Luận văn: PPNC tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: PPNC tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Tác động của tài chính hành vi đến quyết định đầu tư cổ phiếu tại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

3.1. Qui trình nghiên cứu

Nghiên cứu này được tác giả tiến hành qua 2 giai đoạn:

Giai đoạn nghiên cứu sơ bộ

  • Bước 1: Xác định vấn đề nghiên cứu (đề tài, nhiệm vụ, đối tượng, mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu).
  • Bước 2: Xây dựng cơ sở lý thuyết và các khái niệm liên quan đến đề tài.
  • Bước 3: Tóm lược lại các tài liệu nghiên cứu liên quan đến đề tài (xác định các khoảng trống của các nghiên cứu trước đây).
  • Bước 4: Thiết kế nghiên cứu (xây dựng giả thuyết và mô hình nghiên cứu, lựa chọn phương pháp nghiên cứu, công cụ thu thập dữ liệu, mẫu khảo sát).
  • Bước 5: Tham khảo ý kiến chuyên gia và hiệu chỉnh bảng câu hỏi.

Giai đoạn nghiên cứu chính thức

  • Bước 6: Tổ chức thu thập thông tin khảo sát (gửi link khảo sát Google forms cho NĐT).
  • Bước 7: Phân tích dữ liệu kết quả (kiểm định độ tin cậy thang do, phân tích nhân tố khám khá EFA, hồi qui đa biến trên SPSS).
  • Bước 8: Tổng hợp các kết quả.
  • Bước 9: Đưa ra các kết luận và khuyến nghị, điểm hạn chế của đề tài để các nghiên cứu sau .

Quá trình nghiên cứu đề tài được minh họa ở hình 3.1

  • Hình 3. 1 Sơ đồ tiến trình nghiên cứu

3.2. Mô hình và giả thuyết nghiên cứu Luận văn: PPNC tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.

3.2.1. Mô hình nghiên cứu

Cơ sở để đề xuất mô hình tác động của tài chính hành vi đến quyết định đầu tư cổ phiếu tại TTCK VN là dựa trên hai nền tảng chính là Lý thuyết triển vọng và bằng chứng thực nghiệm.

Mô hình lấy Lý thuyết triển vọng của Kahneman và Tversky (1979) làm nền tảng lý thuyết thông qua 3 khía cạnh:

  • Khía cạnh 1: Tuỳ thuộc vào bản chất của triển vọng mà con người thể hiện sự e ngại/né tránh rủi ro khi nói đến lợi nhuận hay tìm kiếm rủi ro khi đối mặt với thua lỗ.
  • Khía cạnh 2: Con người đánh giá các triển vọng dựa trên việc được (lời) hoặc mất mát (lỗ) so với điểm tham chiếu (thường là trạng thái hiện tại).
  • Khía cạnh 3: Con người có khuynh hướng ngại mất mát/ sợ thua lỗ. Cảm giác mất mát/ thua lỗ tác động mạnh đến cảm xúc của họ hơn cảm giác được (lời).

Về bằng chứng thực nghiệm, mô hình nghiên cứu đề xuất dựa trên việc quan sát thực tế cùng với tổng hợp kết quả từ các nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh sự tồn tại của các thiên lệch hành vi trong đầu tư như:

Các công trình của Odean (1999) và Barber và Odean (2001) đã sử dụng dữ liệu giao dịch thực tế để chứng minh rằng những nhà đầu tư tự tin thái quá thường giao dịch nhiều hơn và có lợi nhuận ròng thấp hơn. Nghiên cứu gần đây của Longjie và Anfeng (2017) cho thấy có mối tương quan tích cực giữa sự tự tin thái quá của nhà đầu tư và mức độ đầu tư của công ty niêm yết, khi các nhà quản lý thể hiện sự tự tin thái quá, họ có xu hướng thực hiện các dự án đầu tư thiếu hiệu quả hoặc đầu tư quá mức cần thiết. Hay nghiên cứu của Trang và Linh (2024) đã cho thấy sự tự tin thái quá hay thiếu tự tin về kiến thức tài chính ảnh hưởng đến quyết định đầu tư cổ phiếu. Cụ thể là ảnh hưởng trực tiếp đến tần suất giao dịch và và gián tiếp đến việc sử dụng đòn bẩy tài chính. Những bằng chứng này là cơ sở vững chắc để xây dựng các giả thuyết về việc tự tin quá mức có tác động đến việc ra quyết định đầu tư của NĐT cá nhân trên TTCK VN. Luận văn: PPNC tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.

