Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Giải pháp giảng dạy và đánh giá tại Học viện Báo chí hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Một số giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Như đã trình bày ở Chương 1, các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy bao gồm: mục tiêu giảng dạy; nội dung giảng dạy; phương pháp giảng dạy; điều kiện và phương tiện giảng dạy; kiến thức chuyên môn của giảng viên; và các chủ trương của nhà trường. Khi kết hợp các yếu tố trên với kết quả nghiên cứu ở chương 3, chúng ta có thể thấy được sự cần thiết phải tiếp tục nâng cao chất lượng giảng dạy của Học viện. Điều này có thực hiện được hay không phụ thuộc vào các yếu tố như chính sách của nhà trường; vai trò của các nhà lãnh đạo, quản lý; trình độ đội ngũ giảng viên, và hơn hết là tinh thần cùng với sự nỗ lực học tập của sinh viên trong nhà trường. Dưới đây là một số nhóm giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy tại HV BC-TT:
4.1. Giải pháp về phía nhà trường
4.1.1 Định kì tiến hành tự đánh giá toàn bộ các hoạt động của nhà trường và của từng chuyên ngành đào tạo
Tự đánh giá là một quá trình tự học tập, tự nghiên cứu và tự hoàn thiện theo các chuẩn mực đã đặt ra. Quá trình này thường kéo dài từ 06 tháng đến 12 tháng. Đó là khoảng thời gian cần thiết để tự nhận thấy những tồn tại, hạn chế của mình và phấn đấu để khắc phục chúng.
Ưu điểm chính của hoạt động tự đánh giá là do chính những thành viên trong nhà trường trực tiếp thực hiện. Họ hơn ai hết hiểu rõ các khoá đào tạo của mình. Nhược điểm lớn nhất của tự đánh giá là thiếu tính khách quan và do những người không chuyên thực hiện. Vì vậy, trong quá trình đánh giá nhà trường có thể mời đại diện các doanh nghiệp, cựu SV, chuyên gia của các trường khác cùng tham gia các đợt tự đánh giá của trường. Một biện pháp để kiểm soát tính trung thực, độ tin cậy của báo cáo tự đánh giá là công bố công khai kết quả tự đánh giá trên tạp chí hay tờ thông báo nội bộ và trên các phương tiện thông tin đại chúng.
4.1.2. Nhanh chóng xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng các hoạt động giảng dạy của Học viện
Chất lượng GD ĐH nói chung và chất lượng giảng dạy đại học nói riêng không phải tự nhiên mà có. Chất lượng là kết quả của một quá trình phấn đấu lâu dài. Chất lượng của mỗi trường đại học phải được hình thành và đạt được ở mức độ nhất định trước khi được công nhận từ bên ngoài. Một vấn đề đặt ra là các trường đại học phải làm thế nào để nâng cao chất lượng đào tạo và để được công nhận đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng. Câu trả lời: các trường đại học phải có một hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong của nhà trường. Do vậy HV BC-TT cũng cần nhanh chóng xây dựng cho mình một hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong của nhà trường. Hệ thống đảm bảo chất lượng sẽ bao gồm các chủ trương của lãnh đạo nhà trường, một đơn vị chuyên trách về đảm bảo chất lượng, các hoạt động và sự phối hợp giữa các đơn vị bên trong nhà trường. Chủ trương của lãnh đạo nhà trường được thể hiện ở sứ mạng và mục tiêu của nhà trường, được xác định trong từng giai đoạn nhất định.
Đơn vị chuyên trách về đảm bảo chất lượng có chức năng làm đầu mối đề điều phối các hoạt động đảm bảo chất lượng của trường. Theo kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước ở khu vực châu Á, đơn vị chuyên trách không cần lớn lắm, có thể chỉ có 2 – 4 người làm việc chuyên trách cùng với 1 – 2 trợ lí hay thư kí. Đơn vị chuyên trách có một mạng lưới cộng tác viên, bao gồm những đại diện của các khoa, phòng, ban có liên quan. Sự phối hợp chặt chẽ giữa đơn vị chuyên trách về đảm bảo chất lượng với các đơn vị khác sẽ quyết định sự thành công trong việc duy trì và nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường. Luận văn: Giải pháp giảng dạy và đánh giá tại Học viện Báo chí.
