Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số Xê Đăng tỉnh Kon Tum dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử nhân loại, giáo dục đã không ngừng phát triển và là động lực để phát triển kinh tế xã hội; giáo dục đã phục vụ đắc lực cho xã hội, kịp thời điều chỉnh quy mô, thích ứng nhanh với những yêu cầu của biến đổi nguồn nhân lực. Ngược lại, sự phát triển nhanh của kinh tế xã hội, của khoa học kỹ thuật cũng đã tác động trở lại để phát triển giáo dục. Bước vào thế kỷ XXI, các nước phát triển, cũng như các nước đang phát triển đều quan tâm cải cách giáo dục nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập hóa, quốc tế hóa. Đây là thời cơ và cũng là thách thức đối với các quốc gia đang phát triển. Một mặt, nó tạo cơ hội cho giáo dục phát triển do nhu cầu nguồn nhân lực có trí tuệ ngày càng tăng. Mặt khác, kinh tế đòi hỏi giáo dục đáp ứng nhu cầu trước mắt và đón đầu, định hướng cho tương lai.
Nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa với mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại hóa. Nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế là con người, là nguồn nhân lực. Đào tạo nguồn nhân lực là nhiệm vụ của ngành giáo dục. Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng, đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành và phát triển toàn diện nhân cách con người. Vì vậy, giáo dục tiểu học phải đảm bảo chất lượng như mục tiêu giáo dục tiểu học đề ra “Hình thành cho học sinh những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về tình cảm, trí tuệ, thể chất và các kỹ năng cơ bản…” [44].
Qua các thời kỳ cách mạng Đảng và Nhà nước ta luôn có chủ trương và chính sách phát triển giáo dục phù hợp và kịp thời. Ngay trong chương trình nội chính của đất nước do Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trình bày sau ngày 02/9/1945, đã khẳng định “Nền giáo dục mới đang ở thời kỳ tổ chức, chắc chắn bậc sơ học sẽ cấp bách trong thời gian rất ngắn, sẽ thi hành luật bắt buộc học chữ quốc ngữ để chống nạn mù chữ đến triệt để”. Đặc biệt từ khi đổi mới, Đại hội lần thứ VII Đảng ta đã khẳng định “Phát triển giáo dục và khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu”[16]. Hội nghị lần thứ II Ban chấp hành Trung ương khóa VIII tiếp tục khẳng định “cùng với khoa học công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu”[19].
Đến Hội nghị lần thứ VI Ban Chấp hành Trung ương khóa IX một lần nữa Đảng ta cũng đã khẳng định quan điểm này.
Muốn phát triển giáo dục trước hết, cần phải làm tốt công tác quản lý giáo dục. Quản lý có vai trò hết sức quan trọng. Quản lý luôn là yếu tố song hành với các hoạt động kinh tế, xã hội. Ngày nay, lý luận về quản lý đã dần dần được khẳng định và có vai trò quan trọng trong các tác nhân bảo đảm cho ổn định và phát triển. Bất cứ quốc gia nào, địa phương nào cũng phải quan tâm đến phát triển giáo dục, mà trong đó khâu quan trọng là quản lý giáo dục, coi quản lý giáo dục là khâu then chốt, bảo đảm thắng lợi của mọi hoạt động giáo dục. Quản lý giáo dục có vai trò đòn bẩy, thúc đẩy sự phát triển của giáo dục.
Kon Tum là một tỉnh miền núi khó khăn, nằm cực bắc Tây Nguyên, đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) chiếm 54% dân số của tĩnh; trong đó, dân tộc thiểu số Xê Đăng chiếm 24%. Điều kiện kinh tế của Dân tộc thiểu số Xê Đăng còn rất thấp, người dân hầu như phải đối mặt với “cái ăn, cái mặc” hàng ngày nên khó có thể chú tâm đến việc học hành. Điều này đã gây không ít khó khăn cho công tác giáo dục. Trong giao tiếp hàng ngày, học sinh sử dụng ngôn ngữ riêng của dân tộc mình; khi đến trường các em được giảng dạy bằng tiếng Việt; với cách phát âm, cùng nhiều khái niệm, tư ngữ bằng tiếng Việt còn xa lạ với học sinh; giáo viên không am hiểu tiếng nói của học sinh nên cũng không giúp đỡ được nhiều cho học sinh.
Là một người làm công tác quản lý giáo dục, bản thân tôi cũng rất trăn trở về điều đó. Tôi mong muốn thực hiện đề tài “Quản lý dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số Xê Đăng tỉnh Kon Tum ” nhằm nghiên cứu thực trạng và đề ra các biện pháp tăng cường quản lý dạy học tại các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số Xê Đăng, tỉnh Kon Tum; làm nền tảng để nâng cao chất lượng giáo dục, góp phần phát triển giáo dục, văn hóa, kinh tế xã hội địa phương.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học.
Đề tài nhằm làm rõ thực trạng, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học vùng Dân tộc thiểu số Xê Đăng, tỉnh Kon Tum.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lý dạy học tại các trường tiểu học vùng Dân tộc thiểu số Xê Đăng, tỉnh Kon Tum.
- Đối tượng nghiên cứu: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học vùng Dân tộc thiểu số Xê Đăng, tỉnh Kon Tum.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về quản lý dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh tiểu học dân tộc thiểu số.
Đánh giá thực trạng quản lý dạy học môn Tiếng Việt và nguyên nhân của thực trạng tại các trường tiểu học vùng Dân tộc thiểu số Xê Đăng tỉnh Kon Tum.
- Quản lý việc giảng dạy môn Tiếng Việt của giáo viên.
- Quản lý việc học tập môn Tiếng Việt của học sinh.
Đề xuất các biện pháp tăng cường quản lý dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học vùng Dân tộc thiểu số Xê Đăng, tỉnh Kon Tum.
5. Giả thuyết khoa học Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học.
Qua thực tế quá trình làm công tác quản lý giáo dục vùng Dân tộc thiểu số, chúng tôi thấy rằng việc dạy học và quản lý dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học vùng Dân tộc thiểu số tỉnh Kon Tum đang còn nhiều bất cập. Học sinh Dân tộc thiểu số có vốn tiếng Việt hạn chế, hàng ngày các em sử dụng tiếng mẹ đẻ nên khi học môn Tiếng Việt khó khăn. Giáo viên các trường hầu hết là người Kinh từ nơi khác đến, không nghe và nói được tiếng của học sinh Dân tộc thiểu số; giao tiếp giữa thầy và trò những lớp đầu bậc tiểu học còn hạn chế; chưa yên tâm công tác. Năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý các trường còn thấp. Công tác quản lý dạy học ở các trường cũng gặp nhiều trở ngại như môi trường giáo dục chưa thuận lợi, thiếu trang thiết bị dạy học…
Nếu những tồn tại trên được đánh giá dựa trên cơ sở lý luận khoa học, xác định đúng các nguyên nhân thì có thể đề xuất các biện pháp tăng cường quản lý việc dạy học môn Tiếng Việt; đồng thời làm cơ sở để nâng cao chất lượng dạy học các môn học khác và nâng cao chất lượng giáo dục.
