Luận văn: Thực trạng tài nguyên du lịch nghỉ dưỡng biển Việt Nam

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng tài nguyên du lịch nghỉ dưỡng biển Việt Nam hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng và định hướng khai thác tài nguyên du lịch nghỉ dưỡng biển Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

3.1. Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch nghỉ dưỡng biển 

3.1.1 Khai thác chưa tương xứng với tiềm năng

Tài nguyên du lịch và tiềm năng kinh tế của vùng ven biển Việt Nam rất lớn. So với tiềm năng thì việc khai thác, sử dụng tài nguyên cho du lịch biển nói chung và du lịch nghỉ dưỡng nói riêng hiện nay còn nhỏ bé.

Về thực chất tài nguyên du lịch biển từ trước đến nay mới chỉ được sử dụng như những bãi tắm đơn thuần hoặc cao hơn nữa là tổ chức tham quan một số danh lam thắng cảnh ở những nơi có phương tiện giao thông thuận lợi. Nhiều bãi biển chưa triệt để khai thác cả về dung lượng sức chứa và giá trị tài nguyên. Chúng ta mới sử dụng một phần bãi biển mà chưa vươn tới những không gian xung quanh như những cảnh quan thiên nhiên ngoài biển, ngoài các đảo, quần đảo và các khu vực ven biển. Tuyến tham quan trên cao và dưới mặt biển chưa được đầu tư khai thác. Hình thức giải trí nghèo nàn và kém  hấp dẫn. Tại phần lớn các bãi biển hiện nay, ngoài tắm biển du khách hầu như không được thưởng thức các hình thức vui chơi giải trí khác.

Du lịch đảo ven bờ hiện tại chỉ tập trung ở ba vùng chính: vùng đảo ven bờ Đông Bắc (Quảng Ninh, Hải Phòng), vùng đảo Nam Trung Bộ mà trung tâm là Nha Trang – Khánh Hoà và vùng đảo Phú Quốc với các cơ sở nghỉ ngơi nhìn chung sơ sài, dành cho đối tượng khách du lịch đi trong ngày. Khai thác tràn lan, tập trung nhiều cơ sở lưu trú ở các đảo có vị trí quá gần bờ như Cát Bà, Tuần Châu, biến chúng thành những “bách hoá tổng hợp” nhốn nháo, làm mất vẻ đẹp của vùng biển đảo tĩnh lặng, hoang sơ. Trong khi đó hệ thống đảo xa bờ hơn không bị ô nhiễm thích hợp cho việc tổ chức khu nghỉ dưỡng, tắm biển với quy mô và chất lượng quốc thế thì giá trị còn ở dạng tiềm ẩn, hầu như chưa được khai thác đến. Nhiều đảo đá có hình thù kỳ lạ, mang tính liên tưởng cao nhưng việc tổ chức các tuyến du lịch tham đảo chưa lưu ý đến việc lựa chọn tuyến nhìn, điểm nhìn và tốc độ nhìn phù hợp để du khách có thể cảm thụ vẻ đẹp ở mức độ thuận lợi nhất. Việc thiết kế tạo hình các tiện nghi du lịch như bến tàu, nhà dịch vụ, biển báo… chưa được quan tâm đúng mức nên không tạo được ấn tượng thẩm mỹ tốt.

Tài nguyên du lịch biển chủ yếu mới được khai thác các giá trị vật chất. Các bãi biển, vịnh đảo đẹp được quốc tế công nhận và bình chọn như: vịnh Hạ Long, bờ biển Đà Nẵng… nhưng chưa được quy hoạch định hướng để phát triển thành vùng du lịch biển mang đẳng cấp quốc tế. Ngay cả khi được bình chọn là một trong sáu bãi biển quyến rũ nhất hành tinh thì ngành du lịch Việt Nam và Đà Nẵng cũng không có một chương trình quảng bá tầm cỡ nhân cơ hội này tiếp thị ra thị trường du lịch quốc tế. Công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch biển Việt Nam lâu nay chưa được quan tâm đúng mức. Một vài năm gần đây Tổng cục Du lịch đã xuất bản một số thông tin chuyên đề về biển  nhưng chỉ cung cấp thông tin chung chung. Du lịch Việt Nam chưa tham gia các hội nghị, hội chợ chuyên đề du lịch biển và du lịch tàu biển trên thế giới. Ấn phẩm quảng bá về du lịch Việt Nam vừa thiếu vừa chưa chuyên nghiệp, chất lượng còn thấp kể cả về hình thức lẫn nội dung. Chưa có một bộ phim nào về du lịch nghỉ dưỡng biển hấp dẫn. Ngay cả quà lưu niệm cho khách quốc tế, qua các cuộc thi thiết kế của ngành du lịch vẫn chưa tìm được một tặng phẩm nào có ý nghĩa, mang tính đặc trưng biển Việt Nam. Luận văn: Thực trạng tài nguyên du lịch nghỉ dưỡng biển Việt Nam.

Trong quá trình thiết kế các sản phẩm du lịch chưa căn cứ vào đặc điểm tài nguyên để định hướng sản phẩm đặc trưng cho khu vực. Vì vậy không chỉ có tình trạng trùng lặp về sản phẩm du lịch trong cùng một khu vực mà còn có sự trùng lặp về sản phẩm du lịch giữa các khu vực có điều kiện địa lý và giá trị tài nguyên du lịch khác nhau. Điều này ảnh hưởng đến mức độ hấp dẫn của du lịch biển Việt Nam. Khách nước ngoài chỉ cần đến một khu nghỉ dưỡng thay cho việc khám phá nét khác biệt, mới lạ của hàng trăm khu nghỉ dưỡng khác dọc chiều dài bờ biển. Tùng, áng (hồ nước mặn) – hai loại địa hình độc đáo chỉ xuất hiện duy nhất ở khu vực đảo đá ven bờ Đông Bắc là địa điểm tốt cho loại hình du lịch nghiên cứu vì có khả năng lưu giữ những nguồn gen quý hiếm đặc thù vùng biển – nhưng việc khai thác nghèo nàn, chưa biến nó trở thành một thế mạnh du lịch của vùng. Hàng năm, các địa phương ven biển tiêu tốn hàng tỉ đồng để làm lế hội. Tỉnh nào cũng có lễ hội nhưng một lễ hội mang tính đặc thù dân tộc, hấp dẫn khách nước ngoài thì chưa có.

