Luận văn: Quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang tại trường Cao đẳng nghề Long Biên trong bối cảnh hiện nay dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Bước sang thế kỷ 21, vấn đề nguồn nhân lực ngày càng trở lên quan trọng và cấp thiết và nó là yếu tố quyết định đối với sự phát triển và thịnh vượng của mỗi quốc gia.

Việt Nam đang trong thời kỳ đầu của sự công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nên việc đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định. Trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực thì đào tạo nghề luôn được coi là vấn đề then chốt nhắm tạo ra đội ngũ công nhân kỹ thuật có trình độ kiến thức chuyên môn, có kỹ năng và thái độ nghề nghiệp phù hợp yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội, đáp ứng sự biến đổi cơ cấu kinh tế, đáp ứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu lao động.

Trong nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX và kết luận hội nghị lần thứ 6 BCH Trung ương Đảng khóa IX nhấn mạnh: “Phát triển giáo dục đào tạo là một trong những đông lực quan trọng thức đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” Muốn cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công, thì điều cốt lõi là phải phát huy tốt nhân tố con người. Bởi lẽ con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển, giáo dục là nhân tố chủ yếu để hình thành và phát triển nhân cách con người, là chìa khóa mở cửa vào tương lai, là quốc sách hàng đầu của chiến lược phát triển kinh tế, xã hội.

Nhiệm vụ phát nhân lực là trách nhiệm chung của toàn Đảng, toàn dân ta, trong đó vai trò của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp là vô cùng quan trọng. Hiện Việt Nam có trên 34 triệu người trong độ tuổi lao động chưa được đào tạo nghề. Mạng lưới các trường dạy nghề tính đến cuối năm 2021, cả nước có 1.233 cơ sở dạy nghề, bao gồm 123 trường Cao đẳng nghề, 300 trường Trung cấp nghề và 810 Trung tâm dạy nghề, ngoài ra, còn có trên một ngàn cơ sở DN khác có tổ chức tuyển sinh học nghề theo 3 cấp trình độ [50]. Nhìn chung, mạng lưới DN đã được phát triển rộng khắp trên phạm vi toàn quốc, số lượng cơ sở DN tăng nhanh, tuy nhiên, đang mất cân đối về vùng miền cũng như về cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo so với nhu cầu của xã hội

Trong những năm qua Dệt may luôn góp phần không nhỏ đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc gia, Dệt May luôn là một trong những ngành công nghiệp đứng đầu trong kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Đồng thời ngành công nghiệp này mỗi năm còn góp phần giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động, Dệt May không chỉ góp phần vào sự nghiệp phát triển phồn vinh của đất nước mà còn giảm bớt khoảng cách giữa thành thị và nông thôn. Chính bởi vai trò quan trọng như vậy nên việc đầu tư phát triển nguồn nhân lực trong ngành này hiện nay càng được nhà nước, ngành đầu tư tập trung thực hiện.

Xác định yếu tố con người trong mỗi doanh nghiệp là tiền đề và động lực cho sự phát triển bền vững. Với thực trạng “Thiếu việc làm, thiếu lao động” tại Việt Nam và những nhu cầu, đòi hỏi mới của xã hội cùng với sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt trên trường quốc tế. Đặc biệt với đặc trưng của nghề là tạo ra sản phẩm đa dạng đáp ứng được mọi nhu cầu con người hợp xu hướng thời trang, hợp đặc điểm, văn hóa và truyền thống… thì Dệt May Việt Nam phải tạo ra bước đột phá trong các sản phẩm hàng hóa mà mình. Và hướng đi đúng đắn nhất, vững vàng nhất là đầu tư vào đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng nguồn nhân lực.

Hệ thống các trường, trung tâm đào tạo thuộc quản lý của tập đoàn Dệt may Việt Nam có tại cả miền Bắc và miền Nam nhưng không phải cơ sở đào tạo nào cũng có lợi thế là có doanh nghiệp ở bên cạnh để khai thác, tận dụng các điều kiện như cơ sở vật chất, máy móc thiết bị tiên tiến hiện đại, đội ngũ chuyên gia, thông tin chất lượng và kiểm định chất lượng để xây dựng chương trình, giáo trình và nội dung giảng dạy phù hợp đảm bảo mục tiêu đào tạo “Sinh viên ra trường làm được việc ngay, không phải đào tạo lại” Đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế thị trường các cơ sở đào tạo nghề có nhiều cơ hội để phát triển nhưng cũng là những thách thức lớn đối với những vấn đề liên quan đến chất lượng đào tạo của nhà trường. Điều quan trọng là làm sao để đào tạo được nguồn nhân lực có chất lượng vừa theo kịp, vừa đón đầu, vừa đại trà, vừa mũi nhọn, đáp ứng sự phát triển của nền kinh tế hội nhập, đủ sức và kịp thời chủ động thích ứng với thị trường lao động, thị trường chất xám, nhất là sức lao động có hàm lượng trí thức cao. Đồng thời phải hạn chế tối đa các ảnh hưởng tiêu cực của cơ chế thị trường đối với công tác giáo dục đào tạo nghề. Luận văn: Quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang.

Chất lượng giáo dục đào tạo trong các cơ sở đào tạo nghề nghiệp hiện nay đang là một “điểm nóng” cần nhiều giải pháp, trong đó giải pháp quản lý tốt quá trình đào tạo nghề nhằm nâng cao chất lượng đào tạo học sinh là rất quan trọng. Bởi quá trình đào tạo với các khâu của nó nếu được quan tâm thực hiện một cách đồng bộ mới đem lại chất lượng, hiệu quả.

Trường Cao đẳng nghề Long Biên là cơ sở dạy nghề trực thuộc Tập đoàn Dệt May Việt Nam và có lợi thế là nhà trường bên cạnh doanh nghiệp – Tổng công ty May 10 –CTCP. Nhà trường có nhiều lợi thế để phát triển đào tạo nghề May thời trang nhưng vẫn là cơ sở đào tạo còn non trẻ, quá trình quản lý hoạt động đào tạo nghề còn thiếu đồng bộ từ mục tiêu, nội dung chương trình, đội ngũ nhân lực, phương pháp đào tạo…. nên chất lượng đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu lao động đa dạng của thị trường và các doanh nghiệp may mặc hiện nay.

Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang tại trường Cao đẳng nghề Long Biên trong bối cảnh hiện nay” nhằm phân tích để tìm ra những nguyên nhân của hạn chế trong công tác đào tạo nghề May tại nhà trường và đề xuất một số biện pháp khắc phục góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo nghề tại Trường Cao đẳng nghề Long Biên.

2. Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý quá trình đào tạo nghề may thời trang, đề xuất một số biện pháp tăng cường quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang tại trường Cao đẳng nghề Long Biên nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại trường đáp ứng mục tiêu “Sinh viên ra trường có được việc ngay và làm được việc ngay, không phải đào tạo lại”

3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

  • Quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang.

3.2. Khách thể nghiên cứu

  • Hoạt động đào tạo nghề May thời trang tại trường Cao đẳng nghề Long Biên

4. Phạm vi nghiên cứu

  • Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu công tác quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang tại Khoa May và Thiết kế thời trang trường Cao đẳng nghề Long Biên từ năm 2019 – 2025

5. Câu hỏi nghiên cứu

  • Biện pháp nào để phát huy những ưu điểm và khắc phục hạn chế trong công tác quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang của Trường Cao đẳng nghề Long Biên?

6. Giả thuyết nghiên cứu Luận văn: Quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang.

Công tác quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang của Trường Cao đẳng nghề Long Biên hiện nay còn một số bất cập và hạn chế bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan làm ảnh hưởng không tốt đến chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho Tổng công ty May 10- Công ty Cổ phần nói riêng và cho ngành Dệt may nói riêng.

Nếu phân tích được nguyên nhân của những hạn chế trong chất lượng đào tạo và đề xuất các biện pháp quản lý phù hợp với thực tế cụ thể là: quản lý mục tiêu đào tạo, quản lý nội dung đào tạo, quản lý nguồn lực cho hoạt động đào tạo, quản lý công tác kiểm tra đánh giá trong công tác đào tạo nghề…thì sẽ góp phần nâng cao uy tín của nhà trường và chất lượng đội ngũ lao động kỹ thuật trực tiếp của ngành Dệt may.

7. Nhiệm vụ nghiên cứu

  1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang tại trường Cao đẳng nghề Long Biên
  2. Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang ở trường Cao đẳng nghề Long Biên
  3. Đề xuất các biện pháp quản lý đào tạo nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề May thời trang tại trường Cao đẳng nghề Long Biên.

8. Phương pháp nghiên cứu

8.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

  • Phân tích, tổng hợp các Chủ trương, đường lối, chỉ thị và Nghị quyết của Đảng, các chính sách, pháp luật của Nhà nước, của ngành, của Tập đoàn Dệt may và các tài liệu khoa học liên quan tới vấn đề nghiên cứu
  • So sánh các kết quả nghiên cứu của những công trình sách, tạp chí, luận án, luận văn trong và ngoài nước liên quan tới đề tài Luận văn: Quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang.

