Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng dạy học môn tiếng việt tại trường tiểu học hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý dạy học môn tiếng việt tại các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số xê đăng tỉnh Kon Tum dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Đặc điểm, tình hình kinh tế – xã hội tỉnh Kon Tum
2.1.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên [53]
Kon Tùm là tỉnh miền núi, vùng cao nguyên, biên giới, nằm ở phía bắc Tây Nguyên tọa độ từ 107°20’15” đến 108°32’30” kinh độ đông và từ 13° 55’10” đến 15° 27′ 15″ vĩ độ bắc. Độ cao trung bình của tỉnh so với mặt nước biển là 600-800 m, cao nhất là đỉnh Ngọc Linh hơn 1.800 m so với mặt nước biển. Kon Tum thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên. Nhiệt độ trung bình trong năm 22- 23°c, nhiệt biên giao động 8-9°C, có hai mùa rõ rệt, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.
Kon Tum có diện tích tự nhiên 9.676,5 Km2, chiếm 3,1% diện tích toàn quốc, phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía nam giáp tỉnh Gia Lai, phía đông giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía tây giáp hai nước Lào và Cam Pu Chia với 280,7 km đường biên giới. Có cửa khẩu quốc tế Bờ Y nối liền giữa ba nước Việt Nam – Lào- Cam Pu Chia. Phần lớn tỉnh Kon Tum nằm ở phía tây dãy Trường Sơn, địa hình thấp dần từ bắc xuống nam và từ đông sang tây, khá đa dạng gồm đồi núi, cao nguyên và thung lũng xen kẽ nhau.
2.1.2. Lịch sử hình thành, phát triển tỉnh Kon Tùm [05]
Kon Tùm thuở xưa rất hoang vắng, đất rộng người thưa, các nhóm dân tộc bản địa sống lâu đời trên mảnh đất này là Xê Đăng, Bana, Gia rai, Jẻ Triêng, Brâu, Rơ Mâm. Mỗi nhóm dân tộc gắn với một vùng cư trú khác nhau. Nét đặc biệt trong thiết chế xã hội cổ truyền của các dân tộc là làng. Làng được xem như một đơn vị hành chính mang tính bao quát và cụ thể, chi phối mọi hoạt động trong đời sống xã hội. Mỗi làng mang tính độc lập riêng biệt, do một chủ làng (già làng) là người có uy tín nhất làng đứng đầu.
Năm 1840, dưới thời vua Thiệu Tri, triều đình Huế lập ông Bok Seam – người Bana cai trị các bộ tộc Tây Nguyên, đồng thời cho phép người Kinh và các tộc người thiểu số quan hệ mua bán trao đổi với nhau. Từ đây những lái buôn người kinh bắt đầu đến Tây Nguyên mua bán trao đổi hàng hóa. Trong thời gian này, người Pháp cũng tìm đường đến Kon Tum để truyền đạo. Giai đoạn 1841- 1850, thực dân Pháp đã đặt được cơ sở thiên chúa giáo đầu tiên ở Tây Nguyên- Kon Tum.
Đến năm 1867, thực dân Pháp bắt đầu tấn công xâm lược Tây Nguyên – Kon Tum và sau đó thôn tính Tây Nguyên. Năm 1892, thực dân Pháp đặt tại Kon Tum đại lý hành chính đầu tiên do một cố đạo người pháp – Vialleton cai quản. Sau đó thực dân Pháp chia tách, sáp nhập các vùng đất thuộc Tây Nguyên nhiều lần để phục vụ mục đích cai trị; Kon Tum cũng bị chia tách nhiều lần.
Ngày 25.8.1945 nhân dân các dân tộc Kon Tum dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nổi dậy giành chính quyền. Chính quyền cách mạng bấy giờ tổ chức tỉnh Kon Tum thành 4 đơn vị hành chính là huyện Đak Tô, huyện ĐakGlei, huyện KonPlong và thị xã Kon Tum; thị xã Kon Tum được chọn làm tỉnh lỵ.
Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Kon Tùm bị chia cắt nhiều lần, một phần đất được giải phóng, một phần đất do địch tạm chiếm. Sau khi thống nhất đất nước 1975, do yêu cầu cách mạng hai tỉnh Gia Lai và Kon Tùm sáp nhập thành tỉnh Gia Lai- Kon Tùm (9/1975). Đến 10/2011 thực hiện chính sách đổi mới đất nước, tỉnh Kon Tùm được tái thành lập. Luận văn: Thực trạng dạy học môn tiếng việt tại trường tiểu học.
2.1.3. Tình hình kinh tế – xã hội tỉnh Kon Tum
- a) Thực trạng kinh tế- xã hội giai đoạn 2021-2025 [50]
Kon Tum là một tỉnh nông nghiệp kém phát triển, toàn tỉnh hiện nay có 8 huyện và 1 thị xã với 95 xã, phường, thị trấn. Cuối năm 2025 tổng dân số là 382.162 người gồm 22 dân tộc anh em chung sống; trong đó dân tộc thiểu số chiếm 54%. Các nhóm Dân tộc thiểu số đông người nhất là Xê Đăng, Bana, Jẻ Triêng; nhóm Dân tộc thiểu số có số người ít là Brâu, Rơ Măm; một số nhóm các Dân tộc thiểu số thuộc các tỉnh miền núi phía bắc mới di cư vào sau 1975.
- Biểu đồ 2.1: Phân bổ dân số các nhóm dân tộc tỉnh Kon Tum năm 2025
Số người trong độ tuổi lao động là 207.620 người chiếm 54% tổng dân số, tỷ lệ người lao động đã qua đào tạo còn thấp. Tỷ lệ tăng dân số bình quân hiện nay 2% / năm, cao hơn mức bình quân chung cả nước (1,7%/năm).
- Bảng số 2.1: Chất lượng lực lượng lao động Kon Tum năm 2025
- Biểu đồ 2.2: Chất lượng lao động tỉnh Kon Tum năm 2025
Trình độ dân trí tỉnh Kon Tum thấp, nhiều phong tục tập quán lạc hậu vẫn tồn tại ở các làng vùng Dân tộc thiểu số, ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phát triển kinh tế xã hội. Nhiều người vừa học xong chương trình xóa mù chữ đã có khuynh hướng tái mù chữ vì họ không có cơ hội tiếp cận với tiếng Việt.
Nền kinh tế Kon Tum là nền kinh tế nông nghiệp, các cây trồng chủ yếu là cao su, cà phê, mía đường, sắn, ngô… Chăn nuôi chưa phát triển, vùng Dân tộc thiểu số còn chăn nuôi theo phương thức thả rong. “Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế trong thời kỳ đổi mới liên tục tăng, giai đoạn 2011-2015 tăng bình quân 8,3%/năm, giai đoạn 2016-2020 tăng bình quân 9,85%/năm, giai đoạn 2021-2025 tăng bình quân 11,61%” [50]. Tuy tỷ lệ tăng nhanh nhưng do điểm xuất phát tháp nên số thực tăng không đáng kể; nền kinh tế vẫn đang khó khăn. Tỉnh đang chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp- xây dựng, dịch vụ và giảm dần tỷ trọng nông-lâm- thủy sản. Đây là một định hướng đúng với xu thế phát triển kinh tế quốc gia. Hiện nay ngành công nghiệp chưa phát triển, tỉnh có hai khu công nghiệp ở thị xã Kon Tum, huyện Đak Hà; và khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Bờ Y huyện Ngọc Hồi trực thuộc Chính phủ. Luận văn: Thực trạng dạy học môn tiếng việt tại trường tiểu học.
- b) Định hướng phát triển kinh tế- xã hội giai đoạn 2026- 2035 [50]
Đẩy mạnh phát triển kinh tế với tốc độ cao trên cơ sở phát triển mọi tiềm năng và nguồn lực, tạo bước đột phá về xây dựng kết cấu hạ tầng và nâng cao sức cạnh tranh để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế; rút ngắn khoảng cách tụt hậu của tỉnh Kon Tum so với các tỉnh trong khu vực và cả nước.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa tăng tỷ trọng công nghiệp trong nền kinh tế từ 19,04% năm 2025 lên 25-30% năm 2030. Ưu tiên đầu tư phát triển những ngành sản xuất tạo động lực mới cho nền kinh tế; phát triển một số ngành công nghiệp có thế mạnh như chế biến nông lâm sản, công nghiệp thủy điện; khuyến khích phát triển nông nghiệp nông thôn, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, phát triển các làng nghề truyền thống.
Tận dụng lợi thế nằm trên tuyến đường Hồ Chí Minh, quốc lộ 24, quốc lộ 40, quốc lộ 14C nối với các tỉnh trong khu vực để mở rộng giao lưu kinh tế, thương mại. Khai thác cửa khẩu quốc tế Bờ Y, mở rộng giao lưu hợp tác kinh tế với các tỉnh trong khu vực tam giác phát triển kinh tế của 3 nước Việt Nam- Lào- Cam Pu Chia.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đẩy mạnh phát triển giáo dục, nâng cao mặt bằng dân trí, tăng cường đào tạo chuyên môn kỹ thuật, tăng tỷ lệ người lao động được đào tạo. Gắn tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội, đoàn kết dân tộc, phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường và giữ vững an ninh biên giới.
