Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng hoạt động trải nghiệm trường THPT Olympia hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng hoạt động trải nghiệm tại trường Trung học phổ thông Olympia dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Sơ lược về trường Trung học phổ thông Olympia
2.1.1. Giới thiệu chung
Trường Trung học phổ thông Olympia là một trường tư thục toạ lạc tại khu đô thị mới Trung Văn, Quận Nam Từ Liêm, Hà Nội, Việt nam. Trường do Công ty cổ phần giáo dục Quốc tế Trí Việt sáng lập ra với vốn đầu tư của Công ty cổ phần giáo dục và đào tạo Dream House và các cổ đông chiến lược trong nước. Công ty cổ phần giáo dục và đào tạo Dream House đã và đang vận hành hệ thống trường mầm non Dream House từ năm 2013 và đồng thời là chủ đầu tư của trường Tiểu học và THCS Olympia.
- Trường Tiểu học và Trung học cơ sở Olympia được thành lập theo quyết định số 18253/QĐ-UBND ngày 27/12/2020 do Ủy ban nhân dân Huyện Từ Liêm cấp.
- Trường Trung học phổ thông Trí Việt được thành lập theo quyết định số 1801/QĐ-UBND ngày 15/5/2018 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hà nội, sau này đổi tên thành Trường Trung học phổ thông Olympia theo quyết định số 1678/QĐ-UBND ngày 8/4/2021 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hà nội cấp.
Trường được thiết kế bởi công ty Perkins Eastman (USA) trên diện tích 10,000m2 theo phong cách hiện đại và tiêu chuẩn chất lượng Hoa Kỳ. Với sứ mệnh đào tạo thế hệ những người Việt trẻ tự tin có đủ trí thức, tài năng và nhân cách, sẵn sàng hội nhập quốc tế, Nhà trường đã đặt mục tiêu cho chương trình giáo dục học sinh: “Không chỉ là kiến thức, Olympia chuẩn bị hành trang cho học sinh trong suốt 12 năm theo học tại trường.”
Triết lý giáo dục của Nhà trường được xây dựng trên cơ sở khoa học của thuyết “Trí thông minh đa dạng – Multiple Intelligences” của giáo sư Howard Gardner (Đại học Havard). Đây là một triết lý rất nhân văn, coi trọng sự khác biệt của mỗi cá nhân và sự phát triển hài hòa của cộng đồng. Triết lý này là kim chỉ nam, quyết định văn hóa Nhà trường, mô hình, cách thức quản lý, phương pháp giáo dục và tổ chức hoạt động của Nhà trường. Luận văn: Thực trạng hoạt động trải nghiệm trường THPT Olympia.
Hướng tới mục tiêu giúp học sinh “Sẵn sàng cho cuộc sống – We are preparing for life”, chương trình đào tạo của OLYMPIA thực sự khác biệt khi mang lại cho mỗi học sinh những giá trị sau:
Nhân cách: Học sinh Olympia được giáo dục và trải nghiệm thực tế hàng ngày thông qua các bài học, các hoạt động tập thể…. nhằm vun đắp giá trị về Lòng trung thực, Tôn trọng, Danh dự, Đồng cảm, Cống hiến và luôn hướng tới sự Hoàn thiện.
Tri thức: Chương trình học của Olympia là sự kết hợp giữa nền tảng kiến thức chuẩn của chương trình Việt Nam với kỹ năng tư duy và khả năng ngôn ngữ của chương trình Quốc tế. Trắc nghiệm về các loại hình thông minh MIDAS tạo nền tảng cho Lộ trình và Tư vấn Phát triển Cá nhân của mỗi học sinh, nhằm định hướng và bồi dưỡng các con phát huy đúng thế mạnh và sở trường của mình.
Kỹ năng: Tại Olympia, Nhà trường chú trọng đến phương pháp dạy và học tập tích cực. Học sinh được đào tạo kỹ năng tư duy để phục vụ cho việc học tập và giải quyết vấn đề trong cuộc sống. Ngoài ra, các con còn được trang bị các kỹ năng để trở thành một người thành đạt như kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng diễn thuyết, kỹ năng tranh biện.
Cơ hội: Hệ thống các đối tác quốc tế từ bậc Tiểu học đến Đại học tại Hoa Kỳ mang lại nhiều cơ hội cho giáo viên và học sinh Olympia giao lưu văn hóa cũng như trao đổi chuyên môn. Học sinh có thể tham gia các khóa du học ngắn và dài hạn trong những ngôi trường hiện đại, có quan điểm giáo dục tương tự như Olympia, đảm bảo sự hứng thú cho học sinh và sự an tâm của gia đình.
2.1.2. Cơ sở vật chất Luận văn: Thực trạng hoạt động trải nghiệm trường THPT Olympia.
- Tổng diện tích trường: 10.000m2.
2.1.2.1 Khối phòng học:
Có 30 phòng học. Mỗi phòng có diện tích 52m2. Các phòng học đúng quy cách, đủ ánh sáng, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông, an toàn cho giáo viên và học sinh về vệ sinh trường học.
Mỗi phòng học được trang bị: bàn ghế học sinh, bàn ghế giáo viên; đèn chống cận bảng chống lóa; hệ thống bảng trượt thông minh, màn chiếu, máy chiếu, hệ thống điều hòa trung tâm, hệ thống tủ để đồ của học sinh và tủ đựng hồ sơ, thiết bị tài liệu cho lớp học. Toàn bộ khu vực học tập đều được trang bị hệ thống phòng cháy chữa cháy hiện đại, đảm bảo an toàn.
2.1.2.2 Khối phòng chức năng và trang thiết bị khác, gồm:
Phòng thiết bị giáo dục; 3 phòng bộ môn âm nhạc (Piano, Thanh nhạc, Trống), 2 phòng Mỹ thuật; phòng bộ môn Vật lý; phòng bộ môn Hóa – Sinh; phòng bộ môn tiếng nước ngoài; phòng nghe nhìn; 4 phòng Tin học, được trang bị 78 bộ máy tính, phòng Biẻu diễn – Múa, 2 phòng giáo dục rèn luyện thể chất; nhà thi đấu đa năng với sân bóng rổ được thiết kế theo chuẩn NBA có diện tích 500m2; bể bơi bốn mùa.
Thư viện: có diện tích 600m2. Có đủ các phương tiện, thiết bị cần thiết theo quy định về Tiêu chuẩn Thư viện trường phổ thông do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, phục vụ tốt hoạt động giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh. Phòng truyền thống và hoạt động Đoàn.
2.1.2.3 Khối phòng hành chính quản trị gồm:
Phòng Hiệu trưởng, phòng phó Hiệu trưởng; phòng giáo viên; văn phòng; phòng y tế học đường; kho; phòng thường trực, bảo vệ được bố trí tại cửa ra vào của khu nhà, có camera theo dõi các khu vực xung quanh, khu nhà ăn, nhà nghỉ cho học sinh học bán trú; khu sân chơi, sân tập có diện tích 1500m2; Sân chơi bằng phẳng, có đồ chơi, ghế ngồi, ô che và cây vườn treo và cây lấy bóng mát; Sân thể thao ngoài trời có diện tích khoảng 1000m2, và có sân bóng đá nhân tạo mini, sân bóng đá cỏ tự nhiên, được trang bị một số dụng cụ thể thao như vợt cầu lông, bóng bàn, bóng rổ… phù hợp với lứa tuổi học sinh, giúp học sinh làm quen với các môn thể thao; Luận văn: Thực trạng hoạt động trải nghiệm trường THPT Olympia.
