Luận văn: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Khu công nghiệp Tân Tạo giai đoạn 2023-2025 dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT ĐỀ ÁN

Đề án nêu rõ thực trạng quản trị rủi ro tín dụng trong giai đoạn 2023- 2025 của Agribank chi nhánh Khu công nghiệp Tân Tạo (CN KCN Tân Tạo), từ đó đưa ra một số đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại đơn vị.

Thông qua việc nghiên cứu tổng quan khái niệm, lý thuyết cơ sở về quản trị rủi ro tín dụng và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản trị rủi ro tín dụng trong lĩnh vực ngân hàng trên thế giới và tại Việt Nam, kết hợp liên hệ thực tiễn hoạt động tại đơn vị, đề án đã đưa ra đánh giá công tác quản trị rủi ro tín dụng trong giai đoạn 2023-2025 là hiệu quả.

Đề án giới thiệu những đặc điểm về quy mô, cơ cấu tổ chức của đơn vị, khái quát về tình hình hoạt động tín dụng thông qua các chỉ số: kết quả cấp tín dụng, tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ nợ có vấn đề và nợ xấu, nợ xử lý ngoại bảng và tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng. Song song đó là tình hình tuân thủ các quy định, quy trình quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của Việt Nam và hệ thống Agribank, các biện pháp mà đơn vị đang áp dụng hiệu quả để quản trị rủi ro tín dụng nhằm đạt thành tích tốt trong hoạt động kinh doanh.

Ngoài ra, đề án cũng đề cập một số mặt hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế. Từ đó, dựa trên định hướng kinh doanh của đơn vị, tác giả đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank chi nhánh Khu công nghiệp Tân Tạo trong giai đoạn mới.

PHẦN MỞ ĐẦU

I. Lý do chọn đề tài

Những năm gần đây, tình hình thế giới diễn biến phức tạp với hàng loạt biến động về chính trị, kinh tế và xã hội như dịch bệnh, xung đột, biến đổi khí hậu… khiến kinh tế toàn cầu rơi vào trạng thái bất ổn, giá cả hàng hóa biến động khó lường và lạm phát gia tăng, tác động trực tiếp đến kinh tế – tài chính Việt Nam, gây áp lực lên thị trường vốn, lãi suất và điều hành tỷ giá. Trong bối cảnh đó, với vai trò đặc biệt quan trọng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã thực hiện nhiều giải pháp điều hành linh hoạt nhằm hỗ trợ phục hồi kinh tế, giảm lãi suất, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, nhưng tín dụng vẫn tăng chậm và nợ xấu còn cao.

Trước áp lực hội nhập và cạnh tranh ngày càng gia tăng, đòi hỏi các Ngân hàng thương mại phải chú trọng nâng cao năng lực quản trị rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng – lĩnh vực cốt lõi trong hoạt động ngân hàng hướng đến việc tiệm cận các chuẩn mực quốc tế, giúp đảm bảo an toàn hệ thống, cung ứng vốn hiệu quả cho nền kinh tế là yêu cầu tất yếu để phát triển bền vững và khẳng định vị thế trong giai đoạn mới.

Từ thực tiễn này, việc nghiên cứu, đánh giá nhằm nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại trở nên cần thiết. Trong quá trình công tác tại Agribank chi nhánh Khu công nghiệp Tân Tạo, nhận thấy giai đoạn 2023 đến 2025 là giai đoạn đơn vị có những chuyển biến rõ rệt trong hoạt động kinh doanh nhờ triển khai nhiều biện pháp, trong đó công tác quản trị rủi ro tín dụng đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát những tổn thất có thể xảy ra ở mặt hoạt động trọng yếu của ngân hàng là nghiệp vụ tín dụng, nhằm đạt được hiệu quả phát triển kinh doanh bền vững của đơn vị. Để đánh giá lại vai trò của công tác quản trị rủi ro tín dụng với việc đạt được kết quả kinh doanh tốt trong 3 năm qua, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản trị rủi ro tín dụng trong giai đoạn mới của của đơn vị, tác giả lựa chọn đề tài : “Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Khu công nghiệp Tân Tạo giai đoạn 2023-2025”.

II. Mục tiêu nghiên cứu Luận văn: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank.

Mục tiêu tổng quát: Phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Khu công nghiệp Tân Tạo giai đoạn 2023–2025, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro, góp phần đảm bảo an toàn và phát triển bền vững cho chi nhánh.

  • Mục tiêu cụ thể:

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng trong ngân hàng thương mại.

Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank – Chi nhánh Khu công nghiệp Tân Tạo giai đoạn 2023–2025. Từ đó, xác định hạn chế và nguyên nhân trong hoạt động quản trị rủi ro tín dụng của chi nhánh.

Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả công tác quản trị rủi ro tín dụng, phù hợp định hướng của Agribank và tình hình thực tế của chi nhánh trong giai đoạn tiếp theo.

III. Câu hỏi nghiên cứu

Đề án tập trung vào việc tìm câu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu sau:

  • Quản trị rủi ro tín dụng trong ngân hàng thương mại được hiểu như thế nào và bao gồm những nội dung chủ yếu nào?
  • Thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank – Chi nhánh Khu công nghiệp Tân Tạo giai đoạn 2023–2025 diễn ra ra sao? Những hạn chế và nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại chi nhánh là gì?
  • Cần thực hiện những giải pháp nào để hoàn thiện và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại chi nhánh trong giai đoạn tiếp theo?

IV. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank chi nhánh Khu công nghiệp Tân Tạo.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Về nội dung: Công tác quản trị rủi ro tín dụng.
  • Về không gian: Agribank chi nhánh Khu công nghiệp Tân Tạo.
  • Về thời gian: Giai đoạn từ năm 2023 đến năm 2025.

Góc độ nghiên cứu, đề xuất các giải pháp kiến nghị là của tác giả thực hiện.

V. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank.

Để thực hiện được mục đích nghiên cứu của đề tài, đề án sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Đề án đã được sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng và lịch sử từ các lý thuyết trong giáo trình và các nguồn sách báo,… nhằm hệ thống, thống kê, suy luận và phân tích, tổng hợp để đưa ra đánh giá thực trạng quản lý rủi ro tại đơn vị nghiên cứu.

Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Thu thập thông tin số liệu thứ cấp từ các báo cáo thường niên, báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh của Agribank chi nhánh Khu công nghiệp Tân Tạo từ 2023-2025. Thống kê, mô tả, so sánh, tổng hợp số liệu, phương pháp biểu mẫu, kết hợp với phỏng vấn trực tiếp các đại diện của đơn vị đang nghiên cứu để để phân tích, đánh giá và đưa ra những đề xuất để đạt được mục tiêu nghiên cứu.

VI. Đóng góp của nghiên cứu

Ý nghĩa về mặt lý luận: Thông qua việc hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng, đề án chứng minh được tính đúng đắn và có yếu tố thời sự về quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng là việc xây dựng, tổ chức điều hành triển khai thực hiện và tuân thủ các chiến lược, chính sách và quy trình tín dụng nhằm đảm bảo an toàn, hạn chế rủi ro, tối đa hóa lợi nhuận và phát triển bền vững.

Ý nghĩa về mặt thực tiễn: Đề án đã hệ thống số liệu, đưa ra những phân tích và đánh giá về thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng cụ thể tại một đơn vị kinh doanh cấp chi nhánh, trong giai đoạn gần nhất từ năm 2023-2025, cũng là giai đoạn chi nhánh đạt được những kết quả hoạt động kinh doanh tốt. Từ đó, đưa ra một số đề xuất, giải pháp sát thực tế, phù hợp định hướng phát triển của đơn vị có giá trị ứng dụng để góp phần vào nâng cao hiệu quả công tác quản trị rủi ro tín dụng trong giai đoạn hiện nay cho Agribank chi nhánh Khu công nghiệp Tân Tạo nói riêng và những mô hình tổ chức tương đương nói chung.

VII. Kết cấu của đề án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, Đề án được chia thành 03 chương:

Chương 1- Cơ sở lý luận và tình hình nghiên cứu: Trình bày lý thuyết về rủi ro tín dụng của các Ngân hàng thương mại, lý thuyết về quản trị rủi ro tín dụng và khảo lược các công trình nghiên cứu liên quan đến hoạt động quản trị rủi ro tín dụng.

Chương 2- Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank Chi nhánh Khu công nghiệp Tân Tạo giai đoạn 2023-2025: Tổng quan về Agribank Chi nhánh Khu công nghiệp Tân Tạo và hệ thống các quy định, quy trình pháp lý đã được chuẩn hóa liên quan đến Quản trị rủi ro tín dụng trong hệ thống Agribank. Nêu thực trạng và kết quả đã đạt được trong việc thực hiện hoạt động kinh doanh của đơn vị kết hợp với việc tổng hợp các ý kiến phỏng vấn các cán bộ- nhân viên tại đơn vị, tác giả phân tích những điểm mạnh, cũng như các hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân của hạn chế, tồn tại.

Chương 3- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank Chi nhánh Khu công nghiệp Tân Tạo: Dựa vào những đánh giá, phân tích từ chương 2 và định hướng hoạt động của đơn vị trong năm 2026, tác giả sẽ đề xuất một số giải pháp để nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng trong giai đoạn hiện nay.

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Lý thuyết về rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại

1.1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại Luận văn: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank.

Theo Ủy ban Basel thì “Rủi ro tín dụng là khả năng mà khách hàng vay (doanh nghiệp) hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã thỏa thuận”. Cũng theo Ủy ban này, một định nghĩa khác được nêu ra là “Rủi ro thất thoát đối với một ngân hàng là sự vỡ nợ của người giao ước trong hợp đồng, trong đó sự vỡ nợ được xác định là bất kỳ sự vi phạm nghiêm trọng nào đối với nghĩa vụ hợp đồng khi hoàn trả gốc và/hoặc lãi”.