Ngược lại với những quan điểm ủng hộ lợi ích của việc đa dạng hoá danh mục đầu tư quốc tế (Grubel, 1968), (Levy và Sarnat, 1970) và (Solnik, 1974), cùng sự thúc đẩy ‘toàn cầu hóa tài chính’ thông qua tự do hóa tài khoản vốn, giao dịch điện tử, trao đổi thông tin ngày càng tăng qua biên giới và chi phí giao dịch giảm chắc chắn đã dẫn đến sự gia tăng lớn trong giao dịch tài sản xuyên biên giới (Lane và Milesi-Feretti, 2003), việc xoá bỏ các rào cản đối với thương mại quốc tế về tài sản tài chính trong ba mươi năm qua lẽ ra đã khiến các nhà đầu tư trên toàn thế giới cân bằng lại danh mục đầu tư của họ từ tài sản quốc gia sang tài sản nước ngoài. Tuy nhiên, các NĐT dường như vẫn chưa tận dụng tối đa lợi ích của việc đa dạng hóa danh mục đầu tư quốc tế và nắm giữ một tỷ trọng cổ phiếu nội địa không cân xứng. Mặc dù hội nhập tài chính đã được cải thiện, nhưng thiên kiến nội địa vẫn không giảm đáng kể: năm 2007, các nhà đầu tư Hoa Kỳ vẫn nắm giữ hơn 80% cổ phiếu nội địa, một tỷ lệ cao hơn nhiều so với tỷ trọng cổ phiếu Hoa Kỳ trong danh mục đầu tư thị trường thế giới. Trong nghiên cứu của Huberman (2001) đã chỉ ra rằng nhà đầu tư có xu hướng ưu tiên đầu tư vào các công ty quen thuộc. Điều này cung cấp cơ sở để đề xuất các giả thuyết về việc thiên vi nội địa có tác động tới việc ra quyết định đầu tư của NĐT cá nhân trên TTCK VN. Nghiên cứu của Giannetti, Laeven (2016) cho thấy NĐT có xu hướng thanh lý các khoản đầu tư có vị trí địa lý xa xôi nhiều hơn một cách có hệ thống khi sự biến động tổng thể của thị trường tăng cao.

Các nghiên cứu của Christie và Huang (1995), Chang và ctg (2000), Tuấn và Phương (2017) đã phát hiện rằng các nhà đầu tư có xu hướng hành động theo số đông, đặc biệt trong các giai đoạn biến động giá lớn. Nghiên cứu của Định (2023) và Hiển và ctg. (2012) cũng cho ra kết quả tương tự bên cạnh đó tác giả còn thấy được khi thị trường đi xuống, các doanh nghiệp có qui mô nhỏ và các doanh nghiệp thuộc nhóm cổ phiếu tăng trưởng thể hiện mức độ hành vi đám đông rõ rệt hơn so với các doanh nghiệp có qui mô lớn hoặc trong nhóm cổ phiếu giá trị. Bằng chứng này là cơ sở để đề xuất giả thuyết tâm lý bầy đàn có tác động đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân trên TTCK VN. Luận văn: PPNC tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.

Các nghiên cứu của Shefrin và Statman (1985), Hiển và ctg (2012) đã cung cấp bằng chứng thực tế đầu tiên về hành vi bán cổ phiếu có lãi sớm và giữ cổ phiếu lỗ quá lâu. Hay gần đây nhất là nghiên cứu của Akepanidtaworn (2023) cho thấy ngay cả các chuyên gia thị trường tài chính giàu kinh nghiệm cũng không tránh khỏi các thiên kiến hành vi. Họ bị chi phối bởi lối tắt nhận thức trong các quyết định bán (bán nhanh dựa trên lợi suất nổi bật) nhưng lại thực hiện quá trình ra quyết định cẩn thận hơn, dựa trên kỹ năng, khi mua (mua chậm). Điều này nhấn mạnh rằng thiên kiến không chỉ giới hạn ở nhà đầu tư cá nhân mà còn ảnh hưởng đến hành vi và hiệu suất của nhà đầu tư tổ chức. Một mô hình nghiên cứu có thể sử dụng kết quả này để đề xuất giả thuyết hiệu ứng ngược vị thế có tác động đến việc quyết định đầu tư của NĐT cá nhân trên TTCK VN.

Các nghiên cứu của Chapman và Johnson (2002) chỉ ra rằng một con số nổi bật nhưng không liên quan hoặc không cung cấp thông tin được trình bày trước khi đưa ra một quyết định định lượng vẫn có thể đóng vai trò là cái neo và ảnh hưởng đến phán đoán cuối cùng, nếu người tham gia cho rằng cái neo là không liên quan nhưng nó vẫn ảnh hưởng đến phán đoán của họ, thì đó rõ ràng là một lệch lạc nhận thức (cognitive bias) chứ không phải là sự sử dụng hợp lý thông Nghiên cứu của Kaustia, Alho và Puttonen (2008) cũng chỉ ra rằng mặc dù nhỏ hơn, hiệu ứng neo giữ ở các chuyên gia vẫn có ý nghĩa thống kê và kinh tế, ngay cả khi giới hạn mẫu nghiên cứu chỉ bao gồm các chuyên gia giàu kinh nghiệm hơn. Điều này chứng minh rằng kinh nghiệm và kiến thức chuyên môn không thể loại bỏ hoàn toàn lệch lạc neo giữ khỏi quá trình ra quyết định tài chính. Ngoài ra thì theo nghiên cứu mới đây của Cen, Hilary và Wei (2013) củng đưa ra kết luận các nhà phân tích cũng chịu ảnh hưởng bởi các dự báo và dẫn đến lợi suất cổ phiếu bất thường. Những nghiên cứu trên đã cung cấp bằng chứng về lệch lạc Neo quyết định trong đầu tư cổ phiếu. Đây cũng là cơ sở cho việc đề xuất giả thuyết Neo quyết định tác động đến quyết định đầu tư của NĐT cá nhân trên TTCK VN.