Đơn vị chuyên trách về đảm bảo chất lượng tại Học viện có thể bước đầu là một phòng nằm trong Ban Quản lí Đào tạo và có tên là Phòng Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học. Khi có điều kiện có thể thành lập một Trung tâm Đảm bảo chất lượng. Hoạt động của Trung tâm đảm bảo chất lượng sẽ rất đa dạng. Thông thường, trung tâm đảm bảo chất lượng là đầu mối phối hợp với các đơn vị khác để triển khai thực hiện các hoạt động chủ yếu sau đây:
- Đánh giá và theo dõi chất lượng SV tốt nghiệp của nhà trường qua các đợt điều tra, khảo sát;
- Đánh giá và giám sát chất lượng giảng dạy qua mức độ SV chấp nhận chất lượng chất lượng giảng dạy toàn khoá học hay từng môn học, kết quả học tập của SV, tỉ lệ đạt yêu cầu từng môn học và tỉ lệ tốt nghiệp;
- Đánh giá chất lượng nghiên cứu khoa học của nhà trường;
- Đánh giá chất lượng công tác hành chính và các dịch vụ của nhà trường;
- Nghiên cứu các giải pháp nâng cao chất lượng như đổi mới phương pháp giảng dạy, phương pháp học tập, đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá;
- Định kì tiến hành tự đánh giá toàn bộ các hoạt động của nhà trường hay của từng chuyên ngành đào tạo.
4.1.3. Nhà trường cần khuyến khích giảng viên nghiên cứu khoa học để góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy
Hai nhiệm vụ quan trọng nhất trong công tác chuyên môn của mỗi một GV đại học là giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Hoạt động nghiên cứu khoa học tại Học viện Báo chí Tuyên truyền vẫn diễn ra hàng năm nhưng chủ yếu tập trung vào một số khoa nhất định như Xã hội học, Tuyên truyền và Chính trị học. Số lượng GV và SV tham gia vào hoạt động này cũng rất hạn chế. Trong khi đó giảng dạy, nghiên cứu khoa học, học tập là các hoạt động có mối quan hệ biện chứng với nhau và là điều kiện tồn tại của nhau dưới góc độ triết học. GV muốn hoàn thành được nhiệm vụ giảng dạy thì phải không ngừng nghiên cứu khoa học và ngược lại, nghiên cứu khoa học là để phục vụ cho công tác giảng dạy được tốt, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, phát triển xã hội. Số lượng đề tài nghiên cứu khoa học của Học viện được nghiệm thu trong giai đoạn từ năm 2021 đến 2026 (xem Phụ lục 5b).
Số lượng đề tài nghiên cứu khoa học của nhà trường được nghiệm thu trong khoảng thời gian 5 năm không có thay đổi nhiều về đề tài cấp bộ nhưng có sự thay đổi rõ rệt trong đề tài cấp trường. Nhưng thực ra, với qui mô SV, GV nhà trường được mở rộng hàng năm thì mức độ tăng về đề tài nghiên cứu khoa học là chưa phù hợp (15% – 9%).
GV đại học trước hết phải là một nhà nghiên cứu, một nhà khoa học. Vì xét đến cùng, ở bậc đại học người thầy cần phải truyền đạt những chân lí tự mình phát hiện được chứ không phải giảng dạy những gì người khác tìm thấy. GV với tư cách là một nhà khoa học phải tích cực tham gia nghiên cứu trước hết là phục vụ công tác giảng dạy và tiến tới phục vụ xã hội. Thực tiễn luôn đặt ra cho khoa học những vấn đề nghiên cứu để thúc đấy quá trình nghiên cứu chung đồng thời cũng là nơi thử thách, kiểm nghiệm tính hữu hiệu của công việc nghiên cứu khoa học.
