Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Định hướng chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Định hướng chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam trong thời gian tới dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Để đảm bảo mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam có một nền kinh tế có quy mô tương xứng với dân số khoảng 100 triệu người với cơ cấu phù hợp với một nước công nghiệp, ổn định kinh tế vĩ mô được coi là nhiệm vụ thường xuyên, duy trì các cân đối vĩ mô được coi là nhiệm vụ trung hạn và cơ cấu lại nền kinh tế thuộc nhiệm vụ trung, dài hạn. Các chính sách kinh tế vĩ mô đặc biệt là chính sách tài chính và tiền tệ phải được vận dụng một cách hài hòa cho việc thực hiện các mục tiêu trong điểm này.
Nằm trong hệ thống chính sách tiền tệ, chính sách tỷ giá hối đoái được coi là một trong những nhân tố quan trọng việc ổn định, lưu thông tiền tệ và phát triển kinh tế. Trong giai đoạn tới, tỷ giá phải được điều hành một cách linh hoạt theo thị trường, tỷ giá phải gắn liền với mối quan hệ lãi suất nội và ngoại tệ, chính sách tỷ giá phải theo hướng có lợi cho sự tăng trưởng chung của nền kinh tế. Để tỷ giá hối đoái thực sự linh hoạt và phù hợp với tình hình thực tế, trong chương 3 này tác giả giả xin đề cập đến định hướng chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam trong thời gian tới và một số khuyến nghị nhằm cải thiện những tác động của tỷ giá hối đoái đến xuất nhập khẩu của Việt Nam.
3.1. Định hướng chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam trong thời gian tới.
3.1.1. Chính sách tỷ giá hối đoái phải được điều hành 1 cách linh hoạt theo thị trường.
Công cuộc hội nhập hàng ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới đòi hỏi phải đẩy mạnh quá trình tự do hóa tỷ giá hối đoái. Tỷ giá hối đoái cần phải do thị trường quyết định. Nhà nước cần chuẩn bị những điều kiện cần thiết và xác định rõ mục tiêu điều chỉnh tỉ giá hối đoái và có những công cụ và biện pháp điều tiết hữu hiệu, can thiệp đúng lúc khi xuất hiện nguy cơ biến động quá lớn so với mục tiêu.
3.1.2. Tỷ giá phải gắn kết mối quan hệ lãi suất nội và ngoại tệ
Trong nền kinh tế đô la hóa như Việt Nam, mối quan hệ giữa tỷ giá, lãi suất đồng bản tệ và lãi suất đồng ngoại tệ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nếu không đảm bảo sự cân bằng về lợi tức giữa hai đồng tiền thông qua biến số tỷ giá, lãi suất thì sẽ gây ra sự dịch chuyển giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ trên thị trường trong nước. Lượng ngoại tệ vào nhiều sẽ gây sức ép tăng giá đồng nội tệ, lạm phát gia tăng cùng với chính sách tỷ giá chưa linh hoạt sẽ đặt chính sách tiền tệ rơi vào tình thế rất khó khăn trong điều hành.
3.1.3. Chính sách tỷ giá phải theo hướng có lợi cho sự tăng trưởng chung của nền kinh tế
Điều hành tỷ giá hiệu quả sẽ góp phần đáng kể trong việc đạt các mục tiêu kinh tế vĩ mô quan trọng, kiểm soát nhập siêu, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, bảo đảm các cân đối cán cân thương mại, cán cân vãng lai, cán cân thanh toán tổng thể, cân đối tiết kiệm đầu tư, cân đối tích lũy tiêu dùng. Dự kiến năm 2020, với các sức ép mất cân đối kinh tế giữa trong và ngoài nước, giảm giá VNĐ là tất yếu song mức độ và thời điểm điều chỉnh giảm cần đồng bộ với chính sách quản lý ngoại hối và chính sách thương mại, bảo đảm không tạo ra cú sốc đối với nền kinh tế vĩ mô, đồng thời không quá kỳ vọng vào việc giải quyết ngay những mất cân đối vĩ mô đã tích tụ trong những năm gần đây, nhất là chỉ thông qua những công cụ đơn độc như điều chỉnh tỷ giá hối đoái.