Ở Việt Nam, căn cứ Khoản 1, Điều 3 thuộc “Quy định về phân loại tài sản có trong hoạt động của ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài” ban hành kèm theo Thông tư số 31/2025/TT-NHNN ngày 30/6/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thì:“Rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng… là khả năng xảy ra tổn thất đối với nợ của ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng do khách hàng không có khả năng trả được một phần hoặc toàn bộ nợ của mình theo hợp đồng hoặc thỏa thuận… với ngân hàng…”.

Từ những cơ sở lý luận trên, có thể định nghĩa tổng quát rủi ro tín dụng là một loại rủi ro trọng yếu phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện bằng việc khách hàng không trả nợ đúng hạn, trả không đầy đủ hoặc không trả được nợ gây ra tổn thất về tài chính như đọng vốn, mất vốn. Nó có mối liên hệ chặt chẽ với các loại rủi ro khác và ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của hệ thống ngân hàng.

1.1.2. Các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại

1.1.2.1 Các chỉ tiêu trực tiếp đánh giá rủi ro tín dụng

Mức độ rủi ro tín dụng sẽ được đánh giá dựa trên các nhóm nợ và mức trích lập dự phòng rủi ro theo quy định tại Thông tư 31/2025/TT-NHNN ngày 30/6/2022 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam “Quy định về phân loại tài sản có trong hoạt động của ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài” (Thông tư 31/2025). Theo đó, các khoản nợ sẽ được phân loại như sau:

  • Nhóm 1: nợ đủ tiêu chuẩn (thanh toán đúng hạn, quá hạn dưới 10 ngày).
  • Nhóm 2: nợ cần chú ý (quá hạn từ 10-90 ngày).
  • Nhóm 3: nợ dưới tiêu chuẩn (quá hạn từ 91-180 ngày).
  • Nhóm 4: nợ nghi ngờ (quá hạn từ 181-360).
  • Nhóm 5: nợ có khả năng mất vốn (quá hạn trên 360 ngày).

Theo thông lệ quốc tế tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu từ 3%/tổng dư nợ trở xuống được xen là an toàn cho Ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, tỷ lệ này có thể thay đổi tùy thuộc vào quy định cụ thể của từng quốc gia và từng ngân hàng.

  • a) Nợ quá hạn Luận văn: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank.

Thông tư 31/2025 định nghĩa “Khoản nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng không trả được đúng hạn một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi theo thỏa thuận với ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng”. Nợ quá hạn là một trong số những chỉ tiêu cơ bản phản ánh rủi ro tín dụng, nếu ngân hàng có chỉ tiêu nợ quá hạn lớn thì ngân hàng đó đang có mức rủi ro cao và ngược lại.

  • b) Nợ xấu

Theo Thông tư 31: “Nợ xấu (NPL) là nợ xấu đang hạch toán trong bảng cân đối kế toán (nợ xấu nội bảng), gồm nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5”. Hay nói cách khác, nợ xấu là các khoản tiền cho khách hàng vay nhưng khó hoặc không thể thu hồi được và là chỉ tiêu phản ánh rõ nét chất lượng tín dụng của ngân hàng, thông qua việc đánh giá về thời hạn quá hạn của khoản vay và tiêu chí đánh giá rủi ro của khoản vay.

Nợ xấu được phản ánh qua các chỉ số như:

  • Tỷ lệ Nợ xấu/Tổng dư nợ.
  • Tỷ lệ Nợ xấu/Vốn chủ sở hữu.
  • Tỷ lệ Nợ xấu/Quỹ dự phòng tổn thất.

c) Dự phòng rủi ro tín dụng

Theo Điều 3, Nghị định 86/2025/NĐ-CP (11/7/2025) “Quy định về mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro, việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và trường hợp tổ chức tín dụng phân bổ lãi phải thu phải thoái” (Nghị định 86): “Dự phòng rủi ro là số tiền được trích lập để dự phòng cho những rủi ro có thể xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Dự phòng rủi ro gồm dự phòng cụ thể và dự phòng chung”.

Tại Điều 4 và Điều 7, Nghị định 86 quy định: “Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với nợ được phân loại từ nợ nhóm 1 đến nợ nhóm 5 của tổ chức tín dụng…như sau: a) Nhóm 1: 0%; b) Nhóm 2: 5%; c) Nhóm 3: 20%; d) Nhóm 4: 50%; đ) Nhóm 5: 100%” và “dự phòng chung phải trích được xác định bằng 0,75% tổng số dư các khoản nợ được phân loại từ nợ nhóm 1 đến nợ nhóm 4”.

Dự phòng rủi ro nhằm mục đích bù đắp tổn thất từ những khoản nợ mà khách hàng không có khả năng chi trả do phá sản, giải thể, chết, mất tích, hoặc khoản nợ được xếp vào nhóm 5. Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, căn cứ phân loại và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng được xác định bằng thời gian quá hạn của khoản vay hoặc kết quả xếp hạng tín nhiệm.

Mỗi ngân hàng cần tính dự phòng phù hợp vừa để đủ bù đắp những rủi ro, vừa tránh chi phí tăng cao làm ảnh hưởng đến thu nhập. Việc sử dụng dự phòng tuân theo nguyên tắc: trước hết là sử dụng dự phòng cụ thể đối với từng khoản nợ, xử lý phát mại tài sản đảm bảo để thu hồi nợ, và sau đó nếu phát mãi tài sản không đủ thu hồi nợ, thì cuối cùng mới sử dụng đến khoản dự phòng chung. Luận văn: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank.

1.1.2.2. Các chỉ tiêu gián tiếp đánh giá rủi ro tín dụng

Các chỉ tiêu gián tiếp mặc dù không phản ánh cụ thể rủi ro tín dụng của ngân hàng, tuy nhiên các chỉ tiêu này có sự thay đổi lớn của kỳ này so với kỳ trước hay so với trung bình của hệ thống ngân hàng thì các chỉ tiêu này là dấu hiệu phản ánh rủi ro tín dụng của ngân hàng. Trên cơ sở đó, ngân hàng có thể xem xét thêm các chỉ tiêu khác để đánh giá toàn diện về rủi ro tín dụng của ngân hàng.

Quy mô tín dụng: Nếu quy mô tín dụng tăng nóng theo hướng nới lỏng các chính sách tín dụng, không tương ứng với khả năng kiểm soát của ngân hàng thì quy mô tín dụng sẽ phản ánh rủi ro tín dụng thể hiện qua: Dư nợ trên tổng tài sản; Dư nợ bình quân và số lượng khách hàng bình quân trên số lượng cán bộ tín dụng; Tốc độ tăng trưởng tín dụng so với tốc độ tăng trưởng kinh tế.

Cơ cấu tín dụng: Phản ánh mức độ tập trung tín dụng trong một ngành nghề, lĩnh vực, loại tiền… Cơ cấu tín dụng chia theo các nhóm: Cơ cấu tín dụng theo ngành (Nếu tập trung cho vay vào những ngành mạo hiểm thì rủi ro mất khả năng trả được nợ cao); Cơ cấu tín dụng theo loại hình (doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài); Cơ cấu tín dụng theo loại tiền tệ (rủi ro xảy ra khi có sự biến động mạnh bất lợi về tỷ giá; nguồn vốn huy động theo từng loại tiền tệ không có khả năng đáp ứng đối với dư nợ cho vay)…

1.1.3. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại Luận văn: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank.

  • Hình 1.1- Rủi ro tín dụng

1.1.3.1. Nguyên nhân khách quan

  • a. Môi trường chính trị, pháp luật

Môi trường chính trị có ảnh hưởng nhiều đến hoạt động tín dụng của ngân hàng. Nếu tình hình chính trị xã hội không ổn định thì không chỉ riêng các khách hàng sản xuất mà cả các ngân hàng cũng khó có thể yên tâm tập trung vào đầu tư, mở rộng kinh doanh, đặc biệt là mở rộng tín dụng.

Môi trường pháp lý cũng có ảnh hưởng quan trọng đến quá trình quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng. Xác lập một khuôn khổ pháp luật đồng bộ, nhất quán điều chỉnh các hoạt động kinh tế trong nền kinh tế thị trường được xem như là điều kiện tiên quyết đảm bảo thị trường hoạt động có hiệu quả.

  • b) Môi trường kinh tế

Hoạt động tín dụng chịu tác động lớn của môi trường kinh tế bao gồm: chu kỳ kinh tế, các chính sách kinh tế vĩ mô từng thời kỳ, ảnh hưởng từ xu thế toàn cầu hóa. Những nguyên nhân bất khả kháng khác như khủng hoảng kinh tế, thiên tai, dịch bệnh. Tiêu biểu như giai đoạn 2021 – 2023 khi mà dịch Covid-19 làm đóng băng nền kinh tế khiến cho GDP tăng trưởng ở mức thấp, cuộc chiến tranh giữa Nga và Ukraine,…đã tạo ra một cuộc khủng hoảng trầm trọng cũng như gây ra các cú sốc kinh tế to lớn trên phạm vi toàn cầu, dẫn đến những vấn đề như: lạm phát, thất nghiệp, tỷ giá biến động,… làm ảnh hưởng đến giá cả của các tài sản bảo đảm (giảm giá, khó định giá, tính thanh khoản thấp, tranh chấp pháp lý) và tác động đến hoạt động tài chính của khách hàng vay vốn làm ảnh hưởng đến khả năng tài chính để trả nợ của khách hàng.

1.1.3.2. Nguyên nhân chủ quan

  • a. Chính sách tín dụng của ngân hàng Luận văn: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank.

Chính sách tín dụng nếu không minh bạch sẽ làm cho hoạt động tín dụng vấp phải những sai lệch, dẫn tới việc cấp tín dụng không đúng đối tượng, làm khe hở cho người vay trong quá trình sử dụng vốn vay vi phạm hợp đồng và pháp luật của Nhà nước.