2.1.3. Đội ngũ cán bộ, giáo viên
- Bảng 2.1. Số lượng cán bộ, giáo viên trường Trung học phổ thông Olympia
2.1.4. Học sinh
- Bảng 2.2. Số lượng học sinh trường Trung học phổ thông Olympia
2.1.5. Chương trình nhà trường
Thực hiện chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, được sự đồng ý cho phép của các cấp quản lý, trường Trung học phổ thông Olympia chủ động phát triển chương trình nhà trường phù hợp với điều kiện của nhà trường.
2.1.5.1 Các môn học bắt buộc:
Ngữ Văn: được xây dựng thành các chủ đề dựa theo mạch thể loại kết hợp với văn học sử, phân môn Làm văn luôn được đặt song song như sản phẩm “đầu ra” của Văn bản và Tiếng Việt. Phương pháp tiếp cận, cách tổ chức dạy học dưới hình thức Dự án, tạo tình huống, khuyến khích suy nghĩ độc lập, phát triển các năng lực, phẩm chất. Hình thức dạy học phân hóa được triển khai qua hoạt động hướng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học.
Toán học: được dạy theo khung chương trình của Bộ. Nội dung môn học được gắn kết với các nội dung thực tiễn chuẩn bị tốt cho định hướng nghề nghiệp, tài liệu học tập được khai thác thêm từ các sách nước ngoài, mạng internet để học sinh được học Toán cả bằng tiếng Việt và tiếng Anh. Việc dạy và học Toán được vận dụng đa dạng hình thức nhằm hình thành tư duy logic và phương pháp tự học.
Tiếng Anh: sử dụng bộ sách Northstar của nhà xuất bản Pearson, các sách dạy IELTS của Đại học Cambridge và các phần mềm hỗ trợ cũng như nguồn tài liệu mở nhằm củng cố vốn từ vựng, ngữ pháp, các kỹ năng nói, nghe, đọc viết để tham gia kỳ thi IELTS và SAT. Học sinh được phân chia theo các trình độ của khung tiêu chuẩn Châu Âu: A1, A2, B1, B2 và C1, C2. Cuối lớp 10 và 11, tuỳ theo trình độ, học sinh sẽ thi IELTS và SAT để làm hồ sơ xin học bổng. Học sinh tốt nghiệp Olympia được cam kết có điểm IELTS tối thiểu 6.0. Luận văn: Thực trạng hoạt động trải nghiệm trường THPT Olympia.
Khoa học tự nhiên (Lý, Hoá, Sinh): được tổ chức dạy song ngữ theo khung chương trình, chuẩn kiến thức kỹ năng của Bộ GD&ĐT, có sắp xếp lại thứ tự nội dung và giảm tải nội dung hàn lâm.Tài liệu sử dụng là SGK của Bộ GD&ĐT kết hợp với tài liệu tham khảo của nước ngoài. Hình thức và phương pháp dạy học được đa dạng hóa, học cuốn chiếu, học trên lớp kết hợp nghiên cứu bài ở nhà, gắn kiến thức trên lớp với thực tiễn, học tập trải nghiệm khám phá khoa học tạo cơ hội cho học sinh quan sát, thực nghiệm, Các dự án dạy học liên môn dược đẩy mạnh, học sinh được trải nghiệm với các đề tài nghiên cứu khoa học.
Lịch sử, Địa lý bám sát khung chương trình của Bộ, được tổ chức xây dựng thành các chủ đề trong bộ môn. Một số chủ đề được liên môn với Ngữ văn và Sinh học trong dự án “Ha Noi & Me” của nhà trường như một hoạt động học tập trải nghiệm định kì hàng tháng.
- Các môn học kỹ năng (HELP): dinh dưỡng và nấu ăn, giáo dục giới tính, công nghệ, kỹ năng giao tiếp, giao thoa văn hoá, Chính phủ và Công dân, Kinh tế và Doanh nghiệp.
- Thể dục và thể thao: tập trung phát triển thể chất, sức bền, tinh thần đồng đội, kỷ luật và bản lĩnh thi đấu. Học sinh lựa chọn chơi các môn thể thao: điền kinh, bóng đá, bóng chuyền và bóng rổ.
- Công nghệ – Thông tin – Truyền thông: Học sinh học lập trình, thiết kế trang web, kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin, xây dựng thương hiệu cá nhân và xử lý khủng hoảng truyền thông.
- Giáo dục Quốc phòng: mỗi năm học 3 ngày tập
2.1.5.2. Các môn học tự chọn:
Âm nhạc (nhóm môn nghệ thuật): giáo dục tình yêu quê hương, đất nước qua các bài dân ca, những tác giả và tác phẩm nổi tiếng. Ngoài ra, học sinh được học những tác phẩm nhạc trẻ Việt Nam và nhạc Quốc tế. Đồng thời, học sinh nắm được những lý thuyết âm nhạc cơ bản và lựa chọn học chuyên sâu nhạc cụ: ghi ta, trống, piano hoặc thanh nhạc.
Mỹ thuật: Học sinh được học về các trường phái nghệ thuật, cách cảm thụ, phát biểu về một tác phẩm hội hoạ cũng như kỹ thuật sử dụng một số chất liệu như màu nước, acrylic, chì và đất sét để làm ra tác phẩm của riêng mình.
2.1.5.3. Chuyên đề học tập được thể hiện rõ nét trong các môn khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, Ngữ văn và kỹ năng như Giáo dục giới tính, Chính phủ và Công dân, Giao thoa văn hoá… Các chuyên đề được tổ chức dưới hình thức thảo luận trên lớp, mời các chuyên gia toạ đàm, hội thảo hoặc học tập di sản, học tập dự án. Giáo viên các bộ môn phối hợp xây dựng các chuyên đề học tập tích hợp nội dung hai hay nhiều môn học khác nhau giúp học sinh hiểu được sự liên kết giữa kiến thức các môn học. Chuyên đề định hướng nghề nghiệp dành cho học sinh từ lớp 9 – 12 do văn phòng Tư vấn đại học của trường tổ chức định kỳ với sự tham gia của các giáo viên nước ngoài, giáo viên Việt Nam tu nghiệp ở nước ngoài, các trường đại học trong và ngoài nước.
2.1.6. Phân phối chương trình Luận văn: Thực trạng hoạt động trải nghiệm trường THPT Olympia.
- Bảng 2.3. Phân phối chương trình năm học 2026-2027
2.1.7. Tổ chức dạy học
Học sinh học 2 buổi/ngày, buổi sáng 3 tiết và buổi chiều 2 tiết. Học sinh có 30 phút mỗi ngày được bổ sung kiến thức, phụ đạo sau 2 tiết học đầu.
Giờ làm việc với cố vấn trường học là các GVNV từ 15 giờ 10 đến 16 giờ thứ ba và thứ năm hàng tuần. Đây là thời gian dành cho việc phát triển nhân cách, khi học sinh được trao đổi về những vấn đề quan tâm, cập nhật tình hình học tập, tháo gỡ khó khăn trong học tập, sinh hoạt, cùng đọc sách và trao đổi thông tin, v.v.
Trong khung giờ cuối buổi chiều từ 15 giờ 10 đến 16 giờ các ngày thứ hai, thứ tư và thứ sáu, học sinh có thể chọn và đăng ký sinh hoạt tại 1 Câu lạc bộ theo sở thích, năng khiếu, ưu điểm của mình như là một hoạt động học tự chọn.
Thời lượng cho mỗi tiết học là 60 phút/tiết. Thời gian nghỉ giữa các tiết học là 5 phút. Học sinh tự di chuyển đến các phòng học bộ môn theo thời khoá biểu của riêng mình.