Để giảng dạy được, việc đầu tiên GV cần phải làm là nghiên cứu tài liệu giảng dạy để cấu trúc lại nội dung bài giảng thành những mô hình, sơ đồ mang tính cô đọng, súc tích rồi dùng phương tiện dạy học để hướng dẫn, tổ chức, làm trọng tài, cố vấn kết luận, kiểm tra nhằm tạo điều kiện cho sinh viên tự nghiên cứu, tự thể hiện, tự kiểm tra, tự điều chỉnh hoạt động học tập của bản thân. Như vậy, việc nghiên cứu khoa học thường được bắt đầu từ những việc rất đơn giản như nghiên cứu tài liệu trong việc soạn bài; tìm và đọc các tài liệu sách báo thuộc chuyên ngành giảng dạy đến phức tạp như chủ trì các công trình nghiên cứu khoa học từ cấp cơ sở đến cấp Nhà nước. Hoạt động tiếp theo của GV góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy là tham gia nghiên cứu khoa học với những đề tài khoa học cụ thể phục vụ cho giảng dạy. Sản phẩm của hoạt động này sẽ là những bài báo, đề tài khoa học ở các cấp để công bố với các đồng nghiệp nhằm trao đổi thông tin và cùng nhau xây dựng cơ sở lí luận – thực tiến cho việc đổi mới phương pháp giảng dạy.
Với những lí do trên, hoạt động nghiên cứu khoa học cần được Đảng uỷ, Ban Giám đốc Học viện đẩy mạnh thậm chí ban hành thành nghị quyết và giao định mức về cho mỗi khoa trong trường tính theo từng năm học. Thêm vào đó GV cần khuyến khích, lôi kéo SV vào hoạt động bổ ích này.
4.2. Giải pháp cho giảng viên Luận văn: Giải pháp giảng dạy và đánh giá tại Học viện Báo chí.
4.2.1 Kết hợp hài hoà giữa phương pháp giảng dạy hiện đại và phương pháp giảng dạy truyền thống
Trên các diễn đàn bàn về việc nâng cao chất lượng đào tạo hiện nay ở Việt Nam, việc đổi mới phương pháp giảng dạy được khẳng định là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất. Ở HV BC-TT, giảng dạy theo phương pháp truyền thống vẫn còn phổ biến. GV đứng trên bục thuyết trình, dùng phấn viết lên bảng, đọc cho SV chép. Phương pháp giảng dạy cổ điển này về thực tế chưa thể xoá bỏ hoàn toàn. Khi sử dụng phương pháp giảng dạy hiện đại người thầy đóng vai trò là người nêu vấn đề, dẫn dắt vấn đề tạo điều kiện cho SV trao đổi, phản hồi, nêu ra các quan điểm của mình. Trên thực tế, không phải trong mỗi buổi học SV đều hào hứng tham gia tranh luận. Công nghệ thông tin được xem là một trong những công cụ bổ ích để thu hút SV vào việc học tập. SV có thể trao đổi thông tin với thầy hay trao đổi thông tin với nhau bất cứ lúc nào chứ không chỉ gò bó tại một thời điểm, một không gian cố định. Công nghệ thông tin đã tạo ra một môi trường mở thu hút SV tích cực học tập hay ít nhất đã tạo được hứng thú cho việc học tập của mình. Khi ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy bản thân người thầy và học trò cần phải có kĩ năng cơ bản nhất trong sử dụng và vận hành nó.
Điều đáng nói là việc lấy SV làm trọng tâm để giảng dạy tại Học viện chưa được quan tâm đúng mức mà người thầy vẫn đóng vai trò quan trọng nhất trong quá trình giảng dạy. Quan điểm lấy người học làm trung tâm là một trong những phương pháp giảng dạy mới, nó giúp phát huy hết khả năng tư duy, sáng tạo của người học. Sau mỗi môn học SV được phép đánh giá GV bằng một bảng hỏi mà không cần phải ghi danh. Nếu được SV nhận xét tốt thì GV mới được tiếp tục giảng dạy.
Tựu chung lại, để nâng cao chất lượng giảng dạy cần có sự kết hợp hài hoà giữa phương pháp giảng dạy truyền thống và hiện đại và đặc biệt là sự hài hoà giữa GV và SV, hai chủ thể chính trong hoạt động dạy học.