  • b) Thẩm định tín dụng

Nguyên nhân dẫn đến khoản cho vay kém và mất an toàn phần lớn bắt nguồn từ tình trạng mất khả năng trả nợ của khách hàng, khả năng trả nợ bị suy yếu hoặc không còn khả năng trả nợ. Nếu ngân hàng chưa đánh giá đúng mức về khoản vay, đối tượng khách hàng vay, tin tưởng chủ quan, không chú trọng khâu kiểm tra tình hình tài chính, khả năng thanh toán nợ, nguồn trả nợ,… thì sẽ không dự đoán được những rủi ro có nguyên nhân từ phía khách hàng vay vốn như: sử dụng vốn vay không đúng mục đích (đầu tư vào các danh mục đầu tư nhạy cảm, cố tình lừa đảo chiếm dụng vốn ngân hàng); sử dụng vốn không hiệu quả (năng lực quản lý nguồn vốn hạn chế, công tác kế toán mang tính đối phó, kinh doanh kém hiệu quả, nợ phải trả tăng); khách hàng vay thiếu ý thức, trách nhiệm trong vấn đề trả nợ.

Đa phần các khách hàng cá nhân và doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng đều có các phương án sử dụng vốn, phương án kinh doanh cụ thể, khả thi. Trường hợp các doanh nghiệp cố ý có những sai phạm, trục lợi, lừa đảo ngân hàng để chiếm đoạt tài sản không nhiều nhưng các vụ việc phát sinh lại mang đến hậu quả nặng nề, liên quan đến uy tín của nhiều cán bộ, ngân hàng, làm ảnh hưởng xấu đến các doanh nghiệp khác.

  • c) Giám sát và quản trị rủi ro sau khi cho vay

Các Ngân hàng thương mại thường chú trọng nhiều cho việc thẩm định trước khi cho vay hơn quá trình kiểm tra, giám sát vốn và tài sản đảm bảo sau khi cho vay. Khoản cho vay cần phải được ngân hàng chủ động có biện pháp quản trị để đảm bảo sẽ được hoàn trả đúng như cam kết. Theo dõi, quản lý khoản nợ là trách nhiệm quan trọng của cán bộ tín dụng và của cả ngân hàng.

  • d) Nhân tố con người:

Trình độ yếu kém và việc cán bộ tín dụng vi phạm đạo đức nghề nghiệp cũng gây ra rủi ro lớn cho ngân hàng: tính toán không đúng hiệu quả đầu tư dự án xin cấp vốn; không nắm được rõ đặc điểm của ngành đang cho vay; hoặc do cán bộ tín dụng tuy đã tính toán được dự án xin vay không có hiệu quả, tính khả thi thấp nhưng vẫn cố tình không tuân thủ quy tắc nghề nghiệp để cho vay,.  Do đó, năng lực điều hành của Ban lãnh đạo ngân hàng

cho vay mang tính chất quyết định tác động đến hiệu quả sử dụng vốn vay, ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng thực hiện các cam kết vay vốn của khách hàng với ngân hàng và cũng ảnh hưởng đến hiệu quả công tác quản trị rủi ro tín dụng của các Ngân hàng thương mại. Luận văn: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank.

  • e) Công tác kiểm tra nội bộ

Công tác kiểm tra nội bộ các ngân hàng có ưu điểm nhanh chóng, kịp thời và sâu sát ngay khi vừa phát sinh vấn đề bởi được thực hiện thường xuyên song song với công việc kinh doanh. Nhưng trong những giai đoạn trước, công việc kiểm tra nội bộ của các Ngân hàng thương mại còn chưa chặt chẽ, chưa đạt hiệu quả cao trong việc phòng chống rủi ro tín dụng.

1.1.4. Hậu quả của rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng sẽ gây rất nhiều tác động xấu không chỉ đến các Ngân hàng thương mại mà còn đến kinh tế – xã hội của một quốc gia. Vì thế, các Ngân hàng thương mại cần có các chính sách về hoạt động quản lý rủi ro tín dụng thật chặt chẽ để hạn chế tối đa các rủi ro có thể xảy ra.

1.1.4.1. Đối với ngân hàng thương mại

Uy tín và năng lực cạnh tranh giảm: Khi ngân hàng gặp rủi ro tín dụng, đặc biệt là nợ quá hạn sẽ làm giảm sút uy tín của ngân hàng trên thị trường tài chính, gây khó khăn trong việc huy động vốn và cạnh tranh hoạt động với các ngân hàng khác.

Thu chi bị mất cân đối: Ngân hàng không thu hồi được nợ gốc và lãi vay, nhưng vẫn phải trả nợ gốc và lãi cho các khoản vay đã huy động, dẫn đến mất cân đối trong thu.

Hiệu quả kinh doanh giảm sút : Rủi ro tín dụng làm chậm vòng quay vốn, ảnh hưởng đến khả năng sinh lời và hiệu quả hoạt động của ngân hàng.

Huy động vốn khó khăn: Tỷ lệ nợ quá hạn cao có thể làm giảm lòng tin của các đối tác và nhà đầu tư, gây khó khăn trong việc huy động vốn.

1.1.4.2. Đối với nền kinh tế

Gián đoạn sản xuất kinh doanh: Các doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn, dẫn đến gián đoạn hoạt động sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.

Mất lòng tin vào hệ thống tài chính: Rủi ro tín dụng có thể làm giảm lòng tin của công chúng vào sự ổn định và an toàn của hệ thống tài chính. Rủi ro tín dụng không chỉ ảnh hưởng đến ngân hàng mà còn ảnh hưởng bất lợi đến cả người gửi tiền. Khi có báo động rủi ro tín dụng, người gửi tiền thường sẽ có phản ứng đồng loạt “bank runs” ảnh hưởng đến nền kinh tế – xã hội.

Ảnh hưởng đến hiệu lực chính sách tiền tệ: Rủi ro tín dụng có thể làm giảm hiệu quả của các chính sách tiền tệ do ngân hàng trung ương đưa ra.

Nguy cơ đổ vỡ dây chuyền: Trong trường hợp một ngân hàng gặp rủi ro tín dụng lớn, có thể gây ra hiệu ứng dây chuyền làm ảnh hưởng đến các ngân hàng khác và cả hệ thống tài chính.

1.2. Lý thuyết về quản trị rủi ro tín dụng Luận văn: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank.

1.2.1. Khái niệm và ý nghĩa của quản trị rủi ro tín dụng Ngân hàng thương mại

1.2.1.1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng

Theo Ủy ban Basel về Giám sát ngân hàng (2006): “Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, các chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng nhằm đạt được mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững”.

Theo “Giáo trình Quản trị rủi ro và Bảo hiểm trong doanh nghiệp” của tác giả Nguyễn Quang Thu (2009) thì: Quản lý rủi ro là một chức năng quản trị chung nhằm phát hiện, đánh giá và đối phó với những nguyên nhân và hậu quả có tính bất định và rủi ro của tổ chức. Mục đích chính của quản lý rủi ro là cho phép tổ chức trực tiếp đạt được mục tiêu một cách hiệu quả nhất. Quản lý rủi ro tín dụng là quá trình kiểm soát tác động của các sự kiện liên quan trên cơ sở tài chính, bao gồm các công việc : xác định, đo lường mức độ tổn thất tiềm ẩn và thực hiện các có những biện pháp thích hợp để giảm thiểu nguy cơ thiệt hại cho tổ chức tài chính.

Xét theo quy mô, quản lý rủi ro tín dụng có thể chia làm 2 cấp độ:

  • Quản lý vĩ mô : Khung chính sách quản lý theo tiêu chuẩn Basel bao gồm: Hệ thống chỉ tiêu đảm bảo an toàn tín dụng, phân loại và dự phòng rủi ro, xử lý nợ xấu và hệ thống thanh tra, giám sát tín dụng.
  • Quản lý vi mô: Bao gồm việc xây dựng quy trình rủi ro tín dụng và xây dựng hệ thống thanh tra, kiểm tra giám sát riêng.

1.2.1.2. Ý nghĩa quản trị rủi ro tín dụng

Quản trị rủi ro tín dụng có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự ổn định và phát triển của ngân hàng thương mại và toàn bộ hệ thống tài chính.

Giảm tối đa tổn thất do nợ xấu và bảo vệ nguồn vốn của tổ chức bằng cách nhận diện, đánh giá và kiểm soát các rủi ro tiềm ẩn trong quá trình cấp tín dụng.

Nâng cao hiệu quả hoạt động bằng việc tối ưu hóa quy trình cấp tín dụng, nâng cao chất lượng danh mục cho vay, từ đó tăng khả năng sinh lời của tổ chức.

Bảo toàn vốn cho ngân hàng và tạo niềm tin cho khách hàng, nhà đầu tư và các bên liên quan, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bền vững. Mở rộng thị trường, tiếp cận được nhiều khách hàng tiềm năng hơn và tăng cường vị thế trên thị trường.

1.2.2. Nội dung quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại Luận văn: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank.

Tuy không có một quy trình cụ thể, nhưng chuẩn mực quốc tế Basel đặc biệt là Basel II và III đã đề ra các nguyên tắc và yêu cầu quản trị rủi ro mà các ngân hàng cần tuân thủ. Theo Ủy ban Basel thì “Cơ quan giám sát nên yêu cầu các ngân hàng phải có một hệ thống hiệu quả nhằm nhận biết, đo lường, giám sát và kiểm soát rủi ro tín dụng…” (“Supervisors should require that banks have an effective system in place to identify, measure, monitor and control credit risk…”, trích từ “Principles for the Management of Credit Risk”, BCBS 2001). Basel II dành 4 nguyên tắc để quy định đề cập đến việc: thiết lập các hệ thống kiểm soát nội bộ và quản trị rủi ro hiệu quả; các rủi ro cần được phát hiện và theo dõi trên phạm vi toàn hệ thống và chi tiết đối với từng bộ phận kinh doanh; ngân hàng cần có mạng lưới truyền thông nội bộ mạnh đối với các rủi ro; Ban điều hành phải sử dụng kết quả làm việc của bộ phận kiểm toán nội bộ và kiểm toán bên ngoài một cách có hiệu quả.

