiều/ Thường xuyên.
  • Mức 2 (ĐTB từ 5 đến dưới 2.5): Trung bình/ Ít/ Không thường xuyên.
  • Mức 1 (ĐTB từ 0 đến dưới 1.5): Yếu/ Không/ Không thực hiện.

2.2.1. Thực trạng nhận thức về phân luồng học sinh sau trung học cơ sở Luận văn: Thực trạng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS.

Công tác phân luồng học sinh sau THCS muốn đạt được hiệu quả như mong đợi, trước hết CBQL và GV những người trực tiếp thực hiện phải nhận thức rõ ràng về khái niệm, mục đích, ý nghĩa nhiệm vụ mình đang làm, đồng thời tuyên truyền, hướng dẫn cho CMHS và HS hiểu được tầm quan trọng của việc chọn hướng đi thích hợp cho con em mình, cho bản thân HS.

  • Bảng 2.2. Mức độ nhận thức về phân luồng học sinh sau THCS

Kết quả khảo sát mức độ nhận thức về phân luồng học sinh sau THCS được thể hiện ở Bảng 2.2 cho thấy, từ nội dung 1 đến nội dung 4, đa số CBQL và GV đồng ý với khái niệm, ý nghĩa công tác phân luồng học sinh sau THCS (tỉ lệ lần lượt: 94.9, 73.5, 89.8 và 83.7). CMHS và HS cũng đồng ý, nhưng mức độ hiểu về phân luồng học sinh sau THCS còn hạn chế hơn so với CBQL và GV (tỉ lệ giảm dần từ CMHS đến HS). Đặc biệt, đối với HS, tỉ lệ không có ý kiến khá cao (lần lượt: 21.6, 29.4, 26 và 35.5), số liệu này cho thấy còn một phần lớn HS mơ hồ, chưa hiểu rõ về công tác phân luồng học sinh sau THCS.

Đối với nội dung 5, mục đích của phân luồng học sinh sau THCS nhằm để giảm HS vào THPT (luồng chính), tăng HS vào GDTX, TCCN và học nghề (luồng phụ) thì từ CBQL, GV, CMHS đến HS đều chưa hiểu được vấn đề này. Qua khảo sát, chỉ có 48% CBQL và GV, 31.3% CMHS và 24.3% HS đồng ý, trong khi đó có đến 35.7% CBQL và GV, 39.9% CMHS và 44.4% HS không đồng ý bên cạnh 16.3% CBQL và GV, 28.8% CMHS và 31.2% HS còn lưỡng lự, không có ý kiến.

Biểu đồ 2.1 giúp ta có cái nhìn khái quát về mức độ đồng ý với các nội dung nhận thức về phân luồng học sinh sau THCS ở 3 nhóm đối tượng tham gia khảo sát. Luận văn: Thực trạng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS.

CBQL và GV có nhận định tương đối đồng đều và tích cực hơn CMHS và HS ở hầu hết nội dung khảo sát là do khác biệt về trình độ chuyên môn, trình độ quản lý và sự hiểu biết.

  • Biểu đồ 2.1. Nhận thức về phân luồng học sinh sau THCS

Ngoài ra, để tìm hiểu nguyện vọng tiếp tục học lên sau THCS, chúng tôi đã tiến hành khảo sát CMHS và HS với nội dung: học tiếp ở trường THPT, trường TCCN, trường trung cấp nghề, Trung tâm GDTX, trung tâm DN, các loại cơ sở giáo dục, DN khác; tham gia lao động; ở nhà phụ giúp gia đình; chưa rõ. Kết quả kháo sát có đến 91.98% CMHS và 82.19% HS chọn tiếp tục học ở trường THPT, trong khi chỉ có 5.56% CMHS và 6.51% HS chọn học tiếp ở trường TCCN và DN, bên cạnh 1.23% CMHS và 8.56% HS trả lời là chưa rõ sẽ chọn hướng đi nào cho tương lai. Điều đó có nghĩa rằng, tâm lý học tiếp ở THPT vẫn còn là lựa chọn duy nhất của đại đa số CMHS và HS sau khi tốt nghiệp THCS, mặc dù giờ đây cánh cửa liên thông trong giáo dục đã rộng mở.

2.2.2. Nội dung phân luồng học sinh sau trung học cơ sở

  • Bảng 2.3. Nội dung phân luồng học sinh sau THCS

Thực hiện quy định của Luật Giáo dục 2013, “Giáo dục trung học cơ sở nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động” [31] và Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Huyện Gia Bình lần thứ XXI, ngành GD&ĐT huyện đẩy mạnh công tác phân luồng học sinh sau THCS nhằm thực hiện vững chắc phổ cập bậc trung học cơ sở và chuẩn bị nguồn nhân lực phù hợp đáp ứng cơ cấu phát triển kinh tế – xã hội trong giai đoạn 2024-2021 và những năm tiếp theo. Nội dung phân luồng học sinh sau THCS ở huyện Gia Bình gồm: luồng vào THPT, luồng vào Trung tâm GDTX và luồng vào TCCN, học nghề. Luận văn: Thực trạng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS.

Qua khảo sát nội dung phân luồng học sinh sau THCS (Bảng 2.3), tất cả CBQL, GV, CMHS và học sinh đều nhận định rằng nội dung phân luồng vào THPT đã được thực hiện từ khá đến tốt (ĐTB lần lượt là 3.3, 3.6 và 3.5), riêng đối với CHMS nhận định tốt (ĐTB 3.6). Tuy nhiên phân luồng vào Trung tâm GDTX và GDNN được nhận định kém hơn nhiều, mặc dù vẫn ở mức khá (ĐTB lần lượt là 2.9, 2.6, 2.5 đối với phân luồng vào Trung tâm GDTX và 2.6, 2.7, 2.7 đối với phân luồng vào giáo dục nghề nghiệp) nhưng số liệu cụ thể cũng cho thấy nhận định ở rất gần mức trung bình (dưới 2.5 là trung bình). Điều này cũng nói lên rằng nội dung phân luồng vào GDTX và giáo dục nghề nghiệp tuy có thực hiện nhưng chưa đạt kết quả mong muốn, còn ít so với mục tiêu.