8.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Phương pháp điều tra viết, bảng hỏi:Sử dụng ba bộ câu hỏi để điều tra: 01 bộ câu hỏi dành cho học sinh, sinh viên trong nhà trường; 01 bộ câu hỏi dành cho đội ngũ giáo viên (cơ hữu, thình giảng) của nhà trường và 01 bộ dành cho các chuyên gia là đại diện các doanh nghiệp hợp tác đào tạo với nhà trường về các mặt trong công tác đào tạo nghề May thời trang tại nhà trường.

Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn một số cán bộ quản lý, giáo viên, chuyên gia từ các doanh nghiệp, những người có kinh nghiệm và hiểu biết sâu về công tác đào tạo nghề May thời trang để tìm hiểu thực tiễn của nhà trường nhằm làm sáng tỏ hơn nội dung nghiên cứu bằng phương pháp điều tra.

Phương pháp quan sát: Tập trung quan sát công tác quản lý của lãnh đạo và cán bộ quản lý các cấp. Quan sát tình hình giảng dạy của giáo viên có thâm niên và giáo viên mới vào nghề. Quan sát tình hình học tập và rèn luyện của người học để nắm bắt thực tế công tác đào tạo của nhà trường

8.3. Một số phương pháp bổ trợ

  • Phương pháp xử lý kết quả nghiên cứu bằng thống kê toán học, phương pháp ngoại suy, phương pháp so sánh
  • Phương pháp chuyên
  • Phương pháp tổng kết, đánh giá: Căn cứ vào kết quả khảo sát, thu thập được trong quá trình nghiên cứu tác giả xác định thực trạng của nhà trường và đưa ra những nhận định, giải pháp trên cở sở khoa học và những đánh giá của bản thân.

9. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

9.1. Về mặt lý luận

Tổng kết lý luận về công tác quản lý hoạt động đào tạo nghề hiện nay tại trường Cao đẳng nghề Long Biên và chỉ ra những thành công, những hạn chế trong công tác quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang đồng thời trên cơ sở khoa học đưa ra một số phương pháp quản lý hiệu quả cho hoạt động này.

9.2. Về mặt thực tiễn

Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng cho việc quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang tại trường cao đẳng nghề Long Biên nói riêng và công tác quản lý hoạt động đào tạo nghề trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp nói chung.

10. Cấu trúc luận văn Luận văn: Quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. Kết quả nghiên cứu được trình bày trong 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động đào tạo nghề trong trường cao đẳng nghề
  • Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang tại trường Cao đẳng nghề Long Biên từ năm 2019 đến nay
  • Chương 3. Biện pháp quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang ở trường Cao đẳng nghề Long Biên trong giai đoạn hiện nay

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO NGHỀ TRONG TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động đào tạo nghề

1.1.1. Nghiên cứu ngoài nước

Các nước trên thế giới luôn đề cao công tác đào tạo nghề nên học sinh được định hướng nghề nghiệp rất tốt ngay khi học phổ thông. Ở Nhật, Mỹ, Đức… người ta xây dựng các bộ công cụ để kiểm tra giúp phân hóa năng lực, hứng thú nghề nghiệp ở trẻ nhằm có định hướng nghề nghiệp đúng đắn từ sớm. Cho nên, họ giáo dục không chỉ phát triển trí tuệ thuần túy mà còn chú ý định hướng cho học sinh về nghề nghiệp phù hợp với năng lực bản thân, đồng thời trang bị cho học sinh kỹ năng làm việc để thích ứng với xã hội, “Trình độ đào tạo công nhân lành nghề ở các nước Xã hội chủ nghĩa phụ thuộc nhiều vào sự kết hợp đúng đắn giữa trường dạy nghề và cơ sở sản xuất…Nếu thiếu nguyên tắc kết hợp dạy học với lao động thì hệ thống dạy nghề không thể đào tạo được công nhân lành nghề” Từ năm 1969, lần đầu tiên trong lịch sử, trường đại học Cambridge với 700 năm lịch sử đã bước vào con đường “Công ty Đại học”… Và ngày nay, xu thế các trường đại học liên kết với doanh nghiệp ngày cảng nhiều ở Mỹ và các nước Châu Âu. Công ty đại học đang trở thành một xu thế tất yếu, tạo thời cơ phát triển cho trường đại học và xí nghiệp.

Ở Nhật và Mỹ, nhiều trường nghề được thành lập ngay trong các công ty tư nhân để đào tạo nhân lực chính cho công ty đó và có thể đào tạo cho công ty khác theo hợp đồng. Mô hình này có ưu điểm là chất lượng đào tạo cao, người học có năng lực thực hành tốt và có việc làm ngay sau khi tốt nghiệp.

“Ba trong một” là quan điểm được quán triệt trong đào tạo nghề ở Trung Quốc hiện nay: Đào tạo, sản xuất, dịch vụ. Theo đó, các trường dạy nghề phải gắn bó chặt chẽ với các cơ sở sản xuất và dịch vụ góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng đào tạo của nghề.

Nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực cho thị trường thương mại tự do ASEAN năm 2013 và APEC 2030, hệ thống đào tạo nghề ở In- đô-nê-xi-a đã được nghiên cứu và phát triển mạnh. Trong đó, kết hợp đào tạo nghề giữa nhà trường với doanh nghiệp được đặc biệt quan tâm.

Năm 1999, Thái Lan đã nghiên cứu và xây dựng “Hệ thống hợp tác đào tạo nghề” để giải quyết tình trạng bất cập giữa đào tạo nghề và sử dụng lao động, hướng tới phát triển nhân lực kỹ thuật trong tương lai.

1.1.2. Nghiên cứu trong nước Luận văn: Quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang.

Dạy nghề là một phần trong hệ thống giáo dục quốc dân. Dạy nghề nhằm đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Dạy nghề góp phần tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế.

Nhận thức được tầm quan trọng của dạy nghề trong việc đào tạo nguồn nhân lực lao động kỹ thuật trực tiếp phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách phát triển dạy nghề nói chung, chính sách dạy nghề cho các đối tượng, nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho các đối tượng, đặc biệt là các đối tượng khó khăn… có cơ hội học nghề, để tự tạo việc làm, nâng cao mức sống, góp phần vào phát triển kinh tế đất nước và đảm bảo an sinh xã hội. Điều đó được thể hiện trong các văn bản nghị quyết của Đảng, Quốc hội và chính phủ.

  • Cùng với đó nhiều tài liệu giáo trình về quản lý đào tạo nghề đã được biên soạn và phát hành như:

Năm 1999, trường Đào tạo cán bộ công đoàn Hà Nội với đề tài: “Đánh giá thực trạng tay nghề của công nhân Hà Nội”, đề xuất các giải pháp nâng cao tay nghề cho công nhân trong các ngành trọng điểm của Hà Nội.

Năm 2012 với bài viết “Đánh giá một cách khách quan nhất công tác đào tạo nghề đã đạt được những thành công nhất định” Lao động& Xã hội của bộ trưởng Bộ LĐTB&XH[11]. Luận văn: Quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang.

Và nhiều tài liệu khác như: “Cải tiến mục tiêu và nội dung đào tạo nghề” (1990); “Phát triển giáo dục nghề nghiệp đáp ứng quá trình đào tạo nguồn nhân lực “(2011), “Đổi mới công tác quản lý trong các trường đào tạo nghề đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (2015) “Định hướng nghề nghiệp và việc làm” (2024) của Tổng cục Dạy nghề v.v…

Đặc biệt, gần đây vấn đề đào tạo nghề được đặc biệt quan tâm, nhiều luận văn thạc sỹ, tiến sỹ đã đi sâu nghiên cứu và tìm ra những giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề. Có thể kể đến một số công trình có cùng hướng nghiên cứu như:

  • Nguyễn Quang Huy (2018), Biện pháp quản lý đào tạo nghề Sửa chữa, lắp ráp ô tô ở trường Cao đẳng nghề GTVT TWII Hải Phòng – Luận văn thạc sỹ KHGD, Đại học Sư phạm Hà Nội.
  • Đào Hữu Đắc (2021) Biện pháp quản lý đào tạọ nghề công nghệ ô tô ở trường cao đẳng nghề Sông Đà – Luận văn thạc sỹ KHGD, Đại học Sư phạm Hà Nội.
  • Nguyễn Thị Hằng (2023) Quản lý đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu xã hội – Luận án Tiến sỹ Quản lý giáo dục, Trường Đại học Giáo dục.

