Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực dạy thực hành GV

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực dạy thực hành GV hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực dạy thực hành cho giáo viên dạy nghề trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát về các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn

  • Các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn

Tính đến 31/12/2024, hệ thống các trung tâm giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn như sau:

Các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên cấp huyện (các trung tâm này được thành lập trên cơ sở sáp nhập Trung tâm dạy nghề và Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện theo Thông tư liên tịch số 39/2023/TTLT-BLĐTBXH-BGDĐT-BNV ngày 19/10/2023 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ ): có 7 trung tâm gồm:

  • Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên Ba Bể.
  • Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên Bạch Thông.
  • Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên Chợ Đồn.
  • Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên Chợ Mới.
  • Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên Na Rì.
  • Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên Ngân Sơn.
  • Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên Pác Nặm.

Tổ chức, bộ máy hoạt động của các trung tâm, gồm: Ban Giám đốc (Giám đốc và 02 Phó Giám đốc); Tổ Giáo vụ; Tổ Hành chính – Tổng hợp; Tổ Đào tạo nghề – Hướng nghiệp; Tổ Giáo dục thường xuyên; Tổ chức Đảng cộng sản, công đoàn cơ sở, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực dạy thực hành GV.

Việc bố trí, sắp xếp đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý tại các trung tâm, số người làm việc và hợp đồng lao động theo Nghị định 68/2000/NĐ-CP hiện có của Trung tâm giáo dục thường xuyên, Trung tâm dạy nghề về Trung tâm giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên.

Các điều kiện đảm bảo: Cơ sở vật chất, trang thiết bị đã được nhà nước đầu tư cho các trung tâm dạy nghề được giao cho các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên quản lý, khai thác, sử dụng để phục vụ công tác của đơn vị.

Nội dung hoạt động đào tạo nghề nghiệp ở trình độ sơ cấp và dưới 3 tháng thực hiện theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp và Điều lệ Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành.

Nội dung hoạt động giáo dục thường xuyên thực hiện theo Quy chế tổ chức và hoạt động của trung tâm giáo dục thường xuyên ban hành kèm theo Quyết định số 01/2015/QĐ-BGĐT ngày 02/01/2015 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Nội dung hoạt động giáo dục hướng nghiệp thực hiện theo Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm kỹ thuật tổng hợp – hướng nghiệp ban hành kèm theo Quyết định số 44/2016/QĐ-BGĐT ngày 30/7/2016 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

2.2. Khái quát về khảo sát thực trạng

2.2.1. Mục tiêu khảo sát

Nhằm thu thập, xử lý, phân tích, thống kê các số liệu cần thiết để từ đó đánh giá đúng đắn, khách quan về thực trạng công tác quản lý bồi dưỡng NLDTH cho GVDN của các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn. Trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp nhằm tổ chức thực hiện có hiệu quả hoạt động bồi dưỡng giáo viên.

2.2.2. Nội dung khảo sát

  • Thực trạng NLDTH của đội ngũ giáo viên dạy nghề của các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn.
  • Thực trạng quản lý bồi dưỡng NLDTH cho giáo viên dạy nghề của các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn hiện nay.

2.2.3. Khách thể khảo sát

  • Nhóm 1: Gồm 16 cán bộ quản lý của các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn.
  • Nhóm 2: Gồm 49 giáo viên dạy nghề thuộc các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn.
  • Mẫu khảo sát: Chúng tôi đã thực hiện điều tra khảo sát lấy ý kiến giáo viên, cán bộ quản lý tại 7 Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn. Cụ thể như ở bảng 2.1.

Bảng 2.1. Đối tượng và địa bàn khảo sát

2.2.4. Phương pháp khảo sát Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực dạy thực hành GV.

Xây dựng phiếu khảo sát để lấy ý kiến của CBQL, GV, việc xây dựng phiếu khảo sát được tiến hành theo quy trình như sau:

  • Bước 1: Trao đổi với đối tượng khảo sát và chuyên gia để bước đầu hình thành nên phiếu khảo sát.
  • Bước 2: Xây dựng phiếu khảo sát lần 1
  • Bước 3: Lấy ý kiến chuyên gia và điều tra thử trên mẫu nhỏ.
  • Bước 4: Điều chỉnh và hoàn thiện phiếu khảo sát lần 2.
  • Bước 5: Chọn mẫu khảo sát.
  • Bước 6: Tổ chức khảo sát và trao đổi với các đối tượng khảo sát về những vấn đề cần nghiên cứu nhưng chưa được đề cập trong phiếu khảo sát.
  • Bước 7: Xử lý phiếu khảo sát theo phương pháp thống kê toán học.

Trao đổi, phỏng vấn về:

Thực trạng đội ngũ giáo viên dạy nghề của các Cơ sở giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn hiện nay: Số lượng giáo viên, cơ cấu, trình độ đội ngũ giáo viên các nhóm nghề; Năng lực chuyên môn và năng lực nghiệp vụ sư phạm của đội ngũ giáo viên;

  • Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề của các Cơ sở giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn.
  • Nghiên cứu các sản phẩm hoạt động của CBGV: báo cáo, kế hoạch, quy định,… Có liên quan đến nội dung khảo sát.
  • Kiểm tra hệ thống mẫu biểu sổ sách quản lý hoạt động đào tạo.
  • Đánh giá kết quả khảo sát.
  • Xử lý số liệu và tổng hợp kết quả: Xử lý các phiếu khảo sát và các số liệu thống kê thu được để phân tích, so sánh, xây dựng các bảng phục vụ cho việc nghiên cứu.

2.3. Thực trạng bồi dưỡng năng lực dạy thực hành cho GV dạy nghề các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực dạy thực hành GV.

2.3.1. Thực trạng về cơ cấu, trình độ chuyên môn của đội ngũ giáo viên DTHN các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn

  • Thực trạng trình độ chuyên môn

Tính đến 31 tháng 12 năm 2025, tổng số giáo viên dạy nghề của các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp của tỉnh Bắc Kạn là 49 người, trong đó: Về trình độ đào tạo có 2 thạc sỹ (chiếm 4,1%), 15 đại học (chiếm 30,6%), 9 cao đẳng (chiếm 18,4%), 23 giáo viên TC nghề và CNKT (CNBC), khác (chiếm 46,9%). Có 7 giáo viên đạt chuẩn ngoại ngữ tiếng Anh (chiếm 14,3%), 100% giáo viên đạt chuẩn tin học. Hàng năm, đội ngũ giáo viên của các cơ sở dạy nghề được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm dạy nghề, kỹ năng nghề để đáp ứng yêu cầu công tác. Thực trạng trình độ chuyên môn của giáo viên các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn được thể hiện ở Bảng 2.2 dưới đây:

  • Bảng 2.2. Thực trạng trình độ chuyên môn của GV các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp Bắc Kạn

Thực trạng về nghiệp vụ sư phạm dạy nghề

Về nghiệp vụ sư phạm dạy nghề của đội ngũ GVDN của các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn như sau: Trong tổng số 49 giáo viên, có 5 giáo viên có nghiệp vụ sư phạm kỹ thuật (SPKT) (chiếm 10,2%), 10 giáo viên có nghiệp vụ SP bậc 2 (chiếm 20,4%), 34 giáo viên có nghiệp vụ sư phạm dạy nghề bậc 1 (chiếm 69,4%). Thực trạng trình độ chuyên môn của giáo viên các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn được thể hiện ở Bảng 2.3 dưới đây.