Như vậy, theo chuẩn mực quốc tế Basel, quản trị rủi ro cơ bản bao gồm 5 bước: (1) Nhận biết (identify), (2) Đo lường (measure), (3) Giám sát (monitor), (4) Kiểm soát/giảm thiểu (control/mitigate) và (5) Báo cáo (report).

Xuất phát từ các lý thuyết và thực tiễn quản trị rủi ro tổng quát, được áp dụng rộng rãi trong ngân hàng thương mại, có thể thiết lập nội dung quản trị hoạt động tín dụng tại các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam bao gồm các bước: (1) Nhận diện rủi ro; (2) Đo lường rủi ro; (3) Thiết lập chính sách và quy trình tín dụng; (4) Kiểm soát rủi ro; (5) Thiết lập hệ thống biện pháp phòng ngừa rủi ro.

1.2.2.1. Nhận diện rủi ro tín dụng

Nhận diện rủi ro tín dụng là quá trình liên tục nhằm xác định các nguy cơ rủi ro từ cả môi trường bên trong và bên ngoài, bao gồm rủi ro hiện có, tiềm ẩn và mới phát sinh. Quá trình này được thực hiện thông qua việc theo dõi, phân tích hồ sơ tín dụng, điều tra các khoản vay có vấn đề và dự báo nguyên nhân rủi ro, từ đó đưa ra biện pháp quản trị phù hợp. Dựa vào nguyên nhân xảy ra rủi ro tín dụng, ngân hàng có thể cụ thể hóa các dấu hiệu nhận biết rủi ro theo tiêu chí:

  • a) Nhận biết rủi ro tín dụng theo khách hàng Luận văn: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank.

Đối với khách hàng cá nhân vay vốn, có thể căn cứ vào các dấu hiệu để nhận biết rủi ro như: Khách hàng không trung thực và trì hoãn trong khai báo và cung thông tin (quan hệ tín dụng có thể tra cứu trên CIC, hồ sơ chứng minh năng lực tài chính và nguồn trả nợ, không cung cấp đầy đủ thông tin,…), không đủ năng lực quản lý tài chính, có dấu hiệu bất thường (không quan tâm lãi suất, không lý giải được nguồn gốc tài sản, không cho cán bộ tín dụng đến nhà,…).

Đối với khách hàng pháp nhân, có thể nhận biết rủi ro qua các dấu hiệu :Báo cáo tài chính không trung thực (có thể kiểm toán độc lập với một số chỉ tiêu chính có thể so sánh với tài liệu bên thứ 3), hồ sơ có dấu hiệu chỉnh sửa (so sánh với tờ khai thuế GTGT hàng tháng, và bảng kê hóa đơn đi kèm), phương thức kinh doanh phức tạp, không rõ ràng về tài chính, tư cách lãnh đạo doanh nghiệp yếu, tình hình vay nợ các Tổ chức tín dụng khác (chưa từng vay hoặc vay quá nhiều nơi,…).

  • b) Nhận biết rủi ro tín dụng theo danh mục tín dụng và theo giao dịch

Nếu dựa vào nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng sẽ 2 loại chính là:

Rủi ro danh mục: sẽ được phân ra hai loại rủi ro nội tại (Intrinsic risk) xuất phát từ các yếu tố mang tính cá thể của từng chủ thể và từng ngành kinh tế, và rủi ro tập trung (Concentration risk) được xác định là các dư nợ do một số khách hàng, một số ngành kinh tế, một số loại cho vay hoặc một khu vực địa lý nào đó.

Rủi ro tín dụng theo giao dịch (Transaction risk): được phân ra 3 loại là Rủi ro lựa chọn xuất phát từ việc thẩm định và phân tích tín dụng của bên cho vay, Rủi ro bảo đảm xuất phát từ các tiêu chuẩn đảm bảo và Rủi ro nghiệp vụ xuất phát từ quản trị hoạt động cho vay.

1.2.2.2. Đo lường rủi ro tín dụng

Quá trình đo lường rủi ro là sau khi đã xác định được rủi ro, ngân hàng phải đo lường được mức độ tổn thất tài chính và xác suất nảy sinh. Có thể sử dụng rất nhiều các công cụ và mô hình định lượng lẫn định tính đã được các nhà phân tích đề cập đến để đo lường rủi ro một cách cụ thể nhất. Công thức được chấp nhận rộng rãi nhất để đo lường rủi ro có thể kể đến là: Rủi ro = Tần suất xuất hiện x Tác động của sự kiện rủi ro. Luận văn: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank.

Đo lường rủi ro tín dụng cần sử dụng các phương pháp đo lường rủi ro. Một số mô hình được sử dụng như:

  • a) Mô hình xếp hạng tín dụng nội bộ

Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ được xây dựng trên cơ sở các bảng chấm điểm những chi tiêu tài chính của khách hàng, từ đó định lượng được các rủi ro mà ngân hàng có khả năng gặp phải. Hệ thống này sử dụng phương pháp chấm điểm, xếp hạng riêng cho từng nhóm khách hàng là doanh nghiệp và cá nhân. Mô hình này gồm 8 bước: (1) Thu thập thông tin; (2) Phân loại doanh nghiệp theo ngành; (3) Phân loại theo quy mô; (4) Xây dựng chỉ tiêu phân tích cơ bản;(5) Xây dựng bảng tính điểm; (6) Tổng hợp kết quả tính điểm; (7) Đưa lên hệ thống xếp hạng rủi ro tín dụng doanh nghiệp; (8) So sánh kết quả xếp hạng qua các năm.

Mục đích của việc chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng là nhằm ra quyết định cấp tín dụng, kiểm soát và đánh giá khách hàng vay, phát hiện sớm các dấu hiệu xấu đi của khoản vay, giám sát và đánh giá chất lượng của toàn bộ danh mục tín dụng và ước lượng thiệt hại do không thu hồi được vốn để trích lập dự phòng rủi ro tín dụng.

  • b) Mô hình đánh giá định tính chất lượng 6C

Đây là Mô hình xếp hạng tín dụng (internal rating system) được xác định bằng 6 yếu tố: (1)Tư cách doanh nghiệp vay (Character); (2) Năng lực của doanh nghiệp vay (Capacity); (3)Thu nhập của doanh nghiệp vay (Cashflow); (4) Bảo đảm tiền vay (Collateral); (5) Các điều kiện vay (Conditions); (6) Kiểm soát khoản vay (Control). Sử dụng mô hình này để đánh giá tuy tương đối đơn giản, song có hạn chế là phụ thuộc vào mức độ chính xác của dữ liệu đầu vào nguồn thông tin thu thập, trình độ phân tích, đánh giá, dự báo của cán bộ tín dụng.

  • c) Mô hình điểm số Z

Đây là mô hình do nhà kinh tế học, Giáo sư E.I.Altman dùng để cho điểm tín dụng với các doanh nghiệp vay vốn. Đại lượng Z là thước đo tổng hợp dùng để phân loại rủi ro tín dụng phụ thuộc vào chỉ số tài chính của doanh nghiệp và ý nghĩa quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ của người vay trong quá khứ. Z = 1, 2 X1 + 1, 4 X2 + 3, 3 X3 + 0, 6 X4 + 1, 0 X5 Luận văn: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank.

(Trong đó, X1:Tỉ số “vốn lưu động ròng/tổng tài sản”; X2: Tỉ số “lợi nhuận giữ lại/tổng tài sản”; X3: Tỉ số “lợi nhuận trước thuế và tiền lãi/tổng tài sản”; X4: Tỉ số “thị giá cổ phiếu/ giá trị ghi sổ của nợ dài hạn”; X5: Tỉ số “doanh thu/tổng tài sản”).

Điểm số Z càng cao, thì người vay có xác suất vỡ nợ càng thấp. Khi Z thấp hoặc là một số âm sẽ là căn cứ để xếp khách hàng vào nhóm có nguy cơ vỡ nợ cao: Z < 1,8: khách hàng vay có khả năng rủi ro cao; 1,8 < Z < 3: Không xác định được; Z > 3: Khách hàng vay không có khả năng vỡ nợ.

Phương pháp này phân loại đơn giản nhóm doanh nghiệp không có rủi ro và có rủi ro , nhưng thực tế mức độ rủi ro tín dụng tiềm ẩn từ mỗi doanh nghiệp là khác nhau. Mặt khác, phương pháp này cũng không tính đến các yếu tố khó định lượng chẳng hạn như: điều kiện kinh doanh thay đổi, mối quan hệ và uy tín giữa doanh nghiệp với đối tác, ngân hàng, cơ quan chính trị hay các yếu tố vĩ mô như sự biến đổi chu kỳ kinh tế,…

  • d) Mô hình đánh giá định lượng hiện đại (Mô hình xác suất vỡ nợ)

Theo Basel II (2007), có thể tính toán xác suất rủi ro dự kiến hay tổn thất dự kiến theo xác suất vỡ nợ với mức độ tổn thất khi vỡ nợ và giá trị có thể bị mất là tổng dư nợ của tại thời điểm khách hàng không trả được nợ theo công thức: EL = PD x LGD x EAD.

(Trong đó: EL (Expected loss) là xác xuất rủi ro; PD (Probability of default) là xác suất vỡ nợ; LGD (Loss given default) là mức độ tổn thất khi vỡ nợ; EAD (Expsure at default) là giá trị có thể bị mất là tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàng không trả được nợ).

Nếu xem từng món vay như một phép thử và có số liệu thống kê rủi ro đầy đủ thì có thể xác định xác suất bị rủi ro của từng loại tài sản của ngân hàng theo từng thời kỳ, từng loại hình tín dụng và từng lĩnh vực đầu tư một cách tương đối chính xác.

1.2.2.3. Thiết lập chính sách và quy trình tín dụng Luận văn: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank.

Chính sách và quy trình tín dụng giúp xác định, thiết lập và chuẩn hóa hoạt động vay vốn thành một chuỗi các bước cụ thể để quản lý và thực hiện các giao dịch tín dụng ràng buộc rõ những trách nhiệm của từng đối tượng tham gia cấp tín dụng, giúp các cán bộ và nhân viên làm công tác tín dụng có thể tuân thủ quy trình và hạn chế sự xuất hiện của các vấn đề không mong muốn, đảm bảo việc cấp vay và quản lý nợ một cách hiệu quả.