Biểu đồ 2.2 khái quát nhận định về các nội dung phân luồng học sinh sau THCS cho thấy nội dung phân luồng vào THPT và phân luồng vào GDNN được CMHS và HS đánh giá cao hơn CBQL và GV, điều này ngược lại ở nội dung phân luồng vào Trung tâm GDTX. Đáng chú ý, ở nội dung phân luồng vào GDNN, CMHS và HS đánh giá kết quả thực hiện như nhau và cao hơn kết quả thực hiện nội dung phân luồng vào Trung tâm GDTX (ĐTB cùng 2.7, hạng 2 so với 2.6 và 2.5, hạng 3). Điều này cho thấy việc thực hiện phân luồng vào GDNN được thực hiện tốt hơn so với phân luồng vào GDTX nếu quan sát từ góc độ của CMHS và HS, cũng có nghĩa là CMHS và HS quan tâm đến GDNN chỉ sau THPT và trước GDTX.

  • Biểu đồ 2.2. Nhận định về thực hiện các nội dung phân luồng HS sau THCS

2.2.3. Hình thức phân luồng học sinh sau trung học cơ sở

Phân luồng học sinh sau THCS được thực hiện thông qua 2 hình thức: công tác hướng nghiệp ở trường THCS (đặc biệt đối với HS lớp 9) và công tác tuyển sinh sau tốt nghiệp THCS. Luận văn: Thực trạng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS.

  • Công tác hướng nghiệp ở trường THCS
  • Bảng 2.4. Kết quả khảo sát CBQL, GV và CMHS về công tác hướng nghiệp

Kết quả khảo sát CBQL và GV về công tác hướng nghiệp ở trường THCS (đặc biệt đối với HS lớp 9) được thể hiện ở Bảng 2.4 cho thấy: Tất cả CBQL và GV đánh giá mức độ thực hiện các nội dung công tác hướng nghiệp ở trường THCS là thường xuyên.

Trong đó, các nội dung được đánh giá ở mức cao: “Tổ chức thực hiện kế hoạch HN theo chủ đề” (ĐTB 3.10), hạng 1; “Xây dựng kế hoạch HN” (ĐTB 3.07), hạng 2; “Tuyên truyền nâng cao nhận thức của CB, GV, HS và CMHS về HN” (ĐTB 2.88), hạng 3; “Xây dựng kế hoạch phối hợp giữa nhà trường và các lực lượng giáo dục trong công tác HN” (ĐTB 2.87), hạng 4, các nội dung được đánh giá ở mức thấp: “Thành lập Ban chỉ đạo HN để thực hiện kế hoạch HN, tư vấn HN và phân luồng tại nhà trường” (ĐTB 2.74), hạng 8;”Bồi dưỡng, phát triển đội ngũ giáo viên làm công tác HN” (ĐTB 2.70), hạng 9; “Thực hiện việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác HN” (ĐTB 2.64), hạng 10 và “Tổ chức thực hiện HN thông qua các môn học” (ĐTB 2.64), hạng 11.

Về kết quả thực hiện, CBQL và GV đánh giá “khá” và có ĐTB cao hơn ĐTB mức độ thực hiện (ĐTB thấp nhất là 2.96 và cao nhất là 3.20). Kết quả khảo sát ở bảng 2.4 cũng cho thấy có 4 nội dung được CBQL và GV đánh giá đồng hạng về mức độ và kết quả thực hiện, cao nhất là “Tổ chức thực hiện kế hoạch HN theo chủ đề” (hạng 1) và thấp nhất là “Bồi dưỡng, phát triển đội ngũ giáo viên làm công tác HN” (hạng 9/11).

Giống như kết quả khảo sát CBQL và GV, CMHS đánh giá mức độ thực hiện 100% nội dung công tác HN ở trường THCS là “thường xuyên” nhưng ĐTB thấp hơn. Cụ thể, được xếp hạng cao là các nội dung: “Xây dựng kế hoạch HN” (ĐTB 2.94), hạng 1; “Tuyên truyền nâng cao nhận thức của HS và CMHS về HN” (ĐTB 2.92), hạng 2; “Xây dựng kế hoạch phối hợp giữa nhà trường và các lực lượng giáo dục trong công tác HN” (ĐTB 2.85), hạng 3 và xếp hạng thấp là “Tổ chức thực hiện HN thông qua các môn học” (ĐTB 2.68), hạng 7; “Đa dạng hoá các hình thức triển khai công tác HN ở các trường THCS” (ĐTB 2.61), hạng 8 và “Tổ chức các buổi tuyên truyền, tư vấn HN ngoài giờ học” (ĐTB 2.60), hạng 9. Kết quả này cho thấy, CMHS không đánh giá cao mức độ thực hiện công tác HN ở trường THCS như CBQL và GV.

Về kết quả thực hiện, tuy có được ĐTB cao hơn so với mức độ thực hiện nhưng CMHS chỉ đánh giá “khá”, không có nội dung nào “tốt” (ĐTB thấp nhất là 2.77 và cao nhất là 3.21). Luận văn: Thực trạng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS.

Kết quả khảo sát ở bảng 2.4 cũng cho thấy có đến 5/9 nội dung được CMHS đánh giá đồng hạng về mức độ thực hiện và kết quả thực hiện, cao nhất là “Xây dựng kế hoạch HN” (hạng 1). CMHS nhận định nội dung có mức độ thực hiện thấp nhất là “Tổ chức các buổi tuyên truyền, tư vấn HN ngoài giờ học” (ĐTB 2.60) và nội dung có kết quả thực hiện thấp nhất là “Đa dạng hoá các hình thức triển khai công tác HN ở các trường THCS” (ĐTB 2.77).

Đối với HS, khảo sát nội dung công tác HN ở trường THCS (đặc biệt đối với HS lớp 9) có kết quả như ở Bảng 2.5.

  • Bảng 2.5. Kết quả khảo sát HS về công tác hướng nghiệp

HS nhận định về mức độ thực hiện công tác HN ở trường THCS thấp hơn nhiều so với CMHS và CBQL, GV. Chỉ có 3 nội dung được đánh giá “thường xuyên” là “Xây dựng kế hoạch HN” (ĐTB 2.86), hạng 1; “Tuyên truyền nâng cao nhận thức của HS và cha mẹ HS về HN” (ĐTB 2.69), hạng 2 và “Tổ chức thực hiện kế hoạch HN theo chủ đề” (ĐTB 2.64), hạng 3, các nội dung còn lại được đánh giá “không thường xuyên”.