6. Các phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp luận: Các quan điểm phương pháp luận được vận dụng ở đề tài này là:
- Quan điểm hệ thống – cấu trúc: Được vận dụng trong nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết và nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn của đề tài. Tiếp cận quan điểm này giúp người nghiên cứu tìm hiểu được mối liên hệ chặt chẽ giữa quản lý dạy học môn Tiếng Việt với quản lý các hoạt động khác của hiệu trưởng các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số Xê Đăng, tỉnh Kon Tum; từ đó tìm hiểu chính xác thực trạng công tác quản lý dạy học môn Tiếng Việt và đề xuất các biện pháp nâng cao năng lực quản lý.
- Quan điểm lịch sử – lôgíc: Giúp người nghiên cứu xác định phạm vi không gian, thời gian và điều kiện hoàn cảnh cụ thể, để điều tra thu thập số liệu chính xác, đúng với mục đích nghiên cứu đề tài.
- Quan điểm thực tiễn: Được vận dụng trong nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn, giúp người nghiên cứu đánh giá khách quan thực trạng công tác quản lý dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh tiểu học dân tộc thiểu số Xê Đăng.
6.2. Phương pháp nghiên cứu
6.2.1 Nhóm phương phấp nghiên cứu lý luận Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học.
Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận nhằm thu thập các thông tin khoa học, các tài liệu về chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về quản lý giáo dục, quản lý dạy học với đối tượng học sinh dân tộc thiểu số. Ở nhóm phương pháp này đề tài sử dụng các phương pháp chủ yếu:
Phương pháp phân tích và tổng hợp: “Nhằm phân tích các tài liệu khoa học, các văn bản chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về quản lý giáo dục, quản lý dạy học thành từng bộ phận, theo mặt thời gian, tạo thành hệ thống mới phục vụ cho việc nghiên cứu”[62].
Phương pháp phân loại, hệ thống hóa lý thuyết: “Nhằm sắp xếp các tài liệu khoa học, văn bản chỉ đạo thành hệ thống logíc chặc chẽ theo từng mặt, từng đơn vị kiến thức, từng vấn đề khoa học; sắp xếp thành một mô hình lý thuyết “[62].
6.2.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Nhằm điều tra thực trạng công tác quản lý dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học vùng Dân tộc thiểu số Xê Đăng, tỉnh Kon Tum. Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi.
Phương pháp phỏng vấn: Đề tài trưng cầu ý kiến của các nhà quản lý về các biện pháp nâng cao năng lực quản lý dạy học môn Tiếng Việt vùng dân tộc thiểu số.
6.2.3. Nhóm phương pháp ứng dụng toán học
Sử dụng phần mềm thống kê SPSS để phân tích số liệu đã điều tra, làm cơ sở đề xuất các biện pháp cải tiến quản lý dạy học môn Tiếng Việt. Trên cơ sở các phiếu khảo sát điều tra và phỏng vấn; lập bảng phân bổ tần số, tính tỷ lệ; dùng kiểm nghiệm chi bình phương ( x 2 ) để tìm xem có sự khác biệt hay không khác biệt giữa ý kiến của cán bộ quản lý với giáo viên, giữa cán bộ quản lý với các lực lượng xã hội, giữa giáo viên và lực lượng xã hội, giữa giáo viên và học sinh… Chọn xác xuất ý nghĩa là 0,01 và tính chi bình phương bằng công thức: x2 =∑(ƒ0−ƒ𝑒)2ƒ𝑒
Trong đó :
- 𝑓08T là tần số xuất hiện
- fe là tần số kỳ vọng, ký hiệu Eij
- ∑ 𝑐𝑖 : Tổng số các quan sát cột thứ i
- ∑ 𝑟𝑗 21T: Tổng số các quan sát dòng thứ j
- N: Tổng số các đối tượng nghiên cứu
Trong các nhóm phương pháp nghiên cứu trên, các phương pháp chính là phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết; phương pháp phân loại, hệ thống hoa lý thuyết; phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi; sử dụng phần mềm thống kê SPSS để phân tích số liệu. Các phương pháp còn lại là những phương pháp hỗ trợ.
7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Do khuôn khổ thời gian cũng như điều kiện và phạm vi nghiên cứu, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu lý luận về quản lý giáo dục và thực trạng quản lý dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học vùng Dân tộc thiểu số Xê Đăng, tỉnh Kon Tum, giai đoạn từ 2020 đến nay; trên cơ sở đó đề ra các biện pháp tăng cường quản lý dạy học môn Tiếng Việt. Cụ thể, đề tài nghiên cứu tại 3 huyện Đak Hà, Đak Tô và huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum với 25 trường tiểu học dạy học sinh Xê Đăng, 457 học sinh, 53 cán bộ quản lý, 133 giáo viên và một số lực lượng xã hội khác.
Trên thực tế, có nhiều biện pháp quản lý để nâng cao chất lượng dạy và học bậc tiểu học, song trong khuôn khổ luận văn, tác giả chỉ tập trung phân tích thực trạng và đề xuất các nhóm biện pháp được xem là cấp thiết nhất nhằm tăng cường quản lý dạy học môn. Tiếng Việt tại các trường tiểu học vùng Dân tộc thiểu số Xê Đăng, tỉnh Kon Tum.
8. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học.
Quản lý giáo dục nói chung, quản lý dạy học tại trường học nói riêng đã được nhiều nhà khoa học, các tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu, đề cập từ lâu dưới những góc độ khác nhau. Gần đây, một số tác giả trong nước đã nghiên cứu sâu về nhiệm vụ, chức năng của hiệu trưởng trong việc quản lý nhà trường phổ thông.
- Tác giả Nguyễn Văn Lê trong tác phẩm “Khoa học quản lý nhà trường”-Nhà xuất bản TP Hồ Chí Minh, năm 1985; đã đề cập đến phương pháp tổ chức và quản lý nhà trường trên các lĩnh vực: giảng dạy, học tập, hướng nghiệp, quản lý nội bộ… đi sâu vào công việc thực tiễn của hiệu trưởng.
- Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục -Bộ GD&ĐT (nay là Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục – Bộ GD&ĐT) với đề tài cấp bộ, mã số B98-52-22, năm 2020, do Nguyễn Tiến Hùng chủ nhiệm “Nghiên cứu sự tập trung và phân quyền trong hệ thống giáo dục phổ thông Việt Nam ” đã đề cập đến quyền và trách nhiệm của hiệu trưởng trường phổ thông trong việc quản lý dạy học nhà trường.
- Trường Cán bộ quản lý giáo dục II -Bộ GD&ĐT với giáo trình “Tâm lý học với quản lý trường học ” do PGS-TS Hoàng Tâm Sơn chủ biên; đã đề cập đến những yêu cầu về phẩm chất, năng lực quản lý của người hiệu trưởng.
Nhìn một cách tổng thể, công tác quản lý dạy học của hiệu trưởng trường phổ thông đã được phân tích, nghiên cứu với nhiều cấp độ khác nhau. Tuy nhiên, những vùng dân tộc thiểu số, học sinh sinh hoạt cộng đồng bằng ngôn ngữ riêng của mình, đến trường được giảng dạy bằng tiếng Việt; công tác quản lý dạy học các trường này chưa có công trình nghiên cứu riêng.