Trên thế giới, du lịch nghỉ dưỡng biển là một trong những loại hình du lịch “cổ điển”. Nói đến du lịch nghỉ dưỡng biển, chúng ta phải kể đến các nước ven Địa Trung Hải, các nước thuộc khu vực Caribê, quần đảo Hawai, gần hơn là các nước trong khu vực như Indonexia, Phillipines, Malaysia, Thái Lan, Hải Nam (Trung Quốc) và đó được xem là những đối thủ cạnh tranh lớn của du lịch biển Việt Nam. Nhắc tới Inđônêxia là nghĩ đến Bali, đến Thái Lan là nghĩ tới Phukhet… còn Việt Nam chưa rõ ràng trong việc định vị hình ảnh du lịch biển đặc trưng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

3.1.2 Khai thác chưa thực sự hiệu quả

Khu vực biển ven biển tập trung trên 70% các khu điểm du lịch trong cả nước. Nhiều năm qua, số khách du lịch quốc tế đến vùng ven biển đạt trên 73% lượng khách quốc tế đến Việt Nam với tốc độ tăng trung bình khoảng 31%/năm.

Bảng 3.1: Số lượt khách du lịch quốc tế đến các tỉnh ven biển (1995-2003)

Năm 2005, toàn vùng ven biển đón 4,4 triệu lượt khách du lịch quốc tế đi lại giữa các tỉnh trong vùng với 12,4 triệu ngày khách, dự kiến năm 2010 là 7,4 triệu lượt với hơn 24 triệu ngày khách. Nếu so với toàn quốc thì tổng ngày khách quốc tế ở vùng ven biển năm 2005 chiếm tới 66% tổng ngày khách quốc tế của toàn quốc, năm 2010 sẽ là 63%.

Khách du lịch quốc tế đến vùng ven biển Việt Nam phân bố không đồng đều theo lãnh thổ. Có 4 khu vực thu hút khách nhiều nhất là thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu (hơn 40% tổng lượng khách quốc tế đến toàn vùng ven biển), Quảng Ninh – Hải Phòng (trên 25%), Huế – Đà Nẵng (12%) và Nha Trang – Khánh Hoà (xấp xỉ 4%). Bốn khu vực trọng điểm ven biển này đã thu hút tới 80% tổng số khách quốc tế đến nghỉ ngơi tham quan trong toàn vùng ven biển. Đây là những khu vực có những đô thị lớn với điều kiện cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch tương đối tốt, đồng thời là những nơi tập trung nhiều tài nguyên du lịch có giá trị.

Số lượng khách du lịch quốc tế đến các khu vực trọng điểm du lịch ven biển tăng nhanh: khu vực Quảng Ninh – Hải Phòng và Huế – Đà Nẵng có tốc độ tăng khá cao trên 41%/năm; các khu vực khác thấp hơn như Bà Rịa – Vũng Tàu 22,6%/năm, Nha Trang – Khánh Hoà 11,5%/năm. Luận văn: Thực trạng tài nguyên du lịch nghỉ dưỡng biển Việt Nam.

Các trọng điểm du lịch kể trên cũng là những khu vực thu hút cao khách du lịch nội địa. Năm 2003, khu vực Vũng Tàu – Thành phố Hồ Chí Minh đón 27,4% số lượt khách nội địa đi lại giữa các vùng trong toàn quốc, tiếp theo là Quảng Ninh – Hải Phòng 13,4%, Huế – Đà Nẵng 2,6%, Khánh Hoà 1,5%. Tốc độ tăng trung bình khách du lịch nội địa ở các khu vực này cũng cao, điển hình như: Quảng Ninh – Hải Phòng là 39%/năm, Nha Trang – Khánh Hoà và Vũng Tàu – Thành phố Hồ Chí Minh là 16%/năm và 17%/năm, Huế – Đà Nẵng 7,3%. Đặc điểm phân bố không đều lượng khách du lịch theo lãnh thổ là yếu tố gây ra những áp lực lớn đối với tài nguyên thiên nhiên và môi trường ở các khu vực tập trung khách du lịch.

Theo thị trường, khách Trung Quốc đến Việt Nam và vùng ven biển ngày càng tăng và hiện đang chiếm tỷ trọng cao nhất (27% tổng số khách quốc tế), sau đó là Việt Kiều, khách Hoà Kỳ (12%), Nhật Bản (trên 6%). Số khách đi du lịch thuần tuý chiếm tỷ lệ cao (47%), sau đó là lý do thăm thân nhân (19%), thương mại (15%) và các mục đích khác (19%). Phần lớn du khách nước ngoài đến Việt Nam chỉ dừng lại ở thành phố Hồ Chí Minh hay Hà Nội một vài đêm, sau đó di chuyển ra miền Trung để thưởng thức khí trời mát mẻ và những bãi biển tuyệt vời của Việt Nam.

Với du khách Châu Âu do không có nhiều điều kiện nghỉ ngơi và tắm biển ấm như tại Việt Nam nên họ thường dành 50 – 70% thời gian tour đến Việt Nam gắn liền với biển và những vùng gần biển.

Về khách du lịch nội địa, các tỉnh ven biển hàng năm thu hút trên 50% tổng số khách nội địa, với tốc độ tăng trung bình thời kỳ 1997- 2003 là 16%/năm.

Bảng 3.3:Số lượt khách du lịch nội địa đến các tỉnh ven biển(1995 – 2003)

Năm 2005,  khách du lịch nội địa đến các tỉnh ven biển là 13,8 triệu lượt khách với hơn 19,8 triệu ngày khách, năm 2010 dự kiến là 17,8 triệu lượt khách với 30,7 triệu ngày khách, bằng 71% (2005) và 76% (2010) so với toàn quốc.

