Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch sinh thái tại đảo Cô Tô Lớn

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch sinh thái tại đảo Cô Tô Lớn hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Đề xuất giải pháp phát triển du lịch sinh thái tại đảo Cô Tô lớn, huyện Cô Tô dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

4.1. Phân tích SWOT cho phát triển du lịch sinh thái tại huyện đảo Cô Tô

Qua tìm hiểu tài nguyên du lịch, hiện trạng phát triển du lịch và các cơ chế chính sách đối với việc phát triển du lịch và du lịch sinh thái có thể khẳng định huyện đảo Cô Tô có tiềm năng phát triển DLST. Trên cơ sở khoa học và thực tiễn đã được rút ra trong quá trình tìm hiểu về du lịch và DLST, kết hợp với việc tham khảo các hoạt động DLST trong nước cũng như trên thế giới, tác giả thấy rằng việc phát triển DLST tại Cô Tô là nhu cầu cần thiết, phù hợp với xu thế toàn cầu và chiến lược phát triển bền vững của đất nước và địa phương.

Cơ sở cho việc đề xuất định hướng cụ thể nhằm phát triển DLST ở Cô Tô thể hiện qua bảng phân tích SWOT dưới đây.

Bảng 4.1: Phân tích SWOT

Điểm mạnh (S) Điểm yếu (W)
–  Với những nét đẹp hoang sơ, độc đáo như bờ cát trắng, bãi tắm sạch, nước biển xanh lục, cấu tạo kiến trúc địa chất, địa hình và địa mạo dải bờ biển độc đáo, hải sản ngon cùng những người dân thân thiện, môi trường Cô Tô rất phù hợp để phát triển các loại hình du lịch sinh thái kết hợp nghỉ dưỡng biển đảo.

– Huyện đảo có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, cảnh quan đa dạng như HST rừng chõi nguyên sinh, HST rừng ngập mặn, HST rạn san hô… với giá trị đa dạng sinh học cao.

– Có nhiều điểm tham quan có khả năng thu hút khách du lịch: các bãi biển Nam Hải, Hồng Vàn, Vàn Chải, đỉnh Cầu Mỵ, bãi đá Pheralit, ngọn Hải đăng Cô Tô, đảo Cô Tô con…

– Có Tượng đài Bác Hồ và Khu di tích đền thờ Hồ Chủ Tịch nằm ở vị trí trung tâm của huyện đảo, là cột mốc linh thiêng đánh dấu chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.

– Quần đảo Cô Tô có đầy đủ các điều kiện thích hợp để phát triển đa dạng nhiều loại hình du lịch như: Du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái, du lịch khám phá. Cô Tô có vai trò là điểm kéo dài của các tour du lịch từ vùng Đông Bắc của Tổ quốc như Vân Đồn, Móng Cái, thành phố Hạ Long.

– Các hoạt động xúc tiến quảng bá về du lịch và DLST đã được UBND huyện tiến hành rộng rãi.

– Kết cấu dân cư trẻ, gần 50% dân số ở trong độ tuổi lao động là nguồn lao động dồi dào; dân cư địa phương thân thiện, hiếu khách.

– Hệ thống chính trị ổn định, trật tự an toàn an ninh xã hội đảm bảo.

– Các chính sách khuyến khích phát triển du lịch và DLST đã và đang được Chính phủ, UBND tỉnh Quảng Ninh và huyện ủy Cô Tô quan tâm, hỗ trợ.

– Đảo nhỏ, tài nguyên du lịch không nhiều lại xa đất liền, phương tiện đi lại giữa các đảo còn hạn chế, chịu ảnh hưởng trực tiếp từ thời tiết nên việc phát triển du lịch và DLST còn gặp nhiều khó khăn bất khả kháng.

–  Là khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề từ quá trình biến đổi khí hậu toàn cầu.

–  Cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ hoạt động DLST chưa đủ để đáp ứng nhu cầu của du khách.

–  Thiếu sự quản lý tổng hợp và phối hợp chặt chẽ tuân theo các nguyên tắc và yêu cầu phát triển DLST.

– Lực lượng lao động trong ngành du lịch thiếu kiến thức, thiếu tính chuyên nghiệp, văn hoá ứng xử và trình độ ngoại ngữ thấp do chưa được đào tạo chính quy. Thiếu hướng dẫn viên DLST cũng như thiếu các chương trình DLST hấp dẫn.

– Chưa có định hướng cụ thể về hoạt động phát triển DLST trên huyện đảo Cô Tô. Tài nguyên DLST hiện vẫn đang ở dạng tiềm năng.

– Sản phẩm du lịch chưa phong phú, số lượng nhỏ lẻ chưa đáp ứng nhu cầu của du khách.

– Chưa có sự kết nối với các tuyến du lịch trong và ngoài tỉnh.

– Các hoạt động nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng địa phương về DLST chưa được quan tâm chú trọng, người dân thậm chí cả các tổ chức kinh doanh du lịch chưa thực sự hiểu sâu về DLST.

– Phòng Văn hóa và Thông tin của huyện chưa có bộ phận chức năng chuyên phụ trách về các vấn đề giáo dục môi trường, dịch vụ du lịch…

Cơ hội Đe dọa
– Du lịch luôn được ưu tiên hàng đầu trong chiến lựợc phát triển kinh tế tỉnh Quảng Ninh; DLST đang dần được ưu tiên trong chiến lược phát triển du lịch quốc gia.
– Thương hiệu du lịch của Việt Nam nói chung, Quảng Ninh nói riêng ngày càng được biết đến nhiều hơn trên thị trường quốc tế.
– Xu hướng khách du lịch muốn đến tham quan những đảo xa ngoài khơi ngày một tăng cao.
– Nhiều nhà đầu tư đang quan tâm đến các dự án phát triển DLST trên những đảo có tiềm năng.
– Phát triển DLST mang đến cơ hội gia tăng nguồn thu phục vụ công tác bảo tồn trong Khu bảo tồn biển Cô Tô
– Đảo Trần, đồng thời nâng cao thu nhập cho cộng đồng địa phương.
Phát triển DLST thiếu nguyên tắc trong quản lý; quy hoạch mà không có tầm nhìn chiến lược về sự phát triển bền vững gắn với bảo tồn các giá trị đặc biệt về cảnh quan và bảo vệ môi trường có thể gây ra những tác động tiêu cực đến môi trường như: suy thoái môi trường tự nhiên, mất cảnh quan, suy giảm đa dạng sinh học…

– Gia tăng dân số, phát triển các cơ sở hạ tầng không theo quy hoạch tổng thể có thể gây tác động xấu đến môi trường chung của đảo.

– Công tác quản lý Nhà nước về du lịch chưa ngang tầm với nhiệm vụ được giao;

Chuyên môn nghiệp vụ của các cán bộ quản lý còn yếu.

– Nhận thức của xã hội về phát triển bền vững còn thấp. Mẫu thuẫn giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường đang là một trong những thách thức lớn nhất đối với việc phát triển du lịch và DLST tại quần đảo Cô Tô.

Qua phân tích điểm mạnh – yếu, cơ hội – đe dọa có thể khẳng định Cô Tô có tiềm năng phát triển DLST. Những lợi thế về vị thế, vị trí địa lí, địa hình, địa mạo, tài nguyên thiên nhiên đã tạo ra tiềm năng và thế mạnh cho Cô Tô phát triển nhiều loại hình du lịch, nhất là du lịch biển và du lịch sinh thái. Một căn cứ khác chính là đánh giá của một số chuyên gia về tiềm năng phát triển du lịch thì huyện đảo Cô Tô được xếp vào mức “khá thuận lợi” cho phát triển du lịch [13]. Vấn đề đặt ra là huyện cần có qui hoạch cụ thể để phát triển ngành du lịch sao cho tương xứng với tiềm năng cũng như cân đối với các ngành kinh tế khác và đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững. Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch sinh thái tại đảo Cô Tô Lớn.