Ở kết quả thực hiện, HS đánh giá ở mức “khá” (8 nội dung) với ĐTB ở mức “trung bình – khá” (từ ĐTB 3.03, hạng 1 xuống 2.59, hạng 7) và 1 nội dung ở mức “trung bình” là “Thực hiện việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác HN” (ĐTB 2.43), xếp đồng hạng thấp nhất với mức độ thực hiện (8/8).

Công tác hướng nghiệp ở trường THCS (đặc biệt đối với HS lớp 9) ở huyện Gia Bình có ưu điểm ở một số nội dung: “Tổ chức thực hiện kế hoạch HN theo chủ đề”,“Xây dựng kế hoạch HN”, “Xây dựng kế hoạch phối hợp giữa nhà trường và các lực lượng giáo dục trong công tác HN”, “Tuyên truyền nâng cao nhận thức của CB, GV, HS và CMHS về HN” và “Tổ chức thực hiện kế hoạch HN theo chủ đề” cho thấy thực tế công tác này đã được ngành GD&ĐT huyện, các trường THCS tổ chức thực hiện thường xuyên, có kế hoạch với nhiều hình thức và nội dung phong phú, được sự quan tâm của gia đình học sinh, nhận thức của Ban giám hiệu các trường THCS về công tác này có chuyển biến tích cực, rõ nét… làm nền tảng vững chắc cho công tác phân luồng. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều nội dung hạn chế, đáng chú ý: “Bồi dưỡng, phát triển đội ngũ giáo viên làm công tác HN”; “Thực hiện việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác HN”; “Tổ chức thực hiện HN thông qua các môn học”… cho thấy hiện nay đội ngũ GV làm công tác HN đang thiếu, phải kiêm nhiệm, HN vẫn còn bó hẹp trong phạm vi nhà trường chưa đem đến cho HS sự mới mẻ trong nhận thức về nghề nghiệp và nhu cầu cần thiết phải có một nghề vững vàng trong cuộc sống tương lai, đây chính là mục tiêu của HN trong công tác phân luồng học sinh sau THCS.

  • Công tác tuyển sinh sau tốt nghiệp THCS Luận văn: Thực trạng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS.
  • Bảng 2.6. Kết quả khảo sát CBQL, GV và CMHS về công tác tuyển sinh

Kết quả khảo sát thể hiện ở Bảng 2.6 cho thấy CBQL và GV đánh giá mức độ thực hiện 100% nội dung công tác tuyển sinh sau tốt nghiệp THCS ở mức “thường xuyên”. Cụ thể, được xếp hạng cao là các nội dung: “Quy định cách thức tổ chức, phương án thi tuyển vào các trường THPT trên địa bàn” (ĐTB 3.41), hạng 1; “Phân công thi tuyển vào trường THPT theo địa bàn.” (ĐTB 3.35), hạng 2; “Thành lập Ban chỉ đạo tuyển sinh cấp tỉnh” (ĐTB 3.32), hạng 3; “Kiểm tra, giám sát chặt chẽ công tác tuyển sinh” (ĐTB 3.26), hạng 4, các nội dung có hạng thấp: “Ban chỉ đạo tuyển sinh thống nhất với các trường THPT và TTGDTX về phương án tuyển sinh” (ĐTB 3.21), hạng 9; “Tổ chức coi và chấm thi tuyển vào trường THPT và xét theo điểm chuẩn” (ĐTB 3.20), hạng 10; “Có biện pháp xử lý các sự cố, tình huống phát sinh trong quá trình thực hiện công tác tuyển sinh” (ĐTB 3.09), hạng 11; “Ban chỉ đạo tuyển sinh thống nhất với các trường TCCN và DN về phương án tuyển sinh” (ĐTB 2.96), hạng 12.

Về kết quả thực hiện, có đến ½ số nội dung được đánh giá “tốt”, số còn lại được đánh giá “khá”. Trong đó nổi bật là các nội dung: “Kiểm tra, giám sát chặt chẽ công tác tuyển sinh” (ĐTB 3.61), hạng 1; “Xây dựng phương án tuyển sinh vào lớp 10 (thi tuyển)” (ĐTB 3.59), hạng 2 và “Thành lập Hội đồng tuyển sinh ở các trường THPT” (ĐTB 3.57), hạng 3. Tiếp đến là các nội dung: “Thành lập Ban chỉ đạo tuyển sinh cấp tỉnh” (ĐTB 3.53), hạng 4; “Tổ chức coi và chấm thi tuyển vào trường THPT và xét theo điểm chuẩn” và “Có biện pháp xử lý các sự cố, tình huống phát sinh trong quá trình thực hiện công tác tuyển sinh” (cùng ĐTB 3.51), xếp đồng hạng 5. Các nội dung xếp hạng thấp vẫn có ĐTB tương đối cao: “Ban chỉ đạo tuyển sinh thống nhất với các trường THPT và TTGDTX” (ĐTB 3.45), hạng 10, “Đánh giá chất lượng công tác tuyển sinh” (ĐTB 3.42), hạng 11 hay “Ban chỉ đạo tuyển sinh thống nhất với các trường TCCN và DN về phương án tuyển sinh” (ĐTB 3.15), hạng 12 (đây là nội dung duy nhất có sự đồng hạng giữa mức độ và kết quả thực hiện). Số liệu cho thấy rằng, trên thực tế công tác tuyển sinh sau tốt nghiệp THCS được thực hiện có hiệu quả cao. Luận văn: Thực trạng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS.