Tất cả cho chúng ta thấy các đề tài đã đề cập đến hoạt động đào tạo nghề, chất lượng tay nghề, đổi mới chất lượng đào tạo nghề trong những năm qua và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề trong thời gian tới nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Các công trình nghiên cứu khoa học, từ trên những hướng tiếp cận khác nhau, đã cũng đề cập đến những khó khăn, thuận lợi, những nỗ lực và sự chuyển biến tích cực của công tác đào tạo nghề trong những năm qua. Nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và Chính phủ, sự nỗ lực của Bộ LĐTB&XH mà trực tiếp là Tổng cục Dạy nghề, sự nghiệp dạy nghề đã được phục hồi và đang tiếp tục phát triển mạnh, đạt được một số thành tựu đáng khích lệ: Mạng lưới cơ sở dạy nghề từng bước được phát triển theo quy hoạch. Các điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo nghề được cải thiện một bước như: nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên; đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, cơ sở vật chất, trang thiết bị cho dạy và học nghề đã được đầu tư, nâng cấp. Phong trào thi đua dạy tốt học tốt trong toàn ngành đã được đẩy mạnh. Các hoạt động như hội thi tay nghề giỏi các cấp, hội giảng giáo viên dạy nghề, hội thi thiết bị dạy nghề tự làm … đã trở thành hoạt động thường xuyên từ cơ sở dạy nghề đến toàn quốc mang lại hiệu quả thiết thực. Chất lượng và hiệu quả dạy nghề đã có nhiều chuyển biến tích cực tỷ lệ học sinh, sinh viên tốt nghiệp luôn đạt 96%, khoảng 70% học sinh ra trường tìm được việc làm. Học sinh, sinh viên ra trường đáp ứng được nhu cầu của thị truờng lao động.

Kết quả của hoạt động đào tạo tại trường Cao đẳng nghề Long Biên trong những năm qua có những đóng góp đáng kể vào thành tựu chung của toàn ngành song chưa có một nghiên cứu chính thống về mô hình đào tạo đặc trưng này – mô hình đào tạo nhà trường gắn với doanh nghiệp. Chính vì vậy việc nghiên cứu hoạt động quản lý hoạt động đào tạo nghề tại trường Cao đẳng nghề Long Biên không chỉ giúp nhà trường kiện toàn công tác tổ chức quản lý đào tạo nghề mà còn góp phần giúp giáo dục nghề nghiệp có những chuyển biến quan trọng đối với việc cung cấp nguồn nhân lực trực tiếp có năng lực thực hiện công việc đáp ứng yêu cầu chuẩn mực của xã hội trong thời kỳ mới – thời kỳ hội nhập và phát triển.

1.2 Các khái niệm cơ bản về quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang Luận văn: Quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang.

1.2.1 Khái niệm quản lí, quản lí giáo dục

1.2.1.1 Quản lý

Cho đến nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về quản lý, mỗi lĩnh vực lại có những quan niệm và góc nhìn khác nhau.

  • Quản lý là từ Hán Việt được ghép từ từ “Quản” và từ “Lý”

“Quản” là sự trông coi, chăm sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định. “Lý” là sự sửa sang, sắp xếp, làm cho nó phát triển. Như vậy, Quản lý là trông coi, chăm sóc, sửa sang, sắp xếp, làm cho nó phát triển.

Theo quan điểm điều khiển học: Quản lý là chức năng của những hệ có tổ chức, với bản chất khác nhau: sinh học, xã hội hội học, kỹ thuật… nó bảo toàn cấu trúc các hệ, duy trì chế độ hoạt động. Quản lý là một tác động hợp quy luật khách quan, làm cho hệ vận động, vận hành và phát triển.

Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống: Quản lý là phương thức tác động có chủ định của chủ thể quản lý lên hệ thống, bao gồm hệ các quy tắc, các ràng buộc về hành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống nhằm duy trì tình trội hợp lý của cơ cấu và đưa hệ thống đạt tới mục tiêu”.

Khái niệm quản lý được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan niệm theo các cách tiếp cận khác nhau.

  • Theo Mary Parker Follett “Quản lý là nghệ thuật đạt được mục tiêu thông qua nỗ lực của người khác”[12]
  • Theo F.Taylor: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”. [12]

Tác giả Trần Kiều cho rằng: “Quản lý là hoạt động có sự tác động qua lại giữa hệ thống và môi trường, do đó quản lý được hiểu là đảm bảo hoạt động của hệ thống trong sự biến đổi liên tục của hệ thống và môi trường, là chuyển hệ thống tới trạng thái mới thích ứng với những hoàn cảnh mới” [33] Luận văn: Quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang.

Tác giả Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc lại cho rằng: “Quản lý là thiết chế duy trì một môi trường mà trong đó các tác nhân làm việc với nhau theo các nhóm, có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã đề ra”[12]

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo, “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế, bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các giải pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng”[4].

Xét theo chức năng quản lý, hoạt động quản lý thường được định nghĩa: Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra.

Các chức năng trên luôn được chủ thể quản lý liên tiếp thực hiện, đan xen vào nhau, phối hợp với nhau và bổ sung cho nhau tạo thành một quá trình quản lý. Để thực hiện các chức năng quản lý thì thông tin đóng một vai trò rất quan trọng, nó được coi như “mạch máu” của hoạt động quản lý. Mối quan hệ này được thể hiện bằng sơ đồ sau.

  • Sơ đồ 1.1. Mối quan hệ giữa các chức năng Quản lý

Vậy quản lý là sự tác động liên tục, có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến.

1.2.1.2 Quản lý giáo dục

Nếu xem quản lý là một thuộc tính bất biến, nội tại của mọi hoạt động xã hội thì quản lý giáo dục cũng là một thuộc tính tất yếu của mọi hoạt động giáo dục có mục đích Luận văn: Quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang.

Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý giáo dục như: theo tác giả M.I. Kônđacốp: “ Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ Bộ tới trường) nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật của quả trình giáo dục, sự phát triển thể lực và tâm lý của trẻ em”[13, tr.10]

Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục nói chung là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục và thế hệ trẻ và đối với từng học sinh” [22, tr.34]

Tác giả Trần Kiểm quan niệm Quản lý giáo dục được phân chia thành 2 cấp: vĩ mô và vi mô.

  • Đối với cấp vĩ mô: “QLGD được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục”.
  • Đối với cấp vi mô: “QLGD được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường.”

Khái niệm về quản lý giáo dục cho tới nay có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng cơ bản đều thống nhất với nhau về nội dung và bản chất. PGS TS Đặng Quốc Bảo thì cho rằng: “QLGD theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội.” [3, tr.3]

Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người. Tuy nhiên vẫn là giáo dục thế hệ trẻ cho nên quản lý giáo dục đựơc hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Quản lý giáo dục bao gồm: Chủ thể quản lý, khách thể quản lý và quan hệ quản lý.

  • Chủ thể quản lý: Bộ máy quản lý giáo dục các cấp
  • Khách thể quản lý: Hệ thống giáo dục quốc dân, các trường học
  • Quan hệ quản lý: Đó là những mối quan hệ giữa người học và người dạy; quan hệ giữa người quản lý và người dạy, người học; quan hệ người dạy- người học… Các mối quan hệ đó có ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo, chất lượng hoạt động của nhà trường, của toàn thể hệ thống giáo dục

Nội dung quản lý giáo dục bao gồm một số vấn đề cơ bản: Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển giáo dục; ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, tiêu chuẩn cơ sở vật chất, thiết bị trường học, tổ chức bộ máy quản lý giáo dục; tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên, huy động và quản lý sử dụng các nguồn lực…..

Như vậy có thể hiểu: Quản lý giáo dục chính là quá trình tác động có định hướng của ngành giáo dục, nhà quản lý giáo dục trong việc vận dụng nguyên lý, phương pháp chung nhất của khoa học nhằm đạt được những mục tiêu đề ra.

1.2.1.3. Quản lý nhà trường Luận văn: Quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang.

Trường học là một bộ phận của xã hội, là tổ chức giáo dục cơ sở của hệ thống giáo dục quốc dân. Hoạt động dạy và học là hoạt động trung tâm của nhà trường, mọi hoạt động phức tạp, đa dạng khác đều hướng vào hoạt dộng trung tâm này. Do vậy quản lý nhà trường thực chất là “quản lý hoạt động dạy – học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần tiến tới mục tiêu giáo dục” [34, tr.35]

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Trường học là một thiết chế xã hội trong đó diễn ra quá trình đào tạo giáo dục với sự hoạt động tương tác của hai nhân tố Thầy – Trò. Trường học là một bộ phận của cộng đồng trong guồng máy của hệ thống giáo dục quốc dân, nó là đơn vị cơ sở” [4, tr.3]

Quản lý nhà trường chính là những công việc của nhà trường mà người cán bộ quản lý thực hiện những chức năng quản lý để thực hiện các nhiệm vụ, công tác của mình. Đó là những hoạt động có ý thức, có kế hoạch của chủ thể quản lý nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà trường mà trọng tâm là quá trình dạy và học.

Bản chất của công tác quản lý nhà trường là quá trình chỉ huy, điều khiển sự vận động của các thành tố, đặc biệt là mối quan hệ giữa các thành tố. Mối quan hệ đó là do quá trình sư phạm trong nhà trường quy định.

1.2.2. Khái niệm nghề, đào tạo nghề Luận văn: Quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang.

1.2.2.1 Nghề

Khái niệm nghề theo quan niệm ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhau nhất định.

  • Cho đến nay thuật ngữ “nghề” được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau.
  • Khái niệm nghề ở Nga được định nghĩa: ” Là một loại hoạt động lao động đòi hỏi có sự đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự sinh tồn”
  • Khái niệm nghề ở Pháp: ” Là một loại lao động có thói quen về kỹ năng, kỹ xảo của một người để từ đó tìm được phương tiện sống”.
  • Khái niệm nghề ở Anh được định nghĩa: “Là công việc chuyên môn đòi hỏi một sự đào tạo trong khoa học học nghệ thuật”.
  • Khái niệm nghề ở Đức được định nghĩa:” Là hoạt động cần thiết cho xã hội ở một lĩnh vực lao động nhất định đòi hỏi phải được đào tạo ở trình độ nào đó”.