Cùng với những lợi thế về tài nguyên, hiện nay huyện ủy và UBND Cô Tô đã và đang có những hành động cụ thể nhằm định hướng phát triển du lịch bền vững trên cơ sở đảm bảo sinh kế cộng đồng gắn liền với bảo vệ môi trường. Chúng ta đều biết rằng DLST chính là một trong những cách thức hữu hiệu nhất để giải quyết vấn đề này. DLST là loại hình du lịch có tính giáo dục cao; đồng thời thông qua hoạt động du lịch còn có thể nâng cao thu nhập cho cộng đồng địa phương. Chính vì thế, việc đưa ra những giải pháp đúng đắn để phát triển DLST cho huyện đảo Cô Tô là hết sức cần thiết.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

4.2. Chiến lược phát triển du lịch sinh thái ở Cô Tô

Quảng Ninh nói chung và huyện đảo Cô Tô nói riêng không những có bề dày về truyền thống văn hoá, lịch sử mà còn có tiềm năng lớn về tài nguyên thiên nhiên với nhiều danh lam thắng cảnh đẹp. Việc thúc đẩy hoạt động DLST từ lâu đã được chú trọng và quan tâm, những nhà hoạch định chính sách phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh xác định: du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và có tính xã hội hóa cao [5]. Áp dụng trong điều kiện thực tiễn của huyện đảo Cô Tô, ngành du lịch của huyện cần phát triển theo hướng:

  • Phát triển du lịch phải lấy hiệu quả kinh tế – xã hội làm chính, tổ chức các hoạt động du lịch, phát triển sản phẩm du lịch và cơ sở hạ tầng kinh tế du lịch phải gắn với việc bảo vệ môi trường để phát triển bền vững.
  • Duy trì và mở rộng các loại hình du lịch biển, du lịch thiên nhiên, du lịch nghỉ ngơi và vui chơi giải trí, từng bước ưu tiên phát triển loại hình DLST, du lịch cộng đồng. Xây dựng hệ thống sản phẩm du lịch dựa trên lợi thế về tài nguyên, chú trọng phát triển du lịch theo chiều sâu, đảm bảo chất lượng và hiệu quả.
  • Phối hợp chặt chẽ, đồng bộ các ngành, các cấp có liên quan đến du lịch, xã hội hoá hoạt động du lịch, giáo dục và khuyến khích mọi thành phần và cộng đồng địa phương tham gia các hoạt động phát triển du lịch sinh thái.
  • Đảm bảo việc huy động các nguồn lực đầu tư phát triển du lịch sinh thái phù hợp với khả năng, điều kiện kinh tế – xã hội của đảo; Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến, tuyên truyền và quảng bá du lịch sinh thái có hiệu quả. Liên kết chặt chẽ với các đơn vị tổ chức tour du lịch có tiềm năng về tài chính, về nguồn khách và các nguồn lực khác trong và ngoài nước.
  • Nâng cao năng lực quản lý du lịch thông qua củng cố tổ chức bộ máy quản lý nhà nước; tăng cường thể chế, chính sách, phối hợp liên ngành, liên vùng tạo điều kiện thuận lợi cho du lịch phát triển; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và chất lượng cán bộ quản lý nhà nước về du lịch.

Đây là cơ sở cho việc tổ chức, phát triển các hoạt động du lịch và DLST tại Cô Tô. Để thực hiện tốt định hướng trên cần tập trung vào các mục tiêu cụ thể sau:

  • Xây dựng và bố trí hợp lý các tuyến điểm du lịch, tour du lịch trên đảo để khai thác có hiệu quả cao nhất các tiềm năng hiện có. Đồng thời hoạt động du lịch sinh thái cần được tổ chức phù hợp với sức chứa chứ không chạy theo nhu cầu như các loại hình du lịch khác.
  • Tiếp tục đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước về du lịch, nâng cao chất lượng dịch vụ, đa dạng hoá các loại sản phẩm phục vụ kinh doanh có hiệu quả, đáp ứng được cơ bản các nhu cầu của khách du lịch khi đến thăm đảo.
  • Khuyến khích sự tham gia của người dân địa phương, tạo điều kiện cho họ tham gia vào quá trình quy hoạch, quản lý và thực hiện các hoạt động du lịch, nhằm tạo cơ hội nâng cao thu nhập, đồng thời thông qua đó cũng mở rộng nhận thức cho người dân.

4.3. Định hướng phát triển du lịch sinh thái Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch sinh thái tại đảo Cô Tô Lớn.

DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, do đó đây là hoạt động du lịch rất nhạy cảm. Tuy không thể phủ nhận những lợi ích to lớn mà DLST có thể mang lại cho cộng đồng địa phương nhưng để tổ chức các hoạt động DLST đúng nghĩa không phải là vấn đề đơn giản, nếu tổ chức không tốt có thể mang lại những ảnh hưởng tiêu cực rất nghiêm trọng đến môi trường tự nhiên, bởi các hoạt động DLST vốn diễn ra ở những vùng sinh thái nhạy cảm.

Huyện đảo Cô Tô thực sự có tiềm năng để phát triển DLST. Trong những năm gần đây đã có một số nghiên cứu, tìm hiểu nhằm phát triển DLST tuy nhiên chưa đưa ra định hướng cụ thể. Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu, tác giả mạnh dạn đề xuất một số định hướng nhằm phát triển DLST huyện đảo và giải pháp thực hiện, mong muốn có thể đóng góp nghiên cứu này vào việc phát triển du lịch gắn liền với bảo vệ môi trường cũng như sinh kế cộng đồng cho người dân nơi đây.

 4.3.1. Định hướng chung

DLST vẫn còn là loại hình du lịch khá mới mẻ nhưng có ảnh hưởng tích cực đến việc phát triển kinh tế – xã hội của huyện đảo bao gồm khai thác hợp lý tiềm năng sẵn có, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên gắn liền với bảo vệ môi trường hướng tới phát triển bền vững. Dựa trên cơ sở lý luận về DLST, cùng những bài học kinh nghiệm rút ra từ việc tổ chức các hoạt động DLST ở Việt Nam và trên thế giới, dựa vào tiềm năng sẵn có của huyện đảo Cô Tô và chủ trương phát triển DLST của Đảng, của Nhà nước ta, tác giả đưa ra định hướng phát triển DLST như sau:

Xây dựng các loại hình DLST trên đảo với chất lượng sản phẩm du lịch cao. Các dịch vụ như hướng dẫn, vận chuyển, dịch vụ phục vụ du khách… phải đảm bảo tính đồng bộ và mang nét đặc sắc của đảo.

Xây dựng các loại hình du lịch đặc biệt như: nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường, khám phá thiên nhiên; các hoạt động thể thao, vui chơi giải trí và nghỉ dưỡng để thu hút khách du lịch. Chú trọng đặt sự an toàn cho du khách lên hàng đầu.

Tạo ra các sản phẩm du lịch được chọn lọc như: Các điểm du lịch homestay (nghỉ ở nhà dân), nhà nghỉ sinh thái; các điểm nghiên cứu rạn san hô, tham quan rừng chõi nguyên sinh; chụp ảnh phong cảnh nghệ thuật; các hình thức vui chơi, giải trí biển hấp dẫn như tắm biển, chèo thuyền kayak, lặn biển ngắm san hô… ; chú trọng quảng bá các sản phẩm thủy hải sản của địa phương như sứa Cô Tô, mực Cô Tô… với mục đích làm tăng thời gian lưu trú cũng như thu hút du khách quay trở lại nhiều lần.

4.3.2. Định hướng về thị trường Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch sinh thái tại đảo Cô Tô Lớn.

Nằm trong khu vực Đông Nam Á, với nhiều danh lam thắng cảnh cùng các di tích văn hóa – lịch sử có giá trị, Việt Nam là điểm đến của nhiều du khách quốc tế. Lượng khách quốc tế đến Việt Nam ngày càng tăng. Theo thống kê của Tổng cục Du lịch Việt Nam, trong năm 2023, lượng khách quốc tế đến Việt Nam là 6.847.678 lượt bên cạnh nguồn khách nội địa ngày càng tăng đã đem lại cho ngành du lịch doanh thu khoảng 160.000 tỷ đồng. Với vị trí địa lí thuận lợi, dân số đông, Trung Quốc là quốc gia có số lượng khách du lịch đến Việt Nam nhiều nhất; tiếp đó là Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Úc, Pháp và một số nước Đông Nam Á như Campuchia, Malaysia, Thái Lan…[20]

Chú trọng mục tiêu phát triển du lịch, năm 2023 cũng là một năm thành công của du lịch Quảng Ninh khi thu hút hơn 7 triệu lượt du khách đến tham quan; trong đó, số lượng du khách quốc tế khoảng 2.300.000 lượt. Doanh thu từ du lịch mang lại cho Quảng Ninh trong năm 2023 khoảng 4.300 tỷ đồng. [27]

Từ việc nghiên cứu thị trường du lịch Việt Nam và Quảng Ninh, thị trường du khách cho hoạt động DLST cho huyện đảo Cô Tô được định hướng như sau:

Thị trường khách quốc tế: Du khách quốc tế chủ yếu vẫn là những thị trường hiện có của ngành du lịch Việt Nam như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Úc và thị trường các nước Đông Nam Á… Khách du lịch quốc tế đến tham quan du lịch tại huyện đảo Cô Tô có thể đến bằng đường biển hoặc bằng đường bộ theo quốc lộ 18A qua bến cảng Cái Rồng.

Thị trường khách nội địa: Qua các kênh phương tiện thông tin đại chúng, Cô Tô được biết đến như một điểm du lịch mới, một quần đảo mang vẻ đẹp nguyên sơ, có sức hấp dẫn lớn đối với du khách trong cả nước. Khách du lịch nội địa đến với hoạt động DLST ở quần đảo Cô Tô chủ yếu là khách trong tỉnh và khách từ Hà Nội, Hải Phòng… Ngoài ra còn một số lượng du khách đi theo tour du lịch TP. Hồ Chí Minh – Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh. Phương tiện sử dụng chủ yếu là ô tô theo quốc lộ 18A.

Một vấn đề quan trọng trong định hướng thị trường là phải lập kế hoạch tiếp thị cụ thể, hướng tới các đối tác tiềm năng như các công ty lữ hành du lịch trong và ngoài nước, các websites có liên quan đến du lịch sinh thái đồng thời xây dựng chiến lược tiếp thị rõ ràng đối với du khách trong nước và quốc tế.