  • Bảng 2.3. Thực trạng nghiệp vụ sư phạm của giáo viên các cơ sở GDNN tỉnh Bắc Kạn

Qua các bảng số liệu ở trên cho thấy, hầu hết giáo viên dạy nghề các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn đều được tốt nghiệp từ các trường đại học (một số ít từ các trường cao đẳng, công nhân bậc cao, người có tay nghề cao…), thực tế là, các giáo viên này được đào tạo theo chương trình của các trường đại học không thiết kế cho việc đào tạo để phục vụ công tác giảng dạy và dạy nghề nên phần nhiều là kiến thức lý thuyết, nghiên cứu và lý luận; thời lượng dành cho thực hành ít, chủ yếu tập trung ở giai đoạn thực tập công nhân và thực tập tốt nghiệp (chưa phân tích đến yếu tố ở bậc đại học đào tạo theo chuyên ngành rộng), vì vậy, rất khó có thể giúp học viên hình thành được kỹ năng nghề và có một kiến thức sư phạm nhất định (ngoại trừ các trường sư phạm kỹ thuật, công nhân bậc cao, nghệ nhân…). Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực dạy thực hành GV.

Những bất cập này càng rõ hơn với các nghề đặc thù, các lĩnh vực mới mà trong giai đoạn học đại học, sinh viên chưa được tiếp cận. Mặt khác khi tốt nghiệp đại học về giảng dạy tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cũng không có điều kiện để thực hành nâng cao tay nghề và kỹ năng thực hành, quá trình tổ chức dạy thực hành, giáo viên chỉ làm thao tác mẫu ở giai đoạn hướng dẫn. Với thực trạng như vậy, chất lượng giảng dạy về thực hành khó có thể bảo đảm. Người thầy có thể giúp học sinh hình thành kỹ năng trong giai đoạn thực hành cơ bản tại trung tâm. Tuy nhiên, với điểm xuất phát thực tế như vậy, giáo viên khó có thể đạt được chuẩn kỹ năng nghề như mong muốn sau vài năm giảng dạy.

Thực trạng nêu trên đã phần nào phản ánh về năng lực sư phạm, trình độ tay nghề của đội ngũ GVDN trong các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn hiện nay. Điều đó có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tổ chức, thực hiện bồi dưỡng NLDTH cho GVDN. Đó là tổ chức, thực hiện bồi dưỡng như thế nào, nội dung bồi dưỡng, chất lượng bồi dưỡng… đạt đến đâu khi trình độ chuyên môn của GVDN ở nhiều cấp độ khác nhau, kiến thức nghiệp vụ sư phạm và hiểu biết về giáo dục nghề nghiệp thiếu hụt, trình độ tay nghề non yếu.

Trình độ chuyên môn nghề nghiệp và trình độ sư phạm là vốn quý của người GVDN, có tính chất quyết định đến chất lượng đào tạo nghề. Đội ngũ thầy giỏi sẽ là nền tảng cho các thế hệ học trò giỏi. Trình độ này có được thông qua quá trình đào tạo ở các nhà trường và việc học tập, bồi dưỡng, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ trong quá trình công tác.

Số liệu tổng hợp trên cho thấy: Trình độ trình độ từ cao đẳng trở lên của đội ngũ GVDN tỉnh Bắc Kạn có 26/49 người chiếm 53,1%. Tuy nhiên thực tế điều tra nhận thấy sự không tương ứng giữa trình độ chuyên môn và trình độ tay nghề của giáo viên làm cho trình độ chuyên môn không phát huy được tác dụng.

Cũng qua số liệu cho thấy đội ngũ GVDN của các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn được đào tạo về nghiệp vụ sư phạm kỹ thuật (SPKT) và nghiệp vụ SP bậc 2 (chiếm 30,6%), chủ yếu giáo viên được đào tạo nghiệp vụ sư phạm dạy nghề bậc 1 (chiếm 69,4%).

Như vậy sự bất cập trong trình độ chuyên môn, trình độ sư phạm làm suy giảm chất lượng đội ngũ GVDN. Trình độ chuyên môn không được thường xuyên nâng cao, phương pháp giảng dạy không được đổi mới dẫn đến chất lượng đào tạo nghề còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội. Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực dạy thực hành GV.

  • Nguyên nhân

Trình độ chuyên môn và trình độ sư phạm còn nhiều bất cập như trên do một số nguyên nhân, cụ thể là:

Các trường Sư phạm kỹ thuật không đáp ứng đủ số GVDN (nếu đem so sánh số trường Sư phạm – cung cấp giáo viên cho các trường phổ thông với số trường Sư phạm kỹ thuật – cung cấp giáo viên cho các trường dạy nghề thì số trường Sư phạm kỹ thuật là quá ít). Để có đủ số giáo viên, các trường dạy nghề đã phải tuyển dụng từ nhiều nguồn khác nhau dẫn đến tình trạng GVDN có nhiều cấp trình độ và không đồng đều về trình độ.

Các giáo viên phần lớn không được đào tạo chính thống để làm GVDN nên còn thiếu và yếu một số năng lực cần thiết của một người GVDN, trong đó có năng lực đặc biệt quan trọng, cần thiết là năng lực sư phạm.

Do đa dạng về trình độ chuyên môn, đa dạng về ngành nghề được đào tạo nên việc tổ chức bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn cho đạt một một mặt bằng chung với mọi giáo viên khó thực hiện nên trình độ chuyên môn được nâng cao không đồng đều.

2.3.2. Thực trạng năng lực dạy học thực hành nghề của đội ngũ giáo viên dạy nghề các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn

Tìm hiểu nội dung này chúng tôi tiến hành điều tra trên đội ngũ CBQL và giáo viên ở các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn, kết quả thu được như sau:

  • Bảng 2.4. Đánh giá của CBQL và tự đánh giá của GV về thực trạng năng lực dạy thực hành nghề của đội ngũ GV các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn

Số liệu tổng hợp việc đánh giá của CBQL và tự đánh giá của GV về thực trạng năng lực dạy thực hành nghề của đội ngũ GV các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn cho thấy:

Các kỹ năng: Kỹ năng thiết kế phiếu hướng dẫn thực hành; Kỹ năng lựa chọn phương pháp và đồ dùng dạy học; Kỹ năng thao tác mẫu; Kỹ năng biên soạn giáo án thực hành được đánh giá ở mức khá. Những kỹ năng này là điểm mạnh của đội ngũ GV các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn.

Các kỹ năng: Kỹ năng kết hợp lý thuyết và hướng dẫn thực hành; Kỹ năng phân tích kết quả thực hiện bài tập của học sinh; Kỹ năng phân tích các thao tác khó; Kỹ năng xử lý thông tin phản hồi được đánh giá ở mức đạt yêu cầu.

Như vậy, căn cứ vào thực trạng năng lực dạy thực hành nghề của đội ngũ GV các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn để xác định chính xác nhu cầu bồi dưỡng cho phù hợp với thực trạng hiện tại và làm tăng tính hiệu quả của hoạt động bồi dưỡng. Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực dạy thực hành GV.

2.3.3. Thực trạng về nội dung bồi dưỡng năng lực dạy thực hành cho giáo viên dạy nghề các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn

Tổng hợp số liệu về nội dung bồi dưỡng và số GVDN tại các Trung tâm GDNN tỉnh Bắc Kạn bồi dưỡng (bảng 2.5) trong 5 năm (2021 – 2025) cho thấy, trong 5 năm tỉnh Bắc Kạn tổ chức bồi dưỡng được 246 lượt giáo viên.