Số liệu thống kê ở bảng 2.6 cho thấy CMHS đánh giá mức độ thực hiện công tác tuyển sinh sau tốt nghiệp THCS ở mức “rất thường xuyên” (1 nội dung) và “thường xuyên” (7 nội dung). Nội dung “Phân công thi tuyển vào trường THPT theo địa bàn.” (ĐTB 3.52), hạng 1. Kế tiếp là các nội dung xếp hạng lần lượt từ 2 đến 8: “Quy định cách thức tổ chức, phương án thi tuyển vào các trường THPT trên địa bàn” (ĐTB 3.48); “Xây dựng phương án tuyển sinh vào lớp 10 (thi tuyển)” (ĐTB 3.43); “Tổ chức coi và chấm thi tuyển vào trường THPT và xét theo điểm chuẩn” (ĐTB 3.35); “Kiểm tra, giám sát chặt chẽ công tác tuyển sinh” (ĐTB 3.33); “Thành lập Ban chỉ đạo tuyển sinh cấp tỉnh” (ĐTB 3.31); “Thông báo công khai về chỉ tiêu tuyển sinh của các trường THPT trên địa bàn” (ĐTB 3.30) và “Thành lập Hội đồng tuyển sinh ở các trường THPT” (ĐTB 3.24).

Về kết quả thực hiện, CMHS nhận định có 3 nội dung đạt mức “tốt”: “Phân công thi tuyển vào trường THPT theo địa bàn.” (ĐTB 3.57), hạng 1; “Quy định cách thức tổ chức, phương án thi tuyển vào các trường THPT trên địa bàn” (ĐTB 3.56), và “Xây dựng phương án tuyển sinh vào lớp 10 (thi tuyển)” (cùng ĐTB 3.56), đồng hạng 2, cùng với 5 nội dung đạt mức “khá”: “Tổ chức coi và chấm thi tuyển vào trường THPT và xét theo điểm chuẩn” (ĐTB 3.45), hạng 4; “Kiểm tra, giám sát chặt chẽ công tác tuyển sinh” (ĐTB 3.43), hạng 5; “Thông báo công khai về chỉ tiêu tuyển sinh của các trường THPT trên địa bàn” (ĐTB 3.42), hạng 6; “Thành lập Ban chỉ đạo tuyển sinh cấp tỉnh” (ĐTB 3.37), hạng 7 và “Thành lập Hội đồng tuyển sinh ở các trường THPT” (ĐTB 3.29), hạng 8. Có đến 5 nội dung được đánh giá đồng hạng giữa mức độ và kết quả thực hiện: hạng 1, 2, 4, 5 và 8.

Nhìn chung, CMHS đánh giá công tác tuyển sinh sau tốt nghiệp THCS được thực hiện khá thường xuyên và đạt kết tương đối tốt. Công tác tuyển sinh sau tốt nghiệp THCS được HS nhận định ở Bảng 2.7.

  • Bảng 2.7. Kết quả khảo sát HS về công tác tuyển sinh

HS đánh giá các nội dung: “Quy định cách thức tổ chức, phương án thi tuyển vào các trường THPT trên địa bàn”, hạng 1; “Phân công thi tuyển vào trường THPT theo địa bàn.”, hạng 2; “Thông báo công khai về chỉ tiêu tuyển sinh của các trường THPT trên địa bàn”, hạng 3; “Kiểm tra, giám sát chặt chẽ công tác tuyển sinh”, hạng 4; “Xây dựng phương án tuyển sinh vào lớp 10 (thi tuyển)”, hạng 5; “Thành lập Hội đồng tuyển sinh ở các trường THPT”, hạng 6 và “Thành lập Ban chỉ đạo tuyển sinh tỉnh”, hạng 7. Thứ hạng trên trùng nhau về mức độ và kết quả thực hiện. Luận văn: Thực trạng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS.

Kết quả khảo sát ở cả 3 nhóm đối tượng cho thấy công tác tuyển sinh sau tốt nghiệp THCS có nhiều nội dung được đánh giá cao cả về mức độ lẫn về kết quả thực hiện như: “Quy định cách thức tổ chức, phương án thi tuyển vào các trường THPT trên địa bàn”; “Phân công thi tuyển vào trường THPT theo địa bàn.”; “Xây dựng phương án tuyển sinh vào lớp 10”; “Kiểm tra, giám sát chặt chẽ công tác tuyển sinh…”.

Thực tế, công tác này có ưu điểm: được lãnh đạo địa phương và ngành GD&ĐT quan tâm chỉ đạo thường xuyên, liên tục hàng năm và có kết quả tương đối tốt, đa số học sinh tham gia thi tuyển vào học THPT, một số ít học nghề tại các trường trung cấp chuyên nghiệp, số còn lại vận động học tiếp tại các trung tâm học tập cộng đồng ở các xã, thị trấn. Kết quả đã góp phần ổn định, nâng chất tỉ lệ chuẩn từng xã, thị trấn về trình độ văn hoá. Tuy nhiên, chính phương án tuyển sinh này cũng làm nổi bật lên hạn chế của công tác phân luồng học sinh sau THCS trên địa bàn huyện, đó là tỉ lệ HS tốt nghiệp THCS vào học các trường TCCN, TCN, dạy nghề còn rất ít, không đảm bảo chỉ tiêu phân luồng của ngành GD&ĐT quy định.

Mặc dù về phía huyện cũng rất quan tâm đến công tác phân luồng học sinh được thể hiện trong các văn kiện Đại hội Đảng bộ; Phòng Giáo dục và Đào tạo thường xuyên quan tâm chỉ đạo, kiểm tra đánh giá song việc phân luồng học sinh sau tốt nghiệp THCS tỉ lệ chưa cao so với yêu cầu của xã hội do việc nhận thức của học sinh, phụ huynh học sinh còn chưa cao. Học sinh chủ yếu vẫn theo luồng vào THPT, TT GDTX mà chưa thực sự theo luồng phù hợp với năng lực của bản thân.