Thu nhập xã hội từ du lịch các tỉnh ven biển luôn chiếm tỷ lệ lớn trong tổng thu nhập xã hội từ du lịch của cả nước. GDP du lịch của các tỉnh ven biển năm 2000 chiếm 63% tổng GDP du lịch cả nước và tính đến năm 2000, khu vực ven biển đã thu hút được 233 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào du lịch với số vốn đầu tư 6,5 tỷ USD (chiếm 64,5% cả nước). Năm 2005, thu nhập từ du lịch biển đạt 1,45 tỷ USD bằng 69,5% thu nhập toàn quốc, dự đoán năm 2010 là 3,2 tỷ bằng 77,1% thu nhập toàn quốc.

Bảng 3.4:  Thu nhập xã hội từ hoạt động du lịch biển (19952003)

Trong một thời gian dài, tỷ trọng khách du lịch cũng như thu nhập từ du lịch biển so với du lịch cả nước ổn định ở mức cao. Tuy nhiên, đối với khu vực ven biển với ưu thế nổi trội về tài nguyên du lịch so với các vùng lãnh thổ khác, lại là trọng điểm đầu tư thì sự ổn định tương đối đó mặt khác phản ánh du lịch biển vẫn chưa tạo được sự hấp dẫn đặc biệt với khách du lịch và những nỗ lực trong những năm vừa qua của chúng ta chưa đưa lại hiệu quả rõ nét, cần những giải pháp đột phá.

Du lịch biển và các ngành dịch vụ biển khác đang mới ở giai đoạn xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng. Thực tế cho thấy trong suốt một thời gian dài thu nhập du lịch biển so với các ngành kinh tế biển khác như dầu khí, thuỷ sản còn thấp hơn và chỉ đứng trên ngành giao thông – dịch vụ hàng hải. Luận văn: Thực trạng tài nguyên du lịch nghỉ dưỡng biển Việt Nam.

Số lượng khách du lịch biển tuy đông nhưng thời gian lưu trú ngắn, mức chi tiêu cho các dịch vụ thấp nên doanh thu không lớn. Mỗi khách du lịch nước ngoài chi trả trung bình ở Việt Nam hiện nay là 800 USD/tour, trong khi đó chi 1200 USD khi ở Thái Lan và 2200 USD ở Australia. Phân tích cơ cấu doanh thu du lịch cho thấy khách du lịch đến vùng ven biển dành phần lớn nguồn chi tiêu của mình cho lưu trú và ăn uống (chiếm trên 60%), số còn lại dành cho mua sắm hàng hoá, vận chuyển và các dịch vụ khác. Tại các khu nghỉ dưỡng, các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, giải trí, mua sắm không đa dạng, khách không có điều kiện tiêu tiền. Tỷ lệ nghịch với việc khách đến Việt Nam ngày càng đông là việc thiếu phòng khách sạn, tăng giá đột ngột của các khách sạn 4 – 5 sao. Thực trạng này đã đẩy giá tour lên cao và Việt Nam trở thành điểm đến đắt đỏ, không thể cạnh tranh với các nước trong khu vực.

Do không có sự phong phú, đa dạng về sản phẩm, các dịch vụ lại nhỏ lẻ thiếu chuyên nghiệp, các khu nghỉ dưỡng ít đổi mới  khiến tỷ lệ khách quốc tế quay lại lần thứ hai rất thấp, chỉ khoảng 3 – 5%.

Trong chuyên đề nghiên cứu về thị trường khách du lịch nội địa của tác giả Nguyễn Tư Lương thực hiện năm 2007, có đưa ra nhận xét: du lịch nghỉ biển thường nhằm thoả mãn nhu cầu tránh nóng, nghỉ ngơi; thời gian khách nội địa dành cho du lịch nghỉ biển là từ 3 – 5 ngày, mức chi tiêu trung bình của khách nội địa khoảng 8 USD/ngày. Cũng với mục đích chính là nghỉ ngơi, hồi phục sức khoẻ giống như du lịch nghỉ dưỡng, song với thời gian lưu trú ngắn, đi kèm với việc sử dụng hạn chế các dịch vụ như trường hợp của đối tượng khách nội địa Việt Nam thì du lịch nghỉ biển (du lịch nghỉ mát) chưa được coi là những chuyến du lịch nghỉ dưỡng thực thụ và hiệu quả kinh tế đưa lại không cao.

3.1.3 Các khu nghỉ dưỡng biển cao cấp thiếu về số lượng và yếu về khả năng cạnh tranh

Hệ thống cơ sở lưu trú vùng ven biển không ngừng tăng lên. Theo thống kê, tính đến thời điểm hiện tại, vùng ven biển có gần 1400 cơ sở lưu trú với trên 45000 buồng. Từ năm 1994 đến nay với sự ra đời của nhiều khu du nghỉ dưỡng biển Furama (Đà Nẵng), Hòn Tre (Nha Trang), Novotel (Phan Thiết)… với kiến trúc hài hoà với cảnh quan, tiện nghi sinh hoạt sang trọng, chất lượng dịch vụ cao đã làm thay đổi diện mạo du lịch biển Việt Nam.

Căn cứ theo thống kê của Tổng cục Du lịch, tính đến hết năm 2005, tổng số các resort đã được xếp hạng trong cả nước là 26 cơ sở với tổng số là 1972 buồng. Về số lượng, các resort chiếm 0,4% tổng số cơ sở lưu trú và chiếm 1,51% tổng số buồng trong phạm vi cả nước. Mặc dù các resort còn chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số cơ sở lưu trú du lịch nhưng sự phát triển của các resort là xu hướng mới nhằm đa dạng hoá sản phẩm lưu trú du lịch và thể hiện sự đáp ứng nhu cầu nghỉ dưỡng hoà hợp với thiên nhiên của khách du lịch.

Các resort tập trung nhiều ở các vùng ven biển, nhất là các tỉnh miền Trung và Nam Trung Bộ. Thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tập trung 2/3 tổng số resort của cả nước, được mệnh danh là “thủ đô resort”. Tại miền Bắc chỉ có vài resort ở Hạ Long, Cát Bà, Thanh Hoá. Miền Nam, một số resort tập trung ở Long Hải, Vũng Tàu, Phú Quốc và rải rác vài ba resort ở các tỉnh. Resort thường là khu dịch vụ tổng hợp kết hợp nghỉ dưỡng với trị bệnh và du lịch sinh thái.

