Luận văn: Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer ở  Sóc Trăng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Giới thiệu chung 

2.1.1. Khái quát lịch sử hình thành tỉnh Sóc Trăng

Lịch sử hình thành tỉnh Sóc Trăng gắn với lịch sử mở mang bờ cõi của cha ông và lịch sử hình thành Nam Bộ. So với một số tỉnh trong khu vực, vùng nam sông Hậu và xứ Sóc Trăng sáp nhập vào lãnh thổ Đàng Trong của các chúa Nguyễn muộn hơn. Địa Lý hành chính của Sóc Trăng nhiều lần thay đổi theo sự biến thiên của lịch sử.

Năm 1732, chúa Nguyễn lập dinh Long Hồ tại Cái Bè (lúc đó là Cái Bè Dinh), năm 1780 được đặt tại vùng chợ Vĩnh Long và đổi tên là Vĩnh Trấn Dinh, sau đó đổi thành trấn Vĩnh Thanh. Lúc này Sóc Trăng thuộc vùng Ba Thắc (nằm trong trấn Vĩnh Thanh, phủ Gia Định).

Năm 1832, vua Minh Mạng chia Nam kỳ thành 6 tỉnh, 3 tỉnh miền Đông là:  Gia Định, Biên Hòa, Định Tường; 3 tỉnh miền Tây là:  An Giang, Hà Tiên, Vĩnh Long. Vùng đất Sóc Trăng thuộc tỉnh Vĩnh Long.

Năm 1835 lại lấy vùng đất Ba Thắc (tức vùng đất Sóc Trăng) nhập vào tỉnh An Giang, lập thêm phủ Ba Xuyên, gồm 3 huyện: Phong nhiêu,Phong Thạnh và Vĩnh Định. Đây là điểm mốc có ý nghĩa lịch sử rất quan trọng về địa danh hành chính tỉnh Sóc Trăng sau này.

Năm 1867, thực dân Pháp chiếm 3 tỉnh miền Tây trong đó có Sóc Trăng, sau đó Pháp chia Nam kỳ lục tỉnh thành nhiều hạt. Đến năm 1876, thực dân Pháp chia Nam kỳ thành 4 khu vực hành chính gồm: Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Bát Sắc, mỗi khu vực hành chính lớn lại chia nhỏ thành nhiều tiểu khu, tiểu khu Sóc Trăng thuộc khu vực Bát Sắc. Năm 1882, Pháp tách 2 tổng của tiểu khu Sóc Trăng và 3 tổng của tiểu khu Rạch Giá thành lập thêm tiểu khu Bạc Liêu. Nghị định của toàn quyền Đông Dương ngày 27/12/1892 quy định Nam kỳ có 2 thành phố (Sài Gòn, Chợ Lớn) và 20 khu, trong đó có khu Sóc Trăng. Nghị định ngày 20/12/1899 của toàn quyền Đông Dương quy định: kể từ ngày 01/01/1900, tất cả các đơn vị cấp tỉnh ở Đông Dương, trong đó có các khu ở Nam Kỳ đều thống nhất gọi là tỉnh. Đứng đầu mỗi tỉnh ở Nam kỳ là một chủ tỉnh, cũng gọi là chánh tham biện. Tỉnh Sóc Trăng thuộc miền Tây Nam kỳ, gồm 3 quận: Châu Thành, Kế Sách, Long Phú và Phú Lộc. Năm 1932 Thống Đốc Nam kỳ quyết định giải tán một số quận trong các tinh Nam kỳ, trong đó có quận Phú Lộc, nhưng đến năm 1941, Thống đốc Nam kỳ quyết định thành lập lại quận Phú Lộc. Cho đến cuối thời Pháp thuộc, Nam kỳ gồm có 20 tỉnh, 6 thành phố và 1 khu, 20 tỉnh vẫn giữ nguyên tên cũ, trong đó có tỉnh Sóc Trăng. Luận văn: Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer.

Sau cách mạng tháng 8/1945 quận Phú Lộc được gọi là quận Thạnh Trị. Năm 1948, Sóc Trăng có thêm quận Vĩnh Châu, do tỉnh Bạc Liêu giao cho. Trong kháng chiến chống Pháp, Sóc Trăng còn có một số xã của tỉnh Rạch Giá và Cần Thơ giao qua.

Năm 1955, tỉnh Sóc Trăng giao huyện Vĩnh Châu cho tỉnh Bạc Liêu. Cuối năm 1957, tỉnh Sóc Trăng nhận thêm thị xã Bạc Liêu và các huyện Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu, Giá Rai của tỉnh Bạc Liêu và huyện Hồng Dân của tỉnh Rạch Giá; trong thời gian này, tỉnh Sóc Trăng sáp nhập hai huyện Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu thành một huyện lấy tên là Vĩnh Lợi- Vĩnh Châu, nhưng đến năm 1962 lại tách ra như cũ. Năm 1958 huyện Kế Sách tỉnh Sóc Trăng nhập về tỉnh Cần Thơ. Năm 1961 thành lập thêm huyện Mỹ Xuyên, cùng năm này huyện Giá Rai tỉnh Sóc Trăng giao lại cho tỉnh Cà Mau. Cuối năm 1973, thị xã Bạc Liêu, huyện Vĩnh Lợi và Hồng Dân nhập về tỉnh Bạc Liêu. Nghị định số 31/NĐ, ngày 21/2/1976 của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam quy định giải thể cấp khu, hợp nhất một số tỉnh. Tỉnh Sóc Trăng hợp nhất với tỉnh Cần thơ và thành phố Cần Thơ thành tỉnh Hậu Giang. Huyện Châu Thành lúc này đổi tên là huyện Mỹ Tú. Cuối năm 1991, Trung ương quyết định chia tỉnh Hậu Giang thành 2 tỉnh: Sóc Trăng và Cần Thơ. Tỉnh Sóc Trăng chính thức đi vào hoạt động vào đầu tháng 4/1992 gồm 6 huyện và 1 thị xã, đó là: Kế Sách, Vĩnh Châu, Mỹ Tú, Thạnh Trị, Long Phú, Mỹ Xuyên và thị xã Sóc Trăng.

Ngày 11/01/2009, Chính phủ ra nghị định số 04/2009/NĐ-CP điều chỉnh ranh giới huyện Phú Long để thành lập huyện Cù Lao Dung. Ngày 31/10/2010, Chính phủ ra nghị định số 127/NĐ-CP về việc thành lập huyện ngã Năm. Ngày 8/02/2014, Chính phủ ra nghị định số 22/2014/NĐ-CP về việc chuyển thị xã Sóc Trăng lên Thành Phố Sóc Trăng trực thuộc tỉnh Sóc Trăng. Ngày 24/9/2015, Chính phủ ra nghị định số 02/NĐ-CP về việc thành lập huyện Châu Thành. Ngày 23/12/2016 Chính phủ ra nghị quyết số 64/NQ-CP quyết định thành lập huyện Trần Đề. Tính đến năm 2017, đơn vị hành chính của tỉnh có 10 huyện, 01 thành phố. Đến năm 2023 tỉnh Sóc Trăng cũng không có thay đổi về đơn vị hành chính.

Bảng 2.1. Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2023 phân theo huyện/thị xã/thành phố thuộc tỉnh Sóc Trăng

STT Tên huyện/thành phố Diện tích (Km2) Dân số (người) Mật độ dân số (người/km2)
Tổng số 3311.87 1.312.490 396
1 TP Sóc Trăng 76.1 138.087 1.817
2 Huyện Châu Thành 236.29 102.288 433
3 Huyện Kế Sách 352.83 160.181 454
4 Huyện Mỹ Tú 368.18 107.976 293
5 Huyện Cù Lao Dung 264.82 63.886 241
6 Huyện Long Phú 263.72 113.856 432
7 Huyện Mỹ Xuyên 373.71 157.772 422
8 Thị xã ngã Năm 242.15 80.885 334
9 Huyện Thạnh Trị 287.47 86.864 302
10 Thị xã Vĩnh Châu 468.71 166.286 355
11 Huyện Trần Đề 377.98 134.409 356

(Nguồn: Niên giám Thống kê Sóc Trăng năm 2023)

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

2.1.2. Khái quát về nguồn gốc hình thành dân tộc Khmer ở ĐBSCL 

Sự hiện diện có tính nối tiếp các di chỉ khảo cổ học dược xếp vào văn hóa đá mới, đá mới – đồng thau rồi đến đồng thau – sắt sớm đã chứng tỏ sự có mặt của một bộ phận cư dân cổ Đông Nam Á trên đất Campuchia. Dựa vào sự phân bố các di chỉ khảo cổ học có thể đoán định rằng những bộ phận cư dân này tập trung chủ yếu ở vùng Đông Bắc Biển Hồ và lưu vực sông Sê – mun chảy qua Cò – rạt (Thái Lan ngày nay). Những cư dân cổ sinh sống ở đây chủ yếu là cư dân nông nghiệp, sống bằng nghề trồng trọt, săn bắn, đánh cá,… Theo nghiên cứu của TS. Nguyễn Khắc Cảnh, đây chính là tổ tiên chung của người Khmer và các dân tộc ít người bản địa của Campuchia mà hậu duệ còn lại tới ngày nay là người Pnông cư trú ở vùng Đông Bắc Campuchia (Nguyễn Khắc Cảnh, 2007). Luận văn: Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer.

Ở những thế kỷ trước và sau Công Nguyên là thời kỳ biến động mạnh mẽ trong quá trình hình thành tộc người Khmer. Cư dân “tiền Khmer – Pông” đã chịu tác động sauu sắc của hai lần “Ấn Độ hóa” về văn hóa và con người với những đợt thiên di của các tầng lớp quý tộc, thương nhân, tăng lữ, trí thức từ Ấn Độ tới ; cùng với những đợt Nam tiến của nhiều tộc người từ Bắc Đông Dương và Nam Trung Quốc xuống. Trong bối cảnh của những biến động về văn hóa và tộc người mà đó mà loại hình Khmer đã hình thành cùng với quá trình hình thành nhà nước Campuchia sơ kỳ (Chân Lạp cổ đại). Người Khmer không phải là tộc người ngoại lai từ nơi khác di cư đến Campuchia mà họ có tổ tiên chung từ một bộ phận cư dân cổ ở Đông Nam Á. Từ đây, người Khmer bước vào quá trình liên kết và cố kết tộc người.

Quốc gia Chân Lạp cổ đại thời kỳ đầu là thuộc quốc Phù Nam. Sau đó Chân Lạp mạnh lên đã thoát khỏi sự xâm lấn của Phù Nam, quay lại thống trị Phù Nam và sáp nhập thành một bộ phận lãnh thổ của mình, mở đường cho cuộc Nam tiến của người Khmer rồi đi dần vào lãnh thổ Nam bộ Việt Nam.

Trong khoảng thời gian từ cuối thế kỷ IX đến thế kỷ XI, chân Lạp trở thành một quốc gia cường thịnh tạo dựng nên nền văn minh Ăngkor rực rỡ, tuy nhiên theo nghiên cứu khảo cổ học cho thấy ảnh hưởng của nền văn minh Ăngkor trên đất

Nam bộ khá mờ nhạt. Thế kỷ X trở đi, đồng Bằng Nam Bộ xuất hiện một số giồng đất cao màu mỡ, rất thuận lợi cho cư dân cư trú và sản xuất. Lúc này, người nông dân Khmer nghèo khổ, đã bỏ trốn tìm đến sinh sống ở những giồng đất cao của Đồng bằng Nam Bộ, cư trú theo từng khu vực, dựa trên mối quan hệ dòng họ và gia đình. Từ thế (theo Võ Văn Sen (chủ biên, 2017) Một số vấn đề cấp bách trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa của người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long,, trang 22). Thế kỷ XIV Chân Lạp phải đối phó với sự bành trướng của các vương triều Xiêm từ phía Tây, để tránh khỏi sự đàn áp và bóc lột của các thế lực phong kiến Thái Lan, nhiều nhóm người Khmer, trong đó có cả những sư sãi và trí thức Khmer đã di cư đến vùng đến khu vực đồng bằng Nam Bộ sinh sống, họ hòa nhập với những lớp người Khmer đến trước, tiếp tục khai phá và biến những vùng đất này thành những điểm tụ cư đông đúc. Vào đầu thế kỷ XVI, ở Đồng bằng Nam Bộ cơ bản đã hình thành các điểm dân cư tập trung của người Khmer, về đại thể người Khmer ở ĐBSCL đã hình thành 3 vùng dân cư tập trung lớn đó là: Vùng Sóc Trăng – Bạc Liêu- Cà Mau (chủ yếu là Sóc Trăng, Vĩnh Châu, Vĩnh Lợi), Vùng An Giang – Kiên Giang (chủ yếu là Vọng Thê, Tri Tôn, Nhà Bàng, sau đến phía Tây Bắc Hà Tiên), Vùng Trà Vinh – Vĩnh Long (còn gọi là vùng nội địa). Từ khi đến khu vực khu vực ĐBSCL sinh sống, nhóm người này đã sống độc lập và không có mối quan hệ với bất kỳ quốc gia nào thời đó. Do sống tách biệt với người Khmer ở Campuchia trong một thời gian dài, nên người Khmer ở ĐBSCL đã tạo ra những đặc điểm cho cộng đồng mình về cư trú, kinh tế, văn hóa và xã hội. Từ khi các chúa Nguyễn và nhà nguyễn xác lập và thực thi chủ quyền cũng như đưa ra những chính sách trong việc quản lý vùng đất Nam Bộ, người Khmer ĐBSCL đã trở thành một dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Vốn là cư dân nông nghiệp, người Khmer đã tập hợp nhau lại thành những tập thể láng giềng nhỏ và tổ chức nó thành những đơn vị xã hội tự quản. Mỗi tập thể định cư trên một địa điểm bám sát đất trồng trọt gọi là phum, đơn vị cao hơn phum và bao gồm nhiều phum gọi là srok (theo Việt hóa là Sóc). Đây là những đơn vị xã hội cổ truyền ràng buộc bởi các phong tục, lễ nghi mà ngôi chùa là trung tâm sinh hoạt văn hóa. Đặc biệt là khi quần cư ở đâu, người Khmer đều lập chùa thờ Phật.

Lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Nam Bộ nói riêng và lịch sử Việt Nam nói chung cho thấy người Khmer là một bộ phận hợp thành của cộng đồng đa dân tộc, đa văn hóa Việt Nam.

2.1.3. Giới thiệu chung về dân tộc Khmer tỉnh Sóc Trăng Luận văn: Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer.

Địa bàn tỉnh Sóc Trăng là nơi có sự đan xen giữa 3 dân tộc Kinh Khmer Hoa cùng sinh sống và là một trong những điểm tụ cư lâu đời của các lớp cư dân cổ. Theo tài liệu dân tộc học thu thập được ở các chùa cổ của người Khmer tại tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh, người Khmer đã định cư, lập nghiệp ở vùng ĐBSCL nói chung trong khoảng cuối thế kỷ XI.

Sóc Trăng chính là tỉnh có số lượng người Khmer đông nhất ở ĐBSCL. Tính đến năm 2023, người Khmer chiếm 30,7% dân số toàn tỉnh, đứng thứ 2 sau dân tộc Kinh. Tuy nhiên trong sự phân bố dân tộc Khmer có sự chênh lệch giữa các huyện, thể hiện qua bảng số liệu sau:

Bảng 2.2. Dân số và tỷ lệ dân tộc Khmer phân theo huyện tại Sóc Trăng  năm 2023

STT Tên huyện / thành phố Dân số (người) Tỷ lệ so với tổng số dân (%)
Toàn t ỉnh 403.049 30.7
1 Thành Phố Sóc Trăng 32.070 23.2
2 Huyện Châu Thành 48.941 47.9
3 Huyện Kế Sách 17.490 10.9
4 Huyện Mỹ Tú 26.657 24.7
5 Huyện Cù Lao Dung 4.077 6,2
6 Huyện Long Phú 32.517 28.5
7 Huyện Mỹ Xuyên 52.272 33.1
8 Thị Xã Ngã Năm 5.366 6.6
9 Huyện Thạnh Trị 29.800 34.3
10 Thị Xã Vĩnh Châu 87.886 52.8
11 Huyện Trần Đề 65.973 49.1

(Nguồn: Niên giám Thống kê Sóc Trăng năm 2023)

Ngay từ thời kỳ đầu định cư, lập nghiệp ở tỉnh Sóc Trăng cũng như vùng ĐBSCL, người Khmer đã tập hợp nhau lại thành những tập thể láng giềng nhỏ bám sát đất trồng trọt (trên các giồng đất) và tổ chức nó thành những đơn vị xã hội tự quản gọi là phum. Đơn vị cao hơn phum và gồm nhiều phum gọi là sóc, các gia đình trong phum đều có quan hệ huyết thống và quan hệ hôn nhân với nhau. Trong quá trình sinh sống các phum của dân tộc Khmer đã có sự giao lưu kết nối với làng xóm của người Kinh và người Hoa tạo nên sự đoàn kết tương trợ lẫn nhau giữa các dân tộc. Nên qui mô các phum cũng được mở rộng hơn rất nhiều, không chỉ bó buộc trong mối quan hệ huyết thống. Luận văn: Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer.

Do chịu ảnh hưởng sâu sắc của Phật giáo Nam Tông, hầu hết các phum, sóc đều có sự hiện hữu của ngôi chùa. Đó không chỉ là trung tâm sinh hoạt văn hóa mà còn là nơi lưu giữ bản sắc văn hóa của cộng đồng người Khmer nên được chú trọng xây dựng rất tỉ mỉ khang trang. Kể từ lúc sinh ra cho đến lúc trở về cát bụi người Khmer đều gắn bó mật thiết với ngôi chùa nên chùa Khmer có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của mỗi cá nhân và cả cộng đồng.

Cũng như người Kinh, dân tộc Khmer ngay từ thủa ban đầu định cư đã dựa vào nền tảng kinh tế chính là hoạt động sản xuất nông nghiệp, họ tập trung vào việc trồng trọt, chăn nuôi và một phần nuôi trồng thủy sản. Chính vì vậy nên người Khmer có kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp mà họ đã tích lũy được từ bao đời, họ áp dụng vào đặc điểm sinh thái vùng đất của mình và đã đem lại hiệu quả như: sắp xếp mùa vụ, làm đất, cách điều hòa tưới tiêu nước vào đồng ruộng, cả cách chăm sóc và thu hoạch cây trồng, biết chọn những giống lúa thích hợp với mỗi loại đất khác nhau… Trên những nền đất rẫy, nhất là những giồng đất người Khmer cùng với người Hoa đã canh tác trồng nhiều loại trái cây và các loại hoa màu có giá trị kinh tế. Bên cạnh đó, họ còn rất khéo léo khi khá thuần thục các nghề thủ công như: làm gốm, dệt vải, làm bún, nấu rượu, đan lát… góp phần tăng thu nhập cho người dân nơi đây và bảo lưu các làng nghề truyền thống. Chính vì hoạt động kinh tế hầu hết của đồng bào người Khmer vẫn dựa vào sản xuất nông nghiệp cổ truyền nên trong đời sống vật chất vẫn còn nhiều khó khăn, nhưng với sự cần cù nỗ lực trong lao động, những chính sách của đảng và nhà nước trong việc phát triển kinh tế của người Khmer, hiện nay đời sống của bà con đã ngày càng được cải thiện, số hộ nghèo giảm đó là những thành công bước đầu trên con đường phát triển của cộng đồng người Khmer tại tỉnh Sóc Trăng.

2.2. Các nhân tố ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển tiềm năng du lịch nhân văn của người Khmer tỉnh Sóc Trăng Luận văn: Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer.

2.2.1. Vị trí địa lí 

Sóc Trăng là một tỉnh thuộc vùng ĐBSCL nằm ở của Nam sông Hậu. Hệ tọa độ địa lí của tỉnh Sóc Trăng từ 901422 đến 905530 vĩ Bắc và 10503416” đến10601750 kinh Đông.

Tỉnh có vị trí tiếp giáp như sau:  Phía Bắc và Tây Bắc giáp với tỉnh Hậu giang; phía Đông Bắc giáp tỉnh Trà Vinh; phía Tây giáp tỉnh Bạc Liêu; phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông. Tỉnh Sóc Trăng có nhiều ưu thế về mặt vị trí địa lí, dễ dàng thông thương với các trung tâm kinh tế chính của ĐBSCL và của cả nước thông qua giao thông đường bộ và đường thủy: cách Thành phố Hồ Chí Minh 231km, cách Cần Thơ 62km, nằm trên tuyến Quốc lộ 1A nối liền các tỉnh Trà Vinh, Bến Tre và Tiền Giang. Đường bờ biển dài 72km và 3 cửa sông lớn: Định An, Trần Đề, Mỹ Thanh đổ ra biển Đông. Diện tích tự nhiên của tỉnh Sóc Trăng là 3311,87km2 (Cục thống kê Sóc Trăng, 2024) chiếm 8,04% diện tích của ĐBSCL và gần 1% diện tích cả nước).

Sóc Trăng còn là vùng đất có truyền thống văn hóa đặc sắc, Thành phố Sóc Trăng còn tập trung rất nhiều công trình kiến trúc đền chùa rất đặc sắc của người Khmer đó chính là nguồn tài nguyên nhân văn quí giá, phục vụ đắc lực cho hoạt động du lịch. Đặc biệt Sóc Trăng là nơi giao thoa của 3 dân tộc Kinh, Chăm, Khmer tạo sự đa dạng trong bản sắc văn hóa. Đồng thời đó cũng là yếu tố hấp dẫn thu hút khách du lịch, để tỉnh Sóc Trăng hiện tại và trong tương lai sẽ trở thành một điểm phát triển du lịch lý tưởng của các tỉnh ĐBSCL.

2.2.2. Các nhân tố tự nhiên 

  • Địa hình và thổ nhưỡng

Tỉnh Sóc Trăng có địa hình thấp và tương đối bằng phẳng, nhìn chung địa hình có dạng lòng chảo: cao ở phía sông Hậu và biển Đông thấp dần vào trong, vùng thấp nhất là phía Tây và Tây Bắc; chiếm diện tích nhỏ là địa hình có dạng gợn sóng không đều, xen kẽ là những giồng cát địa hình tương đối cao và những vùng thấp trũng nhiễm mặn, phèn. Mùa mưa vùng đất phèn có dạng lòng chảo thường bị ngập úng làm ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân trong vùng. Như vậy ta thấy địa hình của tỉnh Sóc Trăng không có sự phân hóa phức tạp, sẽ tạo điều kiện cho người dân cư trú trên lãnh thổ ; địa hình thấp bằng phẳng có thể thuận lợi hơn trong việc xây dựng tôn tạo các công trình kiến trúc như đền chùa…để phát triển loại hình du lịch văn hóa.(Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Sóc Trăng).

Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh Sóc Trăng là 331.187 ha. Đặc điểm của đất là có độ màu mỡ cao, thích hợp cho việc trồng cây lúa nước, các cây công nghiệp ngắn ngày điển hình như: mía, đậu nành, bắp, các loại rau màu như hành, tỏi và các loại cây ăn quả như bưởi, xoài, sầu riêng… Hiện đất nông nghiệp của tỉnh là 280.819 ha, chiếm 84,79%; trong đó, đất sản xuất nông nghiệp là 213.339 ha (chiếm 64,42%), đất lâm nghiệp có rừng 9.807 ha (chiếm 2,96%), đất nuôi trồng thủy sản 56.855 ha (chiếm 17,17%), đất làm muối và đất nông nghiệp khác là 818 ha (chiếm 0,24%). Trong tổng số đất sản xuất nông nghiệp có 149.404 ha sử dụng cho canh tác lúa 19.610 ha cây hàng năm khác và 44.325 ha dùng trồng cây lâu năm Riêng đất phi nông nghiệp là 49.820 ha và 548 ha đất chưa qua sử dụng (Số liệu của NGTK 2023); Tuy còn một số khó khăn về điều kiện tự nhiên như thiếu nước ngọt và bị xâm nhập mặn trong mùa khô, một số khu vực bị nhiễm phèn, nhưng nhìn chung việc sử dụng đất ở Sóc Trăng có những thuận để phát triển nông, ngư nghiệp với các sản phẩm đa dạng là cơ sở để hình thành những khu du lịch có sự đan xen giữa du lịch sinh thái và du lịch nhân văn. Dải đất cù lao thuộc huyện Kế Sách, Long Phú, Cù Lao Dung và Trần Đề chạy dài ra tận của biển với nhiều vườn trái cây nhiệt đới, không khí trong lành… sẽ là lựa chọn số 1 của du khách khi đến tham quan tài nguyên du lịch nhân văn kết hợp với du lịch miệt vườn.

  • Khí hậu Luận văn: Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer.

Nằm ở khu vực ĐBSCL thuộc miền Nam của Việt Nam, nên Sóc Trăng có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa cận xích đạo, một năm phân ra hai mùa rõ rệt là:  mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 11) có gió mùa Tây Nam hoạt động, mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau) có gió mùa Đông Bắc. Nhưng hầu như không chịu ảnh hưởng bởi loại gió này, vì đã bị suy yếu kể từ dãy Bạch Mã trở vào phía Nam.

Về nhiệt độ trung bình năm là trên 270c, ít chịu tác động của bão, lượng mưa trung bình trong năm gần 2007mm, tập trung vào tháng 8,9,10, độ ẩm trung bình là 82%, biên độ nhiệt chênh lệch giữa các tháng trong năm thấp…

Điều kiện khí hậu trên không chỉ thuận lợi cho cây lúa và các loại hoa màu phát triển, mà còn khá lý tưởng trong việc thu hút khách du lịch tới tham quan, hoạt động du lịch có thể diễn ra quanh năm. Đặc biệt là đối với việc phát triển tài nguyên du lịch nhân văn của vùng, sẽ có nhiều ưu thế hơn, tính mùa vụ trong du lịch sẽ được hạn chế ở mức tối thiểu. Cũng có khó khăn nhất định do độ ẩm cao từ khí hậu đem lại, đó là sẽ tạo cơ hội cho mầm bệnh, vi khuẩn phát triển nên cần có biện pháp phòng tránh.

Bảng 2.3. Nhiệt độ và độ ẩm không khí trung bình năm 2023 

Tháng  01 02 03 04 05 06 07 08 09 10 11 12
Nhiệt độ (0C) 27,1 26,8 27,4 29,5 29,4 28,0 28,0 27,7 27,5 27,1 27,7 26,5
Độ ẩm (%) 79 78 78 77 79 86 84 86 87 85 82 79

(Nguồn: Niên giám Thống kê Sóc Trăng năm 2023) v Sông ngòi 

Sóc Trăng có hệ thống kênh rạch chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều ngày lên xuống 2 lần, mực triều dao động trung bình từ 0,4 m đến 1m. Thủy triều vùng biển không những gắn liền với các hoạt động sản xuất, sinh hoạt của cư dân địa phương, mà còn đem lại sự thú vị cho du khách khi đến tham quan, du lịch và tìm hiểu hệ sinh thái tự nhiên nơi dây. Đặc biệt vùng có mạch nước nóng tự nhiên vùng Mỹ Xuyên và phường 2, thành phố Sóc Trăng đã và đang được khai thác phục vụ cho hoạt động du lịch. Bên cạnh đó nhờ vào vị trí nơi cuối của dòng sông Hậu đổ ra

Biển Đông, nên không chỉ đưa lượng phù sa lớn về bồi đắp tạo nên những cù lao màu mỡ thuận lợi cho việc hình thành các vườn trái cây rất hấp dẫn khách du lịch, mà vùng còn có nhiều trữ lượng tôm cá, để phát triển đánh bắt thủy sản, đó cũng là nguồn thực phẩm quí giá tạo nên những tinh hoa ẩm thực của vùng.

  • Rừng và biển  Luận văn: Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer.

Sóc Trăng còn có nguồn tài nguyên rừng với diện tích 11.356 ha với các loại cây chính: Tràm, bần, giá, vẹt, đước, dừa nước phân bố ở 4 huyện Vĩnh Châu, Long Phú, Mỹ Tú, và Cù lao Dung. Rừng của Sóc Trăng thuộc hệ rừng ngập mặn ven biển và rừng tràm ở khu vực đất nhiễm phèn.

Sóc Trăng có 72 km đường bờ biển với 2 cửa sông lớn là sông Hậu và sông Mỹ Thanh, có nguồn hải sản đáng kể bao gồm cá đáy, cá nổi và tôm. Sóc Trăng có nhiều thuận lợi trong phát triển tổng hợp kinh tế biển như:  thủy hải sản, nông – lâm nghiệp biển, công nghiệp hướng biển, thương cảng, cảng cá, dịch vụ cảng biển, xuất nhập khẩu, du lịch và vận tải biển. Với những thế mạnh trên, Sóc Trăng hội tụ đủ những điều kiện để có thể phát triển kinh tế biển theo hướng bền vững tại khu vực ĐBSCL. Đặc biệt có cảng cá Trần Đề là một trong 10 cảng cá lớn nhất của cả nước, đang được tỉnh Sóc Trăng chú trọng khai thác có hiệu quả và gần đây đã được bổ sung vào quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam.

Từ phân tích trên ta thấy với vị trí địa lí có nhiều thuận lợi và nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú đã tạo cho tỉnh Sóc Trăng tiềm năng phát triển không chỉ là kinh tế biển, mà còn là yếu tố thúc đẩy cho hoạt động du lịch. Đến Sóc Trăng du khách có thể tham gia nhiều loại hình du lịch từ du lịch sinh thái miệt vườn đến khám phá tìm hiểu tài nguyên du lịch nhân văn. Đó là ưu thế của tỉnh so với các tỉnh khác nằm trong khu vực ĐBSCL.

2.2.3. Các nhân tố kinh tế – xã hội

  • Dân cư và nguồn lao động

Theo Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2023, tổng số dân của tỉnh Sóc Trăng là 1.312.490 người, mật độ dân số đạt 396 người/km2. Dân cư Sóc Trăng chủ yếu là ba dân tộc Kinh (843.974 người, chiếm 64,3%), Khmer (403.049 người, chiếm 30,7%), Hoa (65.896 người, chiếm 5%) cùng chung sống chung sức khai phá, xây dựng và bảo vệ vùng đất này từ khi có giặc ngoại xâm cho tới lúc được yên bình. Trải qua bao thăng trầm biến cố và phát triển của lịch sử, các dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng đã có mối quan hệ gắn bó huyết thống, xây dựng nên tinh thần nhân ái, đùm bọc lẫn nhau trong cơn hoạn nạn, giúp đỡ nhau trong lao động, sản xuất, tôn trọng nhau trong sinh hoạt, phong tục tập quán, tự do tín ngưỡng… tạo nên cuộc sống hài hòa về kinh tế, văn hóa, xã hội của cộng đồng các dân tộc. Đặc biệt trong quan hệ giao tiếp, người dân lao động ở đây còn thể hiện đức tính quý trọng nhân nghĩa, thẳng thắn, bộc trực, sống hào phóng, giản dị, tình cảm mộc mạc chân thành, đó là bản tính truyền thống của người dân Nam Bộ nói chung và người dân Sóc Trăng nói riêng. Đây chính là một trong những yếu tố thu hút khách du lịch khi tới tham quan tỉnh Sóc Trăng, du khách thấy được sự mến khách của người dân nơi đây và rất sẵn lòng quay lại lần thứ 2. Bên cạnh đó sự giao thoa của 3 dân tộc trong đời sống sinh hoạt cũng tạo nên tính đa dạng trong văn hóa, mà vẫn giữ được bản sắc văn hóa riêng của mỗi dân tộc, điều này hấp dẫn du khách tới tìm hiểu. Như vậy yếu tố con người cũng góp phần tạo dựng nên sức hút cho sự phát triển tài nguyên du lịch nhân văn để phục vụ cho hoạt động du lịch của vùng (Nguồn: Sóc Trăng.gov.vn).

Theo số liệu thống kê sơ bộ năm 2023 của Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng, dân số hoạt động kinh tế của tỉnh là 686.835 người. Đặc điểm người lao động ở Sóc Trăng vốn cần cù, chịu khó, có kinh nghiệm trong hoạt động sản xuất nông lâm ngư nghiệp… từ nhiều thế hệ truyền lại. Bên cạnh đó chất lượng nguồn lao động cũng không ngừng được cải thiện nhờ những thành tựu của văn hóa, giáo dục, y tế. Đó chính là nguồn lực rất cần thiết cung ứng cho sự phát triển của ngành du lịch, đặc biệt là ảnh hưởng đến sự phát triển của tài nguyên du lịch nhân văn, rất cần đến nguồn nhân lực có trình độ có kiến thức hiểu biết. Tuy nhiên, ta thấy lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu hiện nay. Cũng là vấn đề mà tỉnh cần quan tâm trong chiến lược đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển tổng hợp kinh tế – xã hội.

  • Cơ sở hạ tầng Luận văn: Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer.

Giao thông vận tải: với vị trí địa lý khá thuận lợi cho việc giao thương và phát triển kinh tế, xã hội bằng cả đường bộ lẫn đường thủy nên từ lâu mạng lưới giao thông của tỉnh đã được hình thành. Từ Sóc Trăng, du khách có thể đi lại các tỉnh khác trong khu vực ĐBSCL tương đối dễ dàng và nhanh chóng với nhiều tuyến quốc lộ được mở rộng và xây dựng. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 4 tuyến Quốc lộ và 14 tuyến tỉnh lộ với tổng chiều dài hơn 600 km, hệ thống đường huyện, đường giao thông nông thôn hơn 3.700 km. Khoảng cách từ Sóc Trăng đến các tỉnh, thành lân cận như: Bạc Liêu 50 km, thành phố Cần Thơ 63 km, Cà Mau 117 km, TP. Hồ Chí Minh 237 km. Có 4 quốc lộ được xem là tuyến đường huyết mạch của khu vực ĐBSCL chạy qua địa bàn tỉnh.

Quốc lộ 1A là quốc lộ dài nhất kéo dài từ Bắc vào Nam; đến TP. Hồ Chí Minh đi qua các tỉnh Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau tạo sự kết nối giữa Sóc Trăng với các tỉnh lân cận.

Quốc lộ 60 có chiều dài khoảng 110 km, bắt đầu từ ngã ba Trung Lương, TP. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, đi qua các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh và kết thúc tại TP. Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng. Quốc lộ 60 được xây dựng giúp rút ngắn đường đi từ Tp. Mỹ tho đến Tp. Sóc Trăng trên 50 km so với đi theo tuyến quốc lộ 1A.

Quốc lộ Nam sông Hậu, (quốc lộ 91C), dài 165 km xuất phát từ Tp. Cần Thơ qua các tỉnh Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu. Từ khi sử dụng tuyến quốc lộ Nam sông Hậu, đã tạo điều kiện thuận lợi giữa các tỉnh có thể trao đổi hàng hóa nói riêng và với khu vực miền Đông Nam Bộ và cả nước nói chung.

Quốc lộ Quản Lộ – Phụng Hiệp đi qua 4 tỉnh Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau, chạy song song tuyến kênh Quản Lộ – Phụng Hiệp. Tuyên đường này hoạt động giúp giảm lượng xe lưu thông trên Quốc Lộ 1A và rút ngắn khoảng cách từ Cần Thơ đi Cà Mau.

Ngoài ra ở hầu hết các xã trên địa bàn tỉnh các công trình xây dựng giao thông nông thôn đã được nâng cấp, xi măng hóa tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động giao lưu phát triển kinh tế, văn hóa giữa thành thị và nông thôn.

Về đường thủy có tuyến đường biển quốc tế và trong nước qua cửa sông Hậu vào cảng Cần Thơ. Từ Sóc Trăng có thể đi đến hầu hết các tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long và TP. Hồ Chí Minh, với 8 tuyến đường thủy và 13 chiếc tàu. Xuất phát từ Bến tàu cao tốc tại Bến Ninh Kiều, TP. Cần Thơ về đến Sóc Trăng sẽ rút ngắn lộ trình hơn so với đi bằng đường bộ: đến thị trấn Kế Sách đường thủy ngắn hơn đường bộ 41km, đến thị trấn Ngã Năm ngắn hơn 44km, đến cảng Trần Đề ngắn hơn 20 km. Thông qua hệ thống đường thủy, Sóc Trăng có thể đi đến tất cả các tỉnh ở khu vực Nam Bộ và ngược lại sẽ tạo được mối quan hệ liên vùng. Với sự thuận lợi về giao thông như trên, Sóc Trăng đã góp phần thu hút lượng khách du lịch đến đầu tư, giao thương, buôn bán, tham quan, thưởng thức các điểm du lịch của vùng. Luận văn: Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer.

  • Hệ thống điện nước và thông tin liên lạc

Mạng lưới điện đã được phát triển bước đầu đạt được thành tựu đó là 100% xã đều đã có điện trung thế, góp phần đổi mới bộ mặt nông thôn. Tại trung tâm thành phố, lưới điện đã cung cấp đủ nhu cầu cho sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và cho hoạt động du lịch. Đặc biệt việc hoàn thành và đã đưa vào sử dụng điện 22KVA vượt sông Hậu sang các xã ở Cù lao Dung, phong Nẫm và Mỹ Phước tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế- xã hội khu vực này.

Việc cung cấp nước sạch cho người dân cũng là vấn đề được chính quyền tỉnh quan tâm. Hầu hết các huyện và thành phố đều có nước sinh hoạt do công suất của nhà máy nước được nâng cấp lên tới 35.000m3/ ngày. Tỷ lệ hộ sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh tăng đều qua các năm: năm 2015 là 88.4%, 2017 là 91.53%, 2019 là 96% và đến 2023 chiếm 97.04% (Nguồn: Cục Thống kê Sóc Trăng 2023). Đây cũng là yếu tố thuận lợi để cung cấp nguồn nước sạch phục vụ cho du khách khi tới tham quan tại địa phương.

Một tín hiệu rất đáng mừng đó là dịch vụ bưu chính viễn thông của tỉnh hiện nay đã đáp ứng nhu cầu thông tin, kết nối của tỉnh. Có thể tiến kịp với sự phát triển kinh tế của tỉnh và của cả nước. Bưu điện Sóc Trăng kể từ khi đi vào hoạt động với đầy đủ loại hình dịch vụ đã tạo điều kiện cho sự kết nối thông tin trong tỉnh và ngoài tỉnh được nhanh chóng và kịp thời. Tất cả các xã, phường trong tỉnh đều đã có bưu điện là một bước tiến mới trong sự phất triển kinh tế của tỉnh, đồng thời cũng là một công cụ hữu hiệu phục vụ khách du lịch.

Có thể nói cơ sở vật chất kỹ thuật của vùng ngày càng được hoàn thiện sẽ tạo đà cho sự phát triển của hoạt động du lịch, đặc biệt là đối với sự phát triển của tài nguyên du lịch nhân văn, rất cần sự vững mạnh của cơ sở vật chất kỹ thuật.

  • Hệ thống giáo dục

Nhìn chung hệ thống giáo dục tỉnh Sóc Trăng có cơ sở hạ tầng tương đối hoàn thiện, với đầy đủ các cấp học đã đáp ứng được nhu cầu học tập cho nhiều đối tượng. Tính đến 30 tháng 09 năm 2023 toàn tỉnh Sóc Trăng có 443 trường học, lớp học phổ thông ở các cấp. Cùng thời điểm đó tổng số học sinh phổ thông đạt 206.550 học sinh, trong đó cấp tiểu học là 116.604 học sinh, cấp trung học cơ sở là 72.809 học sinh. Tổng số giáo viên phổ thông trực tiếp giảng dạy đạt 12.987 người, trong đó, giáo viên tiểu học là 6.688 người, giáo viên trung học cơ sở là 4.416 người, giáo viên trung học phổ thông là 1.883 người (Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2023). Luận văn: Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer.

Có thể nói giáo dục Sóc Trăng trong thời gian qua đã có sự chuyển mình theo hướng tích cực, không ngừng đổi mới về phương pháp, nâng cao chất lượng từ giảng dạy đến đào tạo. Hiện tại toàn tỉnh có 3 trường cao đẳng: Cao đẳng cộng đồng Sóc Trăng, cao đẳng Nghề Sóc Trăng, Cao đẳng Sư phạm Sóc Trăng ; một số trường trung cấp, trung tâm dạy nghề, trung tâm giáo dục thường xuyên… với vai trò đào tạo nguồn nhân lực cho tỉnh Sóc Trăng trong tương lai, để phục vụ cho các ngành kinh tế, trong đó có ngành du lịch, rất cần nguồn nhân lực có chất lượng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ Đó cũng là một trong những yêu cầu cấp thiết cho sự phát triển của loại hình du lịch dựa trên tài nguyên du lịch nhân văn của tỉnh.

  • Đường lối chính sách 

Tỉnh ủy Sóc Trăng luôn có chính sách mở cửa, ưu đãi đối với các nhà đầu tư tới Sóc Trăng. Vì vậy trong thời gian qua số vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh không ngừng tăng qua các năm: năm 2017 vốn của khu vực ngoài nhà nước là 3.707.036 triệu đồng, đến năm 2020 là 4.606.212 triệu đồng và tính sơ bộ năm 2023 là 5.606.192 triệu đồng; vốn khu vực đầu tư trực tiếp của nước ngoài năm 2020 là 10.285 triệu đồng, tính sơ bộ đến 2023 là 88.000 triệu đồng. Một số chính sách ưu đãi của tỉnh như:

Miễn, giảm tiền sử dụng đất: áp dụng theo quy định tại Điều 1, Nghị định số 44/2015/NĐ-CP của chính phủ.

Miễn, giảm thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị tạo tài sản cố định: áp dụng theo quy định tại nghị định số 149/2012/NĐ-CP của chính phủ.

Giảm thuế thu nhập doanh nghiệp:  áp dụng theo quy định tại Điều 15, nghị định số 124/2015/NĐ-CP của Chính phủ.

Những chính sách trên đã thu hút mạnh mẽ các nhà đầu tư tới tỉnh Sóc Trăng, đăng kí các dự án trên các lĩnh vực khác nhau. Điều đó sẽ tạo cơ hội cho nền kinh tế của tỉnh nói chung ngày càng có nhiều khởi sắc và cho ngành du lịch nói riêng sẽ có những bước tiến mới, xứng tầm với tiềm năng của vùng.

Qua phân tích tác giả thấy sự hình thành và phát triển tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer ở Sóc Trăng chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố. Mỗi nhân tố lại có một vai trò khác nhau, nếu biết khai thác hợp lí, phát huy tối đa những lợi thế, thì các nhân tố thực sự trở thành nguồn lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của ngành du lịch nói chung tới sự hình thành và phát triển của tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer ở tỉnh Sóc Trăng nói riêng.

Với vị trí địa lí có nhiều thuận lợi, tỉnh Sóc Trăng có thể giao lưu với các tỉnh thuộc ĐBSCL và với các tỉnh trong cả nước khác bằng cả đường thủy lẫn đường bộ. Đối với du lịch, vị trí còn là nhân tố có ý nghĩa quan trọng ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận của khách du lịch. Hầu hết nguồn tài nguyên du lịch nhân văn như các ngôi chùa, lễ hội… đều tập trung ở trung tâm của tỉnh đó là thành phố Sóc Trăng, nên khách du lịch đến tham quan sẽ dễ dàng có thể tiếp cận được.

Nhân tố tự nhiên được coi là một trong những “phần cứng” của ngành du lịch, có ý nghĩa nhất định trong sự phát triển của các hoạt động du lịch. Ví dụ như khí hậu của tỉnh Sóc Trăng thích hợp cho hoạt động khai thác tài nguyên du lịch nhân văn có thể diễn ra quanh năm, tổng hòa nhân tố địa hình, đất, nước, tài nguyên rừng và biển sẽ tạo nên sự đa dạng các loại hình du lịch. Đến Sóc Trăng du khách không chỉ tìm hiểu giá trị văn hóa mà còn có thể thưởng thức loại hình du lịch sinh thái.

Nhân tố kinh tế – xã hội là đòn bẩy thúc đẩy sự hình thành và phát triển tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer tỉnh Sóc Trăng. Đời sống dân cư đảm bảo người dân sẽ có nhu cầu hơn đối với các hoạt động du lịch, cơ sở hạ tầng ngày càng hoàn thiện, đường lối chính sách có nhiều ưu đãi… sẽ tạo đà cho ngành du lịch của tỉnh có bước nhảy vọt trong sự phát triển kinh tế nói chung.

2.3. Hiện trạng tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer tỉnh Sóc Trăng Luận văn: Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer.

