Luận văn: Giải pháp tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Giải pháp tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Giải pháp vận dụng VTOS vào lĩnh vực an ninh – an toàn trong các khách sạn 4 sao tại Hải Phòng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

3.1. Định hướng, mục tiêu phát triển du lịch của quốc gia và Hải Phòng 

3.1.1. Định hướng và mục tiêu phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2026, tầm nhìn đến năm 2030

Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2026, tầm nhìn đến năm 2030 đã được Thủ tướng phê duyệt tại Quyết định số 2473/QĐ-TTg ngày 30/12/2021. Chiến lược đã xác định quan điểm, mục tiêu, giải pháp và chương trình hành động đẩy mạnh phát triển du lịch đến năm 2026, tầm nhìn đến năm 2030.

Quan điểm phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2026, tầm nhìn đến năm 2030 là phấn đấu xây dựng ngành Du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu GDP, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội; theo hướng chuyên nghiệp, có trọng tâm; phát triển song song du lịch nội địa và du lịch quốc tế, gắn chặt với việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, giữ gìn cảnh quan, bảo vệ môi trường, bảo đảm an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa, tập trung huy động mọi nguồn lực cả trong và ngoài nước cho sự phát triển du lịch.

Mục tiêu tổng quát của ngành Du lịch là đến năm 2026, du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tính chuyên nghiệp, có hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối đồng bộ, hiện đại; sản phẩm du lịch có chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, cạnh tranh được với các nước trong khu vực và thế giới. Phấn đấu đến năm 2030, Việt Nam trở thành quốc gia có ngành du lịch phát triển.

Đến năm 2024, Việt Nam đón 7 – 7,5 triệu lượt khách du lịch quốc tế và 36 – 37 triệu lượt khách du lịch nội địa; tổng thu từ khách du lịch đạt 10 – 11 tỷ USD, đóng góp 5,5 – 6% vào GDP cả nước; có tổng số 390.000 buồng lưu trú với 30 – 35% đạt chuẩn từ 3 đến 5 sao; tạo ra 2,2 triệu việc làm trong đó có 620.000 lao động trực tiếp du lịch. Đến năm 2026, Việt Nam sẽ đón 10 – 10,5 triệu lượt khách du lịch quốc tế và 47 – 48 triệu lượt khách du lịch nội địa; tổng thu từ khách du lịch đạt 18 – 19 tỷ USD, đóng góp 6,5 – 7% GDP cả nước; có tổng số 580.000 buồng lưu trú với 35 – 40% đạt chuẩn từ 3 đến 5 sao; tạo ra 3 triệu việc làm trong đó có 870.000 lao động trực tiếp du lịch. Năm 2030, tổng thu từ khách du lịch tăng gấp 2 lần năm 2026.

Để đạt được những mục tiêu đề ra, ngành Du lịch phải đi đầu, làm nòng cốt cùng với các cấp, các ngành huy động mọi nguồn lực để thực hiện những giải pháp chủ yếu, gồm: Phát triển sản phẩm du lịch; đầu tư hệ thống hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch đi đôi với đào tạo và phát triển nguồn nhân lực; phát triển thị trường xúc tiến quảng bá thương hiệu, gắn liền với đầu tư và chính sách phát triển đồng thời tích cực triển khai thực hiện hợp tác quốc tế về du lịch, hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách và liên quan đến du lịch. Luận văn: Giải pháp tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam.

Những giải pháp chủ yếu nêu trên được triển khai thông qua Chương trình hành động cụ thể là hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách và nâng cao năng lực quản lý nhà nước về du lịch; hoạch định chiến lược phát triển du lịch trên các lĩnh vực như chất lượng phát triển thương hiệu du lịch Việt Nam, Chiến lược marketing, chiến lược phát triển nguồn nhân lực du lịch; thực hiện quy hoạch và đầu tư phát triển gắn liền với triển khai thực hiện các chương trình, đề án phát triển du lịch.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

