Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Giải pháp thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Một số giải pháp nhằm thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
3.1. Một số dự báo về triển vọng phát triển du lịch trên thế giới, các nước trong khu vực và Việt Nam
3.1.1. Xu hướng phát triển du lịch trên thế giới
Hiện nay, du lịch trên thế giới đang có điều kiện phát triển mạnh mẽ, bất chấp những bất ổn về chính trị và kinh tế khó khăn kéo dài ở một số quốc gia và khu vực trên thế giới. Nhìn chung, thế giới đã có nhiều biến đổi với những bước nhảy vọt về khoa học công nghệ, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa diễn ra nhanh chóng hơn ở các nước phát triển; xu thế hợp tác hóa toàn cầu là tất yếu, nền kinh tế thế giới tiếp tục phát triển; đời sống của người dân không ngừng được nâng cao… Trong bối cảnh đó, nhu cầu đi du lịch của người dân là nhu cầu khách quan và tăng trưởng nhanh.
Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) cho hay lượng du khách quốc tế năm 2024 vừa qua đã đạt hơn 1 tỷ lượt người, tăng hơn 4% so với năm trước đó. So với năm 2023, lượng khách du lịch ra nước ngoài tăng hơn 50 triệu lượt người. Năm 2024 cũng là năm thứ sáu liên tiếp lượng khách du lịch quốc tế đạt mức tăng trưởng hàng năm từ 4% trở lên. Pháp tiếp tục là điểm đến hấp dẫn khách du lịch nhất thế giới, tiếp theo là Mỹ, Tây Ban Nha, và Trung Quốc. Theo Tổng Thư ký UNWTO Taleb Rifai, du lịch quốc tế trong năm 2024 đã tiến triển đến một tầm cao mới, thể hiện rõ vai trò của ngành đang đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm cho nhiều người ở khắp nơi trên thế giới. Các quốc gia cần tăng cường chính sách để thúc đẩy ngành du lịch tiếp tục tăng trưởng, bao gồm tăng cường tính bền vững trong hoạt động du lịch và phát triển nguồn nhân lực, tạo điều kiện đi lại thuận lợi. UNWTO kêu gọi chính phủ các nước cần lồng ghép du lịch vào kế hoạch bảo đảm an ninh quốc gia, nhằm giúp giảm thiểu các mối đe dọa đối với ngành du lịch và phát huy tối đa năng lực ngành trong việc hỗ trợ an toàn, an ninh và thông suốt trong hoạt động du lịch.
Xét theo khu vực, trong năm 2024, châu Âu, châu Mỹ và châu Á-Thái Bình Dương đều đạt ngưỡng tăng trưởng 5%. Các điểm đến ở Trung Đông tăng 3%, dữ liệu khách quốc tế của châu Phi bị giới hạn nên số liệu sẵn có ước tính khu vực này giảm 3%, kết quả này chủ yếu do sự yếu kém của ngành du lịch khu vực Bắc Phi vốn chiếm tới 1/3 lượt khách đến cả khu vực.
Chi tiêu của các thị trường như Nga và Brazil trước đây khá cao nhưng hiện tại đã giảm đáng kể do nền kinh tế của các quốc gia này đang gặp khó khăn cũng như sự mất giá của đồng ruble và đồng real so với các ngoại tệ khác.
Năm 2025 vẫn là một năm ngành du lịch thế giới phát triển tốt dù thấp hơn so với hai năm trước. Tăng trưởng du khách quốc tế trong năm 2025 cũng ở mức 4%. Luận văn: Giải pháp thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.
Cũng theo nhận định chung của Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO), trong thời gian tới, du lịch tiếp tục tăng trưởng trên phạm vi toàn cầu. Số lượng khách du lịch quốc tế dự báo đến năm 2040 đạt khoảng 1,8 tỷ lượt. Đông Nam Á được đánh giá sẽ trở thành khu vực thu hút khách du lịch quốc tế lớn thứ 4 thế giới với 187 triệu lượt.
Dự báo năm 2040, khách du lịch đi với mục đích thăm viếng, sức khỏe và tôn giáo sẽ chiếm 31% tổng lượng khách du lịch quốc tế; với mục đích tham quan, nghỉ dưỡng, vui chơi, giải trí chiếm 54%; và với mục đích công việc và nghề nghiệp chiếm 15%.
Đáng lưu ý, nhu cầu trải nghiệm của khách du lịch hướng tới những giá trị mới được thiết lập trên cơ sở giá trị văn hóa truyền thống (tính độc đáo, nguyên bản), giá trị tự nhiên (tính nguyên sơ, hoang dã), giá trị sáng tạo và công nghệ cao (tính hiện đại, tiện nghi).
Sự phát triển của công nghệ thông tin được đánh giá là đã làm thay đổi phương thức tiếp cận và chia sẻ thông tin của khách du lịch, đặc biệt là ảnh hưởng của mạng xã hội và các ứng dụng trên internet, điện thoại di động ngày càng phổ biến, đòi hỏi cơ quan quản lý các điểm đến phải thay đổi phương thức xúc tiến quảng bá và định hướng thị trường.
Chính sách mở cửa quốc tế, đơn giản hóa thủ tục nhập cảnh là xu hướng chung trên thế giới trong những năm vừa qua. Theo báo cáo về mức độ mở cửa liên quan đến thị thực nhập cảnh, tỷ lệ khách du lịch quốc tế cần thị thực nhập cảnh vào điểm đến quy mô toàn thế giới đã giảm từ 77% năm 2017 xuống còn 61% năm 2024.
Tại phiên họp thứ 54 của Ủy ban Phát triển Xã hội, tổng Thư ký Liên hợp quốc Ban Ki Mun tuyên bố năm 2026 sẽ là “Năm của phát triển du lịch bền vững” (nằm trong khuôn khổ Chương trình nghị sự về phát triển bền vững toàn cầu, tầm nhìn đến năm 2040 của Liên hợp quốc). Điều này cho thấy tầm quan trọng của ngành du lịch đối với nền kinh tế thế giới.
Ở mức khu vực, Hiệp hội Du lịch Châu Á – Thái Bình Dương (PATA) và Tổ chức du lịch thế giới (UNWTO) cho rằng, sự tăng trưởng cao của du lịch Châu Á – Thái Bình Dương trong những năm vừa qua đồng nghĩa với việc du lịch khu vực cần có trách nhiệm lớn hơn đối với mục tiêu phát triển toàn cầu này.
Du lịch nội vùng Châu Á – Thái Bình Dương được kỳ vọng là nhân tố dẫn đầu quá trình phục hồi nền kinh tế toàn cầu. Nhưng những năm gần đây, kinh tế khu vực có dấu hiệu tăng trưởng chậm lại. Liên Hợp quốc lo ngại tình trạng nói trên có thể gây trở ngại cho Chương trình phát triển bền vững toàn cầu.
Một trong những giải pháp chính được Liên hợp quốc đưa ra là ưu tiên các kế hoạch trung hạn và khuyến khích tiêu dùng trong nước. Đối với du lịch, trong bối cảnh kinh tế giảm sút, người dân có dấu hiệu giảm nhu cầu đi du lịch nước ngoài hoặc những nơi có khoảng cách xa, PATA và UNWTO khuyến nghị các nước nên quan tâm hơn tới du lịch trong nước để duy trì và đóng góp vào sự phục hồi kinh tế, xã hội.
Tổng thư ký UNWTO Taleb Rifai nhấn mạnh: “Để đạt được con số 1,8 tỉ khách du lịch quốc tế vào năm 2040, thì du lịch và hàng không phải luôn sát cánh bên nhau”. Bên cạnh đó, Ủy ban Hàng không dân dụng của Liên hợp quốc kêu gọi đơn giản hóa các thủ tục bay, bảo đảm an toàn bay và tạo thuận lợi đi lại toàn cầu.
Hành động hợp tác mạnh mẽ nhất giữa du lịch và hàng không vừa qua là “Tuyên bố chung Medellin” về hợp tác phát triển Vận tải hàng không và Du lịch, giữa UNWTO và Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế (ICAO) bên lề Phiên họp Đại hội đồng Tổ chức Du lịch Thế giới lần thứ 21 tại Colombia./.
3.1.2. Xu hướng phát triển du lịch của các nước ASEAN Luận văn: Giải pháp thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.
Với dân số khoảng 600 triệu người, tài nguyên thiên nhiên phong phú và một môi trường tương đối ổn định, các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đang nổi lên là một khu vực năng động nhất thế giới, trong đó có lĩnh vực du lịch. Hầu hết các nước này đều tập trung cho việc đầu tư phát triển du lịch và xem du lịch là một ngành kinh tế mũi nhọn trong cơ cấu kinh tế của cả nước.
Năm 2020, các nước ASEAN đón được 77,2 triệu khách du lịch quốc tế, chiếm 35,6% lượng khách du lịch quốc tế và 28,3% thu nhập du lịch toàn khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (chiếm 7,8% toàn cầu về khách du lịch quốc tế). Theo dự báo của UNWTO, năm 2019 lượng khách quốc tế đến ASEAN là 125 triệu (Thái Lan 37 triệu, Indonexia 27 triệu, Malaysia 25 triệu…), với mức tăng trưởng bình quân giai đoạn 2019 – 2030 là 6%/năm (so với 1-2% giai đoạn 2007 – 2009).
Sự phát triển kinh tế của khối này cũng dẫn đến hiện tượng người dân ở đây có xu hướng đi du lịch. Đa số họ bắt đầu đi thăm các điểm du lịch của chính đất nước họ trước, kế đến là các nước lân cận và sau đó mới quyết định đi thăm các nước xa hơn như châu Âu và Bắc Mỹ. Hiện nay, các nước trong khối đang có xu hướng thu hút những khách mới và họ quan tâm đến việc thu hút du khách quay lại nhiều lần. Bằng chứng là các nước này đang tăng cường xúc tiến quảng bá, giới thiệu rộng rãi những nét đặc sắc của đất nước mình, thực hiện chính sách mở cửa, tạo nên những diễn đàn du lịch, liên kết với nhau tạo ra những điểm du lịch thống nhất thông qua việc tổ chức hội chợ, hội nghị.
3.1.3. Xu hướng phát triển du lịch của Việt Nam
Là quốc gia nằm ở khu vực Đông Nam Á, sự phát triển của du lịch Việt Nam không nằm ngoài xu thế chung của du lịch khu vực. Với tài nguyên thiên nhiên và di sản phong phú, cùng việc luôn có tên trong top đầu các bảng xếp hạng chỉ số an toàn, thân thiện, du lịch Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội để “ghi điểm” với du khách, nâng tầm phát triển. Trong những năm qua, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là chính sách đổi mới về đối ngoại và kinh tế đối ngoại, du lịch Việt Nam đã có những bước tiến nhất định và ngày càng có tác động tích cực hơn đến nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội của đất nước. Luận văn: Giải pháp thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.