  • Bảng 2.5. Thực trạng bồi dưỡng GVTH trong 5 năm (2021 – 2025)

Theo bảng số liệu cho thấy, nội dung bồi dưỡng GVDN của các TT GDNN trong 5 năm (2021 – 2025) chủ yếu là bồi dưỡng về sư phạm dạy nghề bậc 1và các năng lực bổ trợ khác, cụ thể:

  • Bồi dưỡng về SP KT: 0/246 giáo viên (đạt 0%).
  • Bồi dưỡng SPDN bậc 1: 161/246 giáo viên (đạt 65,5%).
  • Bồi dưỡng ngoại ngữ: 0/246 giáo viên (đạt 0%).
  • Bồi dưỡng tin học: 0/246 giáo viên (đạt 0%).
  • Bồi dưỡng các chuyên đề khác: 85/246 giáo viên (đạt 34,5%).

Đa số giáo viên của các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp của tỉnh được tham gia bồi dưỡng. Tuy nhiên việc tổ chức bồi dưỡng về nghiệp vụ sư phạm kỹ thuật, bồi dưỡng ngoại ngữ, bồi dưỡng tin học cho đội ngũ GVDN của các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp của tỉnh Bắc Kạn trong 5 năm qua là chưa thực hiện được. Thực trạng trên làm cho đội ngũ GVDN còn yếu trong công tác đào tạo thực hành và các năng lực cần thiết trong hoạt động giảng dạy.

  • Bảng 2.6. Thực trạng về các nội dung bồi dưỡng năng lực dạy thực hành nghề cho GV các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực dạy thực hành GV.

Nhìn vào số liệu thống kê nêu trên cho thấy các nội dung bồi dưỡng năng lực dạy thực hành nghề cho GV các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn quan tâm thực hiện tốt đó là:

  • Bồi dưỡng kiến thức về năng lực sư phạm và Bồi dưỡng năng lực, kỹ năng thuộc nhóm năng lực đánh giá kết quả học tập cho giáo viên xếp thứ 1 đạt điểm trung bình trung 3,1 điểm.
  • Bồi dưỡng về nghiệp vụ sư phạm kỹ thuật cho đội ngũ GVDN xếp thứ 2 đạt điểm trung bình là 2,9 điểm.
  • Bồi dưỡng kỹ năng thuộc nhóm năng lực dạy thực hành cho giáo viên xếp thứ 3 đạt điểm trung bình là 2,7 điểm.

Các nội dung chưa thực hiện hiện tốt đó là:

  • Bồi dưỡng kỹ năng thuộc nhóm năng lực chuẩn bị dạy thực hành cho giáo viên xếp thứ 4 và đạt điểm trung bình là 2,5.
  • Bồi dưỡng kiến thức về chuyên môn theo nhóm nghề, năng lực chuyên môn cho giáo viên xếp thứ 5 và đạt điểm trung bình là 2,2.

Khi trao đổi với một số cán bộ quản lý của các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn về những hạn chế trong công tác bồi dưỡng năng lực dạy thực hành nghề cho GV và thu được các thông tin sau đây:

  • Việc dự báo nhu cầu, khảo sát và xây dựng kế hoạch bồi dưỡng năng lực dạy thực hành nghề cho GV của các trung tâm chưa được quan tâm đúng mức, chưa có kế hoạch định hướng dài hạn.
  • Hầu hết các trung tâm bị động thực hiện theo kế hoạch tổ chức các lớp bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, của tổng cục giáo dục nghề nghiệp, do vậy gặp khó khăn trong việc sắp xếp giáo viên đi bồi dưỡng và kế hoạch đào tạo của trung tâm.
  • Chất lượng một số lớp bồi dưỡng chưa tốt, đặc biệt là một số lớp bồi dưỡng, tập huấn chưa chuẩn bị tốt về chuyên môn và thời gian.
  • Một số trung tâm chưa có kế hoạch cụ thể khai thác phát triển nguồn nội lực của mình trong công tác tự bồi dưỡng của đội ngũ GV; chưa có chỉ tiêu và kinh phí cụ thể cho công tác bồi dưỡng giáo viên hàng năm.
  • Hoạt động phối hợp giữa các trung tâm với doanh nghiệp chưa thực hiện tốt, chưa thường xuyên trong các hoạt động, công tác kiểm tra, đánh giá đội ngũ giáo viên và hoạt động phát triển đội ngũ giáo viên chưa được thực hiện thường xuyên, liên tục, chưa có công cụ đánh giá và giám sát quá trình phát triển đội ngũ giáo viên, chưa sử dụng kết quả đánh giá để tạo động lực cho giáo viên phát triển.

2.3.4. Thực trạng về phương pháp bồi dưỡng năng lực dạy thực hành nghề cho giáo viên dạy nghề các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực dạy thực hành GV.

Tìm hiểu nội dung này chúng tôi thu được kết quả như sau:

  • Bảng 2.7. Thực trạng về phương pháp bồi dưỡng năng lực dạy thực hành nghề cho GV các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn

Các phương pháp bồi dưỡng năng lực dạy thực hành nghề cho GV tại các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn được đánh giá trên cơ sở lấy ý kiến của 49 giáo viên, với giá trị trung bình là 2,9 điểm. Từ kết quả khảo sát nêu trên cho thấy công tác bồi dưỡng năng lực dạy thực hành nghề cho GV tại các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn chưa thực hiện tốt kết quả cao nhất mới chỉ đạt ở mức khá cụ thể như sau:

  • Nội dung được thực hiện tốt nhất là bồi dưỡng Phương pháp thực hành và bồi dưỡng Phương pháp kiểm tra, đánh giá đạt điểm trung bình trung 3.2 điểm (loại khá) và xếp thứ nhất.
  • Nội dung bồi dưỡng về Phương pháp làm việc theo nhóm được xếp thứ 2 và đạt điểm trung bình trung 3,1 điểm (loại khá).
  • Nội dung bồi dưỡng Phương pháp đàm thoại đạt điểm trung bình trung 3,0 điểm (Khá) xếp thứ 3.

Nội dung các hoạt động bồi dưỡng còn lại đạt mức điểm trung bình và xếp vào loại đạt đó là các nội dung sau đây:

  • Bồi dưỡng Phương pháp thuyết trình giảng giải và Phương pháp nghiên cứu tài liệu đạt điểm trung bình trung 2,9 điểm xếp thứ 4.
  • Bồi dưỡng Phương pháp dạy học trực quan và Phương pháp day học nêu vấn đề đạt điểm trung bình trung 2,8 điểm xếp thứ 5. Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực dạy thực hành GV.
  • Bồi dưỡng Phương pháp dạy học trải nghiệm đạt điểm trung bình trung 2,7 điểm xếp thứ 6.
  • Bồi dưỡng Phương pháp nghiên cứu tình huống đạt điểm trung bình trung 2,6 điểm xếp thứ 7.
  • Bồi dưỡng Phương pháp đóng vai đạt điểm trung bình trung thấp nhất 2,4 điểm xếp thứ 8.

Khi trao đổi với cán bộ quản lý của các trung tâm về những hạn chế trong công tác bồi dưỡng năng lực dạy thực hành nghề cho GV tại các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn và nguyên nhân của những hạn chế nêu trên, chúng tôi thu được các thông tin sau đây:

Do kinh phí hạn chế nên đa phần việc giải quyết cho GVDN đi đào tạo, bồi dưỡng phải tự túc 1 phần còn lại kinh phí nhà nước, trung tâm chỉ hỗ trợ chi phí một phần. Ở các trung tâm mà CBQL tích cực chủ động trong lập kế hoạch và tổ chức đào tạo bồi dưỡng NGV hằng năm thường đạt hiệu quả cao hơn.

Hoạt động bồi dưỡng Phương pháp dạy học trực quan và Phương pháp day học nêu vấn đề chưa đạt kết quả cao do NGV tại các trung tâm chưa được vận dụng thường xuyên, liên tục trong công tác đào tạo. Bên cạnh đó do các cơ sở tham gia bồi dưỡng chưa có nhiều chuyên gia giỏi tham gia bồi dưỡng kỹ năng nghề cho giáo viên dạy nghề.