Để góp phần làm tốt công tác quản lý dạy học các trường tiểu học vùng Dân tộc thiểu số Xê Đăng, tỉnh Kon Tum; các nhà quản lý giáo dục cần nghiên cứu thực tiễn quản lý dạy học môn Tiếng Việt tại các trường, để đề ra biện pháp tăng cường quản lý.
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Một số vấn đề lý luận về quản lý
1.1.1. Khái niệm về quản lý
Quản lý là một hiện tượng xã hội, nó xuất hiện từ khi con người bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện những mục tiêu mà họ không thể đạt được với tư cách là những cá nhân riêng lẻ. Nó là một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng tới những mục tiêu.
Nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra quan niệm về quản lý dưới những góc độ khác nhau. Theo K.Marx thì “Quản lý là một chức năng tất yếu của lao động xã hội, nó gắn liền với sự phân công và phối hợp, nhưng khi nói đến sự phân công và phối hợp thì sự chỉ huy thống nhất để đảm bảo sự đồng bộ, ăn khớp trong hoạt động của các bộ phận cấu thành hệ thống, điều chỉnh hoạt động của các bộ phận này trên cơ sở mục tiêu là yêu cầu tất yếu khách quan hết sức cần thiết. Xét đến cùng thì điều đó chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở tổ chức. Chức năng chủ yếu của quản lý là phối hợp các mặt hoạt động của tổ chức và của những người trong tổ chức đó thành một chỉnh thể” [24] Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học.
Nhiều nhà nghiên cứu lý luận Liên bang Nga cho rằng quản lý một hệ thống xã hội là khoa học, là nghệ thuật tác động của chủ thể quản lý vào hệ thống, chủ yếu là vào con người, nhằm đạt được những mục tiêu kinh tế-xã hội (KT- XH) nhất định, “Quản lý là tính toán sử dụng các nguồn lực ( nhân lực, vật lực, tài chính) nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ với kết quả tối ưu về KT – XH” [02].
Các tác giả nghiên cứu quản lý phương Tây cũng có những định nghĩa quản lý rất cụ thể như “Quản lý chính là dự báo, lập kế hoạch, tổ chức điều khiển, phối hợp, và kiểm tra” Henry Fayon-Pháp cho rằng “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”[ XA].
Taylor- Mỹ cho rằng “Quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được những mục tiêu của nhóm”[14].
Mục tiêu của mọi nhà quản lý là hình thành một môi trường mà con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất. “Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn với kiến thức tổ chức thì quản lý là khoa học” [01].
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về quản lý. Theo từ điển Tiếng Việt (2012) thì “quản lý là hoạt động của con người tác động vào tập thể người khác để phối hợp, điều chỉnh phân công thực hiện mục tiêu chung “[63].
Tác giả Hà Sỹ Hồ cho rằng “quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định”[28].
Các tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt cho rằng “quản lý một hệ thống là quá trình tác động đến nó nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà nhà quản lý mong muốn “[33] .
Theo các tác giả Hoàng Chúng và Phạm Thanh Liêm “quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người nhằm tổ chức phối hợp hoạt động của họ, động viên kích thích họ trong quá trình lao động “[1 5].
Theo trên, có thể thấy hệ thống các quan niệm về quản lý mặc dù được diễn đạt theo nhiều quan điểm khác nhau, nhưng đều thể hiện điểm chung. Đó là:
- Quản lý là hoạt động tất yếu của những hệ thống có tổ chức, chủ yếu là các tập thể người.
- Hoạt động quản lý là hoạt động điều kiến người lao động, là sự tác động có ý thức nhằm phối hợp hoạt động của từng thành tố trong hệ thống để đạt mục đích, đúng với ý thức nhà quản lý, phù hợp với những quy luật khách quan.
- Quản lý là khoa học và là nghệ thuật. Tính khoa học và tính nghệ thuật của quản lý ngày càng được nâng cao và gắn bó chặt chẽ với nhau.
1.1.2. Ba yếu tố của quản lý Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học.
Quản lý bao giờ cũng tồn tại với 3 yếu tố:
- Chủ thể quản lý: Là con người hoặc tổ chức do con người lập nên, có nhiệm vụ sử dụng các công cụ và phương pháp, đề ra biện pháp quản lý, thực hiện mục tiêu quản lý .
- Mục tiêu quản lý: Do chủ thể quản lý đặt ra hoặc yêu cầu của thực tiễn đời sống xã hội mà hình thành. Mục tiêu có thể định lượng, nhưng cũng có lúc nó mang tính định tính theo chuẩn mực nào đó.
- Đôi tượng quản lý: Là cái mà chủ thể quản lý tác động vào (tập thể người, nhóm người) để thực hiện mục tiêu quản lý. Ngoài ra, đối tượng quản lý còn có thể là các vật thể phi người (cây trồng, vật nuôi, nhà xưởng, máy móc, ruộng đất…); những vật thể có thể có sẵn trong tự nhiên hoặc do con người sáng tạo ra.
Các yếu tố của quản lý có mối quan hệ qua lại chặt chẽ với nhau và đều nằm trong môi trường KT-XH nhất định. Môi trường KT-XH bao gồm mặt bằng dân trí, giáo dục, tâm lý xã hội, phong tục tập quán, văn hoa, luật pháp, các tác động quốc tế v.v… Môi trường này là nguồn thông tin và cũng là cái quyết định trình độ hiệu quả của quản lý. Ta có thể nghiên cứu quá trình hoạt động quản lý qua Biểu đồ 1.1
Biểu đồ 1.1: Quan hệ giữa các yếu tố của quản lý Thông qua Biểu đồ ta thấy mối quan giữa các yếu tố
- Quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý:
Chủ thể tác động trực tiếp đến đối tượng quản lý bằng công cụ và phương pháp quản lý. Đối tượng quản lý là căn cứ để chủ thể quản lý lựa chọn công cụ và phương pháp quản lý.
- Quan hệ giữa mục tiêu quản lý và đối tượng quản lý: Mục tiêu nào thì đối tượng đo; nhà quản lý căn cứ mục tiêu quản lý để xác định đối tượng quản lý.
- Quan hệ giữa chủ thể quản lý và mục tiêu quản lý: Chủ thể quản lý sản sinh ra mục tiêu; cũng có khi mục tiêu quản lý chi phối việc lựa chọn công cụ và phương pháp quản lý của chủ thể quản lý (Nếu là mục tiêu do cấp trên dội xuống).
Phương pháp quản lý là cách thức chủ thể quản lý tác động vào đối tượng quản lý. Biện pháp quản lý là những tác động cụ thể của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý dưới dạng những quyết định quản lý.
Công cụ quản lý là cái mà chủ thể quản lý dùng nó để tác động vào đối tượng quản lý ,ví dụ như: luật pháp, các văn bản pháp luật, quy chế, quy định của các cấp chính quyền; chế độ, chính sách, nội quy, quy trình quy phạm kỹ thuật…
1.1.3. Ý nghĩa của hoạt động quản lý
Quản lý là cách tốt nhất để đạt mục tiêu chung, nâng cao năng suất lao động. Sự tính toán hợp lý và khoa học khi sử dụng các nguồn lực và các biện pháp kích thích sẽ đảm bảo cho hoạt động của bộ máy ăn khớp, nhịp nhàng; phát huy những yếu tố tích cực mang lại hiệu quả cao. Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học.