Tuy quần đảo Cô Tô có nhiều điểm du lịch hấp dẫn nhưng do bất lợi về điều kiện địa lý, đi lại khó khăn, còn gặp nhiều hạn chế về hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ du lịch nên số lượng khách đến tham quan chưa lớn, không tương xứng với tiềm năng vốn có. Để phát triển du lịch cũng như DLST tại quần đảo Cô Tô, cần có sự thống nhất quản lý để phát triển đồng bộ dịch vụ du lịch và cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch. Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch sinh thái tại đảo Cô Tô Lớn.

4.3.3. Định hướng tổ chức không gian du lịch và phát triển sản phẩm du lịch sinh thái

Căn cứ vào điều kiện địa hình, không gian du lịch huyện đảo Cô Tô định hướng theo ba khu vực chính:

  • Khu du lịch tại thị trấn Cô Tô: là khu vực được quy hoạch tổ chức các hoạt động du lịch nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí với bãi tắm Nam Hải trải dài, đỉnh Cầu Mỵ hùng vĩ… Đây cũng là nơi để du khách đến thăm và dâng hương tưởng niệm Bác Hồ kính yêu tại khu di tích đền thờ Hồ Chủ Tịch uy nghi – cột mốc thiêng liêng đánh dấu chủ quyền của Tổ quốc.
  • Xã Đồng Tiến và xã Thanh Lân: là khu vực được quy hoạch tổ chức các hoạt động du lịch cộng đồng với khoảng 40 – 60 hộ dân tham gia loại hình du lịch này.
  • Đảo Cô Tô con: là khu vực được quy hoạch tổ chức các hoạt động chèo thuyền kayak, du lịch lặn biển kết hợp nghiên cứu san hô đồng thời là nơi để ngư dân địa phương đưa du khách tham gia các hoạt động khai thác, đánh bắt thủy hải sản.

Dựa trên đặc điểm tài nguyên du lịch và các điều kiện liên quan, sản phẩm du lịch đặc trưng của huyện đảo Cô Tô là DLST, kết hợp cùng với các sản phẩm du lịch sau:

  • DLST kết hợp nghỉ ngơi, thư giãn: Phạm vi hoạt động trong khu du lịch nghỉ dưỡng biển đảo. Du khách nghỉ ngơi tại thị trấn Cô Tô hoặc nghỉ đêm trên đảo Cô Tô con. Trong thời gian nghỉ ngơi tại đây, du khách sẽ được sắp xếp tham gia tắm biển và vui chơi giải trí.
  • Du lịch văn hóa: Bảo tồn và phát triển các yếu tố văn hóa là một trong những nhân tố thu hút du lịch; trên đảo Cô Tô lớn có khu di tích đền thờ Hồ Chủ tịch, cùng các lễ hội truyền thống hàng năm của người dân trên đảo. Bên cạnh đó, huyện đảo Cô Tô còn tích cực kích cầu du lịch bằng cách tổ chức Tuần lễ văn hóa, thể thao, du lịch để thu hút du khách và toàn dân tham gia.
  • Du lịch nông lâm ngư nghiệp và chăm sóc sức khỏe: với ý tưởng từ mô hình “khu nhà ở sinh thái Chalalan” ở Bolivia áp dụng vào điều kiện của xã Đồng Tiến và xã Thanh Lân. Tận dụng các nguồn tài nguyên nông – lâm – ngư nghiệp hình thành các sản phẩm du lịch: liệu pháp chăm sóc sức khỏe, spa, du lịch sinh thái nông nghiệp – ngư nghiệp, du khách sẽ được bố trí đến ở tại nhà dân để trải nghiệm cuộc sống của họ như tham gia trồng trọt, thu hoạch nông sản, đánh cá, câu mực… cùng các hoạt động tập thể, hoạt động xã hội tình nguyện trên địa bàn. Qua đó giải quyết khó khăn về phòng ở, nhà nghỉ cho du khách cũng như tạo điều kiện cho nhân dân tăng nguồn thu nhập.
  • Du lịch tham quan, khám phá, nghiên cứu khoa học: Những cảnh quan phục vụ du khách tham quan, khám phá phân bố rộng khắp khu vực quần đảo Cô Tô. Với loại hình thám hiểm và du lịch dã ngoại, du khách sẽ được tham gia khám phá hệ sinh thái rừng chõi nguyên sinh, rừng trên đụn cát, thảm thực vật bãi triều; nghiên cứu đa dạng sinh học tại rạn san hô Bắc Vàn; quá trình biến đổi địa chất tại bãi đá Pheralit; quy trình nuôi cấy trai ngọc trên đảo Cô Tô lớn…

4.3.4. Định hướng các tuyến du lịch sinh thái trên đảo Cô Tô

Việc xây dựng các tuyến du lịch có tầm quan trọng rất lớn quyết định sự thành công của DLST tại huyện đảo Cô Tô, đây là những sản phẩm thu hút, quảng bá hình ảnh du lịch tại khu vực đến du khách. Qua các đợt khảo sát, tham vấn cán bộ phòng Văn hóa và Thông tin huyện Cô Tô kết hợp với các kiến thức về DLST, tác giả mạnh dạn đề xuất các loại hình DLST như sau:

  • Xây dựng các tuyến dã ngoại thiên nhiên: di chuyển bằng thuyền kết hợp đi bộ tham quan, tìm hiểu vẻ đẹp của các hệ sinh thái. Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch sinh thái tại đảo Cô Tô Lớn.
  • Xây dựng các hoạt động khám phá văn hóa bản địa như sinh hoạt cùng người dân, giao lưu văn hóa văn nghệ, tham gia các hoạt động sản xuất của người dân địa phương.
  • Phát triển các tour tham quan, nghỉ dưỡng, nghiên cứu khoa học…

Cụ thể các tuyến DLST được đề xuất như sau:

Tuyến dã ngoại thiên nhiên – thám hiểm – khám phá: Ngọn Hải đăng –   Bãi biển Hồng Vàn – Rừng chõi nguyên sinh – Cảng Bắc Vàn – Đảo Cô Tô con

– Thời gian: 2 ngày 1 đêm.

– Khoảng cách đi bộ: 8 – 9 km đường bộ và đường mòn thiên nhiên.

Đây là một trong những tuyến du lịch đặc trưng của DLST trong rừng, kết hợp cảnh quan biển, với các sản phẩm DLST như: phong cảnh toàn đảo nhìn từ ngọn Hải đăng, nghiên cứu các hệ sinh thái rừng chõi, rạn san hô…, hòa mình vào cảnh quan thiên nhiên đẹp, tham gia vui chơi giải trí và nghỉ đêm trên đảo Cô Tô con… Phương tiện đưa du khách di chuyển trên đảo là xe tuk tuk (khi di chuyển từ trung tâm thị trấn Cô Tô ra đường mòn dẫn lên ngọn hải đăng); di chuyển bằng cách đi bộ theo đường mòn thiên nhiên trong rừng khi tham quan các bãi biển, rừng chõi nguyên sinh và rừng trên đảo Cô Tô con; đi thuyền hoặc tàu từ cảng Bắc Vàn sang đảo Cô Tô con.

Xuất phát từ cảng Cái Rồng vào buổi sáng, du khách có thể lựa chọn đi tàu gỗ hoặc tàu cao tốc ra đảo Cô Tô lớn. Với hành trình hơn hai tiếng, du khách sẽ có những trải nghiệm thú vị khi được du ngoạn qua “rừng đảo đá” với nhiều dáng núi kỳ lạ, in bóng xuống mặt biển xanh… Lên tới đảo, sau khi ăn trưa và nghỉ ngơi, xe tuk tuk sẽ đưa du khách tới đường mòn dẫn lên ngọn Hải đăng để bắt đầu cuộc hành trình.

Đi bộ khoảng 500m đường mòn đến độ cao 101m là tới ngọn Hải đăng Cô Tô – địa điểm quan sát lý tưởng vẻ đẹp toàn cảnh của vùng biển đảo với rừng cây xanh ngút ngàn, với những con đường quanh co, bờ biển dài lóng lánh dưới ánh nắng và những tàu cá đang neo đậu tại bến cảng. Hải đăng Cô Tô được xây dựng từ cuối thế kỷ 19 và bắt đầu đi vào hoạt động từ năm 1961, đây là một trong số hơn 30 “con mắt biển đêm” đang hoạt động trên khắp vùng lãnh hải Việt Nam. Tháp đèn có hình trụ, cao 16m với 72 bậc cầu thang.

Rời khỏi ngọn Hải Đăng, du khách đi bộ khoảng 800m đến thăm bãi biển Hồng Vàn nằm ở phía Đông đảo, nơi đây nước lặng êm ả, lăn tăn như nước hồ do có đảo Thanh Lân trải dài nằm chắn gió từ ngoài biển thổi vào, bờ cát trắng mềm mại với những thảm hoa muống biển tím ngắt. Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch sinh thái tại đảo Cô Tô Lớn.