2.1.8. Lịch năm học
- Bảng 2.4. Lịch năm học 2026-2027 của trường Trung học phổ thông Olympia
2.2. Giới thiệu hoạt động khảo sát Luận văn: Thực trạng hoạt động trải nghiệm trường THPT Olympia.
2.2.1. Mục đích khảo sát
Hoạt động khảo sát được tiến hành nhằm:
- Tìm hiểu thực trạng việc tổ chức và quản lý hoạt động trải nghiệm tại trường Trung học phổ thông Olympia.
- Phân tích, đánh giá thực trạng để đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động trải nghiệm tại trường Trung học phổ thông Olympia.
2.2.2. Đối tượng khảo sát
Hoạt động khảo sát được thực hiện trên các đối tượng gồm: cán bộ quản lý (phó hiệu trưởng, tổ trưởng), giáo viên và học sinh trường Trung học phổ thông Olympia với số lượng như sau:
- 3 Giám hiệu
- 27 giáo viên (bao gồm 6 quản lý)
- 142 học sinh
2.2.3 Nội dung khảo sát
- Thực trạng tổ chức các hoạt động trải nghiệm tại trường Trung học phổ thông Olympia.
- Thực trạng công tác quản lý hoạt động trải nghiệm tại trường Trung học phổ thông Olympia.
- Thuận lợi, khó khăn trong tổ chức và quản lý hoạt động trải nghiệm.
2.2.4. Phương pháp khảo sát
- Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Phương pháp thống kê và xử lý kết quả trên
2.3. Thực trạng hoạt động trải nghiệm tại trường Trung học phổ thông Olympia
2.3.1. Thực trạng hoạt động trải nghiệm sáng tạo Luận văn: Thực trạng hoạt động trải nghiệm trường THPT Olympia.
Là một trường học hai buổi một ngày và với mục tiêu giáo dục “Chuẩn bị hành trang sẵn sàng cho cuộc sống” nên trường Trung học phổ thông Olympia đặc biệt chú trọng tạo ra nhiều cơ hội cho học sinh trải nghiệm, phát triển các kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng hợp tác, kỹ năng giải quyết vấn đề thông qua các hoạt động tập thể, các sự kiện văn hoá, nghệ thuật, thể thao và phục vụ cộng đồng.
Nghiên cứu lịch năm học của trường Trung học phổ thông Olympia cho thấy ngoài tuần sinh hoạt tập thể đầu năm học, cứ sau chín tuần học tập thì có một tuần dành cho các hoạt động trải nghiệm sáng tạo quy mô lớn. Bên cạnh đó, còn có các sự kiện kéo dài suốt trong năm học, cụ thể như sau:
- Bảng 2.5. Lịch hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Cô giáo NKO, tổng phụ trách nhà trường, cho biết mỗi kỳ học (9 tuần) lại có những chủ đề riêng gắn với mục tiêu phát triển bền vững là chủ đề chung của năm học nhằm phát triển các giá trị cốt lõi mà nhà trường theo đuổi là Tôn trọng, Trung thực, Cống hiến, Thấu hiểu, Tự hào và Hoàn thiện. Các sự kiện được giao cho học sinh các khối lớp tổ chức để các con được thực hành các kỹ năng lãnh đạo, tổ chức, hợp tác và giải quyết vấn đề. Sự kiện còn là cơ hội để gắn kết học sinh trong trường với nhau, huy động sự tham gia của cha mẹ và các tổ chức xã hội.
Ngoài các sự kiện quy mô lớn được đưa vào lịch năm học của nhà trường, các hoạt động ngoài giờ lên lớp khác như sinh hoạt dưới cờ, sinh hoạt lớp, các câu lạc bộ, các hoạt động xã hội, hướng nghiệp và tham quan, dã ngoại cũng được tổ chức hết sức sinh động, sáng tạo và thực chất. Luận văn: Thực trạng hoạt động trải nghiệm trường THPT Olympia.
Mỗi tuần, học sinh có một buổi sinh hoạt dưới cờ do chính hội học sinh tổ chức với những nội dung mang tính thực tế và cập nhật, thu hút mối quan tâm của các bạn như thông tin về các sự kiện mới trong nước và quốc tế, khách mời từ các trường đại học tới tư vấn và phỏng vấn học bổng du học, biểu diễn các tiết mục văn nghệ của ban nhạc trường… Hoạt động này cũng là cơ hội cho nhiều bạn học sinh được trải nghiệm vai trò làm MC, rèn luyện kỹ năng nói trước đám đông và tăng thêm sự tự tin.
Các hoạt động ngoài giờ lên lớp được đưa vào thời gian biểu như sau:
- Bảng 2.6. Lịch một ngày của học sinh trung học
Thời gian biểu cho thấy hoạt động câu lạc bộ được tiến hành 3 lần/tuần và hoạt động cố vấn trường học (Advisor time) – tương tự giáo viên chủ nhiệm, diễn ra 2 lần/tuần. Tổng thời gian dành cho câu lạc bộ là 150 phút và cố vấn trường học là 100 phút. Đây là những điểm rất khác biệt so với các trường Trung học phổ thông khác, đặc biệt là những trường học một buổi/ngày với quỹ thời gian hạn hẹp chỉ chủ yếu tập trung cho hoạt động học tập.
Trả lời phỏng vấn của tác giả về nội dung hoạt động câu lạc bộ, Cô BTH, phụ trách câu lạc bộ của trường chia sẻ: “Đây là khoảng thời gian đặc biệt trong ngày dành cho các Dự án, đội tuyển, câu lạc bộ hoạt động với sự da dạng về hình thức và ngôn ngữ ở nhiều lĩnh vực như Thể thao, Nghệ thuật, Văn hoá, Định hướng nghề nghiệp…Các hoạt động trong khoảng thời gian này nhằm mục tiêu tạo cơ hội cho học sinh thể hiện tài năng, sở thích, trải nghiệm để hoàn thiện khả năng hợp tác, lãnh đạo, dự án cộng đồng, tiếp cận các vấn đề toàn cầu với mục tiêu phát triển bền vững, tự tin tham gia các cuộc thi trong nước và quốc tế”. Được biết, 100% học sinh đăng ký tham gia các câu lạc bộ và rất hào hứng tham gia vì được tự lựa chọn hoạt động phù hợp với khả năng và sở thích của mình.
Bàn về hoạt động chủ nhiệm – cố vấn trường học, cô NTMH – phụ trách chương trình cho biết, nội dung chính xuyên suốt từ lớp 10 đến lớp 12 là đào tạo “giá trị sống” và kỹ năng “tự chủ” cho học sinh. Với đặc thù là một trường liên cấp từ tiểu học đến Trung học phổ thông, nên đây là những nội dung được tiếp nối từ những cấp học trước. Học sinh đã có những kiến thức và kỹ năng nhất định nên các hoạt động trong giờ sinh hoạt nhóm cũng được giao cho các em tự tổ chức, các thầy cô chủ yếu giữ vai trò định hướng và kiểm tra, đánh giá.
Khảo sát trên học sinh về mức độ yêu thích và giá trị các hoạt động trải nghiệm sáng tạo mang lại cho thấy những kết quả rất đáng khích lệ: Luận văn: Thực trạng hoạt động trải nghiệm trường THPT Olympia.
- Biểu đồ 2.1. Ý kiến của học sinh về hoạt động Trải nghiệm sáng tạo tại trường THPT Olympia
Có tới 95% học sinh được hỏi rất thích các hoạt động sự kiện và không có em nào không thích, đứng đầu danh sách các hoạt động Trải nghiệm sáng tạo được học sinh yêu thích. Hoạt động tiếp theo trong danh sách là câu lạc bộ với 82% em rất thích. Giờ chào cờ và hoạt động với cố vấn trường học cùng có tỷ lệ học sinh rất thích là 55%, số còn lại trả lời là thích. Như vậy, 100% học sinh được hỏi đều yêu thích các hoạt động Trải nghiệm sáng tạo của nhà trường.