Quản lý đảm bảo trật tự kỷ cương trong bộ máy bằng việc đưa ra những quy định mang tính pháp lý (luật, quy chế, nội quy…) và điều khiển mọi đối tượng quản lý theo một quy trình, một khuôn mẫu chung. “Quá trình quản lý là quá trình chống lại sự lộn xộn”, hình thành kỷ cương trong tổ chức.
Quản lý là nhân tố tất yếu của sự phát triển. Quản lý dựa trên những căn cứ và công cụ vững chắc, có phương pháp phù hợp với điều kiện môi trường và phù hợp Với khả năng thực tế sẽ có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của tổ chức.
Theo nhiều nhà khoa học, trong mọi nguyên nhân thất bại, phá sản… của các doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị sản xuất thì những nguyên nhân thuộc về quản lý chiếm tỷ trọng lớn. Chính vì vậy, khi tổ chức lại bộ máy biện pháp thay thế người quản lý cũ thiếu khả năng bằng người có năng lực tốt cũng là biện pháp được sử dụng nhiều nhất. Và không phải ngẫu nhiên mà ngày nay, trong năm nhân tố phát triển kinh tế: tài nguyên, vốn, lao động, công nghệ và chất xám quản lý thì chất xám quản lý là nhân tố quan trọng hàng đầu, có vai trò quyết định sự tăng trưởng và phát triển của một đất nước hay một tổ chức.
Để đảm bảo được vai trò, quản lý phải phối hợp sức mạnh cá nhân lên thành sức mạnh tổng hợp, hạn chế mâu thuẫn; tranh thủ những thuận lợi của môi trường, hướng tới mục tiêu. Đó là bí quyết quản lý con người, bí quyết sắp xếp các nguồn lực của tổ chức, và sự sáng tạo khi đối phó với những tình huống khác nhau trong hoạt động của tổ chức. Ở khía cạnh này, quản lý là nghệ thuật. Trong thuật dùng người của phương Đông có câu “Dụng nhân như dụng mộc” nói lên ý nghĩa việc tổ chức hợp lý nhân lực trong hệ thống.
Tuy nhiên, các bí quyết quản lý chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở tích lũy kiến thức, đúc kết kinh nghiệm thực tiễn, khái quát hoa tri thức thành những nguyên tắc, phương pháp và kỹ năng quản lý; đó chính là tính khoa học của quản lý. Trong xã hội hiện đại, việc nghiên cứu áp dụng những thành tựu khoa học mới đang là một xu hướng của quản lý hiện đại. ở khía cạnh này, quản lý được xem là công nghệ -công nghệ điều hành, phối hợp sử dụng các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực và thông tin của một tổ chức để đạt mục tiêu.
1.1.4. Các phương pháp quản lý (PPQL) Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học.
PPQL là cách thức tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm thực hiện những nhiệm vụ nhất định, để đạt mục đích đã đề ra. Phương pháp quản lý một mặt xuất phát từ các quy luật kinh tế, quy luật tâm lý -xã hội, quy luật tổ chức… và các nguyên tắc quản lý chung; còn thể hiện rõ tính năng động của chủ thể quản lý trong việc lựa chọn và phối hợp đúng đắn các Phương pháp quản lý. Các Phương pháp quản lý thường sử dụng là:
Phương pháp tâm lý: Là phương pháp tác động vào nhận thức con người, làm cho con người nhận thức đúng nhiệm vụ, tự nguyện thực hiện yêu cầu của nhà quản lý, từ đó có thái độ và hành vi phù hợp.
Đặc điểm của phương pháp này là dựa vào các quy luật tâm lý-xã hội để bồi dưỡng tình cảm, xây dựng lòng tin, ý chí nghị lực, tinh thần trách nhiệm trước tập thể, trước uy tín của tổ chức. Nên dùng người có uy tín để thuyết phục đối tượng, quá trình thuyết phục phải tôn trọng danh dự và nhân cách người nghe. Điều rất quan trọng là phải lấy sự thay đổi hành vi cụ thể làm thước đo sự thay đổi nhận thức và phải kiên trì thuyết phục trước khi áp dụng phương pháp khác. Ngày nay, vai trò của phương pháp giáo dục, thuyết phục được coi trọng.
- Phương phập kinh tế: Là phương pháp tác động đến đối tượng quản lý thông qua các lợi ích kinh tế; cơ sở của nó là các quy luật kinh tế.
Đặc trưng của phương pháp này là kích thích đối tượng quản lý phấn khởi, chủ động sáng tạo hành động, thực hiện nhiệm vụ để đạt những lợi ích kinh tế nhất định. Đây là phương pháp hiện đại, tiên tiến, đạt hiệu quả cao trong quản lý vì nó phát huy cao độ tính chủ động, tích cực, năng động, sáng tạo của đối tượng quản lý, hướng đến năng suất lao động tối đa. Phương pháp này không phụ thuộc nhiều vào các quan hệ tổ chức và hành chính, vì vậy cả chủ thể quản lý và đối tượng quản lý đều cảm thấy chủ động, thoải mái hơn, giảm bớt hoạt động có tính chất sự vụ của nhà quản lý.
Thực hiện phương pháp kinh tế đòi hỏi nhà quản lý phải có kiến thức và kinh nghiệm sâu rộng để có thể định hướng hành động cho đối tượng quản lý bằng các nhiệm vụ kế hoạch, hợp đồng, đơn đặt hàng… với những chỉ tiêu số lượng, chất lượng rõ ràng, với những định mức cụ thể, chế độ thưởng phạt nghiêm minh, đảm bảo kỷ cương theo pháp luật trong mọi trường hợp.
Phương pháp hành chính – tổ chức: Là phương pháp tác động đến đối tượng quản lý trên cơ sở quan hệ tổ chức và quyền lực hành chính trong hệ thống quản lý do nhà nước đặt ra. Đó là các mối quan hệ giữa cá nhân và tổ chức, giữa bộ phận và tập thể… Bất kỳ bộ máy quản lý nào cũng được quy định tính chất các mối quan hệ đó.
Đặc trưng của phương pháp này là sự cưỡng bức đơn phương của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý. V.I.Lê Nin đã dạy rằng “Dùng mệnh lệnh hành chính để giải quyết vấn đề trong thời đại chuyên chính vô sản là tuyệt đối cần thiết” [64-tr. 369].
Trong thực tế quản lý, muốn đạt hiệu quả cao, chủ thể quản lý phải vận dụng tổng hợp các phương pháp trên vì mỗi phương pháp quản lý đều có những mặt mạnh, mặt yếu.
1.2. Cơ sở lý luận của quản lý dạy học môn Tiếng Việt Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học.
1.2.1. Quản lý dạy học của nhà trường
- Quản lý dạy học của trường học là quản lý việc giảng dạy của giáo viên và quản lý việc học tập của học sinh.
1.2.1.1. Khái niệm giảng dạy và học tập
- Khái niệm giảng dạy
Giảng dạy là hoạt động truyền thụ của người thầy, qua hoạt động này học sinh lĩnh hội được những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo theo mục tiêu giáo dục đã xác định. Người thầy tể chức, điều khiển quá trình nhận thức của học sinh, làm cho học sinh có thái độ, năng lực, phương pháp học tập để tự tìm kiếm kiến thức.