Tiếp theo du khách sẽ đi bộ xuyên qua rừng chõi nguyên sinh. Đây là cánh rừng đặc biệt, ôm trọn cả con đường mòn di chuyển trong rừng bằng các vòm cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi. Dọc đường, khách du lịch có thể quan sát nhiều loại cây gỗ thuộc họ trâm, họ bứa, họ thân dầu, họ đậu, long não, lim, giao, bồ hòn, thông, keo… Rừng chõi Cô Tô thuộc loại rừng 3 tầng. Dưới tán rừng là tầng cây bụi với các họ sim, mua, xoài muối, sơn rừng, ngũ gia bì, chân chim… Dưới tầng cây bụi là tầng cỏ quyết với các họ ráy, cau, cỏ dương, thài lài, xạ can, rẻ quạt…

Trong khu rừng, du khách sẽ được tận hưởng không khí trong vắt, trầm mặc đặc trưng của rừng nhiệt đới, được ngắm nhìn quần thể thực vật tự nhiên, được gìn giữ gần như nguyên vẹn, với hàng trăm loài cây cỏ khác nhau, trong đó có nhiều loài dược liệu quý như: hương nhu, sâm đất, thầu dầu tía, sâm sắn, chè khe, chè vằng… Ngoài ra, rừng chõi Cô Tô còn có một số loài cây có thể khai thác, phát triển làm cây cảnh rất đẹp và có giá trị kinh tế cao như Tùng La hán, cây Thèn đen (tên địa phương là cây Cứt chuột), nguyệt quế, si, sộp,… Nếu may mắn, du khách sẽ bắt gặp những chú khỉ ngộ nghĩnh đang đùa nghịch, những chú sóc thoăn thoắt chuyền cành…

Điểm dừng chân tiếp theo là cảng Bắc Vàn nằm tận cùng mũi Bắc của đảo Cô Tô lớn. Tại Bắc Vàn có thể nhìn thấu trời biển xanh trong, cảnh quan rừng đẹp. Từ đây, du khách lên thuyền sang đảo Cô Tô con.

Đảo Cô Tô con cách Cô Tô lớn chừng 1km. Trước đây là hòn đảo thuần quân sự nên Cô Tô con không có dân cư sinh sống. Hiện nay, phòng Văn hóa – Thông tin của huyện đã thành lập đội dịch vụ du lịch trên đảo chuyên phục vụ các nhóm du khách ưa thích khám phá, mong muốn nghỉ đêm tại đây.

Cô Tô con sở hữu bãi biển đẹp nhất trong quần đảo. Du khách sẽ được thỏa thích tắm biển, tận hưởng cảm giác nằm dài trên bãi cát trắng ngút ngàn tầm mắt. Mặt biển lấp lánh ánh bạc, không một bóng người. Bãi san hô ngầm tuyệt đẹp, nước trong xanh soi rõ tận đáy. Tất cả đều mang vẻ đẹp hoang sơ. Du khách tha hồ vui đùa cùng sóng, nước, cát và nắng với các trò chơi như lặn biển ngắm san hô, khám phá HST rừng ngập mặn quanh đảo, câu cá, bơi lội, chèo thuyền kayak…

Đến với Cô Tô con, du khách có thể tự tay chế biến những món ăn đậm đà với nguyên liệu do chính tay mình bắt được. Sò quéo và ốc ở đây nhiều đến mức mỗi lần nước rút sẽ thấy chúng nằm rải rác khắp bờ cát. Sò quéo to và đậm đà, mang theo nguyên vẹn hơi thở mặn mòi của biển. Ốc có thể bắt ở khắp các khe đá trên hòn đảo này. Hà bám đầy trên các bãi đá nổi. Độc đáo và thú vị nhất ở đây là món cháo hà.

Sau khi ăn tối, du khách sẽ tham gia các hoạt động như câu mực trên mảng hay đốt lửa trại và tổ chức ăn đêm trên bờ cát. Du khách có thể lựa chọn cho mình các hình thức nghỉ đêm trên đảo như ngủ lều trên bãi cát hay ngủ trong nhà sàn.

Sáng ngày hôm sau, du khách sẽ đi bộ khám phá rừng trên đảo Cô Tô con. Nơi đây có nhiều loại động vật, thực vật quý, điển hình như thông giẻ, một loại thông quý thường dùng để đóng hòm đạn, vá tàu.

Kết thúc hành trình, du khách lên tàu trở lại đảo Cô Tô lớn, nghỉ ngơi ăn trưa, dạo quanh phố chợ Cô Tô mua quà trước khi quay lại đất liền. Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch sinh thái tại đảo Cô Tô Lớn.

  • Bố trí cơ sở hạ tầng và dịch vụ du lịch trên tuyến

Đây là tuyến DLST có nhiều hoạt động tiếp cận với thiên nhiên, đi vào khu vực có tính ĐDSH cao của quần đảo, chính vì vậy không nhất thiết phải tác động nhiều đến các tuyến đường tự nhiên. Tuy nhiên, tại điểm dừng chính là đảo Cô Tô con, cơ sở vật chất hiện tại không đủ đáp ứng nhu cầu tối thiểu về ăn, nghỉ cho du khách, vì vậy cần phải có sự đầu tư, nâng cấp, cụ thể:

  • Xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ nhu cầu ăn nghỉ cho du khách: nhà ăn, phòng nghỉ.
  • Xây dựng hệ thống các biển chỉ dẫn, một số điểm dừng chân trên tuyến (đoạn từ đường mòn lên ngọn Hải đăng ra bãi biển Hồng Vàn và đường mòn trong rừng chõi), để du khách có thể nghỉ ngơi, thư giãn, ngắm cảnh.
  • Đầu tư trang thiết bị sản xuất và cung cấp điện phục vụ du khách nghỉ tại Cô Tô con.
  • Bố trí các phương tiện, dịch vụ phục vụ hoạt động khám phá HST rạn san hô, HST rừng ngập mặn…

Tuyến tham quan – nghỉ dưỡng – Thời gian: 2 ngày, 1 đêm.

Khoảng cách đi bộ: 1 – 2 km theo đường mòn thiên nhiên.

Tham gia tuyến du lịch này, bên cạnh nghỉ ngơi, ngắm cảnh, du khách sẽ có cơ hội tham gia một số hoạt động cộng đồng như đánh bắt cá, câu mực, giao lưu văn hóa văn nghệ…

Xuất phát từ cảng Cái Rồng, sau khi cập cảng khách Cô Tô du khách sẽ đến thăm và dâng hương tưởng niệm tại Khu Di tích lưu niệm Hồ Chủ Tịch. Ngày 09 tháng 5 năm 1961, Bác Hồ đã ra thăm đảo Cô Tô lớn, thăm đồng muối, động viên và cổ vũ tinh thần đồng bào và nhân dân huyện đảo. Cô Tô lớn là địa danh đầu tiên được Bác Hồ lúc sinh thời đồng ý cho đặt tượng Bác. Và đầu năm 1968, tượng đài Bác Hồ đã được nhà điêu khắc Nguyễn Văn Quế cùng các đồng nghiệp bắt tay vào thực hiện. Tượng được làm bằng chất liệu thạch cao, Lúc đầu, tượng Bác được dựng bán thân, tay phải giơ lên cao vẫy chào như hình ảnh Người đang tươi cười vẫy chào nhân dân khi tới thăm Cô Tô. Tượng cao 1,8m (cả bệ là 4 m). Công trình được khánh thành ngày 22 tháng 5 năm 1968, nhân dịp kỷ niệm ngày sinh lần thứ 78 của Bác. Tháng 6 năm 1976 bức tượng bán thân được thay bằng bức tượng toàn thân với chất liệu bê tông cốt thép. Tượng có chiều cao 4,5m, cả bệ cao 9m nằm cách bờ biển 100m. Tượng đài Bác đứng uy nghiêm, lưng tựa vào núi, tay phải giơ cao vẫy chào, mặt nhìn hướng ra Biển Đông bao la như che chở cho đất và người dân nơi đây. Năm 1996, kỷ niệm ngày sinh lần thứ 106 của Bác, bức tượng Bác bằng bê tông đã được thay thế bằng chất liệu đá Granit. Giờ đây, tượng Hồ Chủ Tịch ở Cô Tô vẫn được đánh giá là tượng Bác đẹp nhất vùng Đông Bắc. Tượng đài Bác Hồ nằm ở vị trí trung tâm của huyện đảo, là cột mốc linh thiêng đánh dấu chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.

Năm 2016, cán bộ chiến sĩ và nhân dân các dân tộc huyện Cô Tô đã xây dựng Khu di tích đền thờ Hồ Chủ Tịch. Năm 2021, Khu di tích đã được đầu tư tôn tạo, mở rộng với tổng diện tích được mở rộng từ 6.500m2 lên trên 62.500m2 bao gồm các hạng mục: khuôn viên tượng đài và đền thờ Bác Hồ, ao cá Bác Hồ, hệ thống hồ điều hoà cùng nhiều hạng mục khác…, đây là một trong những địa điểm đặc biệt quan trọng đã được Bộ Văn hóa – Thông tin cấp Bằng công nhận là di tích lịch sử số 985 – QĐ/VH ngày 07 tháng 5 năm 1997. Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch sinh thái tại đảo Cô Tô Lớn.