Từ đó tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu gồm 5 biến độc lập (lần lượt là tự tin quá mức, thiên vị nội địa, tâm lý bầy đàn, hiệu ứng ngược vị thế và neo quyết định) tác động lên 1 biến phụ thuộc là Quyết định đầu tư cổ phiếu tại TTCK VN.

  • Hình 3. 2 Mô hình nghiên cứu tổng hợp đề xuất

3.2.2. Giả thuyết nghiên cứu Luận văn: PPNC tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.

Dựa trên mục tiêu nghiên cứu là tác động của tài chính hành vi đến quyết định đầu tư cổ phiếu tại Việt Nam như đã trình bày ở phần 1.3.2. (xác định các yếu tố tài chính hành vi tác động đến việc ra quyết định đầu tư cổ phiếu tại Việt Nam và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tài chính hành vi đến việc ra quyết định đầu tư cổ phiếu tại Việt Nam) cùng với việc kết hợp với các lý thuyết nền tài chính hành vi và các nghiên cứu thực nghiệm trước đây trên Thế giới và cả ở Việt Nam, tác giả đưa ra các giả thiết nghiên cứu như sau :

  • H1: Tự tin quá mức có tác động đến việc ra quyết định đầu tư của NĐT cá nhân trên TTCK VN.
  • H2: Thiên vi nội địa có tác động tới việc ra quyết định đầu tư của NĐT cá nhân trên TTCK VN.
  • H3: Tâm lý bầy đàn có tác động đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân trên TTCK VN.
  • H4: Hiệu ứng ngược vị thế có tác động đến việc quyết định đầu tư của NĐT cá nhân trên TTCK VN.
  • H5: Neo quyết định tác động đến quyết định đầu tư của NĐT cá nhân trên TTCK VN.

3.3. Phương pháp xây dựng bảng khảo sát và dữ liệu nghiên cứu

3.3.1. Xác định cỡ mẫu và phương pháp thu thập dữ liệu

3.3.1.1 Xác định cỡ mẫu

Như đã đề cập ở phần 1.2, tính đến 30/06/2025 TTCK VN có hơn 10.22 triệu tài khoản giao dịch, trong đó nhà đầu tư cá nhân chiếm 99,82%, trong có đó số tài khoản còn đang hoạt động chiếm khoảng gần 50% nên việc thu thập hết mẫu là rất khó khăn và không khả thi. Vì thế tác giả sẽ xác định kích thước mẫu theo phương pháp EFA và theo phương pháp hồi qui.

Kích thước mẫu đóng vai trò rất quan trọng trong việc phân tích nhân tố khám phá EFA. Việc xác định mẫu phù hợp giúp đảm bảo độ tin cậy và tính hợp lệ của kết quả nghiên cứu. Theo Hair và các cộng sự thì kích thước mẫu tối thiểu để sử dụng EFA là 50, tốt nhất là từ 100 trở lên (Hair và ctg., 2009). Theo Kaiser đề cập rằng kích thước mẫu tối thiểu cần đạt để đảm bảo độ tin cậy của kết quả EFA là 5 lần số biến quan sát (Kaiser, 1974). Bảng khảo sát của nghiên cứu này có 25 câu hỏi, tượng trưng cho 25 biến quan sát (thuộc 5 nhân tố khác nhau),. Áp dụng tỷ lệ 5:1, cỡ mẫu tối thiểu sẽ là 125, vì kích thước mẫu này lớn hơn kích thước tối thiểu 50 hoặc 100, vì vậy chúng ta cần cỡ mẫu tối thiểu để thực hiện phân tích nhân tố khám phá EFA cho nghiên cứu này là 125. Luận văn: PPNC tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.

Đối với kích thước mẫu tối thiểu cho phân tích hồi quy, Green đề cập: nếu mục đích phép hồi quy chỉ đánh giá mức độ phù hợp tổng quát của mô hình như R2, kiểm định F … thì cỡ mẫu tối thiểu là 50 + 8m (m là số lượng biến độc lập tham gia vào hồi quy) (Green và Salkind, 2003). Như vậy kích thước mẫu tối thiểu theo phân tích hồi quy là 90.