Giảng dạy bao gồm việc tổ chức, điều khiển của người thầy, là đề ra mục đích, yêu cầu nhận thức học tập, công việc truyền đạt, đảm bảo mối liên hệ hai chiều thông qua kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh.
Thực chất của quá trình này là thầy tổ chức, hướng dẫn, kiểm tra, điều chỉnh giúp học sinh tự học, tự nghiên cứu, tự điều chỉnh. Nói cách khác là người thầy giúp học trò tự hiểu được bản thân mình, tự hoàn thiện và phát triển trong quá trình học tập. Hoạt động dạy có đạt được hiệu quả cao khi có sự kết hợp thống nhất biện chứng của người dạy và người học.
- Khái niệm học tập
Học tập là hoạt động của người học nhằm lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội. Kết quả của hoạt động này là người học lĩnh hội được các tri thức kết tinh trong nội dung học tập để biến thành kinh nghiệm của bản thân. Học tập còn có thể hiểu là hoạt động nhận thức. Quá trình nhận thức của người học được sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của giáo viên với những điều kiện sư phạm nhất định.
1.2.1.2. Quản lý dạy học của nhà trường
- Quản lý việc giảng dạy của giáo viên Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học.
Quan hệ giữa giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh là mối quan hệ thống nhất biện chứng.Với tác động sư phạm, giáo viên tổ chức, điều khiển hoạt động của học sinh. Hiệu trưởng quản lý việc giảng dạy của giáo viên trong nhà trường là quản lý các mặt sau:
- Quản lý việc thực hiện mục tiêu giáo dục
Mục tiêu giáo dục của mỗi cấp học, bậc học, ngành học được quy định tại Luật Giáo dục và các quy định của Chính phủ, các bộ, ngành trung ương. Nhà quản lý căn cứ sự chỉ đạo thực hiện mục tiêu của các cấp lãnh đạo, căn cứ đặc điểm tình hình của đơn vị mình để xây dựng kế hoạch thực hiện mục tiêu; quản lý kế hoạch thực hiện mục tiêu; điều chỉnh kế hoạch thực hiện mục tiêu khi cần thiết; đánh giá sơ kết, tổng kết thực hiện mục tiêu theo từng giai đoạn.
Để quản lý việc thực hiện mục tiêu của nhà trường đạt kết quả, nhà quản lý cần triển khai kế hoạch thực hiện mục tiêu đến các tổ chức, đoàn thể trong trường; tổ chức cho giáo viên, cán bộ nhân viên học tập, quán triệt kế hoạch thực hiện mục tiêu; đưa ra quy trình kiểm tra đánh giá việc thực hiện mục tiêu.
- Quản lý việc thực hiện chương trình
Chương trình khung do Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) ban hành cho từng khối lớp, bậc học, ngành học là căn cứ để các trường tổ chức giảng dạy. Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, Bộ GD&ĐT đã chỉ đạo giảm tải đối với bậc tiểu học. Do vậy, hiệu trưởng các trường căn cứ hình hình cụ thể của địa phương, khả năng tiếp thu của học sinh, điều kiện, phương tiện dạy học mà vận dụng chương trình cho phù hợp. Hiệu trưởng tổ chức để hội đồng sư phạm nhà trường xác định cụ thể việc thực hiện chương trình từng môn học, từng khối lớp. Quản lý thực hiện chương trình dạy học là nhằm thực hiện kế hoạch đào tạo theo mục tiêu đào tạo của nhà trường. Chương trình dạy học quy định nội dung, phương pháp, hình thức dạy học các môn học, thời gian dạy học từng môn.
Để quản lý thực hiện chương trình dạy học, vào đầu năm học, người quản lý phổ biến nội dung, những sửa đổi trong chương tình và sách giáo khoa theo chỉ thị hướng dẫn của Bộ GD&ĐT. Hàng tháng, kết thúc học kỳ, cuối năm kiểm điểm, đánh giá tình hình thực hiện chương trình dạy học từng bộ môn, từng khối lớp, từng lớp đã đề ra trong chương trình dạy học.
- Quản lý soạn bài và chuẩn bị giờ lên lớp Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học.
Việc soạn bài cần đảm bảo nội dung, phương pháp giảng dạy sát với đối tượng học sinh, đúng với yêu cầu của chương trình dạy học. Để quản lý tốt công việc này, người quản lý cần phổ biến:
- Hướng dẫn giáo viên lập kế hoạch soạn bài.
- Thống nhất về nội dung, về hình thức các loại bài soạn.
- Đặt lịch soạn bài cho cả năm học.
- Kiểm tra theo dõi tình hình soạn bài.
- Quản lý giở lên lớp
Giờ lên lớp là hình thức tổ chức dạy học trên lớp của bài học. Có bao nhiêu loại bài học trên lớp thì có bấy nhiêu hình thức tổ chức lên lớp tương ứng. Do đó, phải có những hệ thống tiêu chuẩn cho từng loại bài học. Việc xây dựng các tiêu chuẩn giờ lên lớp trong công tác quản lý nhằm kiểm tra đánh giá để hướng tới đích các giờ lên lớp có hiệu quả.
Sử dụng thời khoa biểu trong quản lý giờ lên lớp nhằm duy trì nền nếp dạy học, điều khiển nhịp điệu dạy học trong ngày, trong tuần, tạo nên bầu không khí sư phạm vừa trang nghiêm vừa sôi động của trường học. Thời khóa biểu được sắp xếp theo những nguyên tắc phù hợp với cường độ hoạt động học tập, vì quyền lợi học tập của học sinh, xen kẽ hợp lý các bộ môn, tạo sự cân đối, mối tương quan khoa học giữa việc dạy của giáo viên và việc học của học sinh trong tuần.
- Quản lý việc giáo viên tổ chức hướng dẫn học sinh học tập
Việc dạy của giáo viên sẽ hoàn thành trọn vẹn khi việc học của học sinh được tổ chức, hướng dẫn tốt từ trong lớp học – giờ lên lớp, đến ngoài trường và ở nhà. Đó là sự liên tục kia hoạt động dạy học, là trách nhiệm của giáo viên đối với sản phẩm đào tạo của mình. Do đó, bằng những yêu cầu, những quy định thống nhất, người quản lý xem xét đánh giá sự chăm sóc, quan tâm của giáo viên đến hoạt động học tập của học sinh.
- Quản lý việc giáo viên kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
Quản lý việc giáo viên thực hiện kiểm tra, đánh giá gồm những nội dung thực hiện đúng chế độ kiểm tra, cho điểm theo quy định của từng môn; chấm và trả bài đúng thời hạn, lưu trữ điểm trong sổ điểm để tổng kết, chỉ đạo.
Quản lý nội dung kiểm tra: Nội dung kiểm tra phải sát chương trình, phù hợp đối tượng học sinh, phát huy tính sáng tạo của học sinh. Hiệu trưởng tổ chức kiểm một tiết theo đề chung toàn trường; tổ chức quản lý điểm kiểm tra ở các lớp.
- Quản lý việc học tập của học sinh Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học.
Việc học tập của học sinh diễn ra ở trong lớp, ngoài lớp, ngoài trường và ở nhà. Thời gian học tập gồm giờ học trên lớp, học ở nhà. Do đó, khi quản lý hoạt động học tập của học sinh, cần bao quát cả không gian, thời gian và các hình thức học tập.