3.2. Một số khuyến nghị hoàn thiện chính sách tỷ giá hối đoái nhằm mục tiêu cải thiện thực trạng xuất nhập khẩu. Luận văn: Định hướng chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam.
Trong chương 2 chúng ta đã nhắc đến cơ cấu xuất nhập khẩu của nước ta chưa mang tính bền vững. Điều này ảnh hưởng rất nhiều đến kim ngạch xuất nhập khẩu và tình trạng nhập siêu của Việt Nam trong những năm gần đây. Do đó chiến lược cho Việt Nam là nên thay đổi cấu trúc ngoại thương theo hướng bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa, đa phương hóa thị trường xuất, nhập khẩu để có thể hạn chế tác động tiêu cực của tỷ giá hối đoái đến nền ngoại thương. Ngoài những định hướng này người viết cũng đưa ra một số khuyến nghị hoàn thiện chính sách tỷ giá hối đoái nhằm mục tiêu cải thiện thực trạng xuất nhập khẩu của nước ta hiện này.
3.2.1. Không tiến hành phá giá mạnh đồng nội tệ
Mặc dù về lý thuyết, chính sách đồng nội tệ yếu có thể tác động nâng cao năng lực cạnh tranh cho hàng hóa xuất khẩu của một nước. Tuy nhiên, chính sách tỷ giá không nên chỉ thiên vị và chủ yếu hướng về mục tiêu xuất khẩu, nó phải đảm bảo lợi ích tổng thể của nền kinh tế, trong đó doanh nghiệp sản xuất cung cấp hàng trong nước cũng phải được hỗ trợ như doanh nghiệp xuất khẩu. Phá giá mạnh sẽ có tác động rất lớn đến sự ổn định của sản xuất trong nước, nhất là đối với những doanh nghiệp có nhập khẩu nguyên liệu đầu vào, phá giá mạnh sẽ khiến chi phí sản xuất tăng. Phá giá mạnh cũng đẩy rủi ro và gánh năng tỷ giá cho các doanh nghiệp có vay bằng ngoại tệ, gánh nặng nợ nần nước ngoài của chính phủ cũng tăng lên.
Do sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường thế giới nên phá giá đồng nội tệ không thể hỗ trợ, nâng cao năng lực cạnh tranh cho hàng xuất khẩu và cải thiện cán cân thương mại. Hơn nữa, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam hiện nay, như đã nêu là hàng thô chưa qua chế biến hoặc chế biến rất ít, hàng hóa sản xuất theo dây chuyền, hàng gia công… Các hàng hóa này có hàm lượng nguyên liệu đầu vào nhập khẩu từ nước ngoài rất lớn, chi phí lao động trong nước thấp. Nếu tiền đồng bị làm mất giá, giá hàng xuất khẩu có thể rẻ hơn tạo lợi thế cho hàng xuất khẩu, nhưng đồng thời chi phí cho nguyên vật liệu nhập khẩu cũng tăng theo. Đối với những doanh nghiệp xuất khẩu có nguyên liệu đầu vào nhập khẩu, việc giá nguyên liệu nhập tăng lên sẽ làm tăng giá thành sản phẩm, từ đó khiến giá bán cũng có thể tăng theo. Điều này cho thấy hiệu quả ròng của việc phá giá đối với xuất khẩu là không rõ ràng. Đồng thời, việc tăng giá hàng nhập khẩu có thể thúc đẩy lạm phát trong nước tăng lên. Vì vậy quyết định phá giá mạnh cần phải hết sức thận trọng. Phá giá mạnh có thể không chỉ làm cho hàng hóa việt Nam không được lợi trên sân khách mà còn nguy cơ thua ngay trên sân nhà.