Quy trình cấp tín dụng bao gồm 6 bước cơ bản sau:

  • Bước 1- Tiếp cận khách hàng (trực tiếp và gián tiếp)
  • Bước 2- Thu thập thông tin của khách hàng (khả năng hành vi dân sự, năng lực pháp lý, khả năng sử dụng vốn vay và trả nợ, …).
  • Bước 3- Thẩm định khách hàng (đánh giá mức độ tin cậy về khả năng sử dụng vốn, khả năng hoàn trả nợ vay đúng hạn).
  • Bước 4- Quyết định và xác lập hợp đồng (chấp nhận hoặc từ chối việc cấp vay).
  • Bước 5- Giải ngân, giám sát và quản lý tín dụng (Cấp vay theo hợp đồng, thường xuyên theo dõi và quản lý sau cho vay).
  • Bước 6- Thanh lý hợp đồng tín dụng (thanh lý mặc nhiên hoặc bắt buộc).

Hình 1.2- Quy trình tín dụng cơ bản

1.2.2.4. Kiểm soát rủi ro

Kiểm soát rủi ro tín dụng được thực hiện bằng cách kiểm soát hoạt động tín dụng và thiết lập hệ thống biện pháp phòng ngừa rủi ro, bao gồm: Thiết lập hạn mức tín dụng đối với từng khách hàng, ngành nghề, khu vực; Đa dạng hóa danh mục cho vay; Yêu cầu tài sản đảm bảo và bảo lãnh tín dụng; Thẩm định tín dụng chặt chẽ, tách bạch bộ phận thẩm định và phê duyệt tín dụng; Áp dụng chính sách giá phù hợp với mức độ rủi ro.

1.2.2.5. Thiết lập hệ thống biện pháp phòng ngừa rủi ro

Đối với các Ngân hàng thương mại thì hoạt động phòng ngừa rủi ro là rất quan trọng và là nhiệm vụ của tất cả các cá nhân, phòng ban, bộ phận trong Ngân hàng đó. Tuy nhiên, để đảm bảo công tác phòng ngừa rủi ro của từng cá nhân, tập thể triển khai hiệu quả, đúng với chức năng, nhiệm vụ, nghiệp vụ được giao trong ngân hàng và không trùng lắp nhiệm vụ lẫn nhau thì mô hình 3 tuyến phòng thủ được triển khai khá phổ biến tại các ngân hàng được triển khai đồng bộ, liên tục và có hệ thống, được cải tiến, nâng cao liên tục phù hợp với quy mô, định hướng, chiến lược và mục tiêu của mỗi ngân hàng.

  • a) Tuyến phòng thủ thứ nhất Luận văn: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank.

Các công bố về định hướng, chiến lược, khẩu vị rủi ro của Hội đồng Quản trị và Ban Điều hành đối với các hoạt động có rủi ro của Ngân hàng trong từng thời kỳ.

Xây dựng và cập nhật liên tục hệ thống Văn bản nội bộ về quy chế, chính sách, quy trình, quy định, các chuẩn mực, giới hạn… và phân công trách nhiệm, quyền hạn cụ thể đối với từng cá nhân, tập thể trong từng hoạt động, công việc, giao dịch, tác nghiệp chuyên môn diễn ra hàng ngày của ngân hàng. Từng cá nhân, bộ phận vận dụng và tuân thủ các định hướng, chính sách, quy định, chuẩn mực… nêu trên trong mọi hoạt động diễn ra hàng ngày để đảm bảo nhận diện và phòng ngừa rủi ro.

  • b) Tuyến phòng thủ thứ hai

Đây là tuyến tiếp theo trong công tác phòng ngừa rủi ro, thường được phụ trách triển khai bởi các đơn vị Hội sở chính có chuyên môn nghiệp vụ và các đơn vị có chức năng kiểm tra, giám sát trong nội bộ Ngân hàng với 02 nhóm nhiệm vụ chính:

Cập nhật, dự báo, nhận diện rủi ro tiềm ẩn để kịp thời hỗ trợ tư vấn, tham mưu truyền thông, hướng dẫn giải pháp phòng ngừa cho các đơn vị có chức năng kinh doanh, đơn vị tác nghiệp, giao dịch ở các hoạt động có rủi ro về mặt chuyên môn, nghiệp vụ.

Giám sát tính tuân thủ pháp luật và quy định nội bộ của các cá nhân, bộ phận thực thi trong nội bộ và xử lý rủi ro phát sinh tại Ngân hàng.

  • c) Tuyến phòng thủ thứ ba

Giữa Chủ sở hữu ngân hàng và Ban điều hành luôn tồn tại xung đột lợi ích. Do đó, Ban kiểm soát và Phòng Kiểm toán nội bộ là đơn vị độc lập với Ban Điều hành Ngân hàng, trực thuộc và báo cáo trực tiếp cho Hội đồng quản trị, Đại hội đồng cổ đông về kết quả kiểm tra, giám sát hiệu quả hoạt động và tính tuân thủ của tuyến thứ nhất và thứ hai.

1.2.3. Các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động quản trị rủi ro tín dụng Luận văn: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank.

Để đánh giá hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại, cần xem xét các chỉ tiêu như: tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu, trích lập dự phòng, quy mô – cơ cấu tín dụng… Đây là cơ sở đánh giá mức độ kiểm soát rủi ro, khả năng hoàn thành kế hoạch kinh doanh và đảm bảo lợi nhuận. Bên cạnh đó, ở cấp vi mô từng ngân hàng cũng cần xem xét một số chỉ tiêu khác về mức độ tuân thủ quy định chung của hệ thống, “khẩu vị rủi ro” của ngân hàng và tính hoàn thiện của bộ máy quản trị rủi ro.

1.2.3.1. Về tính tuân thủ quy trình tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng

NHNN đã ban hành rất nhiều các văn bản quy định rõ về quy trình quản lý tín dụng.Từ cơ sở đó, các Ngân hàng thương mại xây dựng cụ thể quy trình quản lý tín dụng, quy trình cấp tín dụng rất chặt chẽ nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt động tín dụng. Nếu việc tuân thủ những quy định, quy trình được thực hiện nghiên túc thì các Ngân hàng thương mại hoàn toàn có thể kiểm soát và tránh được tổn thất có thể xảy ra.

1.2.3.2. Về mức độ chấp nhận rủi ro tín dụng

Trong chính sách tín dụng, an toàn và lợi nhuận là hai mục tiêu thường mâu thuẫn nhau. Tùy theo chiến lược từng giai đoạn, mỗi ngân hàng sẽ điều chỉnh mức độ chấp nhận rủi ro tín dụng phù hợp. Các nhà hoạch định chính sách luôn coi trọng việc bảo đảm mục tiêu khi đưa ra chính sách tín dụng bằng các giải pháp mang tính an toàn như: thế chấp, cầm cố, bảo hiểm tín dụng, thường xuyên giám sát tình trạng tài chính và sử dụng vốn của người vay,… Vì thế, chính sách tín dụng có thể khá phức tạp về mặt thủ tục nhưng lợi nhuận đạt được vừa phải để thỏa mãn các mục tiêu tín dụng.

Bên cạnh đó, Ngân hàng thương mại tại Việt Nam cũng luôn phải hài hòa mục tiêu lợi nhuận và mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của nhà nước. Theo đó, các Ngân hàng thương mại luôn phải ưu tiên quyền lợi quốc gia, xã hội lên trên lợi ích của ngân hàng.

1.2.3.3. Về tính hoàn thiện của bộ máy quản trị rủi ro tín dụng

  • a. Hệ thống kiểm soát nội bộ

Kiểm soát chính sách tín dụng, các thủ tục có liên quan đến các khoản vay như: thẩm quyền điều hành, quản lý, giám sát các khoản vay, hồ sơ, thủ tục cho vay…

Kiểm tra định kỳ do các kiểm soát viên nội bộ thực hiện và báo cáo những vi phạm chính sách, thủ tục, các trường hợp ngoại lệ, kiểm soát kế toán và nghiệp vụ cho Luận văn: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank.

Để kiểm soát nội bộ phát huy hiệu quả, ngân hàng cần phải có cơ cấu tổ chức hợp lý, cán bộ kiểm tra phải đáp ứng yêu cầu nghiệp vụ, đạo đức và ngân hàng phải có chính sách thưởng phạt phù hợp. Từ đó có thể phát hiện kịp thời nguyên nhân các sai sót phát sinh trong quá trình thực hiện cấp tín dụng và có biện pháp khắc phục.

  • b) Hệ thống quản trị rủi ro

Một là, ngân hàng cần xây dựng chiến lược quản lý rủi ro. Trong đó, cần xác định được phương hướng, mục tiêu của ngân hàng để có chiến lược quản lý rủi ro phù hợp giải quyết được những vấn đề quan trọng là: (1) Thái độ đối với rủi ro tín dụng; (2) Mức độ chấp nhận rủi ro; (3) Năng lực và tiềm năng của ngân hàng trong các lĩnh vực hoạt động kinh doanh.

Hai là, xây dựng chính sách quản lý rủi ro tín dụng làm cơ sở để hình thành nên quy trình tín dụng với những hướng dẫn nghiệp vụ chi tiết, các bước cụ thể trong quá trình cấp tín dụng, giới hạn cho vay, phân loại nợ, trích lập dự phòng.

Ba là, quản lý về danh mục cấp tín dụng bằng cách thường xuyên phân tích và theo dõi đặc biệt là các khoản nợ xấu, nợ có vấn đề nhằm có những biện pháp xử lý kịp thời khi xảy ra rủi ro. Đồng thời xây dựng một hệ thống thông tin tín dụng tập trung nhằm hỗ trợ phân tích, cảnh báo và báo cáo rủi ro theo nhóm khách hàng hoặc khoản vay lớn.