Thông qua giáo viên, hiệu trưởng quản lý hoạt động học tập của học sinh, trong đó có cả việc theo dõi tình hình học sinh lưu ban, bỏ học, lên lớp, tốt nghiệp, phổ cập giáo dục. Để quản lý việc học tập của học sinh nhà quản lý cần quan tâm các mặt sau:
- Giáo dục tinh thần, thái độ, động cơ học tập đúng đắn trong học sinh.
- Xây dựng và thực hiện nền nếp học tập.
- Áp dụng các hình thức động viên và khuyến khích học sinh học tập.
- Phối hợp các lực lượng trong việc quản lý hoạt động học tập của học sinh.
- Tổ chức các hoạt động học tập, lao động, giải trí phù hợp tâm lý, sức khỏe của học sinh.
1.2.2. Quản lý dạy học môn Tiếng Việt các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số
1.2.2.1. Khái niệm trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số
Khái niệm trường tiểu học: Trường tiểu học là đơn vị cơ sở của hệ thống giáo dục quốc dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trực tiếp đảm nhiệm việc giáo dục từ lớp 1 đến lớp 5 cho trẻ em 6 đến 14 tuổi, nhằm hình thành ở học sinh cơ sở ban đầu cho sự phát triển toàn diện nhân cách con người Việt Nam Xã hội chủ nghĩa theo mục tiêu giáo dục tiểu học. Trường tiểu học có tư cách pháp nhân và con dấu riêng.
Trường tiểu học gồm các loại hình trường, lớp:
- Trường tiểu học công lập do Nhà nước tổ chức và quản lý.
- Trường tiểu học dân lập do một cơ quan hoặc một tổ chức nhà nước, một đoàn thể quần chúng hoặc tổ chức xã hội đứng ra thành lập và bảo trự; chịu sự quản lý nhà nước của phòng Giáo dục (loại hình này hiện nay đang giảm dần).
- Trường tiểu học tư thục do một cá nhân đứng ra thành lập và tổ chức hoạt động; chịu sự quản lý nhà nước của phòng Giáo dục.
- Lớp tiểu học gia đình do cha mẹ học sinh có đủ năng lực và trình độ chuyên môn tự nguyện tổ chức và trực tiếp giảng dạy.
- Lớp tiểu học linh hoạt do các cá nhân làm công tác từ thiện, các tổ chức nhà nước và các tổ chức xã hội tự nguyện thành lập để dạy trẻ em có hoàn cảnh gia đình khó khăn, những trẻ em khuyết tật… không thể tham giam học tập tại các trường, lớp học bình thường. Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học.
Các lớp tiểu học gia đình và các lớp tiểu học linh hoạt được một trường tiểu học công lập trong khu vực bảo trợ và quản lý theo quy định của phòng Giáo dục. Trường tiểu học có thể tổ chức nội trú hoặc bán trú cho một phần hoặc toàn bộ học sinh, tuỳ theo yêu cầu của cha mẹ học sinh, địa phương và khả năng của nhà trường,
- Trường tiểu học có những nhiệm vụ và quyền hạn sau:
Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo chương trình tiểu học đo Bộ GD&ĐT ban hành. Huy động trẻ em trong độ tuổi tiểu học vào học lớp một, vận động trẻ em trong độ tuổi đi học tiểu học đang bỏ học đến trường học trở lại; tham gia thực hiện nhiệm vụ phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi.
- Phối hợp với cha mẹ, người nuôi dưỡng học sinh, các tổ chức và cá nhân trong cộng đồng thực hiện các hoạt động giáo dục.
- Tổ chức cho giáo viên, nhân viên và học sinh tham gia các hoạt động xã hội trong phạm vi cộng đồng.
- Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
- Khái niệm trường tiều học vùng dân tộc thiểu số
Trường tiểu học vùng Dân tộc thiểu số là trường tiểu học, có đầy đủ các chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của một trường tiểu học đã trình bày ở trên. Ngoài ra, trường có một số đặc điểm riêng mà các trường tiểu học bình thường khác không có. Các đặc điểm đó là:
- Học sinh trong trường hầu hết là người dân tộc thiểu số, có trường chỉ có một nhóm dân tộc thiểu số, có trường gồm nhiều nhóm dân tộc thiểu số khác nhau cùng học với nhau.
- Môi trường giáo dục không thuận lợi, trình độ dân trí thấp, cộng đồng dân cư quan tâm đến công tác giáo dục ở mức thấp, điều kiện kinh tế xã hội kém phát triển, giao thông khó khăn, cơ sở hạ tầng kém. Các phong tục tập quán lạc hậu còn ảnh hưởng đến sự phát triển giáo dục.
- Giáo viên và cán bộ quản lý hầu hết là người Kinh từ các nơi khác đến công tác; ngôn ngữ giao tiếp giữa thầy và trò bất đồng, thầy không nghe, không nói được tiếng của học sinh; vốn tiếng Việt của học sinh kém.
- Quy mô trường nhỏ, gắn liền với các làng, thôn; mỗi trường có nhiều điểm trường cách xa nhau. Trường đóng chân tại các xã vùng đồng bào Dân tộc thiểu số, thường là vùng núi cao, vùng sâu, vùng xa. Các trường đều là trường công lập, một số nơi có tổ chức bán trú, nội trú ở các lớp cuối bậc học. Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học.
1.2.2.2. Dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số
- Đặc điểm của giáo dục bậc tiểu học
Bậc tiểu học là bậc học phổ cập và phát triển, tạo tiền đề để thực hiện “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài “[19]. Tính phổ cập bắt buộc trẻ em học xong tiểu học phải đạt những yêu cầu tối thiểu. Bậc tiểu học sẽ tạo ra những điều kiện để trẻ em tiếp tục phát triển, có khả năng học tập suốt đời; trở thành những con người có trí tuệ phát triển, có ý chí và tình cảm cao đẹp.
Giáo dục tiểu học vừa mang tính dân tộc vừa mang tính hiện đại. Lứa tuổi học sinh tiểu học là thời lý thuận lợi để hình thành các yếu tố tạo nên nhân cách người Việt Nam. Ngay từ những lớp đầu bậc học các em học sinh đã được học lịch sử, địa lý đất nước, các bài văn, bài thơ của cha ông; được giáo dục lối sống văn minh, tình cảm cao đẹp, truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Mặt khác, nội dung của giáo dục tiểu học cũng chú ý thích đáng đến tri thức của nhân loại thuộc các lĩnh vực tự nhiên, kỹ thuật; giúp học sinh tiểu học hòa nhập với trào lưu giáo dục hiện đại của thế giới.
Giáo dục tiểu học mang tính nhân văn và dân chủ. Tính nhân văn và dân chủ thể hiện trước hết ở mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học, ở phương pháp dạy học và giáo dục lấy học sinh làm trung tâm. Ngoài ra, tính dân chủ còn thể hiện ở chỗ trẻ em đến tuổi đi học đều được nhận vào học ở các trường tiểu học; mọi người Việt Nam đều có quyền hưởng nền giáo dục tiểu học và có nghĩa vụ đối với nó.