2.2. Tình hình giáo dục và đào tạo tỉnh Kon Tum Luận văn: Thực trạng dạy học môn tiếng việt tại trường tiểu học.
2.2.1. Sự chỉ đạo, lãnh đạo của Đảng và Nhà nước về giáo dục Dân tộc thiểu số
Tây Nguyên những năm gần đây được Bộ Chính tri quan tâm đã ban hành Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 18/01/2021 về phát triển kinh tế xã hội và bảo đảm an ninh quốc phòng vùng Tây Nguyên thời kỳ 2021-2030. Chính phủ đã cụ thể hóa Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị bằng Quyết định 168/2021/TTg ngày 30/10/2021 về định hướng dài hạn, kế hoạch 5 năm 2021- 2025 và những giải pháp cơ bản phát triển kinh tế xã hội Tây Nguyên.
Tỉnh Kon Tum đã triển khai một số biện pháp quản lý để nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh Dân tộc thiểu số Xê Đăng:
Quản lý việc giảng dạy tiếng Việt cho học sinh Dân tộc thiểu số mẫu giáo: Tỉnh đã chỉ đạo biên tập lại chương trình dạy học tiếng Việt cho học sinh Dân tộc thiểu số mẫu giáo do Trung tâm nghiên cứu phát triển giáo dục dân tộc thuộc Bộ GD&ĐT ấn hành. Chương trình đã góp phần nâng cao khả năng tiếng Việt cho học sinh mẫu giáo, tạo tâm thế cho các em vào học lớp một. Tuy nhiên, chương trình vẫn còn những khiếm khuyết nhất định; tỉnh Kon Tum có nhiều nhóm dân tộc thiểu số khác nhau, chương trình chỉ dừng lại ở bộ tài liệu giảng dạy chung, chưa sát với từng nhóm dân tộc thiểu số riêng; giáo viên chưa được đào tạo để dạy chương trình này.
Quản lý giảng dạy song ngữ ở bậc tiểu học: Kon Tum đang dạy thí điểm chương trình song ngữ Bana – Việt bậc tiểu học ở một số xã, các nhóm Dân tộc thiểu số khác chưa triển khai. Qua thí điểm cho thấy việc dạy học song ngữ đã đạt được kết quả ban đầu, nhưng còn một số bất cập, học sinh tiểu học Dân tộc thiểu số khả năng tiếng Việt thấp, tiếp thu chương trình tiểu học chung khó khăn, thêm phần song ngữ chương tình càng nặng hơn. Về giáo viên, không có giáo viên đủ trình độ và năng lực để triển khai giảng dạy song ngữ rộng rãi.
- Quản lý việc tổ chức bán trú dân nuôi cho học sinh Dân tộc thiểu số
Trường bán trú dân nuôi tỉnh Kon Tum đang triển khai là các trường phổ thông tại các xã vùng Dân tộc thiểu số, học sinh là người Dân tộc thiểu số ở các làng xa trung tâm xã, không thể đi học về trong ngày, phải ăn ở tại trường để học; hàng tuần chỉ về nhà vào ngày nghỉ. Cha mẹ học sinh đóng góp lương thực, thực phẩm để học sinh ăn trong quá học tập tại trường. Nhà nước hỗ trợ trang thiết bị phục vụ ăn ở bán trú, làm nhà cho học sinh ở. Ưu điểm trường bán trú dân nuôi là học sinh Dân tộc thiểu số gồm nhiều nhóm dân tộc khác nhau, có tiếng nói khác nhau, khi bố trí học, ở bán trú với nhau các em dùng tiếng Việt – ngôn ngữ chung để giao tiếp. Và như vậy, khả năng tiếng Việt của các em được nâng lên. Ngoài ra, khi thực hiện chế độ học bán trú, học sinh có thời gian học bài, làm bài tập nhiều hơn. Hiện nay Hội đồng Nhân dân (HĐND) tỉnh Kon Tum có nghị quyết cho phép ngành Giáo dục và Đào tạo thực hiện thí điểm bán trú tại 15 trường thuộc các xã vùng Dân tộc thiểu số trong tỉnh.
2.2.2. Thực trạng GD&ĐT Kon Tum giai đoạn 2021-2025 Luận văn: Thực trạng dạy học môn tiếng việt tại trường tiểu học.
Từ khi tái thành lập lại tình (2011) đến nay, sự nghiệp giáo dục tỉnh Kon Tum đã có nhiều khởi sắc. Tỉnh đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2020, và đang triển khai sâu rộng công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở (THCS). Giáo dục nghề nghiệp cũng không ngừng phát triển, đa dạng hóa các hình thức đào tạo, đáp ứng nhu cầu học tập của cán bộ và nhân dân trong tỉnh. Tỷ lệ lực lượng lao động qua đào tạo đã tăng lên. Giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã được cải thiện đáng kể, không còn làng trắng về giáo dục. Cơ sở vật chất trường học đã từng bước tăng cường. Tỷ lệ giáo viên người Dân tộc thiểu số ngày càng tăng. Tỷ lệ huy động trẻ em trong độ tuổi ra lớp học ngày càng cao, đặc biệt học sinh Dân tộc thiểu số. Nhân dân các dân tộc trong tình đã thực sự quan tâm đến công tác giáo dục. Tình trạng thiếu giáo viên đã được khắc phục; chất lượng giáo dục đã được cải thiện.
Bên cạnh những thành tựu đạt được, giáo dục vùng Dân tộc thiểu số Kon Tum đang còn những tồn tại và thách thức. Nhiều xã còn có trường học chung cho cả 3 cấp (Mẫu giáo, tiểu học, Trung học cơ sở học chung một trường). Chất lượng giáo dục, đặc biệt môn Tiếng Việt ở bậc tiểu học vùng Dân tộc thiểu số còn thấp. Tình trạng lưu ban, bỏ học, học không đủ buổi, không đủ ngày còn xảy ra. Đội ngũ giáo viên chưa đồng bộ ở các môn học; giáo viên người Kinh công tác tại các xã vùng Dân tộc thiểu số hầu hết còn trẻ, điều động từ nơi khác đến, không am hiểu tâm lý, sinh lý học sinh, không nói được tiếng của học sinh Dân tộc thiểu số nên khó khăn trong dạy học. Chương tình dạy học, sách giáo khoa Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành thống nhất cả nước, còn nhiều nội dung không phù hợp với đối tượng học sinh Dân tộc thiểu số. Khả năng tiếng Việt của học sinh Dân tộc thiểu số còn hạn chế. Cán bộ quản lý trường học, nhất là các trường tiểu học vùng Dân tộc thiểu số Xê Đăng còn trẻ tuổi, ít kinh nghiệm; một số chưa được đào tạo về công tác quản lý giáo dục… Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài tập trung phân tích đánh giá sâu thực trạng giáo dục tiểu học vùng Dân tộc thiểu số Xê Đăng.
- Giáo dục Mầm non
Những năm qua ngành học mầm non phát triển mạnh về số trường, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo và đội ngũ giáo viên, cụ thể:
- Bảng số 2.2: Phát triển giáo dục nầm non 2021-2025
Tỷ lệ huy động trẻ ra lớp năm 2021 là : Số trẻ 0-2 tuổi đi nhà trẻ 4,6%; số trẻ 3-5 tuổi đi học mẫu giáo 63,9% (trong đó riêng trẻ 5 tuổi học mẫu giáo lớn là 91,3%). Năm 2025 tỷ lệ huy động trẻ trong độ tuổi 0-2 là 6,6% (tăng 2,0%); số trẻ 3-5 tuổi đi học mẫu giáo là 67,6% (tăng 3,7%); trong đó riêng 5 tuổi học mẫu giáo lớn là 93,5% (tăng 2,2%). Mặc dù quy mô trường lớp phát triển mạnh, song ngành học Mầm non còn gặp nhiều khó khăn và bất cập. Về cơ sở vật chất còn phòng học tạm, xuống cấp, phòng học thiếu phải mượn nhà rông của các làng, trụ sở thôn … để dạy; thiết bị đồ dùng, đồ chơi còn thiếu và nghèo nàn. Giáo viên còn thiếu, nhất là các xã khó khăn, thiếu những giáo viên có khả năng giao tiếp với học sinh bằng tiếng Dân tộc thiểu số.
- b) Giáo dục phổ thông Luận văn: Thực trạng dạy học môn tiếng việt tại trường tiểu học.
Giáo dục phổ thông giai đoạn 2021-2025 đã có những bước phát triển về quy mô và chất lượng, cơ sở vật chất từng bước cải thiện, công tác xã hội hóa giáo dục phát triển. Do đặc điểm một tỉnh miền núi, kinh tế xã hội các vùng không đồng đều, do vậy, giáo dục các vùng trong tỉnh cũng không giống nhau. Giáo dục vùng Dân tộc thiểu số còn có những khó khăn nhất định.
Bảng số 2.3: So sánh quy mô phát triển giáo dục phổ thông 2021-2025
- Nhận xét đánh giá về phát triển giáo dục:
Quy mô học sinh bậc tiểu học ổn định. Số học sinh Trung học cơ sở và Trung học phổ thông tăng mạnh những năm gần đây. Giáo dục dân tộc thiểu số được quan tâm và có sự chuyển biến. Tỷ lệ huy động học sinh các ngành học, bậc học vùng Dân tộc thiểu số đã tăng. Năm học 2024-2025 học sinh Dân tộc thiểu số ở bậc tiểu học chiếm tỷ lệ 71,8% (41.732/58.073 học sinh); học sinh Dân tộc thiểu số cấp Trung học cơ sở chiếm tỷ lệ 51,9% (17.217/33.131 học sinh ) tăng hơn năm học 2020-2021 là 6.847 em và học sinh Dân tộc thiểu số cấp Trung học phổ thông chiếm tỷ lệ 26,0% (3058/ 11.750 học sinh) tăng gấp hai lần so với năm học 2020-2021.