Do nghiên cứu có sử dụng phân tích nhân tố khám phá EFA nên số mẫu được chọn tối thiểu là 125.

3.3.1.2. Phương pháp thu thập dữ liệu

Quá trình khảo sát được tác giả tiến hành bằng cách sử dụng hình thức thu thập trực tuyến thông qua Google Forms. Quy trình và cấu trúc của phương pháp khảo sát online được tác giả thực hiện như sau:

  • Bước 1: Xây dựng bảng câu hỏi khảo sát dựa trên mục tiêu và giả thuyết nghiên cứu. Bộ câu hỏi được thiết lập dưới dạng trắc nghiệm, lựa chọn theo thang do Likert 5 bậc.
  • Bước 2: Tham khảo ý kiến chuyên gia, hiệu chỉnh và nhập liệu lên Google forms.
  • Bước 3: Gửi liên kết của bảng khảo sát đến các nhà đầu tư cá nhân đang đầu tư cổ phiếu tại Việt Nam (độ tuổi từ 18 trở lên).

3.3.2. Xây dựng bảng câu hỏi khảo sát

Tất cả dữ liệu và thông tin cho nghiên cứu này được thu thập từ nguồn chính thông qua bảng câu hỏi. Bảng câu hỏi thu thập dữ liệu bao gồm 2 phần chính:

Phần 1: Thu thập hồ sơ nhân khẩu học của người trả lời như giới tính, độ tuổi, trình độ, thâm niên và chuyên môn.

Phần 2: Điều tra hành vi của nhà đầu tư cá nhân thông qua các câu hỏi dựa trên mô hình nghiên cứu gồm 6 biến (5 biến đôc lập và 1 biến phụ thuộc). Mỗi giả thuyết nghiên cứu tương ứng với 5 câu hỏi. Bảng câu hỏi sẽ gồm tổng cộng 30 câu liên quan tới các yếu tố hành vi có thể ảnh hưởng đến quyết định đầu tư cổ phiếu.

Để xem xét các nhân tố tài chính hành vi đó tác giả tham khảo từ các nguồn trong và ngoài nước và xây dựng bảng câu hỏi khảo sát theo hình thức trắc nghiệm, sử dụng thang đo Likert 5 điểm để yêu cầu các nhà đầu tư cá nhân đánh giá mức độ đồng ý của họ tương ứng từ 1 đến 5: hoàn toàn không đồng ý, không đồng ý, trung lập, đồng ý và hoàn toàn đồng ý với tác động của các yếu tố hành vi đến quyết định đầu tư của họ. 5 điểm trong thang đo người trả lời câu hỏi chỉ cần đánh dấu vào mức độ mà họ xem là hợp lý với tâm lý của họ. Ưu điểm của câu hỏi đóng này là có thể mã hoá trước, giúp tăng cường khả năng so sánh các câu trả lời giữa những người trả lời khác nhau, chúng giúp làm rõ ý nghĩa của các câu hỏi thông qua các câu trả lời đã cho (Bryman và Bell, 2007). Các câu hỏi đóng dễ xử lý hơn cho cả người trả lời và nhà nghiên cứu chính xác vì chúng dễ dàng và nhanh chóng hoàn thành (Lim, 2012). Luận văn: PPNC tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.

Trong quá trình tiến hành nghiên cứu, việc tìm hiểu ý kiến từ các chuyên gia đóng một vai trò quan trọng để thu thập thông tin chuyên môn và đánh giá tính hợp lý của bộ câu hỏi trong bảng khảo sát. Điều này là một bước cần thiết để đảm bảo rằng câu hỏi được xây dựng một cách chính xác và đáng tin cậy. Do đó tác giả đã tiến hành chọn một nhóm các chuyên gia có kiến thức và kinh nghiệm liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu (Phụ lục 3). Bộ câu hỏi sẽ được gửi trực tiếp tới từng chuyên gia, dưới dạng một phiếu khảo sát hoặc tài liệu đi kèm và nhận ý kiến phản hồi của họ. Các chuyên gia được yêu cầu để nhận xét và đánh giá tính hợp lý, sự rõ ràng và độ phù hợp của câu hỏi trong việc thu thập thông tin và đạt được mục tiêu nghiên cứu.