Lý thuyết cũng đề cập hành động phá giá làm giá hàng nhập khẩu tăng, người tiêu dùng có thể sẽ chuyển sang dung hàng thay thế trong nước, từ đó sẽ giảm nhập khẩu. Tuy nhiên, thực tế cho thấy hàng hóa nhập khẩu chủ yếu của nước ta hiện nay là nhóm hàng nguyên nhiên vật liệu cần thiết cho việc sản xuất, có ít hàng hóa thay thế hay nếu trong nước sản xuất được thì có giá cao hơn hoặc chất lượng thấp hơn. Do đó, người tiêu dùng có thể sẽ tiếp tục chọn hàng ngoại, khiến nhập khẩu khó giảm đi như kỳ vọng.
Bên cạnh đó, tỷ giá sẽ tăng làm mất lòng tin của người dân đối với tiền đồng, sẽ xảy ra tình trạng chuyển đổi VND sang USD, vàng và các ngoại tệ mạnh khác, làm trầm trọng thêm tình trạng đô la hóa. Vì vậy, phá giá là phá niềm tin vào tiền đồng. Đây cũng là một trong những lý do quan trọng để ủng hộ quan điểm không phá giá mạnh đồng nội tệ.
3.2.2. Kiểm soát và dần tiến tới xóa thị trường chợ đen Luận văn: Định hướng chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam.
Thị trường chợ đen tồn tại làm ảnh hưởng đến hoạt động kiểm soát ngoại hối của NHNN, gây khó khăn trong xác định giá trị đồng bản tệ và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia. Sự tồn tại của thị trường “chợ đen trước hết là do sự thiếu đồng bộ, kém hiệu quả của các chính sách quản lý kinh tế vĩ mô, thứ 2 là do sự thiếu đồng bộ, kém hiệu quả của các chính sách quản lý kinh tế vĩ mô, thứ 2 là do sự phát triển của hoạt động kinh tế ngầm ngày càng lớn cả về quy mô lẫn mức độ tinh vi. Sự yếu kém của hệ thống ngân hàng cũng được coi là nhân tố thứ 3 tác động đến sự tồn tại của thị trường này. Bên cạnh đó, việc người dân được phép cất giữ, sử dụng ngoại tệ một cách tự do cũng làm gia tăng quy mô và tần số giao dịch ngoại tệ trên thị trường tự do.
Chính vì vậy, kiểm soát và dần thu hẹp phạm vi hoạt động của thị trường chợ đen nhằm làm tăng khả năng kiểm soát tiền tệ và nhiệm vụ cần làm trong việc thống nhất và quản lý ngoại hối. Mọi nguồn thu cần phải được tập trung về một mối để có thể cân đối mọi nhu cầu ngoại tệ hợp lý và cân bằng cán cân thang toán. Tuy nhiên tập trung ngoại tệ vào ngân hàng mà không làm ảnh hưởng đến tâm lý người dân cũng như không gây khó khăn cho các tổ chức kinh doanh hợp pháp là việc không hề đơn giản. Chính phủ nên tiếp tục khuyến khích các doanh nghiệp bán ngoại tệ thu được cho NHTM. Để làm được điều đó, mọi nhu cầu ngoại tệ hợp lý của các doanh nghiệp này cần phải được thỏa mãn, đồng bản tệ phải có được niềm tin trong dân chúng, khả năng chuyển đổi đồng tiền được đảm bảo, các công cụ quản trị rủi ro tỷ giá hoạt động hiệu quả, nạn buôn lậu và gian lận trong thương mại cần được kiểm soát chặt chẽ. Thêm nữa NHNN cần nghiêm cấm việc niêm yết quảng cáo cũng như thanh toán hàng hóa, dịch vụ bằng ngoại tệ. NHNN cũng cần giám sát, kiểm soát chặt chẽ việc cấp phép, tổ chức và kinh doanh của các bàn trao đổi ngoại tệ.