Bốn là, phân tán rủi ro trong hoạt động tín dụng bằng việc đa dạng hóa danh mục cho vay theo ngành, lĩnh vực, khách hàng, sản phẩm tín dụng, hợp đồng hoán đổi tín dụng, đồng tài trợ,….

Năm là, ngân hàng phải tổ chức bộ máy quản trị rủi ro chuyên trách với cấu trúc rõ ràng ở từng cấp, phù hợp với quy mô hoạt động. Việc quản lý cần kết hợp từ trên xuống (đặt mục tiêu và giới hạn rủi ro) và từ dưới lên (thu thập dữ liệu, giám sát rủi ro từ giao dịch), đảm bảo kiểm soát chặt chẽ và điều hành hiệu quả toàn hệ thống.

1.2.3.4. Chất lượng đội ngũ cán bộ

Nhân sự phải được tuyển chọn đáp ứng về đạo đức nghề nghiệp và chuyên môn tốt giúp ngân hàng hạn chế các sai phạm trong quy trình tín dụng. Trình độ chuyên môn, kỹ năng và phẩm chất của cán bộ tín dụng đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng tín dụng. Những cán bộ giỏi không chỉ đánh giá chính xác tính khả thi của dự án, mà còn hiểu biết về pháp luật, môi trường kinh tế – xã hội, có khả năng dự đoán biến động và tư vấn phương án kinh doanh phù hợp cho khách hàng. Đồng thời, họ cũng có thể phát hiện các hành vi gian lận như sửa số liệu báo cáo tài chính, hồ sơ thế chấp giả, thế chấp trùng… từ đó đánh giá chính xác năng lực thực tế của khách hàng để ra quyết định cho vay hiệu quả.

  • Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (Capital Adequacy Ratio – CAR) CAR = [(Vốn cấp I + Vốn cấp II) / Tài sản đã điều chỉnh rủi ro] x 100%.

Tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) là thước đo độ an toàn vốn của ngân hàng. Tại Việt Nam, tỷ lệ này là một trong những tiêu chí cơ bản để đánh giá các Ngân hàng thương mại, hướng đến chuẩn hóa của Basel II và kế đến là Basel III. Thông qua tỉ lệ này, có thể xác định được khả năng thanh toán nợ có thời hạn của ngân hàng và khả năng ứng phó với các loại rủi ro khác như : rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động. Nếu ngân hàng đảm bảo được tỉ lệ này thì đã tự tạo ra một vùng đệm tài chính để bảo vệ mình và khách hàng, đồng thời giúp tăng tính hiệu quả và ổn định của cả hệ thống tài chính toàn cầu.

1.3. Các công trình nghiên cứu liên quan Luận văn: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank.

1.3.1. Các công trình nghiên cứu trên thế giới

1.3.1.1 Các nghiên cứu về tác động của yếu tố vĩ mô đến rủi ro tín dụng

Quản lý rủi ro tín dụng là một trong những mục tiêu hàng đầu nhằm đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn và sinh lời tốt. Để đánh giá hiệu quả việc quản trị rủi ro tín dụng, trên thế giới hiện nay thường tập trung nghiên cứu về chính sách, các nhân tố ảnh hưởng, và tác động giữa quản trị rủi ro tín dụng với các hoạt động khác của ngân hàng.

  • a) Lý thuyết M&M và các nghiên cứu thực nghiệm

Năm 1958, xuất hiện Lý thuyết Modigliani và Miller (lý thuyết M&M) đã xây dựng học thuyết về cấu trúc vốn doanh nghiệp, chỉ ra rằng trong điều kiện thị trường hoàn hảo, cấu trúc vốn không ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp. Sau đó, lý thuyết này được bổ sung thêm các yếu tố thực tế như lợi ích của lá chắn thuế lãi vay, chi phí phá sản và chi phí đại diện vào năm 1963 và 1977, đã giúp chỉ ra: càng vay nợ nhiều thì chi phí phá sản càng lớn khi gặp bất lợi kinh tế. Lý thuyết M&M gián tiếp đề cập rằng chu kỳ kinh tế quyết định khả năng tạo ra dòng tiền và lợi nhuận, từ đó tác động trực tiếp đến khả năng trả nợ và rủi ro tín dụng. Vận dụng theo lý thuyết này, chu kỳ kinh tế có ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay ngân hàng của các chủ thể kinh tế. Giai đoạn nền kinh tế tăng trưởng, các tổ chức hay cá nhân sẽ có các cơ hội thuận lợi để đầu tư và kinh doanh, từ đó có thể đảm bảo trả nợ các khoản vay ngân hàng và ngược lại khi nền kinh tế đang trong giai đoạn suy thoái.

Tại Mỹ, Carey (1998) bổ sung thực nghiệm cho mô hình lý thuyết M&M (1977), đã chỉ ra rằng: Trong giai đoạn kinh tế tăng trưởng, tỷ lệ vỡ nợ thấp, ngân hàng mở rộng tín dụng nhiều hơn. Khi kinh tế suy thoái, số lượng doanh nghiệp vỡ nợ tăng cao, gây tổn thất lớn cho ngân hàng. Đặc biệt, Carey còn chỉ ra rằng tốc độ tăng trưởng kinh tế có thể dự báo được phần nào xác suất vỡ nợ của danh mục cho vay. Luận văn: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank.

Salas và Saurina (2003) nghiên cứu dựa trên dữ liệu Ngân hàng thương mại và ngân hàng tiết kiệm tại Tây Ban Nha đã xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu (Non-Performing Loans – NPL) cho thấy Nợ xấu có quan hệ ngược chiều với tăng trưởng GDP: Nợ xấu còn chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như: tốc độ tăng trưởng tín dụng, đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp vay vốn và chính sách quản lý rủi ro tín dụng của từng loại ngân hàng. Nghiên cứu trên khẳng định việc ngân hàng mở rộng tín dụng mạnh mẽ trong thời kỳ tăng trưởng có thể làm gia tăng rủi ro tín dụng trong tương lai khi xảy ra suy thoái.

Carey, Salas & Saurina có thể được coi là bằng chứng thực nghiệm bổ sung cho lý thuyết vốn cổ điển, giúp các mô hình rủi ro tín dụng ngày nay (Basel II/III) có thêm cơ sở thực tiễn. Cả Carey (năm 1998) và Salas & Saurina (năm 2003) đều chứng minh rõ: Chu kỳ kinh tế là yếu tố quan trọng nhất tác động đến khả năng trả nợ và rủi ro tín dụng đúng như những gì lý thuyết M&M (1977) đã gián tiếp dự đoán.

Bên cạnh đó, nhiều công trình nghiên cứu khác cũng đã tiếp cận vấn đề quản trị rủi ro tín dụng từ góc độ đo lường và mô hình hóa. Điển hình là mô hình đo lường rủi ro tín dụng của Merton (1974), dựa trên lý thuyết định giá quyền chọn. Trong mô hình này, tài sản của doanh nghiệp được xem như là tài sản cơ sở, còn nợ vay của doanh nghiệp được coi như là một dạng quyền chọn bán đối với các chủ nợ. Nghiên cứu này đưa ra cách tiếp cận định lượng để ước lượng xác suất vỡ nợ (Probability of Default – PD) thông qua việc phân tích sự biến động của giá trị tài sản doanh nghiệp, độ biến động (volatility) và cấu trúc nợ. Tại thời điểm đáo hạn, tổng tài sản (V) nhỏ hơn tổng nợ phải trả (D), doanh nghiệp được xem là rơi vào trạng thái vỡ nợ.

Từ đó, Merton đặt nền móng cho nhiều mô hình định lượng rủi ro tín dụng hiện đại như KMV Model, CreditMetrics, cũng như các phương pháp đo lường rủi ro tín dụng trong khuôn khổ Basel II và Basel III sau này. Đồng thời, cũng đã mở ra một hướng tiếp cận mới khi kết hợp giữa tài chính doanh nghiệp, cấu trúc vốn (liên quan đến lý thuyết M&M), và đo lường rủi ro tín dụng thông qua phương pháp định lượng, cho phép các tổ chức tài chính có công cụ đánh giá rủi ro tín dụng một cách chính xác và khách quan hơn.

Như vậy, các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm trên đều khẳng định rằng khả năng trả nợ của các chủ thể kinh tế chịu ảnh hưởng trực tiếp từ chu kỳ kinh tế, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đánh giá rủi ro tín dụng một cách toàn diện, có xét đến tác động vĩ mô của nền kinh tế đối với khả năng thanh toán của khách hàng vay vốn.

  • b. Các nghiên cứu khác Luận văn: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank.

Fisher và cộng sự (2003) thực hiện nghiên cứu tại hệ thống ngân hàng thương mại Mỹ và Canada cho thấy có mối quan hệ ngược chiều giữa tốc độ tăng trưởng GDP thực và rủi ro tín dụng. Cụ thể, khi nền kinh tế tăng trưởng tốt, doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hiệu quả hơn, từ đó tăng khả năng trả nợ, làm giảm rủi ro tín dụng trong hệ thống ngân hàng. Cùng quan điểm, Jimenez và Saurina (2007) khi nghiên cứu hệ thống ngân hàng Tây Ban Nha cũng cho thấy rủi ro tín dụng có xu hướng giảm khi GDP thực tăng trưởng. Các tác giả cho rằng sự cải thiện thu nhập của doanh nghiệp và hộ gia đình trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế thuận lợi góp phần nâng cao khả năng thanh toán nợ vay.

Bên cạnh đó, Quagliarello (2008), trong nghiên cứu trên dữ liệu bảng của các ngân hàng Ý trong giai đoạn 1985-2003, cũng khẳng định rằng chu kỳ kinh doanh ảnh hưởng đáng kể đến rủi ro tín dụng. Khi nền kinh tế bước vào giai đoạn tăng trưởng, tỷ lệ nợ xấu giảm xuống, phản ánh chất lượng tín dụng được cải thiện nhờ môi trường kinh doanh thuận lợi. Cifter và cộng sự (2010), thông qua dữ liệu tại Thổ Nhĩ Kỳ trong giai đoạn 2002-2008, chỉ ra rằng sự suy giảm sản xuất công nghiệp có mối liên hệ với sự gia tăng rủi ro tín dụng, nhấn mạnh tầm quan trọng của các yếu tố vĩ mô trong việc ổn định chất lượng tín dụng của ngân hàng.