Sau khi điều chỉnh các câu hỏi khảo sát từ phản hồi của các chuyên gia và sau đó việc khảo sát thử được tiến hành trên một tập nhỏ NĐT để đảm bảo câu hỏi trong bảng khảo sát đủ rõ ràng và dễ hiểu cho người tham gia khảo sát. Trong quá trình khảo sát thử, tác giả đã chọn một nhóm nhỏ người tham gia khảo sát để trao đổi với họ về nội dung cũng như là ý nghĩa của từng câu hỏi trong bảng khảo sát. Các câu hỏi sẽ được giải thích chi tiết, đảm bảo các đáp viên hiểu rõ về nội dung và mục đích của câu hỏi. Sau đó, các đáp viên sẽ được yêu cầu trả lời các câu hỏi và đưa ra ý kiến về sự rõ ràng và dễ hiểu của các câu hỏi. Những phản hồi và ý kiến từ các đáp viên trong khảo sát thử sẽ giúp tác giả hiểu được những khó khăn hoặc thiếu sót trong bảng khảo sát và đưa ra những điều chỉnh cần thiết để câu hỏi trở nên rõ ràng và dễ hiểu hơn.

Sau khi nhận được các ý kiến phản hồi từ các chuyên gia và tiến hành khảo sát thử, tác giả đã chỉnh sửa bản câu hỏi khảo sát ban đầu thành bảng câu hỏi chính thức trước khi tiến hành khảo sát (Phụ lục 1).

3.3.3. Các câu hỏi nghiên cứu đề xuất Luận văn: PPNC tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.

Các câu hỏi phỏng vấn NĐT được tác giả xây dựng bám sát vào mục tiêu nghiên cứu: xác định các yếu tố tài chính hành vi tác động đến việc ra quyết định đầu tư cổ phiếu tại Việt Nam và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tài chính hành vi đó đến việc ra quyết định đầu tư). Câu hỏi nghiên cứu còn được xây dựng dựa trên các giả thuyết nghiên cứu như đã đề cập ở phần 3.2.2 và có sự tham khảo kế thừa từ các nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây theo nguồn tác giả có liệt kê bên trong từng bảng khảo sát bên dưới. Câu hỏi nghiên cứu còn được xây dựng xoay quanh khái niệm và khả năng kiểm soát hành vi của nhà đầu tư, nhằm xác định lại một lần nữa biến hành vi đó có ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của NĐT không. Bên cạnh đó các câu hỏi sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh khu vực khảo sát là Việt Nam.

3.3.3.1. Sự tự tin quá mức

Tự tin quá mức là khuynh hướng con người đề cao khả năng, kiến thức, và tính chính xác thông tin của mình cũng như lạc quan quá mức đối với những dự báo, họ tin rằng họ sở hữu nhiều kiến thức hơn các NĐT khác (Shiller, 2005). Họ tự tin vào khả năng làm chủ tình thế của mình trong tương lai (Odean, 1998). Nghiên cứu của Longjie và Anfeng (2017) cho thấy có mối tương quan dương giữa sự tự tin thái quá của NĐT và mức độ đầu tư quá mức vào các công ty niêm yết. Nghiên cứu của Bakar và Yi (2016) cũng thấy rằng sự quá tự tin ảnh hướng đáng kể đến các quyết định đầu tư tài chính.

Với giả thuyết H1: “Tự tin quá mức có tác động đến việc ra quyết định đầu tư của NĐT cá nhân trên TTCK VN”, tác giả có dự đoán rằng: sự tự tin quá mức có tác động cùng chiều đến quyết định đầu tư của NĐT cá nhân trên TTCK VN. Dưới đây là các câu hỏi khảo sát:

  • Bảng 3. 1 Các câu hỏi khảo sát về sự tự tin quá mức

3.3.3.2. Thiên vị nội địa Luận văn: PPNC tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.

Một trong những nghiên cứu trước đây về đa dạng hoá thị trường chứng khoán ra thế giới vào năm 1991 là một minh chứng. Kết quả của nghiên cứu đó cho thấy phần lớn vốn chủ sở hữu doanh nghiệp được nắm giữ bởi các nhà đầu tư trong nước, tỷ lệ sở hữu trong nước của 5 TTCK lớn nhất thế giới lần lượt là: Hoa Kỳ (92,2%), Nhật Bản (95,7%), Vương quốc Anh (92%), Đức (79%) và Pháp (89,4%) (Kenneth và James, 1991). Lí do của khuynh hướng này xuất phát từ việc NĐT trong nước sẽ có lợi thế về việc tìm kiếm các thông tin cả chính thống lẫn bên lề hơn NĐT nước ngoài. Dù quyết định này có thể không mang lại lợi nhuận tối ưu nhưng NĐT cảm thấy thoải mái, quen thuộc, an toàn hơn, giảm bớt sự bất an khi đưa ra quyết định đầu tư vào những gì quen thuộc và những gì họ hiểu rõ. Ngoài ra nếu đầu tư ra nước ngoài có thể phức tạp hơn bởi rào cản về ngôn ngữ, các quy định pháp lý, phí giao dịch có thể cao hơn, nhiều loại thuế trong và ngoài nước đè nặng, các tiêu chuẩn báo cáo tài chính khác nhau khiến việc đọc hiểu trở nên khó khăn hơn và khó đánh giá về độ minh bạch của các công ty nước ngoài hơn. Nhưng việc đầu tư quá nhiều vào cổ phiếu nội địa sẽ dẫn đến nhiều bất lợi nếu tình hình kinh tế của địa phương đó đang suy thoái, chính trị, xã hội bất ổn.