Từ các nghiên cứu trên, có thể kết luận rằng hoạt động trải nghiệm sáng tạo tại trường Trung học phổ thông Olympia rất phong phú, đa dạng và sáng tạo. Học sinh yêu thích và nhiệt tình tham gia các hoạt động, giúp hình thành và phát triển nhân cách một cách toàn diện.
2.3.2. Thực trạng hoạt động học tập trải nghiệm
Trường Trung học phổ thông Olympia là một trong số ít các trường được Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép phát triển chương trình nhà trường theo định hướng phát triển năng lực học sinh theo công văn 791/BGD-ĐT từ năm học 2023 – 2024. Trường đã chỉ đạo nghiên cứu xây dựng kế hoạch dạy học theo hướng đảm bảo chuẩn kiến thức, kĩ năng được quy định trong chương trình giáo dục phổ thông, giáo viên chủ động lựa chọn nội dung, xây dựng các chủ đề dạy học trong mỗi môn học và các chủ đề tích hợp, liên môn, đồng thời xây dựng kế hoạch dạy học phù hợp với các chủ đề và theo phương pháp bàn tay nặn bột. Kế hoạch dạy học của tổ chuyên môn, giáo viên được lãnh đạo nhà trường phê duyệt trước khi thực hiện.
Trên cơ sở kế hoạch dạy học đã được phê duyệt, giáo viên có thể thiết kế tiến trình dạy học cụ thể cho mỗi chủ đề mà không nhất thiết phải theo tiết trong sách giáo khoa. Mỗi chủ đề có thể được thực hiện ở nhiều tiết học, các nhiệm vụ học tập có thể được thực hiện ở trong hoặc ngoài giờ trên lớp. Ngoài việc tổ chức cho học sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập ở trên lớp, trường đã chỉ đạo giáo viên chú trọng giao nhiệm vụ học tập cho học sinh ở ngoài lớp học và ở nhà.
Cùng với việc thiết kế chương trình nhà trường, phương pháp dạy học đã được đổi mới, trường đã triển khai một số phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực như bàn tay nặn bột, bản đồ tư duy, ứng dụng công nghệ thông tin; tổ chức dạy học phân hóa theo năng lực của học sinh, tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo gắn với sản xuất, kinh doanh tại địa phương. Giáo viên được giao quyền chủ động, sáng tạo trong tổ chức hoạt động dạy và học, kết hợp linh hoạt các phương pháp truyền thống và hiện đại theo một nguyên tắc nhất quán “không áp đặt”, thúc đẩy sự tích cực, kích thích năng lực tư duy chủ động và sáng tạo của học sinh. Luận văn: Thực trạng hoạt động trải nghiệm trường THPT Olympia.
Trường đã chỉ đạo thực hiện việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, rèn luyện phương pháp tự học và vận dụng kiến thức, kĩ năng của học sinh theo tinh thần Công văn số 3535/BGDĐT-GDTrH ngày 27/5/2023 về áp dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” và các phương pháp dạy học tích cực khác; đẩy mạnh việc vận dụng dạy học giải quyết vấn đề, các phương pháp thực hành, dạy học theo dự án trong các môn học; tích cực ứng dụng công nghệ thông tin phù hợp với nội dung bài học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc; tập trung dạy cách học, cách nghĩ; bảo đảm cân đối giữa trang bị kiến thức, rèn luyện kĩ năng và định hướng thái độ, hành vi cho học sinh; chú ý việc tổ chức dạy học phân hoá phù hợp các đối tượng học sinh khác nhau.
Trường đặc biệt chú ý chỉ đạo thực hiện đa dạng hóa các hình thức học tập, chú ý các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, nghiên cứu khoa học của học sinh; sử dụng các hình thức dạy học trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông như: dạy học trực tuyến, trường học kết nối…
Các phương pháp được đặc biệt khuyến khích bao gồm: Inquiry based learning (học tập khám phá); blended learning (học tập hỗn hợp với lớp học đảo ngược (Flipped classroom); project-based learning (học tập dự án) và Experiential learning (học tập trải nghiệm).
2.3.2.1 Các hoạt động học tập trải nghiệm tại trường Olympia
Để tìm hiểu sâu hơn về thực trạng hoạt động học tập trải nghiệm đang diễn ra tại trường Olympia, tác giả đã đưa một số hoạt động tiêu biểu để khảo sát giáo viên ở các tất cả các bộ môn: Toán, Lý, Hoá, Sinh, Sử, Địa, Văn, GDCD, Âm nhạc, Thể dục, Mỹ thuật và ICT. Kết quả thu được như sau:
- Bảng 2.7. Các hoạt động học tập trải nghiệm được tổ chức tại Olympia
- Biểu đồ 2.2. Các hoạt động học tập trải nghiệm được tổ chức tại Olympia
Có tới bốn hoạt động được 100% giáo viên triển khai trong bộ môn mình dạy là thực hành, tổ chức hội thảo, đi thực tế môn học và đi thực tế cùng môn học khác. Điều này cho thấy các hoạt động học tập trải nghiệm khá đa dạng và được tổ chức đều khắp ở các bộ môn. Đặc biệt, với hình thức học tập thực tế, các môn học đã có sự liên kết với nhau nhằm giúp học sinh huy động được kiến thức của các môn học để giải quyết các vấn đề thực tế. Các môn thường liên kết với nhau theo nhóm khoa học tự nhiên (Lý, Hoá, Sinh), khoa học xã hội (Văn, Sử, Địa) hoặc đôi khi với các môn khác như Toán với Mỹ thuật, ICT hoặc Văn, GDCD, Âm nhạc, Tiếng Anh… Luận văn: Thực trạng hoạt động trải nghiệm trường THPT Olympia.
- Mức độ tổ chức các hoạt động học tập trải nghiệm
- Bảng 2.8. Mức độ thực hiện các hoạt động học tập trải nghiệm
Kết quả khảo sát cho thấy tần suất tổ chức các hoạt động học tập trải nghiệm khá dày. Đối với hoạt động thực hành và nghiên cứu bài trước ở nhà, 100% giáo viên đều triển khai hàng tuần trong môn học của mình. Đây là phương pháp học tích cực giúp người học chủ động và hiểu bài hơn, dễ tổ chức và thường được giáo viên sử dụng ở hầu hết các bộ môn.
Có tới 75% giáo viên tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học hàng tháng và 20% thực hiện một lần/học kỳ và 5% không tổ chức hoạt động này. Hoạt động nghiên cứu khoa học được thực hiện chủ yếu với các bộ môn khoa học cơ bản như Lý, Hoá, Sinh, Sử, Địa với tần suất cao mỗi tháng một lần. Nhóm môn không tổ chức hoạt động này là âm nhạc và thể dục. Hoạt động tổ chức hội thảo lại có số lần tổ chức tương đối ngược lại với nghiên cứu khoa học khi 80% giáo viên thực hiện một lần/học kỳ và 15% tổ chức một lần/tháng. Cũng như hoạt động nghiên cứu khoa học, có 5% giáo viên không tổ chức hội thảo lần nào.