Như vậy nghề là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử rất phổ biến gắn chặt với sự phân công lao động, với tiến bộ khoa học kỹ thuật và văn minh nhân loại. Bởi vậy được nhiều ngành khoa học khác nhau nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau.

Ở Việt nam, nhiều định nghĩa nghề được đưa ra song chưa được thống nhất, chẳng hạn có định nghĩa được nêu: “Nghề là một tập hợp lao động do sự phân công lao động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được. Nghề mang tính tương đối, nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất và nhu cầu xã hội”.

Mặc dù khái niệm nghề được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau song chúng ta có thể nhận thấy một số nét đặc trưng nhất định sau:

  • Đó là hoạt động, là công việc về lao động của con người được lặp đi lặp lại.
  • Là sự phân công lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội.
  • Là phương tiện để sinh sống.
  • Là lao động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi trong xã hội đòi hỏi phải có một quá trình đào tạo nhất định.

Hiện nay xu thế phát triển của nghề chịu tác động mạnh mẽ của tác động Khoa học kỹ thuật và văn minh nhân loại nói chung, cũng như chiến lược phát triển KT-XH của mỗi quốc gia nói riêng. Bởi vậy phạm trù “Nghề” biến đổi mạnh mẽ và gắn chặt với xu hướng phát triển KT-XH của đất nước. Luận văn: Quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang.

1.2.2.2. Đào tạo nghề

Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam. “Đào tạo là quá trình tác động đến con người nhằm làm cho con người đó lĩnh hội và nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người”.

Theo tác giả Nguyễn Minh Đường: “Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ… để hoàn thiện nhân cách cho mỗi các nhân tạo điều kiện cho họ có thể vào đời hành nghề một cách năng xuất và hiệu quả”.

Như vậy có thể hiểu đào tạo là quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp đồng thời giáo dục phẩm chất đạo đức, thái độ cho học sinh và thanh niên để họ có thể trở thành người công dân, người lao động có chuyên môn và nghề nghiệp nhất định nhằm thỏa mãn nhu cầu tồn tại và nhu cầu phát triển của mỗi cá nhân, đáp ứng nhu cầu nhân lực của xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định.

Đào tạo nghề: Tại Điều 3 trong Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2024, đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp. Hay nói theo cách khác, đào tạo nghề là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức đến người học nghề để hình thành và phát triển một cách có hệ thống những kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, trong đó có nhu cầu quốc gia, nhu cầu doanh nghiệp và nhu cầu bản thân người học nghề.

Đặc trưng của đào tạo nghề là mọi đối tượng trong xã hội đều được tham gia vào hoạt động đào tạo nghề không phân biệt giới tính, tuổi tác, trình độ, sức khỏe…; Đào tạo nghề phải gắn với giải quyết việc làm cho người lao động; đào tạo nghề hướng tới bước xoá bỏ sự cách biệt cứng nhắc giữa khu vực nông thôn và khu vực thành thị, giữa lao động chân tay và lao động trí óc; Sự liên kết giữa các bên tham gia ở tất cả các khâu của đào tạo nghề: từ khâu tuyển sinh đầu vào đến quá trình đào tạo và đầu ra phải có sự phối hợp ăn ý giữa chính quyền – đại diện quản lý nhà nước, doanh nghiệp, người lao động.

Đào tạo nghề cho người lao động là giáo dục kỹ thuật sản xuất cho người lao động để họ nắm vững nghề nghiệp, chuyên môn bao gồm đào tạo nghề mới, đào tạo nghề bổ sung, đào tạo lại nghề.

Xác định rõ ranh giới giữa đào tạo, bồi dưỡng và đào tạo lại nghề hiện nay là một việc phức tạp, khó khăn. Dựa vào lý thuyết qui luật số đông, các khái niệm trên được phân biệt theo các tiêu chí sau:

  • Nội dung: Nội dung học có liên quan tới nghề chuyên môn mới hay cũ.
  • Mục đích: Để tiếp tục làm nghề cũ hay đổi nghề.
  • Lần đào tạo: Lần đầu tiên hay tiếp nối. Văn bằng: Được cấp bằng, chứng chỉ hay không được cấp sau khi học.

Bảng 1.1 Tiêu chí phân loại đào tạo, bồi dưỡng, đào tạo lại.

1.2.2.3. Quản lí đào tạo nghề Luận văn: Quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang.

Quản lý đào tạo nghề là tổ chức, điều khiển và theo dõi quá trình đào tạo người học nghề trở thành người có năng lực thực hiện công việc theo mục tiêu đào tạo nghề

Quản lý đào tạo nghề có hai chức năng cơ bản:

  • Duy trì, ổn định quá trình đào tạo nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo đạt được các chuẩn mực đã xác định trước.
  • Đổi mới, phát triển quá trình đào tạo, đón đầu xu hướng phát triển kinh tế – xã hội.

Để thực hiện hai chức năng trên hoạt động quản lý đào tạo nghề cần:

  • Phân tích thông tin, nắm bắt được xu hướng phát triển, xác lập chính sách, mục tiêu chiến lược giáo dục – đào tạo.
  • Xác lập chuẩn mực, quy trình theo mục tiêu, tạo điều kiện và duy trì các cơ chế thực hiện các chuẩn mực đã đề ra.
  • Đưa hoạt động đào tạo vào kế hoạch với mục tiêu, biện pháp, bước đi rõ ràng
  • Hình thành và phát triển tổ chức tương xứng với sứ mệnh, phù hợp với nhiệm vụ chính trị và thực hiện một quy trình đào tạo thích ứng với khả năng nguồn nhân lực của mình.
  • Thanh tra, kiểm tra các hoạt động đào tạo nghề

1.2.2.4 Nghề May thời trang

Nghề May thời trang là nghề tạo ra sản phẩm may mặc nhằm thỏa mãn đáp ứng nhu cầu về may mặc, thời trang của con người với những sản phẩm đa dạng được thực hiện thông qua dây chuyền sản xuất công nghiệp hiện đại vừa đảm bảo về thẩm mỹ vừa đảm bảo vể chất lượng sản xuất. Sản phẩm của nghề May đáp ứng nhu cầu đa dạng của mọi con người, phù hợp với tính đa dạng của thời trang, của hiện đại, của truyền thống, dân tộc…

Đặc thù của nghề May thời trang là người lao động làm việc trong môi trường với nhiều áp lực với nhiều người, nhiều máy móc, thiết bị và chất liệu khác nhau… do vậy người lao động cần có khả năng thích nghi, có tinh thần hợp tác, làm việc nhóm cao. Ngành này chú trọng tới năng xuất và chất lượng nên áp lực của người lao động làm trong lĩnh vực này rất cao, đồng thời nghề yêu cầu tính thẩm mỹ, hiện đại và theo xu hướng nên người lao động trong nghề này cũng cần sự sáng tạo và linh hoạt rất tốt.

Để làm rõ thực trạng quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang tại trường cao đẳng nghề Long Biên, từ đó đề xuất những biện pháp quản lý cho thời gian tới, tác giả sẽ lấy những yêu cầu trên làm cơ sở khảo sát và đánh giá về quản lý đào tạo.

1.3 Các yếu tố của hoạt động đào tạo nghề Luận văn: Quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang.

1.3.1. Mục tiêu của đào tạo nghề

Điều 4 Luật Gíao dục nghề nghiệp có nêu rõ: Mục tiêu chung của giáo dục nghề nghiệp là nhằm đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, có năng lực hành nghề tương ứng với trình độ đào tạo; có đạo đức; sức khỏe; có trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trường làm việc trong bối cảnh hội nhập quốc tế; bảo đảm nâng cao năng suất, chất lượng lao động; tạo điều kiện cho người học sau khi hoàn thành khóa học có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn. Trong đó, mục tiêu đào tạo trình độ cao đẳng là để người học có năng lực thực hiện được các công việc của trình độ cao đẳng và giải quyết được các công việc có tính phức tạp của chuyên ngành hoặc nghề; có khả năng sáng tạo, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ hiện đại vào công việc, hướng dẫn và giám sát được người khác trong nhóm thực hiện công việc.