Sóc trăng là nơi giao thoa của 3 dân tộc cùng sinh sống, nên mảnh đất này đã hội tụ nền văn hóa đa dạng nhưng vẫn giữ được bản sắc riêng của mỗi dân tộc, được coi là xứ sở của lễ hội và những ngôi chùa với kiến trúc độc đáo bậc nhất của Nam bộ. Đã tạo cho tỉnh Sóc Trăng nguồn tài nguyên du lịch nhân văn phong phú hấp dẫn thu hút khách du lịch, đó là yếu góp phần cho ngành du lịch của tỉnh không ngừng phát triển mạnh mẽ trong thời gian qua.

2.3.1. Di tích lịch sử văn hóa 

Từ lâu Sóc Trăng đã nổi tiếng là một vùng đất với nhiều công trình kiến trúc không chỉ có giá trị về mặt văn hóa mà còn mang giá trị về mặt nghệ thuật hết sức độc đáo và sáng tạo của dân tộc Khmer. Đã phần nào thỏa mãn được nhu cầu của du khách khi tới đây tham quan.

  • Chùa KhLeang

Là một trong những ngôi chùa cổ nhất của dân tộc Khmer ở Sóc Trăng, được xây dựng vào khoảng thế kỷ XVI khoảng năm 1533 gắn liền với truyền thuyết về địa danh Sóc Trăng. Ngôi chùa tọa lạc ở số 71 đường Mậu Thân phường 6 rất gần trung tâm Tp. Sóc Trăng, được xây dựng theo lối kiến trúc của chùa Phật giáo Nam Tông ở Thái Lan và Campuchia.

Chùa KhLeng nằm trên khuôn viên rộng khoảng 3 ha, nền đất khá cao, không gian thoáng đãng, xung quanh chùa có nhiều cây xanh. Ban đầu chùa được làm bằng gỗ, mái lợp lá. Chùa có kiến trúc như ngày nay là do đã được trùng tu cách đây hơn 90 năm với vật liệu là gạch và lợp mái ngói.

Chùa gồm nhiều công trình với những chức năng khác nhau như: Chính điện (Sala) dùng làm nơi tổ chức những sinh hoạt theo nghi lễ cổ truyền; nhà ở của sư trụ trì, nhà ở của các sư sãi; tháp đựng tro cốt của người quá cố, lò thiêu xác; nhà khách, trường dạy học tiếng Khmer.

Trong đó nổi bật nhất là tòa chính điện, với kiến trúc độc đáo, khá phức tạp nằm biệt lập bên trái con đường dẫn vào chùa, được xây dựng vào năm 1918 dựng bằng 6 hàng cột dọc và 60 cây cột trụ; bờ mái gồm 3 cấp, thoải dần, mỗi cấp lại chia thành 3 nếp, nếp giữa lớn hơn nếp phụ ở hai bên và không có tháp nóc. Bên trong tòa chính điện có rất nhiều tượng Phật, nằm chính giữa là pho tượng Thích Ca cao 2.2 m ngồi trên tòa sen cao 2.5 m và bệ tượng cao 1.3m. Trên trần và tường được vẽ nhiều hình ảnh hoa văn thể hiện sự hòa hợp giữa Phật pháp và hội họa.

Mái chùa cũng được trang trí bằng phù điêu hình chim thú biểu tượng cho triết lý nhà Phật, đây chính là một công trình kiến trúc độc đáo đã thể hiện được quan niệm, triết lý về mối giao hòa giữa Phật – con người – trời của người Khmer.

Trong chùa còn trưng bày các vật dụng của người Khmer xưa với ý nghĩa bảo tồn nét sinh hoạt văn hóa cổ xưa của dân tộc. Hàng năm chùa KhLeang còn là nơi diễn ra những buổi lễ quan trọng nhất trong những ngày lễ truyền thống của dân tộc Khmer như: Lễ năm mới (Chol ChnamThmay), lễ cúng ông bà (lễ Dôn ta), lễ cúng trăng vào ngày 15/10 âm lịch và tổ chức đua ghe ngo (Nguồn: Sở văn hóa và thể thao du lịch tỉnh Sóc Trăng).

Có thể nói, đây là một trong những ngôi chùa cổ còn giữ được nhiều giá trị kiến trúc và có ý nghĩa rất quan trọng về mặt tâm linh trong đời sống sinh hoạt và văn hóa của dân tộc Khmer. Chùa Khleang được Bộ văn hóa – thông tin công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia. Luận văn: Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer.

  • Chùa Dơi

Được xây dựng vảo khoảng thế kỷ thứ XVI cách đây khoảng 400 năm, có tên gọi cổ xưa là chùa Mã Tộc. Ban đầu chùa được xây dựng bằng vật liệu tre lá, sau đó mới được xây lại bằng tường gạch và mái ngói nhưng vẫn giữ nguyên vẹn hình dáng sơ khai của chùa. Với 600 ngôi chùa của người Khmer ở ĐBSCL, 92 ngôi chùa ở Sóc Trăng thì chùa Dơi nổi bật là một quần thể kiến trúc đẹp và độc đáo vào loại nhất của dân tộc Khmer, nằm ở phường 3 Thành phố Sóc Trăng cách trung tâm 2 km.

Đến tham quan chùa Dơi, du khách được giải đáp ngay tên gọi có phần kỳ lạ, gọi là chùa Dơi vì đây là nơi trú ngụ của hàng trăm ngàn con dơi sinh sống trên các cành cây ở khuôn viên sau chùa, ban ngày chúng ngủ treo mình lên các cành cây, ban đêm bay xa hàng chục cây số kiếm thức ăn và tuyệt nhiên có một điều đặc biệt là chúng không hề đụng đến trái cây trong chùa, mặc dù chùa tọa lạc giữa khu vườn rộng tới 3 ha um tùm cây trái.

Chùa Dơi mang nét kiến trúc truyền thống của người Khmer, gồm 3 phần chính: chánh điện, Sala và nhà thờ sư cả. Trong tòa chánh điện có pho tượng Phật Thích ca bằng đá nguyên khối nằm trên tòa sen cao khoảng 2m đem đến sự thanh tịnh uy nghi cho ngôi chùa. Nét đặc sắc của chùa Dơi thể hiện nhiều ở phần mái chùa; mái chùa gồm hai tầng lợp ngói mầu, phía đầu hồi bốn đầu mái được chạm trổ theo hình rắn Naga cong vút rất tinh xảo. Nhìn trên đỉnh chùa là một ngọn tháp nhọn, bao quanh chùa là hàng cột trên mỗi cột có một tượng tiên nữ Kemnar đôi tay chắp trước ngực gợi hình ảnh như đang đón chào du khách. Trên tường chùa là những bức tranh được vẽ để miêu tả về cuộc đời của Đức Phật từ lúc sinh ra rồi tới lúc về cõi niết bàn. Trong khuôn viên chùa còn có nhiều bảo tháp lưu giữ di hài của các nhà sư quá cố, lò hỏa táng, nhà ở của các sư… vào năm 2014 tòa chánh điện ở chùa bị cháy, nhưng được sự quan tâm của nhà nước cho trùng tu lại. Chùa Dơi được xếp hạng cấp quốc gia vào năm 2006.

  • Chùa Sà Lôn

Còn gọi là chùa Chén Kiểu. Nằm trên quốc Lộ 1A hướng từ thành phố Sóc Trăng đi Bạc Liêu thuộc xã Đại Tâm huyện Mỹ Xuyên. Là một ngôi chùa cổ thuộc hệ thống Phật giáo của người Khmer, có nét kiến trúc vô cùng độc đáo. Thủa ban đầu chùa được dựng bằng gỗ lợp lá rừng, trong thời kỳ chiến tranh chùa bị tàn phá, sau được vị sư cả Tăng Đuch trụ trì đời thứ 9 dựng lại vào năm 1969. Tương truyền khi xây chùa do không đủ kinh phí nên các vị sư trong chùa đã nhờ người dân quyên góp chén đĩa bị vỡ để ốp lên tường. Chính điều này đã tạo nên một bức tranh cuốn hút sinh động với các họa tiết nổi bật có sự kết hợp của cả ba dân tộc Kinh, Hoa, Khmer. Đặc biệt khi có ánh nắng chiếu vào, vẻ đẹp của chùa càng tăng thêm bởi màu sắc nổi bật.

Đi từ cổng chùa vào trong, du khách sẽ thấy trưng bày trước cổng là hai con sư tử khá lớn hướng ra mặt đường với ý nghĩa ngăn chặn điều xấu, bảo vệ cho chùa. Trên thành cổng có dòng chữ Khmer và chữ quốc ngữ “chùa Sà Lôn (Chén Kiểu)”. Bên trên là ba ngôi tháp, tháp ở giữa cao hơn hai tháp bên được chạm khắc, đắp nổi các biểu tượng mang tính biểu trưng văn hóa truyền thống của người Khmer ở Nam Bộ. Xung quanh chùa là hệ thống tường rào được trang trí hình tượng tiên nữ Apsara đang múa, đi dọc lối dẫn vào chùa là hai hàng tượng thần Kaayno. Khuôn viên trong chùa có khá nhiều cây xanh, tạo cảm giác thông thoáng yên bình. Chùa Sà Lôn thu hút đông đảo khách du lịch tới tham quan bởi lối kiến trúc độc đáo và đẹp mắt.

  • Bảo tàng văn hóa Khmer Luận văn: Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer.

Nằm ở góc giao giữa đường Nguyễn Chí Thanh và Tôn Đức Thắng, đối diện với chùa Kh’Leang, thuộc phường 6 thành phố Sóc Trăng. Công trình bảo tàng Khmer được xây dựng vào năm 1938 có kiến trúc đẹp theo lối chùa của người Khmer với phần mái nhọn và cong đặc trưng.

Đây là một trong những bảo tàng lâu đời còn trưng bày nhiều hiện vật văn hóa của người Khmer ở ĐBSCL. Có nhiều hiện vật quý phản ánh đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của dân tộc Khmer qua nhiều thế hệ như: trang phục, kiến trúc nhà ở, chùa, nhạc cụ… là một điểm tham quan hấp dẫn du khách tới tìm hiểu nghiên cứu về mảnh đất Sóc Trăng và văn hóa Khmer.

Trong bảo tàng đã sưu tầm và lưu giữ tới hơn 13.000 hiện vật, trong đó một nửa là do người Khmer đóng góp gồm các nhạc cụ, các bộ y phục, các bộ sách lá buông… điều đó chứng tỏ được khả năng thẩm mỹ và óc sáng tạo của người Khmer. Được chiêm ngưỡng những hiện vật này sẽ giúp du khách hiểu rõ hơn về cộng đồng người Khmer.

2.3.2. Lễ hội

Vùng đất Sóc Trăng được mệnh danh là xứ sở của những lễ hội ở Nam Bộ. Lễ hội mang đậm âm hưởng của tôn giáo và gắn liền với những ngôi chùa bởi người Khmer ở Sóc Trăng có tôn giáo chính là Phật giáo Nam Tông. Có thể nói lễ hội chính là một trong những mảng văn hóa tiêu biểu trong đại thể văn hóa chung của người Khmer, đó cũng là nguồn tài nguyên du lịch nhân văn quý giá của tỉnh Sóc Trăng cần giữ gìn và phát huy. Một số lễ hội thu hút số lượng lớn người dân, khách du lịch tham gia có ý nghĩa với sự phát triển của ngành du lịch tỉnh Sóc Trăng là:

  • Lễ Chôl Chnăm Thmây

Đây là một trong ba lễ hội quan trọng nhất của người Khmer ở ĐBSCL nói chung và ở Sóc Trăng nói riêng. Lễ Chôl Chnăm Thmây còn được gọi là “Tết năm mới” hay “Lễ chịu tuổi” được diễn ra vào giữa tháng 4 dương lịch hàng năm, khi mà hầu hết nông dân có thời gian rảnh rỗi sau một năm vất vả với công việc đồng áng, và cũng là chuẩn bị cho một vụ mùa mới.

Lễ Chôl Chnăm Thmây thường được tổ chức khoảng đầu tháng Chét theo lịch Phật giáo Khmer. Kéo dài trong 3 ngày, năm nhuận kéo dài 4 ngày. Mọi người đều hào hứng rộn ràng chăm lo để ngày tết có thể chu toàn, họ chuẩn bị những bộ quần áo mới nhất đẹp nhất, nhà cửa đều được sửa sang quét dọn sạch sẽ trang trí nổi bật hơn ngày thường, thực phẩm từ gạo bánh trái hoa quả thịt cá … đều đầy đủ sẵn sàng cho ngày tết. Trong đêm giao thừa, nhà nào cũng làm cỗ, thắp hương, đốt đèn.Trên bàn thờ có bày sẵn năm nhánh hoa, năm cây đèn cầy, năm cây nhang, năm hạt cốm và nhiều loại cây quả. Cả gia đình ngồi xếp chân trước bàn thờ tổ tiên, khấn vái 3 lần để tiễn đưa Têvađa cũ rước Têvađa mới, mong và tin rằng sẽ được thần ban phước lành. Họ tin rằng Têvađa là ông tiên được trên trời sai xuống chăm sóc dân chúng trong trần gian.Ở các chùa sư sãi đánh trống hoặc đánh chuông và tụng kinh để đón Têvađa năm mới. Tục cúng đêm giao thừa của người Khmer gần giống tục đón giao thừa của người Kinh về mặt tâm linh, cũng mong một năm mới được an vui tốt lành bỏ đi những gì xui rủi của năm cũ đón chào năm mới. Luận văn: Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer.

Trong 3 ngày tết, khắp các chùa và các phum sóc của người Khmer không khí rất náo nhiệt, mỗi ngày tết có một tên gọi khác nhau:

Ngày thứ nhất (Chaaul Sang Kran Thmei) gọi là “Maha Sâng Kran” đó là ngày làm lễ rước Đại lịch được coi là nghi thức quan trọng nhất trong ngày đầu tiên của năm mới. Trong ngày này mọi người tắm gội, mặc những bộ quần áo đẹp đã chuẩn bị đội cỗ lên chùa vào buổi sáng hoặc chiều làm lễ rước Đại lịch Moha Sang Kran. Moha Sang Kran được đặt trong khay sơn son thiếp vàng đưa lên kiệu khiêng đi vòng quanh chính điện ba vòng trang trọng, vừa là lễ chào mừng năm mới vừa chờ điềm báo năm mới tốt hay xấu tùy vào cuộc rước có hoàn thiện hay không rồi mới vào chính điện làm lễ, lúc này các sư bắt đầu thực hiện nghi lễ cầu bình an cho người dân.

Ngày thứ hai (Wonbat) còn gọi là “Pun Phrôm Khoach” – ngày làm lễ dâng cơm và đắp núi cát, nếu là năm nhuận thì có hai ngày Wonbat. Vào ngày này bà con Khmer làm cơm tới dâng cho các vị sư sãi ở chùa vào buổi sớm và trưa. Trước khi ăn các nhà sư tụng kinh làm lễ tạ ơn những người làm ra vật thực và những người đem vật thực tới nhà chùa. Đến buổi chiều tổ chức lễ đắp núi cát để tìm phúc duyên, mọi người đắp cát thành nhiều ngọn núi nhỏ theo tám hướng và một núi ở trung tâm theo vũ trụ. Họ quan niệm khi đắp núi cát càng cao thì sẽ tích được nhiều phước lành xua đi điều ác, tích được nhiều phước lành.

Ngày thứ ba được gọi là Lơm Săk – ngày Lễ tắm Phật. Vào buổi sáng sớm dâng cơm cho các nhà sư, họ tiếp tục nghe thuyết pháp. Chiều, đốt đèn nhang, dang lễ vật, đưa nước có hương thơm đến tắm tượng Phật. Với lòng biết ơn thương nhớ Đức Phật đồng thời gột rửa mọi điều không may của năm cũ, bước sang năm mới, mọi sự được như ý. Sau đó tắm cho các vị sư sãi cao niên. Sau lễ tại chùa mọi người rước các nhà sư tới nghĩa trang, để thực hiện lễ cầu siêu cho người quá cố, cuối cùng là trở về nhà làm lễ tắm tượng Phật tại nhà mình, dâng cỗ chúc phúc ông bà cha mẹ, xin tha thứ những thiếu sót, lỗi lầm của năm cũ.

Tết Chôl Chnăm Thmây là lễ hội truyền thống lớn nhất của đồng bào Khmer ở Sóc Trăng trong năm. Những ngày diễn ra tết Chôl Chnăm Thmây, mọi người nghỉ ngơi đi chúc tết thăm hỏi lẫn nhau. Ở các Phum sóc nhất là tại nhà chùa không khí thật náo nhiệt, có nhiều hoạt động vui chơi giải trí đa dạng hấp dẫn mọi người. Nên tết Chôl Chnăm Thmây không chỉ là dịp mừng thành quả sau một năm lao động vất vả mà còn là dịp để giáo dục con cháu thế hệ mai sau lòng hiếu thảo với ông bà cha mẹ, người có ơn với mình đã mất; cũng là để đồng bào sum họp gặp gỡ gia đình hướng mọi người làm việc thiện để năm mới bản thân và gia đình được an vui hạnh phúc.

Đó còn là ngày hội văn hóa, gắn bó đoàn kết giữa các dân tộc anh em. Nếu đến Sóc Trăng vào những ngày diễn ra lễ Chôl Chnăm Thmây, du khách sẽ được cảm nhận một cách sâu sắc nhất về lễ hội cũng như bản sắc văn hóa của người Khmer.

  • Lễ Dolta Luận văn: Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer.

Còn gọi là tết Sen Đolta với ý nghĩa “cúng ông bà tổ tiên” được coi như lễ vu lan, báo hiếu của đồng bào Khmer Nam Bộ. Được đồng bào Khmer tổ chức vào khoảng cuối tháng 8 âm lịch hàng năm. Với mục đích nhằm tưởng nhớ đến công ơn của cha mẹ, họ hàng, cầu phước cho linh hồn người đã khuất và tri ân tổ tiên đã khai phá đất đai phù hộ cho phum, sóc an vui.

Lễ Sen Đolta mang âm hưởng thâm trầm, đậm sắc thái văn hóa, tín ngưỡng của người Khmer Nam Bộ nói chung và người Khmer ở Sóc Trăng nói riêng. Bắt nguồn từ tín ngưỡng dân gian chứa đựng những yếu tố mang ý nghĩa tích cực như: thể hiện được truyền thống đạo lí “cây có cội, nước có nguồn” của cộng đồng dân tộc Việt Nam, mang tính nhân văn và tính giáo dục đạo đức sâu sắc; thông qua nội dung lễ hội đã giúp cho gia đình sum họp, đầm ấm thắt chặt tình đoàn kết yêu thương giúp đỡ nhau trong phum sóc Chính vì vậy vật tượng trưng cho ý nghĩa đó không thể thiếu được là bánh tét (đồng bào gọi là num – Chruôt).

Về mặt tâm linh, từ xa xưa đồng bào Khmer cho rằng ngoài thế giới hiện hữu còn có thế giới hồn linh; con người chỉ chết đi về thể xác, còn linh hồn thì vẫn tồn tại ở cõi vĩnh hằng. Xuất phát từ ý niệm đó, hình thức “Sen” (cúng) là một lễ thức không thể thiếu trong đời sống tâm linh của đồng bào với mục đích là để vừa bày tỏ lòng biết ơn, vừa cầu mong đạt được những điều tốt lành, phước đức của người đang sống với người đã chết. Việc “Sen” chủ yếu nhằm vào 2 đối tượng là linh hồn những người đã chết có quan hệ huyết thống với mình và những người có công tạo lập, bảo vệ cộng đồng dân tộc (Nguồn: Dulichsoctrang.org).

Lễ Sen Đolta được tổ chức trong 3 ngày, trong những ngày này diễn ra nhiều hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và các hoạt động khác biểu hiện phong tục, tập quán diễn ra đan xen với nhau. Được tổ chức tại các chùa, gia đình nào cũng đều nấu một mâm cơm thật tươm tất mang đi chùa cúng vào ngày 30 tháng 8 âm lịch.

Ngày thứ nhất: còn gọi là ngày cúng tiếp đón. Mỗi gia đình đều dọn dẹp nhà cửa, lau chùi bàn thờ tổ tiên sạch sẽ, trang hoàng lộng lẫy. Sau đó, dọn mâm cơm ngon cùng bánh trái, rượu trà và để bốn chén cơm với bốn đôi đũa ở bốn góc giường thờ, mời họ hàng thân tộc trong phum sóc đến thắp nhang đèn cúng kiến. Mọi người cùng chắp tay lạy và đọc kinh cầu nguyện cho linh hồn những người thân quá cố. Sau đó gia chủ gắp thức ăn mỗi món một ít, rót một chút rượu và trà cúng lên bốn chén cơm xong đem đi đổ ở bốn góc rào chung quanh nhà, mỗi nơi cắm một nén nhang mời linh hồn ông bà về dự cùng con cháu. Buổi chiều, chủ nhà mời linh hồn ông bà cùng đến chùa nghe sư sãi tụng kinh cầu siêu và thuyết pháp cho đến tối sau khi đã làm mâm cơm. Buổi tối các vị Achar lấy những nắm cơm vắt đựng trên mâm cúng tam bảo, mời sư sãi tụng kinh cầu siêu cho linh hồn người quá cố, rồi để ra ngoài chính điện cúng cho những vong hồn cô đơn. Bên cạnh đó các trò chơi dân gian, văn nghệ và thể thao được tổ chức tại sân chùa thu hút đông đảo bà con cùng tham gia.

Ngày thứ hai: là ngày cúng chính. Đồng bào Khmer cho rằng linh hồn ông bà mình đã ở chùa từ tối hôm qua, đến trưa ngày hôm sau thì mọi nhà chuẩn bị mâm cơm ngon cùng bánh trái mang vào chùa tổ chức lễ cúng chính. Buổi chiều rước linh hồn ông bà về nhà, làm mâm cơm mới cúng ông bà và mời ông bà ở lại chứng kiến cuộc sống sung túc của con cháu. Tiếp đó họ hàng bà con lối xóm trong phum sóc mời nhau ăn uống và cùng nhau vui chơi múa hát theo điệu nhạc và tiếng trống cho đến đêm tối.

Ngày thứ ba: “ngày cúng tiễn” mỗi nhà lại làm mâm cơm và thủ tục như ngày đầu, nhưng chủ nhà gắp thức ăn vào chén, và đổ bốn chén này vào chiếc thuyền làm bằng bẹ chuối, gắn thêm hình nộm cá sấu và treo cờ phướn hình tam giác, thắp một nén nhang rồi thả chiếc thuyền này xuống sông rạch gần nhà để tiễn ông bà về thế giới bên kia. Xong xuôi mọi người mời nhau ăn uống chung vui cho hết ngày cúng. Lễ hội này là thể hiện hiếu đạo của con cái với cha mẹ ông bà tổ tiên nên dù con cháu có đi làm ăn xa xôi nào cũng phải xắp xếp để sum họp với gia đình vào ngày cuối cùng của lễ.