4.2.2. Đổi mới phương pháp đánh giá kết quả học tập của sinh viên
Đánh giá kết quả học tập của SV là một bộ phận quan trọng không thể thiếu trong hoạt động giảng dạy. Không có đánh giá thì không thể biết được việc học, việc giảng dạy xảy ra như thế nào và những kết quả thu được có phù hợp, có đạt được mục tiêu đề ra hay không. Luận văn: Giải pháp giảng dạy và đánh giá tại Học viện Báo chí.
Việc tiến hành kiểm tra, đánh giá môn học có thể được thực hiện ngay từ khi môn học được bắt đầu, sau mỗi giờ học, giữa kì và cuối kì. Đánh giá ở đây không thể hiểu theo nghĩa hẹp là cho điểm SV để tính điểm tổng kết, xếp loại sau mỗi học kì. Đánh giá thường xuyên để có thông tin phản hồi để từ đó bản thân SV và GV phải tự điều chỉnh lại hoạt động chính của mình. Với ý nghĩa như vậy thì hoạt động đánh giá kết quả học tập của SV tại HV BC-TT cần phải có sự xem xét và điều chỉnh lại. Hiện nay ngoài số lượng điểm kiểm tra học trình theo qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo tính theo số đơn vị học trình thì điểm kiểm tra học phần hay điểm kiểm tra hết môn được cho là cơ sở để đánh giá chất lượng học tập của SV. Điều này có nghĩa là GV sau khi nộp kết quả chấm bài học phần cho cán bộ văn phòng khoa chủ quản là hết trách nhiệm, là hoàn thành xong phần giảng dạy của mình đối với một lớp học. SV đạt điểm từ 5 trở lên cũng không cần biết đến môn học đó nữa. Những SV chỉ đạt điểm dưới 5 thì phải thi lại. nếu thi lại vẫn không đạt thì phải học lại. Như vậy, ý nghĩa to lớn của việc kiểm tra, đánh giá là GV và SV cần sử dụng kết quả đánh giá để điều chỉnh hoạt động dạy và học của mình chưa được khai thác, sử dụng. Giảng viên cần phản hồi lại cho SV những lỗ hổng kiến thức để SV có kế hoạch bổ sung, khắc phục.
4.2.3. Bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên
Để nâng cao chất lượng giảng dạy của một cơ sở đào tạo điều đầu tiên cần chú ý là việc xây dựng một đội ngũ GV đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và có trình độ chuyên môn cao, vững chắc. Thực tế chỉ ra rằng đội ngũ cán bộ giảng dạy của HV BC-TT hiện nay còn thiếu về số lượng và chất lượng nhưng chưa có nghiên cứu đánh giá nào khẳng định chất lượng giảng dạy tốt hay chưa tốt (Xem Phụ lục 5a).
Theo bảng cơ cấu độ tuổi GV của Học viện thì trong khoảng thời gian 05 năm nữa Học viện cần tuyển thêm gần 100 cán bộ giảng dạy thay thế cho đội ngũ cán bộ giảng dạy đến tuổi nghỉ hưu theo luật lao động. Bên cạnh đó với qui mô đào tạo mỗi năm lại tăng thêm thì số lượng GV mới cần bổ sung cũng rất lớn.
Muốn chất lượng cán bộ giảng dạy được đảm bảo, Ban Tổ chưc cán bộ Học viện cần tham mưu cho Ban Giám đốc về tiêu chí tuyển dụng nguồn nhân lực. Nhà trường nên có những chính sách ưu tiên cộng điểm cho những người có trình độ sau đại học và đặc biệt là những người đã có kinh nghiệm giảng dạy đại học như vậy sẽ giảm được kinh phí và thời gian đào tạo. GV tuyển mới nhất thiết phải có trình độ ngoại ngữ đủ để tự đọc, nghiên cứu tài liệu nước ngoài. Phải có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin để khai thác tài liệu trên mạng internet cũng như soạn giáo án điện tử.
Hàng năm, gần 1000 SV đại học chính qui của HV BC-TT tốt nghiệp ra trường. 5% số này tốt nghiệp loại giỏi và xuất sắc. Đây là nguồn GV đầy hứa hẹn trong tương lai. Thế nhưng hiện tại Học viện lại chưa có cơ chế giữ các SV ưu tú này ở lại trường làm cán bộ giảng dạy. Luận văn: Giải pháp giảng dạy và đánh giá tại Học viện Báo chí.