Hoạt động bồi dưỡng Phương pháp đóng vai, Phương pháp nghiên cứu tình huống chưa được giáo viên quan tâm, nguyên nhân do công tác kiểm tra, đánh giá về chất lượng giảng dạy, phong cách dạy học và huấn luyện nghề nghiệp của giáo viên cho học sinh chưa được kiểm tra, giám sát thường xuyên. Nội dung bồi dưỡng của một số lớp chưa thực sự hiệu quả và thiết thực, giáo viên còn có hiện tượng tư duy hoàn thiện chứng chỉ để nâng chuẩn nghề nghiệp.

Đánh giá chung: Hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy thực hành nghề cho GV tại các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn đã được Sở Lao động – Thương binh và Xã hội quan tâm, chỉ đạo và tổ chức thực hiện hàng năm; các trung tâm đã tạo điều kiện tốt nhất để thực hiện bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên của mình; tuy nhiên kết quả chưa cao, chỉ có các hoạt động bồi dưỡng Phương pháp thực hành và bồi dưỡng Phương pháp kiểm tra, đánh giá đạt mức khá còn lại các nội dung bồi dưỡng dừng ở mức đạt. Để làm tốt công tác bồi dưỡng năng lực dạy thực hành nghề cho GV tại các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn, nhằm xây dựng đội ngũ GVDN bảo có chất lượng đạt chuẩn và trên chuẩn thì cơ quan chức năng và các trung tâm cần có những giải pháp đồng bộ, cụ thể khắc phục các hạn chế đã nêu trên.

2.3.5. Thực trạng về hình thức tổ chức bồi dưỡng năng lực dạy thực hành nghề cho giáo viên dạy nghề các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn

Tìm hiểu nội dung này chúng tôi thu được kết quả như sau: Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực dạy thực hành GV.

  • Bảng 2.8. Thực trạng các hình thức tổ chức bồi dưỡng năng lực dạy thực hành nghề cho GV các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn

Các hình thức thực hiện bồi dưỡng năng lực dạy thực hành nghề cho GV tại các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tinh Bắc Kạn được đánh giá thực hiện là khá tốt, với giá trị trung bình là 2,5 điểm, cụ thể như sau:

  • Hình thức bồi dưỡng ngắn hạn, tập trung do Sở Lao động thương binh xã hội tổ chức được đánh giá cao, xếp thứ 1 đạt điểm trung bình trung 3,3 điểm.
  • Hình thức Tổ chức hội giảng tại trung tâm và Bồi dưỡng qua tự học, tự rèn luyện của GV xếp thứ 2 đạt điểm trung bình trung 3,2 điểm.
  • Hình thức Tổ chức học tập, hội thảo theo chuyên đề tại tại trung tâm xếp thứ 3 đạt điểm trung bình trung 3,0 điểm.
  • Hình thức Tổ chức Khuyến khích động viên GV viết sáng kiến và làm đồ dùng dạy học xếp thứ 4 đạt điểm trung bình là 2,9 điểm.
  • Hình thức Bồi dưỡng chuyên đề theo cụm trung tâm xếp thứ 5 đạt điểm trung bình là 2,8 điểm.

Như vậy, các hình thức tổ chức bồi dưỡng năng lực dạy thực hành nghề cho GV các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn là khá phong phú, được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau. Hình thức bồi dưỡng thường xuyên được sử dụng là tổ chức các lớp bồi dưỡng ngắn hạn, tập trung do Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tổ chức. Ngoài ra, các trung tâm cũng đã chủ động triển khai nhiều hình thức tự bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ, tay nghề cho đội ngũ giáo viên của mình.

2.3.6. Thực trạng về chủ thể thực hiện hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy thực hành nghề cho giáo viên dạy nghề các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn

Theo quy định của Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định các đơn vị được tham gia thực hiện đào tạo, bồi dưỡng giáo viên dạy nghề; trong đó có Viện nghiên cứu khoa học dạy nghề, Vụ dạy nghề chính quy, Vụ giáo viên (của của Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp) và một số trường có Khoa sư phạm dạy nghề được phép tổ chức hoạt động đào tạo, bồi dưỡng giáo viên dạy nghề. Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực dạy thực hành GV.

Trong đó quy định những giáo viên, chuyên gia tham gia công tác bồi dưỡng cho giáo viên dạy nghề các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, cụ thể như sau:

  • Tiêu chuẩn về Trình độ chuyên môn

Có bằng tốt nghiệp đại học chuyên ngành hoặc đại học sư phạm chuyên ngành trở lên, phù hợp với ngành, nghề giảng dạy và có một trong các chứng chỉ kỹ năng nghề phù hợp với ngành, nghề giảng dạy để dạy thực hành trình độ cao đẳng sau: Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia Bậc 3 hoặc chứng nhận bậc thợ 5/7, 4/6 trở lên hoặc chứng nhận nghệ nhân nhân dân, nghệ sĩ nhân dân, thầy thuốc nhân dân hoặc bằng tốt nghiệp cao đẳng nghề hoặc chứng chỉ kỹ năng thực hành nghề trình độ cao đẳng nghề hoặc tương đương;

  • Nắm vững kiến thức ngành, nghề được phân công giảng dạy;
  • Có kiến thức về ngành, nghề liên quan;
  • Hiểu biết về thực tiễn nghề nghiệp, tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới và kỹ thuật an toàn, vệ sinh lao động của ngành, nghề được phân công giảng dạy;
  • Thực hiện thành thạo các kỹ năng của ngành, nghề được phân công giảng dạy;
  • Tổ chức thành thạo các hoạt động lao động sản xuất, dịch vụ ngành, nghề được phân công giảng dạy.

Tiêu chuẩn về Trình độ ngoại ngữ:

  • Có trình độ ngoại ngữ Bậc 2 (A2) theo quy định tại Thông tư số 01/2022/TT-BGDĐT ngày 24/01/2022 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam hoặc tương đương trở lên.
  • Đọc và hiểu tài liệu chuyên ngành phục vụ công tác giảng dạy; mô tả được một số công việc cơ bản của ngành, nghề được phân công giảng dạy.

Tiêu chuẩn 3 về Trình độ tin học:

  • Có trình độ tin học đạt Chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cơ bản theo quy định tại Thông tư số 03/2022/TT-BTTTT ngày 11/3/2022 của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định Chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin hoặc tương đương trở lên. Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực dạy thực hành GV.
  • Sử dụng thành thạo phần mềm dạy học chuyên ngành để thiết kế bài giảng, tài liệu giảng dạy.

Tiêu chuẩn về Trình độ nghiệp vụ sư phạm và thời gian tham gia giảng dạy:

Có chứng chỉ sư phạm dạy nghề dạy trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề hoặc chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên đại học, cao đẳng hoặc bằng tốt nghiệp đại học chuyên ngành sư phạm hoặc chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ cao đẳng hoặc tương đương.

