Luận văn: KQNC tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: KQNC tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Tác động của tài chính hành vi đến quyết định đầu tư cổ phiếu tại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

4.1. Thống kê mô tả

4.1.1. Mẫu nghiên cứu

Trong phân tích Nhân tố Khám phá EFA yêu cầu một số mẫu tối thiểu để đảm bảo tính ổn định và độ tin cậy của mô hình nhân tố. Số mẫu tối thiểu cần thiết theo các quy tắc khắt khe nhất là 125 và tác giả đã thu thập 206 mẫu để tăng tính đại diện (số mẫu lớn hơn giúp dữ liệu thu thập được đại diện tốt hơn cho tổng thể nghiên cứu), cải thiện độ ổn định thống kê (mẫu lớn hơn dẫn đến sai số chuẩn nhỏ hơn, làm cho các ước tính của mô hình nhân tố (như hệ số tải nhân tố) trở nên ổn định và đáng tin cậy hơn), tăng sức mạnh kiểm định (khả năng phát hiện ra các mối quan hệ có ý nghĩa thống kê sẽ cao hơn), đáp ứng các yêu cầu kiểm định EFA (Các chỉ số kiểm tra tính thích hợp của mẫu như KMO và kiểm định Bartlett thường sẽ đạt yêu cầu tốt hơn với cỡ mẫu lớn hơn).

4.1.2. Tổng hợp kết quả khảo sát nhân khẩu học

Dưới đây là bảng tổng hợp kết quả khảo sát nhân khẩu học NĐT trên TTCK VN

  • Bảng 4. 1 Bảng kết quả khảo sát nhân khẩu học nhà đầu tư trên TTCK VN

4.2. Kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng Cronbach’s Alpha

Kết quả cho thấy, hệ số Cronbach’s Alpha của 5 nhóm nhân tố (Tự tin quá mức, Thiên vị nội địa, Tâm lý bầy đàn, Hiệu ứng ngược vị thế, Neo quyết định) đều lớn hơn 0,7. Sau khi loại bỏ biến TLBD1 không hợp lệ thì hệ số tương quan biến tổng của các biến quan sát trong từng nhân tố đều lớn hơn 0.3. Kết luận thang đo đạt độ tin cậy cần thiết (Hair và ctg., 2009) (Nunnally và Bernstein, 1994), sẳn sàng cho bước phân tích nhân tố khám phá EFA. Kết quả tổng hợp được tác giả tóm tắt cụ thể ở Bảng 4.2.

  • Bảng 4. 2 Kết quả tổng hợp kiểm định thang đo

4.3. Phân tích nhân tố khám phá EFA

4.3.1. Kết quả kiểm định biến độc lập

Theo bảng 7.9 kết quả ma trận xoay, tác giả loại biến TTQM4 do biến này có hệ số tải nhỏ hơn 0.5. Đồng thời cũng loại biến NQD1 do biến này tải lên ở cả 2 nhân tố, vi phạm tính phân biệt. Sau khi tiến hành chạy lại lần 2 thì Hệ số KMO là 0.849 , thoả mãn (0.5 < KMO <1) cho thấy dữ liệu phù hợp với phân tích nhân tố ( theo Bảng 7.10).

Sig (Barlett’s Test) < 0.05 cho thấy các biến quan sát tham gia vào phân tích EFA có tương quan với nhau. Có 5 nhân tố được trích dựa vào tiêu chí Eigenvalue > 1. Tổng phương sai các nhân tố này trích được là 63.661% > 50%, như vậy, 5 nhân tố được trích giải thích 63.661% biến thiên dữ liệu của 22 biến quan sát tham gia vào EFA( theo Bảng 7.11).

Hệ số tải Factor Loading của các biến quan sát trong ma trận xoay đều lớn hơn 0.5, như vậy các biến quan sát này đều có ý nghĩa trong phân tích EFA (theo Bảng 7.12)

4.3.2. Kết quả kiểm định biến phụ thuộc

Hệ số KMO = 0.870 thoả mãn (0.5 < KMO <1) cho thấy dữ liệu phù hợp với phân tích nhân tố. Sig (Barlett’s Test) <0.05 cho thấy các biến quan sát tham gia vào phân tích EFA có tương quan với nhau (theo Bảng 7.13).