Với giả thuyết H2: “Thiên vi nội địa có tác động tới việc ra quyết định đầu tư của NĐT cá nhân trên TTCK VN.”, tác giả dự đoán rằng: Lệch lạc thiên vị nội địa có tác động cùng chiều đến quyết định đầu tư của NĐT trên TTCK VN. Dưới đây là các câu hỏi khảo sát tham khảo từ nguồn Huberman (2001) và được tác giả chỉnh sửa cho phù hợp với không gian nghiên cứu tại TTCK VN.

  • Bảng 3. 2 Các câu hỏi khảo sát về lệch lạc thiên vị nội địa.

3.3.3.3. Tâm lý bầy đàn

Nghiên cứu trước đây đã chỉ ra NĐT cho rằng số đông ngoài kia họ có nhiều thông tin hơn (Bakar và Yi, 2016), ở trong một môi trường quyết định NĐT chịu ảnh hưởng bởi tâm lý đám đông sẽ dẫn đến sự biến đổi về giá lớn. Điều này rất có thể biến số đông đó có quyết định sai lầm giống nhau. Nghiên cứu cho kết quả sự đồng thuận chung sẽ tốt hơn phán đoán của cá nhân, và NĐT sẽ dừng phán đoán khi phán đoán của mình không giống với số đông NĐT khác (Zielonka, 2004). Đã có những bằng chứng nghiên cứu thực nghiệm về hành vi bầy đàn trong giới quản lý quỹ (Lakonishok, Shleifer và Vishny, 1992), (Russ Wermers, 1999). Nghiên cứu khác cũng cho thấy những tác động tiêu cực của hiệu ứng bầy đàn tới thị trường chứng khoán như bong bóng thị trường và chứng khoán bị đánh giá quá thấp (Chiang và Zheng, 2010).

Với giả thuyết H3: “Tâm lý bầy đàn có tác động đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân trên TTCK VN.”, tác giả dự đoán rằng: Tâm lý bầy đàn có tác động cùng chiều, tích cực đến quyết định đầu tư của NĐT trên TTCK VN.

Dưới đây là các câu hỏi khảo sát: Luận văn: PPNC tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.

  • Bảng 3. 3 Các câu hỏi khảo sát về tâm lý bầy đàn

3.3.3.4. Hiệu ứng ngược vị thế (Disposotion Effect) hay còn gọi là Hiệu ứng xu hướng bán

Nghiên cứu thực tế đã chỉ ra rằng nhiều nhà đầu tư có xu hướng bán cổ phiếu quá sớm, trong khi họ lại giữ lại các cổ phiếu giảm giá quá lâu (Shefrin và Statman, 1985). Odean cũng đã nghiên cứu tỉ mỉ về hiện tượng này thông qua 10.000 tài khoản giao dịch với gần 100.000 giao dịch trong 5 năm từ 1987 đến 1993, kết quả cho thấy lúc thị trường tăng thì số lượng chứng khoán bán ra kiếm lời nhiều hơn số lượng chứng khoán đang lỗ (Odean, 1998). Tâm lý này bắt nguồn từ suy nghĩ: “Cổ phiếu này đã ngừng tăng, giá này tốt rồi, bán đi để thực hiện hoá khoản lời” hay “Cổ phiếu này mai mốt sẽ tăng ngay, hôm nay mà bán là bán ngay đáy, chưa bán là chưa lỗ”, điều này bắt nguồn từ tâm lý không muốn hiện thực hoá khoản lỗ của mình.

Với giả thuyết H4: “Hiệu ứng ngược vị thế có tác động đến việc quyết định đầu tư của NĐT cá nhân trên TTCK VN”, tác giả dự đoán rằng: Hiệu ứng ngược vị thế có tác động cùng chiều tích cực đến quyết định đầu tư của NĐT khi thị trường tăng điểm và ngược chiều trong giai đoạn thị trường đi ngang hay giảm điểm.