Fofack (2006) nghiên cứu tại một số nước Châu Phi cho rằng lạm phát cũng được xem là yếu tố vĩ mô tác động mạnh mẽ đến rủi ro tín dụng. Khi áp lực lạm phát cao làm suy giảm nhanh chóng vốn chủ sở hữu của ngân hàng, qua đó làm tăng mức độ rủi ro tín dụng. Tương tự, Klein (2014) chỉ ra rằng tỷ lệ lạm phát cao dẫn tới việc thu nhập thực tế của người vay suy giảm, đồng thời chính sách tiền tệ thắt chặt với lãi suất cao khiến khả năng trả nợ của khách hàng giảm sút. Trong khi đó, Polodoo và cộng sự (2016) bổ sung rằng việc kiểm soát lạm phát thông qua các chính sách lãi suất cao lại tạo thêm áp lực trả nợ, khiến rủi ro tín dụng gia tăng trong hệ thống ngân hàng. Luận văn: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank.

1.3.1.2. Các nghiên cứu về tác động của yếu tố vi mô đến rủi ro tín dụng

Keeton và Morris (1987) đã xây dựng giả thuyết rủi ro đạo đức khi nghiên cứu các ngân hàng thương mại tại Mỹ trong giai đoạn 1979-1985. Theo đó, mức vốn hóa thấp của ngân hàng làm gia tăng rủi ro đạo đức, bởi khi vốn chủ sở hữu ở mức thấp, ngân hàng có xu hướng mở rộng cho vay vào các lĩnh vực rủi ro cao nhằm tìm kiếm lợi nhuận bù đắp. Kết quả nghiên cứu cho thấy rủi ro tín dụng gia tăng đáng kể tại các ngân hàng có tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản ở mức thấp.

Sinkey và Greenwalt (1991) cũng đồng quan điểm khi cho rằng cả các yếu tố nội tại như vốn hóa, hiệu quả quản lý và các yếu tố bên ngoài như môi trường kinh tế vĩ mô đều ảnh hưởng trực tiếp đến rủi ro tín dụng của ngân hàng. Nghiên cứu trên các ngân hàng thương mại lớn tại Mỹ cho thấy rủi ro tín dụng chịu tác động đồng thời của 26 biến số khác nhau, từ nội bộ đến bên ngoài.

Berger và DeYoung (1997), với giả thuyết “quản lý kém”, lập luận rằng chất lượng quản trị yếu kém có quan hệ cùng chiều với sự gia tăng rủi ro tín dụng trong tương lai. Theo đó, kỹ năng yếu trong đánh giá tín dụng, thẩm định tài sản đảm bảo và giám sát khách hàng vay là những nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh nợ xấu. Nghiên cứu thực nghiệm trên các ngân hàng thương mại Mỹ giai đoạn 1985-1994 đã xác nhận mối quan hệ giữa hiệu quả quản lý thấp và sự gia tăng nợ xấu.

Podpiera và Weill (2009) mở rộng nghiên cứu tại Séc trong giai đoạn 1994-2006, tiếp tục cung cấp bằng chứng thực nghiệm về mối liên hệ ngược chiều giữa hiệu quả quản trị và rủi ro tín dụng. Các ngân hàng có năng lực quản trị yếu thường để phát sinh nhiều khoản vay có vấn đề trong tương lai.

Ngoài ra, tỷ lệ nợ xấu trong quá khứ, kết quả của năng lực quản trị kém, cũng được Salas và Saurina (2003), Klein (2014) sử dụng để dự báo nợ xấu hiện tại.

Các nghiên cứu đều cho thấy ngoài những yếu tố vĩ mô, các yếu tố nội tại của bản thân ngân hàng cũng đóng vai trò then chốt trong việc xác định mức độ rủi ro tín dụng, như nợ xấu trong quá khứ phản ánh hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng kém, từ đó tác động tiêu cực đến chất lượng tín dụng hiện tại.

1.3.1.3. Các nghiên cứu về ảnh hưởng của quy mô ngân hàng và đa dạng hóa danh mục tín dụng đến rủi ro tín dụng

Nhiều nghiên cứu cũng đã chỉ ra mối liên hệ giữa quy mô ngân hàng, khả năng đa dạng hóa danh mục cho vay và mức độ rủi ro tín dụng. Luận văn: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank.

Salas và Saurina (2003) cho rằng quy mô lớn giúp ngân hàng có cơ hội đa dạng hóa danh mục cho vay tốt hơn, từ đó giảm rủi ro tín dụng. Rajan và Dhal (2004) khi nghiên cứu tại Ấn Độ cũng đưa ra kết quả tương tự khi sử dụng dư nợ cho vay ngắn hạn và quy mô ngân hàng làm biến kiểm định. Tương tự, nghiên cứu của Jin-Li Hu và cộng sự (2005) tại Đài Loan, Somanadevi Thiagarajan và cộng sự (2012) tại Ấn Độ và Hess & cộng sự (2009) tại Úc đều khẳng định các ngân hàng lớn có hệ thống kiểm soát rủi ro tốt hơn và có thể phân bổ tín dụng hợp lý nhằm hạn chế rủi ro tín dụng.

Tuy nhiên, một số tác giả lại đưa ra góc nhìn ngược lại thông qua giả thuyết “quá lớn để thất bại” (Too big to fail). Theo đó, các ngân hàng lớn có thể chấp nhận rủi ro quá mức bởi kỳ vọng vào sự hỗ trợ của Chính phủ khi gặp khó khăn, dẫn tới tăng đòn bẩy tài chính và mở rộng cho vay vào các phân khúc rủi ro cao. Boyd và Gertler (1994) cho rằng trong những năm 1980, các ngân hàng lớn của Mỹ đã gia tăng mạnh danh mục tín dụng rủi ro cao nhờ sự hậu thuẫn gián tiếp của chính sách “too big to fail” của Chính phủ Mỹ. Ennis và Malek (2006), thông qua phân tích dữ liệu ngân hàng Mỹ giai đoạn 1983-2004, cho rằng bằng chứng về sự tồn tại của giả thuyết “quá lớn để phá sản” là chưa rõ ràng, song vẫn lưu ý khả năng các ngân hàng lớn có thể mở rộng cho vay mạo hiểm khi thiếu đi sự kỷ luật thị trường.

1.3.1.4. Các nghiên cứu về tăng trưởng tín dụng và rủi ro tín dụng

Ngoài ra, cũng có những nghiên cứu tập trung làm rõ mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng tín dụng và mức độ rủi ro tín dụng trong ngân hàng thương mại.

Rajan (1994) lập luận rằng việc mở rộng tín dụng không chỉ nhằm tối đa hóa lợi nhuận mà còn gắn với động cơ về uy tín ngắn hạn của nhà quản trị, từ đó dẫn đến việc mở rộng tín dụng quá mức và trì hoãn ghi nhận nợ xấu về tương lai. Salas và Saurina (2003) cũng chỉ ra rằng tốc độ tăng trưởng tín dụng có tác động cùng chiều với rủi ro tín dụng, dù mối quan hệ này có thể bị chi phối bởi độ trễ thời gian nhất định. Keeton (1999), khi nghiên cứu hệ thống Ngân hàng thương mại Mỹ trong giai đoạn 1982-1996, cũng đi đến kết luận rằng tăng trưởng tín dụng nhanh là yếu tố làm gia tăng rủi ro tín dụng trong tương lai.

Tóm lại, các nghiên cứu trên thế giới đã nêu trên đã chỉ ra rằng rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại chịu tác động đồng thời của nhiều yếu tố vĩ mô như tăng trưởng GDP, lạm phát, chu kỳ kinh tế… và các yếu tố vi mô như vốn hóa, hiệu quả quản lý, tăng trưởng tín dụng, quy mô và khả năng đa dạng hóa danh mục cho vay. Những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng trả nợ và mức độ kiểm soát nợ xấu. Đây là cơ sở lý luận quan trọng cho việc nghiên cứu quản trị rủi ro tín dụng, đồng thời cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách, cơ quan quản lý và lãnh đạo tổ chức tín dụng trong việc xây dựng chính sách tín dụng an toàn, hiệu quả. Từ đó mở ra hướng nghiên cứu tiếp theo nhằm nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

1.3.2. Các công trình nghiên cứu trong nước Luận văn: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank.

Nguyễn Đức Tú (2013) nghiên cứu về quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam đã chỉ ra nhiều bất cập trong công tác quản lý rủi ro tín dụng của VietinBank. Nguyên nhân chủ yếu gồm: thiếu định hướng và chiến lược quản trị rủi ro cụ thể; chưa chú trọng phát triển các thước đo định lượng và quy trình giám sát tín dụng; năng lực nhân sự quản trị rủi ro còn hạn chế; mức ủy quyền phán quyết tín dụng cho chi nhánh quá cao; hoạt động kiểm tra, giám sát chưa được coi trọng. Tác giả đề xuất mô hình quản lý rủi ro tín dụng hiện đại nhưng chưa mô tả cách thức xây dựng quy trình, cũng như chưa làm rõ việc mô hình đó đã được VietinBank áp dụng hay chưa, áp dụng ở giai đoạn nào và chiến lược quản trị rủi ro tổng thể ra sao.