- Biểu đồ 2.3: Tình hình học sinh và học sinh Dân tộc thiểu số năm học 2024-2025
Qua số liệu khảo sát và phân tích trên cho thấy giáo dục bậc Trung học ở tỉnh Kon Tum kém phát triển; trình độ văn hóa của nhân dân tỉnh Kon Tum còn thấp. Đặc biệt, vùng đồng bào Dân tộc thiểu số trình độ văn hoa chỉ dừng lại ở bậc tiểu học; đây là nguyên nhân dẫn đến việc dạy học nói riêng, công tác giáo dục nói chung ở vùng Dân tộc thiểu số tỉnh Kon Tum còn nhiều khó khăn, hạn chế. Các cấp lãnh đạo cần có những chính sách, chủ trương phát triển giáo dục một cách phù hợp.
2.3. Thực trạng dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học vùng Xê Đăng Luận văn: Thực trạng dạy học môn tiếng việt tại trường tiểu học.
2.3.1. Đặc điểm giáo dục tiểu học vùng dân tộc thiểu số Xê Đăng
2.3.1.1. Về nhà trường
Trường tiểu học vùng Dân tộc thiểu số Xê Đăng ở Kon Tum là trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số; có đủ vai trò chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và các đặc điểm của trường tiểu học vùng Dân tộc thiểu số. Ngoài ra, trường tiểu học vùng Dân tộc thiểu số Xê Đăng ở Kon Tum có những đặc thù riêng đó là:
Học sinh trong trường chủ yếu là người dân tộc thiểu số Xê Đăng; một vài trường có một ít học sinh người Kinh và học sinh các nhóm dân tộc thiểu số khác cùng học với học sinh Xê Đăng. Các trường đóng chân tại các xã vùng Dân tộc thiểu số Xê Đăng, hầu hết nằm ở vùng núi cao, đặc biệt khó khăn của tỉnh Kon Tum.
Đồng bào Dân tộc thiểu số Xê Đăng ở Kon Tum sống tập trung thành các làng, xã, ít đan xen với các nhóm dân tộc thiểu số khác; trong giao tiếp hàng ngày người dân sử dụng tiếng Xê Đăng. Do vậy, ảnh hưởng của tiếng Xê Đăng đối với việc dạy học tại các trường tiểu học vùng này rất lớn.
Vùng đồng bào Dân tộc thiểu số Xê Đăng ở Kon Tum là căn cứ cách mạng trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ nên tinh thần cách mạng cao, trung thành với Đảng, với Bác Hồ. Đây là một đặc điểm thuận lợi trong công tác phát triển giáo dục mà các nhóm dân tộc thiểu số khác ở Tây Nguyên ít có được. Giáo viên và cán bộ quản lý (CBQL) là người Xê Đăng tại các trường chiếm tỷ lệ gần 10%, đây là nền tảng để kết nối giữa học sinh và giáo viên, giữa giáo viên với cộng đồng.
2.3.1.2. Về học sinh tiểu học dân tộc thiểu số Xê Đăng
Điều kiện sinh sống của học sinh: Học sinh tiểu học Dân tộc thiểu số Xê Đăng sống cùng với gia đình tập trung thành làng, bản ở các vùng kinh tế – xã hội kém phát triển; tập trung chủ yếu ở các xã đặc biệt khó khăn thuộc các huyện Đak Hà, Đak Tô, Tu Mơ Rông, Ngọc Hồi và một phần ở huyện ĐakGlei tỉnh Kon Tum. Các làng trong một xã cách xa nhau, số dân trong mỗi làng rất ít cho nên tại các làng chỉ tổ chức các lớp đầu bậc tiểu học. Học sinh các lớp cuối bậc tiểu học phải đến trường trung tâm tại xã để học mà trường trung tâm thì xa nhà, học sinh đi học về trong ngày trở ngại.
Nhiều phong tục, tập quán lạc hậu còn tồn tại trong cộng đồng Dân tộc thiểu số Xê Đăng làm cản trở việc học tập của học sinh, đặc biệt là học sinh nữ. Phần lớn cha mẹ học sinh có trình độ học vấn thấp, không có khả năng trợ giúp con em mình trong việc học tập. Kinh tế gia đình học sinh thấp, chủ yếu sống bằng nông nghiệp lạc hậu, chọc tỉa trên nương rẫy, năng suất thấp. Nhiều gia đình thiếu lương thực để ăn, hàng năm Nhà nước phải cứu trợ.
Tâm lý của học sinh: Học sinh ít có cơ hội tiếp xúc với người Kinh; trình độ văn hóa thấp nên có tâm lý tự ti không dám tiếp cận, giao lưu với người khác, ngay cả trong lớp học. Nhiều lúc giáo viên hỏi những câu các em có thể trả lời được nhưng các em không đưa tay trả lời; chỉ khi giáo viên gọi đúng tên thì các em mới trả lời.
Khả năng sử dụng tiếng Việt của học sinh: Tiếng Việt được xem là tiếng phổ thông, tiếng dùng chung cho cộng đồng các dân tộc Việt Nam “Tiếng và chữ phổ thông là ngôn ngữ chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Nó là phương tiện giao lưu không thể thiếu được giữa các địa phương và các dân tộc trong cả nước, giúp cho các địa phương và các dân tộc có thể phát triển đồng đều về các mặt kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật, tăng cường khối đoàn kết dân tộc và thực hiện quyền bình dẳng dân tộc”[47]. Dự án phát triển giáo dục tiểu học sinh có hoàn cảnh khó khăn thống kê tháng 11-2024 với số liệu khảo sát tại 215 huyện của 40 tỉnh tham gia Dự án cho thấy có 37% đến 49% học sinh dân tộc thiểu số các huyện chưa biết hoặc biết rất ít tiếng Việt trước khi vào học lớp một. Học sinh Dân tộc thiểu số Xê Đăng tỉnh Kon Tum cũng trong tình trạng chung, vốn tiếng Việt hạn chế, vẫn còn tình trạng học sinh vào học lớp một mà không nói được tiếng Việt.
2.3.1.3. Những thách thức trong việc dạy học môn Tiếng Việt Luận văn: Thực trạng dạy học môn tiếng việt tại trường tiểu học.
Thực tiễn tại các trường tiểu học cho thấy khả năng tiếng Việt của học sinh tiểu học Xê Đăng trước khi đến trường thấp và không đồng đều giữa các vùng. Vì vậy, việc xác định nội dung, phương pháp dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh Dân tộc thiểu số Xê Đăng cần xác định cụ thể cho từng đối tượng, từng xã, từng huyện.
Tiếng mẹ đẻ ảnh hướng không nhỏ đến quá trình học tiếng Việt của học sinh. Khi đến trường các em đã sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ, do đó các em dễ có sự giao thoa về ngữ âm, cấu trúc ngôn ngữ, cách diễn đạt ngôn ngữ giữa tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt, gây hậu quả cho việc học tiếng Việt.
Môi trường dạy học tiếng Việt cho học sinh hạn chế, thiếu trang thiết bị dạy môn Tiếng Việt cho đối tượng học sinh Dân tộc thiểu số. Ngôn ngữ giữa người dạy và người học không đồng nhất.
Cả nước đang áp dụng một chương trình giảng dạy thống nhất cho tất cả các đối tượng học sinh; trong khi đó trình độ tiếng Việt, điều kiện kinh tế, văn hóa… của học sinh Dân tộc thiểu số Xê Đăng rất thấp nên dạy học khó khăn.
2.3.2. Thực trạng dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học vùng Xê Đăng
Đánh giá thực trạng dạy học là đánh giá năng lực giảng dạy của giáo viên và tinh thần sẩn sàng học tập, điều kiện học tập, thái độ học tập của học sinh. Tác giả nghiên cứu bằng phiếu hỏi dựa trên ý kiến của cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh và lực lượng xã hội.
2.3.2.1. Thực trạng năng lực giảng dạy môn Tiếng Việt của giáo viên
Điều tra tổng hợp về năng lực giảng dạy tiếng Việt của giáo viên tiến hành trên 53 khách thể là hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, kết quả như sau:
Bảng số 2.4: Kết quả điều tra về năng lực giảng dạy tiếng Việt của giáo viên
- Nhận xét năng lực giáo viên dựa vào kết quả điều tra:
Căn cứ số liệu điều tra cho thấy rằng có 5/53 Cán bộ quản lý (chiếm tỷ lệ 9,4%) đánh giá năng lực dạy tiếng Việt của giáo viên hiện nay còn yếu kém; đây là nguyên nhân của dạy học tiếng Việt vùng Xê Đăng chưa cao. Hầu hết Cán bộ quản lý cho rằng giáo viên đã tiếp cận đổi mới phương pháp dạy học (Trong đó có 18,8% đánh giá là tốt; 62,4% đánh giá giáo viên đạt mức khá và 18,8% đánh giá trung bình; không có trường hợp đánh giá là yếu kém).
Giáo viên chưa tích hợp giảng dạy bằng tiếng Việt và tiếng Xê Đăng, giáo viên không nói được tiếng Xê Đăng. Hiện nay các trường tổ chức giảng dạy môn Tiếng Việt cho học sinh trực tiếp bằng tiếng Việt, đang còn khó khăn cho cả người dạy và người học, nhất là các lớp đầu bậc tiểu học. Luận văn: Thực trạng dạy học môn tiếng việt tại trường tiểu học.