3.2.3. Neo tiền đồng vào 1 rổ ngoại tệ
Hiện nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại thương với nhiều nước trên thế giới nên việc neo tiền đồng vào rổ tiền với trọng số của từng đồng tiền phản ánh xu hướng mậu dịch quốc tế của Việt Nam cho phép đánh giá chính xác hơn sức mua của tiền đồng và tác động của nó đối với sức cạnh tranh xuất nhập khẩu với các đối tác thương mại chủ yếu. Vì thế, điều hành chính sách tỷ giá nên ngày càng giảm bớt sự lệ thuộc của tiền đồng và đồng đô la Mỹ.
Thực tế hiện nay, khi công bố tỷ giá bình quân liên ngân hàng, NHNN đã chọn tỷ giá USD/VND để niêm yết hàng ngày. Điều này thể hiện đồng USD là đồng tiền thống trị trên thị trường tiền tệ, và hiện tại vẫ chưa có đồng tiền nào đủ mạnh để đe dọa vị trí đồng USD. Tuy nhiên, NHNN có thể lựa chọn một số đồng ngoại tệ mạnh (như JPY, EUR, GBP…) đưa thêm vào tính toán chỉ số tỷ giá và bằng cách nào đó, NHNN có thể công bố tỷ giá này dưới dạng tỷ giá tham khảo.
Mặt khác, ngân hàng nhà nước nên tiếp tục thả nổi hoàn toàn tỷ giá của đồng nội tệ so với các ngoại tệ khác, chỉ quản lý tỷ giá USD/VND. Do được tự do giao động, các đồng tiền mạnh khác sẽ quay trở lại tác động vào tỷ giá USD/VND. Cơ chế này cũng khuyến khích việc sử dụng các ngoại tệ mạnh khác trong thanh toán quốc tế và cất trữ, giảm bớt sự lệ thuộc quá lớn vào đồng USD. Đồng thời, NHNN nên khuyến khích doanh nghiệp nhập khẩu chọn đồng ngoại tệ thanh toán nào có tỷ giá VND so với đồng ngoại tệ đó giảm và ngược lại đối với doanh nghiệp xuất khẩu. Luận văn: Định hướng chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam.
Có thể nói, biện pháp này giúp đánh giá sự biến động của giá trị đồng VND một cách khách quan và chính xác hơn, góp phần hạn chế tâm lý sung bái đồng USD trong nền kinh tế, làm đa dạng hóa quỹ dựng trữ ngoại tệ quốc gia và hạ thấp rủi ro tỷ giá cũng như chi phí quản trị rủi ro do việc phân tán rủi ro trong kinh doanh tiền tệ của doanh nghiệp và các NHTM.
3.2.4 Thu hẹp biên độ tỷ giá
Theo lý thuyết, biên độ tỷ giá càng rộng thì chính sách tiền tệ càng độc lập, linh hoạt hơn. Tuy nhiên, điều này chỉ đúng khi tỷ giá giao dịch của các tổ chức tín dụng phản ánh không sát với cung cầu ngoại tệ trên thị trường. Hiện nay, với chính sách mới cũng như cam kết của NHNN, tỷ giá bình quân liên ngân hàng sẽ bám tương đối sát với với những diễn biến trên thị trường ngoại hối. Chính vì vậy, việc thu hẹp biên độ tỷ giá là cần thiết, nhằm hạn chế những biến động quá lớn của tỷ giá giao dịch trong ngày, góp phần hạn chế rủi do trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp cũng như các tổ chức tín dụng, đồng thời vẫn đảm bảo mục tiêu điều hành chủ động, linh hoạt.