Để khỏi tụt hậu so với GV của các trường khác trong nước và trong khu vực, Học viện cần dành kinh phí từ nguồn kinh phí đào tạo hằng năm để tổ chức các lớp bồi dưỡng về phương pháp giảng dạy cho GV. Khi các lớp này được mở ra, Đảng uỷ, Ban Giám đốc cần quán triệt đến từng khoa yêu cầu tất cả cán bộ GV phải lần lượt tham gia học tập. Về trình độ chuyên môn, Học viện nên gửi nhiều hơn nữa cán bộ giảng dạy đi học ở những cơ sở đào tạo cao cấp trong nước và ngoài nước. Làm như vậy, GV không những được nâng cao về trình độ chuyên môn mà còn là cơ hội để học tập những cái hay, cái tốt ở các cơ sở khác và vận dụng thực hiện tại HV BC-TT.
Một yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ GV là chế độ lương bổng. Khi được đãi ngộ thoả đáng, GV sẽ yên tâm công tác, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của mình. Nhà trường nên có những hình thức khuyến khích tặng thưởng cho những GV có những thành tích xuất sắc vượt trội trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Công đoàn nhà trường nên tổ chức nhiều hơn nữa những hoạt động văn hoá, văn nghệ cải thiện đời sống tinh thần cho cán bộ GV. Để việc bình xét khen thưởng cần được xây dựng thành khung tiêu chuẩn. Có như vậy mới đạt được sự công bằng, tránh hiện tượng lựa chọn theo cảm tính, chủ quan.
4.3. Giải pháp cho sinh viên Luận văn: Giải pháp giảng dạy và đánh giá tại Học viện Báo chí.
4.3.1 Nâng cao tính tích cực, chủ động trong học tập, nghiên cứu của sinh viên
Để góp phần tạo nên những phóng viên, biên tập viên, phát thanh viên truyền hình, những GV lí luận chính trị có năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức tốt, ngoài việc tự thân học tập, rèn luyện của SV Học viện cần có những chương trình huấn luyện, đào tạo nhằm giúp SV trong việc:
Xây dựng động cơ và mục đích học tập đúng đắn, tránh tình trạng thiếu định hướng trong học tập, nghiên cứu dẫn đến không có tinh thần học tập, nghiên cứu đúng đắn mà chỉ mang tính hình thức, đối phó. Hậu quả là chất lượng SV ra trường bị giảm sút, không đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng dẫn đến hình ảnh của nhà trường bị lu mờ dần.
Tự xác định nội dung, tự tính toán và sử dụng các điều kiện về không gian, thời gian, tài chính, thiết bị, phương tiện học tập nhằm đáp ứng yêu cầu của các môn học trong quá trình học tập, nghiên cứu dưới mái trường Học viện.
Tự chọn cho mình phương pháp học tập. Phương pháp học tập ở bậc đại học rất khác so với phương pháp học tập ở bậc phổ thông. Nếu SV vận dụng phương pháp học tập cũ vào môi trường mới sẽ không thể đạt được kết quả tốt. Để giúp SV có phương pháp học tập đúng đắn, phù hợp ở bậc đại học Học viện cần có những khoá học hoặc các buổi hướng dẫn SV về các vấn đề như phương pháp nghe giảng, ghi chép, cách thức đọc tài liệu, đọc sách để SV nâng cao năng lực học trên giảng đường cũng như năng lực tự học, tự nghiên cứu. Tự kiểm tra, đánh giá tri thức, kĩ năng, kĩ xảo tích luỹ được trong quá trình học tập rèn luyện tại nhà trường
4.3.2. Tạo môi trường thuận lợi giúp sinh viên thực hiện tốt các nhiệm vụ của mình Luận văn: Giải pháp giảng dạy và đánh giá tại Học viện Báo chí.