Có 1 nhân tố được trích dựa vào tiêu chí Eigenvalue > 1. Tổng phương sai nhân tố này trích được là 66.205% > 50%, như vậy, nhân tố được trích giải thích 66.205% biến thiên dữ liệu của các biến quan sát tham gia vào EFA (theo Bảng 7.14).

Hệ số tải của các biến quan sát đều lớn hơn 0.5, như vậy các biến quan sát này đều có ý nghĩa trong phân tích EFA (theo Bảng 7.15).

4.4. Kết quả phân tích tương quan Pearson Luận văn: KQNC tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.

Giá trị sig. tương quan giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc đều nhỏ hơn 0.05. Như vậy các biến độc lập đều có tương quan tuyến tính với biến phụ thuộc.

Hệ số tương quan giữa các biến độc lập đều nhỏ hơn 0.7, như vậy không xảy ra vấn đề đa cộng tuyến giữa các biến độc lập ( theo Bảng 7.16)

4.5. Phân tích hồi quy tuyến tính bội trên SPSS

Kết quả phân tích theo bảng Anova (bảng 7.17) cho thấy Sig kiểm định F= 0.000 < 0.05, như vậy mô hình hồi quy có ý nghĩa .

Theo bảng Model Summary (bảng 7.18), R bình phương hiệu chỉnh là 0.685 = 68.5%. Như vậy các biến độc lập đưa vào chạy hồi quy ảnh hưởng tới 68.5% sự thay đổi của biến phụ thuộc.

Giá trị Durbin-Watson là 1.986, nằm trong khoảng 1.5 đến 2.5 nên kết quả hồi quy không có hiện tượng tương quan chuỗi bậc nhất.

  • Bảng 4. 3 Bảng Coefficents

Kết quả hồi quy theo bảng Coefficients cho thấy tất cả các biến đều có sự tác động lên biến phụ thuộc do sig kiểm định t của từng biến độc lập đều nhỏ hơn 0.05. Luận văn: KQNC tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.

Kết luận giả thuyết:

  • H1: Tự tin quá mức có tác động đến việc ra quyết định đầu tư của NĐT cá nhân trên TTCK VN (Chấp nhận)
  • H2: Thiên vi nội địa có tác động tới việc ra quyết định đầu tư của NĐT cá nhân trên TTCK VN (Chấp nhận)
  • H3: Tâm lý bầy đàn có tác động đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân trên TTCK VN (Chấp nhận)
  • H4: Hiệu ứng ngược vị thế có tác động đến việc quyết định đầu tư của NĐT cá nhân trên TTCK VN (Chấp nhận)
  • H5: Neo quyết định tác động đến quyết định đầu tư của NĐT cá nhân trên TTCK VN (Chấp nhận)

Hệ số phóng đại phương sai (VIF)

Hệ số VIF các biến độc lập đều nhỏ hơn 5, như vậy không có đa cộng tuyến xảy ra.

  • Dựa vào bảng kết quả 4.20 ở trên ta có phương trình hồi quy:

Chưa chuẩn hoá: QDDT= -0.863 + 0.218 x TTQM + 0.163 x TVND + 0.417 x TLBD + 0.339 x HNVT + 0.127 x NQD + ε

Chuẩn hoá : QDDT= 0.213 + 0.222 x TTQM + 0.158 x TVND + 0.412 x TLBD + 0.328 x HNVT + 0.126 x NQD + ε

  • Ý nghĩa:

Dựa vào kết quả phân tích hồi quy bội cho thấy 5 biến độc lập (Tâm lý bầy đàn, Hiệu ứng ngược vị thế, Tự tin quá mức, Thiên vị nội địa và Neo quyết định) có tác động cùng chiều vào biến phụ thuộc là quyết định đầu tư cổ phiếu

Mức độ tác động của các yếu tố tài chính hành vi tới quyết định đầu tư cổ phiếu của các NĐT trên TTCK VN từ mạnh tới yếu lần lượt là Tâm lý bầy đàn, Hiệu ứng ngược vị thế, Tự tin quá mức, Thiên vị nội địa và cuối cùng là Neo quyết định

Cụ thể là: Luận văn: KQNC tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.