Dưới đây là các câu hỏi khảo sát:

  • Bảng 3. 4 Các câu hỏi khảo sát về hiệu ứng ngược vị thế

3.3.3.5. Neo quyết định

Hành vi lệch lạc Neo quyết định rất hay gặp trong đầu tư chứng khoán với biểu hiện là: khi đưa ra quyết định, NĐT có khuynh hướng nhớ lại giá cổ phiếu khi họ tham gia lần đầu thay cho việc lấy giá khách quan phù hợp với thời điểm và bối cảnh hiện tại. Những chuyên gia đã có kinh nghiệm như trong nghiên cứu của Kaustia và ctg (2008) cũng khó có thể bỏ hoàn toàn lệch lạc neo giữ ra khỏi quyết định đầu tư. Hay một số nhà phân tích sử dụng xu hướng neo dự báo thu nhập của họ vào mức trung bình ngành nên đã đưa ra báo cáo quá lạc quan hay quá bi quan cho các công ty, các NĐT cũng vì vậy mà ra quyết quyết định đầu tư sai (Cen và ctg., 2013). Khi thời gian, bối cảnh kinh tế khác đi hành vi Neo quyết định dễ dẫn đến sai lầm nghiêm trọng đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính. Luận văn: PPNC tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.

Với giả thuyết H5: “Neo quyết định tác động đến quyết định đầu tư của NĐT cá nhân trên TTCK VN.”, tác giả dự đoán rằng: Nhân tố Neo quyết định có ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của NĐT trên TTCK VN (NĐT luôn có xu hướng cố chờ cho giá chứng khoán giảm xuống giá trị mà mình đã mua từ ban đầu, hay chờ tới khi giá băng tới đỉnh cũ). Dưới đây là các câu hỏi khảo sát:

  • Bảng 3. 5 Các câu hỏi khảo sát về Neo quyết định

3.3.3.6. Quyết định đầu tư cổ phiếu

Biến phụ thuộc quyết định đầu tư cổ phiếu là khái niệm trừu tượng nên tác giả xây dựng bảng câu hỏi để đo lường và định lượng kết quả của nghiên cứu. Đây được xem là cơ sở cho việc phân tích hồi quy mục đích kiểm tra xem các biến độc lập (tự tin quá mức, thiên vị nội địa, tâm lý bầy đàn, hiệu ứng ngược vị thế và neo quyết định) có thực sự tác động đến nó không.

  • Bảng 3. 6 Câu hỏi khảo sát về quyết định đầu tư

3.4. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: PPNC tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng. Cụ thể là tác giả sử dụng phân tích đánh giá độ tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích tương quan Pearson và mô hình hồi qui đa biến trên SPSS để đánh giá mức độ tương quan của các biến.

3.4.1. Phân tích đánh giá độ tin cậy của thang đo – Cronbach’s Alpha

Phương pháp Cronbach’s Alpha là một công cụ phổ biến, được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng trong việc kiểm định độ tin cậy của một thang đo. Hệ số này chỉ đo lường độ tin cậy của thang đo bao gồm từ 3 biến quan sát trở lên chứ không tính độ tin cậy từng biến quan sát (Thọ, 2013). Nghiên cứu này tác giả sử dụng 6 biến bao gồm : 1 biến phụ thuộc là (Quyết định đầu tư của NĐT cá nhân), 5 biến độc lập (Sự tự tin quá mức, Thiên vị nội địa, Tâm lý bầy đàn, Hiệu ứng ngược vị thế và Neo quyết định) nên việc sử dụng phương pháp này là phù hợp.

Cronbach’s Alpha là phương pháp giúp xác định mối liên kết chặt chẽ giữa các câu hỏi trong thang với nhau bằng cách loại bỏ bớt những câu hỏi không có liên kết chặt chẻ đó đảm bảo rằng bạn đang đo lường đúng khái niệm mình muốn.Ngoài ra, hệ số này còn giúp xác nhận dữ liệu khảo sát thu thập được là đáng tin cậy để sử dụng cho các phân tích tiếp theo. Trong các bài báo khoa học, việc trình bày hệ số Cronbach’s Alpha là một yêu cầu bắt buộc. Nó chứng minh rằng phương pháp đo lường là hợp lệ, tăng tính thuyết phục và giá trị học thuật cho nghiên cứu.

  • Có 2 tiêu chí cần lưu ý khi đánh giá kết quả Cronbank’s Alpha là:

Hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo sẽ có giá trị từ 0 đến 1. Nếu giá trị này lớn hơn hoặc bằng 0.7 thì được coi là có độ tin cậy tốt. Nếu hệ số này trong khoảng từ 0.7 đến 8 thì những nhân tố có độ tin cậy khá và độ tin cậy sẽ cao hơn nếu giá trị này từ 0.8 đến 1 (Hair và ctg., 2009).

Hệ số giá trị tương quan biến tổng (Corrected Item-Total Correlation) của từng biến quan sát trong thang đo nên từ 0.3 trở lên để biến có thể tiếp tục tham gia vào phân tích tiếp theo. các biến có giá trị tương quản nhỏ hơn 0.3 sẽ bị loại bỏ vì chúng không đủ mang thông tin cho biến tổng (Nunnally và Bernstein, 1994)

3.4.2. Phân tích các nhân tố khám phá – EFA ( Exploratory Factor Analysis) Luận văn: PPNC tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.