Lễ hội Sen Đolta thể hiện sâu sắc tư tưởng Phật giáo ăn sâu vào tâm thức của mỗi người dân Khmer nên có ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Lễ hội này được tổ chức không chỉ để tưởng nhớ đến công ơn những người đã mất mà còn thể hiện tấm lòng thành kính của con cháu đối với cha mẹ ông bà còn sống. Nên mọi người đều chuẩn bị những món ngon hoặc cũng có thể là những sản vật gần gũi với cuộc sống hàng ngày nhưng đều rất tươm tất bày tỏ lòng hiếu kính. Đây là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc Khmer, cần bảo tồn và lưu truyền. Luận văn: Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer.

  • Lễ Ook Om Bok và hội đua ghe Ngo

Lễ hội Ook Om Bok còn được gọi là “lễ cúng trăng”. Đây là lễ hội truyền thống lâu đời của dân tộc Khmer ở ĐBSCL nói chung và ở Sóc Trăng nói riêng. Lễ cúng trăng được tổ chức vào ngày 15 tháng Ka- Đât theo lịch Khmer (tức ngày 15 tháng 10 âm lịch) hàng năm; cầu cho mưa thuận gió hòa mùa màng tốt tươi, lễ Ook Om Bok cũng là lễ tiễn mùa mưa, chào đón mùa khô.

Trong đời sống tâm linh của người Khmer, thần mặt trăng được xem là vị thần quan trọng nên được cộng đồng Khmer suy tôn và thờ cúng. Theo quan niệm từ xưa đến nay của đồng bào Khmer thì mặt trăng được coi là một vị thần điều tiết mưa nắng, đem lại sự phát triển thuận lợi cho mùa màng và công việc đồng áng của họ. Khi mùa màng đã thu hoạch xong, họ làm lễ cúng trăng để thể hiện lòng biết ơn của đồng bào với mặt trăng, xin mặt tiếp nhận những lễ vật do đồng bào dâng. Đặc biệt trong lễ cúng trăng cốm dẹp là vật cúng chính không thể thiếu bên cạnh các nông sản khác như dừa, chuối, khoai lang, khoai mì.

Trước một ngày lễ cúng trăng, vào đêm 14 tháng 10 âm lịch của người Khmer diễn ra tục lệ thả đèn nước, là một trong những hoạt động không thể thiếu trong lễ hội Ook Om Bok. Chiếc đèn cho nghi thức này có cấu tạo như một ngôi đền, thường được làm bằng thân và bẹ chuối, có trang trí hoa văn và gắn hệ thống đèn nhiều màu sặc sỡ. Đầu đèn có treo cờ phướn, chung quanh cắm đèn cầy và nhang, bên trong có bày các thức cúng. Mở đầu buổi lễ thả đèn nước, sư sãi và đồng bào Khmer thắp nến và nhang xung quanh đèn rồi tụng kinh để tưởng nhớ đến Đức Phật và xin lỗi Đất và Nước vì đã làm dơ bẩn, ô nhiễm nguồn nước và đào xới đất.

Vào ngày 15 tháng 10 âm lịch, không khí quanh phum sóc diễn ra nhộn nhịp. Buổi chiều mỗi gia đình đều đã chuẩn bị chu đáo các lễ vật, đến buổi tối khi mặt trăng vừa ló ra, gia chủ xắp xếp đồ cúng đặt lên một cái bàn đặt trước sân, mọi người đến tham dự sẽ ngồi chắp tay quay mặt về phía mặt trăng làm lễ chờ trăng lên.Mở màn buổi lễ là tiếng nhạc rộn ràng từ dàn ngũ âm dưới trăng sáng, làm không gian của buổi lễ càng trở nên huyền diệu. Khi trăng lên cao mặt trăng tỏa sáng mọi người sẽ đốt nhang, đèn và rót trà làm lễ tạ ơn mặt trăng sau đó mời một người cao tuổi có uy tín trong phum sóc hoặc trong nhà để làm lễ, người chủ lễ khấn vái tạ ơn và đọc kinh cầu phúc. Cúng xong là nghi thức đút cốm dẹp, dưới ánh trăng người cao tuổi sẽ tận tay đút từng miếng cốm vào miệng của trẻ nhỏ kèm theo những câu hỏi về ước mong của cuộc sống, những câu trả lời của các em sẽ là niềm tin của người lớn vào năm mới. Khi kết thúc nghi lễ đút cốm mọi người quây cùng nhau thưởng thức các lễ vật đã cúng để hưởng phước, các em nhỏ thì vui chơi múa hát.

Nghi thức cúng trăng tại chùa được tổ chức qui mô hơn bởi mang tính cộng đồng phum sóc. Nhà chùa chuẩn bị ba cây tre thật thẳng đốn về làm bàn lễ. Hai cậy được trồng cách nhau 4-5m. Cây còn lại được buộc vào 2 cây kia song song với mặt đất tạo thành một chiếc cổng. Cổng được trang trí hoa lá rực rỡ, phía dưới đặt một cái bàn để làm lễ cúng cùng các vật phẩm. Phía trước bàn lễ trải chiếu để bà con ngồi lễ. Luận văn: Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer.

Ngoài phần lễ ở trên, phần hội cũng thu hút không kém với nhiều hoạt động như: văn nghệ, đua ghe ngo, thả đèn nước, đèn lồng gió, thi kéo co, đập nồi đất… Một trong những hoạt động sôi nổi và náo nhiệt nhất, được mọi người mong chờ nhất là hội Đua Ghe Ngo. Ghe Ngo theo tiếng người Khmer là “Tuk ngo”, một loại thuyền độc mộc lớn khoét từ thân cây gỗ tốt, hình thoi dài khoảng 22 đến 24m, ngang 1.2m có từ 50-60 tay chèo. Ngày nay không còn thân gỗ lớn để làm thuyền nên Ghe Ngo được đóng bằng nhiều tấm ván ghép vào nhau. Chiếc Ghe Ngo có mũi và lái đều cong lên, thân được trang trí hoa văn sặc sỡ, đầu ghe có vẽ con thú tượng trưng cho đội mình. Đua Ghe Ngo quy tụ người khắp phum sóc mới thành một đội nên đòi hỏi tính đoàn kết cao. Chiếc Ghe Ngo được bảo quản tại chùa được che chắn rất cẩn thận tránh mưa nắng, mối mọt và nơi giữ Ghe Ngo là nơi thiêng liêng khi xưa phụ nữ không được đến gần là điều cấm kỵ.

Trước ngày hội đua Ghe Ngo cả tháng, các chùa đã chuẩn bị tuyển chọn các tay chèo là các chàng trai Khmer khỏe mạnh trong các phum sóc để tập luyện sức dẻo dai và sự điêu luyện khi điều khiển thuyền. Ghe Ngo chỉ được sử dụng vào việc thi đấu, mọi hoạt động liên quan đến ghe đều phải cử hành lễ cầu xin như: lễ khởi công làm ghe ngo, lễ khánh thành ghe ngo, lễ mặc áo cho nghe ngo. Trước giờ đua, người ta làm lễ vật chính là Sla-tho làm bằng quả dừa hoặc thân cây chuối để cắm nhang và nến, sau đó vị sư cả và đại diện phum sóc chọn những thanh niên khỏe mạnh, lực lưỡng làm quân bơi, cử một ngồi ở đầu ghe làm chỉ huy. Đến giờ định người ta thắp nhang, đèn cầy, đánh chiêng trống, ngũ âm reo hò, tập hợp lực lượng. Vị sư cả hoặc thành viên Ban quản trị đứng ra làm chủ lễ, khấn nguyện vị thần bảo hộ ghe ngo đi theo giúp sức để ghe giành chiến thắng. Tàn nhang họ tập hợp lực lượng đẩy ghe xuống nước để đưa đi đến nơi tập hợp. Bắt đầu cuộc đua khi tiếng trống tiếng loa vang rộng hòa trong tiếng reo hò cổ vũ náo động của hàng trăm nghìn người, từng chiếc ghe ngo lao vun vút phóng nhanh tranh nhau về đích. Những đội giành chiến thắng giải thưởng họ đều đem về chùa cúng, với mục đích vui là chính lễ hội còn thể hiện khát khao có một mùa màng bội thu cuả người Khmer. Chính vì vậy lễ hội “Đua Ghe Ngo” là một loại hình thể thao hấp dẫn, náo nhiệt thu hút người xem, từ lâu đã trở thành thương hiệu sản phẩm du lịch nổi tiếng của Sóc Trăng.

Lễ hội Ook Om Bok của đồng bào Khmer ngày càng phát triển mạnh mẽ, những năm gần đây lễ hội đã trở thành sự kiện văn hóa truyền thống lớn của Sóc Trăng nói riêng và khu vực ĐBSCL nói chung. Năm 2020 đã trở thành “Festival đua ghe ngo đồng bào Khmer, Đồng bằng sông Cửu Long”.

  • Lễ Thác Côn

Bên cạnh những lễ hội truyền thống chung của dân tộc, đồng bào Khmer ở Sóc Trăng còn có những lễ hội riêng hết sức độc đáo, như: lễ hội cúng Phước Biển, lễ hội Thác Côn…

Lễ hội Thác Côn còn được dân gian gọi với cái tên khác rất đặc biệt đó là lễ hội Cúng Dừa bởi vật cúng chủ yếu trong lễ hội này là hàng ngàn trái dừa tươi. Lễ hội diễn ra được tính theo Phật lịch của người Khmer, tương ứng với rằm tháng ba âm lịch vào các ngày 15, 16 và 17. Lễ hội được tổ chức tại An Trạch, thị trấn Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.

Lễ hội Thác Côn xuất hiện cách đây gần trăm năm, gắn liền với truyền thuyết về chiếc Cồng Vàng của vùng An Trạch xưa. Truyền thuyết kể rằng: ngày xưa ở vùng An Trạch tự nhiên nổi lên một cái gò hình dạng như chiếc cồng vàng. Khi chân người dẫm lên nghe âm vang như tiếng cồng. Một thời gian sau, tiếng cồng trong gò đất nhỏ dần rồi mất hẳn. Người dân trong vùng cho là sự linh thiêng, nên lập một ngôi miếu thờ. Hàng năm, cứ đến rằm tháng ba âm lịch, dân làng An Trạch lại tổ chức lễ hội cầu an tại miếu này và gọi đó là lễ hội thác côn. Trong tiếng Khmer, Thác Côn có nghĩa là “đạp cồng”, gợi lại sự tích về tiếng cồng vang lên từ lòng đất. Luận văn: Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer.

Lễ hội mang ý nghĩa cầu mong sự an lành, hạnh phúc, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, giúp người ta nhớ về cội nguồn tổ tiên, ông bà đã sống chan hòa yêu thương nhau hơn. Lễ vật dùng để cúng trong lễ hội Thác côn là những chiếc bình bông được làm bằng trái dừa tươi rất độc đáo, nên còn gọi là lễ hội cúng Dừa. Những chiếc bình bông được trang trí bằng hoa tươi và nhang đèn cắm trên trái dừa ấy được người Khmer gọi là Slathođôn. Chiếc bình bông đẹp được tạo ra từ bàn tay khéo léo của người thợ lành nghề. Đầu tiên, trái dừa được tiện kiểu và cắm hoa tươi như vạn thọ, hoa sen, lá trầu xếp hình nón đẹp mắt đặt trên những cây nhang. Dịp lễ hội đến hai bên đường người dân bày bán những chiếc bình bông sặc sỡ với hàng chục dáng và màu sắc khác nhau, do nhu cầu không chỉ của người dân mà của khách thập phương rất lớn, mỗi kỳ lễ hội An Trạch phải nhập hàng vạn trái dừa. Có thể nói, nghi thức cúng dừa là một trong những nét đặc sắc mà không một lễ hội nào có ngoài lễ hội Thác Côn.

Trong suốt 3 ngày diễn ra lễ hội, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, vui chơi, giải trí thật náo nhiệt, khách xa tới cũng không lo lỡ đường vào buổi tối bởi đêm lễ hội Thác Côn là đêm thức trắng. Đây cũng là dịp giao lưu văn hóa của 3 dân tộc vùng An Trạch chan hòa không khí náo nức của đêm hội trăng rằm qua những điệu múa, lời ca.

Sau khi lễ hội kết thúc là lúc thực hiện nghi lễ cuối cùng mang đậm phong tục của nền nông nghiệp. Ban quản trị của chùa đem những hạt giống do người dân cầu nguyện trên bệ thờ và lấy một ít tro nhang từ các lư hương để vào chiếc mâm, người mang chiếc mâm đi trước, các phụ nữ đi sau ra đồng dâng cúng đất đai, cúng hồn lúa, cúng những vị thần bảo hộ cho ruộng vườn, làng mạc, tỏ lòng biết ơn cac vị thần đem lại mưa thuận gió hòa cầu mong vụ sau sẽ trúng mùa hơn.

Như vậy ngoài ý nghĩa là một hoạt động văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer Sóc Trăng, Thác Côn còn là lễ hội đặc trưng mang đậm tính chất nông nghiệp, bắt nguồn từ tín ngưỡng cổ xưa mà du khách ở phương xa ít khi có dịp tham dự.

  • Lễ hội Cúng Phước Biển

Lễ hội cúng Phước Biển hay còn gọi là lễ hội Chrorumchec, diễn ra trong hai ngày 14 và ngày 15 tháng 2 âm lịch hàng năm, tại ấp Đôn Chếch, xã Vĩnh Châu, huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc trăng.

Ban đầu lễ hội này chỉ diễn ra tự phát với quy mô nhỏ, hình thành từ ý tưởng của một nhà sư người Khmer có tên là Tà Hu. Lúc đầu ông dựng một ngôi tháp ở trên giồng cát, gần với chùa Cà Săng, thuộc địa điểm tổ chức lễ hội ngày nay để đồng bào phật tử đến thắp hương và thành tâm chiêm bái. Ông đã chọn ngày rằm tháng 2 âm lịch (tức ngày rằm tháng 11 của người Khmer) để lập đàn làm phước, vì đây chính là thời điểm trời yên, biển lặng, ngư dân nào đi biển về thuyền cũng đầy ắp tôm cá. Dần dần buổi làm phước được nhiều người quan tâm và nhiệt tình hưởng ứng vì nó đáp ứng đúng tâm nguyện của họ. (Nguồn: Dulichsoctrang.o) Luận văn: Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer.

Lễ cúng Phước biển được bắt đầu bằng lễ cầu siêu, tưởng nhớ tới công ơn tổ tiên, tạ ơn biển cả và cầu mong những điều tốt lành nhất sẽ đến với dân làng. Sau đó, người ta rước tượng Phật từ chùa Cà Săng đến khu vực hành lễ, nơi có dựng sẵn một cái rạp với chiều dài khoảng 8m, chiều ngang 18m. Đây chính là nơi diễn ra các nghi lễ cầu nguyện tam bảo, cầu quốc thái dân an và chư tăng thuyết pháp.

Sau những nghi lễ mang đậm màu sắc tôn giáo là đến những hoạt động hội hè, giải trí. Nhiều trò chơi thể thao văn hóa văn nghệ giàu tính truyền thống của dân tộc đã được tổ chức. Đặc biệt những trò chơi này phần lớn là tái hiện lại các nghề chủ yếu mà cư dân nơi đây dùng để mưu sinh trong cuộc sống hàng ngày của mình như: đua bò kéo xe, đua ghe ngo trên cạn, thi đua tưới rẫy, đẩy xiệp, thi lượm củ hành… Trong phần hội, phần sôi nổi và cuồng nhiệt nhất là cuộc đua bò kéo xe, những chiếc xe bò chở đầy người, người điều khiển xe bò tay vừa vút roi miệng vừa la hét cố hết sức mình để cho xe mình thắng cuộc. Nhưng sự thắng thua không phải là chuyện quan trọng nhất, ý nghĩa chính của công việc đua xe bò này là nhằm nhắc nhở cho mọi người nhớ về buổi đầu của cuộc sống nông nghiệp. Độc đáo không kém là cuộc đua ghe ngo trên cạn, cuộc đua này chỉ diễn ra vào những năm liên tiếp bị hạn hán, bị mất mùa tất cả kênh rạch đều khô hạn, nên phải đua ghe trên đất cho “động trời” để làm mưa cho mùa màng tươi tốt.

Ngày hội còn có chương trình biểu diễn văn nghệ với những điệu múa uyển chuyển, điêu luyện của các cô gái người dân tộc Khmer. Có cả những vũ điệu cổ truyền như múa khỉ, múa gà của những nghệ nhân Khmer. Tuy diễn ra chỉ trong hai ngày nhưng không khí lễ hội Cúng Phước Biển hết sức tưng bừng và náo nhiệt, rộn ràng với lời ca tiếng hát, tiếng trống của nền nghệ thuật truyền thống đặc sắc của người Khmer.

Lễ hội Cúng Phước Biển Vĩnh Châu đã tồn tại từ hàng trăm năm trước cho đến nay. Đây là lễ hội có nghĩa kép vừa cầu an vừa là cầu siêu, được người dân Khmer không chỉ ở Vĩnh Châu mà còn ở cả tỉnh Sóc Trăng và một số tỉnh lân cận như Trà Vinh, Hậu Giang, Bạc Liêu hưởng ứng nhiệt tình. Chứng tỏ được sức lan tỏa rất lớn của lễ hội, đã tạo được nét độc đáo trong sản phẩm du lịch đặc thù của vùng.

Như vậy qua phần tìm hiểu về các lễ hội của đồng bào dân tộc Khmer ở tỉnh Sóc Trăng, có thể khẳng định mảng lễ hội đã góp phần dệt nên bức tranh văn hóa đa sắc màu. Đây chính là nguồn tài nguyên du lịch nhân văn vô cùng quí giá cần được bảo tồn và phát huy để phục vụ cho hoạt động du lịch, không chỉ đem lại hiệu quả cao về mặt kinh tế mà còn là sự giao lưu kết nối giữa các địa phương giữa các dân tộc anh em trong quá trình tham gia lễ hội. Để khi nhắc tới mảnh đất Sóc Trăng, người ta có ấn tượng khó phai về một sản phẩm du lịch văn hóa mang sắc thái và giá trị riêng. Đó chính là lễ hội.

2.3.3. Phong tục tập quán Luận văn: Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer.

Sóc Trăng là mảnh đất có sự đan xen trong cư trú của 3 dân tộc Kinh, Khmer, Hoa từ lâu đời. Nên trong đời sống có sự cộng hưởng giao lưu giữa các dân tộc với nhau ở truyền thống văn hóa mà cụ thể hơn là ở phong tục tập quán, tuy nhiên mỗi dân tộc vẫn giữ được bản sắc riêng của mình, điển hình như dân tộc Khmer có nhiều yếu tố độc đáo trong phong tục tập quán đến nay vẫn còn lưu truyền.

Trong phong tục tập quán của người Khmer ở Sóc Trăng, không thể không nhắc tới các nghi lễ chuyển đổi liên quan đến các mốc đánh dấu từng giai đoạn phát triển trong vòng một đời người. Đầu tiên phải kể đến là nghi lễ thôi nôi, cũng có các bà mụ (dây chmop) của người Khmer với bài thuốc dân gian cho sản phụ uống một loại thảo mộc nhiều sữa giúp cho sản phụ sinh nở một cách dễ dàng hơn; Sau khi sinh sản phụ và trẻ sơ sinh có thể bị nhiều tai họa, người Khmer cho rằng do ma quỷ gây ra nên treo khúc cây xương rồng long trụ có 4 ngạnh để xua đuổi trừ tà, khi trẻ sơ sinh khó nuôi họ cho trẻ đeo bùa ở cổ, được một tháng làm nghi thức cắt tóc trả ơn mụ gia đình sẽ mời bà mụ đến trả ơn lễ vật gồm vải, con gà, trái cây, lúa, đèn cầy.. em bé được bà mụ cắt tượng trưng một chỏm tóc nhỏ và được mọi người chúc mọi điều tốt lành.

Một nghi lễ quan trọng không kém đó là nghi thức đi tu của bé trai dân tộc Khmer khi được 12 tuổi, sẽ được ba mẹ gửi vào chùa tu một thời gian để báo hiếu cha mẹ và học ngôn ngữ Pali, Khmer về Kinh luật. Chọn độ tuổi này vì cho rằng tuổi này nam thiếu niên còn ngây thơ trong sạch đi tu cha mẹ được phước nhiều.

Đặc biệt trong phong tục, lễ cưới của người Khmer tồn tại ở Sóc Trăng còn bảo lưu khá nhiều nghi thức cổ truyền và nghi thức nào cũng có màn múa như múa mở màn, múa cắt tóc, múa cắt hoa, múa buộc chỉ tay, múa cuốn chiếu, múa mở mùng đã khắc sâu vào trong tâm trí của mỗi người dân Khmer. Trong hôn nhân thường do cha mẹ xắp xếp có sự thỏa thuận của con cái, cưới xin sẽ trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới được tổ chức bên nhà gái. Người Khmer kiêng kỵ không bao giờ tổ chức hôn lễ vào những ngày nhập hạ (Chol vôssa) tức 3 tháng mùa mưa vì họ cho rằng kết hôn vào mùa này sẽ thê lương không được may mắn không có sự ban ơn che chở của chư thiền, Đức Phật nên họ thường tổ chức hôn lễ vào thời điểm mùa khô (khoảng tháng 1 đến tháng 4 dương lịch) trước lễ mừng năm mới Chôl Chnăm Thmây.

Người khmer ở Sóc Trăng ít tổ chức mừng thọ cho ông bà cha mẹ như người Kinh và người Hoa, chỉ có một số gia đình là kết hợp mừng thọ vào dịp Chôl Chnăm Thmây chứ không tổ chức riêng cho từng người, vào dịp này con cháu người Khmer thường thực hiện nghi lễ tắm ông bà cha mẹ ở sân nhà bằng nước ấm pha với nước hoa để chúc phúc đến con cháu thể hiện lòng hiếu thảo quan tâm.