  • Hệ số của Tâm lý bầy đàn (TLBD) là 0.412 (lớn nhất). Điều này có nghĩa là tâm lý bầy đàn là yếu tố có tác động mạnh nhất đến quyết định đầu tư của các NĐT trên TTCK VN so với các yếu tố khác trong mô hình.
  • Hệ số của Hiệu ứng ngược vị thế (HNVT) là 0.328 (đứng thứ hai). Điều này cho thấy Hiệu ứng ngược vị thế cũng có tác động đáng kể đến quyết định đầu tư của các NĐT trên TTCK VN.
  • Hệ số của Tự tin quá mức(TTQM) là 0.222 (đứng thứ ba). Điều này cho thấy Tự tin quá mức cũng có tác động đến quyết định đầu tư của các NĐT trên TTCK VN.
  • Hệ số của Thiên vị nội địa (TVND) là 0.158 (đứng thứ tư). Điều này cho thấy Thiên vị nội địa cũng có tác động đến quyết định đầu tư của các NĐT trên TTCK
  • Hệ số của Neo quyết định (NQD) là 126 (thấp nhất). Điều này có nghĩa là NQD có tác động yếu nhất đến quyết định đầu tư của các NĐT trên TTCK VN trong số các yếu tố được khảo sát.

4.6. Thảo luận kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy có hiện tượng tâm lý bầy đàn không chỉ xuất hiện ở TTCK khác trên thế giới mà còn có mặt ở TTCK Việt Nam và kết quả nghiên cứu này còn góp phần củng cố cho những nghiên cứu trước đây của Huang và ctg.(2015), Tuấn và Phương (2017) và Định (2023). Có thể thấy từ thời điểm đầu tháng 4/2025 đến hiện tại là đầu tháng 9/2025, TTCK VN đã có sự tăng trưởng vượt trội với chỉ số VN-Index tăng từ 1100.31 điểm (9/4/2025) đến đầu tháng 9/2025 đã tiệm cận với con số 1700 điểm. Có thể nói đây là một thành tích ấn tượng nhất lịch sử từ trước tới nay của TTCK VN phản ứng lại trước những thông tin tích cực về việc nâng hạng thị trường vào tháng 9/2025. Sự tăng trưởng nóng kéo theo các dòng tiền mới nhập cuộc từ các nhà đầu tư mới F0 chưa có kinh nghiệm, trong số đó cũng có nhiều người không có kiến thức về tài chính chứng khoán và họ chỉ đầu tư theo phong trào, dẫn đến hiện tượng tâm lý bầy đàn phát triển ngày một mạnh hơn. Đây không chỉ là sai lệch trong tâm lý của riêng những NĐT mới mà những NĐT cũ củng dễ dàng mắc phải nếu thiếu kiến thức, thiếu thông tin và họ cảm thấy an tâm hơn khi đứng trong đám đông. Thêm nữa là tâm lý hối tiếc, sợ bỏ lỡ cơ hội khi thấy các NĐT khác hay bạn bè đều kiếm được tiền nhanh. Có thể dễ dàng nhận thấy hiện tượng tâm lý bầy đàn này càng mạnh thì thị trường càng trở nên nhạy cảm hơn như tạo ra các đợt tăng giá nóng khi nhà đầu tư liên tiếp mua vào bất chấp giá không còn hợp lý và hoảng loạn bán tháo khi thị trường giảm điểm trong cùng một phiên giao dịch mà mọi người hay gọi vui là phiên giao dịch tàu lượn siêu tốc. Hiệu ứng tâm lý bầy đàn này nếu kéo dài và phát triển có hệ thống rất dễ gây nên sự bất ổn và đẩy thị trường vào sự khủng hoảng và sụp đổ như Shiller đã đề cập trong cuốn sách Irrational Exuberance. Ngoài ảnh hưởng về thị trường thì việc NĐT quyết định theo đám đông mà bỏ qua các phân tích, nhận định riêng của cá nhân mình thì càng lâu về sau NĐT sẽ mất dần khả năng tư duy độc lập cũng như mất luôn khả năng phản ứng linh hoạt trước những thay đổi của thị trường. Điều này hoàn toàn bất lợi cho chính NĐT nói riêng và sự phát triển của TTCK VN nói chung. Luận văn: KQNC tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.