Bên cạnh việc phổ biến, định hướng cho SV như trên để chất lượng giảng dạy được nâng cao nhà trường cần tạo môi trường thuận lợi cho SV học tập như: khai thác, tìm kiếm các nguồn vốn ngoài ngân sách, nguồn tài trợ để tăng cường nâng cao cơ sở vật chất; đảm bảo qui mô lớp học phù hợp theo từng môn học cụ thể đặc biệt là những môn cần phải thực hành nhiều; đảm bảo đạt chuẩn theo qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về hệ số giảng đường, kí túc xá/SV; Tổ chức biên soạn giáo trình, tài liệu tham khảo trên cơ sở tham khảo, biên dịch từ tài liệu nước ngoài đối với các chuyên ngành thuộc mã ngành Báo chí; Tăng cường mối quan hệ vốn có với các Đài phát thanh – Truyền hình, các toà soạn báo, tạp chí, Ban Tuyên giáo từ Trung ương đến địa phương để SV được tiếp cận với hoạt động thực tế của các đơn vị, tổ chức mà SV có thể tham gia phục vụ trong tương lai; Xây dựng một thư viện điện tử hiện đại với các nguồn tài liệu phong phú .v..v.
Cuối cùng, chúng ta sẽ không đạt được hiệu quả tối ưu khi thực hiện các giải pháp trên mà không có được sự nhận thức, ủng hộ của toàn thể ban lãnh đạo, giảng viên, sinh viên trong nhà trường do vậy cần thiết phải có giải pháp riêng: Tuyên truyền giáo dục đến mỗi giảng viên, sinh viên về vai trò, sứ mệnh của Học viện thông qua việc công khai thông tin minh bạch và kịp thời các kết quả đánh giá chất lượng giảng dạy. Có như vậy, từ lãnh đạo nhà trường, các nhà quản lý đến giảng viên, sinh viên cùng tham khảo và tìm cách nâng cao chất lượng giảng dạy nói riêng và chất lượng đào tạo nói chung của cơ sở mình.
Kết luận chương 4
Toàn bộ chương 4 được giành để nêu lên một số giải pháp nhằm góp phần đảm bảo và nâng cao chất lượng giảng dạy nói riêng và chất lượng đào tạo của nhà trường nói chung. Các giải pháp được đề xuất thuộc 3 nhóm chính là: Nhóm giải pháp về phía nhà trường; nhóm giải pháp cho giảng viên và nhóm giải pháp cho sinh viên. Các nhóm giải pháp trên sẽ thực sự hiệu quả khi giải bài toán nâng cao chất lượng đào tạo của Học viện khi chúng được thực hiện một cách đồng bộ. Đó là sự phối hợp của các giải pháp cụ thể sau: Kết hợp hài hoà giữa phương pháp giảng dạy mới và phương pháp giảng dạy truyền thống; Đổi mới phương pháp giảng dạy gắn với đổi mới cách đánh giá kết quả học tập của SV; Bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ GV trong nhà trường; Định kì tiến hành tự đánh giá toàn bộ các hoạt động của nhà trường hay của từng chuyên ngành đào tạo; Khuyến khích GV nghiên cứu khoa học để góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy; Nhanh chóng xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng các hoạt động giảng dạy của Học viện; Nâng cao tính tích cực, chủ động trong học tập, nghiên cứu của SV và tạo môi trường thuận lợi giúp SV thực hiện tốt các nhiệm vụ của mình và Tuyên truyền, giáo dục mục tiêu, sứ mệnh của nhà trường.
KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp giảng dạy và đánh giá tại Học viện Báo chí.
Trên cơ sở tổng quan về những vấn đề lý luận và thực tiễn về chất lượng giảng dạy đề tài đã tập trung vào xây dựng bộ công cụ đánh giá chất lượng giảng dạy đại học và chất lượng chương trình đào taọ tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Đề tài đã tiến hành đánh giá chất lượng giáo dục đại học với sự tham gia trả lời phiếu hỏi đánh giá môn học của 1764 SV và đánh giá chương trình của 142 GV và cán bộ quản lý. Đồng thời đề tài sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu cùng nhiều cuộc trò chuyện hỏi ý kiến với trên 30 đối tượng. Kết quả nghiên cứu cho phép rút ra một số kết luận như sau:
1, Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau về “chất lượng” nhưng chất lượng giảng dạy có thể hoàn toàn được hiểu theo định nghĩa: chất lượng giảng dạy là sự phù hợp với mục tiêu giảng dạy.