3.2.5. Nhà nước phải có dự trữ ngoại tệ đủ mạnh
Đây là một trong những giải pháp quan trọng và rất cần được quan tâm. Tuy nhiên mỗi giai đoạn nó mang những ý nghĩa khác nhau. Trước đây, dưới chế độ tỷ giá hối đoái cố định, tỷ giá hối đoái là do ngân hàng trung ương quy định. Chính vì vậy mà nó tác động đến cung cầu nội tệ hơn là cung cầu ngoại tệ. Tỷ giá này không phản ánh được cung cầu ngoại tệ thực tế trên thị trường. Có những lúc ngoại tệ của ta rất mỏng nhưng tỷ giá hối đoái danh nghĩa vẫn không hề thay đổi. Tuy nhiên, theo cơ chế điều hành tỷ giá mới thì tỷ giá hối đoái sẽ thay đổi khi có bất kì sự thay đổi nào của cung và cầu ngoại tệ. Để ổn định tỷ giá thì ngân hàng nhà nước phải can thiệp bằng các công cụ của mình. Nếu cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ, ngân hàng nhà nước phải tung VND để mua lượng ngoại tệ dư đó nhằm cân bằng cung cầu ngoại tệ. Trong trường hợp ngược lại, khi cầu ngoại tệ lớn hơn cung ngoại tệ. Lúc này, ngân hàng nhà nước cần tung ngoại tệ ra để bán. Dự trữ ngoại tệ đủ mạnh còn để sẵn sàng đối phó với hiện tượng đầu cơ trên thị trường. Nếu dự trữ ngaọi tệ của ngân hàng nhà nước không đủ mạnh để can thiệp, thì có thể dẫn đến việc thả nổi đồng tiền nước mình. Quan điểm truyền thống về dự trữ ngoại hối pháp định nhấn mạnh vào tầm ảnh hưởng của tài khoản vãng lai. Theo ngân hàng thế giới (World bank) thì dự trữ ngoại hối cần phải có đủ mức tài trợ từ 3 đến tháng nhập khẩu. Tháng 12, năm 2025, dự trữ ngoại hối của Việt Nam đang là 41 tỷ USD [24, tr.01]. Tuy nhiên dự trữ ngoại hối của nước ta vẫn thấp hơn so với tiêu chuẩn của IMF. Còn theo những nghiên cứu của Greenspan và Guiotti ( 2008) thì dự trữ ngoại hối ít nhất phải bằng dòng vốn nước ngoài đến hạn có khả năng chảy ra nước ngoài trong vòng một năm. Dự trữ quốc gia phải tính cho việc trả các khoản nợ nước ngoài đến hạn không thể thương lượng được mà còn phải đủ để trang trải các khoản hở trong cán cân thanh toán do thâm hụt tài khoản vãng lai. Theo Busierre và Mulder cho thấy mức dự trữ tương đương với nợ ngắn hạn vận hành tốt trong việc hạn chế khủng hoảng nếu thặng dư trong tài khoản vãng lai khoảng 2% GDP. Nếu tài khoản vãng lai chỉ ở mức cân bằng, để chống đỡ khủng hoảng thì mức dự trữ ngoại tệ phải cao gấp đôi nợ ngắn hạn. Còn nếu quốc gia thâm hụt tài khoản vãng lai, thì dự trữ quốc gia phải rất cao, ở mức cấp số nhân. Cán cân tài khoản vãng lai của Việt Nam thâm hụt khoảng từ 1% đến 3%, như vậy đòi hỏi dự trữ pháp định phải rất cao. Muốn có được nguồn dự trữ ngoại tệ dồi dào thì ngân hàng nhà nước phải sử dụng các công cụ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ hoặc khuyến khích bán ngoại tệ lấy VND để gửi tiết kiệm với mức lãi xuất cao hơn nếu mức chênh lệch lãi xuất VND và ngoại tệ đủ bù đắp mức lạm phát. Nhà nước ta cần quản lý chặt chẽ các khoản vay nợ nước ngoài đặc biệt là các khoản vay ngắn hạn. Cần phải kiểm soát chặt chẽ việc bảo lãnh vay trả chậm của ngân hàng trung ương cho các doanh nghiệp vay vốn từ nứơc ngoài. Tổ chức hữu hiệu mạng lưới thu đổi ngoại tệ cho các khách hàng ra vào Việt Nam như ở sân bay, bến cảng, cửa khẩu, nhà ga, …Ngoài ra, để đảm bảo cho VND thực hiện tốt chức năng của mình cần tạo thêm nhiều phương tiện chuyển tải làm phương tiện lưu thông và thanh toán để giảm bớt áp lực nhu cầu tiền mặt trong lưu thông. Đồng thời cần cải cách hệ thống thanh toán, khuyến khích mở tài khoản các nhân và thanh toán qua hệ thống ngân hàng. Tăng cường sự hợp tác tài chính tiền tệ trên thế giới bằng cách hướng kết các thỏa thuận hoán đổi tiền tệ với ngân hàng trung ương. Tức là thị trường ngoại tệ liên ngân hàng phải thông suốt và hoạt động liên tục, không bị giới hạn về thời gian và không gian để giải quyết nhanh chóng nhu cầu thanh toán ngoại tệ. Đồng thời khuyến khích các công ty xuất nhập khẩu đa dạng hóa cơ cấu tiền tệ trong thương mại quốc tế để cân bằng cung cầu ngoại tệ.