Bảng 3.5: Số lượng reort ở Việt Nam tính đến hết năm 2005

Qua bảng số liệu có thể thấy hầu hết các resort ở Việt Nam đều thuộc cơ sở lưu trú hạng cao sao từ 3 sao trở lên, chiếm tới 73% tổng số resort được xếp hạng. Số vốn đầu tư bình quân của những resort là khoảng 1 tỷ/ buồng.

Về hình thức tổ chức kinh doanh, các resort chủ yếu là hình thức liên doanh nước ngoài hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Resort do nước ngoài đầu tư thường sang trọng và hiện đại, phòng rộng và đầy đủ tiện nghi (karaoke, internet, quầy bar, hồ bơi, massage, spa…). Với hình thức liên doanh với nước ngoài, tạo điều kiện cho những tập đoàn chuyên kinh doanh resort như Six Senses đem tới kinh nghiệm quản lý, tạo điều kiện nâng cao chất lượng hoạt động của các khu resort.

Về cách thức tổ chức quản lý, thường áp dụng theo tiêu chuẩn của các tập đoàn nước ngoài, trong đó một số resort đã áp dụng bộ phận chuyên trách quản lý công tác môi trường. Hầu hết các resort là cơ sở hạng cao sao nên chất lượng tuyển chọn người lao động được chú trọng nhằm đảm bảo chất lượng dịch vụ. Luận văn: Thực trạng tài nguyên du lịch nghỉ dưỡng biển Việt Nam.

Về cơ sở vật chất kỹ thuật, do các khu resort được xây dựng ở các vùng biển hoặc các nơi có tài nguyên du lịch nên kiến trúc các khu resort thường là các khu nhà tầng thấp, mang tính gần gũi với môi trường, gần gũi với thiên nhiên nhưng vẫn đảm bảo sự sang trọng, tiện nghi. Diện tích các resort thường là từ 1 hecta tới 40 hecta và diện tích ngày càng được mở rộng vì đặc trưng của khu resort thường là các khu vực có không gian rộng rãi trong đó diện tích xây dựng thường chiếm tỷ lệ nhỏ. Một số resort bước đầu có sự quan tâm của nhà đầu tư và người thiết kế đến giá trị cảnh quan tự nhiên, đến việc lồng ghép hồn văn hoá truyền thống bản địa vào các đơn vị kiến trúc nhằm tạo nét riêng biệt. Tuy nhiên hàm lượng trí tuệ trong nghiên cứu, xây dựng và kiến tạo cảnh quan còn nhỏ. Nếu như Resort Hoàn Cầu ở Ninh Chữ (Phan Rang) thiết kế các phòng theo hình tròn và bên ngoài trang trí nhìn giống những gốc cây cổ thụ thì resort Năm Châu ở Mũi Né (Phan Thiết) thiết kế các phòng như ở nông thôn với nhà lợp tranh, vách lá; nét văn hoá Chăm rất riêng của Bình Thuận hội tụ về Siva Resort.

Số lượng các resort cao cấp còn hạn chế. Nhiều khu nghỉ dưỡng chưa rộng đến 2 hecta, quy mô nhỏ và manh mún, không làm thoả mãn yêu cầu của du khách nước ngoài về sự rộng rãi và thoáng mát. Đa số các resort xây dựng chưa rõ phong cách, chưa thực sự ấn tượng. Việc đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng chỉ mới được nhìn nhận dưới khía cạnh công năng kinh tế, còn khía cạnh thẩm mỹ, bảo tồn môi trường chưa được lưu tâm như thiếu hệ thống xử lý nước và rác thải. Các khu resort có vị trí gần các nguồn tài nguyên nên thường xa khu trung tâm, xa thành phố lớn do đó hạn chế khả năng tiếp cận nguồn nước sạch cũng như khả năng cung cấp thực phẩm đảm bảo chất lượng. Việc vận chuyển nguyên liệu xây dựng, chọn được thợ xây dựng cũng gặp nhiều khó khăn nên ảnh hưởng tới chất lượng và tính chuyên nghiệp trong cơ sở vật chất của các resort, đặc biệt là các resort thuộc hình thức sở hữu tư nhân. Công suất hoạt động của các resort chưa cao, chịu ảnh hưởng rõ rệt của tính thời vụ trong kinh doanh do khách du lịch thường đi nghỉ vào thời điểm hè. Tại một số resort tỷ lệ lao động là người địa phương nên gặp khó khăn trong vấn đề đào tạo cũng như trình độ ngoại ngữ.

Vốn đầu tư cho du lịch còn hạn chế, đặc biệt vốn đầu tư của Nhà nước dành cho nâng cấp hạ tầng để tạo điều kiện tiếp cận đến các điểm tham quan du lịch hấp dẫn ở vùng ven biển, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch biển còn nhỏ bé, thiếu những khu du lịch biển hiện đại, chất lượng cao.

3.1.4 Khai thác tài nguyên thiếu bền vững Luận văn: Thực trạng tài nguyên du lịch nghỉ dưỡng biển Việt Nam.

Mức độ khai thác tài nguyên và phát triển du lịch biển tại các khu vực tuy khác nhau nhưng đêù có những dấu hiệu làm sự suy giảm tài nguyên vùng ven biển gia tăng cùng với những vấn đề môi trường nảy sinh, ảnh hưởng lớn đến phát triển du lịch bền vững.

Việc can thiệp của con người trong quá trình đầu tư tôn tạo hang động phục vụ du lịch còn thiếu những giải pháp tinh tế: hệ thống đèn màu với công suất lớn bố trí lộ liễu; các bậc thang, lan can, lối đi trong hang “bê tông hoá” với quá nhiều xi măng, sắt thép đánh mất vẻ đẹp huyền bí, kỳ vĩ của hang động. Hiện tượng “đô thị hoá” diễn ra phổ biến ở các bãi biển và các đảo có vị trí quá gần bờ như Cát Bà, Tuần Châu với lối kiến trúc dày đặc, vô tổ chức. Do chưa biết cách khai thác và phát huy thế mạnh của cảnh quan tự nhiên và bản sắc văn hoá khu vực nên các công trình kiến trúc thường có xu hướng sao chép nhau. Cảnh quan đảo được tạo dựng nên bởi sự sao chép cảnh quan trên bờ bất kể các yếu tố thiên nhiên hoang dã của đảo. Yếu tố thân thiện với môi trường bị đe doạ khi bê tông hoá và diện tích cây xanh mất dần. Khai thác quá sức chịu tải của môi trường và sự thiếu quan tâm đến hệ thống xử l‎ý chất thải một cách khoa học. Nhu cầu về chế biến các vật lưu niệm và thực phẩm cũng đã dẫn đến việc khai thác bất hợp lý các động vật hoang dã như rùa biển, đồi mồi, rùa xanh…