Với những xu hướng thịnh hành của du lịch thế giới trong năm 2025 và những năm tiếp theo, có thể thấy rằng Việt Nam có đủ các yếu tố tiềm năng để thỏa mãn nhu cầu của du khách ở tất cả các loại hình. Du khách đơn lẻ có thể yên tâm khi đến du lịch tại Việt Nam bởi các trang web hoặc tờ báo danh tiếng như Business Insider, Diplomat… đã bình chọn cho Việt Nam là quốc gia an toàn, ổn định, ít xảy ra rủi ro. Đối với du lịch thể thao và mạo hiểm, Việt Nam có địa hình đa dạng, rất nhiều vùng miền giữ được vẻ đẹp thiên nhiên nguyên sơ, hoang dã, có sức thu hút du khách. Chẳng hạn như Quảng Bình với quần thể hang động hoành tráng, kỳ vĩ bậc nhất thế giới còn chưa được khám phá hết. Thám hiểm Sơn Đoòng, Hang Én, Tú Làn, hang Va, hang Tối… là những tour du lịch đặc biệt đòi hỏi người tham gia phải có thể chất và tinh thần tốt, song chắc chắn cũng sẽ mang lại những trải nghiệm độc đáo, đáng nhớ. Chèo thuyền kayak ở vịnh Hạ Long, lướt sóng ở Mũi Né, lặn ngắm san hô ở Phú Quốc, đạp xe vượt đèo Hải Vân… nối dài thêm danh sách của những người ưa vận động, thích hòa mình với thiên nhiên. Tương tự, phát triển các tour du lịch trên sông, trên biển cũng không phải điều xa vời bởi nước ta vốn có nhiều hệ thống sông và phụ lưu trải dài từ bắc xuống nam, có đường bờ biển dài, nhiều đảo và quần đảo.
Còn ai có nhu cầu du lịch cộng đồng, tìm hiểu văn hóa có thể đến với các gia đình ở phố cổ Hà Nội, ở TP Hồ Chí Minh; các bản làng người Thái, người Mông ở vùng Tây Bắc; người Tày, người Dao ở vùng Đông Bắc; người Cơ Tu, người Ê Đê, Ba Na ở Tây Nguyên…, để tận mắt chiêm ngưỡng và thưởng thức những tinh hoa ẩm thực, dân ca dân vũ, nghề thủ công truyền thống cùng tình người chân chất, hồn nhiên. Ở Hội An (Quảng Nam), loại hình homestay (lưu trú nhà dân) luôn được đánh giá cao không thua các khách sạn hạng sang, khu nghỉ dưỡng cao cấp. Còn ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long như Bến Tre, Cần Thơ, Vĩnh Long… nhiều nhà vườn mọc lên giữa đồng lúa hoặc vườn cây trái xum xuê, mang lại cảm giác chân thật, dân dã, rất được lòng du khách.
Theo nhiều chuyên gia du lịch và hãng lữ hành, để nâng cao chất lượng loại hình này, cần có các chương trình hỗ trợ đào tạo về dịch vụ, về ngoại ngữ, về đa dạng hóa sản phẩm du lịch do ngành du lịch hoặc chính quyền địa phương tổ chức. Nâng cao nhận thức cộng đồng, giữ gìn bản sắc truyền thống, bảo vệ môi trường cũng là các yếu tố quan trọng để giữ chân khách, nâng cao tính cạnh tranh.
Đáng chú ý, năm 2025 Việt Nam được ghi tên vào danh sách các địa điểm du lịch hấp dẫn xuất hiện trên phim. Năm 2024, những thước phim tuyệt đẹp ở hang Én (Quảng Bình), vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) và khu du lịch Tràng An (Ninh Bình) gây ấn tượng mạnh trong bộ phim Hô-li-út (Mỹ) có kinh phí lên tới 150 triệu USD là “Pan và vùng đất Neverland” của đạo diễn Joe Wright. Tuy nhiên, đáng tiếc là ngành du lịch nói chung hoặc các hãng lữ hành nói riêng không tranh thủ quảng bá, lập tour nhân sự kiện này. Trong khi đó, thực tế đã chứng minh sau nhiều bộ phim lớn được khán giả toàn cầu đón nhận, địa điểm quay phim đã lập tức trở thành nơi thu hút du khách, sản phẩm lưu niệm liên quan đến phim cũng được sáng tạo ngay. Thụy Điển, Ai-xơ-len, Niu Di-lân, Hàn Quốc, Thái-lan, Cam-pu-chia… là những quốc gia đã có chiến lược nhạy bén, chuyên nghiệp, tận dụng tốt cơ hội quảng bá du lịch qua màn ảnh. Vì vậy, việc “Kong: Đảo Đầu Lâu” – một bộ phim bom tấn nữa của nền điện ảnh hàng đầu thế giới chọn Việt Nam làm phim trường trong năm 2025 là một tín hiệu vui, song cũng cần rút kinh nghiệm để việc hợp tác, quảng bá có hiệu quả, góp phần thúc đẩy du lịch phát triển.
3.2. Định hướng phát triển du lịch của Việt Nam Luận văn: Giải pháp thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.
3.2.1. Định hướng của Chính phủ
Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, chính phủ đã ban hành Chương trình hành động nhằm xây dựng và thực hiện chiến lược xúc tiến du lịch với các nhiệm vụ cơ bản gồm (TCDL, 2016):
- Nghiên cứu xác định nhu cầu thị trường và các thị trường trọng điểm cần ưu tiên trong tình hình hiện tại.
- Nghiên cứu, đầu tư nâng cao chất lượng của công tác xúc tiến quảng bá du lịch ở nước ngoài nhằm đảm bảo hiệu quả quảng bá hình ảnh du lịch Việt Nam ra thị trường và thu hút khách.
- Đa dạng hóa các hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch cả trong nước và nước ngoài nhằm mở rộng thị trường khách cả trong và ngoài nước, góp phần vào sự tăng trưởng của du lịch Việt Nam.
- Mở rộng phạm vi các công cụ sử dụng trong công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch Việt Nam, trong đó vai trò của Internet được coi trọng đặc biệt.
- Xây dựng và hoàn thiện cơ chế tiếp nhận và sử dụng các nguồn tài trợ cho công tác xúc tiến du lịch.
- Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác xúc tiến ở trung ương và các địa phương.
Ngày 30/12/2020 Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2040 theo Quyết định 2473/QĐ-TTg. Ngoài ra còn có những nghị quyết về việc miễn thị thực hoặc gia hạn thị thực cho công dân một số nước đến Việt Nam như Thái lan, Singaphore, Malaysia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha…
Đặc biệt chiều ngày 15/7/2025, tại Trụ sở Chính phủ đã diễn ra Hội nghị Định hướng phát triển ngành Du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, dưới sự chủ trì của đồng chí Vương Đình Huệ – Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ và đồng chí Vũ Đức Đam – Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ. Theo đó, để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, du lịch cần có các điểm nổi trội như đóng góp lớn vào nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhiều ngành và địa phương, tạo thu nhập và việc làm cho xã hội, thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần ổn định xã hội… Đề án định hướng đến năm 2030, du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tính chuyên nghiệp, có hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối đồng bộ, hiện đại, sản phẩm du lịch có chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, cạnh tranh được với các nước trong khu vực và thế giới, phấn đấu đến năm 2040, Việt Nam trở thành quốc gia có ngành du lịch phát triển.
Mục tiêu cụ thể đến năm 2030, thu hút 14-15 triệu lượt khách quốc tế, tăng trưởng bình quân 12-14%/năm trong giai đoạn 2024-2030; ngành Du lịch đóng góp 9-10% GDP, tổng thu từ khách du lịch đạt 29-32,5 tỷ USD, tăng trưởng 14-16% giai đoạn 2024-2030; tạo ra 3,5 triệu việc làm, trong đó có 1,02 triệu việc làm trực tiếp. Về dịch vụ lưu trú du lịch, tổng số buồng lưu trú là 600.000 buồng, trong đó 30-35% đạt chuẩn 3-5 sao.
3.2.2. Định hướng của Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch (Tổng cục du lịch Việt Nam) Luận văn: Giải pháp thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.
Để du lịch Việt Nam hội nhập và phát triển hơn nữa, Tổng cục du lịch đã có những đề án, chiến lược phát triển du lịch, cụ thể:
Chiến lược marketing du lịch đến năm 2030 theo số 3455/QĐ-BVHTTDL ngày 20 tháng 10 năm 2023. Mục tiêu của chiến lược là xây dựng định hướng và khung kế hoạch hành động cụ thể trong việc marketing du lịch Việt Nam đến năm 2030, góp phần thúc đẩy sự phát triển của du lịch Việt Nam, hoàn thành các mục tiêu của Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2040.
Ngày 13 tháng 7 năm 2025, tại Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Văn hóa thể thao và du lịch đã ký quyết định phê duyệt số 2522/QĐ-BVHTTDL Chiến lược phát triển thương hiệu du lịch Việt Nam đến năm 2035, định hướng đến năm 2040.
Mục tiêu tổng quát của chiến lược là nhận thức về phát triển thương hiệu du lịch được thống nhất, đầy đủ. Công tác quản lý và phát triển thương hiệu du lịch Việt Nam được triển khai theo hướng chuyên nghiệp, đồng bộ và nhất quán. Đến năm 2035, thương hiệu Việt Nam được nhận diện rõ nét tại các thị trường trọng điểm với các giá trị, thuộc tính tiêu biểu và thống nhất.
Ngày 03 tháng 8 năm 2025, quyết định số 2714/QĐ-BVHTTDL của Bộ trưởng Bộ Văn hóa thể thao và du lịch đã ký quyết định phê duyệt Chiến lược phát triển sản phẩm du lịch của Việt Nam. Mục tiêu của chiến lược là xây dựng hệ thống sản phẩm du lịch đặc sắc, đa dạng, độc đáo, chất lượng, có giá trị gia tăng cao. Thu hút thêm nhiều thị trường khách du lịch và thu hút nhiều nhà đầu tư vào du lịch.
Đây mới chỉ là một số định hướng, chiến lược phát triển mà cơ quan quản lý nhà nước về du lịch đã ban hành nhằm thúc đẩy sự phát triển du lịch, từ đó thu hút khách du lịch quốc tế đến tham quan du lịch tại Việt Nam.