Đi thực tế theo môn học và cùng bộ môn khác (liên môn) là hai hoạt động được 100% giáo viên tổ chức với những mức độ khác nhau. Có 5% giáo viên tổ chức học thực tế theo môn mỗi tháng một lần và cũng trong tháng học sinh tham gia đi thực tế liên môn của 15% thầy cô trong trường. Mỗi học kỳ, có tới 95% giáo viên tổ chức đi thực tế theo môn học, trong đó 75% đi hơn 1 lần/kỳ. Bên cạnh đó, các chuyến đi liên môn cũng được tổ chức bởi 75% số giáo viên mỗi kỳ một lần và 10% từ hai chuyến trở lên. Những con số này cho thấy sự “bội thực” của các hoạt động học tập trải nghiệm, đặc biệt là hoạt động đi thực tế ra bên ngoài, gây ra sự “quá tải” đối với học sinh và những khó khăn với giáo viên mà sẽ được đề cập tới trong phần sau. Thực trạng này đặt ra bài toán ngược đối với đội ngũ quản lý, thay vì phải động viên, khuyến khích giáo viên tích cực tổ chức hoạt động học tập trải nghiệm thì phải có biện pháp quản lý nhằm giảm thiểu sự chồng chéo và tăng tính hiệu quả của các hoạt động này.
- Sự tham gia của các lực lượng trong và ngoài trường vào hoạt động trải nghiệm.
- Biểu đồ 2.3: Sự tham gia của các lực lượng trong và ngoài trường vào hoạt động trải nghiệm
Có thể thấy rằng trong quá trình triển khai các hoạt động dạy học trải nghiệm, giáo viên trường Trung học phổ thông Olympia đã huy động được sự tham gia của hầu hết các lực lượng trong nhà trường. 100% giáo viên đã trả lời họ có được sự tham gia của học sinh, Tổ trưởng, đồng nghiệp, khối hỗ trợ dịch vụ và truyền thông. Đây là một điều kiện vô cùng thuận lợi đối với công tác dạy học trong nhà trường nói chung và tổ chức hoạt động trải nghiệm nói riêng. Điều này cũng cho thấy Nhà trường đã quán triệt chủ trương tới tất cả các phòng ban và mọi người đều đồng lòng ủng hộ kế hoạch của trường.
Có rất ít (11%) giáo viên đã huy động được sự tham gia của Ban giám hiệu và chỉ có chín người, chiếm 33% giáo viên thuyết phục được phụ huynh học sinh cùng tham gia. Vấn đề này khá phổ biến khi đội ngũ Ban giám hiệu có rất nhiều công việc phải làm và tuy là người lập kế hoạch và tổ chức, chỉ đạo chuyên môn nhưng họ ít có thời gian để cùng tham gia với giáo viên và học sinh. Huy động sự tham gia của phụ huynh học sinh cũng là một bài toán khó, nhất là đối với các phụ huynh của trường Olympia bởi phần lớn họ là những người giữ chức vụ cao hoặc là chủ của các doanh nghiệp. Ngoài ra, khác với các phụ huynh phương Tây, phụ huynh Việt Nam thường e ngại khi tham gia các hoạt động cùng con em mình. Tuy nhiên, nếu có các biện pháp quản lý phù hợp Nhà trường sẽ phát huy được nguồn lực dồi dào này từ phụ huynh học sinh.
- Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình tổ chức hoạt động trải nghiệm.
- Bảng 2.9. Ý kiến của giáo viên về thuận lợi và khó khăn trong quá trình tổ chức hoạt động trải nghiệm
Kết quả khảo sát về thuận lợi và khó khăn trong quá trình tổ chức trải nghiệm phản ánh khá tương đồng với kết quả về huy động sự tham gia của các lực lượng trong và ngoài trường. Như đã phân tích ở trên, nhờ có định hướng tốt và sự quán triệt triển khai đến toàn bộ các phòng ban trong trường nên 100% giáo viên đều thấy thuận lợi khi phối hợp với các bộ môn khác, được sự hỗ trợ về nhân sự, tài chính và trang thiết bị. Số liệu 100% giáo viên thấy thuận lợi với sự ủng hộ của phụ huynh học sinh có vẻ như trái ngược với tỷ lệ 33% người huy động được sự tham gia của họ. Giải thích về sự “thiếu logic” này, các giáo viên cho biết phụ huynh rất ủng hộ việc tổ chức các hoạt động học tập trải nghiệm cho học sinh nhưng họ gặp khó khăn về thời gian và các kỹ năng cần thiết để cùng tham gia với nhà trường. Luận văn: Thực trạng hoạt động trải nghiệm trường THPT Olympia.
Ở góc độ chuyên môn, hầu hết giáo viên cũng không gặp khó khăn khi lựa chọn hình thức tổ chức và kiểm tra, đánh giá, có tới 93% giáo viên hài lòng với nội dung này. Chỉ có ba giáo viên, chiếm 11% gặp chút khó khăn với trình độ học sinh nhưng 8/27 giáo viên thấy việc tìm địa điểm trải nghiệm thực tế cần được hỗ trợ. Hai vấn đề mà phần lớn giáo viên thấy cần phải được cải thiện là sự phê duyệt của Ban giám hiệu (44%) và đặc biệt là các qui định về thời gian cho các hoạt động trải nghiệm thực tế với 67% giáo viên còn gặp khó khăn.
- 2.3.2.5 Hiệu quả của hoạt động trải nghiệm với học sinh.
Để đánh giá hiệu quả của hoạt động trải nghiệm với học sinh, tác giả đã tiến hành khảo sát cả học sinh và giáo viên nhằm có được thông tin từ cả người tổ chức và đối tượng thụ hưởng.
Để đo lường mức độ hứng thú của học sinh với những hoạt động trải nghiệm mà giáo viên tổ chức như đã trình bày trong mục (a), tác giả đã đưa ra bốn mức độ: rất thích, thích, bình thường và không thích để hỏi 142 học sinh và thu được kết quả như sau:
- Bảng 2.10. Mức độ yêu thích của học sinh với các hoạt động trải nghiệm
- Biểu đồ 2.4: Ý kiến học sinh về các hoạt động học tập trải nghiệm
Kết quả khảo sát cho thấy 100% các em đều rất thích thực hành và đi thực tế theo môn học. Cũng là đi thực tế nhưng với hình thức liên môn thì có 11 em đánh giá là “thích” thay vì “rất thích”. Nghiên cứu bài trước ở nhà tưởng là một hoạt động ít được hưởng ứng nhưng vẫn nhận được sự nhiệt tình của học sinh với 82% rất thích và 18% thích, và nằm trong nhóm ba hoạt động được yêu thích.
Nghiên cứu khoa học và tổ chức hội thảo là hai hoạt động kém được yêu thích hơn nhưng vẫn không có em nào trả lời “không thích”. Nghiên cứu khoa học là một hoạt động tương đối khó đối với học sinh phổ thông nhưng có tới 85% các em “thích” và 25% thấy “bình thường”. Tổ chức hội thảo chỉ thu hút được 23% các em yêu thích, số còn lại tham gia nhưng không thực sự hào hứng lắm với hoạt động này.
Đánh giá về hiệu quả của các hoạt động này đối với học sinh, kết quả thu được giữa giáo viên và học sinh có những khác nhau khá thú vị, thể hiện ở bảng so sánh dưới đây: Luận văn: Thực trạng hoạt động trải nghiệm trường THPT Olympia.
- Bảng 2.11. So sánh đánh giá của giáo viên và học sinh về hiệu quả của hoạt động trải nghiệm sáng tạo đối với học sinh.
- Biểu đồ 2.5: Đánh giá của giáo viên về hiệu quả của hoạt động học tập trải nghiệm đối với học sinh.
- Biểu đồ 2.6: Đánh giá của học sinh về hiệu quả của hoạt động học tập trải nghiệm đối với học sinh.