2.3. Thực trạng công tác quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS theo định hướng phân luồng ở huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh

Để khảo sát thực trạng công tác quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS theo định hướng phân luồng ở huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh, chúng tôi sử dụng phiếu khảo sát với những câu hỏi đóng và mở xung quanh các vấn đề về GDHN và tiến hành khảo sát tại 5 trường THCS trên địa bàn ở 4 nhóm đối tượng:

  • Nhóm CBQL gồm 16 người là Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, Tổ trưởng chuyên môn.
  • Nhóm GV gồm 65 người: GV chủ nhiệm, GV phụ trách công tác HN, DN phổ thông, giáo viên giảng dạy Công nghệ, GDCD và một số giáo viên dạy môn học khác. Luận văn: Thực trạng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS.
  • Nhóm PHHS gồm 250 PHHS lớp
  • Nhóm học sinh gồm 250 HS học lớp

Nội dung phiếu khảo sát ý kiến: Lựa chọn những con đường giáo dục hướng nghiệp mà nhà trường đã tiến hành; những yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn nghề nghiệp; những khó khăn trong việc định hướng chọn nghề nghiệp; gặp khó khăn thì tìm sự giúp đỡ từ ai; những biện pháp để giải quyết khó khăn; thời điểm nào thích hợp để làm công tác hướng nghiệp… Nội dung phiếu thăm dò ý kiến đa số các đối tượng đều được thăm dò với các nội dung trên. Tuy nhiên, ở một số đối tượng được thăm dò có bớt đi một số nội dung để phù hợp với khả năng của đối tượng được hỏi cũng như mục đích đặt ra.

Ngoài ra, để tìm hiểu thêm, chúng tôi phỏng vấn thêm một số nội dung với GV và HS.

Bảng 2.7. Danh sách các đơn vị tham gia khảo sát

  • Cách thức xử lý số liệu:

Ngoài một số câu hỏi được đánh giá theo nội dung trả lời thì các phiếu khả sát được tính tỉ lệ %, từ tỉ lệ % phân tích, đánh giá khái quát, rút ra thực trạng theo từng nội dung:

  • Thực tế quản lý GDHN tại các trường THCS;
  • Những yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn ngành nghề của HS;
  • Những khó khăn trong tổ chức quản lý GDHN;
  • Kết quả của việc quản lý

Từ đó có cơ sở để đề xuất một số biện pháp nhằm quản lý có hiệu quả hoạt động GDHN cho học sinh THCS theo định hướng phân luồng ở các trường THCS huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh.

2.3.1. Thực tế quản lý GDHN tại các trường THCS đã khảo sát Luận văn: Thực trạng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS.

Câu hỏi chọn nghề gì luôn là vấn đề trăn trở đối với học sinh (HS) khi bước vào ngưỡng cửa cuộc đời, đặc biệt là đối với HS THCS. Vì vậy, giáo dục hướng nghiệp hiện nay có vai trò rất lớn giúp HS nhận thức đúng đắn về nghề nghiệp, chọn được nghề phù hợp với bản thân, đồng thời đáp ứng được nhu cầu của xã hội, góp phần vào việc phân luồng và sử dụng hợp lý nguồn lao động. Khi khảo sát cơ bản về công tác hướng nghiệp, hầu hết tất cả các ý kiến đều cho rằng hướng nghiệp là quan trọng. Tuy nhiên, giáo dục hướng nghiệp và công tác phân luồng học sinh sau THCS chưa được quan tâm đúng mức nên các hoạt động này trong nhà trường vẫn mang nặng tính hình thức và chưa thiết thực. Những trăn trở về hướng nghiệp như kế hoạch chung chung, không cụ thể, thiếu tài liệu tham khảo, không có biên chế, không có sự kiểm tra giám sát,… dường như cho thấy rằng có rất nhiều khó khăn để nâng cao hiệu quả công tác hướng nghiệp.

Hiện nay, giáo dục hướng nghiệp trong trường phổ thông đang được thực hiện thông qua các con đường: các môn khoa học cơ bản; chương trình giáo dục hướng nghiệp chính khóa; môn công nghệ và lao động sản xuất; tham quan, sinh hoạt ngoại khóa, tư vấn hướng nghiệp. Dù bằng con đường nào cũng đều hướng tới mục đích chung là hình thành sự hứng thú, khuynh hướng và năng lực nghề cho HS.

Qua khảo sát tính cần thiết của việc tuyên truyền, tư vấn nghề cho HS trong trường THCS, 76,7% CBQL; 65,7% GV và 60,4% PHHS cho rằng việc tuyên truyền tư vấn nghề cho HS có vai trò lớn trong hoạt động giáo dục hướng nghiệp, tuy nhiên, 41,9% CBQL; 64,8% GV và 62,4% PHHS cho rằng công tác tuyên truyền, tư vấn nghề cho HS chưa mạnh, chưa hiệu quả.

Khảo sát vai trò của CBQL, GV đối với hoạt động giáo dục hướng nghiệp, 74,4% CBQL; 52,4% GV và 43% PHHS cho rằng vai trò của CBQL, GV đối với công tác giáo dục hướng nghiệp là cần thiết, tuy nhiên, các bậc PHHS cảm thấy lo ngại khi đánh giá vai trò của CBQL, GV đối với hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường nên tỷ lệ đánh giá vẫn còn ở mức thấp, chỉ đạt 27,8%. Luận văn: Thực trạng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS.

Về phía PHHS, khi được khảo sát về vai trò của PHHS đối với giáo dục hướng nghiệp, Có thể nói CBQL và GV đánh giá rất cao, rất cần thiết ở lực lượng PHHS (69,8% CBQL; 52,4% GV), tuy nhiên bản thân lực lượng PHHS chưa thực hiện đầy đủ vai trò của mình đối với nhà trường và con em của họ, tác động của các bậc PHHS và lĩnh vực này chưa nhiều (34,2%).

Tại trường THCS Thị trấn Gia Bình: Đại bộ phận học sinh cho biết tài liệu định hướng nghề nghiệp của các em về công tác giáo dục hướng nghiệp tại trường không có gì ngoài nội dung các thấy cô truyền thụ trên lớp, một số em nói rằng mình không biết hỏi ai khi muốn tìm hiểu thêm thông tin cũng như kinh nghiệm lựa chọn nghề nghiệp. Đa số HS khi được hỏi đều nói rằng nhà trường có tổ chức các buổi tư vấn nghề, định hướng phân luồng cho HS nhưng làm khoảng 1 – 2 buổi/ năm cho HS toàn trường, thầy cô nói xong, HS không kịp hỏi, hoặc ngại không muốn hỏi, vì vậy nhiều thông tin các em chưa kịp nắm bắt và sau đó cũng không biết hỏi ai.

Thời lượng dành cho hoạt động giáo dục hướng nghiệp 9 tiết/năm học/lớp. Với thời lượng này, rất khó thực hiện đầy đủ các nội dung trong chương trình giáo dục hướng nghiệp.