Khi đến thăm nơi này, du khách sẽ được nghe giới thiệu về những hiện vật, ngắm hình ảnh Bác và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước khi đến thăm đảo cùng với những hình ảnh về thành tựu kinh tế, chính trị, quân sự của quân dân trên đảo. Đây cũng là nơi Bác gặp gỡ cán bộ Cô Tô căn dặn một số chủ trương đường lối của Đảng, những mong muốn của Đảng, Chính phủ đối với dân tộc vùng Đông Bắc của Tổ quốc.

Sau khi nhận phòng nghỉ và ăn trưa, buổi chiều du khách sẽ đi tham quan làng nghề nuôi trai cấy ngọc ở phía Đông Nam đảo Cô Tô lớn. Khí hậu, môi trường, điều kiện thủy hải văn… ở quần đảo Cô Tô rất thuận lợi để phát triển nghề nuôi trai cấy ngọc. Ở đây tập trung 3 loài trai ngọc có giá trị là Pinctada maculata, Pinctada maxima Pedalion quadrangularia. Đây là những loài trai ngọc rất quý và có giá trị xuất khẩu cao. Tại đây áp dụng kỹ thuật nuôi trai lồng bè với phao dây theo phương pháp khoa học kỹ thuật tiến tiến như treo lồng không quá 2,5m để khi thuỷ triều rút, lồng nuôi được nổi lên trên mặt nước hoặc không chạm được vào đáy tránh việc các loài khác sẽ ăn trai hoặc con trai sẽ hớp phải bùn…

Chiều tối, du khách có thể lựa chọn các hình thức giải trí như tắm biển, chèo thuyền kayak (đối với những tour du lịch mùa hè) tại những bãi tắm của đảo như bãi Vàn Chảy, Hồng Vàn, Nam Hải, Bắc Vàn… Nếu không phù hợp với các môn thể thao, du khách cũng có thể đi dạo lên ngọn Hải đăng nằm cao hơn mực nước biển 110m, phóng tầm nhìn bao quát khắp vùng biển đảo, ngắm nhìn cảnh hoàng hôn ở tầm xa hơn và hùng vĩ hơn.

Sau khi nghỉ ngơi, ăn tối, du khách có thể tham gia một số hoạt động cộng đồng như câu mực đêm hoặc đốt lửa trại, giao lưu với thanh niên thị trấn Cô Tô trên bãi biển Nam Hải. Nếu là người ưa thích sự yên tĩnh, du khách có thể lựa chọn ngồi trên xe tuk tuk ngộ nghĩnh chạy vòng quanh đảo hóng gió hoặc đi dạo trên con đường tình yêu được lát gạch đỏ dài khoảng 2km nằm giữa hai hàng phi lao sát biển. Trên đảo Cô Tô lớn chưa có con đường nào được đặt tên, trừ con đường chạy dọc bãi biển Nam Hải, nơi dải rừng nhỏ có thông đuôi ngựa mọc lẫn với phi lao, xen kẽ những mảng xương rồng và hoa vàng, hoa trắng ấp ôm lấy triền cát. Chúng làm bãi biển bớt trống vắng và thêm phần mộng mơ. Nhờ thế mới sinh ra tên gọi khác là bãi tắm tình yêu, với con đường tình yêu chạy men bờ biển, núp mình giữa hai hàng phi lao xanh mướt.

Sáng sớm ngày tiếp theo, xe tuk tuk sẽ đưa du khách đến đỉnh Cầu Mỵ để chiêm ngưỡng cảnh bình minh qua những ngọn cây. Toàn bộ khu vực Cầu Mỵ có hình đuôi chuột, hướng ra biển, nằm phía Nam của đảo Cô Tô Lớn. Tại đây, du khách sẽ được thỏa thích ngắm nhìn, tưởng tượng và chiêm ngưỡng những dải đá pheralit hiện rõ với nhiều màu sắc khác nhau. Đá xếp tầng, nhiều màu, hình thù khác lạ, thể hiện rõ nét quần thể kiến tạo của tự nhiên tạo nên khung cảnh hấp dẫn du khách khi đến nơi này.

Tiếp theo, du khách sẽ được đến tham quan Trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá Bắc vịnh Bắc Bộ. Nơi đây được khởi công xây dựng từ cuối năm 2019 với diện tích hơn 40 ha có vốn đầu tư 470 tỷ đồng, gồm hai hạng mục đê chắn sóng dài 900m và bến cập tàu đủ chỗ cho 600 tàu, thuyền neo đậu. Công trình này là ước mơ bao đời của ngư dân Cô Tô về nơi tránh trú bão an toàn.

Cuối cùng du khách sẽ lên tàu tại cảng khách Cô Tô trở về Cái Rồng. Trên đường về du khách sẽ có trải nghiệm thú vị khi được du ngoạn qua “rừng đảo đá” với nhiều dáng núi kỳ lạ, in bóng xuống mặt biển xanh…

  • Bố trí cơ sở hạ tầng và dịch vụ du lịch trên tuyến Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch sinh thái tại đảo Cô Tô Lớn.

Những bãi tắm cát trắng tự nhiên là tiềm năng du lịch nổi trội của Cô Tô. Tuy nhiên, căn cứ vào các quy định hiện nay, các bãi tắm của huyện Cô Tô là các bãi tắm tự phát, không đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch. Do vậy, cần đầu tư nâng cấp hệ thống giao thông, thành lập đội quản lý bãi tắm (nhân viên bảo vệ, cứu hộ cứu nạn, y tế, dọn vệ sinh môi trường…) và lắp đặt các biển chỉ giới, xuồng cứu sinh, tủ gửi đồ, loa phát thanh…

Một số tuyến đường hiện tại là đường đất (đường lên đỉnh Cầu Mỵ, đường lên ngọn Hải đăng), có thể gây khó khăn cho du khách khi di chuyển trong điều kiện trời mưa tại những đoạn đường trơn, dốc. Vì vậy, cần đầu tư nâng cấp, bê tông hóa những đoạn đường này.

Xây dựng hệ thống các biển chỉ dẫn, một số điểm dừng chân trên tuyến (đoạn từ đỉnh Cầu Mỵ ra Trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá Bắc vịnh Bắc Bộ), để du khách có thể nghỉ ngơi, thưởng ngoạn.

  • Tuyến du lịch sinh thái kết hợp du lịch cộng đồng

Mô hình du lịch cộng đồng ở quần đảo Cô Tô đã được xây dựng thí điểm tại hai xã Đồng Tiến và Thanh Lân. Đây là những khu vực chứa đựng đầy đủ các yếu tố tiềm năng để phát triển du lịch cộng đồng với các nghề chủ yếu như sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước, trồng rau xanh, hoa màu, cây ăn trái… cung cấp cho người dân trên đảo kết hợp chăn nuôi gia súc, gia cầm, khai thác đánh bắt thủy hải sản. Dân cư phân bố rải rác giữa các đồi, rừng, thung lũng; không khí tuyệt đối trong lành do trên đảo chưa phát triển bất cứ loại hình sản xuất công nghiệp nào.

Du khách có thể lựa chọn một trong hai xã trên để tham gia loại hình du lịch đặc biệt này. Du khách sẽ được bố trí đến ở tại nhà dân để trải nghiệm cuộc sống của bà con, tham gia các hoạt động thường nhật của họ như đánh cá, câu mực, trồng trọt, thu hoạch nông sản, thực phẩm. Ngoài ra, du khách còn được tham dự vào các hoạt động tập thể, giao lưu văn hóa văn nghệ, hoạt động xã hội… trên địa bàn.

Điều kiện thuận lợi là hệ thống giao thông trong khu vực khá thuận tiện đến từng hộ gia đình tham gia đón khách nghỉ. Mặt khác, vấn đề an ninh khá đảm bảo, không có các tệ nạn xã hội như trộm cắp, ma túy, cướp giật hoặc gây mất trật tự trị an… Những sản phẩm của loại hình du lịch này chủ yếu là những sản vật được sản xuất tại chỗ, dựa trên điều kiện tự nhiên của rừng biển nhưng ít nhiều cũng mang đậm bản sắc địa phương như hoa quả nhiệt đới, các loại rau xanh do trồng trọt và thu hoạch từ trên rừng, các loại hải sản như ngao, mực, tu hài, sứa…

Với những điều kiện trên, tổ chức hình thức du lịch cộng đồng sẽ làm phong phú thêm các loại hình du lịch trên đảo, có thể níu chân du khách lưu lại trên đảo nhiều ngày cũng như hấp dẫn khách dàn đều vào các tháng trong năm.

  • Bố trí cơ sở hạ tầng và dịch vụ du lịch Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch sinh thái tại đảo Cô Tô Lớn.

Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch cộng đồng chủ yếu là nhà dân đang sinh sống, điều kiện vật chất còn nhiều hạn chế. UBND huyện Cô Tô cần có cơ chế hỗ trợ phát triển du lịch và huy động nguồn lực xã hội hóa việc đầu tư xây dựng công trình phục vụ hoạt động du lịch: nhà ở, làng nghề…

Cần có kế hoạch, quy trình giới thiệu, quảng bá hình ảnh cho các sản phẩm đặc thù của địa phương.