Bậc tiểu học là bậc học đầu tiên với những đặc điểm đã trình bày ở trên, có nhiệm vụ xây dựng nền móng cho toàn bộ hệ thống giáo dục phổ thông. Mọi công dân đều phải qua chương trình giáo dục tiêu học. Ở bậc học này những đặc điểm tâm lý, sinh lý của trẻ em được phát triển mạnh mẽ và hình thành nền nếp, thói quen học tập, nhu cầu và hứng thú nhận thức.
- Đặc điểm của môn Tiếng Việt bậc tiểu học
Tiếng Việt là môn học nền tảng của bậc tiểu học, rèn luyện khả năng ngôn ngữ cho học sinh, qua đó cung cấp kiến thức về văn hoa- xã hội, khoa học- kỹ thuật; đồng thời giáo dục đạo đức, thẩm mỹ cho học sinh. Môn Tiếng Việt chia thành nhiều phân môn hẹp như: Từ ngữ, Ngữ pháp; Tập đọc; Chính tả; Tập làm văn; Kể chuyện. Do vậy, dạy học môn Tiếng Việt là một hoạt động tổng hợp thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều bộ môn khác nhau. Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học.
Phân môn Tập đọc: Là phân môn mang tính tổng hợp, ngoài nhiệm vụ dạy đọc còn có nhiệm vụ trau dồi khả năng tiếng Việt cho học sinh; luyện câu, tạo cảm xúc cảm nhận văn học cho học Mỗi bài tập đọc có nhiệm vụ mở rộng vốn từ cho học sinh; câu hỏi khai thác bài tập đọc thường cô đọng, kích thích các em suy nghĩ.
Phân môn Tập làm văn: Mỗi khối lớp có những yêu cầu khác nhau, nhưng đều tập trung luyện khả năng viết đúng từ, đúng câu, đúng ngữ pháp; tạo cho học sinh khả năng diễn đạt ý tương cá nhân, cảm xúc trước sự vật, hiện tượng, con người, thiên nhiên…
Phân môn Từ ngữ và Ngữ pháp: Rèn luyện kỹ năng phát âm, cấu trúc tiếng, câu; cung cấp kiến thức lý thuyết tiếng Việt cho học sinh. Đối với học sinh là người dân tộc thiểu số, tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai trong giao tiếp hàng ngày thì phân môn này đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong quá trình học tiếng Việt nói riêng và học tập trong trường phổ thông nói chung.
Phân môn Kể chuyện: Trong bộ sách mới, không có quyển Truyện đọc dùng riêng cho các giờ kể chuyện như sách giáo khoa cải cách, mà thông qua các câu chuyện trong các bài tập đọc, giúp học sinh dựng lại dưới hình thức hoạt cảnh. Qua đó, luyện khả năng nói, diễn đạt tiếng Việt cho học sinh, giúp học sinh mạnh dạn hơn trong giao tiếp.
Phân môn Chính tả: Luyện tập thực hành ở các kỹ năng nghe, viết và các kỹ năng khác trong quá trình học tiếng Việt; củng cố kiến thức về tiếng Việt.
- Vị trí môn Tiếng Việt trong trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số
Môn Tiếng Việt có tầm quan trọng đối với học sinh Dân tộc thiểu số. Trước hết, nó cung cấp cho học sinh Dân tộc thiểu số sự hiểu biết về ngôn ngữ tiếng Việt, tiếng phổ thông chung của đất nước; tiếp đến thông qua tiếng Việt, các em mở rộng tầm nhìn của mình, nắm được nét đẹp, sự giàu có của tiếng Việt. Từ đó, các em biết yêu tiếng Việt như tiếng mẹ đẻ của mình.
Nắm vững tiếng Việt – một ngôn ngữ phát triển, học sinh Dân tộc thiểu số có điều kiện làm giàu đẹp và hoàn thiện tiếng mẹ đẻ của mình; từng bước nâng tiếng mẹ đẻ trở thành một ngôn ngữ có văn hóa. Tiếng Việt là ngôn ngữ duy nhất được dùng để truyền đạt tri thức khoa học trong nhà trường. Nhờ có tiếng Việt, các em có thể tiếp nhận kiến thức các môn học khác trong nhà trường. Vì vậy, tiếng Việt trong nhà trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số bao giờ cũng đi trước các môn học khác.
Do tình trạng sống đan xen giữa các nhóm dân tộc ở nước ta là phổ biến nên các trường tiểu học vùng Dân tộc thiểu số trong một lớp có học sinh thuộc nhiều nhóm dân tộc thiểu số khác nhau. Trong bối cảnh đó, môn Tiếng Việt cung cấp cho các em phương tiện chung để giao tiếp với nhau, xoa đi khoảng cách giữa các nhóm Dân tộc thiểu số.
- Ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ đối với việc dạy học tiếng Việt
Trẻ em trước khi đi học tiểu học đã trải qua một quá trình phát triển tự nhiên về tiếng mẹ đẻ (TMĐ); các em được học tập Tiếng mẹ đẻ trong môi trường tự nhiên ở gia đình, cộng đồng và xã hội. Các thao tác tư duy cơ bản của trẻ được hình thành, củng cố, phát triển bằng Tiếng mẹ đẻ. Các thói quen sử dụng Tiếng mẹ đẻ được vận dụng một cách linh hoạt và có chọn lọc để nhận thức cái mới, cái chưa biết. Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học.
Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy của học sinh Dân tộc thiểu số tác động lớn đến quá trình học tập. Sự tác động này nếu được giải quyết một cách phù hợp thì chất lượng dạy học môn Tiếng Việt nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung sẽ nâng cao.
Học sinh Dân tộc thiểu số học tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai. Khi học, các em sẽ có sự giao thoa cấu trúc tiếng mẹ đẻ và cấu trúc tiếng Việt. Cơ chế hoạt động, kỹ năng sử dụng Tiếng mẹ đẻ vốn là những thói quen khó chuyển hóa, nó sẽ ảnh hưởng đến quá trình học tiếng Việt. Thêm vào đó, vốn từ vựng của ngôn ngữ Dân tộc thiểu số rất hạn chế, nhiều khái niệm trừu tượng, khoa học người Dân tộc thiểu số phải sử dụng tiếng Việt để diễn đạt chứ không có từ riêng. Chẳng hạn, các khái niệm: Đảng, Bác Hồ, Nhà nước, Ủy ban nhân dân, sách giáo khoa, máy bay, phi thuyền, hoa học… người Xê Đăng dùng tiếng Việt để diễn đạt.
Để khắc phục những khó khăn trên, trong quá trình dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh Dân tộc thiểu số, người giáo viên cần phát huy những nét tương đồng, những tác động tích cực của hai ngôn ngữ, đồng thời hạn chế những tiêu cực của tiếng Dân tộc thiểu số từ khâu tập nói tiếng Việt đến dạy và học tiếng Việt.
- Sự tác động của môn Tiếng Việt đối với các môn học khác
Trong các trường tiểu học vùng Dân tộc thiểu số, học sinh muốn học tốt các môn học khác thì phải biết tiếng Việt. Hay nói cách khác, tiếng Việt là cơ sở ban đầu để các trường tiến hành công tác giáo dục. Tuy nhiên, các môn khoa học khác trong trường tiểu học Dân tộc thiểu số cũng đồng thời tác động tích cực trở lại để nâng cao trình độ tiếng Việt cho học sinh.