Đối với giáo viên, hầu như không ai thích bị phân công dạy hướng nghiệp, nhà trường không có GV chuyên trách, chủ yếu là những GV thiếu giờ bị “ép” phải dạy hướng nghiệp. Đa số giáo viên chưa ý thức rõ vai trò của mình trong công tác hướng nghiệp. Thiếu sự đào tạo bài bản, không được cập nhật thông tin, không am hiểu thị trường lao động, thiếu điều kiện làm việc… là những khó khăn mà các GV đưa ra khi được hỏi về công tác hướng nghiệp tại trường THCS Bình Dương, vì vậy, nhiều GV thậm chí còn giao cho lớp trưởng “em cầm quyển này về hướng dẫn các bạn đọc và tìm hiểu thông tin”. Giáo dục hướng nghiệp nặng về hình thức, sách vở nên HS không có được những trải nghiệm. Mặc dù trong chương trình có những buổi tham quan nhưng thật khó để tổ chức thực hiện được đúng theo mục đích.

Công tác tuyển chọn giáo viên chuyên trách công tác hướng nghiệp còn rất nhiều khó khăn trong khi yêu cầu đòi hỏi giáo viên phải có hiểu biết thực tế sâu, rộng về nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, có kỹ năng giao tiếp, thuyết trình tốt… nhưng các trường ĐH, CĐ tại Việt Nam vẫn chưa đào tạo chuyên ngành cụ thể về hướng nghiệp. Đa số giáo viên phụ trách hướng nghiệp là giáo viên chủ nhiệm hay bộ môn của trường. Luận văn: Thực trạng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS.

Về phía phụ huynh, nhận thức của cha mẹ HS về việc chọn nghề còn rất phiến diện. Gần như tuyệt đại đa số phụ huynh đều tha thiết mong muốn con em mình phải đậu ĐH nên chỉ mong muốn con em mình tiếp tục theo luồng vào THPT. Bên cạnh đó, tâm lý chọn nghề chung của HS mang tính may rủi, thiếu thông tin chọn nghề theo sự áp đặt của người lớn, theo thời thượng; chọn nghề theo “mác”, “nhãn”; chọn các nghề nổi tiếng, dễ kiếm tiền… mà không cần biết có phù hợp với năng lực, hứng thú, điều kiện bản thân hay không.

Bên cạnh đó, việc tư vấn nghề nghiệp tại các trường không có sự tham gia của các doanh nghiệp; phụ huynh không được tham gia vào hướng nghiệp, thậm chí không biết gì về điều này dẫn đến cha mẹ bảo một đằng, thầy cô khuyên một nẻo, HS đứng giữa ngã ba, đã bối rối còn bối rối hơn, nên hiệu quả của hướng nghiệp và tư vấn nghề nghiệp là vô cùng thấp.

Đánh giá nhận thức của học sinh về giáo dục hướng nghiệp: 69,8% CBQL; 52,7% GV và 56,7% PHHS cho rằng HS nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường, học sinh có sở thích tham gia học tập và hoạt động giáo dục hướng nghiệp, các em thấy được lợi ích thiết thực từ giáo dục hướng nghiệp, vì nó là cơ sở giúp các em chọn đúng nghề nghiệp tương lai mới có cơ hội trở thành công dân có ích cho bản thân, gia đình và xã hội. Vấn đề đặt ra hiện nay là các nhà trường THCS, các trung tâm GDTX phải tạo hứng thú qua giáo dục hướng nghiệp đồng thời đảm bảo các điều kiện cho giáo dục hướng nghiệp như giáo viên, tài liệu, chương trình… Luận văn: Thực trạng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS.

Vì vậy, công tác hướng nghiệp cho HS THCS cần phải được đổi mới, bắt đầu từ đổi mới cách tiếp cận các thành tố của giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông và công tác phân luồng sau trung học cơ sở theo tinh thần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Khi xây dựng chương trình sách giáo khoa mới (dự kiến áp dụng từ năm học 2027-2028), cần đặc biệt chú trọng đến công tác phân luồng, giáo dục hướng nghiệp.

Hiện nay, đại đa số phụ huynh đều có mong muốn con phải theo học THPT mà không thích cho con học nghề. Rất nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này và cần có những biện pháp mang tính vĩ mô để thay đổi. Cần có những biện pháp cụ thể để tác động vào tâm lý, nhận thức chung của phụ huynh HS bởi theo cá nhân tôi, đây là yếu tố quan trọng.

Ngành giáo dục cũng cần có biện pháp để xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên hướng nghiệp. Để thực hiện được việc này, cần đổi mới từ khâu đào tạo, bồi dưỡng và đào tạo lại trong các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên đến các cơ quan quản lý giáo dục, cơ sở giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục ĐH; đồng thời chú trọng thực hiện quan điểm chuẩn hóa và xã hội hóa trong phát triển đội ngũ làm công tác hướng nghiệp.

Phòng Giáo dục và Đào tạo cần tiếp tục quan tâm chỉ đạo các trường THCS trong huyện thực hiện công tác giáo dục hướng nghiệp. Trong đó, chú trọng đến đổi mới nội dung, phương thức giáo dục hướng nghiệp phù hợp với đặc điểm của HS THCS và điều kiện thực tế của địa phương. Cần chỉ đạo lãnh đạo các đơn vị, cơ sở trực thuộc nâng cao nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của công tác giáo dục hướng nghiệp, có kế hoạch bồi dưỡng, tập huấn cho cán bộ chuyên trách làm công tác hướng nghiệp giống như tập huấn về các công tác chuyên môn…

Phòng Giáo dục và Đào tạo cần tăng cường việc kiểm tra công tác quản lý GDHN của quản lý, công tác dạy Hn ở các nhà trường. Đánh giá kịp thời các nội dung kiểm tra và chỉ đạo xây dựng các mô hình điểm trong công tác quản lý GDHn, dạy hướng nghiệp ở trên địa bàn huyện. Luận văn: Thực trạng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS.