3.3. Một số giải pháp và khuyến nghị nhằm thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam Luận văn: Giải pháp thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.
3.3.1. Giải pháp mang tầm vĩ mô
3.3.1.1. Đối mới, nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về du lịch
Trong điều kiện phát triển mới, đặt ra yêu cầu tiếp tục đổi mới, hoàn thiện các cơ chế, chính sách để nâng cao hiệu quả của công tác quản lý, vừa khuyến khích du lịch phát triển vừa đưa đất nước hội nhập kinh tế với các nước khác trong khu vực và trên toàn thế giới.
- Để công tác quản lý nhà nước về du lịch đạt hiệu quả cao đòi hỏi cần thực hiện những vấn đề sau:
Nâng cao hơn nữa vai trò quản lý nhà nước đối với sự nghiệp phát triển du lịch theo hướng hoàn thiện tổ chức bộ máy chuyên ngành du lịch cấp Trung ương và một số địa bàn trọng điểm; xây dựng, hoàn thiện các cơ chế chính sách, luật pháp nhằm tạo ra môi trường kinh doanh thông thoáng hấp dẫn cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Tăng cường công tác chỉ đạo để đảm bảo thực hiện tốt các nội dung, chỉ tiêu phát triển du lịch được phê duyệt trong chiến lược và quy hoạch, chú trọng các chỉ tiêu phát triển vùng, liên vùng và các địa bàn trọng điểm.
Nâng cao nhận thức về du lịch đối với Đảng bộ và chính quyền các cấp, các ngành. Cần phải quán triệt trong các cấp chính quyền và nhân dân về vai trò quan trọng của kinh tế du lịch, nâng cao sự phối hợp đồng bộ trong mọi hoạt động của các tỉnh, thành phố. Từ đó, nâng cao nhận thức về kinh tế du lịch như sau: phát triển du lịch là góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển theo, đáp ứng nhu cầu du lịch của nhân dân, tăng thu nhập xã hội, tạo công ăn việc làm, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, giữ gìn và khai thác tài nguyên du lịch một cách hợp lý. Các cấp, các ngành cần coi nhiệm vụ hỗ trợ, tạo điều kiện cho ngành du lịch phát triển là một trong những nhiệm vụ chính, trên cơ sở đó có sự đầu tư đúng mức về sự lãnh đạo cũng như nguồn ngân sách để xây dựng ngành du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính tạo thuận lợi cho phát triển du lịch, đơn giản hóa các thủ tục ra, vào, đi lại, cư trú, tham quan của khách du lịch quốc tế, đảm bảo an ninh trật tự, vừa thuận lợi, văn minh, lịch sự, cải cách thủ tục hành chính đối với vấn đề có liên quan đến nhà đầu tư du lịch theo hướng đơn giản hóa, nhanh gọn, đúng pháp luật. Việc có nhiều nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam cũng phần nào giúp Việt Nam thu hút khách du lịch quốc tế, vì các nhà đầu tư khi đến đây, ngoài mục đích chính là công việc, tất yếu sẽ phải tham quan du lịch để nghỉ ngơi, thư giãn. Vậy nên, việc đơn giản hóa các thủ tục ra vào, đi lại cho khách du lịch quốc tế được đề cập ở trên còn phải bao gồm thủ tục visa thông thoáng, tạo điều kiện dễ dàng đi lại cho những người nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Luận văn: Giải pháp thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.
Phát huy hiệu quả chỉ đạo, điều hành về phát triển du lịch của Sở du lịch tại các địa phương; tăng cường sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các ngành, các cấp trong tổ chức, quản lý phát triển du lịch. Tranh thủ sự chỉ đạo, ủng hộ, hỗ trợ của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch và các Bộ, ngành Trung Ương. Tiếp tục sắp xếp, kiện toàn tổ chức, bộ máy quản lý nhà nước về du lịch từ cấp địa phương đến cấp trung ương. Kiện toàn, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về du lịch.
3.3.1.2. Tăng cường xúc tiến, quảng bá hình ảnh về du lịch Việt Nam
Việt Nam được biết đến là đất nước có nguồn tài nguyên du lịch rất phong phú, con người Việt Nam hồn hậu, mến khách. Việt Nam cũng là đất nước có bề dày lịch sử trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước. Với tất cả những điều đó đã và sẽ luôn là điều kiện thuận lợi để có thể phát triển du lịch Việt Nam. Tuy nhiên, để khách du lịch có thể biết đến Việt Nam nhiều hơn, đòi hỏi cần có những biện pháp tăng cường xúc tiến, quảng bá hình ảnh của Việt Nam ra toàn thế giới.
Có thể nói những sự kiện hội nghị triển lãm của Việt Nam được diễn ra tại các nước thị trường trọng điểm và thị trường mục tiêu của Việt Nam, hay những sự kiện giao lưu văn hóa cũng là những cơ hội để giới thiệu với thế giới về Việt Nam.
Ngoài ra, một trong những nguyên nhân không thể thiếu khiến lượng du lịch quốc tế đến Việt Nam tăng nhanh trong những năm qua, đó là công tác quảng bá hình ảnh, đất nước, con người Việt Nam cũng như các dịch vụ du lịch của từng điểm du lịch với khách du lịch thì một sự thật hiển nhiên là vai trò của công nghệ thông tin trong truyền thông các tin tức này. Thông qua các website du lịch, các tra mạng xã hội…
Trong những năm vừa qua, một trong những kênh thông tin giúp quảng bá tuyên truyền về hình ảnh, đất nước, con người Việt Nam tươi đẹp và mến khách với nhiều nước trên thế giới đó chính là có nhiều bộ phim của nhiều nước đã được quay hoặc lấy bối cảnh tại Việt Nam. Đây cũng là dịp để các nước khác được biết đến nước ta và kích thích nhu cầu du lịch đến du lịch.
Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần đẩy mạnh thiết lập văn phòng đại diện du lịch Việt Nam tại các thị trường trọng điểm.
3.3.1.3. Xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch
Việt Nam là nước đang phát triển, việc đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ cho xã hội nói chung và cho hoạt động du lịch nói riêng là vô cùng quan trọng. Hiện nay, hệ thống cơ sở hạ tầng của nước ta như đường bộ, đường hàng không, đường sắt, đường thủy đã có những bước đột phá rõ nét. Luận văn: Giải pháp thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.
Cụ thể, đã đưa vào khai thác toàn tuyến đường Hồ Chí Minh qua Tây Nguyên và tỉnh Bình Phước sớm hơn 1,5 năm so với kế hoạch; hoàn thành nâng cấp, mở rộng QL1 từ Thanh Hóa đến Cần Thơ sớm hơn 1 năm so với kế hoạch; đây là 02 trục giao thông quan trọng nhất chạy dọc theo chiều dài đất nước, có ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế đất nước, kết nối các khu vực tăng trưởng trên phạm vi quốc gia, phục vụ hợp tác phát triển quốc tế. Một điểm nhấn nữa đó là 704km đường bộ cao tốc được đưa vào khai thác (vượt 104km so với mục tiêu Nghị quyết số 13-NQ/TW đề ra); đây là các tuyến cao tốc trọng điểm nằm trên trục Bắc – Nam, cao tốc kết nối hai vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và phía Nam với các cảng biển cửa ngõ và các cửa khẩu quốc tế. Từ những điều kiện này, việc khách du lịch quốc tế đến Việt Nam bằng đường biển hoặc thông qua các cửa khẩu khi đi tham quan du lịch các tỉnh, thành của Việt Nam cũng được thuận lợi và dễ dàng hơn.
Cũng trong giai đoạn 2020 – 2024 đã đầu tư xây dựng mới, nâng cấp, cải tạo khoảng 4.400km đường bộ và hơn 94.000m dài cầu đường bộ. Về hàng không, Bộ GTVT cũng đã hoàn thành, đưa vào khai thác các dự án, công trình tại các cảng hàng không quan trọng: Nội Bài (nhà ga T2, nhà khách VIP), Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng, Cần Thơ, Vinh, Phú Quốc (xây mới), Liên Khương, Pleiku, Thọ Xuân…; các công trình quản lý hoạt động bay: Trung tâm kiểm soát đường dài (ACC) Hà Nội, các trạm giám sát hoạt động bay phụ thuộc (ADS-B) phía Bắc, các trạm radar Sơn Trà, Quy Nhơn… đưa tổng năng lực của các cảng hàng không từ 42 triệu hành khách năm 2019, lên khoảng 70 triệu hành khách năm 2024; mở mới 38 đường bay (23 quốc tế và 15 nội địa), đưa tổng số đường bay từ 105 năm 2019 (72 quốc tế, 33 nội địa) lên 143 năm 2024 (95 quốc tế và 48 nội địa); thu hút thêm 8 hãng hàng không nước ngoài tham gia khai thác các chuyến quốc tế đi/đến Việt Nam (đến nay đã có 52 hãng quốc tế thuộc 24 quốc gia, vùng lãnh thổ tham gia khai thác đi/đến Việt Nam); Chủ trương đầu tư Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành đã được thông qua tại Kỳ họp 9, Quốc hội khóa XIII, hiện đang gấp rút triển khai công tác lập Báo cáo nghiên cứu khả thi giai đoạn 1 của Dự án.
Như vậy, từ những thành quả đạt được trên đã góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế nói chung của đất nước trong đó có sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch.
3.3.1.4. Đào tạo nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch
Chất lượng của dịch vụ du lịch được quyết định bởi chất lượng của nguồn nhân lực. Du khách, đối tượng của du lịch đến từ các nước khác nhau, các vùng khác nhau, động cơ du lịch, yêu cầu, thị hiếu tập quán của họ đương nhiên khác nhau, trong khi đó những hoạt động du lịch không thể có một dây chuyền công nghệ cố định để hướng dẫn, điều khiển. Điều này đòi hỏi lao động trong ngành du lịch phải được đào tạo, trang bị kiến thức rộng, có tính sáng tạo để đủ khả năng linh hoạt, cách ứng xử với từng du khách và đặc biệt là phải thông thạo Tiếng Anh để giao tiếp với khách du lịch quốc tế.
Nhìn chung, chất lượng nguồn nhân lực du lịch của Việt Nam hiện nay còn yếu so với các nước trong khu vực cả về năng lực quản lý, nghiệp vụ chuyên môn và trình độ ngoại ngữ. Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao là nhiệm vụ trọng tâm trong định hướng phát triển du lịch thời gian tới. Luận văn: Giải pháp thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.