Năng lực tự làm đồ dùng dạy học và sử dụng đồ dùng dạy học của giáo viên còn yếu. Có 47,25% Cán bộ quản lý đánh giá năng lực làm và sử dụng thiết bị dạy học của giáo viên chỉ đạt mức trung bình. Hầu hết giáo viên được đào tạo theo phương pháp truyền thống, thầy giảng, trò ghi và trò tái hiện lại kiến thức tiếp thu; chưa thành thạo trong việc sử dụng đồ dùng dạy học. Năng lực của giáo viên về tổ chức động ngoài giờ để củng cố khả năng tiếng Việt cho học sinh rất thấp (45,2% ở mức trung bình, 7,5% còn yếu kém).
2.3.2.2. Thực trạng học tập môn Tiếng Việt của học sinh Dân tộc thiểu số Xê Đăng
Đánh giá thực trạng học tập môn Tiếng Việt của học sinh dựa vào phiếu điều tra các trường tiểu học có học sinh Dân tộc thiểu số Xê Đăng, số liệu báo cáo của Sở GD&ĐT Kon Tum; phân tích đánh giá kết quả học tập, điều kiện học tập, thái động học tập của học sinh, nguyên nhân của thực trạng.
- Bảng số 2.5: Kết quả học tập môn Tiếng Việt giai đoạn 2021-2025 của học sinh tiểu học Dân tộc thiểu số Xê Đăng tỉnh Kon Tum
Trong 3 huyện điều tra trên, huyện Đak Hà có điều kiện kinh tế xã hội cao hơn, học sinh Xê Đăng có thể nói được tiếng Việt trước khi vào học tiểu học nên kết quả học tập môn Tiếng Việt đạt tỷ lệ khá giỏi cao hơn và ổn định trong các năm học.
Huyện Đak Tô kinh tế chậm phát triển, đồng bào Dân tộc thiểu số chiếm 52 % dân số toàn huyện – mức trung bình cả tỉnh. Huyện có nhiều thành tích trong kháng chiến chống Mỹ, đồng bào có quan tâm đến việc học tập của con em mình. Tuy nhiên, kết quả học tập nói chung, kết quả môn Tiếng Việt nói riêng chưa cao, tỷ lệ học sinh Dân tộc thiểu số khá giỏi còn thấp, học sinh yếu còn nhiều.
Huyện Tu Mơ Rông có sự phân hóa kết quả học tập cao hơn giữa học sinh khá giỏi và học sinh còn yếu. Đội ngũ giáo viên giảng dạy ở huyện Tu Mơ Rông hầu hết là người Kinh từ nơi khác đến, không có khả năng giao tiếp bằng tiếng Xê Đăng với học sinh; các trường ở huyện này trên 90% học sinh là người Dân tộc thiểu số. Hàng ngày các em sử dụng tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt nên việc học tập tiếng Việt khó khăn, nhất là các lớp đầu bậc tiểu học. số lượng học sinh có kết quả học tập cuối năm môn Tiếng Việt còn yếu nhiều. Điều này ảnh hưởng đến kết quả giáo dục hàng năm.
Tìm hiểu thực tế cho thấy, những trường bố trí học 2 buổi/ ngày, học sinh có điều kiện tiếp cận với giáo viên nhiều hơn, rèn luyện tiếng Việt nhiều hơn thông qua các hoạt động ngoài giờ và các môn học khác thì kết quả học tập môn Tiếng Việt tốt hơn. Ở những trường tổ chức học bán trú, học sinh gồm nhiều nhóm Dân tộc thiểu số khác nhau, sinh hoạt chung với nhau, phải sử dụng ngôn ngữ chung để giao tiếp là tiếng Việt cho nên các em sẽ học tập tốt hơn.
- Bảng số 2.6: Kết quả điều tra về điều kiện học tập của học sinh
Điều tra điều kiện học tập của học sinh đối với môn tiếng Việt thực hiện trên 457 học sinh Dân tộc thiểu số Xê Đăng lớp 4 và lớp 5, năm học 2025-2026 thuộc ba huyện: Đak Hà, Đak Tô và Tu Mơ Rông. Cách điều tra là cho học sinh đọc bảng câu hỏi và tự đánh câu trả lời vào bảng hỏi. Kết quả thu được là: Luận văn: Thực trạng dạy học môn tiếng việt tại trường tiểu học.
Nguồn tư liệu: Tổng hợp từ các phiếu điều tra (PHIẾU SỐ : 2C) Kết quả điều tra cho thấy học sinh tiểu học Xê Đăng thiếu dụng cụ, trang thiết bị chuyên dùng, tài liệu tham khảo để học tiếng Việt (chỉ 47% HS có tài liệu, thiết bị) Các phương tiện thông tin đại chúng bằng tiếng Việt đến với học sinh cũng hạn chế (32,8% được nghe đài phát thanh; 54,9% học sinh được xem ti vi). Môi trường sử dụng tiếng Việt không thuận lợi, chỉ có 58,4% học sinh có điều kiện sử dụng tiếng Việt hàng ngày ngoài nhà trường. Tỷ lệ học sinh học bài, làm bài tại nhà thấp, chỉ có 53,8% học sinh Dân tộc thiểu số Xê Đăng làm bài, học bài tại nhà. Ta có thể so sánh kết quả điều ưa các huyện qua Biểu đồ 2.4 sau.
- Biểu đồ 2.4: Đánh giá điều kiện học tập tiếng Việt của học sinh tiểu học Xê Đăng
- Bảng số 2.7: Kết quả điều tra thái độ của học sinh đối với môn học tiếng Việt
Qua số liệu điều tra cho thấy tần số học sinh yêu thích các môn học Toán, Mỹ thuật, Hát nhạc cao hơn các môn học khác. Môn Tiếng Việt có 147/457 học sinh yêu thích (chiếm tỷ lệ 32,2%). Con số này nói lên tính khó khăn, phức tạp của tiếng Việt đối với học sinh Xê Đăng. Xét riêng từng huyện thì học sinh huyện Đak Hà yêu thích môn học Tiếng Việt với tỷ lệ 38%, cao hơn hai huyện còn lại. Học sinh huyện Tu Mơ Rông có tỷ lệ học sinh yêu thích môn Tiêng Việt tháp nhát 21%. So sánh thái độ yêu thích môn Tiếng Việt của học sinh Dân tộc thiểu số Xê Đăng ở các huyện được minh họa bằng Biểu đồ 2.5 sau:
- Biểu đồ 2.5: Đánh giá thái độ của học sinh Xê Đăng đối với môn học Tiếng Việt
2.4. Thực trạng quản lý dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số Xê Đăng tỉnh Kon Tum Luận văn: Thực trạng dạy học môn tiếng việt tại trường tiểu học.
2.4.1. Kết quả nghiên cứu bằng phương pháp trò chuyện
Trao đổi trực tiếp với một số Trưởng phòng Giáo dục và lãnh đạo các huyện vùng dân tộc thiểu số Xê Đăng, tác giả thu được kết quả như sau:
Ông Nguyễn Bá Lý – Trưởng phòng Giáo dục huyện Đak Hà cho rằng: Để quản lý tốt việc dạy học môn Tiếng Việt cho sinh Dân tộc thiểu số nói chung, học sinh Dân tộc thiểu số Xê Đăng nói riêng, cán bộ quản lý cần chỉ đạo giáo viên quan tâm đến điều kiện cụ thể của các em; điều kiện kinh tế gia đình, trình độ văn hóa của cha mẹ; khả năng tiếng Việt của học sinh. Giáo viên cần nắm chắc tình hình học sinh để có biện pháp giúp đỡ sát đối tượng, nâng cao hiệu quả giáo dục. Các trường thiếu trang thiết bị dạy học môn Tiếng Việt, những khái niệm trừu tượng mà không có thiết bị minh họa học sinh Dân tộc thiểu số khó hiểu, tiếp thu chậm. Giáo viên biết tiếng Dân tộc thiểu số có lợi thế trong việc tiếp cận học sinh và cha mẹ học sinh. Từ đó họ có thể làm tốt công tác giáo dục. Phòng Giáo dục Đak Hà đã thường xuyên tổ chức sinh hoạt chuyên môn, trao đổi kinh nghiệm về quản lý dạy học giữa các trường với Qua trao đổi giúp cho hiệu trưởng bổ sung những bài học kinh nghiệm trong quản lý.
Ông Nguyễn Văn Châu – Trưởng phòng Giáo dục huyện Đak Tô tâm sự Chất lượng giáo dục huyện Đak Tô đang khó khăn, vấn đề then chốt là khả năng tiêng Việt cho học sinh Dân tộc thiểu số. Các xã đồng bào Dân tộc thiểu số mà học sinh được tiếp xúc với người Kinh, nói được tiếng Việt thì chất lượng giáo dục cao.
Giáo viên dạy các xã vùng Dân tộc thiểu số Xê Đăng hầu hết còn trẻ, là người Kinh từ các nơi khác được điều động đến nên gặp không ít khó khăn cho các hiệu trưởng trong việc sắp xếp, bố trí giảng dạy. Thiếu giáo viên có kinh nghiệm để dạy lớp một, giáo viên không nói được tiếng Dân tộc thiểu số khó khăn trong giao tiếp, truyền thụ kiến thức.
- Ông Đỗ Thanh Quốc – Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Tu Mơ Rông nói rằng
Tôi xuất thân từ ngành Giáo dục nên hết sức trăn trở trong việc nâng cao chất lượng dạy học đối với học sinh Dân tộc thiểu số. Các cháu thiếu vốn tiếng Việt, nhiều cháu nói tiếng Việt từng tiếng việt, không thể diễn đạt thành câu; khi đến trường các cháu học chương tình thống nhất cả nước nên gặp trở ngại rất lớn. Huyện đã chủ trương dạy tăng cường tiếng Việt cho các lớp mẫu giáo 5 tuổi, chuẩn bị tâm thế cho các cháu vào học tiểu học. Do đó, việc tổ chức cho học sinh học tập, ăn ở tại chỗ hiện nay là rất can thiết. Khi sinh hoạt chung với nhau các nhóm Dân tộc thiểu số khác nhau không thể sử dựng tiếng mẹ đẻ của mình để giao lưu với học sinh nhóm Dân tộc thiểu số khác. Như vậy, các láu sẽ phải sử dụng ngôn ngữ chung trong sinh hoạt là tiếng Việt. Đây là cơ hội để học sinh rèn luyện khả năng tiếng Việt.