  • Có thời gian tham gia giảng dạy ít nhất 12 tháng.
  • Lập được kế hoạch giảng dạy môn học, mô-đun được phân công trên cơ sở chương trình, kế hoạch đào tạo của cả khóa học.
  • Soạn giáo án theo quy định, thể hiện được các hoạt động dạy và học.
  • Lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp cho các bài học của chương trình môn học, mô-đun được phân công giảng dạy.
  • Chuẩn bị đầy đủ các phương tiện dạy học, thiết bị, nguyên, nhiên, vật liệu thực hành cần thiết.
  • Tự làm các thiết bị dạy học đơn giản để phục vụ giảng dạy.
  • Chủ trì hoặc tham gia thiết kế và bố trí trang thiết bị dạy học của phòng học chuyên môn phù hợp với chương trình của ngành, nghề được phân công giảng dạy.
  • Lựa chọn và thiết kế các công cụ kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của người học phù hợp với môn học, mô-đun được phân công giảng dạy.
  • Thực hiện việc kiểm tra, đánh giá toàn diện, chính xác, mang tính giáo dục và đúng quy định; sử dụng kết quả kiểm tra, đánh giá để điều chỉnh hoạt động dạy và học.
  • Chủ trì hoặc tham gia biên soạn, chỉnh lý chương trình, giáo trình, tài liệu đào tạo trình độ cao đẳng; chương trình bồi dưỡng nghề nghiệp.
  • Xây dựng được kế hoạch giáo dục người học thông qua giảng dạy và qua các hoạt động khác.
  • Thực hiện việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp, thái độ nghề nghiệp thông qua việc giảng dạy môn học, mô-đun theo kế hoạch đã xây dựng.
  • Vận dụng các hiểu biết về tâm lý, giáo dục vào thực hiện hoạt động giáo dục người học.
  • Thường xuyên dự giờ, trao đổi kinh nghiệm giảng dạy, giáo dục với đồng nghiệp; tham gia bồi dưỡng đồng nghiệp theo yêu cầu phát triển của phòng, khoa, tổ bộ môn.
  • Tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, cập nhật kiến thức, kỹ năng nghề, công nghệ, phương pháp giảng dạy đáp ứng yêu cầu của giáo dục nghề nghiệp.
  • Chủ trì hoặc tham gia đề tài nghiên cứu khoa học từ cấp cơ sở trở lên.

Như vậy, căn cứ vào các tiêu chuẩn nêu trên, hàng năm trong quá trình xây dựng kế hoạch bồi dưỡng năng lực dạy thực hành nghề cho giáo viên dạy nghề các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội yêu cầu đơn vị tham gia hoạt động bồi dưỡng cung cấp hồ sơ về giáo viên, chuyên gia thực hiện bồi dưỡng cho giáo viên phải đáp ứng những yêu cầu nêu trên.

2.4. Thực trạng quản lý bồi dưỡng GVDN ở các trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực dạy thực hành GV.

2.4.1. Thực trạng lập kế hoạch bồi dưỡng

Trong giai đoạn từ năm 2021-2025, thực hiện quy định của Tổng cục Dạy nghề (hiện nay là Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp), Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và các Bộ, ngành liên quan; hàng năm, căn cứ vào nguồn kinh phí được cấp và nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng của giáo viên của các trung tâm giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng giáo viên dạy nghề trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt để tổ chức thực hiện; trong 5 năm tổng số có 460 lượt giáo viên dạy nghề của tỉnh được bồi dưỡng, (kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng giáo viên được xây dựng chung trong kế hoạch đào tạo nghề cho lao động nông thôn hàng năm), cụ thể:

Năm 2021, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 362/QĐ-UBND ngày 21/3/2021 về việc phê duyệt Kế hoạch dạy nghề phi nông nghiệp cho lao động nông thôn; đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và người dạy nghề theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg trên địa bàn tỉnh năm 2021 (trong đó số kinh phí bồi dưỡng giáo viên là 498,5 triệu đồng, tổ chức 04 lớp, đào tạo cho 80 giáo viên);

Năm 2022, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 576/QĐ- UBND ngày 10/4/2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn về việc phê duyệt Kế hoạch phát triển chương trình, học liệu dạy nghề, bồi dưỡng giáo viên dạy nghề theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ năm 2022 (trong đó số kinh phí bồi dưỡng giáo viên là 240 triệu đồng, tổ chức 03 lớp, đào tạo cho 60 giáo viên);

Năm 2023, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 527/QĐ- UBND ngày 23/4/2023 về việc nhân rộng, phát triển mô hình dạy nghề cho lao động nông thôn; đào tạo nghề cho người khuyết tật; bồi dưỡng cán bộ, giáo viên, người dạy nghề; xây dựng chương trình, giáo trình theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ năm 2023 (trong đó số kinh phí bồi dưỡng giáo viên là 650 triệu đồng, tổ chức 04 lớp, đào tạo cho 100 giáo viên);

Năm 2024, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 643/QĐ- UBND ngày 9/5/2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn về việc phê duyệt Kế hoạch bồi dưỡng chuẩn hóa, nâng cao về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, người dạy nghề; xây dựng chương trình, giáo trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn thuộc Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới năm 2024 (trong đó số kinh phí bồi dưỡng giáo viên là 346,27 triệu đồng, tổ chức 05 lớp, đào tạo cho 110 giáo viên); Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực dạy thực hành GV.

Năm 2025, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 847/QĐ- UBND ngày 20/6/2025 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc phê duyệt Kế hoạch nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới năm 2025 (trong đó số kinh phí bồi dưỡng giáo viên là 397,5 triệu đồng, tổ chức 04 lớp, đào tạo cho 110 giáo viên).

  • Bảng 2.9. Thực trạng lập kế hoạch bồi dưỡng năng lực dạy thực hành cho GV các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn

Nhìn vào số liệu thống kê nêu trên cho thấy Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Bắc Kạn đã quan tâm thực hiện tốt trong việc lập kế hoạch bồi dưỡng năng lực dạy thực hành cho GV các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp đó là:

  • Hoạt động Dự trù kinh phí và các điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị cần thiết cho hoạt động bồi bồi dưỡng năng lực dạy thực hành cho GV các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp xếp thứ 1 đạt điểm trung bình trung 3,5 điểm.
  • Hoạt động lựa chọn phương pháp, hình thức bồi dưỡng cho hoạt động bồi bồi dưỡng năng lực dạy thực hành cho GV các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp xếp thứ 2 đạt điểm trung bình trung 3,3 điểm.
  • Hoạt động lựa chọn giáo viên dạy nghề cần đào tạo, bồi dưỡng cho hoạt động bồi bồi dưỡng năng lực dạy thực hành cho GV các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp xếp thứ 3 đạt điểm trung bình trung 3,2 điểm.
  • Kế hoạch xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng được dựa trên các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ cần thiết cho việc thực hiện tổ chức hoạt động dạy thực hành nghề cho GV các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp xếp thứ 4 đạt điểm trung bình trung 3,1 điểm.
  • Kế hoạch xác định rõ nội dung chương trình bồi dưỡng bao gồm kiến thức, kỹ năng, thái độ cho Gv về năng lực tổ chức dạy thực hành nghề cho GV các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp xếp thứ 5 đạt điểm trung bình trung 3,0 điểm.

Khi trao đổi với một số cán bộ quản lý của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Bắc Kạn về những hạn chế trong công tác xây dựng kế hoạch bồi dưỡng năng lực dạy thực hành cho GV các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn và thu được các thông tin sau đây:

  • Việc dự báo nhu cầu, khảo sát và xây dựng kế hoạch bồi dưỡng năng lực dạy thực hành cho GV của các trung tâm chưa được quan tâm đúng mức, chưa có kế hoạch định hướng dài hạn.
  • Hầu hết các trung tâm thực hiện theo kế hoạch tổ chức các lớp bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ của Tổng cục giáo dục nghề nghiệp và Sở Lao động – Thương binh và Xã hội do vậy gặp khó khăn trong việc sắp xếp giáo viên đi bồi dưỡng.
  • Nguồn kinh phí dành cho công tác bồi dưỡng năng lực dạy thực hành cho GV các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn hàng năm chủ yếu phụ thuộc vào nguồn ngân sách nhà nước cấp theo chương trình mục tiêu quốc gia, do đó do đó việc lập kế hoạch bồi dưỡng năng lực dạy thực hành cho GV các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn hàng năm gặp khó khăn.