Quản lý mục tiêu đào tạo nghề là quản lý việc xây dựng và thực hiện mục tiêu của tổ chức trong quá trình đào tạo nghề, là quản lý một hệ thống những yêu cầu lâu dài và trước mắt của xã hội đối với sự phát triển nhân cách của người được đào tạo, đối với những phẩm chất và năng lực cần có của người học sau từng giai đoạn học tập

Quản lý việc xây dựng mục tiêu đào tạo thực chất là xây dựng bản kế hoạch đào tạo theo chu trình:

  • Chuẩn bị: Thu thập thông tin về ngành nghề
  • Lập kế hoạch: Kế hoạch nhân lực, vật lực, tài lực
  • Tổ chức thực hiện: Quản lý tiến độ thực hiện mục tiêu
  • Chỉ đạo: Đôn đốc, giám sát phối hợp với các đơn vị
  • Kiểm tra: Kiểm tra từng phần, kiểm tra tổng thể

1.3.2. Nội dung của đào tạo nghề Luận văn: Quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang.

Nội dung đào tạo là tập hợp hệ thống các kiến thức về văn hóa xã hội, khoa học công nghệ, các chuẩn mực thái độ nhân cách, các kỹ năng lao động chung và chuyên biệt cần thiết để hình thành những phẩm chất và năng lực nghề nghiệp phù hợp với một loại hình lao động cụ thể. Nội dung đào tạo cơ bản được phản ánh trong chương trình khung. Trong giáo dục nghề nghiệp hệ Cao đẳng nghề cấu trúc nội dung đào tạo của chương trình thường là: Các môn học chung; Văn hóa phổ thông; Kỹ thuật cơ sở; Chuyên môn (lý thuyết chuyên môn+ thực hành chuyên môn); Thực tập sản xuất+ thực tập tốt nghiệp

Nội dung đào tạo cung cấp cho người học hệ thống những kiến thức, kỹ năng, thái độ và năng lực thực hiện những công việc trong phạm vi đào tạo.

Quản lý nội dung chương trình đào tạo nghề: Là quản lý việc xây dựng nội dung đào tạo, kế hoạch đào tạo và nội dung chương trình giảng dạy, quản lý quá trình đào tạo thực tế của giáo viên và học sinh sao cho kế hoạch, nội dung, chương trình giảng dạy được thực hiện đầy đủ và đảm bảo về thời gian, quán triệt được các yêu cầu của mục tiêu đào tạo.

Khi xác định nội dung đào tạo cho một nghề cụ thể phải lựa chọn nội dung phù hợp với mục tiêu đề ra, phát huy được tài nguyên, tiềm năng mà con người đang có cần khai thác, phù hợp với phương hướng và chính sách phát triển Kinh tế xã hội của quốc gia, của địa phương, phản ánh và tiếp thu được tiến bộ khoa học kỹ thuật.

Để thích ứng với nền kinh tế thị trường, nội dung chương trình đào tạo cần xây dựng theo hướng đào tạo Công nhân kỹ thuật có diện nghề rộng, kiến thức hiện đại, sáng tạo và linh hoạt trong công việc sản xuất và kinh doanh, dịch vụ.

1.3.3. Phương pháp và hình thức đào tạo nghề

Điều 36 luật giáo dục nghề nghiệp nêu: “Phương pháp đào tạo trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng phải kết hợp rèn luyện năng lực thực hành với trang bị kiến thức chuyên môn; phát huy tính tích cực, tự giác, năng động, khả năng làm việc độc lập, tổ chức làm việc theo nhóm, sử dụng phần mềm dạy học và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, truyền thông trong dạy và học”

Phương pháp đào tạo nghề là tổng hợp cách thức hoạt động của thầy và trò nhằm thực hiện một cách tối ưu mục đích và nhiệm vụ của đào tạo nghề. Phương pháp đào tạo nghề có mối quan hệ mật thiết với các hình thức đào tạo nghề

Hình thức đào tạo là cơ sở để xây dựng kế hoạch đào tạo, đồng thời cũng là cơ sở để tính toán hiệu quả kinh tế của đào tạo. Tùy theo yêu cầu và điều kiện thực tế có thể áp dụng hình thức đào tạo này hay hình thức đào tạo khác. Những hình thức đào tạo nghề đang được áp dụng chủ yếu hiện nay là: Luận văn: Quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang.

Kèm cặp trong sản xuất: Là hình thức đào tạo trực tiếp tại nơi làm việc, chủ yếu là thực hành ngay trong quá trình sản xuất do xí nghiệp tổ chức. Kèm cặp trong sản xuất được tiến hành dưới hai hình thức: kèm cặp theo cá nhân và kèm cặp theo tổ chức, đội sản xuất.

Các lớp cạnh doanh nghiệp: Là các lớp do doanh nghiệp tổ chức nhằm đào tạo riêng cho mình hoặc cho các doanh nghiệp cùng ngành, cùng lĩnh vực. Chủ yếu đào tạo nghề cho công nhân mới được tuyển dụng, đào tạo lại nghề, nâng cao tay nghề, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật mới, được giảng tập trung do các kỹ sư, cán bộ kỹ thuật phụ trách, phần thực hành được tiến hành ở các phân xưởng do các kỹ sư hoặc công nhân lành nghề hướng dẫn.

Các trường chính qui: Đáp ứng yêu cầu sản xuất ngày càng phát triển trên cơ sở kỹ thuật hiện đại, các Bộ hoặc Ngành thường tổ chức các trường dạy nghề tập trung, qui mô lớn, đào tạo công nhân có trình độ cao, chủ yếu là đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật, kỹ thuật viên có trình độ cao. Thời gian đào tạo từ hai đến bốn năm tùy theo nghề đào tạo, ra trường được cấp bằng nghề. Khi tổ chức các trường dạy nghề cần phải có bộ máy quản lý, đội ngũ giáo viên chuyên trách và cơ sở vật chất riêng cho đào tạo. Để nâng cao chất lượng đào tạo các trường cần phải đảm bảo các điều kiện sau đây:

  • Phải có đội ngũ giáo viên đủ khả năng chuyên môn và kinh nghiệm giảng dạy.
  • Phải được trang bị máy móc, thiết bị phục vụ cho giảng dạy và học tập, các phòng thí nghiệm, xưởng trường. Nhà trường cần tổ chức các phân xưởng sản xuất vừa phục vụ cho giảng dạy vừa sản xuất của cải vật chất cho xã hội. Nếu không có điều kiện tổ chức xưởng sản xuất thì nên để gần các doanh nghiệp lớn của ngành, tạo điều kiện thuận lợi cho dạy và học.

Các trung tâm dạy nghề: Đây là loại hình đào tạo ngắn hạn, thường dưới một năm. Chủ yếu là đào tạo phổ cập nghề cho thanh niên và người lao động

1.3.4. Chất lượng và nâng cao chất lượng đào tạo nghề Luận văn: Quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang.

Chất lượng: Có rất nhiều định nghĩa và cách lý giải khác nhau về khái niệm chất lượng. Có ý kiến cho rằng chất lượng là sự xuất chúng, tuyệt hảo, là giá trị bằng tiền, là sự biến đổi về chất vầ là sự phù hợp với mục tiêu. Các quan niệm về chất lượng có thể khái quát qua 5 định nghĩa sau:

  • Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông thì “Chất lượng là tổng thể những tính chất thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc)… làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật khác”
  • Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng: “Chất lượng là cái làm nên phẩm chất, giá trị, sự vật hoặc cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác sự vật kia”
  • Theo Oxford Poker Dictionary: “Chất lượng là mức hoàn thiện, là đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt đối, dấu hiện đặc thù, các dữ liệu, các thông số cơ bản”
  • Theo tiêu chuẩn Pháp – NFX50-109: “Chất lượng là tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nào đó nhằm thỏa mãn nhu cầu người sử dụng”.
  • Theo TCVN–ISO8402 : “Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể tạo cho thực thể đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn.”
  • Theo BS5750 – Viện chất lượng Anh: “Chất lượng là tổng hòa những đặc trưng của sản phẩm hay dịch vụ tạo cho nó khả năng thỏa mãn nhu cầu đã nêu hoặc tiềm ẩn”

Như vậy: Chất lượng là một khái niệm động nhiều chiều và khó có thể định nghĩa nó một cách chính xác. Tuy vậy ta có thể hiểu chung khái niệm chất lượng phản ánh bản chất của sự vật và dùng để so sánh sự vật này với sự vật khác.

  • Chất lượng đào tạo nghề Luận văn: Quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang.

Theo khái niệm truyền thống, một sản phẩm có chất lượng là sản phẩm được làm ra một cách hoàn thiện, bằng các vật liệu quý hiếm và đắt tiền. Nó nổi tiếng và tôn vinh thêm cho người sử dụng nó.

Còn nếu để xét chất lượng về một khóa học nghề cụ thể thì chất lượng sẽ được xem xét trên góc độ là năng lực thực hiện công việc của con người sau quá trình đào tạo. Theo đó, chất lượng đào tạo nghề là để chỉ chất lượng của người lao động được đào tạo trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp, theo mục tiêu và chương trình đào tạo xác định trong các lĩnh vực ngành nghề khác nhau, biểu hiện một cách tổng hợp nhất ở mức độ chấp nhận của thị trường lao động của xã hội đối với kết quả đào tạo. Đồng thời chất lượng đào tạo nghề còn phản ánh cả kết quả đào tạo của cơ sở đào tạo nghề và hệ thống đào tạo nghề.

Chất lượng đào tạo nghề không được xem ở khâu cuối cùng, ở kết quả của cùng của quá trình đào tạo. Theo lý thuyết điều khiển học nếu xem xét chất lượng đào tạo là “đầu ra” thì “đầu ra” không tách khỏi được “đầu vào” mà nó nằm trong một hệ thống với khâu giữa là quá trình đào tạo (hoạt động dạy và học) của thầy và trò.