3.2.6.Giảm bớt vai trò của tỷ giá trong việc duy trì khả năng cạnh tranh của hàng hóaLuận văn: Định hướng chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam.
Chính sách tỷ giá hối đoái hiện nay cần được đặt trong 1 bức tranh tổng thể của nền kinh tế Việt Nam, từ chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ và các tác động từ bên ngoài. Chính phủ cần phối hợp đồng bộ các chính sách giá cả, tiền tệ và tài khóa, tập trung cho dự báo kinh tế, từ đó phản ứng kịp thời trước những biến động của nền kinh tế. Bên cạnh công cụ tỷ giá để hỗ trợ cho hàng hóa xuất khẩu, các biện pháp cần làm hiện nay là những biện pháp làm tăng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, cải cách cơ cấu mạnh mẽ hơn nữa, tiếp tục đẩy mạnh quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, cải thiện chỉ số hiệu quả sử dụng vốn…Sau giai đoạn ban đầu với việc phát triển cách ngành thâm dụng vốn nhằm giải quyết vấn đề lao động, chúng ta nên chuyển sang giai đoạn tăng tốc độ, phát triển bằng việc phân bổ các dòng chảy của vốn đầu tư nước ngoài vào các ngành công nghệ kỹ thuật cao có thể tạo ra nhiều sản phẩm xuất khẩu có giá trị tăng cao…
Có thể nói, tỷ giá không phải là công cụ duy nhất, là cây đũa thần có thể giải quyết được hết các vấn đề như lạm phát hay thâm hụt cán cân vãng lai. Thâm hụt cán cân thương mại hầu như còn phụ thuộc mạnh mẽ vào năng lực nội tại của nền kinh tế, vào cách điều hành kinh tế vĩ mô của chính phủ và cả môi trường kinh tế thế giới. Vì vậy ta không nên chỉ quá kỳ vọng và tỷ giá để giải quyết các vấn đề của nền kinh tế.
3.2.7. Phối hợp hài hòa giữa chính sách tỷ giá và chính sách lãi suất
Tỷ giá và lãi suất là hay yếu tố nhạy cảm trong nền kinh tế và là công cụ hữu hiệu của chính sách tiền tệ. Tỷ giá và lãi suất luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, ảnh hưởng lên nhau và cùng tác động lên các hoạt động của nền kinh tế. Sự khập khiễng giữa chính sách tỷ giá và lãi suất có thể gây ra những hậu quả bất lợi như đồng nội tệ mất giá, nguy cơ lạm phát, đầu tư tiền tệ… Vì vậy, trong chính sách kinh tế vĩ mô, chính sách lãi suất và chính sách tỷ giá phải được điều hành một cách đồng bộ và phù hợp với thực trạng của nền kinh tế trong từng thời kỳ nhất định. Chẳng hạn, vào cuối năm 2018, NHNN thực hiện chính sách hỗ trợ lãi suất 4% đối với các khoản vay VNĐ, trong khi lãi suất huy động USD tại các NHTM không đổi. Kết quả là nhà xuất khẩu găm giữ USD trên tài khoản và tăng cường vay VND để được ưu đãi. Nhà nhập khẩu thay vì vay USD, đã vay VND và mua USD để thanh toán hàng nhập. Cầu vốn VND và cầu USD tăng đột biến, tạo áp lực tăng tỷ giá VND/USD và khan hiếm VND trong nền kinh tế. Nếu lúc này NHNN buộc các NHTM giảm lãi suất huy động USD thì vẫn trong ngắn hạn, điều này sẽ làm các nhà xuất khẩu dịch chuyển tiền USD sang VND, từ đó làm giảm áp lực với tỷ giá và bớt căng thẳng về nguồn vốn tín dụng.