Cả thầy và trò đều cho rằng sự hứng thú và chủ động của học sinh đều rất tốt với tỷ lệ 100% người được hỏi đều có chung một nhận định như vậy. Cũng với tỷ lệ 100% dành cho khả năng ghi nhớ, kỹ năng phân tích – giải thích và kỹ năng hợp tác nhóm nhưng có sự khác nhau ở mức độ. Các giáo viên thì cho rằng những kỹ năng này của học sinh được cải thiện “rất tốt” thông qua hoạt động học tập trải nghiệm nhưng các học sinh chỉ đánh giá “tốt”. Ngược lại, khi 93% các thầy cô thấy sự sáng tạo của học sinh được phát triển rất tốt thì 100% học sinh lại thấy mình sáng tạo hơn. Sự trái ngược tương tự đối với kỹ năng trình bày, thuyết trình, 90% học sinh thì hài lòng với những kỹ năng học được qua hoạt động trải nghiệm nhưng giáo viên thì đánh giá khắt khe hơn khi thậm chí có 26% thầy cô chỉ để ở mức độ “bình thường”.
Sự trùng hợp thú vị xảy ra khi cả giáo viên và học sinh đều đánh giá hiệu quả về kỹ năng tổ chức với tỷ lệ như nhau là 22% “rất tốt” và 78% đánh giá “tốt”. Tuy nhiên, khác biệt rõ rệt lại nằm ở tiêu chí “tinh thần tập thể” với 15% học sinh cho rằng hoạt động trải nghiệm chỉ giúp cải thiện tính đoàn kết trong lớp ở mức bình thường, không có học sinh nào đánh giá ở mức “rất tốt” còn các thầy cô giáo thì lại có tới 78% người cho điểm ở mức “rất tốt” và 22% ở mức “Tốt”. Đánh giá về khả năng vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề, các thầy cô khắt khe hơn vì 100% giáo viên đánh giá là “tốt” còn học sinh thì lại có tới 90% đánh giá là “rất tốt” và 10% là “tốt.
Nhìn chung, tuy có những mức độ khác nhau ở một số tiêu chí nhưng kết quả khảo sát cả ở trên giáo viên và học sinh đều đánh giá cao tính hiệu quả của các hoạt động học tập trải nghiệm đối với học sinh. Học sinh hứng thú, chủ động hơn với việc học, phát huy được khả năng sáng tạo, các kỹ năng tư duy và giải quyết vấn đề.
2.4. Thực trạng quản lý hoạt động trải nghiệm tại trường Olympia Luận văn: Thực trạng hoạt động trải nghiệm trường THPT Olympia.
2.4.1 Thực trạng quản lý hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Để khảo sát thực trạng công tác quản lý hoạt động Trải nghiệm sáng tạo, tác giả cũng đã tiến hành hỏi các giáo viên trong trường về việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá của cán bộ quản lý đối với hoạt động Trải nghiệm sáng tạo.
- Bảng 2.12. Ý kiến của giáo viên về công tác quản lý hoạt động Trải nghiệm sáng tạo
Hoạt động chỉ đạo (lãnh đạo) được đánh giá cao nhất với 81% giáo viên được hỏi rất hài lòng. Công tác tổ chức cũng được ghi nhận với 63% giáo viên cho là rất tốt. Chỉ có một giáo viên thấy rằng công tác kiểm tra, đánh giá mới ở mức bình thường.
Qua phỏng vấn giáo viên Tổng phụ trách và một số giáo viên chủ nhiệm khối được biết các hoạt động trải nghiệm sáng tạo đều do học sinh trực tiếp làm ban tổ chức, lập kế hoạch, điều hành và kiểm tra, đánh giá.
Nhà trường đã thực sự quan tâm và đầu tư nguồn lực cho hoạt động này từ việc đưa các sự kiện lớn vào lịch năm học từ đầu, cho tới phân bổ quỹ thời gian dành riêng cho hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong phân phối chương trình cũng như thời gian biểu hàng ngày.
2.4.2. Thực trạng quản lý hoạt động học tập trải nghiệm
Để thực hiện nội dung này, trường đã tổ chức quán triệt cho toàn thể cán bộ giáo viên của trường, giao nhiệm vụ cụ thể cho các tổ chuyên môn thực hiện việc rà soát chương trình các môn học, đối chiếu với mục tiêu, điều kiện cơ sở vật chất của trường để xây dựng chương trình cho phù hợp. Luận văn: Thực trạng hoạt động trải nghiệm trường THPT Olympia.
Trường đã cho giáo viên nghiên cứu các chương trình của một số nước để vận dụng vào việc xây dựng chương trình nhà trường. Trường đã cử giáo viên đến một số trường trung học là các đối tác của trường để xem xét việc xây dựng chương trình của các nước khác, từ đó vận dụng để xây dựng và hoàn thiện chương trình của trường.
Trường đã chỉ đạo trong các buổi sinh hoạt tổ chuyên môn đưa nội dung trao đổi, rà soát về chương trình nhà trường. Hàng năm có rà soát để điều chỉnh và hoàn thiện chương trình.
Nhà trường có chính sách trong việc động viên khen thưởng giáo viên có thành tích tốt trong việc xây dựng chương trình nhà trường. Để chương trình luôn được cập nhật, trường đã thường xuyên trao đổi với giáo viên nước ngoài đang giảng dạy tại trường và giáo viên các trường phổ thông khác để cập nhật thông tin.
Khảo sát trên giáo viên và các tổ trưởng về công tác quản lý hoạt động trải nghiệm cho thấy nhà trường đã có những biện pháp quản lý khá tốt, đảm bảo hoạt động trôi chảy, nhịp nhàng. Cụ thể như sau:
- Về công tác lập kế hoạch
- Bảng 2.13. Đánh giá của giáo viên về công tác lập kế hoạch
- Biểu đồ 2.7: Đánh giá của giáo viên về công tác lập kế hoạch
Ban giám hiệu đã cụ thể hoá nhiệm vụ năm học và qui chế chuyên môn tới các tổ bộ môn và được 100% giáo viên đánh giá từ tốt đến rất tốt. Tuy nhiên, có 37% giáo viên thấy rằng công tác tổ chức hướng dẫn xây dựng kế hoạch trải nghiệm chưa thực sự tốt, hai phần ba còn lại đánh giá tốt và rất tốt. Điểm yếu nhất trong công tác lập kế hoạch là qui định cụ thể về thời lượng và thời gian cho từng môn học, chỉ có 3 giáo viên hài lòng, phần lớn giáo viên – tới 85% chưa đánh giá cao công tác này và 4% còn cho là chưa tốt.
- Về công tác tổ chức, triển khai hoạt động trải nghiệm
- Bảng 2.14. Đánh giá của giáo viên về công tác tổ chức, triển khai
- Biểu đồ 2.8: Đánh giá của giáo viên về công tác tổ chức, triển khai
Nhà trường đã có những yêu cầu cụ thể đối với giáo viên về nghiên cứu chương trình, lựa chọn nội dung trải nghiệm. Các tổ bộ môn đã cùng nhau phối hợp, lập kế hoạch trải nghiệm liên môn và 96% giáo viên đánh giá cao hoạt động này, trong đó 89% cho là rất tốt. Cũng với tỷ lệ này, các thầy cô cho rằng mình đã được hướng dẫn cách phối hợp với các phòng ban để triển khai kế hoạch rất tốt. Đánh giá về việc đưa ra các qui định cụ thể về hình thức và phương pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm, 81% giáo viên cho điểm tốt và 12% cho là rất tốt, chỉ có 7% thấy bình thường.
- Về công tác chỉ đạo triển khai hoạt động trải nghiệm
- Bảng 2.15. Đánh giá của giáo viên về công tác chỉ đạo
- Biểu đồ 2.9: Đánh giá của giáo viên về công tác chỉ đạo
Đối với công tác động viên, khuyến khích và thi đua, khen thưởng các giáo viên nhằm nâng cao chất lượng các hoạt động trải nghiệm, Ban giám hiệu đã có những biện pháp khá hiệu quả và được tập thể cán bộ, giáo viên đánh giá cao. 100% đội ngũ hài lòng với chính sách khen thưởng và vinh danh các thành tích giáo viên, trong đó 93% cho điểm rất tốt. Công tác khuyến khích, hỗ trợ giáo viên tham gia các kỳ thi Giáo viên sáng tạo và Tích hợp, liên môn cũng được đánh giá cao với 96% giáo viên cho điểm từ tốt đến rất tốt và không có ai đánh giá là chưa tốt. Luận văn: Thực trạng hoạt động trải nghiệm trường THPT Olympia.