Theo kết quả nghiên cứu thì Hiệu ứng ngược vị thế tác động mạnh thứ hai (βHNVT = 0.328) tới quyết định đầu tư cổ phiếu của các NĐT cá nhân so với 5 yếu tố còn lại. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu thực nghiệm của Shefrin và Statman (1985) và nghiên cứu định lượng của Hiển và ctg.(2012). Điều này phản ánh thực trạng các NĐT cá nhân trên TTCK VN đang đầu tư chưa có chiến lược và còn bị cảm xúc chi phối quá nhiều trong việc ra quyết định đầu tư. Hiệu ứng này bắt nguồn từ tâm lý muốn hiện thực hoá lợi nhuận và e ngại cắt lỗ, cũng chính vì vậy mà nhà đầu tư bỏ qua nhiều khoản lợi nhuận tốt mà giữ lại những khoản lỗ (cổ phiếu kém hiệu quả) quá lâu. Lệch lạc này nếu kéo dài lâu sẽ làm giảm lợi nhuận và tăng chi phí vì cứ thấy cổ phiếu tăng nhẹ là NĐT đã nhanh chóng bán và đảo qua các cổ phiếu khác chưa chắc đà tăng trưởng tốt bằng, điều nay làm cho hiệu quả đầu tư lâu dài không cao.

Theo kết quả nghiên cứu thì sự tự tin quá mức tác động mạnh thứ ba (βTTQM=0.222) tới quyết định đầu tư cổ phiếu của các NĐT cá nhân so với 5 yếu tố còn lại. Tâm lý quá tự tin không chỉ ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các NĐT trên thế giới mà các NĐT trên TTCK VN cũng không là ngoại lệ. Điều này cũng có phần tương đồng với nghiên cứu trước đây của Odean (1999), Barber và Odean (2001), Longjie và Anfeng (2017), Trang và Linh (2024). Qua kết quả nghiên cứu thì yếu tố tự tin thái quá cũng ảnh hưởng đến việc ra quyết định của NĐT VN nhưng không mạnh bằng tâm lý bầy đàn và hiệu ứng ngược vị thế. Tâm lý tự tin thái quá xuất phát từ thực trạng NĐT đánh giá quá cao về năng lực nhận thức và xử lý thông tin của mình. Sự tự tin thái quá nếu đúng năng lực sẽ khác với việc NĐT chưa đủ năng lực. Nếu NĐT chưa đủ năng lực thì sẽ dễ gây trở ngại cho chính họ trong việc lắng nghe, học hỏi thêm thông tin mới, từ đó dẫn đến tình trạng đánh giá sai rủi ro, sử dụng đòn bẩy tài chính quá mức vào một số ít chứng khoán mà mình tự nhận định rằng tốt nhất, có tiềm năng nhất và tin rằng mình có thể kiểm soát được những bất lợi đó. Khi có những thông tin bất lợi bất ngờ xuất hiện, thị trường đảo chiều đột ngột rất dễ gây ra những khoản thua lỗ lớn. Một số trường hợp vì sự tự tin quá mức mà ra quyết định mua bán liên tục làm tăng chi phí và giảm hiệu quả đầu tư.