Như vậy, để thực hiện tốt công tác bồi dưỡng năng lực dạy thực hành cho GV các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp thì việc lập kế hoạch bồi dưỡng phải được triển khai thực hiện kịp thời. Tổng cục giáo dục nghề nghiệp, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội phải triển khai thực hiện thường xuyên; bên cạnh đó các trung tâm cần chủ động xây dựng kế hoạch bồi dưỡng giáo viên phù hợp theo điều kiện hiện có. Qua đó sẽ góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả trong công tác bồi dưỡng năng lực dạy thực hành cho GV các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp của tỉnh Bắc Kạn.

2.4.2. Thực trạng tổ chức thực hiện hoạt động bồi dưỡng Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực dạy thực hành GV.

Trên cơ sở kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng giáo viên dạy nghề hàng năm do Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội là cơ quan chủ trì tổ chức thực hiện. Trong quá trình tổ chức thực hiện các hoạt động bồi dưỡng, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội đã tuân thủ theo quy định của pháp luật hiện hành để thực hiện.

Lựa chọn đơn vị tổ chức bồi dưỡng theo quy định Luật Đấu thầu số 43/2021/QH13 ngày 26/11/2021; căn cứ theo Nghị định số 63/2022/NĐ-CP ngày 26/6/2022 quy định chi tiết thi hành mốt số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu. Căn cứ vào năng lực thực tế của các trường có chức năng đào tạo, bồi dưỡng giáo viên dạy nghề và nội dung chương trình bồi dưỡng theo quy định; Sở Lao động – Thương binh và Xã hội đã hợp tác với các đơn vị để tham gia bồi dưỡng giáo viên dạy nghề cho các trung tâm giáo dục nghề nghiệp của tỉnh.

Việc tổ chức thực hiện bồi dưỡng cho giáo viên trong những năm qua do Sở Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với các trường tổ chức chủ yếu theo hình thức tập trung và tổ chức thành các lớp theo từng chuyên đề và theo lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ của giáo viên. Các trường tham gia thực hiện đào tạo, bồi dưỡng giáo viên cho các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp của tỉnh Bắc Kạn, gồm 2 trường: Trường Cao đẳng Công nghiệp Việt Đức, tỉnh Thái Nguyên và Trường Cao đẳng nghề Cơ giới Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.

Trước những yêu cầu của việc đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp và thực trạng về năng lực và trình độ chuyên môn của giáo viên dạy nghề các cơ sở GDNN tỉnh Bắc Kạn, công tác bồi dưỡng phải được chú trọng và được tiến hành thường xuyên, liên tục. Công tác bồi dưỡng phải được tiến hành một cách có kế hoạch, khoa học, có nội dung cụ thể sát với yêu cầu, với những hình thức phù hợp, đúng đối tượng và đầu tư có hiệu quả, mọi hoạt bồi dưỡng giáo viên phải hướng tới nâng cao năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức, trình độ lí luận chính trị… cho người giáo viên. Công tác bồi dưỡng để nhằm chuẩn hóa và nâng cao trình độ chuyên môn cho GVDN theo từng nội dung: Nghiệp vụ sư phạm, kiến thức, kỹ năng chuyên môn, tin học, ngoại ngữ… Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực dạy thực hành GV.

Công tác bồi dưỡng NLDTH cho giáo viên dạy nghề của các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn đã mang lại hiệu quả khá tốt đối với NGVDN về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, thể hiện sự nỗ lực, trách nhiệm và có kế hoạch của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội đối với công tác bồi dưỡng giáo viên. Tuy nhiên, thực tiễn cũng chỉ ra những hạn chế trong công tác bồi dưỡng NLDTH cho giáo viên dạy nghề các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn là: Nội dung bồi dưỡng NLDTH cho giáo viên thường tập trung vào bồi dưỡng chuyên đề chuyên môn, phương pháp dạy học, bồi dưỡng kỹ năng nghề nghiệp. Ít tổ chức bồi dưỡng các hình thức nâng cao năng lực chuyên môn như sinh hoạt chuyên môn của tổ, nhóm; tọa đàm, trao đổi về những vấn đề chuyên môn mới, tổ chức tập huấn về kỹ năng nghề… Bên cạnh đó việc xác định các nội dung bồi dưỡng chưa thật sát với những vấn đề GV còn khó khăn trong thực tế giảng dạy; hình thức bồi dưỡng còn đơn điệu, một số giáo viên được chọn chưa nhiệt tình tham gia bồi dưỡng.

Công tác bồi dưỡng NLDTH cho giáo viên dạy nghề các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn được triển khai theo hướng dẫn về chuyên môn của tổng cục giáo dục nghề nghiệp hoặc bồi dưỡng cho giáo viên theo kế hoạch của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội. Căn cứ vào kế hoạch xây dựng đội ngũ giáo viên có chuyên môn cao để đội ngũ này tham gia vào việc bồi dưỡng, đội ngũ này có vai trò quan trọng trong việc tiếp thu nội dung bồi dưỡng của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, để phục vụ công tác giảng dạy và bồi dưỡng lại cho giáo viên của đơn vị mình.

2.4.3. Thực trạng chỉ đạo triển khai hoạt động bồi dưỡng

Tìm hiểu việc chỉ đạo, triển khai hoạt động bồi dưỡng giáo viên của các trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn hàng năm chúng tôi thu được kết quả như sau:

  • Bảng 2.10. Thực trạng chỉ đạo thực hiện bồi dưỡng năng lực dạy thực hành nghề cho đội ngũ GV các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn
  • Biểu đồ 2.1. Thực trạng chỉ đạo thực hiện bồi dưỡng năng lực dạy thực hành nghề cho đội ngũ GV các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn

Qua bảng số liệu và biểu đồ trên cho thấy, công tác chỉ đạo thực hiện bồi dưỡng năng lực dạy thực hành nghề cho đội ngũ GV các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn được đánh giá thực hiện là khá tốt, với giá trị trung bình là 3 điểm, cụ thể như sau: Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực dạy thực hành GV.

  • Công tác Chỉ đạo các đối tượng tham gia bồi dưỡng chấp hành đúng các yêu cầu bồi dưỡng được đánh giá cao nhất, xếp thứ 1 đạt điểm trung bình trung 3,3 điểm.
  • Công tác Chỉ đạo triển khai nội dung, hình thức bồi dưỡng xếp thứ 2 đạt điểm trung bình trung 3,2 điểm.
  • Công tác Chỉ đạo đánh giá năng lực của giáo viên sau bồi dưỡng và Chỉ đạo xây dựng môi trường cho GV tổ chức hoạt động bồi dưỡng xếp thứ 3 đạt điểm trung bình trung 3,0 điểm.
  • Công tác Chỉ đạo xây dựng các điều kiện hỗ trợ thực hiện hoạt động bồi dưỡng xếp thứ 4 đạt điểm trung bình trung 2,9 điểm.
  • Công tác Chỉ đạo công tác rút kinh nghiệm sau tổ chức hoạt động bồi dưỡng xếp thứ 5 đạt điểm trung bình trung 2,8 điểm.

Như vậy, công tác chỉ đạo thực hiện bồi dưỡng năng lực dạy thực hành nghề cho đội ngũ GV các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn là rất quan trọng; trên cơ sở chỉ đạo của cơ quan chức năng, các trung tâm mới định hướng cho mình được những công việc cần thiết để thực hiện công tác bồi dưỡng năng lực dạy thực hành nghề cho đội ngũ GV đạt hiệu quả.