Tuyến kết nối: Hạ Long – Cái Bầu – Cô Tô – Ba Mùn – Cái Rồng – Thời gian: 2 ngày, 1 đêm.

Tuyến được xây dựng hướng tới đối tượng du khách trong và ngoài nước đến với Hạ Long qua đường thủy (theo đường Móng Cái – Hạ Long; Cát Bà – Hạ Long) và một bộ phận du khách bằng đường bộ đến với Hạ Long – Quảng Ninh từ các tỉnh lân cận. Tuyến du lịch này có tiềm năng thu hút lượng lớn du khách đến với Quảng Ninh trong mùa du lịch; đặc biệt là thời điểm tổ chức tuần lễ Carnaval Hạ Long – lễ hội du lịch, vũ hội hóa trang được tổ chức hàng năm tại thành phố Hạ Long.

  • Ngày thứ nhất

Du khách xuất phát từ Hạ Long, sau hơn 2 giờ di chuyển theo quốc lộ 18A sẽ tới chùa Cái Bầu và Thiền Viện Trúc Lâm Giác Tâm. Tại đây, du khách dâng hương lễ Phật, nghe giới thiệu về lịch sử di tích cũng như sự phát triển của Thiền phái Trúc Lâm.

Ăn trưa tại Cái Rồng, du khách sẽ xuống tàu tiếp tục di chuyển ra Cô Tô. Tàu cập cảng khách tại đảo Cô Tô lớn, du khách sẽ đến dâng hương tưởng niệm Hồ Chủ Tịch, và nghe giới thiệu về những hiện vật, ngắm hình ảnh Bác và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước khi đến thăm huyện đảo cùng với những hình ảnh về thành tựu kinh tế, chính trị, quân sự của quân dân trên đảo.

Cuối cùng, du khách nhận phòng, tắm biển và ăn tối tại nhà nghỉ ở thị trấn Cô Tô. Sau khi ăn tối, du khách có thể tham gia một số hoạt động cộng đồng như câu mực, thăm thú chợ đêm hoặc đốt lửa trại, giao lưu với thanh niên thị trấn Cô Tô trên bãi biển.

  • Ngày thứ hai

Sáng sớm ngày thứ hai, xe tuk tuk sẽ đưa du khách đi ngắm bình minh trên đỉnh Cầu Mỵ và quan sát những dải đá pheralit hùng vĩ, minh chứng hùng hồn cho quá trình kiến tạo tuyệt vời của tự nhiên. Sau đó du khách sẽ tham gia hành trình khám phá rừng chõi nguyên sinh và đi bộ trên con đường tình yêu thơ mộng chạy dọc bãi biển Nam Hải, nơi dải rừng thông đuôi ngựa mọc lẫn với phi lao, xen kẽ những mảng xương rồng và hoa muống biển tím ngắt.

Sau khi ăn trưa và trả phòng, du khách tiếp tục hành trình từ cảng khách Cô Tô đến đảo Ba Mùn. Tại đây, du khách sẽ được tham quan Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã của Vườn Quốc gia Bái Tử Long.

Cuối cùng du khách lên tàu trở về cảng Cái Rồng. Trên đường về du khách có thể ghé qua tham quan làng nghề nuôi trồng thủy sản ở gần đảo Ba Mùn, đồng thời tham quan một số di tích khảo cổ tại hang Soi Nhụ.

Cụ thể các tuyến đề xuất được thể hiện trên “Bản đồ đề xuất tuyến du lịch sinh thái huyện đảo Cô Tô” sau.

4.3.5. Định hướng các hoạt động tuyên truyền giáo dục môi trường Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch sinh thái tại đảo Cô Tô Lớn.

Trong các nguyên tắc cơ bản của DLST, nguyên tắc giáo dục nâng cao nhận thức cho du khách về môi trường, về các giá trị tài nguyên thiên nhiên, văn hóa, lịch sử, nhằm xây dựng ý thức của du khách khi tham gia vào các hoạt động du lịch được coi là nguyên tắc căn bản. Việc thực hiện nguyên tắc này được thể hiện ở khía cạnh xây dựng tuyến, điểm tham quan, tổ chức hoạt động hướng dẫn, giới thiệu cho du khách các HST trong thiên nhiên với mục tiêu:

  • Nâng cao khả năng tiếp cận và khám phá, nghiên cứu thiên nhiên của du khách.
  • Giảm thiểu tối đa các tác động tiêu cực do hoạt động du lịch gây ra.

 Để phục vụ mục tiêu trên, tác giả mạnh dạn đề xuất thực hiện một số nội dung cụ thể như sau:

  • Xây dựng Trung tâm dịch vụ du lịch

Trung tâm dịch vụ du lịch được xây dựng với mục đích giới thiệu giá trị của tài nguyên thiên nhiên, môi trường và về quần đảo Cô Tô, từ đó nâng cao hiểu biết cũng như hình thành ý thức bảo vệ môi trường cho du khách.

Trung tâm dịch vụ du lịch nên đặt tại thị trấn Cô Tô, là nơi sẽ chịu trách nhiệm thực hiện các hoạt động tiếp thị và xúc tiến du lịch như xây dựng websites du lịch, in tờ rơi, quảng cáo giới thiệu về ngành du lịch tại Cô Tô; đây cũng là nơi mọi người được giới thiệu các hình ảnh, đoạn phim về các hệ sinh thái đặc trưng của huyện đảo… cũng như được nhắc nhở những việc nên và không nên làm khi tham gia du lịch, qua đó mang lại cho du khách nhận thức khái quát về các giá trị ĐDSH và bảo vệ môi trường tự nhiên, cũng như các giá trị về văn hóa, lịch sử…

 Với việc xây dựng Trung tâm du khách tại thị trấn Cô Tô, du khách khi đến đảo đều được tham gia vào các hoạt động tuyên truyền, giáo dục môi trường, giới thiệu hình ảnh, các đoạn phim về những hoạt động du lịch của huyện đảo, từ đó nâng cao hiệu quả của công tác tuyên truyền.

  • Xây dựng các biển báo trên các tuyến du lịch

 Tuyến tham quan là khu vực hoạt động chính của du khách. Tại đây du khách có thể tự mình khám phá những nét đẹp nguyên sơ của thiên nhiên, tự trải nghiệm những điều thú vị trong tự nhiên, từ đó cảm nhận được những giá trị đích thực của nguồn tài nguyên này. Nhằm giúp du khách nắm được đầy đủ những thông tin bổ ích, việc xây dựng các bảng cung cấp thông tin, hình ảnh, biển báo trên các tuyến tham quan là rất cần thiết, đặc biệt tại những trạm dừng chân chính trên tuyến.

Nội dung các bảng cung cấp thông tin được thiết kế ngắn gọn, dễ hiểu, có khả năng thu hút sự chú ý của du khách, gợi tính tư duy nhằm tạo nên niềm hứng khởi đối với tuyến tham quan như hình ảnh các loài động, thực vật quý hiếm; giá trị dược liệu và khoa học của một số loài…

Cách làm này mang ý nghĩa giáo dục rất cao.

  • Xuất bản tài liệu phục vụ cho hoạt động DLST và giáo dục môi trường

Đây là hoạt động rất ý nghĩa và cần thiết đối với bất kỳ khu du lịch nào. Tài liệu này có thể là tờ rơi, quảng cáo nhằm cung cấp cho du khách những thông tin về tài nguyên, hoạt động của khu du lịch; các tuyến du lịch điển hình, cách thức liên lạc với Trung tâm dịch vụ du lịch… đồng thời khuyến cáo du khách những hành động nên và không nên thực hiện khi tham gia hoạt động du lịch. Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch sinh thái tại đảo Cô Tô Lớn.

Đặc biệt, có thể xuất bản những cuốn sách ảnh giới thiệu về các hệ sinh thái, đặc điểm nhận dạng của từng loài động, thực vật đặc trưng của đảo, tăng thêm tính hấp dẫn cho những chuyến đi của du khách thông qua hành động tự trải nghiệm, nhận biết các loài sinh vật trên tuyến kèm theo bản đồ DLST thể hiện các tuyến tham quan cũng như các dịch vụ du lịch hiện có.

4.3.6. Định hướng các hoạt động có sự tham gia của người dân

Sự tham gia của người dân địa phương vào hoạt động du lịch là một yêu cầu quan trọng trong nội dung phát triển DLST. Thông qua việc tham gia vào các hoạt động, người dân thu được lợi ích kinh tế, cải thiện đời sống từ đó sẽ nâng cao ý thức bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.