Theo kết quả nghiên cứu thì Neo quyết định mức tác động mạnh thứ tư (βNQD=0.213) tới quyết định đầu tư cổ phiếu của các NĐT cá nhân so với 5 yếu tố còn lại. Theo đó tâm lý Neo quyết đinh cũng ảnh hưởng tới việc ra quyết định của nhà đầu tư trên TTCK VN nhưng yếu hơn những yếu tố bên trên. Điều này cũng có phần tương đồng với những nghiên cứu trước đây của Chapman và Johnson (2002), Kaustia và ctg. (2008), Hiếu và ctg. (2020). Nguyên nhân chính dẫn đến điều này là do nhà đầu tư còn thiếu kinh nghiệm, thiếu thông tin cũng như chưa có đủ kiến thức về phân tích về thị trường, về xu hướng và về giá của cổ phiếu. Họ đặt trọng tâm quá nhiều vào thông tin hoặc là giá trị ban đầu và mỗi quyết định đưa ra đều dựa trên điểm neo ban đầu ấy mà không có sự điều chỉnh điểm neo đó cho đúng với tình hình thực tế hiện tại. Tâm lý này dẫn đến việc NĐT có thể bỏ lỡ cơ hội đầu tư tốt vì neo vào một mức giá quá cao hoặc quá thấp, như vậy sẽ làm giảm lợi nhuận lâu dài của NĐT. Ví dụ VN-Index đã có sự tăng điểm liên tục từ 1100.31 ngày 9/4/2025 tới tháng 9 là tiệm cận 1700, nếu NĐT cứ neo quyết định ở đáy 1100.31 thì khi thị trường hồi lại về 1300-1400, NĐT sẽ sợ hãi không dám đưa ra quyết định mua vào và vô tình bỏ lỡ cơ hội đầu tư tốt.

Theo kết quả nghiên cứu thì thiên vị nội địa tác động yếu nhất (βTVND = 0.126) tới quyết định đầu tư cổ phiếu của các NĐT cá nhân so với 5 yếu tố còn lại. Kết quả này cũng tương đồng với nghiên cứu của Huberman (2001) rằng tâm lý thiên vị nội địa, thiên vị vào những gì quen thuộc của các NĐT không chỉ xuất hiện ở Mỹ mà tại Việt Nam cũng tồn tại. Tuy kết quả cho thấy yếu tố này tác động yếu tới quyết định đầu tư nhưng cũng thể hiện rõ việc các NĐT cá nhân Việt Nam đang dành sự ưu tiên vào các công ty trong nước mà bỏ qua việc đa dạng hoá danh mục đầu tư của mình ra thị trường toàn cầu. Tâm lý này bắt nguồn từ rào cản về sự thiếu thông tin, sự khác biệt văn hóa cũng như tâm lý ngại đầu tư vào những thị trường lạ đã mạnh hơn ý chí muốn đa dạng hoá danh mục và tối đa hoá lợi nhuận. Việc làm này có thể làm tăng nguy cơ rủi ro lên khi thị trường trong nước gặp biến động lớn. Luận văn: KQNC tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4

Chương này tập trung vào việc tổng hợp và phân tích kết quả sau khi thu thập dữ liệu từ 206 nhà đầu tư cá nhân đang giao dịch tại TTCK VN.

Thông qua các bước kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha của từng biến, phân tích nhân tố khám phá EFA, kiểm tra phân tích tương quan Pearson và cuối cùng là phân tích hồi quy tuyến tính đa bội từ đó kết luận rằng cả 5 biến độc lập (Tâm lý bầy đàn, Hiệu ứng ngược vị thế, Tự tin quá mức, Thiên vị nội địa và Neo quyết định) có tác động cùng chiều vào biến phụ thuộc là quyết định đầu tư cổ phiếu của các NĐT trên TTCK VN.

CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

5.1. Kết luận

Căn cứ vào tổng quan lý thuyết, các nghiên cứu trước đây và kết quả thực nghiệm qua khảo sát 206 nhà đầu tư cá nhân trên TTCK VN tác giả có kết luận cả năm yếu tố của tài chính hành vi: Tâm lý bầy đàn, Hiệu ứng ngược vị thế, Tự tin quá mức, Thiên vị nội địa và Neo quyết định đều có mối liên hệ cùng chiều và đều tác động tới quyết định đầu tư cổ phiếu tại TTCK VN. Trong 5 yếu tố tâm lý kể trên thì tâm lý bầy đàn tác động mạnh nhất (βTLBD = 0.412), Neo quyết định tác động yếu nhất (βNQD = 0.126) so với các yếu tố còn lại.

Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng đóng góp quan trọng vào tài liệu liên quan đến lĩnh vực tài chính hành vi tại Việt Nam nói riêng và Thế giới nói chung. Những kết quả thu được từ nghiên cứu này góp phần khẳng định mô hình lý thuyết, cho thấy mối liên hệ tồn tại giữa Tâm lý bầy đàn, Hiệu ứng ngược vị thế, Tự tin quá mức, Thiên vị nội địa và Neo quyết định đến quyết định đầu tư của các NĐT cá nhân.

5.2. Khuyến nghị Luận văn: KQNC tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.

Hiện tượng tâm lý bầy đàn phát triển nguyên nhân đa phần là do sự thiếu kiến thức nên việc làm cấp thiết của NĐT cá nhân trên TTCK VN trau dồi thêm kiến thức về chuyên ngành tài chính, khả năng phân tích thị trường nói chung và cổ phiếu nói riêng. Bên cạnh đó cần bổ sung thêm kiến thức về tài chính hành vi để chủ động phòng tránh những sai lệch về tâm lý. Bên cạnh đó NĐT cần tiết chế lại cảm xúc, luôn giữ sự tỉnh táo cần thiết, một cái đầu lạnh, công tâm khách quan khi ra quyết định đầu tư của mình. Ngoài ra việc trang bị đầy đủ kiến thức giúp NĐT hành động có chiến lược hơn, kỹ luật hơn, tránh rơi vào cái bẩy của sự tự tin thái quá hay thiếu tự tin trong việc đưa ra quyết định.

Để khắc phục hiệu ứng ngược vị thế, điều tiên quyết vẫn là NĐT phải xây dựng cho mình một nền tảng kiến thức về thu thập thông tin và phân tích thị trường. Bên cạnh đó, NĐT cũng nên xây dựng chiến lược đầu tư và kỹ luật với chiến lược đó để không bị cảm xúc làm ảnh hưởng và chi phối quá nhiều. Việc tìm hiểu và sử dụng lệnh cắt lỗ trong giao dịch đầu tư cổ phiếu cũng rất quan trọng. Trước khi ra quyết định đầu tư thì NĐT nên định cho mình một mức tỷ lệ phần trăm chênh lệch âm so với giá mua để khi cổ phiếu đó biến động theo chiều giảm thì lệnh bán đã sẳn sàng được kích hoạt, việc làm này giúp NĐT không bị lỗ quá sâu và ko giữ quá lâu một cổ phiếu không tăng giá. Ngoài ra thì NĐT cũng nên xem xét lại danh mục đầu tư của mình có những cổ phiếu nào đang lỗ mà tiềm năng cũng như triển vọng phát triển của doanh nghiệp trong tương lai không tốt thì cũng nên bán bớt và chỉ giữ lại công ty có tiềm năng mà giá chưa tăng.

Ý thức được những hậu quả do tâm lý tự tin quá mức gây ra, tác giả có những khuyến nghị nhằm khắc phục tâm lý đó như sau: nhà đầu tư ngoài trau dồi kiến thức thì cần phải chủ động tìm kiếm các thông tin, quan điểm trái ngược với suy nghĩ của mình để có cái nhìn khách quan hơn về thị trường. Bên cạnh đó việc tham khảo thêm ý kiến từ các chuyên gia, các nhà đầu tư giàu kinh nghiệm cũng sẽ giúp NĐT nhận ra những sai lầm chủ quan mà tự bản thân không phát hiện. Bên cạnh đó việc ghi lại nhật ký giao dịch: nguyên nhân tại sao muốn mua hoặc bán, lựa chọn quyết định cuối cùng là gì và kết quả của quyết định đó. Việc ghi chép nhật ký như thế này khiến nhà đầu tư tăng khả năng ghi nhớ để rút kinh nghiệm cho những lần giao dịch sau để không phạm phải sai lầm chủ quan nữa. Ngoài ra thì việc đa dạng hoá danh mục đầu tư cũng giúp giảm thiểu rủi ro do việc tự tin quá mà tập trung vào một vài cổ phiếu.