2.4.2. Kết quả nghiên cứu bằng phương pháp điều tra phiếu hỏi Luận văn: Thực trạng dạy học môn tiếng việt tại trường tiểu học.
Đối tượng điều tra là hiệu trưởng, giáo viên, học sinh tại các trường; cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội khác có liên quan. Phạm vi nghiên cứu là các trường qểu học vùng Dân tộc thiểu số Xê Đăng 3 huyện (Đak Hà, huyện Đak Tô, huyện Tu Mơ Rông).
Kết quả điều tra nghiên cứu về quản lý việc giảng dạy của giáo viên Điều tra quản lý việc giảng dạy của giáo viên thực hiện trên ý kiến của 53 cán bộ quản lý và 133 giáo viên của cả 3 huyện. Nội dung điều tra là: quản lý theo mục tiêu GD tiểu học do Luật Giáo dục quy định; quản lý thực hiện chương trình do Bộ GD&ĐT ban hành; quản ly việc vận dụng chương trình do Bộ GD&ĐT ban hành vào địa phương ; quản lý việc soạn bài, chuẩn bị bài của giáo viên; quản lý việc dự giờ lên lớp của giáo viên; quản lý việc bố trí thêm thời gian dạy tiếng Việt cho học sinh Dân tộc thiểu số; quản lý công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập cùa học sinh; quản lý sử dụng trang thiết bị, tài liệu dạy học tiếng Việt; quản lý việc tổ chức hoạt động ngoài giờ cho học sinh. Kết quả điều tra thể hiện tại bảng số 2.8 sau:
Quản lý theo mục tiêu giáo dục tiểu học Luật Giáo dục quy định Việc quản lý theo mục tiêu giáo dục tiểu học do Luật Giáo dục quy định tại các trường đều được giáo viên và cán bộ quản lý đánh giá cao (17% Cán bộ quản lý và 28% giáo viên đánh giá tốt; không có trường hợp nào cho rằng việc quản lý theo mục tiêu là yếu kém) ; không có sự khác biệt ý nghĩa giữa hai lực lượng này ( x 2 = 8,77). Điều đổ chứng tỏ tất cả giáo viên và cán bộ quản lý đánh giá công tác quản lý theo mục tịêu giáo dục tại các trường tiểu học vùng Xê Đăng thực hiện tốt “Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học Trung học cơ sở”[44]
- Quản lý thực hiện chương trình do Bộ GD&ĐT ban hành
Kết quả khảo sát trên tổng số 53 cán bộ quản lý và 133 giáo viên trực tiếp giảng dạy cho thấy việc quản lý thực hiện chương trình ở các trường đều triển khai tốt (có 17% Cán bộ quản lý và 29% giáo viên đánh giá việc quản lý thực hiện chương trình do Bộ GD&ĐT ban hành là tốt; trên 60% Cán bộ quản lý và giáo viên đánh giá thực hiện chương trình khá; không có ý kiến nào đánh giá còn yếu kém) ; không có sự khác biệt ý nghĩa về đánh giá của giáo viên và Cán bộ quản lý ( x2 = 5,36).
Trước đây có ba bộ chương trình bậc tiểu học khác nhau để các địa phương vận dụng giảng dạy cho các đối tượng khác nhau (chương trình 165 tuần, chương trình 120 tuần, chương trình 100 tuần). Ba bộ chương trình này tuy còn những hạn chế, nhưng đã tạo chủ động cho các địa phương. Từ năm học 2022-2023, thực hiện một chương trình tiểu học thống nhất cả nước, đã bắt đầu nảy sinh những trở ngại, lúng túng cho các cấp quản lý giáo dục. Tổ chức quản lý dạy học như thế nào cho bảo đảm chương trình, phù hợp với đối tượng học sinh. Phương pháp dạy học mới khó áp dụng cho đối tượng học sinh Dân tộc thiểu số chưa nói được tiếng Việt.
Ngoài phân tích bằng số liệu ở trên, khi trao đổi. với giáo viên trực tiếp giảng dạy, nhiều giáo viên mong muốn có bộ chương trình dành cho đối tượng học sinh có hoàn cảnh khó khăn; mong muốn chủ trương giảm tải chương tình tiểu học của Bộ GD&ĐT sớm được cụ thể hoa để các trường thực hiện. Luận văn: Thực trạng dạy học môn tiếng việt tại trường tiểu học.
- Quản lý việc vận dụng chương trình Bộ GD&ĐT ban hành vào nhà trường
Quản lý việc vận dụng chương trình của Bộ GD&ĐT vào nhà trường là việc hiệu trưởng tổ chức để hội đồng sư phạm nhà trường xây dựng nội dung vận dụng chương trình khung của Bộ GD&ĐT vào nhà trường cho từng khối lớp. Khảo sát cho thấy có 5/53 (chiếm tỷ lệ 9,4%) Cán bộ quản lý ở các trường đánh giá việc vận dụng chương trình hiện nay tốt, có 33/133 giáo viên (chiếm tỷ lệ 24,8%) đánh giá tốt. Còn nhiều ý kiến đánh giá việc vận dụng chương trình vào nhà trường ở mức độ trung bình ( 17% Cán bộ quản lý và 12% giáo viên).
Đối với vùng Dân tộc thiểu số Xê Đăng, chương trình tiểu học hiện hành còn nhiều bất cập, chưa phù hợp đối tượng học sinh nên vận dụng, điều chỉnh chương trình là hết sức cần thiết, đặc biệt là môn Tiếng Việt. Vấn đề tăng thời lượng dạy học môn Tiếng Việt đã được các trường chủ động triển khai. Học sinh học tốt môn Tiếng Việt thì mới có thể học tốt các môn học khác. Nhiều trường đã giảm giờ dạy các môn học khác ở các lớp đầu bậc tiểu học để tăng thời lượng dạy môn Tiếng Việt.
- Quản lý việc soạn bài của giáo viên
Có 13/53 Cán bộ quản lý (chiếm tỷ lệ 24,5%) và 62/133 giáo viên (chiếm tỷ lệ 46,5%) đánh giá tốt; có 8/53 Cán bộ quản lý(chiếm tỷ 15,1%) cho việc quản lý soạn bài của giáo viên còn yếu kém, trong khi đó không có giáo viên nào cho là yếu kém. Như vậy có sự khác biệt đánh giá giữa giáo viên và Cán bộ quản lý, thể hiện qua trị số chi bình phương cũng cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa này (x2 = 51,25 ). Dựa trên kết quả điều tra cho thấy giáo viên chuẩn bị bài chưa tốt trước khi lên lớp. Một số giáo viên tỏ ra không có động cơ phấn đấu, xem dạy học là nghề để kiếm sống, thiếu tâm huyết nghề nghiệp, làm việc cầm chừng, khi có điều kiện thuận lợi thì họ sẩn sàng chuyển công tác khác. Lý do nữa là các xã vùng Dân tộc thiểu số kinh tế thấp là nơi cực kỳ khó khăn không còn nơi nào khó hơn, nên giáo viên làm việc thiếu chuyên cần các cấp quản lý giáo dục cũng không thể chuyển họ đi nơi nào khác. Đây là rào cản lớn trong công tác quản lý dạy học của người hiệu trưởng.
- Quản lý viềc dự giờ lên lớp Luận văn: Thực trạng dạy học môn tiếng việt tại trường tiểu học.
Có 13/53 Cán bộ quản lý (chiếm tỷ lệ 24,5%) và 53/133 giáo viên (chiếm tỷ lệ 40%) đánh giá việc quản lý dự giờ lên lớp, thao giảng là tốt. Sự đánh giá này không đồng nhất, có sự khác biệt cần quan tâm. Ngoài ra, còn có 34% Cán bộ quản lý đánh giá quản lý dự giờ hiện nay ở mức trung bình, trong khi đó chỉ 9% giáo viên đánh giá trung bình. Sự khác biệt có ý nghĩa cũng thể hiện qua tri số chi bình phương so sánh (x2= 17,85).
Hiệu trưởng các trường đã quan tâm chỉ đạo hoạt động dự giờ, thao giảng; nhưng việc triển khai còn gặp khó khăn. Các trường có nhiều điểm trường khác nhau nằm ở các làng xa trung tâm xã, mỗi làng có một vài lớp học với một vài giáo viên ăn ở tại chỗ để dạy học, hầu hết các lớp học chỉ bố trí trong buổi sáng mỗi ngày. Giáo viên dạy các lớp học ở làng về trường chính tại trung tâm xã dự giờ thì phải cho học sinh nghỉ học.
- Quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
Trên thực tế, học sinh học tốt môn Tiếng Việt mới tích cực học tập các môn khác. Kết quả điều tra cho thấy hầu hết Cán bộ quản lý và giáo viên đánh giá việc quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh ở mức tốt và khá. Một điều khác với các trường vùng thành thị là không có hiện tượng dạy thêm học thêm tràn lan. Mục đích của dạy thêm giờ tăng buổi vì mục đích chính đáng, không có vụ lợi cá nhân nào. Vì vậy, việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh là khách quan, không bị chi phối bơi những động cơ cá nhân như các trường học ở đô thị.