Chất lượng đào tạo liên quan chặt chẽ tới hiệu quả đào tạo, nói đến hiệu quả đào tạo là nói tới những mục tiêu đã đạt được ở mức độ như thế nào, sự đáp ứng kịp thời các yêu cầu của nhà trường và sự chi phí tiền của, sức lực, thời gian sao cho ít nhất nhưng mang hiệu quả nhất. Chất lượng đào tạo có thể xem như giá trị sản phẩm mà quá trình dạy học mang lại lợi ích cho xã hội, nhà trường, gia đình và học sinh.

Chất lượng đào tạo nghề chịu tác động bởi rất nhiều khâu nhưng trong đó có các khâu quan trọng nhất đó là:

  • Quản lý mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp đào tạo nghề
  • Những vấn đề quản lý, cơ chế quản lý, các quy chế, cách thức kiểm tra, đánh giá chất lượng đào tạo nghề.
  • Đội ngũ giáo viên, Cán bộ Quản lý dạy nghề
  • Tập thể học sinh học nghề
  • Cơ sở vật chất kỹ thuật, các nguồn lực và tài chính đào tạo nghề
  • Chế độ sử dụng và đãi ngộ đối với người được đào tạo nghề

Mức độ tác động của các khâu trên không giống nhau. Vì vậy để nâng cao chất lượng đào tạo nghề cần phải tìm các biện pháp quản lý tốt trong các khâu đó.

  • Nâng cao chất lượng đào tạo

Nâng cao chất lượng đào tạo là sự cải tiến có tác động vào các khâu trong quá trình đào tạo nhằm thu được hiệu quả giáo dục và đào tạo cao nhất. Như vậy nâng cao chất lượng đào tạo nghề chính là sự cải tiến hệ thống tổ hợp các biện pháp để tăng hiệu quả, hiệu suất của mọi khâu trong quá trình đào tạo nhằm đạt kết quả đào tạo cao nhất.

Nâng cao chất lượng đào tạo đòi hỏi cải tiến liên tục ở mọi khâu, mọi công đoạn, mọi thời gian đào tạo có liên quan tới người dạy, người học, đội ngũ cán bộ quản lý, nhân viên phục vụ, cơ sở vật chất…

1.4 Quản lý hoạt động đào tạo nghề Luận văn: Quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang.

1.4.1. Kế hoạch hóa đào tạo nghề

Kế hoạch hóa trong công tác quản lý giữ vai trò vô cùng quan trọng để đưa tổ chức đi đúng hướng và đạt hiệu quả. Đào tạo nghề là hoạt động nhằm tạo ra nguồn lao động kỹ thuật có kiến thức, trình độ tay nghề và thái độ làm việc đáo ứng được đòi hỏi của doanh nghiệp, của xã hội. Vì vậy, kế hoạch hóa trong đào tạo nghề cần phải thực hiện trên căn cứ cơ sở của cả người học, người sử dụng lao động và xã hội, hay nói cách khác cần phải xây dựng trên nhu cầu người học, nhu cầu doanh nghiệp và nhu cầu vùng miền, địa phương. Xác định nhu cầu đào tạo là nội dung quan trọng đầu tiên trong hoạt động đào tạo. Để xác định được nhu cầu đào tạo thì chúng ta phải xác định được: ai cần được đào tạo, số lượng là bao nhiêu, thuộc lĩnh vực, ngành nghề gì, kỹ năng nào cần được đào tạo ở từng lĩnh vực, ngành nghề đó và thời gian đào tạo là bao lâu. Thông qua qua đó để lập kế hoạch đào tạo cụ thể cho cơ sở dạy nghề của mình.

Cần phải xác định rõ nhiệm vụ của đào tạo nghề là cầu nối cho giới trẻ với doanh nghiệp với xã hội đồng thời là phương tiện để người học, doanh nghiệp, xã hội đi tới thỏa mãn nhu cầu của họ.

  • Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ trong công tác lập kế hoạch dạy nghề

Hiện nay, công tác kế hoạch hóa ở các cơ sở dạy nghề đang được thực hiện chủ yếu dựa trên những chỉ tiêu bên trên áp xuống hoặc dựa trên điều kiện thực tế về cơ sở vật chất, nguồn lực, điều kiện của Cơ sở dạy nghề, điều này hoàn toàn đi ngược lại với những yêu cầu và đòi hỏi trong chất lượng của đào tạo nghề dẫn đến tình trạng thừa lao động mà vẫn thiếu lao động. Bởi có những ngành cần thì không có lao động và ngược lại hoặc có lao động nhưng chất lượng không đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp, của xã hội.

Bởi vậy, để thay đổi toàn diện chất lượng của giáo dục nghề nghiệp, hệ thống các Cơ sở dạy nghề cần có cái nhìn đúng đắn và khắt khe trong khâu lập kế hoạch đào tạo của mình.

1.4.2. Tổ chức triển khai kế hoạch đào tạo nghề Luận văn: Quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang.

Tổ chức triển khai kế hoạch đào tạo là việc triển khai quản lý đào tạo theo chương trình và quy chế đào tạo hiện hành thông qua kế hoạch đào tạo học kỳ, năm học và khóa học đã duyệt.

  • Nguyên tắc chung khi tổ chức đào tạo là;
  • Triển khai đúng chương trình và kế hoạch khóa học đã phê duyệt;
  • Thực hiện đúng quy chế đào tạo hiện hành;
  • Không tự điều chỉnh, sửa đổi, vận dụng sai quy định. Trong trường hợp cần thiết phải có ý kiến phê duyệt của Ban giám hiệu.
  • Đảm bảo lưu trữ đầy đủ, an toàn, tra cứu nhanh các tài liệu khi cần tìm

Nội dung của tổ chức đào tạo bao gồm: Tổ chức bộ máy, tổ chức dạy học, tổ chức học và tổ chức kiểm tra, đánh giá

  • Thực chất của tổ chức dạy học là hàng loạt các công tác liên quan đến giáo viên cho từng môn học/ module, hình thức đào tạo cho đến việc kiểm tra tiến trình dạy học và đánh giá học sinh của giáo viên mỗi môn học/module
  • Tổ chức học là những phần việc liên quan đến học sinh như: học tập chính trị đầu khóa, phổ biến đầy đủ quy chế, chương trình học, quyền và nghĩa vụ của học sinh, phân lớp, quản lý học sinh, tổ chức các hoạt động của học sinh… trong cả khóa đào tạo Luận văn: Quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang.
  • Tổ chức đánh giá bao gồm cả kết quả học tập và kết quả rèn luyện phải được thực hiện thường xuyên và theo đúng quy chế hiện hành. Đánh giá kết quả học tập phải được thực hiện theo từng phần trên cơ sở điểm quá trình và điểm thu. Khi tổ chức thi, kiểm tra cần lựa chọn hình thức, nội dung phù hợp nhằm đảm bảo thực hiện được các mục tiêu đã đề ra

Việc thực hiện tốt quy trình đào tạo là yêu cầu quan trọng để nâng cao chất lượng đào tạo. Đặc biệt là công tác kiểm tra quá trình dạy của giáo viên và quá trình học của học sinh và tổ chức việc kiểm tra đánh giá kết qủa học tập và rèn luyện của học sinh

Để đáp ứng được yêu cầu và đào tạo nghề trong bối cảnh hiện nay, yếu tố cần thiết trong công tác tổ chức đào tạo luôn phải gắn bó chặt chẽ với quá trình đào tạo của nhà trường đó là sự tham gia của doanh nghiệp trong quá trình đào tạo

1.4.3 Chỉ đạo thực hiện quản lý hoạt động đào tạo nghề

Phát triển dạy nghề là trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng, Chính quyền, của cả hệ thống chính trị, của người sử dụng lao động và toàn xã hội; Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong đầu tư cho dạy nghề, đồng thời huy động mọi nguồn lực xã hội, sư tham gia của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội cho phát triển dạy nghề. Như vậy, việc chỉ đạo trong hoạt động quản lý hệ thống giáo dục nghề nghiệp và hoạt động đào tạo nghề tại các trường không phải trách nhiệm riêng của cơ sở, của lãnh đạo, giáo viên trong cơ sở dạy nghề mà còn có sự tham gia của toàn bộ hệ thống giáo dục nghề nghiệp và các cơ quan tổ chức có liên quan, đặc biệt trong đó cần lưu tâm đến trách nhiệm của doanh nghiệp trong hoạt động dạy nghề

Hiện nay sự tham gia của doanh nghiệp vào hoạt động dạy nghề được thực hiện qua những mô hình và hình thức tham gia khác nhau. Cụ thể là:

  • Các cơ sở Dạy nghề thuộc doanh nghiệp (dưới sự quản lý của doanh nghiệp nhà nước, của doanh nghiệp tư nhân hoặc của các hiệp hội nghề nghiệp).
  • Đào tạo nghề hợp tác (kép), kết hợp đào tạo thực hành tại nơi làm việc trong doanh nghiệp với đào tạo lý thuyết các cơ sở Dạy nghề.
  • Các chương trình đào tạo nghề mang tính thương mại được cung cấp, hiểu và thực hiện như một hình thức kinh doanh.
  • Các hình thức tham gia khác của doanh nghiệp vào việc xây dựng chính sách, xây dựng tiêu chuẩn, tổ chức đánh giá, v.v…

Với mỗi mô hình và hình thức tham gia khác nhau của doanh nghiệp vào hoạt động đào tạo nghề của các cơ sở giáo dục thì mức độ và hình thức chỉ đạo của doanh nghiệp trong hoạt động đào tạo nghề lại có những đặc trưng riêng và giáo dục dạy nghề cần phải điều chỉnh theo hướng tích cực nhất để thu hút tối đa sự quan tâm, đầu tư của doanh nghiệp vào hoạt động của mình nhằm đưa chất lượng nguồn nhân lực được đào tạo đáp ứng tốt nhất nhu cầu của doanh nghiệp, xã hội.