Tác giả cũng gợi ý cách khắc phục tâm lý Neo quyết định bằng cách đánh giá cổ phiếu dựa trên các yếu tố cơ bản: triển vọng tăng trưởng kinh doanh, doanh thu, lợi nhuận, vị thế công ty so với nhóm cùng ngành, tham khảo nguồn dữ liệu uy tín, học thêm các phương pháp định giá cũng như dự báo về xu hướng, tham khảo ý kiến chuyên gia thay vì chỉ tập trung vào giá mua hoặc bán trong quá khứ. Luận văn: KQNC tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.

Đối với việc khắc phục tâm lý thiên vi nội địa, thiên vi những thứ quen thuộc thì đầu tiên NĐT phải trau đồi kiến thức. Đương nhiên là chúng ta không thể nào đầu tư vào những thứ mà mình không hiểu nên ngoài việc học hỏi để đầu tư TTCK trong nước thì NĐT cũng nên dành thời gian cho việc tìm hiểu về thị trường nước ngoài qua các trang thông tin tài chính quốc tế uy tín như: Bloomberg, The Wall Street Journal, Reuters, Financial Times và Investopedia. Sau đó đăng ký cho mình một tài khoản tại các sàn giao dịch uy tín và phân bổ một tỷ lệ tài sản nhỏ vào đó và kỹ luật trong việc quản trị ro. Sự đa dạng hoá trong đầu tư trong và ngoài nước ngoài giúp giảm thiểu rủi ro khi thị trường trong nước biến động còn giúp ta có thêm kiến thức phong phú hơn về TTCK Thế giới.

Vài năm trở lại đây công nghệ AI ngày càng phát triển, có thể xem nó như một trợ thủ đắc lực đã giúp tiết kiệm thời gian và công sức cho con người rất nhiều. Việc áp dụng công nghệ AI vào phân tích đầu tư cũng đang trở nên phổ biến hơn vì tính tiện dụng và chi phí rẻ. Theo một nghiên cứu gần đây cho thấy khả năng dự đoán xu hướng thị trường chứng khoán chỉ sử dụng dữ liệu tweet và phân tích cảm xúc, kết quả cho thấy công cụ Chat GPT đạt độ chính xác đến 70% cho Microsoft và 63,88% cho Google (Ummara, M. & Summaya, M., 2023). Một con số thật ấn tượng về sức mạnh của Chat GPT. Kết quả này hoàn toàn vượt trội so với các mô hình dự đoán ngẫu nhiên. Ngạc nhiên hơn là không chỉ giới hạn ở mặt dự báo được xu hướng, Chat GPT còn bổ sung thêm chiều sâu và bối cảnh cho việc phân tích bằng việc chỉ ra những yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới xu hướng đó.

Việc tham gia hội nhóm khuyến nghị mua bán cổ phiếu có thể mang lại tác dụng tiêu cực như dễ bị yếu tố tâm lý bầy đàn, tâm lý đám đông làm ảnh hưởng tới việc ra quyết định mua và bán. Tuy nhiên ngoài những mặt tiêu cực thì ta cũng thẳng thắn nhìn nhận những mặt lợi như: các hội nhóm thường là nơi chia sẽ thông tin, tin tức mới của thị trường, các sự kiện quan trọng, gợi ra những phân tích và góc nhìn từ nhiều nguồn khác nhau từ những người có kinh nghiệm. Họ có thể giúp ta nắm bắt kịp thời những thông tin mới, mở mang thêm kiến thức, thông qua đó ta có thể biết được thị trường đang vận động như thế nào, tâm lý đám đông xung quanh ta đang nghĩ gì, để chúng ta có cái nhìn khách quan hơn trong việc đầu tư.