Về trách nhiệm của UBND huyện cần tiếp tục quan tâm chỉ đạo các phòng ban liên quan như phòng Lao đông thương binh xã hội, phòng Tài chính kế hoạch, phòng Nội vụ cùng phối hợp chặt chẽ với Phòng Giáo dục và Đào tạo trong công tác quản lý GDHN, dạy hướng nghiệp cho học sinh THCS bằng những văn bản và chính sách cụ thể giúp cán bộ giáo viên đảm bảo được các điều kiện để yên tâm thực hiện công tác GDHN.

UBND huyện cũng cần thường xuyên cung cấp và cập nhật thông tin về thị trường lao động, nhu cầu lao động, việc làm trên địa bàn huyện cũng như trong tỉnh theo từng quý giúp cho cha mẹ học sinh và học sinh nắm được từ đó hiểu rõ về việc định hướng nghề nghiệp phù hợp với năng lực học sinh, điều kiện của mỗi gia đình.

UBND huyện cần tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho công tác hướng nghiệp trong các đơn vị nhà trường; có cơ chế chính sách cụ thể về quyền lợi, chế độ đối với những giáo viên kiêm nhiệm làm công tác hướng nghiệp, phân luồng.

2.3.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn ngành nghề của HS

  • Bảng 2.9. Kết quả khảo sát về yếu tố ảnh hưởng lựa chọn ngành nghề

Trong số 21 yếu tố được khảo sát từ CBQL và GV, hầu hết các yếu tố đều ảnh hưởng đến việc định hướng nghề nghiệp tương lai các em, các yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất là “năng lực cá nhân”, “môi trường giáo dục gia đình”, “môi trường giáo dục nhà trương”, cụ thể: 79,5% CBQL; 78,2% GV; 81% PHHS về yếu tố “Năng lực cá nhân”. 62,3% CBQL; 81,3% GV; 75,9% PHHS về yếu tố “Môi trường giáo dục gia đình”. Có 73% CBQL; 80% GV; 78,7% PHHS về yếu tố môi trường giáo dục nhà trường.

Các yếu tố có mức độ ảnh hưởng thấp: đó là các nhóm thuộc về nhóm tuyên truyền và nhóm các môn học, đặc biệt là yếu tố “dạy nghề phổ thông” chưa có tầm ảnh hưởng thiết thực đến hiệu quả giáo dục hướng nghiệp. Cụ thể: 44,0% CBQL; 40,9% GV; 30,4% PHHS về yếu tố “Truyền thông đại chúng”. 45,63% CBQL; 38,6% GV; 31,5% PHHS về yếu tố “Ngày hội HN việc làm”. Có 48,1% CBQL; 45,5% GV; 29,3% PHHS về yếu tố “Học nghề phổ thông”.

Có 42,3% CBQL; 36,5% GV; 38,5% PHHS về yếu tố “Môn học công nghệ”.

Khảo sát HS cho thấy thấy các yếu tố đều có liên quan đến việc lựa chọn nghề nghiệp của các em.

Có sự thống nhất tương đối giữa CBQL, GV và PHHS về các yếu tố ảnh hưởng cao như: môi trường giáo dục gia đình (75,9%), môi trường giáo dục nhà trường (78,7%) và năng lực cá nhân (81%) (theo bản khảo sát ở trên).

Nhóm yếu tố có ảnh hưởng thấp: do tác động theo nguyện vọng của bố, mẹ (50,2%); do tác động của họ hàng, dòng tộc (44,5%), do tác động của thầy cô giáo (46,3%), nhóm các môn học cũng ảnh hưởng thấp: học nghề phổ thông (47,8%); môn công nghệ (44,5%), hoạt động ngoài giờ lên lớp (44,9%). Luận văn: Thực trạng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS.

Nhận xét: Từ khảo sát thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục hướng nghiệp, ta thấy xã hội vẫn đề cao môi trường giáo dục từ phía nhà trường, gia đình và năng lực bản thân HS là chính, còn các tác động khác ảnh hưởng không cao.

2.3.3. Thực trạng khó khăn trong tổ chức quản lý GDHN hiện nay

  • Bảng 2.10. Kết quả khảo sát về khó khăn trong tổ chức quản lý GDHN

Từ số liệu điều tra về những khó khăn của nhà trường trong việc quản lý các chương trình giáo dục hướng nghiệp có thể khẳng định hoạt động giáo dục hướng nghiệp hiện nay rất khó khăn, theo số liệu khảo sát cho thấy đa số CBQL và GV đánh giá các yếu tố thực hiện chương trình giáo dục hướng nghiệp là khó khăn từ 50% trở lên, trong đó có nhiều yếu tố được cho là khó khăn nhất, có tới 74,4% CBQL và 60,7% GV cho rằng khó khăn lớn nhất là tổ chức tham quan thực tế về sản xuất kinh doanh; 70,2% CBQL và 63,5% GV cho rằng khó khăn về chuyên gia tư vấn hướng nghiệp; 69,8% CBQL và 62,5% GV cho rằng khăn về đội ngũ GV chuyên trách giáo dục hướng nghiệp, tiếp đến là khó khăn về cơ sở vật chất, trang thiết bị và kinh phí, tài liệu phục vụ chương trình giáo dục hướng nghiệp cũng là các yếu tố khó khăn tỷ lệ đánh giá là khá cao.

Việc quan hệ các đơn vị chỉ diễn ra hàng năm thông thường đến mùa tuyển sinh các cơ sở giáo dục TCCN, dạy nghề mới đến trường làm công tác tuyển sinh và hướng nghiệp, việc định hướng nghề nghiệp chỉ mang tính thời vụ, chắp vá, thiếu bài bản. Dù vậy, hiệu quả định hướng nghề nghiệp tương lai cho các em vẫn còn nhiều hạn chế.

Việc thực hiện các chủ đề giáo dục hướng nghiệp trong các trường THCS: Các trường THCS tổ chức giáo dục hướng nghiệp theo chương trình của Bộ GD&ĐT ban hành. Hoạt động GDHN của các trường phụ thuộc vào các chủ đề trong chương trình và chỉ triển khai ở lớp 9. Do chương trình giáo dục hướng nghiệp được phân bố với thời lượng ít nên hầu hết hình thức tổ chức giáo dục hướng nghiệp ở các trường phổ thông được lồng ghép vào sinh hoạt lớp trong các tiết sinh hoạt chủ nhiệm hàng tuần (mỗi tuần/tiết), sinh hoạt dưới cờ vào đầu tuần. Luận văn: Thực trạng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS.