Khi nền kinh tế vượt qua khủng hoảng, theo học thuyết ngang giá lãi suất, chính sách tự do hóa lãi suất đòi hỏi cơ chế tỷ giá cũng phải được thiết lập trên quan điểm hệ cung cầu tiền tệ. Chế độ tỷ giá thả nổi được kiểm soát bằng các giải pháp kinh tế và chính sách tự do hóa lãi suất là giải pháp lâu dài mà NHNN cần thực hiện để điều hành chính sách tiền tệ trong tương lai.
3.2.8. Nhà nước cần hoàn thiện công tác quản lý ngoại hối, cơ chế điều chỉnh tỷ giá hối đoái và hoàn chỉnh thị trường
Nếu như dự trữ ngoại tệ được quản lý tốt thì sẽ làm tăng tích lũy ngoại tệ. Như ta đã biết, với bất kỳ một quốc gia nào thì một lượng dự trữ ngoại tệ đủ lớn là cần thiết để đối phó với những biến cố của nền kinh tế. Vì vậy cần tiết kiệm chi ngoại tệ, chỉ nhập khẩu những hàng hóa thiết yếu và những thiết bị, nguyên liệu đầu vào cần thiết cho quá trình sản xuất. Đồng thời cần nới lỏng việc quản lý ngoại hối, sử dụng linh hoạt và hiệu quả các công cụ quản lý tỷ giá Luận văn: Định hướng chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam.
Cần hoàn thiện thị trường ngoại hối để tạo điều kiện cho việc thực hiện chính sách ngoại hối có hiệu quả. Việc này có thể thực hiện bằng cách mở rộng thị trường để các doanh nghiệp, các định chế tài chính phi ngân hàng tham gia thị trường, đặc biệt là thị trường hoàn chuyển để các đối tượng kinh doanh có liên quan đến ngoại tệ tự bảo vệ mình. Còn về thị trường liên ngân hàng. Việc hoàn thiện thị trường này là cần thiết để qua đó Nhà nước có thể nắm được mối quan hệ cung cầu về ngoại tệ và Nhà nước có thể có các biện pháp can thiệp khi cần thiết. Trước mắt nên có những biện pháp thúc đẩy các ngân hàng kinh doanh ngoại tệ tham gia vào thị trường nội tệ liên ngân hàng với đầy đủ các nghiệp vụ của nó. Từ đó tạo điều kiện cho Ngân hàng nhà nước phối hợp, điều hòa giữa các khu vực thị trường ngoại tệ và thị trường nội tệ một cách thông thoáng.
Để đảm bảo tỷ giá phản ánh đúng quan hệ cung cầu trên thị trường. Ngân hàng nhà nước cần từng bước loại bỏ việc quy định khung giá với biên độ quá chặt đối với các giao dịch của ngân hàng thương mại và các giao dịch quốc tế. Mà ngân hàng nhà nước chỉ điều chỉnh tỷ giá trên các phiên giao dịch ngoại tệ liên ngân hàng góp phần kích thích thị trường và tránh việc nắm giữ USD.
KẾT LUẬN Luận văn: Định hướng chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam.