Môi trường biển, đặc biệt môi trường ở một số khu vực trọng điểm phát triển du lịch biển như Hạ Long – Cát Bà, Huế – Đà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu… đã có sự suy thoái do hoạt động phát triển kinh tế xã hội, trong đó có hoạt động du lịch. Nguy cơ ô hiễm dầu có chiều hướng gia tăng. Hàm lượng dầu trong nước biển ở cả ba vùng đều cao quá tiêu chuẩn cho phép: 0.34 mg/l ở miền Bắc, 0,13 mg/l ở miền Nam, 0,18 mg/l ở miền Nam.[30] Vùng biển vịnh Hạ Long có hàm lượng dầu cao. Tại các khu vực luồng tàu vào các cảng ở vịnh Bãi Cháy, hàm lượng dầu là 0,1- 0,8 mg/l, trung bình 0,4 mg/l, cao hơn tiêu chuẩn cho phép. Ở những nơi chất thải sinh hoạt đổ vào vùng ven bờ Bãi Cháy gây ô nhiễm cục bộ, chỉ số Coliform thường vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 1 đến 4,6 lần, còn các vùng khác trong vịnh chỉ số Caliform thấp hơn tiêu chuẩn cho phép. Bụi than và các chất thải từ việc khai thác, vận chuyển than ở vùng mỏ ven bờ vịnh Bái Tử Long và Hạ Long đã gây ra sự gia tăng hàm lượng bụi than trong trầm tích đáy vịnh. Chất phù sa lắng đọng trên các rạn san hô dao động từ 1,3 – 10 mg/cm2/ngày. Ô nhiễm chất hữu cơ chủ yếu là trong nước biển vùng ven bờ phía Nam. Chỉ số Caloform ở vùng biển ven bờ phía Nam đều vượt tiêu chuẩn cho phép, còn ở vùng biển miền Bắc và miền Trung chỉ số này thấp hơn tiêu chuẩn cho phép, trừ vùng ven bờ vịnh Hạ Long.

Phát triển du lịch biển đảo bền vững hiện là xu hướng của thế giới nhưng ở Việt Nam mới chỉ dừng ở mức thí điểm.

3.2 Định hướng khai thác tài nguyên du lịch nghỉ dưỡng biển Luận văn: Thực trạng tài nguyên du lịch nghỉ dưỡng biển Việt Nam.

3.2.1 Xây dựng các khu nghỉ dưỡng biển chất lượng cao

Đối tượng phục vụ của du lịch nghỉ dưỡng chủ yếu là cư dân thành thị. Sức ép của công việc bộn bề thường trực, sức ép của các mối quan hệ xã hội phức tạp… khiến họ có khao khát được trở về gần gũi với thiên nhiên, sống trong môi trường yên bình, thanh sạch. Họ biến các kỳ nghỉ thành cơ hội để bù đắp các nguồn năng lượng đã tiêu hao, cải thiện tình trạng thể lực, tinh thần, dự trữ nguồn năng lượng và khả năng thích ứng mới. Du khách nghỉ dưỡng thường yêu cầu nhiều loại dịch vụ, các dịch vụ có chất lượng cao và sự đồng bộ về chất lượng giữa các dịch vụ. Vì vậy mà khi xây dựng các khu nghỉ dưỡng biển cần chú ý các điểm sau:

  • Lựa chọn định vị khu nghỉ dưỡng thiên về những địa điểm mà từ đó có thể quan sát được nhiều cảnh đẹp và có môi trường trong lành.
  • Khi xây dựng các khu nghỉ dưỡng, yêu cầu trước tiên là phải xây dựng theo hướng mở ra thiên nhiên, tận dụng tối đa điều kiện thuận lợi của tự nhiên.

Quỹ đất rộng nhưng không nên ham nhiều nhà, nhiều phòng để đón khách, thu lợi mà phải ưu tiên diện tích dành cho cây xanh, môi sinh (tối thiểu chiếm 1/3 diện tích xây dựng) và sự hài hoà giữa các công trình kiến trúc với tự nhiên.

Khách sạn xây không cao (2- 4 tầng), từng khách sạn cách nhau 5 – 10 lần độ cao (ít nhất cách 30 m), xu hướng chung là khai thác mặt đất với sân, vườn, mặt nước đan xen giữa các toà nhà để tạo khung cảnh thoáng mát. Trồng cây xanh, dựng hòn non bộ, các lối đi nhỏ rải sỏi… tạo thành không gian xanh rộng khắp. Resort Đức Hạnh (Phan Thiết) xây nhà bát giác, chạm trổ  đẹp để du khách ngồi ngắm biển và ngồi thiền. Đồi Sứ resort (Phan Thiết) xây một ngôi lầu thưởng nguyệt trên đỉnh đồi để du khách leo lên ngắm trăng và ngắm cảnh biển. Du khách có thể đi xe đạp, cưỡi  ngựa theo những đường mòn rợp bóng cây trên đồi. Quán gió lợp mái lá với bàn ghế bằng tre tạo cảm giác ấm áp của làng quê… Các khu nghỉ dưỡng tại Thừa Thiên Huế thiết kế theo kiểu nhà vườn Huế không cao quá 2 tầng và rợp bóng cây.

Xây dựng quay mặt ra hướng biển, mỗi căn phòng, buồng khách sạn có cửa mở ra biển, tận dụng hướng gió thịnh hành để tạo sự thông thoáng cần thiết cho công trình.

Xây dựng kiểu dáng cho các đơn nguyên kiến trúc phù hợp với yếu tố địa lý tại chỗ, hài hoà với phong cảnh và làm đẹp thêm phong cảnh. Các chi tiết tạo hình thiên về cách tương tự hoặc mô phỏng hình dáng tự nhiên.