Kết quả khảo sát cho thấy nhiều chủ đề được CBQL và GV quan tâm, dành nhiều thời gian hơn, các chủ đề chiếm tỷ lệ cao:

  • Hướng dẫn học sinh chọn nghề và làm hồ sơ tuyển sinh (69,8% CBQL; 77,5% GV); Tư vấn chọn nghề (67,4% CBQL ; 77,5% GV).
  • Tìm hiểu hệ thống đào tạo của các trường TCCN, Dạy nghề (67,4% CBQL; 75,9% GV).
  • Bên cạnh đó, một số chủ đề chưa thực phù hợp nên một số trường chưa thực quan tâm, thậm chí không thực hiện, tỷ lệ tổ chức thấp, cụ thể:
  • Tìm hiểu ngành nghề lĩnh vực Nông, Lâm, Ngư nghiệp (21,2% CBQL; 29% GV); Vấn đề giới trong chọn nghề (28,8% CBQL; 29% GV);
  • Tìm hiểu một số nghề thuộc ngành xây dựng (27,2% CBQL; 21,4% GV);
  • Giao lưu nhân vật vượt khó, điển hình sản xuất kinh doanh giỏi (21,9% CBQL; 25,7% GV);
  • Nghề nghiệp với nhu cầu thị trường lao động (28,8% CBQL; 27,8% GV).

2.3.4. Thực trạng kết quả quản lý GDHN Luận văn: Thực trạng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS.

  • Bảng 2.11. Tổng hợp khảo sát kết quả quản lý GDHN

Mục tiêu về Kỹ năng: có 29,5% CBQL; 26,4% GV; 22,3% PHHS cho rằng mục tiêu tự đánh giá bản thân và điều kiện gia đình trong định hướng nghề nghiệp tương lai. Có 32,5% CBQL; 28,3% GV; 25,6% PHHS cho rằng mục tiêu định hướng và lựa chọn nghề nghiệp cho tương lai bản thân: Mục tiêu này hầu như thực tế không đạt, đa số các em sau khi học xong THCS chọn nhầm luồng học tiếp THPT nên có tình trạng sau học xong lại tiếp tục đi học nghề hoặc lao động tự do.

Theo ý kiến của các em HS hạn chế về mục tiêu thể hiện chưa nắm được đầy đủ thông tin về thị trường lao động để có thể chọn ngành nghề đúng đắn phù hợp với bản thân nên chỉ có 35,3% đồng tình mục tiêu này. Các mục tiêu còn lại được các em đánh giá khá cao từ 65 – 69%.

Các chương trình về giáo dục hướng nghiệp nên lưu ý tính thực tiễn hơn, chẳng hạn, đối với học sinh THCS học nghề chủ yếu chỉ để khi thi vào THPT được cộng điểm, đối với lớp 9 thì hướng nghiệp chỉ mang tính định hướng phù hợp chủ đề em thích nghề gì, chú trọng triển vọng nghề tương lai.

Hạn chế cơ bản của giáo dục hướng nghiệp hiện nay là hầu hết giáo viên giảng dạy đều là kiêm nhiệm và thời lượng dành cho hướng nghiệp ít đã ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả hướng nghiệp cho học sinh.

Những năm cuối THCS, các em có hứng thú và khuynh hướng chọn nghề đúng đắn, tự tin hơn trong việc chọn nghề phù hợp với khả năng của mình. Đồng thời về kỹ năng, các em đã có khả năng định hướng tốt hơn về việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai. Tuy nhiên về kiến thức, các em vẫn còn hạn chế, nhất là về thị trường lao động, trong và ngoài nước kể cả tại địa phương.

Kết luận chương 2 Luận văn: Thực trạng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS.

Thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS theo định hướng phân luồng ở huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh cho thấy:

Hầu hết các trường THCS đều xây dựng được kế hoạch chương trình hoạt động giáo dục hướng nghiệp, phân luồng ngay từ đầu năm học, có quan tâm đến việc chỉ đạo tổ chức thực hiện, duyệt kế hoạch theo thời gian. Tuy nhiên, việc xử lý những trường hợp không thực hiện đúng kế hoạch, chương trình hoạt động giáo dục hướng nghiệp của hiệu trưởng ở một số trường còn mang tính hình thức.

Việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện hoạt động giáo dục hướng nghiệp, phân luồng ở các trường THCS được các CBQL quan tâm thường xuyên. Song, việc tổ chức chuyên đề, giao lưu, thảo luận, trao đổi kinh nghiệm giữa các đơn vị trường học còn ít và còn bị lệ thuộc nhiều vào điều kiện thực tế chung của từng đơn vị.

Khâu kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở các trường tuy đã được tiến hành thường xuyên, nhưng việc phối hợp các phương pháp đánh giá chưa hiệu quả, vẫn còn tư tưởng xem nhẹ hoạt động giáo dục hướng nghiệp so với các bộ môn văn hóa.

Vấn đề huy động, sử dụng phương tiện, cơ sở vật chất, các nguồn lực cho việc tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp, phân luồng cũng đã được các trường quan tâm nhưng kinh phí dành cho hoạt động này còn hạn chế. Các điều kiện, trang thiết bị, phương tiện phục vụ hoạt động giáo dục hướng nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp tổ chức giáo dục hướng nghiệp và phân luồng học sinh.

Việc tổ chức để học sinh có điều kiện tham quan, tham gia hoạt động trải nghiệm ở cơ sở sản xuất kinh doanh gặp khó khăn, điều kiện để có quan hệ chặt chẽ với các cơ sở sản xuất kinh doanh hoặc tham quan thực tế các trường Nghề còn chưa tốt. Mạng lưới tư vấn hướng nghiệp cho các trường THCS trong huyện rất hạn chế, không có chuyên gia hoặc ít mời được chuyên gia nói chuyện. Hoạt động giáo dục hướng nghiệp thường giao cho giáo viên chủ nhiệm hoặc đoàn thể nên tư vấn hướng nghiệp không có chiều sâu, hiệu quả thấp. Luận văn: Thực trạng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993