Nhóm tác giả Võ Thị Quý và Bùi Ngọc Toản (2015) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của Hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam qua thu thập dữ liệu của 26 Ngân hàng thương mại giai đoạn 2010-2013 sử dụng phương pháp định lượng hồi quy GMM để kết luận rủi ro tín dụng ngân hàng, tỷ lệ tăng trưởng tín dụng và tỷ lệ tăng trưởng GDP trong quá khứ với độ trễ một năm có tác động đến rủi ro tín dụng Ngân hàng thương mại Việt Nam. Cụ thể là tốc độ tăng trưởng GDP giảm, tăng trưởng tín dụng, kết hợp với những khoản cho vay chất lượng thấp trước đó sẽ làm gia tăng rủi ro tín dụng của các Ngân hàng thương mại. Hạn chế của nghiên cứu là không có cơ sở cụ thể để đề xuát các biện pháp cải thiện tình hình rủi ro tín dụng của các ngân hàng, cần có một nghiên cứu định tính về các giải pháp giảm thiểu rủi ro dược tiến hành trên từng ngân hàng.

Hai tác giả Nguyễn Thị Mai Huyên, Lê Hồ An Châu (2017) đã kiểm định sức chịu đựng rủi ro tín dụng của 20 Ngân hàng thương mại Việt Nam trong 2 năm 2016-2017, sử dụng phương pháp kiểm tra vĩ mô (macro stress testing) dựa trên phân tích kịch bản. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự biến động của môi trường vĩ mô bao gồm sự thay đổi của GDP và lạm phát có tác động đáng kể đến rủi ro tín dụng của các ngân hàng qua sự thay đổi của tỷ lệ nợ xấu. Trong hai năm 2016-2017, nếu nền kinh tế ở trạng thái bình thường, các ngân hàng vẫn hoạt động tốt, đảm bảo hệ số an toàn vốn (CAR> 9%). Nhưng khi nền kinh tế bất lợi hoặc nợ xấu tăng cao thì có đến 5/20 ngân hàng trong nghiên cứu chịu ảnh hưởng tiêu cực khiến cho hệ số CAR giảm xuống dưới mức 9%. Nghiên cứu kết luận rằng nhìn chung khả năng chống chịu các bất lợi của hệ thống ngân hàng Việt Nam là khá tốt, đáp ứng được khả năng chịu đựng rủi ro trước những trường hợp giả định bất lợi.

Đỗ Thị Mai Thơm (2020) đã sử dụng mô hình hồi quy logistic đề cập đến những phương thức nền tảng cơ bản cho phép phác họa những rủi ro có thể xảy ra trong tương lai. Nghiên cứu cho rằng việc hoàn thiện quy trình, nội dung quản trị rủi ro tín dụng với việc vận dụng công nghệ phân tích cao và quản trị các rủi ro mới (mô hình, an ninh mạng, lây nhiễm xấu) nhằm thắt chặt các cam kết, điều kiện, thời hạn cấp tín dụng và cơ cấu lại danh mục tài sản sẽ giảm được rủi ro xảy ra.

Trần Việt Hưng (2021) với mục tiêu đi sâu nghiên cứu vai trò của quản lý tín dụng đối với lợi ích của các ngân hàng thương mại và nền kinh tế. Luận án đã hệ thống hóa, làm rõ một số vấn đề lý luận về quản lý tín dụng và hiệu quả quản lý tín dụng, đưa ra những chỉ tiêu định tính, định lượng để phân tích và đánh giá thực trạng về hiệu quả quản lý tín dụng Ngân hàng thương mại trong giai đoạn 2011-2019 trên phạm vi 9 Ngân hàng thương mại đang niêm yết trên sàn chứng khoán. Từ đó rút ra những kết quả, tồn tại và nguyên nhân, đồng thời đưa ra những đề xuất và kiến nghị nhằm năng cao hiệu quả quản lý tín dụng Ngân hàng thương mại Việt Nam. Luận văn: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank.

Nguyễn Thùy Linh (2021) sử dụng những cơ sở lý luận cơ bản về quản trị rủi ro tín dụng, về năng lực Quản trị rủi ro tín dụng tiệm cận với thông lệ quốc tế và quy định hiện hành ở Việt Nam nhằm phân tích, đánh giá thực trạng năng lực quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) trong giai đoạn 2015 – 2020. Thông qua sử dụng mô hình kinh tế định lượng NCS, luận án đã phân tích mức độ ảnh hưởng của các yếu tố hình thành nên năng lực quản trị rủi ro tín dụng, đồng thời đưa ra những đề xuất giải pháp để nâng cao năng lực quản trị rủi ro tại Techcombank đến năm 2030.

Nguyễn Ngọc Minh và Cao Hồng Sơn (2024) sử dụng phương pháp định tính nhằm đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại chi nhánh. Tác giả xây dựng khung phân tích dựa trên sáu yếu tố: chính sách và quy trình tín dụng, thông tin khách hàng, trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ tín dụng, công tác kiểm tra sau vay và kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng thương mại Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh Vĩnh Long. Qua phân tích, nghiên cứu cho rằng việc phân loại rủi ro hợp lý, xây dựng chính sách phù hợp, nâng cao chất lượng nhân sự, kiểm soát rủi ro hiệu quả và hiện đại hóa công nghệ thông tin là các phương thức cần thiết. Những yếu tố này sẽ góp phần giúp ngân hàng nâng cao hiệu quả trong công tác quản trị rủi ro tín dụng tại chi nhánh.

Trương Lê Hoàng (2025) đã đánh giá và xác định được 5 nhân tố cụ thể có tác động đến quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh Vĩnh Long bao gồm: Cơ chế- chính sách tín dụng của ngân hàng, chất lượng nhân sự, quy trình xét duyệt tín dụng, hệ thống công nghệ thông tin và môi trường kinh tế vĩ mô. Thông qua việc thu thập dữ liệu bằng bảng hỏi 500 khách hàng từ tháng 7/2025 đến tháng 8/2025 và sử dụng phương pháo ước lượng, kiểm định mô hình SPSS 20.0, tác giả kết luận 5 yếu tố trên có tác động đến quản trị rủi ro tín dụng, trong đó các yếu tố về chính sách, quy trình và nhân sự đóng vai trò quan trọng nhất.

Nhóm tác giả Nguyễn Thị Minh Châu- Đào Lê Kiều Oanh (2025) thực hiện nghiên cứu tác động của bất định thế giới (thông qua chỉ số đo lường WUI) đến rủi ro tín dụng của hệ thống ngân hàng và vai trò của vốn và tập trung. Qua tỷ lệ nợ xấu của 115 hệ thống ngân hàng trên thế giới trong giai đoạn 2009 – 2021 bằng phương pháp GMM, nghiên cứu cho rằng tính bất định, “tình trạng thiếu hụt thông tin đầy đủ về các sự kiện trong tương lai dẫn đến việc các chủ thể ra quyết định không thể đoán trước được các biến cố xảy ra và gây ra những hậu quả tiêu cực (Fontana & Gerrard, 2005)”, khi tăng lên sẽ làm trầm trọng thêm tình trạng nợ xấu của hệ thống ngân hàng. Bên cạnh đó, khi bất định thế giới gia tăng, hệ thống ngân hàng có mức độ tập trung cao hơn, vốn chủ sở hữu lớn hơn có khả năng chống đỡ tốt hơn. Từ đó nghiên cứu cũng đã đưa ra một số hàm ý chính sách cho các nhà quản trị ngân hàng. Hạn chế của nghiên cứu là chưa xác định được ngưỡng của vốn và tập trong trong mối quan hệ giữa chỉ số WUI và rủi ro tín dụng, cũng như chưa đánh giá các yếu tố như quản trị quốc gia và mức độ hội nhập kinh tế. Luận văn: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank.

Nguyễn Thị Mỹ Linh (2026) với mục tiêu phân tích vai trò tỷ lệ an toàn vốn đến tác động của tăng trưởng tín dụng lên rủi ro tín dụng thông qua thuật toán mô phỏng Bayes với mẫu 24 ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2009-2024, đã kết luận tăng trưởng tín dụng sẽ làm tăng rủi ro tín dụng nhưng tỷ lệ an toàn vốn tăng sẽ làm giảm rủi ro. Nghiên cứu nhận định việc quản trị tỷ lệ an toàn vốn hiệu quả sẽ có vai trò điều tiết làm giảm rủi ro tín dụng trong giai đoạn ngân hàng mở rộng quy mô tín dụng.

Các luận án, đề tài nghiên cứu khoa học nêu trên tập trung nghiên cứu sự tác động đến quản trị rủi ro tín dụng và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng, bao gồm các nghiên cứu từ yếu tố cấp vi mô như mức độ tăng trưởng tín dụng, các cơ cấu tín dụng, và quản lý rủi ro tín dụng, đến những yếu tố vĩ mô như bất định thế giới. Các nghiên cứu đều có ý nghĩa nhất định trong phạm vi không gian và thời gian của nghiên cứu với những đối tượng nghiên cứu nhất định. Các kết quả nghiên cứu mang những hàm ý chính sách có tính chất tham khảo, nên khi áp dụng vào thực tế của từng đơn vị thì cần phải có những nghiên cứu dựa theo điều kiện cụ thể để đạt được những mục tiêu nghiên cứu mới mang tính ứng dụng hơn, nhất là với cấp quy mô chi nhánh của một hệ thống ngân hàng như Agribank chi nhánh Khu công nghiệp Tân Tạo.

  • Kết luận chương I

Chương 1 đã đề cập đến các lý thuyết chung nhất về Rủi ro tín dụng và Quản trị rủi ro tín dụng. Đồng thời cũng lược khảo những nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan. Từ đó, làm cơ sở lý luận để thực hiện mục tiêu của đề tài “Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Khu công nghiệp Tân Tạo giai đoạn 2023-2025”. Luận văn: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank.

Quản lý rủi ro tín dụng là cách thức tốt nhất mà các tổ chức tín dụng cần thực hiện để không bị ảnh hưởng đến nguồn vốn đầu tư bao gồm tổng thể tất cả các hành động nhằm kiểm soát rủi ro phát sinh trong quá trình vận hành và phát triển quy mô của ngân hàng thương mại, liên quan đến phòng ngừa và kiểm soát các loại rủi ro.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Agribank […]

Contact Me on Zalo
0877682993
1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x