- Quản lý việc bồi dưỡng giáo viên
“Giáo viên là người quyết định chất lượng giáo dục”, điều này đã được các nhà khoa học giáo dục khẳng định từ nhiều thế hệ. Bồi dưỡng, nâng cao năng lực giáo viên và đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm chỉ đạo; Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 40/TW; Chính phủ đã có văn bản chỉ đạo thực hiện nghị qụyết của Bộ Chính trị; Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum đã chỉ đạo ngành GD&ĐT triển khai bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên.
Đến nay giáo Viên tiểu học tỉnh Kon Tum cơ bản đã đạt chuẩn về bằng cấp. Tuy nhiên, năng lực thực sự chưa tương ứng với bằng cấp được đào tạo. Nguyên nhân là những năm cuối thập niên 90 thế kỷ XX, giáo dục phát triển quá nhanh, nhiều xã vùng Dân tộc thiểu số thiếu giáo viên nghiêm trọng; tỉnh đã tuyển và đào tạo giáo viên bằng nhiều hình thức linh hoạt, không chính quy; có những người chưa tốt nghiệp Trung học cơ sở vẫn tuyển vào trường sư phạm để đào tạo giáo viên tiểu học. Trong quá trình công tác, số giáo viên này được bồi dưỡng, bổ sung kiến thức đến nay đã đạt chuẩn bằng cấp nhưng năng lực giảng dạy thực sự vẫn còn thấp. Luận văn: Thực trạng dạy học môn tiếng việt tại trường tiểu học.
- Quản lý việc sử dụng sách tham khảo, tài liệu, trang thiết bị phục vụ dạy học tiếng Việt
Học sinh tiểu học Xê Đăng học môn Tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai, cách phát âm, từ ngữ, khái niệm, kết cấu câu… đều mới mẻ. Do vậy, trang thiết bị dạy học phục vụ bộ môn, tranh ảnh minh họa, tài liệu tham khảo, sách đọc thêm bằng tiếng Việt là hết sức cần thiết. Hiện nay thiết bị dạy học phục vụ môn Tiếng Việt cho học sinh Dân tộc thiểu số tại các trường chưa được trang bị, thiếu tài liệu tham khảo bằng tiếng Việt cho học sinh Dân tộc thiểu số.
Kết quả điều tra có 3,8% Cán bộ quản lý và 28,6% giáo viên đánh giá việc quản lý sử dụng thiết bị dạy học môn Tiếng Việt tốt; có 71,2% Cán bộ quản lý và 45,1% giáo viên đánh giá khá; trị số chi bình phương phản ánh sự khác biệt có ý nghĩa của hai khách thể đánh giá x 2 = 16,02.
Nguyên nhân của việc sử dụng thiết bị dạy học kém là hầu hết giáo viên tiểu học được đào tạo theo phương pháp dạy học truyền thống, thầy giảng trò ghi nên khi thực hiện phương pháp dạy học sử dụng đồ dùng dạy học gặp lúng túng, một số không biết triển khai thiết bị dạy học.
- Quản lý tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp
Thông qua các họạt ngoài giờ, giáo viên giúp học sinh rèn luyện khả năng tiếng Việt, phát triển tư duy ngôn ngữ, tạo sự hưng phấn trong học tập. Ngoài ra, các buổi sinh hoạt ngoài giờ còn giúp học sinh hiểu biết về văn hóa, truyền thống dân tộc Việt Nam, tinh thần yêu nước Xã hội chủ nghĩa, từng bước tiếp cận với khoa học kỹ thuật… Kết quả điều tra có 3/53 Cán bộ quản lý (chiếm tỷ lệ 5,7%) đánh giá việc quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp tốt, có 19/133 giáo viên (chiếm tỷ lệ 14,3%) đánh giá tốt; có 41,5% Cán bộ quản lý đánh giá ở mức trung bình, trong khi đó 15,8% giáo viên đánh giá ỏ mức trung bình; trị số chi bình phương x2 = 16,02 cho thấy sự đánh giá khác biệt nhau có ý nghĩa. Luận văn: Thực trạng dạy học môn tiếng việt tại trường tiểu học.
Nguyên nhân quản lý hoạt động ngoài giờ chưa tốt là trình độ giáo viên hạn chế, thiếu trang thiết bị, phương tiện tổ chức lớp; công tác quản lý chỉ đạo của hiệu trưởng, các cấp quản lý chưa cụ thể. Học sinh bản chất rụt rè, thiếu tự tin không tích cực tham gia xây dựng bài; ngôn ngữ giao tiếp giữa thầy và trò không đồng nhất.
- Kết quả nghiên cứu về quản lý học tập của học sinh
Khách thể điều tra là giáo viên trực tiếp dạy học tại các trường tiểu học vùng Dân tộc thiểu số Xê Đăng thuộc ba huyện Đak Hà, Đak Tô, Tu Mơ Rông (53 Cán bộ quản lý và 133 giáo viên). Nội dung điều tra: khả năng nói tiếng Việt, điều kiện sẵn sàng cho học tập của học sinh; tác động của môn Tiếng Việt đối với các môn học khác; ảnh hưởng của tiếng Xê Đăng đối với việc học tiếng Việt; tinh thần, thái độ học tập tiếng Việt của học sinh; phối hợp các lực lượng trong việc quản lý học tập của học sinh. Kết quả điều tra tại Bảng số 2.9.
- Khả năng tiếng Việt, điều kiện sẵn sàng cho việc học tập của học sinh
Điều tra điều kiện sẵn sàng cho việc học tập của học sinh Xê Đăng với khách thể là giáo viên của ba huyện Đak Hà, Đak Tô và Tu Mơ Rông. Cả ba huyện đều có đanh giá tương đương nhau là học sinh Xê Đăng có điều kiện sẵn sàng cho việc học tâp tiếng Việt chỉ ở mức trung bình (Đak Hà 23/41 = 56,1% ; Đak Tô 23/49 = 46,9%; Tu Mơ Rông 20/43 = 46,5%). Các mức đánh giá tốt, khá, còn yếu của giáo viên ba huyện cũng tương đương; trị số chi bình phương x 2 = 12,28 phản ánh sự khác biệt không có nghĩa.
Nguyên nhân của điều kiện sẵn sàng cho việc học tiếng Việt của học sinh Dân tộc thiểu số Xê Đăng thấp là tập nói tiếng Việt ở mẫu giáo làm chưa được tốt; môi trường sử dụng tiếng Việt của các em không thuận lợi.
- Quản lý tác động của môn Tiếng Việt đối với các môn học khác
Qua kết quả điều tra, giáo viên ba huyện đều đánh giá tác động của môn Tiếng Việt đến các môn học khác ở mức thấp (Đak Hà 34/41 = 82,9% ; Đak Tô 2ẹ/49 = 57,1%; Tu Mơ Rông22/43 = 51,2% ý kiến cho ờ mức trung bình); các mức đánh giá khác chênh lệch nhau; trị số chi bình phương x2 = 19,99 phản ánh có sự khác biệt đánh giá có ý nghĩa. Kết quả này phản ánh tác động của môn Tiếng Việt đến các môn học khác ở các huyện đều thấp và mức độ thấp, kém các huyện khác nhau.
- Ảnh hưởng của tiếng Xê Đăng đối với việc học tiếng Việt
Tư duy ngôn ngữ đi vào não bộ con người thông qua các hoạt động, sinh hoạt, học tập, rèn luyện và nó tái hiện một cách tự nhiên, vô điều kiện trong đời sống con người. Trẻ em Xê Đăng tiếp xúc với tiếng mẹ đẻ từ khi mới chào đời, đến khi tập nói tiếng nói đầu tiên cũng bằng tiếng Xê Đăng; do vậy tiếng Xê Đăng ảnh hưởng rất lớn đến đời sống và quá tình học tập của học sinh. Qua điều tra cho thấy, khi học tiếng Việt học sinh tiếp cận nhiều vấn đề mới lạ khó khăn như cấu trúc ngôn ngữ, cách phát âm, cấu trúc câu… Luận văn: Thực trạng dạy học môn tiếng việt tại trường tiểu học.
Ví du : Trong xưng hô giáo tiếp người Xê Đăng chỉ có ba đại từ nhân xưng đại diện cho ba ngôi là “mày, tao, nó”; khi học tiếng Việt các em gặp khó khăn trong việc phân thứ, bậc, số lượng… trong từng ngôi xưng hô.
Kết quả phân tích số liệu điều tra cho thấy giáo viên huyện Đak Hà đánh giá ảnh hưởng của tiếng Xê Đăng không lớn đối với việc học tiếng Việt của học sinh; chỉ ở mức trung bình và yếu (18/41= 43,9% đánh giá ảnh hưởng trung bình, 20/41= 46,8% đánh giá ảnh hưởng yếu; học sinh đã tiếp cận tiếng Việt trước khi đi học. Giáo viên huyện Đak Tô cho rằng ảnh hưởng của tiếng Xê Đăng đến học tiếng Việt của học sinh ở mức trung bình (24/49= 49% đánh giá ảnh hưởng trung bình). Giáo viên huyện Tu Mơ Rông đánh giá mức độ ảnh hưởng tiếng mẹ đẻ đến dạy học môn Tiếng Việt lớn, khác hai huyện trên (11,6% tốt; 27,9% khá ; 27,9% trung bình; 32,6% yếu). Trị số chi bình phương x2= 19,98 phản ánh sự sai lệch có ý nghĩa giữa ba huyện.