Theo báo cáo của Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch (ITDR) với tốc độ tăng trưởng 6,2%/năm trong giai đoạn 2020 – 2024, đến hết năm 2024, nhu cầu nhân lực làm việc trực tiếp (hướng dẫn viên, lễ tân…) trong ngành du lịch ước cần 620.000 người. Với tốc độ tăng trưởng 7,0%/năm trong giai đoạn 2025 – 2030, con số này lên đến 870.000 lao động trực tiếp. Ngành du lịch được đánh giá có nhu cầu nhân sự cao gấp 2 – 3 lần so với các ngành trọng điểm khác như giáo dục, y tế, tài chính…
Đảng, Nhà nước ta đã có những chủ trương chính sách phát huy vai trò đào tạo đối với nguồn nhân lực du lịch. Hiện Việt Nam có rất nhiều các trường đại học, cao đẳng, trung cấp, các công ty, trung tâm tham gia đào tạo nghiệp vụ du lịch. Tuy nhiên, những cơ sở đào tạo chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn như Hà Nội, TP.HCM… Do đặc thù của ngành nên trong quá trình đào tạo cần gắn thực hành với lý thuyết để sinh viên có sự gắn kết với thực tế, nhưng các cơ sở đào tạo thường thiếu trang thiết bị phục vụ cho môn học. Điều này gây khó khăn cho sinh viên khi học tập và ảnh hưởng đến chất lượng lao động khi ra trường. Các chương trình, phương pháp đào tạo không đặt trọng tâm nhiều về kỹ năng mềm và phát triển nhân cách, trong khi những điều này rất cần thiết để thực hiện hiệu quả công việc. Đội ngũ giáo viên ở các cơ sở đào tạo vừa thiếu, vừa yếu. Phần lớn giáo viên ở các cơ sở đào tạo tự nghiên cứu, chưa có kinh nghiệm thực tế nên ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo.
Mỗi năm ngành du lịch cần 40.000 lao động nhưng số lượng sinh viên tốt nghiệp ở các cơ sở đào tạo nghiệp vụ du lịch ra trường khoảng 15.000 người, trong đó hơn 12% có trình độ cao đẳng, đại học… Nguồn lao động trong lĩnh vực du lịch không những thiếu về mặt số lượng, mà còn yếu về chuyên môn. Chất lượng nguồn nhân lực do các cơ sở đào tạo cung cấp cho thị trường lao động du lịch chưa đạt yêu cầu của doanh nghiệp.
Với những đặc điểm trên cho thấy, để đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước thì đào tạo nguồn nhân lực du lịch ngày nay cần phải:
- Nâng cao chất lượng và dự báo đúng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực du lịch.
Cần định hướng cơ cấu đào tạo cho các nghề kinh doanh trong du lịch, tránh tình trạng mất cân bằng cung cầu lao động trên thị trường, tạo ra cơ cấu đồng bộ từ nhân viên phục vụ, công nhân lành nghề, đến cán bộ quản lý kinh doanh…
- Xây dựng và phát triển mạng lưới các cơ sở đào tạo, đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý
Phối hợp với các bộ, ngành và địa phương liên quan điều chỉnh quy hoạch mạng lưới các cơ sở đào tạo du lịch đảm bảo phù hợp với sự phát triển của từng vùng, miền. Đầu tư cho những trường trực thuộc Bộ VHTTDL làm hạt nhân đào tạo nhân lực ngành du lịch ở tất cả các cấp đào tạo tại nhiều trung tâm du lịch trọng điểm Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Đà Lạt, Vũng Tàu, Cần Thơ… Đồng thời hình thành bộ phận đào tạo du lịch các trường nghề của địa phương. Khuyến khích mở những cơ sở đào tạo du lịch ở các doanh nghiệp ngoài công lập và có vốn đầu tư của nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam. Tiếp tục đẩy mạnh đa dạng hóa các loại hình trường, lớp, trung tâm và cơ sở đào tạo, bồi dưỡng du lịch. Phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Lao động – Thương binh và Xã hội và các bộ, ngành liên quan xây dựng quy định chuẩn trường đào tạo về du lịch. Xây dựng, phát triển đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý đào tạo nhân lực du lịch đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu. Đa dạng hóa hình thức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên, giáo viên của các cơ sở đào tạo nghề du lịch. Đào tạo trong nước và ngoài nước cho các chuyên gia, giảng viên đầu ngành về du lịch làm việc trong các cơ quan hoạch định chính sách, viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục, đào tạo. Thu hút công chức, viên chức, các nhà quản lý, doanh nhân, nghệ nhân, chuyên gia, công nhân kỹ thuật tay nghề bậc cao… tham gia đào tạo du lịch. Đào tạo kỹ năng cho đội ngũ thẩm định viên, giám sát viên, đào tạo viên và sử dụng hiệu quả đội ngũ này trong hoạt động du lịch. Luận văn: Giải pháp thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.
Nâng cao trình độ tin học, ngoại ngữ, phương pháp giảng dạy để giảng viên, giáo viên và đào tạo viên đủ khả năng giảng dạy, tự nghiên cứu, trao đổi chuyên môn với chuyên gia nước ngoài, tham gia hội nghị, hội thảo, diễn đàn trong nước và quốc tế.
Đổi mới nội dung, chương trình đào tạo theo hướng nâng cao kỹ năng thực hành cho nguồn nhân lực ngành du lịch
Tổng cục Du lịch đã đưa ra bộ Tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam làm tiêu chuẩn phục vụ cho việc giảng dạy tại các trường đào tạo ngành du lịch. Tuy nhiên, bộ tiêu chuẩn này cần áp dụng và thống nhất trong quá trình giảng dạy, phải được xem là kim chỉ nam trong đào tạo nguồn nhân lực ngành du lịch.
Đổi mới nội dung, chương trình đào tạo nguồn nhân lực du lịch gắn với nhu cầu của doanh nghiệp phải theo hướng nâng cao kỹ năng thực hành để đạt được sự chuyên nghiệp, tiêu chuẩn mang tầm khu vực và quốc tế.
Trên quan điểm đổi mới và hội nhập, trang bị khung cơ bản về chương trình, nội dung đào tạo, bồi dưỡng các chuyên ngành du lịch tương ứng với tiêu chuẩn của từng nhóm chức danh quản lý, nghiệp vụ, phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Nhóm gián tiếp (lãnh đạo, quản lý, nhà nghiên cứu, nhà giáo…), phải có tài trong lãnh đạo, quản lý, sử dụng và biết cách định vị nguồn nhân lực; tâm trong thu phục lòng người, phát huy lòng yêu nghề, khả năng cống hiến và sáng tạo; tầm nhìn xu hướng vận động của ngành du lịch trong mối quan hệ với thế giới và hiện trạng đất nước, dự báo có kế hoạch sánh ngang, vượt đối thủ. Nhóm trực tiếp (lễ tân, phục vụ buồng, bàn, hướng dẫn viên, đầu bếp…), phải đảm bảo yêu cầu về đạo đức, kỹ năng, khả năng sáng tạo, biết vận dụng công nghệ tiên tiến phù hợp… vào công việc.
Các cơ sở đào tạo du lịch cần phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo sửa đổi chương trình khung đào tạo chuyên ngành du lịch bậc trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học thống nhất cả nước. Phối hợp với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tổ chức xây dựng các chương trình khung đào tạo trình độ cao đẳng nghề, trung cấp nghề… Tham khảo, học tập kinh nghiệm quốc tế trong xây dựng chương trình, giáo trình môn học. Đổi mới mục tiêu, nội dung, chương trình đào tạo du lịch các cấp đào tạo theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa.
Việc thành công của một quốc gia hay doanh nghiệp lữ hành trong phát triển du lịch phụ thuộc nhiều vào nhân tố con người. Bởi nhân tố này là cầu nối giữa doanh nghiệp lữ hành và du khách. Họ đại diện cho doanh nghiệp trước khách hàng, đồng thời là nhân tố quan trọng để du khách quay trở lại. Do đó, công tác đào tạo nguồn nhân lực đủ tiêu chuẩn, trình độ phục vụ luôn đòi hỏi sự quan tâm và phối hợp đồng bộ, chặt chẽ của các cấp, các ngành và toàn xã hội.
- Kiến nghị, đề xuất với Chính phủ và Nhà nước Luận văn: Giải pháp thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.
Mục tiêu của ngành du lịch là phát triển nhanh và bền vững, nhất thiết phải có sự điều tiết đúng đắn của Chính phủ và Nhà nước.
Trước hết, Chính phủ cần tiếp tục tạo môi trường vĩ mô ổn định cho việc phát triển du lịch. Bên cạnh đó, cũng cần phải rà soát lại các quy định, các chính sách liên quan của Nhà nước qua từng năm, từng thời kỳ để tìm ra những bất cập phải điều chỉnh, bổ sung, đổi mới kịp thời cho phù hợp với tình hình thực tế. Nhà nước tạo môi trường kinh doanh và cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế và các chính sách để các doanh nghiệp xây dựng thương hiệu cho mình, thương hiệu cho ngành du lịch địa phương để thu hút khách du lịch quốc tế nhiều hơn.
Hỗ trợ đầu tư từ ngân sách để xây dựng hệ thống hạ tầng du lịch và giữ gìn tôn tạo, nâng cấp các di tích lịch sử văn hóa, danh thắng quan trọng được xếp hạng nhằm thúc đẩy việc xây dựng các dự án đầu tư và khai thác tại các tuyến du lịch chính trên toàn đất nước nhằm phục vụ việc phát triển du lịch.
Áp dụng thuế suất thu nhập doanh nghiệp, thời gian và mức miễn thuế, giảm thuế với các hoạt động kinh doanh, với một số lĩnh vực thuộc diện chính sách và khuyến khích thu hút đầu tư. Nhà nước nên có những chính sách hỗ trợ người dân tham gia vào hoạt động du lịch như có ưu đãi đầu tư vào các loại du lịch làng quê, làng nghề, du lịch cộng đồng, ưu đãi về thuế cho các cán bộ kinh doanh trong những năm đầu hoạt động chưa có lãi. Đơn cử như trong 5 năm đầu các hộ gia đình ở làng quê tham gia du lịch làng nghề thì được miễn thuế kinh doanh, và chỉ bắt đầu thu thuế từ năm thứ 6 trở đi.