- Về công tác kiểm tra, đánh giá
- Bảng 2.16. Đánh giá của giáo viên về công tác kiểm tra, đánh giá
- Biểu đồ 2.10: Đánh giá của giáo viên về công tác kiểm tra, đánh giá
Tổ chuyên môn đã làm tốt công tác kiểm tra và phê duyệt kế hoạch trải nghiệm và được 100% giáo viên đánh giá từ tốt đến rất tốt. Tuy nhiên, việc sử dụng kết quả kiểm tra để đánh giá, xếp loại giáo viên lại chưa nhận được sự đồng tình của tất cả mọi người. Có 11% giáo viên không đánh giá cao hoạt động này và 4% thấy chưa tốt. Đây là một trong những nội dung cần được quan tâm hơn trong công tác kiểm tra, đánh giá.
Công tác kiểm tra, đánh giá thực tế triển khai và hiệu quả của các hoạt động dạy học trải nghiệm được tiến hành thường xuyên, thông qua hoạt động dự giờ và khảo sát học sinh. Hầu hết các giáo viên đều cho rằng Ban giám hiệu đã làm tốt công việc này với 7% đánh giá rất tốt, 81% cho điểm tốt và 12% thấy bình thường, không có ai cho điểm chưa tốt ở lĩnh vực này.
- Về công tác bồi dưỡng đội ngũ
- Bảng 2.17. Đánh giá của giáo viên về công tác bồi dưỡng đội ngũ
- Biểu đồ 2.11: Đánh giá của giáo viên về công tác bồi dưỡng đội ngũ
Thông qua hoạt động kiểm tra, phê duyệt kế hoạch và trực tiếp dự giờ giáo viên, Ban giám hiệu đã góp ý kịp thời về nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm, giúp giáo viên có những điều chỉnh và nâng cao chất lượng dạy học. 100% hài lòng với việc làm này và đánh giá từ tốt đến rất tốt. Các hoạt động tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ và năng lực cho giáo viên cũng được chú trọng và được đánh giá cao với 86% cho điểm tốt, 7% rất tốt và số còn lại đánh giá là bình thường.
- Về công tác tuyên truyền, phối hợp với các lực lượng bên ngoài nhà trường
- Bảng 2.18. Đánh giá của giáo viên về công tác tuyên truyền, phối hợp
- Biểu đồ 2.12: Đánh giá của giáo viên về công tác tuyên truyền, phối hợp
Công tác tuyên truyền, quảng bá các hoạt động học tập trải nghiệm đã được thực hiện rất hiệu quả với 56% giáo viên đánh giá rất tốt và 44% cho điểm tốt. Việc phối hợp với phụ huynh học sinh và các tổ chức, cơ quan ngoài trường cũng được triển khai mạnh mẽ. 96% người được hỏi đều cho rằng nhà trường đã làm tốt hai hoạt động này, trong đó 11% đánh giá rất tốt đối với công tác phối hợp Phụ huynh học sinh và 19% đối với sự phối hợp với các tổ chức, cơ quan ngoài trường. Đây là một kết quả khả quan nhằm huy động được sự ủng hộ và giúp đỡ từ các nguồn lực khác nhau, giúp cho việc triển khai hoạt động dạy học trải nghiệm được thuận lợi và hiệu quả hơn.
2.5. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động trải nghiệm tại trường Trung học phổ thông Olympia Luận văn: Thực trạng hoạt động trải nghiệm trường THPT Olympia.
2.5.1. Những thành công
Từ kết quả khảo sát thực trạng hoạt động trải nghiệm tại trường Trung học phổ thông Olympia, có thể rút ra nhận định rằng các hoạt động được tổ chức rất tốt, đối với cả hoạt động học tập trải nghiệm trong chương trình dạy học, cũng như hoạt động trải nghiệm sáng tạo (chương trình giáo dục theo nghĩa hẹp).
Sự hứng thú và tham gia của học sinh trong các hoạt động học tập trải nghiệm và trải nghiệm sáng tạo. Kết quả 100% học sinh yêu thích các hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho thấy mức độ hấp dẫn của các hoạt động này. Bên cạnh đó, học sinh cũng rất hứng thú và đánh giá cao các hoạt động học tập trải nghiệm do các thầy cô tổ chức trong các môn học.
Sự tham gia triển khai đồng bộ và đều khắp ở các bộ môn của giáo viên: Toàn bộ giáo viên của 13 môn học tham gia khảo sát đều có tổ chức hoạt động học tập trải nghiệm cho học sinh với tần suất khá cao tuỳ thuộc vào từng hình thức tổ chức, tạo ra bầu không khí học tập sôi nổi và đổi mới mạnh mẽ về phương pháp trong nhà trường.
Hiệu quả của các hoạt động học tập trải nghiệm đối với học sinh được ghi nhận bởi cả giáo viên và học Học sinh không những thích được tham gia các hoạt động trải nghiệm mà các kỹ năng học tập, kỹ năng sống và khả năng sáng tạo được phát triển.
Xây dựng được kế hoạch trải nghiệm sáng tạo từ đầu năm, có qui định rõ ràng về thời điểm và tên hoạt động.
Các cán bộ quản lý nắm rõ chủ trương, định hướng của Nhà trường và triển khai cụ thể đến giáo viên, có những hướng dẫn và yêu cầu rõ ràng giúp giáo viên thuận lợi khi triển khai nhiệm vụ.
Công tác tuyên truyền, phối hợp với các lực lượng trong và ngoài trường được thực hiện tốt nên đã huy động được sự ủng hộ và hỗ trợ về nhiều mặt cho việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm.
2.5.2 Những hạn chế Luận văn: Thực trạng hoạt động trải nghiệm trường THPT Olympia.
Bên cạnh những thành công rất đáng ghi nhận của công tác quản lý hoạt động trải nghiệm vẫn còn tồn tại một số hạn chế cần được khắc phục:
Việc tổ chức nhiều hoạt động trải nghiệm, rộng khắp ở các môn học và với tần suất khá cao cho thấy sự thiếu kiểm soát của cán bộ quản lý. Tình trạng “trăm hoa đua nở” dẫn đến sự chồng chéo và quá tải đối với cả giáo viên và học Có tới 67% giáo viên được hỏi thấy khó khăn vì không có qui định về thời lượng và thời gian đối với hoạt động học tập trải nghiệm. Chính vì vậy, khi đánh giá về công tác lập kế hoạch thì 85% giáo viên chưa hài lòng với việc qui định về thời lượng và thời gian cho hoạt động học tập trải nghiệm.
Đánh giá về vấn đề xây dựng kế hoạch, 44% giáo viên thấy khó khăn đối với việc phê duyệt kế hoạch của Ban giám hiệu và 33% cho rằng cần phải cải thiện hơn công tác hướng dẫn xây dựng kế hoạch.
Cán bộ quản lý có triển khai công tác kiểm tra, đánh giá nhưng thiếu tính đồng bộ, do đó chưa có được các tiêu chuẩn cụ thể để sử dụng kết quả xếp loại thi đua cho giáo viên. Có tới 11% giáo viên chưa thực sự hài lòng với công tác này và 4% cho rằng chưa tốt.