Số lượng tài khoản giao dịch của các NĐT cá nhân Việt Nam chiếm đến 99,82% số lượng và chiếm 80% khối lượng giao dịch trên toàn thị trường. Đây được xem là lực lượng cốt lõi, việc họ có kiếm lợi nhuận bền vững thì khả năng gắn bó và ở lại lâu dài với TTCK VN sẽ cao hơn. Nên việc cần thiết xây dựng một kênh thông tin đầu tư chính thống của chính phủ, nơi mà các thông tin về thị trường chứng khoán được cập nhật liên tục kịp thời, chính xác. Ngoài ra nên khẩn trương xây dựng phát hành các video trực quan hướng dẫn, phổ cập kiến thức từ nền tảng đầu tư chứng khoán đến tài chính hành vi dành cho các NĐT mới.

Nếu việc nâng hạng thị trường diễn ra thuận lợi và thành công thì nguồn vốn nước ngoài vào Việt Nam sẽ rất lớn. Để tăng tính cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước nói riêng và trên trường quốc tế nói chung thì chứng khoán Việt Nam đang từng bước hoàn thiện khâu tổ chức, trong đó có việc minh bạch trong công bố thông tin doanh nghiệp, chuẩn hoá việc trình bày báo cáo tài chính theo chuẩn quốc tế và đẩy mạnh công bố thông tin bằng tiếng Anh, đồng bộ hoá theo chuẩn quốc tế để các nhà đầu tư nước ngoài có thể dễ dàng tìm hiểu cũng như cảm thấy thân thuộc như đầu tư các công ty trong nước.

5.3. Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo Luận văn: KQNC tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.

Trong khuôn khổ giới hạn về thời gian nghiên cứu của đề tài vẫn còn một số hạn chế mà tác giả vẫn chưa hoàn toàn giải quyết từ đó các nhà nghiên cứu sau có thể tiếp tục cải thiện các hạn chế này để hoàn thiện hơn mô hình đề xuất.

Thứ nhất, giới hạn đề tài chỉ mới nghiên cứu tới tác động mạnh yếu của các yếu tố tài chính hành vi lên quyết định đầu tư cổ phiếu, chưa liên kết được với việc quyết định đó có mang tính hiệu quả trong đầu tư hay chưa.

Thứ hai, trong giới hạn của đề tài tác giả chỉ thu thập dữ liệu các nhà đầu tư cá nhân, chưa có mở rộng ra nhà đầu tư doanh nghiệp. Do đó các nhà nghiên cứu tiếp theo về chủ đề này được khuyến khích nghiên cứu thêm về nghiên cứu tâm lý NĐT doanh nghiệp để cái nhìn khách quan hơn về tâm lý TTCK VN trên đà phát triển và hội nhập với TTCK Thế giới.

Thứ ba, đề tài chỉ gói gọn trong 5 yếu tố tài chính hành vi, thực tế còn rất nhiều các yếu tố TCHV khác cũng tác động đến quyết định đầu tư cổ phiếu của NĐT nên tác giả mong rằng các nghiên cứu tiếp theo sẽ bổ sung thêm nhiều yếu tố TCHV khác để có cái nhìn khách quan và toàn diện hơn về các tác động của TCHV đến quyết định đầu tư trên TTCK.

  • KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 Luận văn: KQNC tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.

Trong chương này tác giả dựa vào kết quả chương 4 để kết luận về các yếu tố tài chính hành vi ảnh hưởng tới việc ra quyết định đầu tư trên TTCK Việt Nam, đồng thời khuyến nghị làm giảm tác động của tài chính hành vi đến quyết định đầu tư cổ phiếu tại Việt Nam. Đồng thời tác giả cũng đã chỉ ra những hạn chế của đề tài vẫn còn chưa được giải quyết, từ đó tác giả đưa ra những hướng nghiên cứu có thể mở rộng và cần được giải quyết trong các hướng nghiên cứu tiếp theo.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Tác động tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
trackback

[…] ===>>> Luận văn: KQNC tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu […]

Contact Me on Zalo
0877682993
1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x