Đơn giản hóa các thủ tục xuất nhập cảnh để tạo điều kiện thuận lợi cho du khách nhập cảnh vào bất kỳ cửa khẩu nào đồng thời cải tiến thủ tục cấp thị thực cho du khách các nước đến Việt Nam.
Đề nghị Chính phủ nhanh chóng chỉ đạo Bộ Giao thông vận tải có kế hoạch phát triển ngành hàng không, cho phép thêm nhiều thành phần kinh tế tham gia thành lập hãng hàng không trong nước, bình đẳng với nhau trong kinh doanh để khắc phục tình trạng thiếu chuyến bay trong nước, tạo điều kiện cho khách du lịch dễ dàng hơn trong việc đi lại.
Đẩy mạnh công tác quảng cáo, tuyên truyền về đất nước, con người Việt Nam thông qua các website về du lịch, các trang mạng xã hội cũng như thông qua các hội nghị, các sự kiện mang tầm cỡ quốc gia và quốc tế.
Quản lý chặt chẽ chất lượng đào tạo nguồn nhân lực trong du lịch đối với các cơ sở đào tạo du lịch. Phối hợp cùng với các tổ chức, các dự án nhằm đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực du lịch phát triển phù hợp với sự phát triển của thế giới, đặc biệt nhấn mạnh đào tạo ngoại ngữ, kỹ năng quản trị cho người làm du lịch, từ đó sẽ tạo được ấn tượng tốt đẹp cho khách du lịch.
3.3.2. Giải pháp mang tầm vi mô Luận văn: Giải pháp thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.
3.3.2.1. Nghiên cứu thị trường, nắm bắt nhu cầu của khách du lịch quốc tế
Sự phát triển của ngành du lịch nói chung và phát triển các sản phẩm du lịch nói riêng phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển của thị trường khách du lịch, đặc biệt là thị trường khách du lịch quốc tế. Nói cách khác, thị trường khách du lịch giữ một vai trò rất quan trọng, là một yếu tố quyết định cho sự phát triển của ngành du lịch, của sự tồn tại và phát triển bền vững của sản phẩm du lịch. Sự phát triển ổn định, bền vững và có hiệu quả của thị trường khách du lịch là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu đảm bảo cho sự phát triển bền vững của Ngành du lịch.
Do đó, để tạo ra những sản phẩm du lịch phù hợp, có sức thu hút khách du lịch quốc tế đòi hỏi chúng ta cần nghiên cứu thị trường, nghiên cứu nhu cầu của khách quốc tế; chúng ta cần sản xuất và bán cho khách những gì khách cần chứ không phải sản xuất và bán cho khách những gì mà chúng ta có. Muốn vậy, ngành du lịch cần phải nghiên cứu tâm lý, sở thích, nhu cầu, mức chi tiêu cho du lịch… của thị trường khách du lịch, đặc biệt là thị trường khách du lịch trọng điểm.
Như vậy, muốn xây dựng được những sản phẩm du lịch Việt Nam mang tính đặc thù, có chất lượng cao, có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế… (dựa trên các nguồn lực sẵn có), thì trước hết việc nghiên cứu kỹ lưỡng các thị trường du lịch hiện tại và các thị trường du lịch tiềm năng là nhiệm vụ hết sức quan trọng và cần thiết. Đây là điều kiện tiên quyết để xây dựng các sản phẩm du lịch Việt Nam đạt hiệu quả cao.
Trong thời gian qua, sự phát triển của các thị trường khách du lịch quốc tế đến Việt Nam còn có những mặt hạn chế nhất định. Do vậy việc phân tích, đánh giá từng chỉ tiêu cụ thể của các thị trường khách du lịch quốc tế sẽ là cơ sở khoa học để xây dựng chiến lược về thị trường, lựa chọn thị trường ưu tiên, xây dựng chiến lược về sản phẩm… để nhằm mục đích nâng cao hiệu quả về mọi mặt của các hoạt động du lịch ở nước ta. Đánh giá về sự phát triển của thị trường khách du lịch quốc tế có thể dựa trên 3 tiêu chí cơ bản sau đây:
Theo quốc tịch: Các thị trường then chốt của Du lịch Việt Nam bao gồm Trung Quốc; Đài Loan; Nhật Bản; Hàn Quốc; Pháp; Mỹ; các nước ASEAN… Những đặc điểm cơ bản của các thị trường này được phân tích, đánh giá như sau:
Thị trường khách Trung Quốc Luận văn: Giải pháp thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.
- Tăng từ 626.476 khách năm 2009 lên 1.416.804 khách vào năm 2020; gấp 2,26 lần. Tăng trung bình 7,7%/năm.
- Thị phần so với cả nước đạt 29,3% năm 2009; và 23,6% vào năm 2020.
- Mục đích chủ yếu qua lại buôn bán; tham quan; phương tiện chính đường bộ.
- Ngày lưu trú trung bình thấp, chỉ đạt 2 – 3 ngày.
- Mức chi tiêu trung bình thấp: đạt khoảng 35 – 40USD/ngày/khách.
- Đóng góp vào tổng thu nhập từ khách quốc tế thấp: năm 2020 chỉ chiếm 4,4% so với cả nước (chiếm 23,6% về số khách).
Thị trường khách Đài Loan
- Tăng từ 212.370 khách năm 2009 lên 361.051 khách vào năm 2020; tăng trung bình 5,0%/năm.
- Thị phần so với cả nước đạt 9,9% năm 2009; và 6,0% vào năm 2020. Mục đích chính: thương mại kết hợp tham quan; phương tiện chính máy bay.
- Ngày lưu trú trung bình đạt 5,5 – 6,0 ngày.
- Khả năng chi tiêu cao, trung bình mỗi ngày chi tiêu 80 – 90USD/khách Đóng góp vào tổng thu nhập từ khách quốc tế: năm 2020 chiếm trên 6,5% so với cả nước (chiếm 6,0% về số khách).
Thị trường khách Nhật Bản
- Tăng từ 152.755 khách năm 2009 lên 481.519 khách vào năm 2020; tăng trung bình 11,0%/năm.
- Thị phần so với cả nước đạt 7,1% năm 2009; và 8,0% vào năm 2020. Mục đích chính: Tham quan du lịch; nghiên cứu; sinh thái; nghỉ dưỡng; thương mại… Phương tiện chủ yếu là máy bay.
- Lưu trú trung bình 6,0 – 7,5 ngày.
- Khả năng chi tiêu cao: trung bình 150 USD/người/ngày.
- Đóng góp lớn cho thu nhập của Ngành từ khách du lịch quốc tế: Năm 2020 chiếm tới xấp xỉ 17% (chiếm 8,0% khách)
Thị trường khách Hàn Quốc
- Tăng từ 53.452 khách năm 2009 lên 536.408 khách vào năm 2020; tăng nhanh, trung bình mỗi năm đạt 23,3%/năm.
- Thị phần so với cả nước tăng từ 2,5% năm 2009 lên 8,9% vào năm 2020.
- Mục đích: Tham quan du lịch; thương mại… Phương tiện chính là máy bay.
- Lưu trú trung bình 6 – 7 ngày.
- Khả năng chi tiêu cao: trung bình 120 USD/người/ngày.
- Đóng góp vào tổng thu nhập từ khách du lịch quốc tế: Năm 2020 chiếm tới 14,0% (chiếm 8,9% khách)
Thị trường Pháp Luận văn: Giải pháp thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.
- Tăng từ 86.492 khách năm 2009 lên 211.444 khách vào năm 2020; tăng trung bình 8,5%/năm.
- Thị phần so với cả nước ít thay đổi; đạt 4,1% năm 2009 và 3,5% năm 2020.
- Là thị trường quan trọng, có khả năng chi trả cao.
- Chủ yếu là: du lịch văn hóa (87%); thương mại (4,4%); thăm thân (3,5%).
- Đi theo “tour” với thời gian trung bình 8-10 ngày; đặc biệt có tour từ 1-3 tuần.
- Chi tiêu trung bình 100USD/người/ngày (thương mại 135USD; tham quan du lịch 99USD; thăm thân 70USD và khách có mục đích khác 80USD).
- Đóng góp cho tổng thu nhập từ khách quốc tế: 7,5% năm 2020.
Thị trường Mỹ
- Tăng từ 208.642 khách năm 2009 lên 439.872 khách năm 2020; tăng trung bình 7,0%/năm.
- Thị phần so với cả nước đạt 9,7% năm 2009 và 7,3% vào năm 2020. Mục đích chủ yếu: tham quan du lịch (80,5%); thương mại (13,0%); thăm thân (2,5%); và các mục đích khác (4,0%).
- Ngày lưu trú trung bình cao: khoảng 7-10 ngày. Phương tiện chính: Máy bay.
- Chi tiêu trung bình khoảng 120USD/người/ngày (thương mại 170USD; tham quan du lịch 90USD…).
- Đóng góp trong tổng thu nhập từ khách quốc tế: 16,5% năm 2020.
Thị trường ASEAN (chủ yếu là 3 nước Thái Lan, Campuchia, Malaysia):
- Tăng từ 171.301 khách năm 2009 lên 838.392 khách năm 2020; tăng trung bình 15,6%/năm.
- Thị phần so với cả nước tăng từ 8,0% năm 2009 lên 13,9% vào năm 2020.
- Mục đích chính: thương mại; thăm thân; tham quan du lịch…
- Ngày lưu trú ngắn: trung bình 3,5-4,5 ngày. Phương tiện chính: máy bay, ôtô.
- Mức chi tiêu trung bình khoảng 80USD/người/ngày (trong đó khách du lịch thương mại khoảng 160USD).
- Đóng góp cho tổng thu nhập từ khách quốc tế: 9,4% năm 2020.
- Theo mục đích của chuyến đi
- Tham quan du lịch, nghỉ dưỡng
- Mức độ tăng trưởng tương đối cao, đạt trung bình 11,2%/năm (2009 – 2020).
- Từ 1.138.200 khách năm 2009 tăng lên 3.651.299 khách năm 2020.
- Về thị phần so với tổng số khách: Từ 53,2% năm 2009 lên 60,7% năm 2020.
- Có khả năng thanh toán tương đối cao: 80 – 90USD/người/ngày.
- Ngày lưu trú trung bình khoảng 6,5 ngày.
- Năm 2020 chiếm 60,7% thị phần về khách; và 62,0% thị phần về thu nhập.
Khách du lịch thương mại Luận văn: Giải pháp thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.
- Tăng từ 491.646 khách năm 2009 lên 1.003.005 khách vào năm 2020; tăng trưởng trung bình 6,7%/năm
- Về thị phần: Chiếm 23% năm 2009; và 16,7% năm 2020; có xu hướng giảm.