Bước phân tích nhân tố khám phá EFA để đánh giá tính hợp lệ của thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến việc ra quyết định đầu tư cổ phiếu của NĐT cá nhân trên TTCK VN.

  • Các tiêu chí trong phân tích EFA:

Hệ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) là chỉ số dùng để xem xét sự thích hợp của phân tích nhân tố. Hệ số KMO phải đạt giá trị 0.5 trở lên là điều kiện để phân tích nhân tố là phù hợp. Nếu trị số này nhỏ hơn 0.5, thì phân tích nhân tố có khả năng không thích hợp với tập dữ liệu nghiên cứu (Kaiser, 1974).

Kiểm định Bartlett dùng để xem xét các biến quan sát trong nhân tố có tương quan với nhau hay không. Kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê khi (sig Bartlett’s Test < 0.05), chứng tỏ các biến quan sát có tương quan với nhau trong tổng thể.

Phần trăm phương sai trích (Percentage of variance) >50%: thể hiện phần trăm biến thiên của các biến quan sát. Nếu xem biến thiên là 100% thì giá trị này cho biết phần trăm nhân tố giải thích được bao nhiêu %.

Trị số Eigenvalue để xác định số lượng nhân tố trong phân tích EFA, chỉ có những nhân tố nào có Eigenvalue > 1 mới được giữ lại trong mô hình phân tích. Tổng phương sai trích (Total Variance Explained) ≥ 50% cho thấy mô hình EFA là phù hợp. Coi biến thiên là 100% thì trị số này thể hiện các nhân tố được trích cô đọng được bao nhiêu % và bị thất thoát bao nhiêu % của các biến quan sát.

3.4.3. Phân tích tương quan Pearson

Hệ số tương quan Pearson (ký hiệu r) để lượng hoá mức độ chặt chẽ của mối liên hệ tuyến tính giữa hai biến định lượng.

  • Nếu r tiến về 1 hoặc về -1 thì tương quan tuyến tính càng mạnh, càng chặt chẽ. Theo đó tiến về 1 là tương quan dương, tiến về -1 là tương quan âm.
  • Nếu r càng tiếng về 0: tương quan tuyến tính càng yếu
  • Nếu r=1: tương quan tuyến tính tuyệt đối, khi biểu diễn trên đồ thị phân tán Scatter, các điểm biểu diễn sẽ nhập lại thành 1 đường thẳng. Luận văn: PPNC tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.
  • Nếu r=0: không có mối tương quan tuyến tính. Lúc này sẽ có 2 tình huống xảy ra là: không có mối liên hệ nào giữa 2 biến hoặc giữa chúng có mối liên hệ phi tuyến.

3.4.4. Thực hiện hồi quy đa biến trên SPSS

Kiểm định F để kiểm định giả thuyết H0: R2 =0 . Nếu Sig < 0.05. Bác bỏ giả thuyết H0 , nghĩa là R2 khác 0 , mô hình hồi quy phù hợp.

Giá trị Durbin- Watson để đánh giá hiện tượng tương quan chuỗi bậc nhất. Giá trị này nên trong khoản từ 1.5 – 2.5 (Yahua Qiao, 2011).

Kiểm định t (student) đánh giá hệ số hồi quy của mỗi biến độc lập có ý nghĩa trong mô hình hay không. Sig. <0.05 hệ số hồi quy có ý nghĩa thống kê, biến độc lập có tác động lên biến phụ thuộc.

Hệ số phóng đại phương sai (VIF) để đánh giá hiện tượng cộng tuyến trong mô hình hồi quy. VIF càng nhỏ, càng ít khả năng xảy ra đa cộng tuyến. Hair và cộng sự (2009) cho rằng, ngưỡng VIF từ 10 trở lên sẽ xảy ra đa cộng tuyến mạnh. Theo Nguyễn Đình Thọ (2010) , nếu VIF > 2, có thể xảy ra sự đa cộng tuyến gây sai lệch các ước lượng hồi quy.

  • KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

Trong Chương 3 này tác giả đã trình bày qui trình nghiên cứu của luận văn. Tác giả bám chắc vào mục tiêu nghiên cứu cũng như kế thừa các nghiên cứu trước đây ở cả trong và ngoài nước để xây dựng mô hình và giả thuyết nghiên cứu rồi lập bảng câu hỏi khảo sát dựa trên giả thuyết nghiên cứu ấy. sau đó tác giả có trao đổi và chỉnh sửa bảng câu hỏi theo ý kiến của chuyên gia và hoàn thiện nhóm câu hỏi và tiến hành gửi khảo sát cho nhà đầu tư.

Sau khi nhận phản hồi từ các nhà đầu tư, tác giả tổng hợp, Kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng Cronbach’s Alpha, Phân tích nhân tố khám phá EFA rồi tiến hành hồi qui đa biến trên SPSS. Luận văn: PPNC tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: KQNC tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Contact Me on Zalo
0877682993
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x