Trên cơ sở đặc điểm dân cư – lao động, định hướng phát triển DLST của huyện đảo, tác giả đề xuất một số định hướng cơ bản sau:

  • Phối kết hợp với người dân địa phương trong quản lý vận hành DLST nhằm tăng cường sự liên kết giữa phát triển du lịch với bảo tồn và phát triển cộng đồng. Có thể mở các câu lạc bộ truyên truyền bảo vệ tài nguyên và môi trường mà nòng cốt là những người dân địa phương có tâm huyết, nhiệt tình. Họ sẽ là những người tuyên truyền có hiệu quả hơn rất nhiều do được nhân dân tin tưởng và làm theo.
  • Sử dụng lao động địa phương vào các hoạt động cung cấp dịch vụ du lịch như: hướng dẫn viên, người dẫn đường, cung cấp dịch vụ nghỉ tại nhà dân, cho thuê phương tiện di chuyển, cung cấp đồ ăn, quà lưu niệm cho du khách…

Cần tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân về giá trị của các hệ sinh thái với hoạt động du lịch, giáo dục nâng cao nhận thức, hiểu biết của họ về du lịch, du khách; từ đó tạo cho họ thái độ ứng xử văn minh, lịch sự. Đồng thời giúp cho người dân hiểu được rằng hoạt động du lịch sẽ tạo ra công việc và làm thay đổi cuộc sống của họ. Từ đó họ sẽ tích cực bảo vệ, tôn tạo và đóng góp tiền của, sức lực của mình để bảo vệ tài nguyên du lịch; ngoài ra còn hạn chế được những ứng xử không đẹp với du khách như: ép giá các mặt hàng với khách, ăn xin, trộm cắp… làm xấu hình ảnh Cô Tô trong lòng du khách.

Chia sẻ lợi ích thông qua hỗ trợ cộng đồng: Đây là một hoạt động ý nghĩa. UBND huyện Cô Tô có thể cân đối nguồn thu từ hoạt động du lịch và DLST để hỗ trợ người dân tập huấn nâng cao trình độ, đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch như đường đi, phí vệ sinh, trường học, cơ sở y tế, sửa chữa nhà cửa để sẵn sàng đón khách…

4.4. Đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển du lịch sinh thái đảo Cô Tô lớn, huyện Cô Tô

Để loại hình du lịch sinh thái phát triển bền vững trên quần đảo Cô Tô, sớm hội nhập vào thị trường trong và ngoài nước, tác giả mạnh dạn đề xuất một số nhóm giải pháp cơ bản, bao gồm:

4.4.1. Giải pháp về cơ chế chính sách Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch sinh thái tại đảo Cô Tô Lớn.

  • Hoàn thiện tổ chức quản lý phát triển DLST tại huyện đảo

Hoàn thiện mô hình phát triển du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng biển đảo; Xây dựng nội quy, quy chế cụ thể, hợp lý giữa khai thác tài nguyên để kinh doanh du lịch, bảo vệ môi trường với việc tuyên truyền giáo dục, nâng cao dân trí, ý thức cho cộng đồng dân cư và khách du lịch dựa trên nguyên tắc: Cân bằng lợi ích kinh tế – xã hội giữa khai thác du lịch với bảo tồn thiên nhiên và phát triển sinh kế cộng đồng.

Thành lập Trung tâm dịch vụ du lịch chịu sự quản lý trực tiếp của UBND huyện Cô Tô. Trung tâm dịch vụ du lịch cần được xây dựng gần cảng tàu khách nhằm giới thiệu, quảng bá hình ảnh Cô Tô xinh đẹp, trưng bày các sản vật của địa phương, cung cấp các thông tin về các hoạt động du lịch tại quần đảo một cách nhanh nhất; đồng thời trung tâm này còn có chức năng tổ chức các tour du lịch khi du khách có yêu cầu.

Thực hiện quản lý nhà nước ở tất cả các lĩnh vực nhằm tạo môi trường thuận lợi cho du lịch phát triển. Có hình thức xử lý nghiêm đối với những hành vi vi phạm pháp luật.

Hoàn thiện và đồng bộ hóa cơ chế chính sách nhằm phát triển DLST

  • Chính sách dài hạn

Chính sách tăng cường hợp tác đối tác: Hiện nay du lịch và DLST tại quần đảo Cô Tô đã hấp dẫn và thu hút khá nhiều du khách trong và ngoài nước; tuy nhiên cần tạo môi trường thuận lợi hơn nữa với những cơ chế có tính thu hút, khuyến khích để các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển DLST, ưu tiên các dự án phát triển DLST sử dụng nguồn lực địa phương.

Phải có cơ chế lợi ích và chế tài đủ mạnh để ràng buộc và nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch, đảm bảo các chủ thể tham gia vào hoạt động DLST có sự cam kết trong việc quản lý, điều hành hoạt động DLST đúng với nguyên tắc của loại hình du lịch này và đảm bảo đúng với những quan điểm và mục tiêu định hướng của Đảng, Nhà nước cũng như của UBND huyện đảo đã đề ra.

Chính sách khuyến khích du lịch: Cần có cơ chế đầu tư và phát triển thị trường, tạo điều kiện phát triển các hoạt động DLST gắn liền với các quy định cụ thể dành cho việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên; ứng dụng công nghệ cao vào phát triển DLST; khuyến khích phát triển sản phẩm mới, sản phẩm đặc thù của khu vực.

  • Chính sách ngắn hạn (cấp bách) Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch sinh thái tại đảo Cô Tô Lớn.

Ban hành chính sách đầu tư sản phẩm DLST đặc trưng của đảo. Từ đó tạo ra thương hiệu du lịch có sự khác biệt và hấp dẫn, mang tính cạnh tranh cao.

Chính sách bảo vệ môi trường tại các khu, tuyến điểm, cơ sở dịch vụ du lịch: áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn về môi trường; kiểm tra xử lý vi phạm về môi trường; xây dựng nếp sống văn minh du lịch. Chính sách này sẽ giải quyết nhanh chóng những bất cập, tệ nạn xã hội, đảm bảo chất lượng môi trường văn minh, sạch, đẹp.

Chính sách phát triển nguồn nhân lực: Khuyến khích đào tạo, chuyển giao kỹ năng quản lý du lịch cho cộng đồng địa phương, thu hút chuyên gia trong và ngoài nước phục vụ cho đào tạo kỹ năng du lịch. Chính sách này bổ sung sự thiếu hụt trước mắt và lâu dài nguồn lao động có chất lượng, có kỹ năng nghề; đưa DLST dần đạt đến trình độ chuyên nghiệp.

Chính sách phát triển khoa học kỹ thuật: Cần có chính sách hỗ trợ nghiên cứu, ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực bảo vệ môi trường du lịch, khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo phát triển du lịch bền vững, khuyến khích nghiên cứu và ứng dụng các công nghệ tiết kiệm năng lượng, nước và tái sử dụng chất thải trong các cơ sở dịch vụ du lịch.

4.4.2. Giải pháp về cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch

 Tập trung giải quyết tốt các điều kiện tối cần thiết để phục vụ du khách như điện, nước, đường giao thông liên xã, phương tiện di chuyển giữa các đảo, cơ sở lưu trú… Những ưu tiên phát triển cơ sở hạ tầng DLST bao gồm:

Giao thông: Cần bê tông hóa một số tuyến đường dốc, gây trơn trượt khi trời mưa (đường lên đỉnh Cầu Mỵ, lên ngọn Hải đăng); Tăng tần suất vận chuyển khách từ cảng Cái Rồng ra Cô Tô hoặc từ Cô Tô sang Thanh Lân, đảm bảo đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của du khách.

Mặt khác, cần xây dựng các đường mòn thiên nhiên phục vụ du lịch dã ngoại với hệ thống biển chỉ dẫn cụ thể. Nghiên cứu và đưa vào sử dụng các loại biển báo, biển chỉ dẫn bằng các vật liệu tốt, bền vững đặt dọc các tuyến tham quan.

Điện: Cần nghiên cứu, khai thác và đưa vào sử dụng các loại năng lượng sạch như năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng thủy triều…

Cơ sở lưu trú: Hiện chưa có tiêu chuẩn hay quy chế nào cho vấn đề xây dựng cơ sở lưu trú tại Cô Tô trong khi môi trường ở đây rất nhạy cảm mà việc xây dựng cơ sở lưu trú tác động lớn đến môi trường du lịch. Để ngành du lịch được phát triển bền vững, yêu cầu mọi dự án khi triển khai xây dựng cơ bản phải có đủ biện pháp bảo vệ môi trường. Tại những khu vực nhạy cảm, nên thiết kế và xây dựng các khu nghỉ dưỡng cho du khách theo kiểu nhà nghỉ sinh thái mang phong cách kiến trúc đặc trưng, tạo tính độc đáo riêng có; sử dụng tối đa các yếu tố có sẵn của đảo, đưa du khách đến gần hơn với thiên nhiên và mang lại không gian nghỉ dưỡng yên bình. Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch sinh thái tại đảo Cô Tô Lớn.

4.4.3. Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực

 Lực lượng lao động đặc biệt là lao động địa phương là nhân tố quan trọng của hoạt động du lịch và du lịch sinh thái, do đó cần đẩy mạnh hoạt động đào tạo nguồn nhân lực du lịch bằng cách tổ chức điều tra, xác định nhu cầu đào tạo cụ thể đối với từng đối tượng làm căn cứ để xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực. Cụ thể như:

Đối với cán bộ quản lý, điều hành: cần trang bị kiến thức về quản lý hành chính, về môi trường và DLST, văn hóa ứng xử…

Đối với hướng dẫn viên du lịch: cần được đào tạo chuyên sâu về các giá trị lịch sử, địa chất địa mạo, đa dạng sinh học cũng như văn hóa bản địa của dân cư trên đảo.