- Có khả năng chi trả rất cao: khoảng 150 – 160USD/người/ngày.
- Thời gian lưu trú không dài: khoảng 5 – 6 ngày.
- Khả năng đóng góp trong tổng thu nhập: năm 2020 chiếm 16,7% số khách nhưng chiếm 25,0% tổng thu nhập.
Khách du lịch thăm thân
- Tăng từ 399.962 khách năm 2009 (chiếm 18,7% tổng số) lên 1.007.267 khách (chiếm 16,7% tổng số) năm 2020. Tăng trung bình thấp 8,7%/năm.
- Chi tiêu thấp (khoảng 50USD/người/ngày), ít lưu trú trong khách sạn. Ngày lưu trú dài (khoảng 7 – 8 ngày), nhưng đóng góp cho tổng thu nhập thấp.
- Năm 2020 chiếm 16,7% tổng số khách, nhưng chỉ chiếm 10,0% thị phần về thu nhập.
- Theo các phương tiện vận chuyển
Đường không
- Từ 1.113.140 khách năm 2009 tăng lên 5.031.586 khách năm 2020; mỗi năm tăng 14,7%.
- Thị phần tăng nhanh; năm 2009 chiếm 52%; đến năm 2020 tăng lên 83,7%.
- Ngày lưu trú trung bình khoảng 6 ngày.
- Mức chi tiêu trung bình khoảng 100 USD/ngày/người.
- Sự đóng góp trong tổng thu nhập là rất lớn. Năm 2020 chiếm 83,7% thị phần về số khách, nhưng đóng góp tới 91,9% tổng thu nhập.
Đường bộ
- Tăng từ 770.908 khách năm 2009 lên 936.125 khách năm 2020; tăng trung bình thấp1,8%/năm.
- Thị phần chiếm 36% năm 2009; và chiếm 15,6% năm 2020.
- Ngày lưu trú trung bình thấp (khoảng 5 – 6 ngày).
- Chi tiêu thấp (50USD/ngày/người); đóng góp cho thu nhập hạn chế. Năm 2020 chiếm 15,6% thị phần về khách, nhưng chỉ chiếm 8,0% thị phần về tổng thu nhập.
Đường biển Luận văn: Giải pháp thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.
- Giảm nhanh: Giảm từ 256.052 khách năm 2009 còn 46.321 khách năm 2020.
- Thị phần chiếm 12% năm 2009, và 0,7% năm 2020.
- Đối tượng là Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc, Tây Âu…
Lưu trú ngắn, khoảng 1 – 2 ngày; không sử dụng dịch vụ lưu trú mà chỉ sử dụng một số dịch vụ như vận chuyển trên mặt đất, lệ phí tham quan, mua hàng lưu niệm, lệ phí visa…
Mức chi tiêu hạn chế, trung bình 30USD/ngày/người; khả năng đóng góp vào thu nhập của Ngành không đáng kể. Năm 2020 chiếm 0,7% thị phần về khách, và 0,1% thị phần về thu nhập.
- Đánh giá chung về thực trạng thị trường khách du lịch quốc tế
Thị trường Trung Quốc chiếm thị phần lớn nhất, nhưng đây lại là thị trường có mức chi tiêu thấp nhất, có ngày lưu trú thấp nhất, nên hiệu quả kinh tế từ thị trường này không cao.
Các thị trường có khả năng chi tiêu cao như Nhật Bản, Hàn Quốc, Pháp, Mỹ, Đài Loan có mức tăng trưởng tương đối ổn định. Mặc dù có lúc suy giảm cả về số lượng lẫn thị phần và ảnh hưởng đến thu nhập của ngành nhưng sự suy giảm này không đáng kể. Với những thị trường này cần có những chiến lược cụ thể (sản phẩm, giá cả…) để khuyến khích và thu hút ngày càng nhiều, góp phần tăng trưởng ổn định và lâu dài các thị trường này.
Thị trường khách tham quan du lịch thuần túy có thị phần lớn nhất, có ngày lưu trú dài nhất, có khả năng chi trả tương đối cao. Thị trường này phát triển tương đối ổn định và hiệu quả, đóng góp phần lớn cho tổng thu nhập của ngành. Đối với thị trường này cần mở rộng các điểm tham quan mới, tổ chức các tour mới hấp dẫn để thu hút ngày càng nhiều hơn.
Thị trường khách du lịch thương mại chiếm thị phần thấp nhất, có ngày lưu trú thấp, nhưng đây lại là thị trường có khả năng chi tiêu cao nhất, có khả năng đóng góp đáng kể cho tổng thu nhập toàn ngành; đây cũng là thị trường có ý muốn quay trở lại Việt Nam. Tuy nhiên trong thời gian qua thị trường này phát triển không ổn định, có chiều hướng suy giảm cả về số lượng lẫn thị phần. Đối với thị trường này cần có những chính sách, những ưu đãi nhất định về đầu tư để thu hút và hấp dẫn họ vào Việt Nam.
Thị trường khách du lịch hàng không là thị trường quan trọng nhất: Chiếm thị phần cao nhất, có khả năng chi tiêu cao, có ngày lưu trú dài, đóng góp cho tổng thu nhập toàn ngành lớn nhất. Để thu hút được nhiều khách du lịch hàng không hơn nữa cần có sự phối kết hợp kinh doanh giữa ngành Du lịch và ngành Hàng không.
Khách du lịch đường bộ và đường biển là những thị trường có khả năng chi tiêu thấp, ngày lưu trú ngắn… nên đóng góp cho tổng thu nhập của ngành hạn chế. Sự biến động của các thị trường này ảnh hưởng không lớn đến hiệu quả kinh doanh của Ngành Du lịch. Luận văn: Giải pháp thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.
Thông qua việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng về các đặc điểm, nhu cầu, sở thích cũng như khả năng chi tiêu của các thị trường trọng điểm của du lịch Việt Nam trong những năm qua, cho thấy rõ những ưu điểm, những lợi thế, cũng như vị trí của từng thị trường trong tổng thể ngành du lịch Việt Nam. Đặc biệt, qua đó cho thấy khả năng đóng góp về hiệu quả kinh tế trong tổng thu nhập của ngành du lịch.
Cùng với việc phân tích, đánh giá về các thị trường trọng điểm, dựa trên các nguồn lực của du lịch Việt Nam…, trong những năm tới có thể định hướng và phát triển các nhóm thị trường du lịch trọng điểm theo các quan điểm chủ yếu sau:
Tập trung ưu tiên phát triển và thu hút các nhóm thị trường có khả năng chi trả cao cho các dịch vụ du lịch, trong đó đặc biệt chú trọng đến các đối tượng khách thương mại đến từ các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Pháp, Mỹ v.v… Đây là nhóm thị trường có tỷ trọng thấp nên không gây áp lực đến nguồn tài nguyên – môi trường, dễ kiểm soát…, nhưng lại có khả năng đóng góp lớn cho tổng thu nhập của ngành du lịch, đồng thời không chịu tác động của yếu tố thời vụ (mùa) trong du lịch.
Tập trung khai thác các nhóm thị trường với mục đích tham quan du lịch thuần túy, có thời gian lưu trú dài ngày, có khả năng đi theo tour trọn gói. Đây là nhóm thị trường chiếm ưu thế của du lịch Việt Nam hiện tại và trong tương lai, chiếm tỷ trọng lớn, lưu trú dài ngày, khả năng chi trả tương đối cao, đóng góp phần lớn trong tổng thu nhập của ngành du lịch. Mặt khác, nhóm thị trường này thường đi theo tour trọn gói nên dễ kiểm soát, không bị chi phối nhiều bởi yếu tố thời vụ trong du lịch.
Tập trung hướng tới khai thác có hiệu quả các thị trường tiềm năng. Ngoài các thị trường truyền thống (đã đề cập ở trên), trong những năm tới Du lịch Việt Nam cần hướng tới khai thác tốt một số thị trường tiềm năng. Đây là một số thị trường có xu hướng đến khu vực Đông Nam Á, có sở thích đến những bãi biển trong xanh, nắng ấm quanh năm để thưởng thức các sản phẩm du lịch biển, kết hợp tham quan, mua sắm… (như thị trường Nga, Ucraina, các nước Đông Âu, các nước Bắc Âu…).
Chuẩn bị các điều kiện cần thiết để khai thác các thị trường du lịch theo các chuyên đề đặc biệt. Đây là nhóm đối tượng thị trường có khả năng tài chính cao, có trình độ học thức và dân trí cao…, họ sẵn sàng tham gia các chương trình du lịch theo chuyên đề đặc biệt mà Việt Nam có đủ điều kiện để tổ chức như thám hiểm hang động, lặn biển, đua thuyền buồm, leo núi chinh phục các đỉnh cao hiểm trở, tổ chức các sự kiện chính trị – ngoại giao – văn hóa – thể thao – khoa học kỹ thuật v.v…
3.3.2.2. Tạo ra những sản phẩm du lịch hấp dẫn khách quốc tế
- Quan điểm chung về phát triển sản phẩm du lịch của Việt Nam là:
- Tập trung đầu tư xây dựng hệ thống các sản phẩm du lịch đặc trưng dựa trên cơ sở khai thác các giá trị tài nguyên du lịch độc đáo, đặc sắc, có thế mạnh đặc biệt. Luận văn: Giải pháp thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.
- Đầu tư, xây dựng và phát triển các sản phẩm du lịch phải đảm bảo tính bền vững, ổn định và lâu dài.
- Các sản phẩm du lịch phải mang tính đặc thù, có chất lượng cao, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong khu vực và quốc tế.
- Đầu tư xây dựng một số sản phẩm du lịch hấp dẫn đặc biệt, mang thương hiệu quốc gia, mang hình ảnh Việt Nam được bạn bè quốc tế biết đến.