Nghi lễ cuối cùng trong vòng đời của người Khmer đó là nghi thức tang lễ. Nghi lễ chủ yếu trong tang lễ là hỏa táng. Một số trường hợp mất vì tự tử, tai nạn, sinh nở là những cái chết không bình thường theo quan niệm của người Khmer nên sẽ không được hỏa táng và nhập tháp. Những trường hợp khác gia đình chưa đủ điều kiện (về tài chính, thời gian), người chết sẽ tạm thời được thổ táng vài năm cho đến khi có đủ điều kiện rồi mới hỏa táng, sau đó đem tro cốt vào một “chet đây” đặc biệt nào đó trong chùa (Nguồn: Sở văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Sóc Trăng). Luận văn: Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer.

Đời sống văn hóa tinh thần của người Khmer cũng rất phong phú. Chịu ảnh hưởng sâu sắc của Phật giáo Nam tông, từ hoạt động kinh tế đến đời sống văn hóa vật chất, đời sống văn hóa tinh thần và đời sống chính trị- xã hội. Và chùa Phật giáo Nam tông của người Khmer không chỉ là trung tâm tôn giáo, mà còn là trung tâm văn hóa xã hội của cộng đồng. Trong tín ngưỡng, thì Thờ Phật, tổ tiên và tiến hành các nghi lễ nông nghiệp, tín ngưỡng dân gian như cúng thần ruộng, gọi hồn lúa, thờ thần mặt trăng. Bên cạnh đó còn tồn tại những dấu vết còn lại của Bà La Môn trong đời sống.

Người Khmer còn có kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười. Đặc biệt, sân khấu truyền thống (Dù Kê, Dì Kê) hết sức độc đáo cùng với múa dân gian là loại hình nghệ thuật biểu diễn đặc sắc của người Khmer gắn bó mật thiết với cuộc sống trong lao động sản xuất và sinh hoạt thường ngày của họ. Và âm nhạc là một phần không thể thiếu phục vụ cho lễ hội cộng đồng, nghi lễ tại chùa, đám tang, đám làm phước, lễ cúng Arăk…

Mảng trang phục cũng góp phần không nhỏ vào việc tạo nên sự độc đáo trong phong tục tập quán của người Khmer ở Sóc Trăng. Trong trang phục truyền thống của dân tộc Khmer thì nam nữ đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt, người co stuooir mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả mặc bộ bà ba màu trắng, khăn rằn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Đám cưới, chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh). Cô dâu mặc Xăm pốt (váy) màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. Áo dài không xẻ tà, thân áo rộng và dài dưới gối, chui đầu. Hiện nay, trong bối cảnh có sự hòa nhập giữa các dân tộc, trang phục của người Khmer ít nhiều có sự thay đổi, thường ngày họ mặc như trang phục của người Kinh, trang phục truyền thống chỉ được mặc vào các dịp lễ hội. Chính vì vậy, việc duy trì sử dụng trang phục truyền thống của người Khmer không chỉ có ý nghĩa về mặt lưu giữ bản sắc văn hóa của dân tộc, mà còn là yếu tố tạo ra sản phẩm du lịch độc đáo thu hút khách du lịch.

Nhà ở truyền thống của người Khmer là nhà sàn, được làm từ các loại vật liệu cây gỗ, tre, lá… theo tập quán truyền thống người Khmer xây dựng nhà ở trong một khuôn viên đất đai nhất định hợp thành không gian cư trú theo dòng họ (thường theo dòng mẹ) ở phum sóc và quần tụ xung quanh chùa chiền. Và hướng nhà của họ trùng với hướng của những ngôi chùa thường quay mặt về hướng đông, chứng tỏ thêm rằng gia đình – dòng họ – phum sóc – chùa chiền luôn có mối quan hệ tương tác qua lại và gắn bó mật thiết đối với mỗi cá nhân và toàn cộng đồng. Hiện nay nhà ở truyền thống của người Khmer ở tỉnh Sóc Trăng thường là kiểu nhà nối mái, được xây dựng bằng cả vật liệu truyền thống lẫn hiện đại tùy theo khả năng kinh tế của gia đình và dòng họ. (Nguồn: Dư địa chí tỉnh Sóc Trăng).

Có thể nói, phong tục tập quán của người Khmer chính là món ăn tinh thần không thể thiếu được của du khách khi đến Sóc Trăng tham quan tìm hiểu về tài nguyên du lịch nhân văn. Nên có thể nói vấn đề bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống của dân tộc Khmer tỉnh Sóc Trăng là việc làm cần thiết, cần được sự quan tâm của đảng ủy chính quyền địa phương.

2.3.4. Làng nghề Luận văn: Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer.

Sóc Trăng là tỉnh có số lượng dân tộc Khmer cư trú đông nhất, nên có sự phong phú đa dạng trong đời sống văn hóa vật chất và cả đời sống văn hóa tinh thần. Thể hiện qua sự đa dạng về lễ hội, kiến trúc các ngôi chùa, về văn hóa, ẩm thực và nhiều làng nghề truyền thống đến nay còn hiện hữu như làng dệt chiếu ở xã Lạc Hòa thị xã Vĩnh Châu, làng cốm dẹp – đan lát ấp Phước Qưới xã Phú Tân huyện Châu Thành, làng tranh Kính Phước Thuận ở xã Phú Tân huyện Châu Thành… Mặc dù đứng trước cơ chế thị trường và sự thay đổi trong nhu cầu tiêu dùng, nghề truyền thống thủ công có nguy cơ bị mai một xong đồng bào Khmer vẫn một lòng tâm huyết giữ gìn nghề truyền thống của mình.

Theo quyết định số 71 của UBND tỉnh Sóc Trăng, ngày 29/02/2015, toàn tỉnh có 12 làng nghề truyền thống, trong đó có 03 làng nghề, sản phẩm được đưa vào phục vụ phát triển du lịch từ lâu rất nổi tiếng đã trở thành thương hiệu của Sóc Trăng như làng nghề Bánh pía – Lạp Xưởng, Làng ngề Đan lát, Làng nghề Cốm dẹp. Mỗi làng nghề đều có những nét đặc trưng có những giá trị riêng, không chỉ góp phần cải thiện đời sống của người dân mà còn là yếu tố hấp dẫn khách du lịch khi ghé đến mảnh đất này.

Đầu tiên phải kể đến đó là làng nghề đan lát ở ấp Phước Qưới, xã Phú Tân huyện Châu Thành, cách thành phố Sóc Trăng hơn 10km. Từ lâu nghề đan lát đã là niềm tự hào của người Khmer, bởi những sản phẩm thủ công do họ làm ra, thường được chính họ mang đi trao đổi buôn bán nhiều nơi ở trong và ngoài tỉnh Sóc Trăng. Với nguyên liệu chủ yếu từ tre, trúc dưới bàn tay khéo léo sự sáng tạo của người dân đã tạo ra những sản phẩm vừa đơn giản lại tinh tế được sử dụng trong đời sống như rổ, thúng, xà ngom, bội nhốt gà, xà neng, cần xé nhỏ… bên cạnh một số mặt hàng thủ công mỹ nghệ khác như chiếc ghe ngo nhỏ, khay đựng trầu, rổ nhỏ… sẽ là những sản phẩm du lịch phục vụ cho nhu cầu của du khách khi đến Sóc Trăng. Tuy nhiên trong quá trình sản xuất, người dân cũng gặp không ít những khó khăn như vấn đề tiêu thụ sản phẩm đặc biệt với những hộ làm nhỏ lẻ thường không có đơn đặt hàng sẵn như những hộ làm lâu năm, mặt khác giá sản phẩm lại không cao nên người dân phải kiếm nghề khác để mưu sinh, không thể gắn bó với nghề truyền thống, và nghề truyền thống lại trở thành nghề phụ.

Hiện tại người dân Khmer đã tìm những giải pháp để có thể tiếp tục duy trì và phát huy nghề truyền thống của cha ông, họ trau dồi những kinh nghiệm học hỏi để nâng cao tay nghề đồng thời sáng tạo ra các mẫu mã đẹp không chỉ tăng thu nhập mà còn phục vụ cho thị hiếu của khách hàng. Bên cạnh đó, nhận được sự quan tâm của đảng và nhà nước, đã đầu tư kinh phí xây dựng mở rộng cơ sở, nhà kho nhà trưng bày, thành lập các hợp tác xã làng nghề với các thành viên đều là người Khmer gắn bó với nghề, đã giúp cho làng nghề có sự khởi sắc. Hiện làng nghề đan lát Phú Tân, huyện Châu Thành tỉnh Sóc Trăng đang chú trọng phát triển các sản phẩm mỹ nghệ phục vụ khách tham quan mua hàng lưu niệm.

Làng nghề giã cốm dẹp là nghề truyền thống của hầu hết các làng có người Khmer sinh sống. Cốm dẹp từ lâu đã trở thành món ăn phổ biến của bà con bởi đây chính là vật cúng đặc biệt không thể thiếu trong dịp lễ Ook Om Bok – một trong ba lễ hội lớn nhất trong năm của đồng bào Khmer. Và nổi tiếng nhất đó là làng nghề Cốm dẹp ở xã Phú Tân, huyện Châu Thành hoạt động sản xuất diễn ra quanh năm đã cung cấp một số lượng lớn cho khách hàng đồng thời cũng là món quà mà du khách không thể nào quên khi ghé tới Sóc Trăng. Quy trình làm cốm dẹp là hoàn toàn thủ công, được làm từ loại lúa nếp vừa đỏ đuôi, người ta lấy hạt còn nguyên vỏ đem rang lên cho chín tới, sau đó cho vào cối và chày gỗ giã cho dẹp lại, cốm mới giã khá giòn và dẻo ăn rất thơm mùi nếp mới. Muốn ăn ngon hơn người ta trộn cốm với dừa rám, ít nước dừa và đường cát trắng đổ vào thau rộng, để cốm thấm đều và hơi mềm là dùng được. Vào dịp lễ Ook Om Bok, du khách tới thăm Sóc Trăng sẽ được thấy không khí rộn ràng bởi tiếng giã cốm vang khắp xóm. Có thể nói đây cũng chính là một trong những sản phẩm du lịch níu chân du khách mỗi khi đến tham quan Sóc Trăng. Luận văn: Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer.

Làng tranh Kính Phước Thuận tồn tại hơn 50 năm là một trong những làng nghề truyền thống của người dân Khmer ở xã Phú Tân huyện Châu Thành. Nghề vẽ tranh trên Kính của đồng bảo Khmer có nhiều nét độc đáo sáng tạo trong phong cách. Tranh Kính là loại tranh vẽ phía sau mặt của tấm kính, thực hiện qua nhiều công đoạn tương đối tỉ mỉ, nhất là bước phối màu thường rất tốn thời gian nên những nghệ nhân thường vẽ những nét cơ bản trước rồi mới phối màu. Đầu tiên người thợ đặt tấm kiếng lên tờ giấy hình mẫu vẽ ngược, rồi dùng bút lông chấm mực vẽ đồ theo hình mẫu, sau đó vẽ các chi tiết trong bức tranh, khi vẽ người thợ dùng một loại sơn nhám quét lên mặt kiếng nhằm tạo độ bám trước khi tranh được tô vẽ bằng sơn. Tiếp đó họ chấm sơn tô màu theo quy định vào những ô đã tách, vật tiền cảnh vẽ trước vật hậu cảnh tô vẽ sau, cuối cùng là màu phông rồi đem tranh phơi nắng. Nội dung vẽ tranh cũng rất phong phú, có thể là tranh chân dung ông bà cha mẹ, tranh Đức Phật Thích ca theo Phật thoại, tranh về chùa chiền, phong cảnh quê hương…Đó là những tác phẩm nghệ thuật dân gian độc đáo được mọi người ưa chuộng, tuy nhiên hiện nay đứng trước thực trạng sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, nghề vẽ tranh trên Kính đang có nguy cơ mai một dần nhưng trong tâm trí của mỗi người dân Khmer ở xã Phú Tân thì nó là tiêu biểu cho nét văn hóa hội họa riêng của họ, là niềm tự hào của người Khmer tỉnh Sóc Trăng (Nguồn: www.DulichSoc Trang.o).

Làng nghề dệt chiếu ở xã Vĩnh Hải huyện Vĩnh Châu đã thu hút một bộ phận người Khmer tham gia sản xuất, nghề dệt chiếu được coi là nghề nghiệp “mẹ truyền nghề, con nối nghiệp” của người Khmer. Nguyên liệu chính để dệt chiếu là cói và lát, để làm ra một chiếc chiếu đòi hỏi sự khéo léo và bỏ ra rất nhiều công sức. Đầu tiên phải đi mua lác hoặc nếu có sẵn thì thu hoạch, đặc trưng của sợi lác là 3 cạnh rất sắc mà phải nhổ bằng tay nếu không thì sợi lác sẽ không được tươi và có thể bị ngấm nước khi trở về nhà. Bởi vậy nhìn bàn tay của người làm chiếu không những bị chai sạn mà còn chi chít ngang dọc vết cắt của lác. Mang được lác về nhà người thợ cắt gốc bỏ ngọn rồi tỷ mỉ dùng dao lột từng sợi bỏ ruột chỉ lấy phần vở ngoài, xong đem sợi lác đó phơi nắng hơn chục ngày, đến khi sợi chuyển qua màu trắng đục quắn lại thì coi như xong giai đoạn quan trọng nhất. Cả quá trình phải bảo quản rất kỹ càng, để dính nước mưa hoặc phơi không kĩ là hỏng không đảm bảo để làm nên những chiếc chiếu bền và đẹp. Bên cạnh đó, thợ dệt còn phải tự làm lấy sợi đay để dệt xương chiếu, cũng rất kỳ công (Nguồn: Dư địa chí tỉnh Sóc Trăng).

Phần nhuộm cũng là một công đoạn rất quan trọng, để có chiếc chiếu nhiều màu sắc, trang trí hài hòa, hoa văn độc đáo là nhờ vào đôi bàn tay khéo léo tài hoa của người thợ. Hoàn thiện được một chiếc chiếu thợ lành nghề có thể mất 3 – 5 ngày, với nhiều loại chiếu khác nhau như chiếu trơn, chiếu bông, chiếu lễ… phục vụ cho đời sống bà con hàng ngày, cải thiện đời sống, và đặc biệt trong các ngày lễ thì chiếc chiếu là vật dụng không thể thiếu trong mỗi hộ. Hiện nay vấn đề đầu ra cho các sản phẩm cũng là nỗi lo của người làm chiếu, bởi giá thành mỗi chiếc chiếu được làm công phu có giá khá cao so với mức sống của bà con nơi đây, và thị hiếu của người dân cũng đã có sự thay đổi. Nên rất cần sự quan tâm đúng mức của đảng ủy chính quyền địa phương, tạo đầu ra cho sản phẩm. Để mỗi chiếc chiếu đồng thời cũng là linh hồn của người làm chiếu được lưu giữ hôm nay và mai sau.

Mặc dù đứng trước những biến đổi về mọi mặt cả ở kinh tế lẫn xã hội. Nhưng vẫn còn nhiều làng nghề truyền thống tồn tại và phát triển, đã trở thành sản phẩm du lịch hấp dẫn du khách mỗi khi đến Sóc Trăng. Các làng nghề có tiềm năng rất lớn và sẽ phục vụ có hiệu quả cho hoạt động du lịch nếu được quy hoạch và định hướng phát triển đúng đắn, đảm bảo cho sự phát triển bền vững, đi đôi với việc giữ gìn cho môi trường làng nghề được trong sạch. Đó cũng là việc làm nhằm bảo tồn những giá trị văn hóa của dân tộc tạo nên sản phẩm đặc thù để mỗi khi đến Sóc Trăng du khách sẽ không quên mua quà về sau mỗi chuyến đi.

2.3.5. Nghệ thuật ẩm thực Luận văn: Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer.

Người Khmer định cư chủ yếu ở vùng nông thôn, tỉ lệ người dân sống bằng nông nghiệp chiếm tới 90%, cây lương thực chủ yếu là lúa và các loại hoa màu. Họ biết trồng lúa nước từ sớm, có kinh nghiệm trong việc sử dụng các biện pháp thủy lợi nên họ trồng được nhiều giống lúa khác nhau. Đặc biệt từ gạo nếp người Khmer đã chế biến đa dạng các loại cơm và xay bột để làm nhiều loại bánh như bánh tét, bánh ít, bánh tổ chim, bánh gừng, cốm dẹp … Mỗi loại bánh lại có một hương vị riêng hấp dẫn du khách khi đến Sóc Trăng đều muốn thưởng thức. Trong đó có hai loại bánh mang tính đặc thù của văn hóa dân tộc người Khmer đó là bánh gừng và cốm dẹp; chắc hẳn khi nghe tên bánh gừng mọi người sẽ nghĩ bánh gừng sử dụng nguyên liệu chính là gừng, thực chất không phải vậy, loại bánh này được chế biến từ bột nếp với hột gà, có hình dáng giống củ gừng nên người ta gọi là bánh gừng (num khnhây), sau đó họ dùng mỡ chiên chín và rắc lên bánh một lớp đường cát trắng lấp lánh trông rất đẹp rồi đem phơi nắng. Đây cũng chính là lễ vật không thể thiếu trong các lễ cưới truyền thống của người Khmer đồng thời cũng là biểu tượng cho hạnh phúc đôi lứa, họ còn làm loại bánh này loại nhỏ hơn để làm quà hoặc đãi khách, chứng tỏ lòng hiếu khách của đồng bào người Khmer.

Loại thứ hai là cốm dẹp, loại vật cúng gắn liền với lễ hội cúng Trăng Ook OmBok. Cốm dẹp làm từ lúa nếp mới chín đỏ đuôi, đem rang chín có tiếng nổ lốp bốp thơm mùi nếp mới, rồi cho vào cối dùng chày gỗ giã lúc đầu do nếp mới còn tươi nên hạt nếp bẹp ra và dính vào nhau, nên còn gọi là cốm dẹp, cứ giã cho đến khi hạt nếp khô lên rời rã thì họ sẽ đổ ra chiếc nia sàng sảy bỏ phần vỏ trấu trắng đục, điểm những hạt màu xanh, hết mẻ này họ lại giã mẻ khác cho ra những mẻ cốm ngon lành. Cốm dẹp được trộn với dừa, đường cát trắng, để thấm đều hoặc ăn cùng chuối chín muồi sẽ rất ngon, khi thưởng thức sẽ cảm nhận được sự hòa quyện của cốm với nước dừa thơm dẻo cứ muốn ăn mãi. Để quảng bá cho sản phẩm của mình và cũng thể hiện sự hiếu khách, ngày nay vào dịp lễ hội Ook Om Bok, du khách mới đến Sóc Trăng dự hội đua ghe ngo được ban tổ chức tặng một gói quà lưu niệm có ý nghĩa đó chính là cốm dẹp trộn lẫn dừa (Nguồn: www.Dulichvn.org.).

Bên cạnh đó, đến Sóc Trăng khách thập phương còn được thưởng thức những loại bánh khác cũng không kém phần hấp dẫn như bánh cống, rồi bánh Pía từ lâu đã trở thành thương hiệu. Ghé qua Sóc Trăng, bạn sẽ dễ dàng bắt gặp những xe bán bánh cống vàng rộm ở hai bên đường hay ở trong chợ, món bánh này rất đỗi quen thuộc của đồng bào người Khmer. Nguyên liệu làm bánh thật đặc biệt, đó là sự kết hợp giữa đậu nành và gạo, chọn loại ngon ngâm nước cả hai cho nở đều, rồi đem gạo xay thành bột nước cho thêm chút muối đường để vỏ bánh được đậm đà; đậu xanh đem hấp chín để cả hạt, nhân bánh làm từ thịt heo với tôm bóc vỏ được băm nhuyễn. Do khuôn làm bánh bằng nhôm hình tròn, có tay cầm để khi đổ bánh dễ dàng cho việc vớt nên người dân Sóc Trăng gọi là bánh cống. Cho dầu vào chảo sôi, rồi nhúng khuôn vào trong chảo để khi đổ bột bánh không bị dính, tiếp đó đổ một nửa bột vào khuôn rồi cho đậu xanh, nhân thịt tôm vào đổ tiếp một nửa bột lên, đặt 2 con tôm bên cạnh nhúng khuôn bánh xuống chảo dầu đang sôi. Khi thấy khuôn bánh nổi lên là chín, dùng tre que hoặc dao cạy nhẹ khuôn lấy bánh ra lật trên chảo dầu thêm lần nữa cho chín vàng đều vớt lên vỉ cho ráo dầu. Bánh cống ăn kèm rau sống và nước mắm chua ngọt, cắn một miếng bánh giòn rụm cảm nhận được vị béo đậm đà của bánh cùng vị thanh mát của rau, khó ai có thể từ chối món bánh này khi ghé qua Sóc Trăng và ngã ba đường vào chợ Đại Tâm, huyện Mỹ Xuyên chính là nơi bán bánh ngon nhất giá cả cũng phải chăng 8000 đ/ cái. Luận văn: Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer.

Ngoài nguồn lương thực từ gạo nếp và gạo tẻ, người Khmer còn trồng các loại hoa màu, bổ sung thêm nguồn thực phẩm cho bữa ăn hàng ngày của họ. Nhìn chung bữa ăn hàng ngày của người Khmer khá đơn giản, chủ yếu là cơm canh rau, vào vụ đông còn sơ sài hơn chỉ một tô prôhôc chưng dưa leo hoặc cọng bông súng hay bông lục bình… hoặc một đĩa prôhôc bằm xả ớt gói ăn theo. Tuy nhiên có sự khác biệt trong các buổi tiệc như đám giỗ, đám cưới, tết cổ truyền, họ ăn uống đãi khách vì cho rằng nếu lấy các món ăn hàng ngày đãi khách sẽ rất thiếu tôn trọng; dịp này họ chế biến thức ăn từ thịt gia súc, gia cầm tự sản xuất hoặc mua, các món ăn cũng đa dạng hơn như cà ri, thịt kho nước dừa, bún nước lèo…

Thật thiếu sót khi nói về ẩm thực Sóc Trăng mà bỏ qua một món ăn cũng là đặc trưng chung của vùng Nam Bộ đó chính là món mắm, người Khmer đã chế biến được rất nhiều loại mắm ngon nổi tiếng là món prahok (người Kinh còn gọi là mắm bồ hốc). Đây cũng là loại mắm được người Khmer ưa dùng trong các bữa ăn. Qui trình làm loại mắm này không quá khó nhưng phải trải qua nhiều công đoạn, để có một hũ mắm ngon đầu tiên họ đem các sau khi làm sạch ngâm nước một lúc rồi vớt ra phơi vừa khô, tiếp tục ướp đều cá trong muối, cứ xếp một lớp cá rồi tới một lớp muối rồi một lớp cơm nguội vào khạp, dằn thật chặt, để càng lâu mắm sẽ càng ngon. Mắm bồ hốc được làm từ nhiều loại cá, còn có thể làm bằng tép mòng hoặc cá lòng tong (pro ót), nhưng ngon nhất là làm bằng cá trê vàng loại cá đồng chứ không phải cá nuôi. Mắm bồ hốc, đặc biệt là mắm bồ hốc ốp vừa là món ăn vừa là gia vị có mùi riêng biệt được dùng để nêm tạo hương vị đậm đà cho nhiều món ăn cùng với các gia vị như hành ớt tỏi tiêu, nhất là đối với các món canh và món bún nước lèo. Đến Sóc Trăng nhất định các bạn phải thử món bún nước lèo còn gọi là “bún mắm” để không uổng phí khi đến mảnh đất này.