1.4.4. Kiểm tra đánh giá kết quả đào tạo nghề Luận văn: Quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang.

Kiểm tra đánh giá kết quả đào tạo nghề là khâu quan trọng trong quá trình dạy và học nghề. Kiểm tra đánh giá có quan hệ hữu cơ với quá trình đào tạo nghề. Kiểm tra – đánh giá là quá trình thu thập và xử lý thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của học sinh về tác động và nguyên nhân của tình hình đó, nhằm tạo cơ sở cho những quyết định của giáo viên và nhà trường, cho bản thân học sinh để học sinh học tập ngày một tiến bộ hơn. Phương tiện và hình thức quan trọng của đánh giá là kiểm tra.

Giáo dục nghề nghiệp là hình thức giáo dục được thực hiện với sự tham gia không chỉ riêng của học sinh, giáo viên, nhà trường mà đó còn là sự tham gia của doanh nghiệp của xã hội, bởi vậy kiểm tra và đánh giá trong dạy nghề không chỉ được thực hiện trong nhà trường mà còn được thực hiện trong doanh nghiệp và bởi các chuyên gia có tay nghề, có trình độ cao trong doanh nghiệp đánh giá.

Hiện nay hệ thống kiểm tra đánh giá của giáo dục nghề nghiệp vẫn áp dụng quy chế 14 ban hành theo quyết định số 14/2017 của Bộ Trưởng Bộ Lao động thương binh xã hội về quy chế kiểm tra, thi và tốt nghiệp đối với hệ thống giáo dục dạy nghề. Theo đó, từ trước năm 2025, người học được đánh giá thông qua các bài kiểm tra, thi trong quá trình học và bài thi tốt nghiệp cuối khóa. Kết thúc khóa học người học được đánh giá ở các mức độ: xuất sắc, giỏi, khá, trung bình khá và trung bình và được cấp bằng cao đẳng nghề, trung cấp nghề hoặc chứng chỉ sơ cấp nghề. Từ tháng 7 năm 2025 đến nay với việc Luật giáo dục nghề nghiệp chính thức có hiệu lực thì người học hoàn thành xong chương trình đào tạo cao đẳng nghề được cấp bằng: cử nhân thực hành nghề. Theo đó, việc tham gia của doanh nghiệp trong hoạt động kiểm tra giá không được quy định rõ ràng và có tính bắt buộc, nên thực trạng hiện nay là đã có cơ sở dạy nghề làm rất tốt việc thu hút doanh nghiệp tham gia vào quá trình kiểm tra đánh giá kết quả đào tạo nghề nhưng ngược lại cũng còn nhiều cơ sở hầu như các hoạt động đào tạo đều đang khép kín hoặc có rất ít sự tham gia của doanh nghiệp vào hoạt động đào tạo nghề của nhà trường.

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý hoạt động đào tạo nghề Luận văn: Quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang.

1.5.1 Yếu tố chủ quan

  • Chất lượng nội dung chương trình, phương pháp đào tạo nghề của nhà trường.

Luật giáo dục nghề nghiệp (có hiệu lực từ ngày 1/7/2025) các cơ sở giáo dục được tự chủ về chương trình, giáo trình đào tạo đối với các ngành nghề của nhà trường, đây vừa là cơ hội nhưng cũng là những thách thức không nhỏ đối với các cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp, đặc biệt là những cơ sở nhỏ và mới. Mỗi cơ sở dạy nghề cần tạo dựng riêng cho mình nét đặc trưng, nổi bật riêng và phải thực sự hiệu quả thì mới có thể tồn tại được. Nội dung chương trình đào tạo của nhà trường cần theo hướng mềm hóa, nâng cao kỹ năng thực hành, năng lực tự tạo việc làm, năng lực thích ứng với những biến đổi của công nghệ và thực tiễn sản xuất,kinh doanh; xây dựng chương trình dạy nghề theo Module, đảm bảo liên thông giữa các trình độ đào tạo nghề với các trình độ đào tạo khác trong hệ thống giáo dục quốc dân, xây dựng nội dung chương trình đào tạo nghề trình độ cao theo hướng tiếp cận trình độ tiên tiến trong khu vực và trên thế giới

  • Khả năng huy động nguồn vốn đầu tư cho các nguồn lực phục vụ quá trình đào tạo nghề

Với đặc thù là trường đào tạo nghề, mỗi cơ sở giáo dục cần đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục nghề nghiệp, khai thác triệt để nguồn đầu tư của các cá nhân tổ chức xã hội, đặc biệt là từ các doanh nghiệp. Nhà trường cần mở rộng các hình thức liên kết, đầu tư và song hành cùng doanh nghiệp trong công tác sản xuất và đào tạo để không những tăng cường chất lượng trong công tác đào tạo nguồn nhân lực mà còn giúp nhà trường chủ động hơn trong các hoạt động đầu tư cho đào tạo

Mặc dù, phần lớn trường có doanh nghiệp bên cạnh thì công việc này là không mấy khó khăn, tuy nhiên ngoài các hoạt động liên kết kể trên nhà trường cũng phải tăng cường thêm các hoạt động nghiên cứu khoa học, thực nghiệm và ứng dụng công nghệ mới vào phục vụ công tác giảng dạy và học tập. Luận văn: Quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang.

  • Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề.

Chất lượng của một nền giáo dục phụ thuộc trước hết vào chất lượng của những người thầy cô giáo và thành công của các cuộc cải cách giáo dục luôn phụ thuộc vào ý chí muốn thay đổi của người giáo viên. Ray Roy Singh (Ấn Độ) khẳng định rằng “Không có một hệ thống giáo dục nào có thể vươn cao quá tầm những giáo viên làm việc cho nó” ở đâu có người thầy giỏi thì ở đó có những người trò giỏi. Đội ngũ giáo viên là yếu tố cơ bản có tính chất quyết định, tác động trực tiếp lên chất lượng đào tạo; là người giữ trọng trách truyền đạt kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm cho các học viên trên cơ sở các thiết bị dạy học.

Đào tạo nghề có những nét đặc trưng khác biệt so với các cấp đào tạo khác trong hệ thống giáo dục, đó là ngành nghề đào tạo rất đa dạng, yêu cầu kỹ thuật cao, thường xuyên phải cập nhập kiến thức, kỹ năng nghề để phù hợp với tiến bộ Khoa học kỹ thuật, học viên vào học nghề có rất nhiều cấp trình độ văn hóa, độ tuổi khác nhau. Sự khác biệt đó làm cho đội ngũ giáo viên dạy nghề cũng đa dạng với nhiều trình độ khác nhau.

Chia theo các môn học trong đào tạo nghề có giáo viên dạy bổ túc văn hóa, giáo viên dạy môn học chung, giáo viên dạy môn học cơ sở nghề, giáo viên dạy lý thuyết, giáo viên dạy thực hành hay giáo viên dạy tích hợp.

Chia theo trình độ: theo quy định chuẩn giáo viên dạy nghề thì giáo viên dạy trình độ cao đẳng nghề, trung cấp nghề, sơ cấp nghề là có yêu cầu trình độ khác nhau. Giáo viên dạy nghề có thể là nhà giáo, nhà khoa học, nghệ nhân hay những người thợ bậc cao có trình độ tay nghề giỏi.

Một nguồn nhân lực khác cũng ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề là đội ngũ cán bộ quản lý đào tạo nghề. Chất lượng cán bộ quản lý có ảnh hưởng lớn tới đào tạo nghề, thể hiện qua khả năng tổ chức, quản lý, điều phối, quá trình đào tạo, định hướng, tìm kiếm cơ hội hợp tác, liên kết đào tạo.

Như vậy, yếu tố giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề có tác động mạnh mẽ tới chất lượng và sự phát triển của giáo dục nghề nghiệp. Trong bối cảnh hiện nay những yêu cầu của dạy nghề đối với yếu tố này không phải chỉ đủ ở số lượng mà hơn nữa còn đảm bảo về chất lượng. Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý phải đạt chuẩn về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tư chất đạo đức, đồng thời phải là đội ngũ tinh nhuệ nhất trong việc nghiên cứu và vận dụng thành tựu Khoa học công nghệ vào trong quá trình giảng dạy để đào tạo ra những thế hệ học sinh đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp, của xã hội.

  • Cơ sở vật chất và trang thiết bị đào tạo nghề Luận văn: Quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang.