- Tác động của môi trường đối với việc dạy học môn Tiếng Việt
Môi trường giáo dục là những yếu tố tự nhiên và xã hội tác động đến sự phát triển giáo dục tại một thời điểm cụ thể, một không gian cụ thể. Môi trường giáo dục gồm môi trường bên trong nhà trường và môi trường bên ngoài nhà trường. Môi trường bên trong nhà trường là hệ thống nhà cửa, trường lớp, trang thiết bị phục vụ dạy và học; tài liệu tham khảo để dạy học tiếng Việt cho học sinh Dân tộc thiểu số; cảnh quan sư phạm của nhà trường. Môi trường bên ngoài nhà trường là góc học tập của học sinh tại các gia đình; là sự quan tâm của cha mẹ đối với việc học tập của học sinh, các tác động của cộng đồng dân cư đối với công tác giáo dục; là môi trường sử dụng tiếng Việt của học sinh; là trình độ học vấn của cha mẹ học sinh; là điều kiện kinh tế của gia đình học sinh. Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học.
Môi trường tác động đến đến việc dạy học tiếng Việt cho học sinh Dân tộc thiểu số; do vậy, giáo viên cần khai thác sử dụng các điều kiện bên trong nhà trường phục vụ cho dạy học môn Tiếng Việt một cách hợp lý khoa học và vận dụng linh hoạt các điều kiện bên ngoài nhà trường nhằm tạo ra động cơ hứng thú cho học sinh trong học tập.
- Dạy tiếng Việt cho học sinh tiểu học dân tộc thiểu số
Một số phương pháp dạy môn Tiếng Việt cho học sinh Dân tộc thiểu số
Phương pháp dạy trực tiếp. “Xem tiếng Việt như là ngôn ngữ thứ hai đối với học sinh, dạy cho học sinh trực tiếp bằng ngôn ngữ này không liên hệ với tiếng mẹ đẻ của các em. Thực hiện phương pháp này, giáo viên trực tiếp phát âm các từ hoặc câu, học sinh lắng nghe và nhắc lại theo giáo viên. Việc giải thích nghĩa các từ được thực hiện bằng vật thật hoặc các tài liệu minh hoa, không có sự hỗ trợ bằng tiếng mẹ đẻ” [47].
Theo phương pháp này, học sinh cùng một lúc vừa nhìn vật thật hoặc mô hình vừa nghe và phát âm tên gọi của nó. Ưu điểm của phương pháp này là học sinh tập trung vào tiếng Việt mà không bị chi phối bơi tiếng mẹ đẻ. Tuy nhiên, hạn chế của nó là học sinh rất căng thẳng trong quá tình học, giáo viên khó kiểm soát mức độ tiếp thu bài học của học sinh, vì học sinh tiếp thu một cách thụ động.
- Phương pháp sử dụng tiếng dân tộc: Là tận dụng vốn ngôn ngữ sẩn có của học sinh để các em học ngôn ngữ mới.
“Ưu điểm của phương pháp này là học sinh giảm căng thẳng trong học tập, dễ tiếp thu; người dạy chỉ ra chỗ khác nhau về phát âm, cấu trúc từ, câu giữa hai thứ tiếng để học sinh tiếp thu. Nhược điểm của phương pháp này là học sinh hạn chế thời gian hoạt động giao tiếp bằng tiếng Việt, lạm dụng tiếng mẹ đẻ, sử dụng tiếng mẹ đẻ quá mức cần thiết ảnh hưởng đến quá trình học tiếng Việt” [47].
Hai phương pháp dạy học trên không phải là phương pháp hoàn hảo, nhưng chúng đã và đang được áp dụng có hiệu quả trong việc dạy môn Tiếng Việt cho học sinh Dân tộc thiểu số. Quan trọng là cần phải biết phối hợp chúng một cách hợp lý ở các bài, các lớp, trong các giai đoạn học tập. Thường những lớp đầu bậc tiểu học sử dụng tiếng mẹ đẻ nhiều hơn, các lớp cuối bậc học giảm dần, tiến đến không dùng tiếng mẹ đẻ trong quá trình dạy học.
1.2.2.3. Quản lý dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học vùng Dân tộc thiểu số
Quản lý dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh tiểu học Dân tộc thiểu số ngoài quản lý việc dạy của giáo viên và quản lý việc học của học sinh như các trưởng tiểu học bình thường, còn quan tâm thêm các vấn đề:
- Quản lý giáo viên giảng dạy môn Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số
Tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai của học sinh Dân tộc thiểu số; do vậy, giáo viên dạy cho học sinh từ nói tiếng Việt đến học tiếng Việt. Quản lý giáo viên dạy tiếng Việt cho học sinh tiểu học Dân tộc thiểu số là quản lý năng lực dạy ngôn ngữ của giáo viên thông qua các môn học của chương trình tiểu học; quản lý năng lực hướng dẫn học sinh ứng dụng tiếng Việt vào cuộc sống; quản lý việc học tập tiếng Dân tộc thiểu số của giáo viên. Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học.
- Quản lý sự sẵn sàng học tập tiếng Việt của học sinh dân tộc thiểu số
Nói đến sự sấn sàng học tập của học sinh là nói đến khả năng tiếng Việt của học sinh trước khi vào học chương trình tiểu học; là động cơ học tập tiếng Việt của học sinh trong quá trình học tập.
Quản lý sự sẵn sàng học tập của học sinh là đánh giá, quản lý khả năng tiếng Việt của học sinh, động cơ học tiếng Việt của học sinh; từ đó đưa ra biện pháp dạy học phù hợp.
- Quản lý việc sử dụng sách đọc thêm, trang thiết bị dạy học môn Tiếng Việt
Học sinh Dân tộc thiểu số chỉ học tiếng Việt ở trường, lớp; các em không có cơ hội sử dụng tiếng Việt ở nhà. Do vậy, ngoài sách giáo khoa cần phong phú hóa các loại sách đọc thêm bằng tiếng Việt cho các em. Nhà quản lý cần chỉ đạo sử dụng sách đọc thêm là những tác phẩm dân gian của người Dân tộc thiểu số; các tác phẩm do người Dân tộc thiểu số sáng tác bằng tiếng Việt với các chủ đề phản ánh cuộc sống, văn hóa, tinh thần của người Dân tộc thiểu số. Bởi vì, những tác phẩm đó không chỉ mang lại cho các em cách diễn đạt gần gũi mà còn là nguồn động viên thúc giục các em học tốt tiếng Việt để có thể làm chủ tiếng Việt như các bậc cha anh.
Thiết bị dạy học là tập hợp những đối tượng vật chất mà giáo viên sử dụng với tư cách là phương tiện để điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh. Nhờ có thiết bị dạy học mà học sinh có thể được nghe, được nói tiếng Việt chính xác. Thiết bị dạy học giúp học sinh hiểu rõ, hiểu sâu từ ngữ và những khái niệm trừu tượng; đó là hệ thống tranh ảnh, mô hình, mẫu vật…
Quản lý thiết bị dạy học là quản lý việc đầu tư trang thiết bị phù hợp với nội dung chương trình, phù hợp với điều kiện thực tế địa phương; quản lý việc sử dụng trang thiết bị một cách hiệu quả; quản lý việc tự tạo ra đồ dùng dạy học trong GV. Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng dạy học môn tiếng việt tại trường tiểu học

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học […]