Đó là các món ăn, vậy còn thức uống của người Khmer có gì khác biệt. Thức uống phổ biến của người Khmer ở Sóc Trăng là nước mưa chứa vào lu, họ tích lại trong mùa mưa dùng để uống cả năm; hoặc nước trà dùng cho người già và để tiếp khách và trong các lễ tộc. Ngoài ra họ thường dùng rượu trắng hoặc rượu ngâm thuốc nhưng tuyệt đối không được dùng rượu trong chùa, vì đây là một trong những điều giới cấm.

Đặt chân tới mỗi vùng đất, du khách không chỉ muốn thưởng ngoạn những cảnh quan đẹp, được khám phá nhiều điều mới lạ về con người, văn hóa… mà còn muốn được thưởng thức đặc sản về ẩm thực cũng là nhu cầu không thể thiếu được của du khách trong mỗi hành trình. Có thể nói ẩm thực của người Khmer tỉnh Sóc Trăng mang nhiều yếu tố độc đáo, mới lạ rất hấp dẫn phải kể đến như món bánh cốm dẹp, bánh cống, Mắm Bồ hốc, bún nước lèo… thực sự để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng du khách, từ lâu đã trở thành thương hiệu khi nhắc tới Sóc Trăng. Nếu biết tận dụng thế mạnh này để quảng bá thêm, thì ngành du lịch ở Sóc Trăng sẽ ngày càng cất cánh cao hơn xa hơn nữa.

2.3.6. Nghệ thuật dân gian

Người Khmer ở Nam Bộ nói chung và ở tỉnh Sóc Trăng nói riêng có nền văn hóa nghệ thuật hết sức phong phú và đặc sắc, được thể hiện rõ nét qua 2 mảng chính, đó là nghệ thuật biểu diễn và nghệ thuật tạo hình. Có thể nói thông qua những làn điệu dân gian tuyệt vời, các loại hình sân khấu phong phú, đồng thời là lối kiến trúc đa dạng và độc đáo của đồng bào Khmer đã và đang góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa nghệ thuật dân tộc Việt Nam.Trong nghệ thuật biểu diễn phải kể đến những hình thức tiêu biểu như: âm nhạc, múa và sân khấu. Từ lâu đã chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống của người Khmer. Luận văn: Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer.

Một bộ phận không thể thiếu, gắn bó với hầu hết các hoạt động ca, múa, biểu diễn sân khấu của người Khmer đó là âm nhạc. Âm nhạc dân gian truyền thống của người Khmer là những sáng tác của quần chúng lao động, được chọn lọc lưu truyền từ ngày này qua ngày khác trong cộng đồng người Khmer. Trong các buổi sinh hoạt tập thể, loại hình âm nhạc dân gian thường được sử dụng, bà con có mặt đều có thể tham gia nên nó mang tính cộng đồng rất cao. Đặc biệt, đối với sân khấu Rô Băm và Dù Kê thì âm nhạc truyền thống của người Khmer trở thành một gia vị thích hợp mà không có loại hình âm nhạc nào có thể thay thế được. Bên cạnh đó thì Ayai – một nghệ thuật dân gian thuộc thể loại hát đối đáp của người Khmer cũng được phổ biến rộng rãi trong cộng đồng người Khmer, bản Ayai trọn vẹn có tới 13 điệu khác nhau và khi biểu diễn thường có các nhạc cụ như Trôsô, Trô ù… kèm theo trống Skôr bân Chớt đệm theo và giữ nhịp. Trong các cuộc họp mặt tập thể hoặc sau giờ lao động, trong các ngày lễ hội, đám cưới, đua ghe ngo… sẽ là dịp bà con Khmer biểu diễn thể loại trên (Nguồn: Dư địa chí tỉnh Sóc Trăng).

Song hành cùng âm nhạc dân gian chính là các điệu múa của người Khmer. Múa là một nghệ thuật có truyền thống lâu đời và được đông đảo bà con Khmer yêu thích bởi thông qua điệu múa người Khmer đã bộc lộ niềm sung sướng, và thắt chặt tình thân ái trong sinh hoạt tập thể cộng đồng. Múa dân gian phổ biến nhất trong cộng đồng Khmer hiện nay là Râm vong, Lâm lêv, Sarvan… hầu hết người Khmer đều có thể múa, nên trong các buổi sinh hoạt tập thể khi nghe được tiếng nhạc ngũ âm vang lên, là bà con có mặt đều tiến ra sân uyển chuyển theo điệu múa dân gian. Ngoài các điệu múa tập thể truyền thống, đồng bào Khmer còn biểu diễn điệu múa trống Chayyăm rất vui nhộn đã thu hút đông đảo người xem.

Sẽ thật thiếu sót nếu bỏ qua một nét văn hóa đặc sắc trong nghệ thuật biểu diễn của người Khmer, đó là loại hình sân khấu. Luôn nhận được sự đánh giá cao về mặt nghệ thuật, trong đó phải kể đến là loại hình Rô Băm và Dù Kê là sản phẩm nghệ thuật độc đáo của người Khmer ở Nam Bộ nói chung và ở Sóc Trăng nói riêng. Đặc biệt là sân khấu Dù Kê đã được Bộ trưởng bộ văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, loại hình Nghệ thuật trình diễn dân gian vào ngày 25 tháng 8 năm 2021. Xuất hiện cách đây hơn 100 năm, ông tổ nghệ thuật này là ông Lý Cọn, một người Khmer ở xã An Ninh, huyện Mỹ Tú, Sóc Trăng. Trên cơ sở tiếp biến hát bội của người Hoa, cải lương của người Việt cùng với sự ảnh hưởng của loại hình nghệ thuật khác, sân khấu Dù Kê trở nên đặc sắc hơn bao giờ hết với lối diễn xuất và tuồng tích rất thu hút. Không chỉ hấp dẫn bà con Khmer mà sân khấu Dù Kê còn được nước bạn biết tới. Điển hình là vào năm 1920, Dù Kê của Sroc Pô do ông xã Cạnh làm trưởng đoàn đã đến đất nước Campuchia để biểu diễn doanh thu, đoàn được mời biểu diễn cho vua Moonivong và các quan trong cung xem, nhà vua rất thích và đã ban thưởng cho đoàn nhiều hiện vật cao quí, từ đó Dù Kê ngày càng chiếm lĩnh vị trí quan trọng trong sân khấu nghệ thuật tại đất nước chùa tháp, chứng tỏ được sự lan rộng của loại hình nghệ thuật này. Có thể khẳng định, nghệ thuật sân khấu Dù Kê đã trở thành tài sản vô giá của dân tộc Khmer rất cần được bảo tồn phát huy, nâng cao vị thế hơn nữa trong hiện tại và tương lai, đặc biệt nên gắn với các hoạt động du lịch để du khách có thể tiếp cận được sân khấu nghệ thuật này khi đến Sóc Trăng (Nguồn: Daibieunhandan.).

Bên cạnh sân khấu Dù Kê thì loại hình kịch múa Rô Băm thường gọi là “yeak rom” ra đời cách đây hàng trăm năm được coi là di sản độc đáo của người Khmer Nam Bộ. Sân Khấu Rô Băm thường biểu diễn các kịch bản về trường ca Ream kê, Sângsa lachi… lối biểu diễn của sân khấu Rô Băm cũng theo một nguyên tắc nhất định như hình thể uốn cong, vừa múa vừa hát, các nhân vật phụ như chằn, các con thú phải đeo mặt nạ. Khán giả như được hòa mình vào những động tác múa uyển chuyển, dịu dàng của diễn viên và bị thu hút bởi trang phục sặc sỡ đẹp mĩ miều.

Trong dịp lễ cầu an, lễ ngàn núi, tết Chnămthmây…các nghệ sĩ Rô Băm sẽ được mời đến các phum sóc để phục vụ cho bà con khmer tạo không khí vui tươi khấn khởi. Theo quan niệm của người xưa, coi âm nhạc và múa là cầu nối giữa âm và dương, là sự thể hiện lòng tri ân đối với siêu nhiên thánh thượng đã ban sự sống cũng như thành quả lao động nuôi sống con người. Nên ở mỗi Phum sóc trong các ngày lễ trọng đại sẽ luôn có một đội Rô Băm biểu diễn để cúng thần thánh thiên địa.

Trong xu hướng hiện nay, người ta quay về với cội nguồn, có nhiều loại hình văn nghệ dân gian đã được công nhận là di sản văn hóa của thế giới. Sân khấu Dù Kê, Rô Băm xứng đáng được vinh danh là kiệt tác của nhân loại bởi những giá trị về mặt tinh thần mang lại đồng thời đó cũng là di sản văn hóa mà cha ông để lại từ rất lâu. Trở thành niềm tự hào của dân tộc Khmer khi mà sân khấu Rô Băm đã vươn tầm quốc tế, đến thủ đô Washington trình làng với công chúng khán giả, và được chào đón nồng nhiệt. Nên rất cần sự bảo vệ của tỉnh nhà, tránh bị mai một, đưa loại hình nghệ thật trên trở thành sản phẩm du lịch độc đáo của tỉnh Sóc trăng, khi mà thực sự cả nghệ thuật ca múa nhạc sân khấu Dù Kê, Rô Băm chưa được chú ý giới thiệu trong các tour du lịch khi du khách tới Sóc Trăng. Luận văn: Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer.

Không chỉ đặc sắc với nghệ thuật biểu diễn, nghệ thuật tạo hình cũng là thành tựu nghệ thuật dân tộc đáng chú ý, rất đáng tự hào của người Khmer. Nghệ thuật tạo hình thể hiện rõ nhất và thành công nhất là tại các công trình kiến trúc trong khuôn viên nhà chùa Khmer. Đó là những ngôi chánh điện, những Sala, tháp đựng cốt… khi đến Sóc Trăng, du khách ghé thăm những ngôi chùa như chùa Khleang, chùa chén Kiểu, chùa Dơi… sẽ thấy và cảm nhận được một cách sâu sắc nhất về nghệ thuật tạo hình hết sức nổi bật và độc đáo của các nghệ nhân nơi đây. Để dần khôi phục lại nghệ thuật điêu khắc, đặc biệt là nghệ thuật điêu khắc gỗ từ các gốc cây cổ thụ từ lâu đã là nghề truyền thống, những vị sư chùa đã mời các nghệ nhân điêu khắc về chỉ dạy và truyền nghề cho các vị sư. Hầu hết các tác phẩm điêu khắc đều mang nét văn hóa gắn với chùa chiền, đời sống sinh hoạt của các dân tộc… du khách tới các ngôi chùa còn có thể chiêm ngưỡng những công đoạn điêu khắc tạo ra các sản phẩm tinh thần của đồng bào Khmer đang dần phục hồi tại Sóc Trăng.

Qua tìm hiểu trên ta thấy thông qua những điệu múa uyển chuyển, những làn điệu dân gian vui nhộn, cùng với lối kiến trúc đa dạng mà độc đáo, các loại hình sân khấu phong phú của đồng bào Khmer, mà những nét nổi bật về văn hóa nghệ thuật dân tộc được tôn vinh trân trọng hơn bao giờ hết. Đồng thời cũng là tạo thành sản phẩm du lịch đặc trưng, phục vụ đắc lực cho hoạt động du lịch nếu biết khai thác đúng hướng đúng mức.

2.4. Tiềm năng khai thác tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer tỉnh Sóc Trăng Luận văn: Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer.

2.4.1. Khai thác các điểm di tích lịch sử văn hóa của người Khmer ở tỉnh Sóc Trăng

Sóc Trăng là mảnh đất hội tụ nguồn TNDL nhân văn có giá trị phục vụ đắc lực cho hoạt động du lịch. Nơi đây có rất nhiều điểm du lịch mà du khách có thể đến tham quan và khám phá. Được mệnh danh là xứ sở của chùa tháp, Sóc Trăng nổi danh với những ngôi chùa không chỉ mang kiến trúc độc đáo mà còn thu hút bởi cái tên kì lạ.

Trong những ngôi chùa ở Sóc Trăng thì chùa Dơi chính là một trong những ngôi chùa nổi tiếng nhất của người Khmer không chỉ hấp dẫn du khách bởi quần thể kiến trúc độc đáo mà còn bởi những câu chuyện kì bí xung quanh ngôi chùa này. Chùa Dơi tọa lạc ở đường Văn Ngọc Chính, phường 3, thành phố Sóc Trăng; theo thư tịch cổ ghi lại chùa được khởi công xây dựng từ năm 1569 và đã được tu sửa nhiều lần, năm 2006 được công nhận là di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia. Hiện tỉnh Sóc Trăng đang đầu tư xây dựng khu du lịch chùa Dơi thành điểm đến hấp dẫn du khách. Đến chùa Dơi từ bãi đậu xe du khách sẽ được đưa đón bằng xe điện vào chùa tham quan Chánh điện chùa, chiêm ngưỡng từng nét hoa văn tinh xảo ở khắp nơi trên Chánh điện, vòng theo lối đường xi măng phía sau chùa để xem những chú Dơi đậu chi chít trên cành và được hướng dẫn viên kể về những điều kỳ thú có một không hai từ những chú Dơi như chuyện tuy dơi là loài động vật ăn quả nhưng không bao giờ ăn quả chín trong vườn chùa, và chúng chỉ trú ngụ trong trong khuôn viên của chùa chứ không rời đi nơi khác mặc dù ở Sóc Trăng có nhiều ngôi chùa thanh tịnh khác với nhiều bóng cây, hay chuyện chùa Dơi không bao giờ chết trong khuôn viên chùa bởi theo tín ngưỡng nơi đây là cửa sinh chứ không phải cửa tử. Tuy nhiên theo vị trụ trì tại chùa thì có một thực trạng đáng lưu ý là hiện nay số lượng đàn dơi đang ngày càng suy giảm do nạn săn bắn trái phép, nên rất cần được bảo vệ đúng mức. Một điều nữa góp phần làm nên sự đặc biệt của chùa Dơi đó là nơi đây hiện đang lưu giữ nguyên vẹn các bộ kinh ghi trên lá buông… Tất cả những nét đặc sắc đó đã thu hút mọi người đến chùa Dơi tham quan ngày càng nhiều, hàng năm chùa Dơi đón hàng chục vạn lượt khách đến nhất là vào những ngày lễ lượng du khách đến tham quan tăng đột biến, ngày thường khoảng trăm người. Chính vì vậy, trong những năm gần đây tỉnh rất chú trọng đầu tư đến các hoạt động du lịch quanh chùa Dơi phục vụ du khách. Đặc biệt là khu du lịch chùa Dơi đang từng bức hình thành do công ty cổ phần quốc tế Satraco làm chủ đầu tư, theo dự án khu du lịch Satraco có quy mô 14.000m2 gồm các hạng mục: nhà hàng, khach sạn cao cấp tiêu chuẩn 3 – 4 sao, sân khấu biểu diễn nghệ thuật dân tộc Kinh – Khmer – Hoa, xe điện đưa rước du khách từ chợ mùa Xuân vào chùa Dơi, với mức vốn ban đầu là 26 tỷ đồng, bên cạnh đó công ty còn ứng vốn đầu tư 15 tỷ đồng để mở rộng tuyến đường vào chùa Mahatúp. Được xây dựng theo mô hình du lịch sinh thái với điểm nhấn là sân khấu biểu diễn nghệ thuật dân tộc, giới thiệu lịch sử hình thành khu di tích… hiện một số hạng mục của khu du lịch Satraco đã được đưa vào sử dụng tương lai không xa đây sẽ là điểm dừng chân của tất cả các du khách khi đến Sóc Trăng. Tuy nhiên theo lời của phó trụ trì Linh tại chùa thì có một thực trạng đáng lưu ý là hiện nay số lượng đàn dơi đang ngày càng suy giảm do nạn săn bắn trái phép, nên rất cần được bảo vệ đúng mức; ngay lối cổng ra vào còn bày bán hàng rong cá mắm sặc các loại mặc dù đã được bảo vệ và ban quản lí chùa chấn chỉnh, phần nào ảnh hưởng đến mĩ quan của chùa Dơi. Luận văn: Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer.

Một ngôi chùa mang nhiều nét cổ kính, biểu trưng cho vẻ đẹp chùa chiền của Sóc Trăng, đó chính là chùa Chén Sà Lôn hay còn gọi là chùa Chén Kiểu. Nằm trên quốc lộ 1A xã Đại Tâm, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng cách Thành phố Sóc Trăng 12km. Với nét kiến trúc vô cùng độc đáo gây ấn tượng đến khách tham quan khi đến thăm chùa, cái tên chùa Chén Kiểu được người dân gọi vì bên trong ngôi chùa được trang trí họa tiết bằng mảnh vỡ của chén đĩa tạo thành, các họa tiết trang trí cũng rất sinh động đã làm nên điểm khác biệt hiếm hoi của ngôi chùa này, tại đây còn lưu giữ bộ đồ gỗ khảm trai rất quí; chính những điều đó là yếu tố mang lại một lượng du khách đông đảo không kém chùa Dơi. Đây là một trong 18 điểm đến du lịch mà du khách không thể bỏ lỡ khi có dịp về Sóc Trăng. Tuy nhiên vấn đề quy hoạch các hoạt động du lịch vấn còn những tồn tại như điểm du lịch chưa có bãi xe đậu, nên gây khó khăn cho các đoàn du lịch khi đến tham quan, phải đậu xe cả ở trong khuôn viên chùa, ven đường đã tạo hình ảnh thiếu chỉn chu khi chưa thực sự nhận được quan tâm của tỉnh. Rối đến các hàng rong bày bán lề đường, nạn ăn xin còn diễn ra, chèo kéo khách làm mất đi sự thân thiện hiếu khách của người Khmer trong lòng du khách. Bên cạnh đó, chùa Sà Lôn vẫn chưa có đội ngũ hướng dẫn viên thuyết minh, nên phần nào ảnh hưởng đến sự tìm hiểu của du khách khi mà chỉ tự tìm hiểu hoặc hỏi các vị sư, trụ trì ở trong chùa.

Một ngôi chùa có tuổi thọ đến 500 năm, được coi là ngôi chùa cổ nhất ở Sóc Trăng, gắn liền với những truyền thuyết về địa danh Sóc Trăng. Đó chính là chùa Khleang tọa lạc ở số 71, đường Mậu Thân, nằm kề thành phố Sóc Trăng nên rất thuận lợi cho du khách đến tham quan. Chùa Khleang được Bộ văn hóa – thông tin nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia, nơi đây còn lưu giữ những nét kiến trúc khắc gỗ của nghệ nhân Khmer, đặc biệt là toàn bộ phần mái chùa là một công trình kiến trúc độc đáo thể hiện quan niệm triết lí và mối giao hòa giữa phật – con người – trời của người Khmer. Chùa Khleang, một di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia luôn được bảo quản chu đáo, thời gian mở cửa phục vụ tham quan rất lưu động tất cả các ngày trong tuần đã góp phần thu hút du khách xa gần khi đến với Sóc Trăng. Mỗi ngày du khách đến thăm chùa cũng khá đông, trong đó có cả du khách nước ngoài tập trung vào ngôi chánh điện.

Ông Tăng Sai Pary, trưởng Ban quản trị chùa Khleang, cho biết: “Khách du lịch trong và ngoài nước thường đến tham quan chùa Khleang. Ban Quản trị chùa đã làm lộ, bãi đậu xe, trồng cây xanh tạo bóng mát và vẻ mỹ quan trong khuôn viên chùa. Khi có du khách đến, chùa tổ chức người hướng dẫn, thuyết minh, thuyết trình những nét văn hóa của đồng bào Khmer, các hoạt động thường xuyên tại chùa…”. Chứng tỏ công tác tổ chức thức hiện hoạt động du lịch của chùa đã có sự quan tâm đúng mức, tạo nên cảnh quan văn minh nơi cửa chùa bởi hiện tượng bầy bán hàng rong rồi nạn ăn xin không xuất hiện. Tuy nhiên nơi đây còn một số vấn đề cần lưu tâm đó là vẫn chưa có đội hướng dẫn viên du lịch, gây khó khăn cho du khách khi muốn tìm hiểu về những giá trị văn hóa của người Khmer, đây cũng là hạn chế của hầu hết các điểm du lịch ở Sóc Trăng. Bên cạnh đó, hầu như không có cửa hàng bán đồ lưu niệm cho du khách, vấn đề ẩm thực cùng cơ sở lưu trú phạm vi gần chùa còn mang tính lẻ tẻ khó lòng níu chân du khách. Luận văn: Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer.

Công trình khá nổi tiếng tại Sóc Trăng, nổi bật với lối kiến trúc mang đậm phong cách chùa của người Khmer, đó là Bảo tàng Khmer nằm đối diện với chùa Khleang tại phường 6 thành phố Sóc Trăng đã trở thành một điểm tham quan bổ ích cho du khách. Đến với nhà trưng bày văn hóa Khmer, khách tham quan sẽ được tìm hiểu những nét văn hóa độc đáo của đồng bào Khmer Nam bộ như: nhóm tượng người và muôn thú làm bằng gốc cây, bình linh cách đây hơn 200 năm; những ngôi nhà sàn nhà ở, cùng các nông cụ như cày, bừa, trục phá đất đều được làm bằng tre gỗ. Các du khách còn được biết thêm về loại hình nghệ thuật sân khấu Robăm và Dù kê; các mô hình ghe Ngo, lễ cúng trăng, nghệ thuật kiến trúc, trang phục… Có thể nói đến tham quan phòng trung bày văn hóa Khmer du khách sẽ được khám phá những nét đặc sắc nhất những giá trị văn hóa vật chất và cả văn hóa tinh thần của đồng bào Khmer Nam Bộ. Đặc biệt là nét văn hoá đặc trưng của dân tộc Khmer Sóc Trăng, góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc. Nơi đây còn níu chân du khách bởi hệ thống quản lý phục vụ cho các đoàn khách đến tham quan khá tốt như: thời gian mở cửa tất cả các ngày trong tuần, có chỗ đậu xe trong khuôn viên rất ngăn nắp, khi đoàn khách đến có bộ phận ban quản lý tiếp nhận, và có một điểm khác biệt so với các điểm du lịch khác là đã có thuyết minh viên đáp ứng được nhu cầu muốn tìm hiểu của du khách. Chính vì vậy hàng năm bảo tàng đón hàng chục ngàn khách du lịch tới.