Qua phân tích trên, cho thấy tác động của tiếng Xê Đăng đến việc học môn Tiếng Việt nhiều hay ít phụ thuộc vào tần số sử dụng tiếng Việt trong dân cư. Nơi nào học sinh có điều kiện tiếp xúc với tiếng Việt hàng ngày thì mức độ ảnh hưởng của tiếng Xê Đăng đến việc học tiếng Việt thấp hơn; học sinh học tiếng Việt thuận lợi hơn.
- Kết quả điều tra về tác động của môi trường đến dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh Dân tộc thiểu số Xê Đăng
Môi trường tác động đến dạy học tiếng Việt cho học sinh Xê Đăng rất lớn. Đề tài tập trung điều tra, phân tích, đánh giá một số yếu tố cơ bản nhất. Nội dung điều tra là: tác động của chính quyền địa phương đến việc dạy học tiếng Việt; sự quan tâm của cha mẹ học sinh đối với việc học tiếng Việt; tác động của các phương tiện thông tin đại chúng; tần số sử dụng tiếng Việt của học sinh; tác động của đời sống kinh tế đối với học tiếng Việt của HS. Đối tượng điều tra là giáo viên và Cán bộ quản lý ( 53 Cán bộ quản lý và 133 giáo viên) của 3 huyện.
- Tác động của chính quyền địa phương đến việc dạy học tiếng Việt
Kết quả điều tra cho thấy Cán bộ quản lý đánh giá tác động của chính quyền địa phương đến việc dạy học tiếng Việt là khá, tốt (32,1% đánh giá tốt; 50,9% đánh giá khá) ; giáo viên đánh giá sự tác động của chính quyền còn thấp, ở mức trung bình (61/133 = 45,8% đánh giá trung bình). Nhìn nhận sự quan tâm của chính quyền địa phương đối với việc học tiếng Việt của học sinh từ Cán bộ quản lý và giáo viên không đồng nhất, điều này cũng thể hiện qua chỉ số chi bình phương so sánh x2 = 15,53 cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa. Luận văn: Thực trạng dạy học môn tiếng việt tại trường tiểu học.
Nguyên nhân của sự đánh giá khác biệt này là chính quyền tác động chưa sâu sát đến gia đình học sinh, chưa làm chuyển biến nhận thức về nhu cầu học tập trong nhân dân.
- Sự quan tâm của cha mẹ học sinh đối với việc học tiếng Việt
Cha mẹ học sinh Xê Đăng có trình độ văn hóa thấp, nhiều người vừa hoàn thành chương trình xóa mù chữ và đang có nguy cơ tái mù chữ. Ý thức học tập nâng cao trình độ hiểu biết của người dân chưa hình thành. Nhiều thế hệ quây quần trong cộng đồng làng, đối mặt với đói nghèo và dịch bệnh. Quan niệm lệch lạc về giáo dục “đói cái bụng thì chết, đói cái chữ không chết” vẫn còn tồn tại. Cả giáo viên và Cán bộ quản lý đều đánh giá sự quan tâm của cha mẹ học sinh đến việc học còn thấp, chỉ đạt mức trung bình.
- Kết quả điều tra về việc sử dụng tiếng Việt của học sinh
Hầu hết giáo viên đánh giá tần số sử dụng tiếng Việt của học sinh ở mức trung bình và còn yếu (trung bình 65,4%; yếu 9%); rất ít học sinh sử dụng tiếng việt khá tốt. Nhìn nhận đánh giá của Cán bộ quản lý thì khả quan hơn, tỷ lệ đánh giá khác hơn (tốt 18,9%; khá 24,5%; trưng bình 37,7%; yếu 18,9%).
Nguyên nhân học sinh ít sử dụng tiếng Việt là các em sống trong môi trường không có người sử dụng tiếng Việt. Đây là khó khăn lớn trong việc dạy học môn Tiếng Việt tại các trương tiểu học vùng Dân tộc thiểu số Xê Đăng, tỉnh Kon Tum.
- Tác động của các phương tiện thông tin đại chúng bằng tiếng Việt
Học sinh Dân tộc thiểu số Xê Đăng ít có điều kiện giao lưu với người Kinh, ít tiếp cận phương tiện thông tin đại chúng bằng tiếng Việt. Phương tiện nghe nhìn thông thường đối với người Kinh như máy Tivi mà đối với đồng bào Dân tộc thiểu số Xê Đăng, chỉ các xã gần trung tâm huyện, gia đình khá mới sắm được; các phương tiện khác như sách, báo, tạp chí… người dân không có cơ hội tiếp xúc. Kết quả điều tra chỉ có 11,3% giáo viên đánh giá tác động môi trường đến dạy học môn Tiếng Việt tốt; 18,9% Cán bộ quản lý đánh giá tác động yếu kém (chưa tốt).
- Tác động của đời sống kinh tế đến dạy học tiếng Việt
Giáo viên và Cán bộ quản lý đều cho rằng đời sống kinh tế khó khăn của người dân Xê Đăng đã tác động xấu đến việc học tiếng Việt của học sinh (CBQL đánh giá tác động kinh tế đến học tập của học sinh ở mức trung bình 43,4%; yếu 37,7% . Giáo viên đánh giá trung bình 64,7%; yếu 29,3%). Không có giáo viên, Cán bộ quản lý nào đánh giá kinh tế của người dân Xê Đăng hiện nay tác động tốt đến việc học tiếng Việt của học sinh.
2.4.3. Nhận xét, đánh giá chung công tác quản lý dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số Xê Đăng tỉnh Kon Tum Luận văn: Thực trạng dạy học môn tiếng việt tại trường tiểu học.
- Những ưu điểm và thuận lợi
Đảng và Nhà nước đã có những chính sách quan tâm phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Bộ Chính trị có Nghị quyết 10/TVV về phát triển kinh tế xã hội Tây Nguyên. Chính phủ đã có nhiều chủ trương đẩy mạnh phát triển kinh tế xíí hội vùng Dân tộc thiểu số. Quyết định 168/2021/TTg về phát triển kinh tế xã hội vùng Tây Nguyên, trong đó có nhiều chế độ ưu tiên đầu tư cho giáo dục vùng dân tộc thiểu số như chế độ học bổng cho học sinh bán trú, thành lập các trường bán trú xã. Chương trình 135/2021/TTg thực hiện chính sách cho giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục công tác tại các xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Chương trình 159/2022/TTg của Chính phủ về kiên cố hoá trường, lớp học đã góp phần củng cố cơ sở vật chất các trường tiểu học vùng Dân tộc thiểu số Xê Đăng. Nhiều chương tình, dự án Chính phủ vay vốn của các tổ chức quốc tế đầu tư cho giáo dục tiểu học cũng được triển khai tại Kon Tum như Dự án phát triển giáo viên tiểu học (vay vốn WB); Dự án phát triển giáo dục tiểu học cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn (vay vốn WB). Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân tỉnh đã thực sự quan tâm đến giáo dục vùng dân tộc thiểu số; đã ban hành nhiều nghị quyết, chương trình hành động cụ thể chỉ dạo, lãnh đạo ngành giáo dục, chính quyền các cấp triển khai công tác giáo dục vùng Dân tộc thiểu số.
Hiện nay, môi trường dạy học tiếng Việt đã được cải thiện. Từ khi tái thành lập lại tính Kon Tum, sự giao lưu giữa người Kinh và đồng bào Xê Đăng ngày càng phổ biến hơn. Người Xê Đăng có điều kiện học tập, mua bán, làm việc tại các trung tâm dân cư cùng với người Kinh; cán bộ và nhân dân người Kinh cũng đến với vùng Dân tộc thiểu số Xê Đăng ngày càng nhiều hơn. Các phương tiện thông tin đại chúng bằng liếng Việt đến với người dân Xê Đăng ngày càng nhiều. Khóa học kỹ thuật phục vụ đời sống đã được phổ biến rộng rãi đến người dân Xê Đăng. Các phương tiện khoa học kỹ thuật đều sử dụng tiếng Việt, đây là động lực để người dân Xê Đăng học tập tiếng Việt, giao lưu bằng tiếng Việt hàng ngày.
Nhân dân các xã vùng Dân tộc thiểu số Xê Đăng đã nhận thức được vai trò của tiếng Việt trong cuộc sống, đã hiểu được “Tiếng việt là ngôn ngữ của cộng đồng dân tộc Việt Nam… là phương tiện giao lưu không thể thiếu được giữa các địa phương và các dân tộc trong cả nước, giúp các địa phương và các dân tộc có thể phát triển đồng đều các mặt kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật.” [47]. Luận văn: Thực trạng dạy học môn tiếng việt tại trường tiểu học.
Những ưu điểm trên làm động lực thúc đẩy việc dạy học tiếng Việt nói riêng; phát triển giáo dục nói chung ở vùng Dân tộc thiểu số Xê Đăng, tỉnh Kon Tum.
- Những hạn chế, khó khăn trong công tác quản lý dạy học môn tiếng Việt tại các trường tiểu học vùng Dân tộc thiểu số Xê Đăng
Quản lý thực hiện chương trình khung của Bộ GD&ĐT, quản lý thực hiện đổi mới phương pháp dạy học còn nhiều bất cập, khó khăn. Quản lý học tập của học sinh ngoài trường học tuy đã được quan tâm từ nhiều phía nhưng kết quả chưa tốt; số học sinh học bài, làm bài tại nhà không nhiều.
Chất lượng môn Tiếng Việt nói riêng, chất lượng giáo dục nói chung còn thấp; cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học thiếu.