Để giúp cho du khách có điều kiện nghỉ ngơi tốt nhất, khu vui chơi giải trí được đặt cách biệt với khu an dưỡng. Việc sắp xếp và thiết kế hình thái các công trình lưu trú sao cho du khách vừa có thể phục hồi sức khoẻ vừa có thể thụ cảm thẩm mỹ.

Tuân thủ nguyên tắc hài hoà, gần gũi với tự nhiên song nội thất của các khu nghỉ dưỡng thường yêu cầu sang trọng, hiện đại ngay cả khi hình thức bề ngoài là hết sức “dân dã”. Luận văn: Thực trạng tài nguyên du lịch nghỉ dưỡng biển Việt Nam.

Dịch vụ chăm sóc sức khoẻ toàn diện (massage thân thể, massage chân với bể xông sục, sauna, bồn ngâm người bằng gỗ sồi với hoa hồng, ngâm chân bằng thuốc bắc…). Dịch vụ cần liên hoàn khép kín, bố trí để tạo ra một không gian du lịch cho phép khách vừa có điều kiện giao tiếp lại vừa có không gian biệt lập khi họ muốn.

Các món ăn giàu dinh dưỡng (có thể kết hợp với thuốc bắc) nhằm bồi bổ sức khoẻ, tăng cường sức đề kháng cho cơ thể.

Nhiều dịch vụ phụ trợ như sân tennis, bóng bàn, bóng chuyền bãi biển, chơi billard, bể bơi với hàng ghế nằm phục vụ khách tắm nghỉ ngơi với quầy bar liền kề.

Đa dạng hoá sự sử dụng thời gian trong ngày của khách với các hoạt động đi bộ, trèo núi, đi xe đạp dã ngoại, đi thuyền, bơi lội… Các chương trình nghỉ dưỡng kết hợp với cá vận động thể thao ngoài trời rất có lợi cho sức khỏe của du khách. Mỗi loại hình du lịch có những đặc trưng riêng nhưng trong thực tế du khách thường kết hợp một vài thể loại du lịch với nhau trong cùng một chuyến đi. Đa dạng hoá các dịch vụ giúp mở rộng thời vụ cho du lịch biển và mang hiệu quả kinh tế cao.

Các khu nghỉ dưỡng được bố trí ở ven biển, tương đối xa các vùng dân cư, vì vậy công việc cứu hộ phải được đặt lên hàng đầu. Cần có đội ngũ nhân viên cứu hộ có sức khoẻ và phản ứng nhanh nhẹn.

Cần có đội ngũ đại diện nghỉ dưỡng (resort representation) có kiến thức về dinh dưỡng, có khả năng hướng dẫn các bài tập vận động – chịu trách nhiệm chăm sóc khách hàng đến nghỉ trọn gói ở các khu nghỉ dưỡng.

Nhân viên còn cần có hiểu biết về  các loại hình giải trí, du ngoạn phổ biến trong vùng để tư vấn cho khách hàng và biết ngoại ngữ để giao tiếp với khách nước ngoài.

Có nhân viên hoặc thuê người dân địa phương hàng ngày đi dọc bãi tắm để nhặt rác (nylon, vỏ chai nước, các loại rong rêu do sóng đưa từ ngoài biển vào) và đảo cát để tránh gây nấm cho du khách.

Đối tượng của du lịch nghỉ dưỡng biển là “khách thượng lưu”. Du khách nhiều tiền không quan tâm họ chi bao nhiêu cho một bữa ăn hay một buổi săn dưới biển nhưng lại đòi hỏi chất lượng các dịch vụ cao cấp và chuyên nghiệp. Để lôi cuốn khách quốc tế đến Việt Nam một lần và trở lại nhiều lần, các khu nghỉ dưỡng biển không nên lạm dụng chính sách cạnh tranh về giá mà cần tăng cường cơ sở vật chất, tiện nghi và tính chuyên nghiệp hay nói cách khác phải đầu tư để nâng cao chất lượng dịch vụ.

Mặt khác, các khu nghỉ dưỡng biển trong nước phải tạo được điểm khác biệt so với nhau và so với các khu nghỉ dưỡng của nước ngoài. Làm thế nào để khách không nhầm lẫn một khu du nghỉ dưỡng tại Hawai với một khu nghỉ dưỡng tại Việt Nam và cũng không thể nhầm lẫn một khu du lịch trên đảo với một khu du lịch trên đất liền. Nếu chỉ đơn thuần nhấn mạnh về tiện nghi của một khu nghỉ dưỡng 5 sao thì người ta có thể tìm thấy dễ dàng ở Hawai, Bali hay Phukhet… Chúng ta phải dựa vào đặc thù thiên nhiên và văn hoá khu vực để tạo bản sắc riêng. Giá trị cảnh quan vùng ven biển dễ bị trùng lặp và nhàm chán nếu nó không thể hiện được các không gian văn hoá xã hội khác nhau. Tập trung xây dựng cảnh quan kiến trúc và dịch vụ hạ tầng theo chuyên đề khác nhau, sử dụng kiến trúc truyền thống và bản địa, vật liệu địa phương, kết cấu cổ truyền cho các khu nhà nghỉ, khách sạn mang đến cái khác lạ cho du khách khi ngắm nhìn hay sống trong các kiến trúc đó. Vật liệu và vật trang trí tiểu cảnh là đồ dùng hàng ngày (lưới đánh cá, lu nước, mái chèo; lọ hoa sen, khóm trúc…) có khả năng tạo ngôn ngữ kiến trúc khác biệt giữa các vùng văn hoá. Luận văn: Thực trạng tài nguyên du lịch nghỉ dưỡng biển Việt Nam.

3.2.2 Khai thác tài nguyên bền vững

Khai thác bền vững về tài nguyên là việc sử dụng các tài nguyên không vượt quá khả năng tự phục hồi của nó, sao cho đáp ứng được nhu cầu phát triển hiện tại mà không làm suy yếu khả năng tái tạo trong tương lai để đáp ứng được nhu cầu của thế hệ mai sau.

Sử dụng tài nguyên một cách hợp lý, không vượt quá sức chứa và hạn chế có những tác động tiêu cực đến môi trường.