Một điểm du lịch nữa mà khách du lịch khó có thể bỏ qua khi đến Sóc Trăng, đó là chùa Bốn Mặt nằm cách thành phố Sóc Trăng khoảng 6km thuộc xã Phú Tân, huyện Châu Thành. Ngôi chùa là quần thể kiến trúc có giá trị văn hóa truyền thống đậm nét của người Khmer và lưu giữ những câu chuyện linh thiêng kì bí. Đi từ ngoài cổng vào trung tâm chính điện ngôi chùa là những hàng cây thốt nốt xanh tươi tạo cảm giác thoáng mát; tới đây du khách còn có cơ hội gặp đoàn sư đi khất thực, đó cũng là một hoạt động sinh hoạt thường ngày trong cuộc sống tụ tập của người dân. Và cái tên Chùa Bốn Mặt sẽ lí giải được sự tò mò của du khách khi bước vào chùa, du khách sẽ chú ý đến vị trí trên cao nhất, mổi bật nhất trên đỉnh chùa là tháp với đầu tượng Phật 4 mặt gọi là Maha Prum. Chùa Bốn mặt được đánh giá là địa điểm văn hóa điển hình của địa phương với các thiết kế tiêu biểu như: phòng đọc sách, phòng trưng bày hiện vật, nhóm nhạc ngũ âm, đội ca múa nhạc và câu lạc bộ ghe Ngo với hàng trăm thành viên tham gia… chính vì vậy Chùa Bốn Mặt được Trung ương và địa phương trao tặng nhiều bằng khen, giấy khen về thành tích đóng góp trong phong trào xây dựng đời sống văn hóa địa phương, xứng đáng là một cơ sở thờ tự tiêu biểu. Đây cũng là điểm du lịch thu hút nhiều người hành hương cũng như những khách du lịch thích đi phượt đơn lẻ đến Sóc Trăng.

 2.4.2. Phát triển các loại hình tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer tỉnh Sóc Trăng phục vụ hoạt động du lịch

TNDL nhân văn của người Khmer chính là một thế mạnh, để ngành du lịch Sóc Trăng tận dụng và khai thác có hiệu quả đa dạng các loại hình sản phẩm du lịch phục vụ cho nhu cầu của du khách trong và ngoài nước.

  • Loại hình du lịch tâm linh

Có thể khẳng định đây là một trong những ưu thế nổi trội trong du lịch Sóc Trăng, nơi đây được mệnh danh là xứ sở của chùa tháp, với mật độ chùa khá dày đặc trong cộng đồng người Khmer, gần như trong mỗi Sóc đều có sự hiện hữu của một ngôi chùa với kiểu kiến trúc đặc trưng của người Khmer ở Nam Bộ. Ngôi chùa Khmer giữ vai trò rất quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân, không chỉ là trung tâm tôn giáo mà còn là trung tâm văn hóa xã hội của cộng đồng, nơi bảo lưu các giá trị văn hóa truyền thống của họ; đối với người Khmer theo Phật giáo Nam Tông kể từ khi sinh ra cho đến lúc qua đời luôn gắn bó cả cuộc đời của mình với chùa. Có thể khẳng định ngôi chùa chính là linh hồn của đồng bào người Khmer ở Sóc Trăng.

Trong giai đoạn hiện nay, loại hình sản phẩm du lịch tâm linh đang được chú trọng đặc biệt, hầu hết các công ty du lịch đều chọn đó là sản phẩm chủ yếu trong hoạt động du lịch của mình, với vai trò là chiếc cầu nối để du khách đến tham quan ở những ngôi chùa, các công ty du lịch xây dựng các tour du lịch trong đó chùa sẽ là điểm đến không thể thiếu trong suốt hành trình của du khách khi đến Sóc Trăng. Những điểm du lịch tâm linh hấp dẫn du khách bởi nét độc đáo, đặc sắc của kiến trúc chùa chiền như chùa Khleang, chùa Dơi (còn gọi là chùa Mã Tộc hay chùa Mahatup), chùa Chén Kiểu (chùa Sralôn)… đây cũng là những điểm du lịch thu hút đông đảo khách du lịch hàng năm đến Sóc Trăng. Tuy nhiên cũng có những vấn đề cần lưu ý trong quá trình khai thác các điểm du lịch tâm linh như: cơ sở hạ tầng để tiếp cận các điểm tham quan còn hạn chế đặc biệt là trong giao thông, chỉ có một số chùa gần trung tâm thành phố Sóc Trăng hoặc chùa nằm trên trục quốc lộ là đi lại dễ dàng còn lại hầu hết đều gặp khó khăn trong việc di chuyển đến chùa. Bên cạnh đó việc giữ gìn vệ sinh, bảo vệ môi trường, chống trộm cắp, nạn tăng giá, bán hàng rong …ở khu vực quanh chùa cũng cần lưu tâm để tạo cảnh quan đẹp và tâm lí thoải mái cho du khách khi đến tham quan. Ngoài ra thực sự cần đào tạo đội ngũ hướng dẫn viên chuyên nghiệp, am hiểu về những giá trị văn hóa của người Khmer khi du khách có nhu cầu muốn tìm hiểu để tạo hứng thú hơn trong lòng du khách, bởi thực tế cho thấy bộ phận hướng dẫn viên tại các điểm du lịch tâm linh còn mỏng cả về số lượng và trình độ nghiệp vụ, hầu hết các du khách tới là hỏi các trụ trì hoặc các vị sư trong chùa giải đáp những thắc mắc. Nếu có điều kiện có thể đào tạo thêm kiến thức về du lịch và tạo điều kiện cho người dân địa phương nhất là đồng bào Khmer được tham gia cung cấp dịch vụ du lịch của chính họ, rồi bán hàng lưu niệm vừa cải thiện đời sống lại tăng sức hút đối với khách du lịch khi được chính người Khmer giới thiệu về những giá trị, bản sắc văn hóa của họ.

  • Loại hình du lịch lễ hội Luận văn: Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer.

Sóc Trăng là nơi có sự giao thoa giữa 3 dân tộc Kinh, Khmer và Hoa cùng chung sống với nhau qua nhiều thế kỉ. Bởi vậy nơi đây hội tụ một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, xứ sở của lễ hội Nam Bộ chính là tỉnh Sóc Trăng. Trong đó lễ hội của người Khmer là độc đáo đặc sắc nhất. Trong đó phải kể đến đó là Tết Chol Chnăm Thmây, lễ Dolta, lễ hội Ook Om Bok – đua ghe ngo, lễ cúng Phước Biển… Đặc biệt nhất trong lễ hội ở Sóc Trăng là lễ hội Ook Om Bok diễn ra vào ngày 15 tháng 10 âm lịch hàng năm, còn gọi là lễ cúng trăng là sự đưa tiễn mùa mưa chào đón mùa khô. Đây cũng là một trong ba lễ hội lớn nhất trong năm của đồng bào Khmer. Ngoài những nghi thức về phần lễ, phần được người dân háo hức mong chờ nhất đó chính là hội đua ghe ngo là một lễ hội lớn mang tính văn hóa và thể thao thu thút đông đảo không chỉ người dân tham gia mà còn cả khách du lịch trong và ngoài nước. Chính vì vậy trong những năm gần đây, tỉnh Sóc Trăng rất chú ý đầu tư thích đáng vào loại hình du lịch lễ hội, đơn cử như đường đua khán đài đua ghe Ngo được tỉnh Sóc Trăng đầu tư xây dựng mới với gần 60 tỷ đồng (hoàn thành năm 2016), gồm khán đài với 4.000 chỗ ngồi, sân khấu biểu diễn văn nghệ, bờ kè 2 bên đoạn gần đích đua đã hoàn thành, giúp cho người đi cổ vũ dễ xem, theo dõi, cổ vũ nhiệt tình. Vào ngày diễn ra lễ hội Ook Om Bok du khách tới thành phố Sóc Trăng sẽ cảm nhận được không khí lễ hội nhộn nhịp tưng bừng với cờ hoa băng rôn áp phích quảng cáo cho lễ hội treo khắp các đường phố. Các hoạt động trong các lễ hội cũng ngày càng được tổ chức quy mô bài bản hơn, năm 2018 Thủ tướng chính phủ đã quyết định giao cho tỉnh Sóc Trăng đăng cai tổ chức Festival lúa gạo lần thứ II vào dịp lễ hội Ook Om Bok – đua ghe Ngo, đó là điều kiện thuận lợi để Sóc Trăng quảng bá, kêu gọi các nhà đầu tư đến tìm hiểu nghiên cứu và khai thác có hiệu quả những tiềm năng du lịch của vùng.

Tuy nhiên bên cạnh những mặt đạt được trong việc khai thác loại hình văn hóa lễ hội phục vụ khách du lịch, thì vấn đề tổ chức trong các lễ hội còn tồn tại những hạn chế nhất định như hầu hết các lễ hội được tổ chức quy mô và hoành tráng hơn trước nhưng cơ sở vật chất, hệ thống hạ tầng chưa tương ứng, nhất là hình thức dịch vụ chưa đáp ứng được nhu cầu của phần lớn du khách còn thiếu các điểm vui chơi vào ban đêm, những hoạt động mang tính truyền thống của dân tộc Khmer… để níu chân du khách ở lại và quay trở lại. Bên cạnh đó văn hóa tâm linh có xu hướng thiếu lành mạnh, còn có hiện tượng bói toán lên đồng, rồi đến nạn cờ bạc các dịch vụ trong hoạt động lễ hội bị thương mại hóa, nạn lôi kéo khách hành hương…còn phổ biến, đã làm giảm đi tính tôn nghiêm và những nét đẹp văn hóa trong khuôn khổ lễ hội. Nên rất cần sự chuyên nghiệp của ban tổ chức quản lí lễ hội đảm bảo các mặt an ninh, các dịch vụ để đem lại sự tin tưởng, hài lòng của du khách khi đến với mảnh đất Sóc Trăng.

  • Loại hình du lịch làng nghề

Để đáp ứng nhu cầu thiết thực của du khách gần xa, tỉnh Sóc Trăng cũng đang đẩy mạnh phát triển sản phẩm du lịch từ các làng nghề truyền thống. Đây được xem là một vấn đề đang được đầu tư khai thác nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cho các địa phương, góp phần vào việc gìn giữ, bảo tồn và phát huy giá trị cao đẹp của từng sản phẩm. Ở tỉnh Sóc trăng người Khmer làm các nghề thủ công như đan lát đồ dùng bằng tre trúc, dệt chiếu, sơ chế thuốc, đóng xe bò, sơ chế thuốc lá… Hiện nay tại ấp Phước Qưới, xã Phú Tân huyện Châu Thành cách thành phố Sóc Trăng 10km nghề đan lát thủ công và làm đồ gia dụng bằng tre trúc khá phát triển, đã tổ chức được các tour cho du khách đến tham quan, mỗi năm số lượng du khách tới tham quan ngày một đông, đến đây du khách sẽ thích thú khi được tham quan các cơ sở đan lát tre nứa, thấy được không khí rộn ràng, tiếng vót tre đan tanh tách nghe rất vui tai và tìm hiểu về nghệ thuật đan lát của bà con Khmer, được trực tiếp thấy đôi bàn tay khéo léo tinh tế của người dân tạo ra những sản phẩm rất phong phú và đa dạng chủng loại như cái rổ, thúng, xà ngom, bội nhốt gà, xà neng, cần xé nhỏ… đến những mặt hàng thủ công mỹ nghệ khác như chiếc ghe ngo nhỏ, khay đựng trầu, rổ nhỏ… để du khách có thể mua làm quà lưu niệm khi trở về; Nhà nước cũng như tỉnh uỷ Sóc Trăng đặc biệt quan tâm, đầu tư kinh phí xây dựng mở rộng cơ sở, có phòng thực hành, nhà kho, nhà trưng bày, đồng thời đã thành lập hợp tác xã làng nghề từ những năm 2013 với 126 hộ thành viên đều là người Khmer, vốn gắn bó lâu đời với nghề đan lát (Nguồn:  Sở văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Sóc Trăng). Luận văn: Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer.

Bên cạnh đó làng nghề vẽ tranh kiếng ở xã Phú Tân huyện Châu Thành tiêu biểu cho nét văn hóa hội họa rất riêng của đồng bào Khmer ở Sóc Trăng cũng thu hút sự chú ý của khách du lịch, tuy nhiên hiện nay đang có nguy cơ mai một dần, những người còn giữ được nghề truyền thống này hầu như đã lớn tuổi, thế hệ con cháu gần như đã không còn mặn mà với công việc đòi hỏi sự tẩn mẩn này. Điểm qua những nghệ nhân có tuổi và gắn bó lâu dài với nghề truyền thống này thì không thể không nhắc đến đôi vợ chồng nghệ nhân già Sơn Bol và Lý Thị Thiên, những người được coi là gạo cội trong nghề vẽ tranh trên kính tại Phước Thuận. Họ chính là những người giữ lửa cho làng nghề trước nhịp sống hối hả của thời đại, quanh năm suốt tháng đôi bàn tay của vợ chồng già không ngơi cọ, dù nghèo nhưng với họ bỏ nghề là bỏ gốc.Ông Bol tâm sự: “Cái nghề đã gắn chặt với cuộc đời tôi từ lúc tuổi 16, đến nay tôi đã 70 thì làm sao tôi có thể bỏ được nó khi mà xung quanh chẳng còn mặn mà. Là người đầu tiên nên mình cũng cố gắng lê những bước cuối cùng còn lại của cái nghề này”. Vào những ngày cận tết, hai vợ chồng nhận được nhiều đơn đặt hàng hơn của các thương lái có nhu cầu. Ngoài tranh trên kính, gia đình ông Bol còn vẽ tranh trên vải, vẽ hoa văn cho các mô hình sản phẩm thủ công mỹ nghệ trong làng để sản phẩm được đa dạng hơn về thể loại. Và đồng bào người Khmer cho dù cuộc sống hiện đại, các vật dụng trang trí cũng phong phú hơn, nhưng với họ thì trong ngôi nhà không thể thiếu những bức tranh kính mang những ảnh tượng trưng có nét đặc trưng riêng của văn hóa Khmer như ảnh Phật Đản sinh, Phật ngồi thiền… Chính vì vậy, thực sự làng nghề vẽ tranh kính ở ấp Phước Qưới, xã Phú Tân, huyện Châu Thành rất cần sự quan tâm của tỉnh ủy để lưu giữ được nét văn hóa đẹp vốn được coi là nghệ thuật hội họa độc đáo của người Khmer.

Ngày nay, trải qua biết bao biến động và những đổi thay về kinh tế nhưng vẫn còn có những làng nghề truyền thống đang tồn tại và phát triển trở thành sản phẩm du lịch cho du khách mỗi khi về vùng đất Sóc Trăng. Để phát huy hơn nữa những tiềm năng vốn có của từng địa phương, tỉnh đã quy hoạch và định hướng phát triển làng nghề truyền thống theo cơ chế thị trường, bảo đảm phát triển bền vững, giữ gìn tốt vệ sinh môi trường sinh thái, phát triển làng nghề gắn với du lịch, văn hóa địa phương.

  • Loại hình du lịch văn hóa ẩm thực

Đến Sóc Trăng tham quan du khách không chỉ được khám phá nét độc đáo qua những công trình kiến trúc, mà còn được thưởng thức nét văn hóa ẩm thực khá đặc sắc đã và đang được tỉnh đẩy mạnh khai thác phục vụ cho hoạt động du lịch. Các món ăn từ lâu đã được coi là đặc trưng của người Khmer đó là: mắm Bohoc, bún nước lèo, bánh cống, cốm dẹp… mà hiện nay được các nhà hàng chọn làm một trong những món ăn không thể thiếu trong thực đơn, phần nào dưa du khách đến gần hơn với văn hóa ẩm thực nơi đây. Bên cạnh đó, các món ăn của người Khmer còn được người dân bày bán tại nhà, hay xung quanh các điểm du lịch với giá cả phải chăng đáp ứng cho nhu cầu của du khách khi muốn thưởng thức. Tỉnh Sóc Trăng cũng đã rất chú trọng khi thường tổ chức các hội chợ ẩm thực mang tính thương mại nhằm quảng bá tới khách du lịch. Tuy nhiên, còn thiếu sự đa dạng trong các món ăn của người Khmer, với chỉ có một vài món ăn đặc trưng được du khách biết đến, nhưng không phải món ăn nào du khách cũng thưởng thức được bởi cách chế biến cùng mùi vị có những điểm khác lạ; ngay cả hội chợ ẩm thực của tỉnh cũng thực sự chưa thu hút được khách du lịch, còn mang tính nhỏ lẻ, những nét độc đáo trong ẩm thực của người Khmer chưa được khai thác hết. Luận văn: Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer.

Bên cạnh đó, các loại hình văn nghệ dân gian của dân tộc Khmer như: văn học dân gian, sân khấu dân gian, ca múa, nhạc ngũ âm… đặc biệt là sân khấu Rôbam (múa mặt nạ), sân khấu Dù Kê (kịch hát), điệu múa Râm vông gây ấn tượng mạnh đối với du khách khi được thưởng thức. Tuy nhiên, rất khó có thể bắt gặp loại hình nghệ thuật trên trong cuộc sống thường ngày của người dân, chỉ có những ngày lễ thật lớn hoặc trong các sự kiện văn hóa chính trị xã hội đặc biệt của tỉnh, với có các đoàn nghệ thuật biểu diễn. Nên thực sự rất cần dược nhân rộng các loại hình nghệ thật trên để không chỉ du khách trong nước mà cả khách du lịc quốc tế được thưởng thức loại hình nghệ thuật độc đáo này.

2.4.3. Thị trường về khách du lịch

Trong những năm qua hoạt động du lịch của tỉnh Sóc Trăng đã có những bước chuyển mình, lượng khách du lịch và doanh thu du lịch tăng lên.Theo thống kê của Sở văn hóa, thể thao và Du lịch tỉnh Sóc trăng, trong giai đoạn 10 năm (2013 – 2023), lượng khách du lịch đến Sóc Trăng tăng qua các năm. Trung bình hàng năm tăng 14,2%; Trong đó khách nội địa tăng bình quân 13,8%, và đặc biệt là khách quốc tế tăng ở mức đột biến bình quân 49,2%. Lượng du khách tới Sóc Trăng để khám phá những nét mới lạ của sinh hoạt, đời sống dân cư nơi đây cũng như thưởng thức những sản phẩm du lịch mới. Năm 2013 tổng lượng khách du lịch đến Sóc Trăng là 68, 657 lượt khách, đến năm 2023 tăng lên 1 133 358 lượt khách, tăng gấp 16,5 lần.

Hình 2.1. Biểu đồ thể hiện tình hình khách du lịch đến Sóc Trăng  giai đoạn 2013 – 2023

Không chỉ lượng khách du lịch tăng mà số lượng khách lưu trú giai đoạn 2013 – 2023 cũng tăng đáng kể, trung bình hàng năm tăng đến 31,4%. Số khách lưu trú tăng vọt như vậy một phần do ngành Văn hóa, thể thao và du lịch của tỉnh trong những năm qua đã đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến quảng bá, và tỉnh ủy Sóc Trăng cũng đã chú trọng đầu tư cơ sở vật chất đặc biệt là cơ sở lưu trú cũng đã đảm bảo cho nhu cầu của du khách. Năm 2013 tổng lượt khách lưu trú là 68, 657 lượt khách, thì đến năm 2023 đã là 281,803 lượt khách tăng 213,146 lượt khách, gấp 4,1 lần; Trong đó lượt khách trong nước và quốc tế đều khởi sắc.

Hình 2.2. Biểu đồ thể hiện tình hình khách lưu trú tại Sóc Trăng  giai đoạn 2013- 2023

Lượng khách du lịch tăng qua các năm, điều tất yếu doanh thu du lịch cũng từng bước đi lên. Năm 2013 tổng doanh thu của ngành là 38,430 tỷ đồng, đến năm 2015 là 50,710 tỷ đồng, năm 2019 là 170, 392 tỷ đồng, năm 2023 là 460 tỷ đồng. Chứng tỏ những đóng góp của ngành vào hoạt động kinh tế chung của tỉnh ngày càng có những tín hiệu đáng mừng.

Hình 2.3. Biểu đồ thể hiện doanh thu du lịch Sóc Trăng giai đoạn 2013 – 2023.

Theo số liệu thống kê từ Sở văn hóa, thể thao và du lịch cho thấy thị trường du khách quốc tế mới chỉ tập trung ở một số nước ở Châu Á, Châu Âu. Nhiều nhất là khách du lịch đến từ Trung Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Tây Ban Nha, Pháp.. Trong khi đó lượng khách đến từ các nước ASEAN, nguồn khách nội địa trong nước từ miền Bắc, miền Trung hay Tây Nguyên chưa nhiều. Có thể nói thị trường khách du lịch vẫn chưa được khai thác tốt, từ đó sẽ ảnh hưởng đến hoạt động và doanh thu của tỉnh và khu vực. Chính vì vậy vấn đề đặt ra, là làm sao phải nâng cao tính hấp dẫn của các sản phẩm du lịch của vùng cũng như chất lượng các dịch vụ như giá cả, mua sắm, ăn uống, giao thông đi lại… để khai thác tốt nhất thị trường khách du lịch.

 2.4.4. Hiện trạng về cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ cho hoạt động du lịch Luận văn: Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer.