- Từ những quan điểm trên, định hướng phát triển một số sản phẩm du lịch là thế mạnh của Việt Nam, cụ thể:
Du lịch di sản thế giới của Việt Nam: Tính đến năm 2025 Việt Nam đã có 2 di sản thiên nhiên thế giới là vịnh Hạ Long và vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng; 5 di sản văn hóa thế giới là phố cổ Hội An, thánh địa Mỹ Sơn, cố đô Huế, khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long và Thành nhà Hồ; 1 di sản thế giới hỗn hợp và 11 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận. Đây là những tài nguyên du lịch hết sức đặc sắc, mang tính đặc trưng văn hóa của Việt Nam. Trên cơ sở khai thác các giá trị văn hóa đặc trưng này, có thể xây dựng các sản phẩm du lịch mang tính đặc thù, có chất lượng cao, đủ khả năng cạnh tranh như Du lịch tham quan nghiên cứu các di sản thế giới của Việt Nam; Du lịch Con đường Di sản Miền Trung; Du lịch huyền thoại Tây Nguyên; Du lịch Cung Đình; Du lịch hát dân ca Quan họ, v.v…
Các sản phẩm du lịch thuộc nhóm du lịch di sản thế giới của Việt Nam có thể đáp ứng cho các đối tượng khách có thu nhập cao, có trình độ học vấn, ham hiểu biết về văn hóa… (có thể đến từ mọi quốc gia).
Du lịch tham quan, nghiên cứu văn hóa: Việt Nam có một kho tàng văn hóa đặc sắc trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của 54 dân tộc anh em. Đó là hệ thống các di tích văn hóa lịch sử – cách mạng; là hệ thống các lễ hội, làng nghề truyền thống; là văn hóa ẩm thực của các vùng miền, của các dân tộc; là các di sản văn hóa văn nghệ dân gian… Đây là nguồn tài nguyên du lịch thế mạnh và mang tính khác biệt của Việt Nam. Dựa trên nguồn tài nguyên đặc sắc này có thể xây dựng các sản phẩm du lịch mang tính đặc trưng riêng cho từng vùng, miền…, theo các chuyên đề khác nhau: Du lịch tham quan thắng cảnh (Hạ Long, Thác Bản Giốc, Ba Bể, Tràng An, Đà Lạt…); Du lịch tham quan nghiên cứu làng nghề (Bát Tràng, Vạn Phúc, Làng Sình,…); Du lịch lễ hội (Hội Gióng, Yên Tử, Đền Hùng, Chọi Trâu, Núi Bà Đen, Núi Sam…); Du lịch thưởng thức văn hóa văn nghệ dân gian (rối nước, ca trù, quan họ, hát xoan, cải lương…)
Các sản phẩm du lịch thuộc nhóm du lịch tham quan, nghiên cứu văn hóa có thể đáp ứng cho mọi đối tượng khách có thu nhập từ trung bình, ưa khám phá, ham hiểu biết về văn hóa… (có thể đến từ mọi quốc gia).
Du lịch nghỉ dưỡng biển, đảo gắn với các resorts cao cấp: Với hàng ngàn km bờ biển; hàng ngàn đảo lớn nhỏ; hàng trăm bãi tắm cát trắng quanh năm đầy nắng và gió với nước biển trong xanh, ấm áp… Việt Nam thực sự là thiên đường của biển đảo. Đây là một lợi thế lớn về tiềm năng du lịch biển của Việt Nam, có thể khai thác xây dựng các resorts nghỉ dưỡng cao cấp (có thể tạo nên thương hiệu cho du lịch Việt Nam) kết hợp với nhiều sản phẩm du lịch khác (nghỉ dưỡng, tắm biển, tắm khoáng, chơi golf, thể thao biển, đua thuyền, lướt sóng, lặn biển xem san hô, du lịch MICE,…). Các khu vực có thể xây dựng các resorts nghỉ dưỡng cao cấp – thương hiệu du lịch Việt Nam bao gồm Lăng Cô, Nha Trang, Ninh Chữ, Mũi Né, Long Hải, Côn Đảo, Phú Quốc…
Các sản phẩm du lịch thuộc nhóm du lịch nghỉ dưỡng biển, đảo có thể đáp ứng cho các đối tượng khách có thu nhập khá và cao, có thời gian lưu trú dài, sẵn sàng sử dụng các dịch vụ bổ trợ như chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng… (có thể đến từ mọi quốc gia, đặc biệt là người trung niên Nhật Bản, các thị trường Nga, Đông Âu…).
Du lịch nghỉ dưỡng núi (khí hậu ôn đới trong lòng nhiệt đới): Ở Việt Nam có một số cao nguyên, núi cao có khí hậu ôn hòa quanh năm, cảnh quan đẹp… thích hợp cho nghỉ dưỡng phục hồi sức khỏe. Đây là một nét đặc trưng khác biệt về tài nguyên du lịch so với các nước trong khu vực. Do vậy, có thể khai thác các lợi thế này để xây dựng các resorts nghỉ dưỡng núi cao cấp (cũng có thể tạo nên thương hiệu cho du lịch Việt Nam) nhằm phục vụ các đối tượng khách có thu nhập cao. Tại các khu resorts nghỉ dưỡng núi cao cấp này có thể xây dựng bổ sung các sản phẩm du lịch kết hợp như tắm khoáng, tắm thuốc, vật lý trị liệu – phục hồi chức năng, chơi golf, casino… Các khu vực có thể xây dựng các resorts nghỉ dưỡng núi cao cấp bao gồm Mẫu Sơn, Sa Pa, Tam Đảo, Ba Vì, Bà Nà, Đà Lạt… Luận văn: Giải pháp thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.
Các sản phẩm du lịch thuộc nhóm du lịch nghỉ dưỡng núi có thể đáp ứng cho các đối tượng khách có thu nhập cao, có thời gian lưu trú dài, sẵn sàng sử dụng các dịch vụ bổ trợ như chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng… (có thể đến từ mọi quốc gia, đặc biệt là người cao tuổi Nhật Bản, Hàn Quốc, các thị trường Tây Âu, ASEAN…).
Du lịch sinh thái, miệt vườn cây trái, sông nước: Việt Nam hiện có 30 vườn quốc gia, 9 khu dự trữ sinh quyển thế giới và hàng trăm khu bảo tồn tự nhiên được phân bố khắp trong cả nước; có các hệ sinh thái đa dạng với giá trị đa dạng sinh học cao (hệ sinh thái san hô; hệ sinh thái đất ngập nước; hệ sinh thái vùng cát ven biển; các hệ sinh thái rừng nhiệt đới…). Ngoài ra, vùng đồng bằng Sông Cửu Long có hệ thống kênh rạch chằng chịt, có nhiều khu rừng ngập mặn, và các miệt vườn đầy cây trái quanh năm tốt tươi trĩu quả… Đây thực sự là những tài nguyên quý giá và là thế mạnh của Việt Nam để phát triển du lịch sinh thái, du lịch sông nước, du lịch miệt vườn đồng quê. Với các giá trị tài nguyên đặc sắc này, du lịch Việt Nam có thể khai thác xây dựng các sản phẩm du lịch đặc trưng sau: Du lịch nghiên cứu, sinh thái (xem thú ở các vườn quốc gia, xem chim ở VQG Tràm Chim, Xuân Thủy, Cà Mau; lặn biển xem san hô ở Phú Quốc, Cù Lao Chàm, Vịnh Nha Trang…; xem rùa đẻ trứng Côn Đảo…); Du lịch sông nước – miệt vườn (tham quan các miệt vườn, thưởng thức cây trái và Đờn ca tài tử đồng bằng Sông Cửu Long; tham quan các chợ nổi; khám phá các khu rừng ngập mặn Cần Giờ, U Minh, Đất Mũi…).
Các sản phẩm du lịch thuộc nhóm du lịch sinh thái, miệt vườn cây trái, sông nước có thể đáp ứng cho các đối tượng khách có thu nhập cao, độ tuổi trẻ đến trung niên, có trình độ học vấn, ham hiểu biết, thích khám phá tự nhiên… (có thể đến từ mọi quốc gia, đặc biệt là các nước Nhật Bản, Úc, Mỹ, Niu Di Lân, các nước Tây Âu…).
Du lịch tham quan, nghiên cứu, thám hiểm hang động: Hệ thống hang động ở Việt Nam rất đa dạng và phong phú, được phân bố tương đối rộng khắp, đặc biệt là ở vùng núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ. Có những hang động gắn liền với quá trình tiến hóa của người Việt cổ (Động Người Xưa, Hang Xóm Trại, Hang Con Moong, Núi Đọ…); có những hệ thống hang động (động Thiên Cung, Hang Trinh Nữ, Hang Sửng Sốt, Hang Bồ Nâu, Hang Đầu Gỗ…) gắn liền với những danh thắng hùng vĩ – di sản thế giới Vịnh Hạ Long; có những hang động đã được mệnh danh là đẹp nhất thế giới với 7 kỷ lục Guinness (hang nước dài nhất, có cửa hang cao và rộng nhất, có bãi cát và đá rộng đẹp nhất, có hồ ngầm đẹp nhất, có thạch nhũ tráng lệ và kỳ ảo nhất, có dòng sông ngầm dài nhất, có hang khô rộng và đẹp nhất), đó là Động Phong Nha – Di sản thế giới. Chỉ từng đấy cũng đủ cho thấy hệ thống hang động là một thế mạnh, là sự khác biệt về tài nguyên của du lịch Việt Nam. Với thế mạnh đó, với sự khác biệt đó, du lịch Việt Nam có thể khai thác xây dựng các sản phẩm du lịch đặc thù, có khả năng cạnh tranh như sau: Du lịch khảo cổ học (gắn với hệ thống hang động), du lịch thám hiểm Động Phong Nha – Di sản thế giới (hoặc là du lịch thám hiểm Động Phong Nha – các kỷ lục guinness), du lịch khám phá Hạ Long kỳ ảo – Kỳ quan thế giới v.v…
Các sản phẩm du lịch thuộc nhóm du lịch tham quan, nghiên cứu, thám hiểm hang động có thể đáp ứng cho các đối tượng khách là các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu – thám hiểm, những khách có thu nhập cao, độ tuổi trẻ đến trung niên, có trình độ học vấn, ham hiểu biết, thích khám phá, ưa mạo hiểm… (có thể đến từ mọi quốc gia, đặc biệt là các nước Anh, Pháp, Úc, Mỹ, Canada, Nhật Bản, Niu Di Lân…). Luận văn: Giải pháp thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.