- Nguyên nhân của khó khăn, tồn tại:
Chương trình giáo dục tiểu học chưa phù hợp với đối tượng học sinh: Sách giáo khoa và chương trình do Bộ GD&ĐT ban hành thống nhất trong cả nước; nhiều em học sinh Dân tộc thiểu số Xê Đăng, tỉnh Kon Tum đến trường trong tình trạng chưa nói được tiếng Việt, nhưng phải học cùng một chương tình giáo dục giống như học sinh các tình miền xuôi, thành phố. Vấn đề này rất khó khăn cho công tác quản lý dạy học của các cấp.
Năng lực quản lý của đội ngũ hiệu trưởng hạn chế: Cán bộ quản lý các trường tiểu học vùng Dân tộc thiểu số Xê Đăng, tỉnh Kon Tum hầu hết là người Kinh từ nơi khác đến, không am hiểu phong tục tập quán địa phương, nên chưa được chính quyền địa phương ủng hộ cao; chưa thật sự gắn bó với trường lớp. Phần lớn Cán bộ quản lý chỉ được học các lớp bồi dưỡng ngắn hạn, chưa được đào tạo về quản lý giáo dục.
Giáo viên chưa tâm huyết với nghề, năng lực chuyên môn thấp: Giáo viên giang dạy tại các trường tiểu học vùng Dân tộc thiểu số Xê Đăng đa phần là người Kinh, ở các địa phương không có cơ hội tìm được việc làm; tham gia học ngành Sư phạm với mục đích kiếm việc làm, không có đàm mê nghề nghiệp. Khi về công tác vùng Dân tộc thiểu số Xê Đăng, điều kiện kinh tế khó khăn làm họ không cơ động cơ phấn đấu; không trau dồi chuyên môn nghiệp vụ. Trước đây do nhu cầu phát triển, nên ngành đã tuyển vào học các trường Sư phạm thiếu chọn lọc, trình độ văn hóa đầu vào thấp; khi ra trường năng lực chuyên môn rất thấp.
Sự quan tâm của chính quyền địa phương và cha mẹ học sinh đến việc học chưa cao: Cha mẹ học sinh Xê Đăng có trình độ văn hóa thấp, kinh tế khó khăn nên tập trung cho cái ăn cái mặc; chưa quan tâm, tạo điều kiện cho con em mình học tập. Nhận thức của một bộ phận cán bộ và nhân dân về công tác giáo dục còn sai lệch, xem công tác giáo dục là nhiệm vụ của nhà trường, thầy cô giáo. Luận văn: Thực trạng dạy học môn tiếng việt tại trường tiểu học.
Cơ chế quản lý nhà trường còn bất cập: Hiệu trưởng các trường vùng Dân tộc thiểu số Xê Đăng, tỉnh Kon Tum chưa được quyền chủ động. Hai quyền cơ bản nhất của hiệu trưởng là tuyển chọn, quản lý nhân sự và quyền quản lý tài chính trong nhà trường. Hiện nay, các trường hàng tháng nhận lương từ phòng Giáo dục, chi trả cho giáo viên theo bảng lương được lập sẵn, không có kinh phí để chi cho hoạt động; đội ngũ giáo viên các trường do phòng Giáo dục điều động về, được thế nào thì phân công giảng dạy thế ấy, không được quyền chọn lựa. Mỗi trường học phải quản lý nhiều điểm trường nằm rải rác các ở làng cách xa nhau.
Nguồn lực đầu tư cho giáo dục vùng Dân tộc thiểu số Xê Đăng hạn chế: Ngoài ngân sách nhà nước chi cho giáo dục không có nguồn kinh phí khác. Ngân sách nhà nước không những chi trả lương thầy cô giáo, các hoạt động nhà trường mà còn chi trang bị, hỗ trợ đồ dung học tập, sách giáo khoa, bố trí ăn ở bán trú cho học sinh… nên rất khó khăn.
2.4.4. Thực trạng công tác quản lý dạy học tiếng Việt cho học sinh tiểu học dân tộc thiểu số một số tỉnh trong khu vực.
- Quản ly dạy học tiếng Việt cho học sinh Dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai
Tỉnh Gia Lai và tình tiếp giáp tỉnh Kon Tum ở phía nam, gồm có 13 huyện và 1 thành phố; chia thành 183 xã phường, trong đó có 78 xã thuộc xã đặc biệt khó khăn. Diện tích tự nhiên gần 30.000 km2, dân số cuối năm 2025 hơn triệu người gồm 35 nhóm dân tộc anh em sinh sống với nhau. Trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 44,2% dân số của tỉnh. Sự nghiệp giáo dục và đào tạo phát triển mạnh những năm gần đây, tất cả các xã đều có trường Trung học cơ sở, các huyện đều có trường Trung học phổ thông. Tỉnh đang tổ chức dạy học tiếng Việt cho học sinh Dân tộc thiểu số như sau:
Chương trình song ngữ: Tỉnh Gia Lai đang tổ chức giảng dạy thí điểm song ngữ Jrai- Việt và Bana – Việt tại các huyện Chư Sê và huyện Chư Par. Chương trình chủ yếu thực hiện từ lớp 1 đến lớp 3. Đến lớp 4 và lớp 5 học sinh học các môn học trong chương trình Bộ GD&ĐT ban hành bằng tiếng Việt; các em chỉ học tiếng mẹ đẻ: như một môn học trong chương trình.
Ngoài ra, tỉnh Gia Lai còn tổ chức cho học sinh mẫu giáo 5 tuổi vùng Dân tộc thiểu số Bana và Jrai học chương trình tập nói song ngữ, tạo sự tự tin cho học sinh trước khi vào trường tiểu học. Hàng năm tỉnh đã dành khoảng 300 triệu đồng để chi cho hoạt động các lớp mẫu giáo song ngữ. Luận văn: Thực trạng dạy học môn tiếng việt tại trường tiểu học.
Trường lớp nội trú: Hiện nay tình Gia Lai có 2.100 học sinh Dân tộc thiểu số được nuôi dạy tại các trường Dân tộc nội trú, chiếm tỷ lệ 7% số học sinh Dân tộc thiểu số trong tính. Theo phản ánh của Sở GD&ĐT Gia Lai, tỷ lệ học sinh được nuôi dạy tại các trường dân tộc nội trú như hiện nay còn quá thấp; cần tăng thêm số học sinh Dân tộc thiểu số được nuôi dạy tại cúc trường Dân tộc nội trú. Tuy nhiên, khó khăn cho vấn đề này là nguồn kinh phí để tổ chức thực hiện. Về hiệu quả đào tạo Sở GD&ĐT Gia Lai cho rằng số học sinh được tuyển chọn đào tạo tại các trường Dân tộc nội trú đều phát huy năng lực sau khi ra trường.
Bên cạnh việc nuội dạy học sinh Dân tộc thiểu số tại các trường Dân tộc nội trú, tỉnh Gia Lai còn hỗ trợ cho 3.000 học sinh diện được nuôi dạy tại các trường Dân tộc nội trú nhưng học tại các trương phổ thông khác; mức hỗ trợ 50% học bổng của học sinh Dân tộc nội trú. Chính sách này đã tạo điều kiện cho học sinh Dân tộc thiểu số có thể học tập nâng cao tình độ.
Trường lớp bán trú dân nuôi: Trường bán trú dân nuôi tỉnh Gia Lai tổ chức tại các xã khó khăn học sinh Dân tộc thiểu số nhà cách xa trường hơn 5 km, giao thông khó khăn, học sinh không thể đi học về trong ngày. Học sinh được tổ chức ăn ở tại trường ngân sách nhà nước và kinh phí gia đình chi. Năm học 2024-2025 tỉnh Gia Lai có khoảng 4.500 học sinh Dân tộc thiểu số được tổ chức ăn ở bán trú; tỉnh đã chi hỗ trợ cho mỗi học sinh
90.000 đồng/ tháng và hỗ trợ 9 tháng trong năm học. Sở Giáo dục và Đào tạo Gia Lai cho biết mô hình này đã làm giảm đáng kể tình trạng học sinh bỏ học, lưu ban. Qua sinh hoạt tại các trường bán trú, học sinh rèn luyện kỹ năng sử dụng tiếng Việt, tập dượt kỹ năng sống, hòa nhập với cộng đồng tốt hơn. Nếu có điều kiện nhân rộng mô hình bán trú thì hiệu quả giáo dục chắc chắn sẽ được nâng cao.
2.4.4.2. Quản lý dạy học tiếng Việt cho học sinh Dân tộc thiểu số tại tỉnh Đak Lak
Tỉnh Đak Lak (cũ) chia thành hai tỉnh là Đak Nông và Đak Lak. Đề tài tập trung nghiên cứu tại tỉnh Đak Lak (mới). Theo phản ánh của Sở Giáo dục và Đào tạo Đak Lak việc dạy học ở các trường tiểu học vùng Dân tộc thiểu số thuận lợi hơn tỉnh Gia Lai và tỉnh Kon Tum; đồng bào dân tộc thiểu số tiếp cận với tiếng Việt tốt hơn. Tuy nhiên, các xã vùng sâu, vùng biên giới vẫn còn khó khăn; học sinh không nói được tiếng Việt trước khi vào học tiểu học vẫn còn.
Tỉnh đã triển khai dạy tập nói tiếng Việt cho học sinh mẫu giáo 5 tuổi trong năm học và trong dịp hè chuẩn bị vào học lớp 1; xem nội dung dạy học như “chương trình dự bị cho học sinh vào học tiểu học”. Ngành GD&ĐT huy động giáo viên tiểu học tham gia giảng dạy, chính quyền địa phương huy động học sinh đi học, tỉnh hỗ trợ kinh phí để thực hiện. Luận văn: Thực trạng dạy học môn tiếng việt tại trường tiểu học.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp dạy học môn tiếng việt tại trường tiểu học

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