2.4.4. Thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng

  • Thực trạng sử dụng các hình thức kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động bồi dưỡng

Trong quản lý bồi dưỡng NLDTH cho giáo viên dạy nghề, việc sử dụng các hình thức kiểm tra đánh giá kết quả bồi dưỡng được dựa trên mục tiêu yêu cầu của nội dung chương trình bồi dưỡng nên thường là: Kiểm tra về kỹ năng soạn giáo án, kỹ năng truyền đạt kiến thức, kỹ năng tổ chức dạy thực hành, mức độ thành thạo, làm được, chưa làm được…

Việc kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng giáo viên luôn được Sở Lao động – Thương binh và Xã hội chú trọng và thực hiện đúng theo quy định: từ việc chuẩn bị các điều kiện phục vụ cho đào tạo, bồi dưỡng giáo viên như phòng học, xưởng thực hành nghề, trang thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập, nguyên nhiên vật liệu đúng tiêu chuẩn,…; đến chất lượng giảng dạy của từng chuyên gia tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng. Với nhiều hình thức kiểm tra, đánh giá, chất lượng đào tạo, bồi dưỡng của các khóa bồi dưỡng ngày càng được nâng cao. Qua đó tay nghề của từng giáo viên ngày càng được củng cố, nâng cao.

Việc đánh giá kết quả của từng giáo viên tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng không chỉ căn cứ vào kết quả học tập mà căn cứ vào chất lượng đào tạo của các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp, nhận xét, đánh giá của doanh nghiệp (nơi thực hành thực tế của các em học viên cuối khoá). Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực dạy thực hành GV.

Cấp bằng, chứng chỉ cho những người đạt yêu cầu: Với những học viên sau thời gian được đào tạo, bồi dưỡng theo các chuyên đề mà đạt yêu cầu, cơ sở đứng ra đào tạo sẽ cấp chứng chỉ tốt nghiệp hoặc giấy chúng nhận hoàn thành khóa học theo quy định của nhà nước.

  • Thực trạng kết quả kiểm tra đánh giá hoạt động bồi dưỡng NLDTH cho giáo viên dạy nghề các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn

Trong công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng NLDTH cho giáo viên dạy nghề các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội chú trọng thực hiện theo đúng quy định, các hình thức kiểm tra đánh giá kết quả bồi dưỡng NLDTH cho giáo viên dạy nghề được dựa trên mục tiêu yêu cầu của nội dung bồi dưỡng nên nội dung kiểm tra thường là: Việc chuẩn bị các điều kiện phục vụ cho đào tạo, bồi dưỡng giáo viên như phòng học, xưởng thực hành nghề, trang thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập, nguyên nhiên vật liệu đúng tiêu chuẩn… đến chất lượng giảng dạy của từng chuyên gia tham gia các khóa bồi dưỡng, số lượng học viên tham gia các buổi bồi dưỡng, kiểm tra nhận thức của giáo viên qua các chuyên đề bồi dưỡng như: mức độ đạt được…

Mục đích kiểm tra đánh giá là đánh giá chính xác trình độ kỹ năng tay nghề của giáo viên so với mặt bằng tiêu chuẩn chung. Hiện nay, các hình thức kiểm tra các khóa bồi dưỡng do cán bộ Phòng Quản lý Dạy nghề của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội thực hiện. Ở mỗi chuyên đề bồi dưỡng, hình thức kiểm tra có những yêu cầu cũng khác nhau, trong đó kiểm tra kết thúc môn học yêu cầu giáo viên tham gia bồi dưỡng phải hoàn thành được một công việc hay một nhóm công việc cụ thể theo đúng yêu cầu của chuyên đề bồi dưỡng.

Việc kiểm tra đánh giá hoạt động bồi dưỡng NLDTH cho giáo viên tham gia các khóa bồi dưỡng không chỉ căn cứ vào kết quả học tập mà còn căn cứ vào chất lượng đào tạo của các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp, nhận xét đánh giá của doanh nghiệp (nơi thực hành của học viên cuối khóa).

Để có kết luận mang tính khách quan công tác kiểm tra đánh giá hoạt động bồi dưỡng NLDTH cho giáo viên dạy nghề các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn, chúng tôi đã phân tích kết quả kiểm tra tại các khóa bồi dưỡng trong 5 năm (2021 – 2025). Kết quả được trình bày ở bảng 2.11.

  • Bảng 2.11. Kết quả kiểm tra đánh giá hoạt động bồi dưỡng NLDTH cho giáo viên dạy nghề các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực dạy thực hành GV.
  • Biểu đồ 2.2. Kết quả kiểm tra đánh giá hoạt động bồi dưỡng NLDTH cho giáo viên dạy nghề các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn

Kết quả ở bảng 2.10 và biểu đồ 2.2 cho thấy: Để tổ chức được các khóa bồi dưỡng NLDTH cho giáo viên dạy nghề, các nhà trường tham gia bồi dưỡng có sự chuẩn bị khá tốt các điều kiện để tổ chức các khóa bồi dưỡng giáo, cụ thể: Trong 5 cuộc kiểm tra, công tác chuẩn bị cơ sở vật chất, tài liệu bồi dưỡng, trình độ của cán bộ bồi dưỡng, trang thiết bị, nguyên nhiên vật liệu phục vụ các khóa bồi dưỡng luôn đảm bảo yêu cầu. Kiểm tra kết quả xếp loại học viên sau khóa bồi dưỡng, tổng số 246 học viên, mức độ nhận thức loại Giỏi 89 học viên đạt 15,8%, mức độ nhận thức loại Khá 123 học viên đạt 50%, mức độ nhận thức loại Đạt 84 học viên đạt 34,2%, không có học viên sau khóa bồi dưỡng không đạt yêu cầu.

Như vậy về chất lượng bồi dưỡng NLDTH cho giáo viên dạy nghề các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn trong những năm qua đạt kết quả tốt.

2.4.5. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động bồi dưỡng

Bồi dưỡng NLDTHN cho GVDN là một quá trình gồm các khâu như: Chuẩn bị (tìm hiểu nhu cầu, xây dựng kế hoạch, xác định nội dung, lựa chọn hình thức và địa điểm tổ chức, xác định thời gian, xác định quy mô học viên, dự kiến giảng viên, dự trù kinh phí…); thực hiện bồi dưỡng (giảng dạy, thảo luận nhóm, hội thảo chuyên đề, kiểm tra đánh giá); tổng kết.

Kết quả bồi dưỡng phụ thuộc vào các yếu tố chủ quan và khách quan trong quá trình bồi dưỡng:

  • Yếu tố chủ quan:

Do đội ngũ GVDN của các TT GDNN của tỉnh Bắc Kạn thiếu về chuyên môn chuyên sâu theo lĩnh vực đào tạo; giáo viên của các TT GDNN phân tán ở nhiều địa phương; bên cạnh đó vị trí địa lý không thuận lợi cho việc mở lớp và tập trung giáo viên tham gia bồi dưỡng.

Do đội ngũ GVDN của các TT GDNN của tỉnh Bắc Kạn chủ yếu là giáo viên hợp đồng, nhiều giáo viên hợp đồng đào tạo theo mùa vụ, số giáo viên này không được hỗ trợ kinh phí công tác phí từ các trung tâm do đó gặp rất nhiều khó khăn trong công tác tham gia các khóa bồi dưỡng. Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực dạy thực hành GV.