Du lịch thể thao mạo hiểm theo các chuyên đề đặc biệt (lặn biển, leo núi, khinh khí cầu, nhảy dù, tàu lượn…): Việt Nam có nhiều kiểu địa hình đa dạng, từ vùng núi cao đến vùng đồi trung du, đồng bằng, ven biển… Địa hình đa dạng, đặc biệt là kiểu địa hình vùng núi cao đã tạo nên nhiều thắng cảnh với những đỉnh núi cao, vực sâu, những thác nước hùng vĩ (vùng núi Tây Bắc, dãy Trường Sơn, Tây Nguyên…). Đây là những giá trị tài nguyên đặc trưng và điều kiện cần thiết để phát triển các loại hình du lịch thể thao mạo hiểm. Với những đặc điểm về địa hình đa dạng, du lịch Việt Nam có thể khai thác xây dựng các sản phẩm du lịch thể thao mạo hiểm như sau: Du lịch chinh phục Nóc nhà Đông Dương (leo đỉnh Fansipan 3.142m) hoặc du lịch leo núi – Chinh phục các đỉnh cao (Fansipan, Pusilung 3.076m, Puluông 2.893m, Tây Côn Lĩnh 2.419m…); du lịch khinh khí cầu (lượn trên bầu trời Vịnh Hạ Long, Vịnh Nha Trang, vùng núi Tây Bắc hùng vĩ…); Du lịch tàu lượn, nhảy dù (ở những vùng thung lũng, cao nguyên có cảnh quan đẹp như Lang Biang – Đà Lạt, Mộc Châu – Sơn La, Sìn Hồ – Lai Châu…); Du lịch lặn biển (vùng biển Hạ Long, Cô Tô, Cù Lao Chàm, Vịnh Nha Trang, Côn Đảo…).
Các sản phẩm du lịch thuộc nhóm du lịch thể thao mạo hiểm theo các chuyên đề đặc biệt có thể đáp ứng cho các đối tượng khách là thanh thiếu niên (có thể cho cả lứa tuổi trung niên), thích khám phá, ưa mạo hiểm… (có thể đến từ mọi quốc gia, đặc biệt là các nước Úc, Niu Di Lân, Canada, Nhật Bản, ASEAN…).
3.3.2.3. Xây dựng thị trường du lịch an toàn cho khách du lịch quốc tế
Một nước kinh doanh du lịch muốn phát triển nguồn khách quốc tế trước tiên phải đảm bảo an ninh trật tự cho khách du lịch quốc tế. Thử tưởng tượng nếu bạn đi du lịch ra nước ngoài mà phải bận tâm đến những thứ như: cướp bóc, trộm cắp, lừa đảo,chặt chém, chèo kéo… thì chuyến du lịch của bạn chẳng còn thú vị gì, hay người ta còn nói vui là “đi du lịch như thế thì đi làm gì ở nhà sướng hơn”. Vì thế trước tiên chúng ta cần phải có 1 hệ thống an ninh đảm bảo được sự an toàn cho du khách quốc tế (nói riêng) cũng như khách du lịch (nói chung).
Hiện nay, một thực tế đáng buồn là ở Việt Nam đang và vẫn diễn ra tình trạng trộm cắp, lừa đảo, chặt chém, chèo kéo… khách du lịch, đặc biệt ở những nơi sự quản lý của chính quyền địa phương không chặt chẽ.
Vậy, để cải thiện tình trạng mất an toàn khi đi du lịch tại các khu du lịch ở Việt Nam, chúng ta cần có những biện pháp thiết thực và mạnh tay thì mới tạo được sự an tâm và lòng tin của khách du lịch khi đến với Việt Nam. Muốn vậy chúng ta cần phải:
- Thành lập 1 tổ chức phục vụ cho du khách.
- Tạo một hotline và cung cấp cho từng khách du lịch ở tại các cửa khẩu xuất nhập cảnh.
- Tổ chức các nhóm tuần tra giúp đỡ du khách tại các địa điểm nóng.
Các điểm tham quan, du lịch phải có quy chế hoạt động, nội quy tham quan, lắp đặt các biển chỉ dẫn; tổ chức đón tiếp, hướng dẫn khách tham quan chu đáo tận tình, văn minh, lịch sự; có bãi đậu xe quy mô phù hợp với lượng khách tham quan, có hệ thống hạ tầng và cơ sở dịch vụ phục vụ khách được quản lý chặt chẽ, bảo đảm chất lượng.
Các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ, hàng hoá phải niêm yết giá công khai và bán theo giá đã niêm yết; hàng hoá phải có nhãn mác và nguồn gốc xuất xứ, đảm bảo chất lượng, số lượng, trọng lượng.
Cơ quan chức năng và Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã thực hiện đồng bộ các giải pháp bảo đảm an ninh, an toàn cho khách du lịch; tăng cường kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kiên quyết các đối tượng đeo bám, gây phiền hà cho khách du lịch, các đối tượng có hành vi ném đất, đá lên tàu, xe, gây mất an toàn cho khách.
Tổ chức rà soát, lắp đặt biển báo, biển chỉ dẫn giao thông rõ ràng, phù hợp bảo đảm an toàn, phòng ngừa ùn tắc, tạo điều kiện cho khách du lịch tiếp cận các khu, điểm du lịch; kiểm tra, phát hiện, xử lý dứt điểm hiện tượng tiêu cực, gây phiền hà cho lái xe trên các tuyến đường giao thông, gây bức xúc cho người dân và khách du lịch.
Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã tăng cường quản lý vỉa hè, lòng đường, đảm bảo thông thoáng, vệ sinh, xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ lấn chiếm vỉa hè, lòng đường, gây mất vệ sinh, trật tự. Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã phát động phong trào người dân ứng xử văn minh, tận tình hỗ trợ khách du lịch; phát động phong trào “Mỗi người dân là một hướng dẫn viên, niềm nở với khách du lịch”. Ban quản lý các khu, điểm du lịch có đông khách du lịch phải bố trí nhân viên hướng dẫn, hỗ trợ khách du lịch, bảo đảm trật tự, văn minh; ưu tiên người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em và người có trẻ em đi cùng.
3.3.2.4. Ứng dụng công nghệ thông tin trong kinh doanh du lịch
Việc ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin (CNTT) là yếu tố quan trọng góp phần tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ hiệu quả cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Trong lĩnh vực du lịch, việc ứng dụng CNTT trong hoạt động kinh doanh du lịch góp phần rất lớn trong việc nâng cao năng lực quản lý và tạo nên hình ảnh du lịch mới. CNTT góp phần hỗ trợ thiết thực cho các cơ quan quản lý trong việc điều tiết hoạt động công tác quản lý du lịch, thúc đẩy phát triển du lịch. Một số ứng dụng CNTT trong hoạt động kinh doanh du lịch tập trung chủ yếu: CNTT trong xây dựng trang thông tin; phát triển các ứng dụng quản lý: đặt phòng trực tuyến và quản lý khách sạn, một số giải pháp mạng không dây cho hệ thống nhà hàng, khách sạn, khu du lịch… Luận văn: Giải pháp thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.
Trong những năm qua, chính một phần lớn nhờ sự ứng dụng của CNTT đã giúp cho ngành du lịch Việt Nam phát triển mạnh, khách du lịch quốc tế dễ dàng, thuận lợi trong việc tìm hiểu thông tin về Việt Nam thông qua hệ thống các Website chính thức của ngành du lịch Việt Nam như qua trang web ở địa chỉ: cinet.gv.vn bằng 2 ngôn ngữ Anh, Việt, hay của Tổng cục du lịch với trang vietnamtourism.gv.vn được thiết kế gồm 5 ngôn ngữ Anh, Việt, Pháp, Nhật, Trung hay trang điện tử baodulịch.nt.vn của Báo du lịch – cơ quan ngôn luận của Tổng cục du lịch cập nhật các thông tin về hoạt động của ngành trên địa bàn toàn quốc.
Hoạt động CNTT của các doanh nghiệp cũng phát triển khá mạnh mẽ, điển hình như các công ty Viettravel, Saigontourist, Bến Thành Tourist, Fiditour, dulichviet… Các doanh nghiệp này đã triệt để ứng dụng CNTT và các hoạt động quảng bá, sản xuất kinh doanh… Chính nhờ có ứng dụng trực tuyến trong ngành du lịch đã mang những ý tưởng kinh doanh du lịch đến với khối lượng lớn người dùng thông qua internet, cùng với việc giảm chi phí so với các phương pháp quảng cáo truyền thống. Các ứng dụng trực tuyến cũng giảm thời gian liên lạc giữa các công ty du lịch với khách du lịch.
Tuy các ứng dụng CNTT là rất cần thiết và không thể thiếu trong ngành du lịch nhưng do đặc thù liên tục phát triển và liên tục cập nhật đòi hỏi việc nâng cấp và phát triển CNTT đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người sử dụng. Ngoài ra, các ứng dụng CNTT, đặc biệt các ứng dụng trực tuyến cần người quản trị có kiến thức về CNTT và mạng Internet, do đó các doanh nghiệp du lịch vừa và nhỏ cần đầu tư kinh phí và nguồn lực vào đào tạo người quản trị ứng dụng.
Kết luận Chương 3
Chương 3 đã đưa ra một số những dự báo và triển vọng phát triển du lịch trên thế giới, trong khu vực và ở Việt Nam, từ đó nhìn nhận được những xu hướng phát triển chính, giúp cho các nhà quản lý và các nhà kinh doanh du lịch định hướng được hoạt động du lịch của Việt Nam nói chung và doanh nghiệp du lịch nói riêng. Bên cạnh đó, chương 3 cũng đề ra giải pháp mang tầm vĩ mô và vi mô nhằm tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam trong giai đoạn tới, từ đó thúc đẩy ngành du lịch Việt Nam phát triển trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước.
KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.
Ngày nay, trong xu thế hội nhập và phát triển, du lịch đã trở thành cầu nối hòa bình giữa các quốc gia, du lịch góp phần đưa nền kinh tế của các quốc gia phát triển. Đối với Việt Nam, du lịch đã và đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân, đóng góp nguồn thu đáng kể cho ngân sách nhà nước.
Với hệ thống nguồn tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng, có thể nói Việt Nam là điểm đến có sức hấp dẫn khách du lịch nhiều quốc gia trên thế giới, tuy nhiên sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam chưa xứng tầm với tiềm năng du lịch của đất nước, lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam còn hạn chế. Để đẩy mạnh hoạt động thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam, việc xác định các yếu tố thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam là rất quan trọng.
Với mong muốn đó, tác giả đã nghiên cứu và lựa chọn đề tài “Thu hút khách du lịch quốc tế: Nghiên cứu cho trường hợp Việt Nam”. Đề tài đã đi vào phân tích những cơ sở lý luận của hoạt động thu hút khách du lịch quốc tế ở chương 1, phân tích thực trạng hoạt động thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam những năm gần đây, xây dựng mô hình xác định một số yếu tố tác động đến thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam ở chương 2, từ đó nêu lên một số giải pháp, kiến nghị, đề xuất nhằm thu hút nhiều hơn nữa lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam trong thời gian tiếp theo. Luận văn: Giải pháp thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