Với cách hiểu như vậy, chúng ta hoàn toàn có thể sử dụng định nghĩa này để chỉ ra hệ thống các tiêu chí và bước đầu xây đựng được bộ công cụ đánh giá chất lượng giảng dạy đại học tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền.
Kết quả của việc sử dụng bộ công cụ đánh giá vào việc đánh giá chất lượng môn học và chất lượng chương trình giảng dạy tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền như sau: Đa số sinh viên được hỏi ý kiến (90%) cho rằng chất lượng giảng dạy tại Học viện đạt tốt. Trong khi đó đa số giảng viên và cán bộ quản lý lại có ý kiến rằng chất lượng giảng dạy chỉ ở mức chấp nhận được mà thôi (90%). Chỉ có 9% trong số này cho là tốt. Như vậy, rõ ràng trong việc đánh giá chất lượng giảng dạy của Học viện thì giảng viên nhà trường đã khắt khe hơn hẳn sinh viên.
Qua phỏng vấn sâu, có thể thấy đánh giá một cách khoa học đối với chất lượng giảng dạy tại HV BC-TT còn rất mới thậm chí còn mang tính nhạy cảm. Điều này có thể cản trở việc nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường do vậy cần tiến hành một số biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường. Đề tài đã đề xuất một số giải pháp, quan trọng nhất là giải pháp: Nhà trường cần nhanh chóng xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong nhà trường và cần tuyên truyền, giáo dục để giảng viên và sinh viên không cảm thấy e ngai khi sử dụng phương pháp đánh giá chất lượng mới này. Hơn nữa, các thông tin về chất lượng giảng dạy của nhà trường cần được công khai, minh bạch và kịp thời để giảng viên cũng như sinh viên có kế hoạch điều chỉnh hoạt động học tập và giảng dạy của mình. Luận văn: Giải pháp giảng dạy và đánh giá tại Học viện Báo chí.
2, Những tiêu chí, phương pháp tiếp cận và công cụ đánh giá có thể sử dụng để đo lường chất lượng hoạt động giảng dạy tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền có thể nêu tóm tắt như sau:
- Về phương pháp tiếp cận đánh giá gồm có: đánh giá của SV về môn học; đánh giá của GV, cán bộ quản lí về chương trình đào tạo.
- Về công cụ đánh giá gồm có: phiếu trưng cầu ý kiến; bảng phỏng vấn sâu.
Về tiêu chí đánh giá:
- Đánh giá môn học: Mục tiêu môn học; Phương pháp giảng dạy; Nội dung môn học; Tài liệu học tập; Hoạt động kiểm tra đánh giá.
- Đánh giá chương trình: Nội dung chương trình đào tạo; Cấu trúc chương trình đào tạo; Trang thiết bị dạy học; Hoạt động giảng dạy; Đánh giá chung toàn khoá học.
3, Sự khác nhau về chất lượng hoạt động giảng dạy các khoa trong Học viện Chất lượng giảng dạy giữa các khoa trong Học viện không đồng đều. Để chất lượng giảng dạy trong Học viện ngày càng tốt hơn, nhà trường cần có những chủ trương, chính sách và kế hoạch giám sát thực hiện triệt để hơn nữa các hoạt động giảng dạy. Có các hình thức thưởng phạt, khen chê rõ ràng đối với những người thực hiện tốt và người vi phạm các qui định trong giảng dạy.
Thấy vậy, sau khi hoàn thành việc thiết kế và thử nghiệm hai bộ cộng cụ đánh giá môn học và đánh giá chương trình một cách khoa học như trên chúng ta đã có được độ tin cậy tính toán bằng 84% và 85%. Với các con số này chúng ta có thể yên tâm sử dụng chúng vào việc góp phần cải tiến và nâng cao chất lượng giảng dạy tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Luận văn: Giải pháp giảng dạy và đánh giá tại Học viện Báo chí.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Đánh giá chất lượng giảng dạy tại Học viện Báo chí

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: Giải pháp giảng dạy và đánh giá tại Học viện Báo chí […]