Khái niệm sức chứa bao gồm 4 khía cạnh: vật lý, sinh học, tâm lý và xã hội. Về khía cạnh sinh học, sức chứa sinh thái tự nhiên được hiểu là giới hạn về lượng khách đến một khu vực mà vượt quá sẽ xuất hiện các tác động của các du khách và các tiện nghi do họ sử dụng tới môi trường, tới tập tục sinh hoạt của các loài thú hoang dã và làm cho hệ sinh thái xuống cấp. Về khía cạnh xã hội, sức chứa văn hoá xã hội được hiểu là giới hạn về lượng khách mà tại đó bắt đầu xuất hiện những tác động tiêu cực của hoạt động du lịch đến đời sống văn hoá xã hội, đến những tập tục và truyền thống sinh hoạt của người dân bản địa. Dưới góc độ vật lý, sức chứa được hiểu là lượng khách tối đa mà không gian của điểm du lịch có thể tiếp nhận. Nó liên quan đến những tiêu chuẩn tối thiểu về không gian đối với mỗi du khách cùng những hoạt động tương ứng với loại hình du lịch mà họ tham gia.

Theo mục đích du lịch, sức chứa cho nghỉ dưỡng biển được xác định 30- 40 m2/người (picnic 50 – 60 m2/người, thể thao 200 – 400 m2/người, hoạt động cắm trại ngoài trời:  100 – 200 m2/người) [25]. Cần tiến hành nghiên cứu sức chứa cho từng địa điểm du lịch nghỉ dưỡng biển cụ thể để có quy định và giải pháp phù hợp. Áp dụng các chỉ số sức chứa cùng với các chỉ số về thị trường vào việc xây dựng các công trình đón tiếp du khách.

Môi trường, hệ sinh thái biển đảo là những yếu tố nhạy cảm, dễ bị phá huỷ trước các tác động của hoạt động kinh tế, trong đó có hoạt động du lịch. Nhu cầu phát triển du lịch biển đảo tăng nhanh gây sức ép lên tài nguyên. Tốc độ khai thác quá nhanh trong khi khả năng quản lý khai thác hạn chế. Trên thực tế, ở tất cả các cấp từ trung ương đến huyện, tỉnh đều có tiến hành quy hoạch để phát triển vùng ven biển. Tuy nhiên, việc quy hoạch này thường mang tính đơn ngành, thiếu sự điều phối theo cả cấu trúc chiều dọc (từ trung ương đến địa phương) và cả cấu trúc chiều ngang (các ngành trên cùng một địa bàn) hay nói cách khác là thiếu cách tiếp cận hệ thống đa ngành trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên. Nguồn tài nguyên thường bị chia cắt, chức năng thống nhất và hoàn chỉnh cũng như cân bằng sinh thái tối ưu của đới bờ biển bị phá vỡ. Sự bất cập giữa quy hoạch ngành và quy hoạch lãnh thổ dẫn đến tình trạng chồng chéo trong khai thác sử dụng tài nguyên biển. Trong các kế hoạch phát triển thiếu kế hoạch quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, thiếu chiến lược khai thác cảnh quan tổng thể đi kèm với các tiêu chí, chỉ tiêu cụ thể để đánh giá, phê duyệt các dự án đầu tư du lịch. Khai thác mang tính chất tự phát, chỉ tập trung ưu tiên khai thác, ít chú ý đến việc bảo vệ môi trường và tài nguyên vùng bờ biển, thường chỉ chú ý đến lợi ích của ngành mình, ít chú ý đến ngành khác. Tại một số địa phương, việc phát triển công nghiệp đang phá vỡ nhiều cảnh quan, xâm hại tới môi trường nghiêm trọng. Ở Quảng Ninh, những ngọn núi bị đào bới loang lổ để khai thác. Không chỉ trên mặt đất, những lò than cắt đứt những mạch nước ngầm làm môi trường thay đổi, làm chết cả rừng cây. Việc neo đậu và xuất phát của hàng trăm tàu thuyền trong vùng vịnh Lan Hạ làm xuất hiện váng dầu ở vùng nước biển Cát Bà gần khu vực bãi tắm Cát Cò. Du lịch biển, đảo đang có nhiều mâu thuẫn trong phát triển kinh tế xã hội, giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, lợi ích giữa các ngành… làm cho du lịch chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Nguy cơ ô nhiễm còn do nề nếp sinh hoạt và ý thức bảo vệ môi trường kém của cư dân vùng biển.

Tài nguyên có thể tự duy trì hoặc tự bổ sung một cách liên tục nếu được quy hoạch và quản lý tốt. Cần thiết xây dựng chiến lược khai thác biển tổng thể đi kèm với các tiêu chí, chỉ tiêu cụ thể để đánh giá, phê duyệt các dự án đầu tư. Khi chưa có quy hoạch được phê duyệt thì chưa cấp phép xây dựng cho các dự án vì sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển lâu dài của tương lai. Vận dụng cách tiếp cận hệ thống đa ngành trong sử dụng tài nguyên biển, hạn chế mâu thuẫn giữa ngành Du lịch với các ngành kinh tế khác. Cần có nguồn đầu tư cần thiết cho việc bảo tồn, tái tạo tài nguyên cũng như việc thực thi các chính sách môi trường hợp lý. Luận văn: Thực trạng tài nguyên du lịch nghỉ dưỡng biển Việt Nam.

Quản lý chặt chẽ việc xả rác trực tiếp cũng như gián tiếp xuống biển. Đầu tư trang thiết bị vận chuyển rác, xử lý rác. Thành lập đội chuyên thu gom rác và khuyến khích người dân tham gia vào quá trình thu gom rác. Nhà hàng, khách sạn phải có hệ thống xử lý nước thải riêng.

Vùng ven biển là phần lãnh thổ phải đối mặt trực tiếp với những tác động của biển, sóng thần, bão lũ, nước dâng, sự xâm thực của nước mặn, cho nên việc đầu tư các công trình du lịch thường rất tốn kém và chịu nhiều áp lực đối với sự phát triển bền vững.