  • Hệ thống khách sạn

Toàn tỉnh có 43 khách sạn, trong đó có 1 khách sạn 3 sao, 8 khách sạn 2 sao, tập trung ở thành phố Sóc Trăng. Trong đó, có 01 khách sạn 03 sao (124 phòng); 11 khách sạn 02 sao; 20 khách sạn 01 sao và 11 khách sạn đạt chuẩn với tổng số phòng là 1073 phòng.Chất lượng dịch vụ trong khách sạn khá tốt, có 2 khách sạn có hồ bơi, 4 khách sạn có sân tennis và xông hơi vật lý trị liệu, 8 khách sạn có karaoke, nhà hàng và trên 30 nhà hàng cùng với quán ẩm thực. Về giá cả nghỉ qua đêm tại thành phố Sóc Trăng tương đối hợp lý, các khách sạn đạt tiêu chuẩn từ 01 đến 02 sao, trung bình có giá từ 200.000 – 350.000 đồng/đêm, đối với khách sạn đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch, trung bình có giá từ 150.000 – 200.000 đồng/đêm và giá phòng nghỉ thì từ 80.000 – 150.000 đồng/đêm. Với mức giá trên, phần nào đã giúp cho tỉnh thu hút khách đến lưu trú ngày càng tăng, đưa du lịch Sóc Trăng từ điểm dừng trở thành điểm đến (Nguồn: Sở văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Sóc Trăng).

Các khách sạn được xây dựng trong những năm gần đây cũng đã chú ý đến chất lượng tiền sảnh, trang trí nội thất, các dịch vụ đi kèm, góp phần tạo sự hài lòng cho du khách. Trong đó phải nhắc đến kiến trúc khách sạn, việc trang trí hình ảnh đã tạo nên sự hài hòa trong thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc trong tỉnh. Ngoài ra, hình thức trang trí trong các cơ sở lưu trú và trang phục của các nhân viên lễ tân, bàn, bar, bếp cũng thể hiện màu sắc văn hóa của 3 dân tộc Kinh, Khmer, Hoa trong tỉnh. Riêng nhà hàng khách sạn Ngọc Thu là đơn vị tiên phong trong giới thiệu bản sắc văn hóa của tỉnh thông qua việc mời đội văn nghệ nghiệp dư trình diễn các điệu múa, lời ca của dân tộc Khmer, mời khách cùng ca múa với nghệ sĩ, diễn viên nghiệp dư. Nhà hàng Satraco cũng mời các nghệ sĩ ca múa của Đoàn Văn hóa nghệ thuật Khmer tỉnh hướng dẫn cho nhân viên nhà hàng các điệu múa dân tộc Khmer như múa gáo, múa sạp, ca hát, phục vụ du khách.

Để bảo đảm các cơ sở lưu trú trong tỉnh phục vụ tốt cho du khách tại Sóc Trăng, Sở văn hóa thể thao và du lịch Sóc Trăng đã thường xuyên tổ chức đoàn kiểm tra, rà soát toàn bộ hệ thống chất lượng các cơ sở lưu trú du lịch, cũng như chỉ đạo các doanh nghiệp, cơ sở lưu trú du lịch có kế hoạch quản lý khách đúng quy định, giữ gìn an ninh trật tự, vệ sinh môi trường và phòng chống cháy nổ trong cơ sở kinh doanh; đảm bảo an toàn cho khách tham quan, du lịch, tạo niềm tin và thể hiện sự chuyên nghiệp trong phục vụ khách của cơ sở đến với du khách.

Ngoài ra còn có hệ thống các nhà trọ của các hộ gia đình, có đăng kí kinh doanh với các cơ sở ở địa phương, phần nào cung cấp chỗ ở cho các du khách và các khách vãng lai với giá cả phải chăng.

Tuy nhiên, giới thiệu văn hóa địa phương trong các cơ sở lưu trú du lịch tại Sóc Trăng vẫn còn một số hạn chế nhất định. Hình thức du lịch homestay chưa phát triển trong tỉnh nên cũng hạn chế điều kiện cho du khách hòa nhập, khám phá những nét văn hóa dân tộc độc đáo của Sóc Trăng.

  • Hệ thống nhà hàng Luận văn: Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer.

Hiện nay trên địa bàn của tỉnh số lượng nhà hàng và quán ăn phát triển khá nhanh đã đáp ứng nhu cầu ăn uống của du khách trong và ngoài tỉnh, hầu hết các cơ sở ăn uống tập trung tại trung tâm thành phố Sóc Trăng. Và đã chú ý đến các đối tượng khách từ bình dân đến cao cấp. Thực đơn trong các nhà hàng tương đối đa dạng, một số nhà hàng đã chú trọng đến việc giới thiệu ẩm thực của người Khmer đến du khách như món bún nước lèo, bánh cống, cốm dẹp… phần nào góp phần cho du khách tiếp cận với các món ăn của người Khmer. Các nhà hàng có qui mô khác nhau, sức chứa khác nhau nên có thể phục vụ nhiều loại tiệc khác như: tiệc cưới, liên hoan, sinh nhật…

Trong số các nhà hàng quán ăn ở Sóc Trăng, phải kể đến Nhà hàng du lịch chùa Dơi tọa lạc ngay trên đường 198 Văn Ngọc Chính – P3 – TP. Sóc Trăng, đây là nơi gặp gỡ thân mật, giao lưu, liên hoan, sinh nhật, hội nghị, hội thảo, tiệc cưới của các tổ chức và cá nhân. Nhà hàng được thiết kế và trang trí thật hài hòa với thiên nhiên, không gian xung quanh được phủ xanh bằng các loại cây tự nhiên, bên cạnh là ao cá rộng lớn sẽ tạo cảm giác tuyệt vời cho du khách. Đặc biệt khi quý khách đến với nhà hàng khu du lịch Chùa Dơi sẽ được xem múa biểu diễn các điệu múa của 3 dân tộc Kinh, Hoa, Khơmer rất đặc sắc và thú vị. Không gian về đêm là hệ thống đèn được thiết kế đặc biệt theo kiểu cung đình Huế tạo cảm giác nối liền giữa hai miền Nam – Trung không khỏi gây bất ngờ cho du khách. Với khung cảnh thơ mộng, rộng rãi, thoáng mát nhà hàng khu du lịch Chùa Dơi có thể phục vụ trên 1000 thực khách.Ngoài ra nhà hàng còn có phòng riêng từ 20 khách. Hệ thống máy lạnh âm thanh ánh sáng hiện đại,Với đầy đủ các món ăn Âu, Á, đặc sản của vùng sông nước Nam Bộ sẽ đem đến sự hài lòng cho quý thực khách.

Tuy nhiên thực đơn tại đa số các cơ sở này chưa đa dạng và chưa có nhiều món ăn đặc trưng, một số cơ sở kinh doanh chất lượng còn kém, chưa đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, thái độ phục vụ cần sự chuyên nghiệp hơn. Đó cũng là những hạn chế tại các cơ sở ăn uống của tỉnh Sóc Trăng, cần khắc phục.

  • Phương tiện vận chuyển, đưa, đón khách

Sóc Trăng có vị trí tương đối thuận lợi cho việc giao thông và phát triển kinh tế, xã hội bằng cả đường bộ lẫn đường thủy. Từ Sóc Trăng kết nối với các tỉnh thành khác với hệ thống đường bộ như Quốc lộ 1A, Quốc lộ 60, Quốc lộ 91C, Quốc lộ Quản Lộ – Phụng Hiệp… khoảng cách từ Sóc Trăng đến các tỉnh, thành lân cận không xa: Bạc Liêu 50 km, Thành phố Cần Thơ 63 km, Cà Mau 117 km, Thành Phố Hồ Chí Minh 237 km. Ngoài ra về đường thủy còn có tuyến đường biển quốc tế và trong nước qua cửa sông Hậu vào cảng Cần Thơ, đã giúp cho khách du lịch có thể dễ dàng tiếp cận với địa bàn bằng cả đường bộ lẫn đường thủy.

Hiện nay trên địa bàn tỉnh, số lượng các công ty doanh nghiệp vận tải hành khách ngày càng tăng cả về số lượng và, nhiều công ty vận chuyển có uy tín và chất lượng dịch vụ tốt như: Công ty TNHH Dịch vụ vận tải Nguyên Cường, chi nhánh Sóc Trăng – Công ty TNHH vận tải hành khách Yên Hùng, Công ty TNHH thương mại dịch vụ vận tải Hữu Phước, Chi nhánh 2 Doanh nghiệp tư nhân vận chuyển hành khách Mỹ Duyên… song song là hệ thống giao thông công cộng cũng ngày càng hoàn thiện, đã đáp ứng phần nào nhu cầu di chuyển của du khách. Các tuyến xe buýt tại Sóc Trăng khá phong phú, có 8 tuyến xe buýt với trên 50 đầu xe chạy từ trung tâm thành phố đi các huyện (Nguồn: Sở văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Sóc Trăng).

Bên cạnh đó, từ khi có sân bay Cần Thơ và hệ thống giao thông được nâng cấp, việc tăng cường liên kết phát triển du lịch với các tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long, TP.Hồ Chí Minh và miền Trung, miền Bắc được thuận lợi hơn, tạo thêm các tour, tuyến mới, lượng khách du lịch đến Sóc Trăng ngày càng tăng, các cơ sở lưu trú ngày càng phát huy lợi thế kinh doanh.

2.4.5. Đội ngũ lao động trong ngành du lịch Luận văn: Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer.

Nguồn nhân lực phục vụ hoạt động du lịch tại Sóc Trăng hiện có trên 675 người (kể cả lao động thời vụ); trong đó số người có trình độ đại học là 105 người, 120 người có trình độ cao đẳng, 110 người có trình độ trung cấp, còn lại là qua các lớp đào tạo ngắn hạn. Công tác đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực được chú trọng, nên nguồn nhân lực phục vụ cho hoạt động du lịch của tỉnh đã được cải thiện đáng kể cả về chất lượng và số lượng, từng bước đáp ứng nhu cầu phát triển.

Thực hiện theo tinh thần chỉ đạo của Nghị quyết 05 của Tỉnh ủy và chương trình hành động 06 của UBND tỉnh, Sở văn hóa thể thao du lịch phối hợp với các trường đại học, cao đẳng nghề du lịch tại Cần Thơ và cả TP. Hồ Chí Minh tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn quản lý nhà nước về du lịch và đạo tạo hướng dẫn viên du lịch. Đây thực sự là một việc làm cần thiết trong thực trạng nguồn nhân lực du lịch còn yếu không chỉ ở tỉnh Sóc Trăng mà còn ở hầu hết các tỉnh trên phạm vi cả nước. Ngoài ra, Sở văn hóa thể thao và du lịch cũng đã chủ trương thành lập chi hội hướng dẫn viên du lịch Sóc Trăng trực thuộc Hiệp hội du lịch tỉnh nhằm tập hợp lực lượng thuyết minh viên, hướng dẫn viên đang công tác trên địa bàn tỉnh.

Tuy nhiên, trong cơ cấu lao động phục vụ cho hoạt động du lịch vẫn còn nhiều bất cập, đó là tỉ lệ lao động nghiệp vụ (lễ tân, phục vụ buồng, phục vụ bàn, đầu bếp…) chiếm tỉ lệ khá cao 78%, đội ngũ quản lý của cơ quan quản lý nhà nước chiếm tỉ trọng còn nhỏ 8%, lao động quản lý tại các doanh nghiệp 14%. Lao động dưới sơ cấp (qua đào tạo tại chỗ hoặc các khóa huấn luyện nghiệp vụ ngắn hạn) còn chiếm tỉ lệ khá cao trên 50%. Đặc biệt là đội ngũ hướng dẫn viên du lịch còn mỏng, chưa đáp ứng được yêu cầu muốn tìm hiểu của khách du lịch, khi mà tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer lại là một thế mạnh để tỉnh phát triển du lịch, đơn cử như các du khách khi đến những ngôi chùa của người Khmer tham quan, phần lớn là được các vị sư trụ trì tại chùa hướng dẫn hoặc cung cấp thêm nguồn. Ngay cả các địa điểm có hướng dẫn viên du lịch cũng vẫn còn hạn chế về trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Đáng lo ngại là đa số nhân viên phục vụ chưa qua các khoá bồi dưỡng, đào tạo chuyên môn ngắn hạn, dài hạn. Hiện nay, nhiều chủ doanh nghiệp nhỏ điều hành quản lý và phục vụ khách là theo kinh nghiệm của riêng mình. Đây thật sự là một hạn chế, cần được sự quan tâm chỉ đạo của cơ quan quản lý du lịch và sự tham qia khắc phục của các doanh nghiệp du lịch và dịch vụ.

Sự hạn chế về nghiệp vụ chuyên môn cũng sẽ làm giảm nguồn thu của doanh nghiệp do du khách đến không được đáp ứng tốt các dịch vụ. Vì vậy, vấn đề đào tạo nghiệp vụ luôn được xem là một trong những yếu tố quan trọng quyết định chất lượng phục vụ khách và có tạo được ấn tượng tốt, để du khách quay lại nhiều lần nữa hay không.

2.4.6. Các tuyến du lịch được khai thác

Với lợi thế về nguồn tài nguyên du lịch nhân văn phong phú, kết hợp với tài nguyên sinh thái khá đa dạng, Sóc Trăng đã xây dựng các tuyến điểm du lịch và đang khai thác ngày càng có hiệu quả, thể hiện một phần qua số lượng khách du lịch trong và ngoài nước tăng đáng kể trong những năm gần đây. Luận văn: Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer.

Các cụm, tuyến, địa điểm du lịch tập trung phát triển gồm

Cụm du lịch Thành phố Sóc Trăng: tổ chức du lịch văn hóa lễ hội, tham quan di tích văn hóa, lịch sử, Bảo tàng Sóc Trăng, du lịch giải trí, mua sắm, ẩm thực, tham quan làng nghề, du lịch sinh thái nghỉ dưỡng. Các điểm tham quan văn hóa gồm Chùa Khleng, Chùa Dơi, Chùa Đất Sét,Chùa Chén Kiểu, Chùa Bốn mặt, Chùa La Hán…

Cụm du lịch Vĩnh Châu – Trần Đề – Long Phú: phát triển các điểm du lịch bãi biển, khu nghỉ dưỡng, khu khách sạn ven bờ, du lịch vườn nhãn Vĩnh Châu, kết hợp với du lịch văn hóa tham quan chùa chiền, lễ hội của người Khmer, người Hoa, du lịch làng nghề truyền thống.

Cụm du lịch Kế Sách – Mỹ Phước: du lịch sông nước, nhà vườn kết hợp du lịch tham quan di tích văn hóa, lịch sử, lễ hội, tham quan chùa Kế Sách. Kết hợp đầu tư xây dựng khu du lịch sinh thái cồn Mỹ Phước, hình thành làng du lịch, điểm du lịch nhà vườn, biểu diễn văn hóa nghệ thuật dọc theo bờ sông Hậu.

Cụm du lịch Cù Lao Dung: du lịch sinh thái nghỉ dưỡng, tham quan di tích văn hóa lịch sử, du lịch thể thao, giải trí.

Cụm du lịch Châu Thành – Mỹ Tú: du lịch Khu căn cứ rừng Tràm Mỹ Phước, Làng Văn hóa dân tộc (Phú Tân).

Bên cạnh đó còn có các tuyến du lịch ngoại tỉnh từ Sóc Trăng đến các tỉnh như: Thành phố Sóc Trăng đi Hậu Giang – Kiên Giang, đi Huế – Đã Nẵng, Thành phố Sóc Trăng đi Vĩnh châu – Bạc Liêu, Thành Phố Sóc Trăng đi ngư cảng Trần Đề – Phú Quốc – Kiên Giang. Một số chương trình du lịch liên vùng như: Chương trình du lịch Thành Phố. Hồ Chí Minh – Vĩnh Long – Cần Thơ – Sóc Trăng (5 ngày 4 đêm), Chương Trình du lịch Thành Phố Hồ Chí Minh – An Giang – Cần Thơ – Sóc Trăng (4 ngày 3 đêm), Chương trình du lịch Tp. Hồ Chí Minh – Hà Tiên – Cần Thơ – Sóc Trăng – Mỹ Tho – TP. Hồ Chí Minh (4 ngày 3 đêm) (Sở văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Sóc Trăng).

Với chính sách khuyến khích đầu tư thông thoáng và tiềm năng lợi thế từ nguồn tài nguyên du lịch nhân văn, trong tương lai các dự án du lịch trọng điểm được triển khai và đưa vào hoạt động, chắc chắn du lịch Sóc TRăng sẽ thu hút thêm nhiều du khách các vùng trong cả nước và khách quốc tế đến Sóc Trăng như đến một trong những địa danh nổi tiếng của cả nước.

2.4.7. Đánh giá chung về tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer ở tỉnh Sóc Trăng có thể khai thác phát triển du lịch

Muốn phát triển ngành du lịch của một địa phương nào đó thì phải có tài nguyên du lịch, tức là tiềm năng du lịch. Việc đánh giá đúng thực trạng tài nguyên du lịch sẽ giúp cho việc quy hoạch, định hướng phát triển tốt hơn. Sóc Trăng là tỉnh có số lượng người Khmer đông nhất, bởi vậy nơi đây đã hội tụ những tinh hoa về văn hóa của người Khmer ở vùng đất Nam Bộ. Đồng thời cũng là tỉnh còn bảo tồn đầy đủ nhất những giá trị của tài nguyên du lịch nhân văn của dân tộc Khmer để phục vụ cho hoạt động du lịch. Luận văn: Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer.

Tài nguyên du lịch nhân văn chính là một ưu thế của Sóc Trăng trong phát triển du lịch. Theo kết quả điều tra tài nguyên du lịch năm 2023, toàn tỉnh có 97 đơn vị tài nguyên du lịch bao gồm cả TNDL tự nhiên lẫn TNDL nhân văn, với chỉ sử dụng được 18 điểm tập trung hầu hết ở thành phố Sóc Trăng là thu hút đông du khách trong nước và quốc tế đến tham quan. Cũng trong năm 2023, theo điều tra xã hội học về định hướng phát triển du lịch tỉnh Sóc Trăng, những điểm du lịch thu hút khách nhiều nhất là: điểm chùa Dơi, chùa Chén Kiểu, chùa Đất Sét, trung tâm Văn hóa Triển lãm hồ nước ngọt, mảng lễ hội cũng thu hút đông đảo khách du lịch phải kể đến là lễ hội Ooc om Bok – đua Ghe Ngo, lễ hội Thác Côn… có nhiều buổi lễ có ý nghĩa lớn trong đời sống tâm linh, rồi đến hoạt động của các làng nghề hiện nay vẫn còn hoạt động và được bảo tồn, đều có những nét độc đáo hấp dẫn du khách đến tìm hiểu. Không chỉ đến Sóc Trăng khám phá những điều mới lạ, mà khách du lịch còn được thưởng thức văn hóa ẩm thực đặc sắc mang hương vị riêng, từ các món bánh làm từ nếp gắn với đời sống sinh hoạt của họ cho đến những món ăn từ lâu đã trở thành đặc sản của vùng như mắm bồ hốc, bún nước lèo và cũng là thương hiệu nổi tiếng khi nhắc đến mảnh đất Sóc Trăng nói riêng và vùng Nam Bộ nói chung. Bên cạnh đó người Khmer còn có nền văn hóa nghệ thuật rất phong phú và đặc sắc được thể hiện qua những điệu múa, lời ca, lối kiến trúc độc đáo, làm say đắm bao du khách.

Đây sẽ là điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, các nhà đầu tư khi đến Sóc Trăng mở rộng kinh doanh dịch vụ du lịch. Nếu biết tận dụng những tiềm năng từ nguồn TNDL nhân văn nhằm khai thác một cách có hiệu quả để phát triển du lịch, thì ngành du lịch của tỉnh sẽ có những bước phát triển vững chắc và ngày càng có cơ hội bay cao hơn nữa.

Bên cạnh những thuận lợi mà nguồn TNDL nhân văn của người Khmer đem lại cho tỉnh trong khai thác để phát triển du lịch, thì tỉnh cũng còn những bất cập cập cần lưu ý khi sử dụng nguồn tài nguyên này phục vụ cho hoạt động du lịch. Đó là có những di tích như một số ngôi chùa đang dần xuống cấp cần được tôn tạo, các làng nghề dần bị mai một trước cơ chế thị trường và thị hiếu của người dân, để giữ lửa cho các làng nghề cũng là vấn đề cần quan tâm để không những đảm bảo cho đời sống của bà con mà còn là lưu giữ nét đẹp trong truyền thống văn hóa. Ẩm thực của người Khmer có những nét đặc trưng riêng nhưng đôi khi một số món ăn có hương vị lạ, chưa thu hút được đông đảo du khách thưởng thức. Do các lễ hội tập trung theo mùa, nên đồng nghĩa với việc số lượng khách du lịch đến Sóc Trăng không có sự đồng đều trong năm; đúng mùa lễ hội du khách tập trung đông đúc, sau lễ du khách tới Sóc Trăng chỉ rải rác, điều này ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động du lịch của tỉnh.

Tiểu kết chương 2 Luận văn: Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer.

Sóc Trăng là tỉnh hội tụ nguồn tài nguyên du lịch nhân văn phong phú, đa dạng, đó cũng là điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch với nhiều mục đích khác nhau như: tham quan, học tập, nghiên cứu, lịch sử, tín ngưỡng tâm linh… Đây chính là những cơ sở để ngành du lịch phát triển, tạo việc làm, nâng cao đời sống kinh tế và hiểu biết xã hội cho người dân địa phương; đồng thời cũng đem lại doanh thu đóng góp và sự phát triển chung về mọi mặt của tỉnh.

Song trên thực tế, du lịch Sóc Trăng chưa tận dụng và khai thác hiệu quả những tiềm năng, thế mạnh của nguồn tài nguyên này trong quá trình phát triển. Lượng khách du lịch đến đây hàng năm tăng nhưng vẫn còn ít, doanh thu từ hoạt động du lịch đóng góp vào GDP của tỉnh chưa nhiều. Điều này đồng nghĩa với mức chi tiêu của khách du lịch đến Sóc Trăng còn thấp, thời gian lưu trú ngắn, khách nước ngoài và khách có khả năng thanh toán cao chưa nhiều. Nguyên nhân chính là do sản phẩm du lịch văn hóa của tỉnh còn đơn điệu, thiếu tính chuyên nghiệp trong chưa phát huy được ưu thế về giá trị và tính độc đáo, chất lượng dịch vụ chưa đáp ứng được nhu cầu của du khách, vì thế chưa có sức cạnh tranh trên thị trường ngày càng đa dạng.

Để phát triển TNDL nhân văn của người Khmer tỉnh Sóc Trăng đạt hiệu quả hơn, tác giả đưa ra những định hướng và giải pháp cụ thể ở chương 3. Luận văn: Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: Giải pháp tài nguyên du lịch nhân văn của người Khmer

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993