Áp lực về giảng dạy trong trong các lớp đào tạo nghề là rất lớn, đa số việc tổ chức các lớp đào tạo nghề phải tổ chức lưu động tại các địa phương do đó khó bố trí thời gian cho khóa bồi dưỡng. Chế độ chính sách về bồi dưỡng, sử dụng giáo viên sau bồi dưỡng chưa thu hút, động viên được giáo viên tham gia. Các giáo viên chưa ý thức, chưa làm tốt nhiệm vụ bồi dưỡng.

  • Yếu tố khách:

Nguồn tuyển GVDN là đa dạng về ngành nghề đào tạo, về trình độ chuyên môn, vì thế việc mở lớp bồi dưỡng để đáp ứng trình độ chuyên môn đồng đều cho mọi ngành nghề là khó thực hiện.

Trình độ tay nghề ban đầu của GVTH còn thấp, do đó bồi dưỡng để đạt và vượt chuẩn cần rất nhiều thời gian. Nếu từng nhà trường tổ chức sẽ không hiệu quả, còn tập trung theo cụm hoặc đợi cấp chủ quản tổ chức sẽ không đáp ứng tiến độ hoàn thiện đội ngũ.

Trình độ sư phạm dạy nghề của đa số GVDN chưa được hoàn thiện do các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp không thể chủ động trong việc mở lớp. Chương trình bồi dưỡng hoàn thiện sư phạm dạy nghề theo quyết định số 742/QĐ-TCDN ngày 7/12/2013 của Tổng cục Dạy nghề – Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành chỉ có một số ít đơn vị đào tạo trên toàn quốc có chức năng tổ chức khóa học.

Nhu cầu bồi dưỡng lớn, diện bồi dưỡng rộng, nhiều cấp, nhiều trình độ trong khi khả năng của Bộ, Ngành và các trường còn một số hạn chế về xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, nguồn kinh phí…

2.4.6. Đánh giá về thực trạng

  • Những ưu điểm

Từ số liệu thực trạng bồi dưỡng NLDTHN cho GVDN các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn có thể nêu ra một ưu điểm sau:

Đội ngũ GV công tác tại các các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn hưởng chính sách về đào tạo, bồi dưỡng theo quy định. Đa số GV các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn tâm huyết, gắn bó với đơn vị nhiệt tình tham gia đầy đủ các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ nhằm nâng cao tay nghề.

Mỗi năm, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội đều mở các lớp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, tập huấn, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ GVDN cho các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn. Đến nay, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với Trường Cao đẳng nghề Cơ giới Ninh Bình, Trường Cao đẳng Công nghiệp Việt Đức – Thái Nguyên tổ chức 10 khóa bồi dưỡng giáo viên dạy nghề, với hơn 500 lượt GV tham gia các lớp nghiệp vụ sư phạm dạy nghề, kỹ năng dạy học. Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực dạy thực hành GV.

Cơ sở vật chất các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn cơ bản đáp ứng được nhu cầu học tập của học viên, nhưng trước nhu cầu cần lao động chất lượng cao của thị trường trong, ngoài nước, đòi hỏi các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp của tỉnh cần được đầu tư, nâng cấp nhiều hơn về trang thiết bị giảng dạy phục vụ nhu cầu thực hành của học viên. Bên cạnh đó, UBND tỉnh đã thống nhất chỉ tiêu phân luồng tuyển sinh mỗi năm học với định hướng khuyến khích HS tham gia học nghề tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp; đáp ứng các ngành nghề mà xã hội đang cần, đòi hỏi đội ngũ GVDN giỏi nghiệp vụ, thạo kỹ năng. Các các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, khuyến khích giáo viên dạy nghề học tập nâng cao trình độ, chủ động tham gia các cuộc thi cấp tỉnh, toàn quốc.

  • Những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân

Hiện nay, khó khăn đối với GV dạy nghề là nguồn kinh phí được cấp cho các trung tâm còn hạn chế, nên việc thực hiện các chế độ, chính sách gặp khó khăn; chưa có thông tư hướng dẫn phụ cấp đặc thù, ưu đãi, trách nhiệm công việc, phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm đối với nhà giáo trong các cơ sở công lập…

Các nhà trung tâm chưa có kế hoạch mang tính chiến lược lâu dài để củng cố, hoàn thiện, tăng cường và phát triển đội ngũ trong kế hoạch xây dựng, phát triển trung tâm theo từng giai đoạn (ngắn hạn, trung hạn và dài hạn). Việc tổ chức các lớp bồi dưỡng thường thiếu tính chủ động, thiếu tính kế hoạch (nếu Bộ, ngành, đơn vị chủ quản thông báo mở lớp bồi dưỡng thì cử giáo viên tham gia). Do không chủ động kế hoạch nên xảy ra trường hợp những người cần bồi dưỡng thì bận công tác không thể tham dự, người không phù hợp với nội dung khóa bồi dưỡng phải đi thay cho đủ chỉ tiêu…). Vì vậy chất lượng các khóa bồi dưỡng thường không cao, kém hiệu quả, học nhiều nhưng vận dụng ít.

Các trung tâm đều thấy rõ điểm yếu của GVDN, đã tập trung giải quyết được một phần để giáo viên đáp ứng yêu cầu cho hoạt động giảng dạy nhưng công tác bồi dưỡng vẫn chưa đạt mục tiêu nâng cao năng lực cho giáo viên.

Năng lực chuyên môn và năng lực sư phạm là điều kiện cần và đủ cho một người giáo viên. Thực trạng này dẫn đến giáo viên yếu kém về chuyên môn, lạc hậu về khoa học kỹ thuật và công nghệ, chỉ biết dạy công nghệ cũ (lạc hậu) mà không tiếp cận được công nghệ mới. Dạy học theo phương pháp truyền thống còn chiếm đa số, chưa thực sự đổi mới phương pháp giảng dạy.

Bồi dưỡng các năng lực hỗ trợ cũng còn là điểm yếu của cơ quan tổ chức, nhất là trình ñộ ngoại ngữ. Bên cạnh đó, việc bồi dưỡng các năng lực hỗ trợ khác như: Kỹ năng năng làm việc độc lập, kỹ năng làm việc theo nhóm, kỹ năng giao tiếp… cũng ít được tổ chức để hoàn thiện, phát triển nhân cách người giáo viên.

Kết luận chương 2 Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực dạy thực hành GV.

Đội ngũ GVDN các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn được tuyển dụng từ nhiều nguồn khác nhau với nhiều chuyên môn, nhiều cấp trình độ, nhiều hệ đào tạo khác nhau và một phần không nhỏ không được đào tạo tại các trường SPKT nên năng lực của GVDN còn nhiều mặt hạn chế, trong đó có hạn chế về NLDTH.

Khảo sát thực trạng năng lực của GVDN các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn cho thấy các năng lực cần thiết cho người GVDN là năng lực sư phạm, trình độ tay nghề, hiểu biết thực tế sản xuất và công nghệ mới… để vận dụng trong quá trình giảng dạy còn nhiều bất cập. Thực trạng trên được đánh giá qua việc xếp loại và tự xếp loại GVDN đạt loại trung bình của giáo viên còn chiếm phần lớn. Điều đó cũng chứng tỏ chất lượng đội ngũ GVDN chưa cao tất yếu ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề.

Xác định rõ nguyên nhân của thực trạng công tác quản lý bồi dưỡng NLDTH cho giáo viên dạy nghề các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn làm cơ sở cho việc định hướng xây dựng, đề xuất các biện pháp quản lý bồi dưỡng nhằm khắc phục tồn tại, nâng cao tính thực tiễn, tính khả thi của các biện pháp, đáp ứng nhu cầu bồi dưỡng của đội ngũ giáo viên, nâng cao hiệu quả công tác đào tạo nghề hiện nay. Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực dạy thực hành GV.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp QL bồi dưỡng năng lực dạy thực hành GV

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993