Ở Việt Nam 75% bờ biển nước ta đang bị xói lở, có nơi đạt đến hàng chục mét mỗi năm. [24] Xói lở biển là kết quả của sự dâng cao của  mực nước biển so với đất liền do hiệu ứng nhà kính gây nên. Đây là hiểm hoạ có tính trường diễn. Vì vậy phải đẩy lùi các công trình xây dựng và kết cấu hạ tầng vào sâu trong đất liền ít nhất 100 – 150 m với mực nước thuỷ triều lên. Xây dựng dải đệm an toàn ngăn cách giữa mực nước biển và khu vực xây dựng cơ sở hạ tầng. Trong vùng dải đệm phát triển rừng phòng hộ bảo tồn, các barie sinh thái tự nhiên như cồn cát, gò đống đất đá tự nhiên. Các nhà cao tầng song song bờ biển cần để trống tầng trệt (như nhà sàn) để nước dâng có thể luồn qua. Nhà dài vuông góc với bờ biển, đầu hồi phía đông cần có kiến trúc tròn hoặc ôvan để giảm lực cản của nước và sóng biển.

Tiểu kết chương 3

Tài nguyên du lịch và tiềm năng kinh tế của vùng ven biển Việt Nam rất lớn tuy nhiên việc khai thác cho du lịch nghỉ dưỡng nói riêng và du lịch biển nói chung mới ở giai đoạn đầu của xây dựng cơ sở hạ tầng, chưa tương xứng với vị trí và tiềm năng của tài nguyên. Trong quá trình thiết kế các sản phẩm du lịch chưa căn cứ vào đặc điểm tài nguyên để định hướng sản phẩm đặc trưng cho khu vực dẫn đến tình trạng trùng lặp về sản phẩm du lịch biển.

Trong một thời gian dài, tỷ trọng khách du lịch (quốc tế, nội địa) cũng như thu nhập từ du lịch biển so với du lịch cả nước ổn định ở mức cao. Tuy nhiên, đối với khu vực ven biển với ưu thế nổi trội về tài nguyên, lại là trọng điểm đầu tư thì sự ổn định tương đối đó phản ánh du lịch biển chưa tạo được sự hấp dẫn đặc biệt với khách du lịch, cần những giải pháp đột phá.

Các khu nghỉ dưỡng biển cao cấp ở Việt Nam hạn chế về số lượng, quy mô, đa số xây dựng chưa rõ phong cách. Việc đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng chỉ mới được nhìn nhận dưới khía cạnh công năng kinh tế, còn khía cạnh thẩm mỹ, bảo tồn môi trường chưa được lưu tâm.

Yếu tố thân thiện với môi trường bị đe doạ khi bê tông hoá, diện tích cây xanh mất dần, khai thác quá sức chịu tải của môi trường và sự thiếu quan tâm đến hệ thống xử l‎ý chất thải một cách khoa học.

Để xây dựng các khu nghỉ dưỡng biển cao cấp, có khả năng cạnh tranh cao, chúng ta phải chú ý đến vị trí; diện tích, độ cao, khoảng cách giữa các đơn vị kiến trúc; chính sách đào tạo, bồi dưỡng nhân viên; đa dạng hoá, nâng cao chất lượng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ và quan trọng là phải đầu tư nghiên cứu để thiết kế nét khác biệt giữa các khu nghỉ dưỡng biển.

Để khai thác tài nguyên du lịch biển bền vững, chúng ta cần sử dụng tài nguyên không vượt quá khả năng tải; tiến hành quy hoạch, quản lý; hạn chế các tác động tiêu cực đến môi trường và có những phương án đối phó với các hiểm hoạ thiên nhiên.

KẾT LUẬN Luận văn: Thực trạng tài nguyên du lịch nghỉ dưỡng biển Việt Nam.

Tài nguyên du lịch nghỉ dưỡng biển là các thành phần và tổng thể tự nhiên thuộc vùng ven biển và hải đảo có thể khai thác, sử dụng để tạo nên các sản phẩm du lịch nghỉ dưỡng biển.

Khí hậu Việt Nam với đặc trưng nóng ẩm, ít biến động, môi trường trong lành. Bờ biển Việt Nam kéo dài vơí 126 bãi biển tương đối bằng phẳng, cát trắng, mịn, độ trong suốt cao, nước ấm, sóng nhỏ, nền đáy biển chắc và an toàn. Núi ăn sát ra biển, nhiều dạng địa hình đan xen, phong cảnh luôn thay đổi đa dạng. Cách ly với lục địa, yên tĩnh, trong lành cộng thêm hình thái đặc biệt của cảnh quan, nhiều hải đảo Việt Nam có sức cuốn hút đặc biệt với đối tượng khách du lịch nghỉ dưỡng. Việt Nam còn có nhiều loại tài nguyên đặc sắc làm căn cứ cho việc xây dựng sản phẩm du lịch nghỉ dưỡng hấp dẫn. Khu vực có ưu thế nổi trội về tài nguyên là vùng ven biển miền Trung, đặc biệt đoạn từ Đà Nẵng đến Bà Rịa – Vũng Tàu. Điều kiện khai thác tài nguyên du lịch nghỉ dưỡng biển nhiều thuận lợi.

Luận văn nhận diện, đánh giá tổng quát tài nguyên du lịch nghỉ dưỡng biển Việt Nam về quy mô, số lượng, giá trị, phân bố đến các điều kiện khai thác, chứng minh Việt Nam có thế mạnh lớn về tài nguyên du lịch nghỉ dưỡng biển. Đối chiếu với thực tế thấy chúng ta đang khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên đó không hiệu quả và thiếu bền vững, cần thiết có những định hướng để sử dụng tài nguyên tối ưu hơn.

Đây là một đề tài có ý nghĩa thực tiễn lớn. Tuy nhiên do phạm vi nghiên cứu rộng,  khó khăn trong việc sử lý thông tin từ nhiều nguồn thứ cấp, lại không có điều kiện về thời gian và kinh phí để kiểm chứng thông tin nên những đánh giá nhận xét chưa sâu và chưa thực sự khách quan. Hoàn thành luận văn này, tác giả xin trân trọng cảm ơn sự hướng dẫn và giúp đỡ nhiệt tình của TS. Nguyễn Phúc Đức. Luận văn: Thực trạng tài nguyên du lịch nghỉ dưỡng biển Việt Nam.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: Tài nguyên biển cho phát triển du lịch nghỉ dưỡng

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993