Nâng cao hiểu biết về du lịch, về cách ứng xử khi giao tiếp với du khách.

Đối với cộng đồng dân cư: cần phân định rõ và bảo đảm tính chuyên môn trong quá trình tham gia vào việc tạo ra sản phẩm dịch vụ du lịch và quá trình phục vụ du khách. Việc phân định này nhằm đảm bảo nội dung đào tạo chuyên sâu để hình thành và phát triển các kỹ năng của người lao động cho phù hợp sản phẩm và thị trường là khách tham gia DLST. Đối với các hộ gia đình tham gia vào hoạt động du lịch cộng đồng cần bồi dưỡng cho họ về đạo đức kinh doanh, nhận thức về tầm quan trọng của môi trường tự nhiên và các giá trị văn hóa của địa phương.

4.4.4. Giải pháp về sản phẩm du lịch

Đa dạng hóa và tạo tính đặc thù cho sản phẩm du lịch là giải pháp mang tính chiến lược nhằm khai thác tối ưu tài nguyên du lịch sinh thái. Đa dạng hoá sản phẩm DLST chú trọng vào việc phát triển các hình thức DLST, các tuyến tham quan, các dịch vụ lưu trú và ăn uống, tăng cường quảng bá các sản phẩm địa phương; phát triển các tour kết hợp giữa DLST với các loại hình du lịch khác.

Đối với du lịch sinh thái biển đảo: Cần phát triển các sản phẩm mang tính đặc thù như khám phá đáy biển, nghiên cứu hệ sinh thái san hô và cỏ biển, tham quan và nghỉ đêm tại các đảo trong quần đảo, chèo thuyền kayak, thuyền chuối…

Đối với du lịch sinh thái rừng: Cần phát triển các loại hình thể thao dã ngoại như đạp xe khám phá đảo Cô Tô lớn, nghiên cứu về các loài sinh vật trên đảo…

Mặt khác, cần chủ động nâng cao chất lượng sản phẩm DLST bằng việc tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp như nâng cao nhận thức về chất lượng, tăng cường việc khảo sát, nghiên cứu những góp ý của du khách để từng bước hoàn thiện sản phẩm du lịch.

4.4.5. Giải pháp về thị trường Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch sinh thái tại đảo Cô Tô Lớn.

Hiện nay, việc nghiên cứu thị trường, quảng bá và xúc tiến DLST vẫn chỉ ở mức độ tối thiểu. Để tạo lập và nâng cao hình ảnh Cô Tô trong mắt du khách đồng thời tăng tối đa lợi ích của du lịch và phát triển du lịch bền vững cần có kế hoạch tiếp thị chiến lược, tăng cường nghiên cứu thị trường, đẩy mạnh công tác xúc tiến quảng bá DLST, chú trọng hợp tác liên kết vùng để tìm kiếm và mở rộng thị trường.

Tăng cường nghiên cứu thị trường DLST bằng việc xác định đối tượng khách du lịch, nắm vững nhu cầu của khách DLST, tạo ra sản phẩm DLST phù hợp cho từng đối tượng khách quốc tế và khách nội địa.

Đẩy mạnh quảng cáo, xúc tiến DLST, xây dựng chiến lược quảng bá xúc tiến với nội dung, phương thức, thời điểm quảng bá thích hợp; bao gồm:

  • Thành lập Trung tâm dịch vụ du lịch chịu trách nhiệm tiến hành các hoạt động tiếp thị, xúc tiến du lịch và giáo dục môi trường.
  • Quảng bá các sản phẩm thủy hải sản của địa phương bằng cách tổ chức các gian trưng bày, giới thiệu sản phẩm. Từng bước tạo lập thương hiệu mực Cô Tô, nước mắm Cô Tô, hải sâm Cô Tô, sứa Cô Tô…
  • Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng, các lực lượng thông tin đối ngoại, đặt các văn phòng xúc tiến du lịch tại các thị trường trọng điểm; tranh thủ hỗ trợ quốc tế để xúc tiến quảng bá du lịch .
  • Tổ chức và tham gia hội chợ, triển lãm, hội nghị, hội thảo du lịch trong nước và quốc tế để giới thiệu hình ảnh Cô Tô xinh đẹp, kích thích nhu cầu du lịch trong nước và quốc tế.

Hợp tác, liên kết với các điểm du lịch trong và ngoài tỉnh, thể hiện qua việc xây dựng những tour du lịch dài ngày, đa dạng hóa các loại hình du lịch, đồng thời tăng cường quảng bá cho ngành du lịch Quảng Ninh.

KẾT LUẬN – KHUYẾN NGHỊ Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch sinh thái tại đảo Cô Tô Lớn.

1. Kết luận

DLST đang dần trở thành một xu thế phát triển trên toàn cầu. Đây được coi là loại hình du lịch có mối liên hệ chặt chẽ và có trách nhiệm với môi trường, được phát triển dựa trên cơ sở bảo tồn gắn liền với các nguyên tắc và yêu cầu phát triển bền vững.

Đảo Cô Tô lớn, huyện Cô Tô có tiềm năng to lớn để phát triển du lịch và DLST. Những lợi thế về địa hình, địa chất, địa mạo và giá trị đa dạng sinh học với HST rừng chõi nguyên sinh, HST thảm cỏ biển, HST rạn san hô, HST rừng ngập mặn… Bên cạnh đó quần đảo Cô Tô còn nằm trong khu bảo tồn biển Cô Tô – Đảo Trần. Tuy nhiên tới thời điểm hiện tại, hiệu quả do du lịch và DLST mang lại vẫn chưa cao.

Đề tài đã tiến hành đánh giá nguồn tài nguyên du lịch trên quần đảo ở một mức độ nhất định. Từ đó định hướng các loại hình du lịch thích hợp, các thị trường tiềm năng, các tuyến để phát triển, các giải pháp nhằm tăng cường sự tham gia của người dân địa phương vào hoạt động DLST.

Trên cơ sở định hướng đã đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển DLST hiệu quả, đúng với mục tiêu bảo tồn như giải pháp về thị trường, nhân lực, thể chế chính sách…

2. Khuyến nghị Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch sinh thái tại đảo Cô Tô Lớn.

Cô Tô thực sự có tiềm năng phát triển DLST kết hợp nghỉ dưỡng biển đảo. Tuy nhiên, do chưa có quy hoạch, kế hoạch phát triển DLST hợp lý, chưa có cơ chế chính sách hỗ trợ, ý thức của các thành phần xã hội tham gia hoạt động du lịch chưa cao… nên ngành du lịch ở Cô Tô chưa phát triển tương xứng với tiềm năng hiện có.

Đề tài được nghiên cứu trong thời gian ngắn, đồng thời liên quan đến nhiều lĩnh vực kinh tế – xã hội, nên trong khuôn khổ luận văn, tác giả dừng lại ở việc đề xuất phát triển DLST và đưa ra một số giải pháp thực hiện. Để hoạt động DLST tại khu vực quần đảo Cô Tô có thể phát triển, đạt hiệu quả cao cần có những nghiên cứu sâu rộng hơn. Cụ thể:

  • Nghiên cứu, đánh giá chính xác sức chứa sinh thái, sức chứa vật lý cũng như sức chứa tâm lý của hoạt động DLST tại quần đảo Cô Tô. Ngoài ra cần có những đề tài nghiên cứu khoa học để hoạch định chiến lược phát triển cụ thể, phục vụ cho việc phát triển DLST tại huyện đảo Cô Tô.
  • Thành lập Trung tâm dịch vụ du lịch chịu trách nhiệm giới thiệu, quảng bá hình ảnh Cô Tô, trưng bày các sản vật của địa phương, cung cấp các thông tin về các hoạt động du lịch tại quần đảo một cách nhanh nhất; tiếp thị, xúc tiến du lịch và giáo dục môi trường…
  • Nghiên cứu và phát triển mô hình “khu nhà ở sinh thái” và các mô hình phát triển kinh tế phù hợp với điều kiện các đảo.

Cô Tô cần tích cực vận động, thu hút nguồn vốn đầu tư để phát triển hoạt động du lịch và DLST nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch, tiến hành giáo dục môi trường đến các đối tượng khác nhau đồng thời tạo điều kiện phát triển kinh tế cho cộng đồng địa phương. Đặc biệt, trong quá trình phát triển DLST cần chú ý đảm bảo các nguyên tắc phát triển du lịch bền vững.

Do kinh nghiệm và kiến thức còn hạn chế, đề tài không tránh khỏi có những thiếu sót. Rất mong nhận được sự góp ý của các thầy, cô và bạn bè để những nghiên cứu sau đạt kết quả cao hơn. Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch sinh thái tại đảo Cô Tô Lớn.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: Đánh giá phát triển du lịch sinh thái đảo Cô Tô Lớn

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993