Đối với giáo dục nghề nghiệp thì yếu tố trang thiết bị, cơ sở vật chất và phương tiện dạy học là vô cùng quan trọng. Chất lượng tay nghề của học sinh và chất lượng giảng dạy của giáo viên phụ thuộc phần lớn vào sự phù hợp trang thiết bị dạy học, vật tư, vật liệu cung cấp cho học tập. Các yêu cầu về cơ sở vật chất phục vụ đào tạo cần đạt được là:

Có đủ thiết bị máy móc, trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật, nguyên nhiên vật liệu phù hợp cho quá trình đào tạo.

Đầu tư mua sắm bổ sung thường xuyên các trang thiết bị, sửa chữa nâng cấp thiết bị nhà xưởng phòng học, phòng thí nghiệm, thư viện… đáp ứng nhu cầu giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh. Việc đầu tư phải đảm bảo tính phù hợp và tiếp cận hiện đại trong bối cảnh mới.

  • Nhận thức của người học và xã hội về đào tạo nghề

Học viên học nghề là nhân tố trung tâm, có tính chất quyết định đối với công tác đào tạo nghề, nó ảnh hưởng toàn diện tới công tác đào tạo nghề. Trình độ văn hóa, sự hiểu biết, tâm lý, các tính, khả năng tài chính, quỹ thời gian… của bản thân học viên đều ảnh hưởng tới quy mô và chất lượng đào tạo nghề.

Nhận thức của xã hội về đào tạo nghề mặc dù trong những năm qua đã có những biến đổi tích cực nhưng đánh giá chung thì đa phần người học và gia đình chưa nhận thức đúng và đủ về tầm quan trọng của đào tạo nghề, điều đó thể hiện rõ rệt nhất ở lượng học viên đang tham gia vào hình thức giáo dục nghề nghiệp. Bời vậy trong tương lai xã hội, nhà trường và gia đình cần chung tay làm tốt công tác hướng nghiệp cho học sinh giúp cho giáo dục nghề nghiệp phát huy được vai trò tối ưu của mình trong vấn đề đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội.

1.5.2 Yếu tố khách quan Luận văn: Quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang.

  • Bối cảnh trong nước và quốc tế

Tốc độ phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu lao động. Đặc biệt hiện nay trong xu thế chuyển đổi từ nền kinh tế nông – lâm – ngư nghiệp sang nền công nghiệp hóa thì ngành mà đất nước ta có điều kiện thuận lợi nhất để phát triển trong bối cảnh hiện nay đang là sản xuất hàng May mặc. Kinh ngạch xuất khẩu của Dệt May trong mấy năm gần đây luôn đứng đầu cả nước đã chứng minh cho điều này. Trong bối cảnh này nhu cầu nhân lực về công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ tăng cả về số lượng, chất lượng, từ đó, làm cho công tác đào tạo nghề phát triển theo, đặc biệt là công tác đào tạo nghề May. Sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tác động tới công tác đào tạo nghề theo hai hướng, một mặt thúc đẩy đào tạo nghề phát triển cũng như thúc đẩy nền kinh tế phát triển nếu như có sự phù hợp giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và công tác đào tạo nghề, mặt khác sẽ kìm hãm việc đào tạo nghề nếu như không phù hợp hoặc phát triển không tương ứng với nhu cầu thực tế đang đòi hỏi

Cơ hội và thách thức của toàn cầu hóa và yêu cầu hội nhập khu vực và quốc tế: Để có thể cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay, thì chất lượng nguồn lao động phải ngày càng nâng cao. Chính vì vậy, chất lượng đào tạo nghề phải được nâng cao phát triển hơn nữa để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong tiến trình phát triển. Toàn cầu hoá – cơ hội và thách thức cho toàn bộ các quốc gia, từ phát triển hay đang phát triển cho đến chưa phát triển. Hội nhập kinh tế toàn cầu là cơ hội lớn về xuất khẩu lao động nước ngoài, thu hút vốn đầu tư của các nước phát triển, tiếp thu trình độ khoa học – kỹ thuật tiên tiến… Đối với cơ hội xuất khẩu lao động nước ngoài làm việc, là giải pháp cấp thiết trong vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động, tạo cơ hội tăng thu nhập cá nhân và tỷ giá hối đoái về cho quốc gia. Người lao động có được cơ hội học hỏi nâng cao tay nghề, trình độ hiểu biết, hình thành lối văn hoá ứng xử theo hướng công nghiệp, bởi vậy toàn cầu hóa không chỉ mang lại những lợi ích cho kinh tế giáo dục mà còn tạo ra những yêu cầu đòi hỏi giáo dục nghề nghiệp cần phát triển và nâng cao chất lượng hơn nữa để đưa nguồn lao động trong nước phù hợp với yêu cầu thế giới, đón đầu và hội nhập xu thế phát triển.

Tiến bộ Khoa học công nghệ và những đổi mới về tổ chức, quản lý sản xuất – dịch vụ trong tất cả các lĩnh vực Kinh tế xã hội cũng đặt ra những yêu cầu mới về cơ cấu và chất lượng đào tạo nguồn nhân lực nói chung và đào tạo nghề nói riêng

Nhận thức về đào tạo nghề của xã hội đã có một bước chuyển đổi nhảy vọt. Xã hội đã quý trọng tay nghề, người công nhân có kỹ thuật khả năng và cơ hội tìm kiếm việc làm dễ dàng hơn, sức lao động đã được đề cao hơn.

Yêu cầu mới đối với công tác quản lý đào tạo nghề nhằm mang lại hiệu quả và chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH –HĐH đất nước đó là tăng nhanh tỉ trọng phát triển công nghiệp, dịch vụ, do vậy trong tình hình mới mỗi nhà trường đều phải tự đánh giá chất lượng đào tạo nghề, từ đó có những thay đổi, điều chỉnh cho phù hợp nhằm làm cho kỹ năng tay nghề, khả năng chuyên môn ngang tầm với quốc tế và khu vực, nhanh chóng đưa Việt Nam nói chung và các cơ sở đào tạo nói riêng, sớm hòa nhập, liên tục và kịp thời tiếp cận với sự phát triển khoa học công nghệ trong các lĩnh vực kinh tế của đất nước.

Cơ chế chính sách của nhà nước, sự quan tâm đầu tư các nguồn lực cho đào tạo nghề với Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo” và Luật Giáo dục nghề nghiệp cũng như hiệu quả của công tác xã hội hóa giáo dục, huy động và đa dạng hóa các nguồn lực đầu tư cho đào tạo nghề. Mở rộng và đầu tư phát triển các cơ sở dạy nghề với mô hình liên kết giữa doanh nghiệp và các cơ sở dạy nghề; liên kết đào tạo với các cơ sở đào tạo nước ngoài có uy tín. Gắn đào tạo nghề với sử dụng lao động theo yêu cầu thực tiễn sản xuất – kinh doanh, đẩy mạnh việc đào tạo theo địa chỉ, theo đơn đặt hàng, gắn đào tạo nghề với giải quyết việc làm, với thị trường lao động đã mang lại cho giáo dục nghề nghiệp nhiều thuận lợi và thời cơ mới để phát triển

  • Sơ đồ 1.3: Quá trình đào tạo và các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng

Tiểu kết chương 1 Luận văn: Quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang.

Từ những vấn đề cơ sở lý luận đã nêu trên, có thể rút ra một số kết luận như sau:

  1. Giáo dục nghề nghiệp là lĩnh vực được Đảng, nhà nước và dân nhân quan tâm và ưu tiên đẩy mạnh phát. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động đào tạo nghề ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp nhưng chưa có công trình nghiên cứu độc lập nào về quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời thời trang tại một cơ sở giáo dục có nhiều thế mạnh – cơ sở bên cạnh doanh nghiệp như trường Cao đẳng nghề Long Biên
  2. Đào tạo nghề là những hoạt động nhằm mục đích nâng cao tay nghề hay kỹ năng, kỹ xảo của mỗi cá nhân đối với công việc.
  3. Quản lý hoạt động đào tạo nghề là việc thực hiện các chức năng quản lý: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá hoat động đào tạo nghề nhằm đạt được những mục đích đã đề ra

Quản lý hoạt động đào tạo nghề bao gồm:

  • Xác định mục tiêu, nội dung, chương trình, kế hoạch đào tạo nghề.
  • Xây dựng các điều kiện cần thiết khả thi: Đội ngũ giáo viên, cán bộ kỹ thuật, cơ sở vật chất, trường, xưởng, nguồn tài chính, môi trường sư phạm
  • Xác định quy mô phát triển số lượng, chất lượng của từng ngành nghề đào tạo.
  • Tổ chức chỉ đạo hoạt động dạy và học của thầy và trò.
  • Hoàn thiện cơ chế tổ chức quản lý.
  • Phát triển cơ chế cộng đồng, phối hợp trong và ngoài
  • Tổ chức đánh giá chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề

Trong bối cảnh kinh tế xã hội hiện nay, giáo dục nghề nghiệp có nhiều thời cơ để phát triển nhưng nếu không biết tận dụng các thời cơ đó và phát huy yếu tố nội lực thực tại thì với sự phát triển hiện nay của đất nước, giáo dục nghề nghiệp nước nhà không thể là nơi đào tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cho đất nước. Luận văn: Quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng QL hoạt động đào tạo nghề May thời trang

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993