Qua bài luận văn này ta có thể rút ra được những kết luận sau:
Tỷ giá hối đoái là một số kinh tế quan trọng, được sử dụng như một công cụ hữu hiệu nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội. Tỷ giá tác động đến tăng trưởng kinh tế, đến giá cả hàng hóa, đến xuất nhập khẩu và thâm hụt cán cân thương mại. Nhìn tổng thể, chính sách tỷ giá hối đoái của nước ta dần dần đưa tỷ giá tiến sát đến với tỷ giá thị trường, sự can thiệp của nhà nước trong chính sách tỷ giá đã giúp cho tỷ giá biến động theo hướng có thể dự đoán được. Tuy nhiên, việc điều hành chính sách tỷ giá còn thụ động và chưa có định hướng dài hạn.
Trong vòng 20 năm trở lại đây, sự phát triển của ngoại thương đã góp phần đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Hoạt động xuất nhập khẩu đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Kim ngạch xuất khẩu tăng từ 5,4 tỷ USD lên 162 tỷ USD, nhập khẩu từ 8,1 tỷ USD tăng lên 165 tỷ USD. Tuy nhiên, trong nhiều năm liền, Việt Nam nhập siêu triền miên. Cơ cấu xuất nhập khẩu chưa hợp lý. Chủ yếu xuất hàng nông, lâm sản, khai khoáng và thâm dụng lao động với cầu thị trường tại nước nhập khẩu có độ co giãn thấp và nhập hàng công nghiệp, tiêu dùng xa xỉ, nguyên, nhiêu liệu với cầu thị trường nội địa tại Việt Nam có độ giãn cao.
Dựa trên kết quả phân tích định lượng về ảnh hưởng của tỷ giá đến giá trị xuất khẩu và nhập khẩu ta có thể thấy. Nghiên cứu này đã dùng mô hình kinh tế phù hợp, dữ liệu bảng hỗn hợp cập nhật và phương pháp ước lượng cao cấp để đánh giá tác động của thay đổi ngoại thương tới xuất, nhập khẩu của Việt Nam. Kết quả cho thấy tỷ giá hối đoái có tác động lớn theo chiều hướng tích cực với kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Cụ thể tỉ giá hối đoái tăng (trong điều kiện các yếu tố khác không đổi) sẽ làm xuất khẩu Việt Nam tăng. Và ngược lại việc tăng hay giảm tỷ giá hối đoái cũng không ảnh hưởng rõ ràng lắm đến nhập khẩu của Việt Nam. Tức là dù đồng Việt Nam có mất giá, người tiêu dùng phải bỏ nhiều tiền hơn ra để mua hàng nhập khẩu nhưng nhu cầu về các mặt hàng này vẫn luôn cao. Kết luận này phù hợp với cơ cấu xuất – nhập khẩu của Việt Nam: xuất hàng nông, lâm sản, khai khoáng và nhập hàng công nghiệp, tiêu dùng xa xỉ, nguyên, nhiêu liệu. Dẫn đến khi tỷ giá hối đoái thay đổi nhóm hàng xuất khẩu ít chịu tác động tiêu cực hơn nhóm hàng nhập khẩu.
Để có thể nâng cao hiệu quả của chính sách tỷ giá hối đoái nhằm mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô cũng như cải thiện khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam, một số biện pháp cần phải được lưu ý thực thi. Đó là Việt Nam nên thay đổi cấu trúc ngoại thương theo hướng bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa, đa phương hóa thị trường xuất, xây dựng tỷ giá dựa trên đa ngoại tệ, tránh phá giá quá mạnh đồng nội tệ, dần thu hẹp biên độ tỷ giá khi tỷ giá liên ngân hàng phản ánh sát cung cầu ngoại tệ, phối hợp hài hòa giữa chính sách tỷ giá và chính sách lãi suất cũng như các chính sách kinh tế vĩ mô khác… Luận văn: Định hướng chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Tác động của tỉ giá hối đoái đến ngoại thương Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