2.5.3. Nguyên nhân của thành công và hạn chế
2.5.3.1 Nguyên nhân của thành công
Căn cứ trên phân tích số liệu các phiếu hỏi và thông tin có được từ quan sát, phỏng vấn trực tiếp có thể thấy thành công của nhà trường có được là nhờ hàng loạt các yếu tố chủ quan và khách quan như sau:
Định hướng của nhà trường: Hội đồng quản trị và ban lãnh đạo nhà trường đã có tầm nhìn và sứ mệnh rõ ràng ngay từ đầu, đặt mục tiêu phát triển toàn diện và phát huy năng lực cá nhân học sinh. Với trọng tâm là giáo dục nhân cách, phát triển tư duy và các kỹ năng sống, nhà trường đã có chiến lược tạo ra môi trường cho học sinh được trải nghiệm, nhằm trang bị các hành trang sẵn sàng cho cuộc sống tự lập. Chính vì vậy, hoạt động trải nghiệm được đặc biệt coi trọng và đầu tư có chiều sâu, tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ quản lý và giáo viên trong xây dựng chương trình, xác định mục tiêu, lựa chọn nội dung, phương pháp, phương tiện và các hình thức kiểm tra đánh giá. Luận văn: Thực trạng hoạt động trải nghiệm trường THPT Olympia.
Công tác quản lý của Ban giám hiệu: Đánh giá chung về công tác quản lý hoạt động trải nghiệm cho thấy đội ngũ lãnh đạo nhà trường đã có những biện pháp quản lý rất hiệu quả, từ khâu lập kế hoạch, tổ chức triển khai, chỉ đạo thực hiện đến kiểm tra, đánh giá. Hầu hết giáo viên đều đánh giá cao các hoạt động quản lý của Ban giám hiệu, đã tạo điều kiện thuận lợi về chương trình, hỗ trợ các nguồn lực, có những chính sách động viên khuyến khích kịp thời để giáo viên có thể chủ động và sáng tạo trong thiết kế, tổ chức hoạt động.
Điều kiện về cơ sở vật chất và tài chính: Là một trường tư thục, tự chủ về tài chính nên nhà trường rất chủ động đầu tư các trang thiết bị và ngân sách cho hoạt động trải nghiệm, phù hợp với định hướng và sứ mệnh của nhà trường. Chính vì vậy, 100% giáo viên được hỏi đều hài lòng với những hỗ trợ về nguồn tài chính và cơ sở vật chất. Đây là một trong những điều kiện cơ bản để tổ chức hoạt động trải nghiệm một cách đa dạng và phong phú bởi nếu không có thì sẽ rất hạn chế việc cho học sinh thực hành và đi trải nghiệm thực tế.
Trình độ và sự tham gia của học sinh: Theo kết quả khảo sát 89% giáo viên gặp thuận lợi về trình độ học sinh khi tổ chức hoạt động trải nghiệm. Có thể nói đây là yếu tố quan trọng, quyết định thành công của chương trình bởi quá trình dạy học là sự tương tác giữa thầy và trò, đặc biệt học tập trải nghiệm là phương thức học mang tính chủ thể rất cao. Nếu người học không có động lực, hứng thú thì sẽ không hợp tác tham gia vào hoạt động. Hơn nữa, người học càng có nhiều kinh nghiệm thì quá trình trải nghiệm càng thú vị và mang lại hiệu quả cao. Theo mô hình học tập trải nghiệm của David Kolb thì người học làm chủ quá trình làm ra tri thức mới dưới sự định hướng, dẫn dắt của người thầy.
Sự ủng hộ của phụ huynh học sinh: Con số 100% giáo viên hài lòng với sự ủng hộ của phụ huynh học sinh đối với hoạt động trải nghiệm cho thấy đây là một trong những yếu tố không nhỏ góp phần vào thành công của hoạt động này tại trường Olympia. Với các hình thức học tập trải nghiệm như nghiên cứu khoa học và đi thực tế, học sinh cần có được các điều kiện thuận lợi về công cụ như máy tính xách tay để lên mạng tìm kiếm thông tin, học tập online với giáo viên để làm các thí nghiệm ảo và tài chính cũng như thời gian để tham gia các chuyến học tập thực tế ngoài Hà Nội. Bên cạnh đó, trình độ hiểu biết của phụ huynh để cổ vũ giáo viên và khuyến khích con cái cũng như việc dành thời gian tham gia cùng các hoạt động trải nghiệm hoặc tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ địa điểm, kinh phí cho các chuyến đi thực tế mang lại những giá trị tích cực về vật chất và tinh thần cho thầy cô giáo và học sinh.
2.5.3.2 Nguyên nhân của hạn chế Luận văn: Thực trạng hoạt động trải nghiệm trường THPT Olympia.
Sở dĩ có tình trạng các hoạt động trải nghiệm chồng chéo và giáo viên không sắp xếp được thời gian là do chưa có sự sắp xếp, qui hoạch nội dung và đưa ra những qui định cụ thể về thời lượng và thời gian cho các hoạt động trải nghiệm. Trên cơ sở đó, các giáo viên có thể lập kế hoạch cho bộ môn của mình hoặc phối hợp với môn khác để cùng tiến hành các dự án trải nghiệm.
Một trong những lý do chính khiến giáo viên cho rằng các quản lý chưa làm tốt việc hướng dẫn xây dựng kế hoạch hoạt động trải nghiệm là vì chưa có một mẫu kế hoạch thống nhất để giáo viên không phải tự mày mò thiết kế. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến sự chậm trễ trong phê duyệt kế hoạch cho giáo viên triển khai bởi mỗi kế hoạch đưa lên lại phải sửa nhiều lần do chưa đầy đủ các hạng mục hoặc không đúng yêu cầu.
Chính sự chậm trễ trong phê duyệt kế hoạch khiến giáo viên chưa thấy có được sự tham gia của Ban giám hiệu vào hoạt động trải nghiệm mà nguyên nhân cơ bản do thiếu người chuyên trách và chưa có qui trình thống nhất, rõ ràng để giáo viên được hỗ trợ kịp thời.
Mặc dù việc kiểm tra, đánh giá đã và đang được thực hiện khá tốt nhưng vẫn chưa có sự đồng bộ, thống nhất các tiêu chí cụ thể về thanh tra, kiểm tra. Chính vì vậy, các cán bộ quản lý khó đưa ra được những kết luận thống nhất, đảm bảo sự công bằng để xếp loại giáo viên.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2
Qua nghiên cứu khảo sát và phân tích thực trạng việc tổ chức và quản lý hoạt động trải nghiệm tại trường Trung học phổ thông Olympia cho thấy nhà trường đã và đang đi đúng hướng, đạt được những thành quả ban đầu rất khả quan. Phương thức trải nghiệm được triển khai đồng bộ ở cả chương trình dạy học và chương trình giáo dục (theo nghĩa hẹp), được đầu tư trọng tâm như một chiến lược phát triển của nhà trường.
Nhờ có định hướng, chủ trương rõ ràng, các biện pháp quản lý cụ thể, chặt chẽ Nhà trường đã huy động được sự tham gia nhiệt tình và hiệu quả không chỉ đội ngũ giáo viên, nhân viên và học sinh mà còn cả sự ủng hộ của phụ huynh học sinh cũng như các lực lượng bên ngoài nhà trường. Luận văn: Thực trạng hoạt động trải nghiệm trường THPT Olympia.
Bên cạnh những thành công đạt được vẫn còn tồn tại một số hạn chế trong công tác quản lý, chưa tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ giáo viên và gây ảnh hưởng đến tính hiệu quả của các hoạt động trải nghiệm. Chính vì vậy, cần có những biện pháp quản lý để khắc phục những tồn tại hiện nay, nâng cao chất lượng của chương trình giáo dục của nhà trường.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp hoạt động trải nghiệm trường THPT Olympia

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