3.1.2. Định hướng phát triển du lịch của Thành phố Hải Phòng  

Trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2026, tầm nhìn 2030 và Quy hoạch phát triển du lịch vùng Đồng bằng Sông Hồng, Hải Phòng được xác định có vai trò quan trọng trong phát triển du lịch quốc gia, nằm trong khu du lịch tổng hợp quốc gia và một hạt nhân quan trọng trong Tiểu vùng Duyên hải Đông Bắc: Gồm thành phố Hải Phòng và tỉnh Quảng Ninh với Hạ Long – Cát Bà – Bái Tử Long – Vân Đồn là địa bàn trọng điểm phát triển du lịch. Diện tích tự nhiên tiểu vùng là 7.621,1 km2; dân số là 3.017,3 nghìn người; mật độ trung bình khoảng 396 người/ km2. Trong Tiểu vùng Duyên hải Đông Bắc, Hải Phòng có Cát Bà nằm trong Khu du lịch quốc gia Hạ Long – Cát Bà (Quảng Ninh, Hải Phòng) với loại hình du lịch nghỉ dưỡng, tham quan thắng cảnh, khám phá biển đảo; có Khu du lịch biển đảo Bạch Long Vĩ  nằm trong các khu, điểm du lịch cấp vùng; có Đồ Sơn là một trong 2 đô thị du lịch quốc gia; phần lớn các tuyến du lịch đường bộ, đường biển, đường không của Vùng đều đi qua Hải Phòng

Để phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của Thành phố và thực hiện được vai trò là một trong những trung tâm của Vùng Du lịch Đồng bằng Sông Hồng, Hải Phòng phấn đấu: Năm 2024 đón và phục vụ trên 8 triệu lượt khách, tăng bình quân trên 15% năm, trong đó khách du lịch quốc tế trên 2,6 triệu lượt khách, tăng bình quân 20% /năm, tỷ trọng GDP du lịch đạt 4,5% trong tổng GDP của thành phố, tốc độ tăng về doanh thu du lịch bình quân 16 % năm, mức doanh thu chiếm 10% tổng doanh thu du lịch của cả nước và tạo ra việc làm tương đương 4,6% lực lượng lao động toàn thành phố.

Để đạt được các mục tiêu trên, Du lịch Hải Phòng tập trung thực hiện những nhiệm vụ và giải pháp cụ thể như sau:

Nhiệm vụ

  • Về quy hoạch: Tiếp tục rà soát, điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch Tổng thể phát triển du lịch của Thành phố Hải Phòng đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch khu vực và hội nhập phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam; hoàn thành Quy hoạch phát triển du lịch Cát Bà, Đồ Sơn, Kiến Thụy, Vĩnh Bảo; triển khai phát triển du lịch nội thành.
  • Về đầu tư: Thực hiện tốt công tác đầu tư để khai thác vốn Trung ương đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch vào các vùng trọng điểm như: Cát Bà, Đồ Sơn, Kiến Thụy; sớm triển khai xây dựng cảng du lịch địa phương; xây dựng cầu cảng du lịch tại đảo hòn Dáu; đẩy nhanh tiến độ nâng cấp sân bay Cát Bi theo tiêu chuẩn sân bay quốc tế…

Về loại hình và sản phẩm du lịch: Luận văn: Giải pháp tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam.

  • + Du lịch sinh thái biển kết hợp du lịch nghỉ dưỡng, du lịch thể thao, du lịch mạo hiểm, du lịch hội thảo – hội chợ – hội nghị.
  • + Du lịch lễ hội kết hợp khảo cứu văn hóa truyền thống, đặc thù địa phương.
  • + Du lịch điền dã, thưởng ngoạn miệt vườn (ven sông Đa Độ, sông Giá, sông Lạch Tray)

Nâng cao chất lượng nhân lực du lịch: Chất lượng nhân lực du lịch Hải Phòng nhìn chung chưa đồng đều, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành. Nhân lực du lịch và dịch vụ du lịch cần được đào tạo chuyên nghiệp, đồng bộ, nâng cao kiến thức ngoại ngữ và trình độ nghiệp vụ, chú trọng nhân lực quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh từ cơ sở đến doanh nghiệp, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập.

Giải pháp tối ưu để thực hiện nhiệm vụ nâng cao chất lượng nhân lực du lịch của thành phố là thực hiện tốt công  tác đào tạo nhân lực du lịch. Thường xuyên nâng cao nhận thức về Luật du lịch và các văn bản có liên quan, các chế độ chính sách của Đảng và Nhà nước cho giám đốc doanh nghiệp, người quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh du lịch.

  • + Đào tạo lực lượng nhân viên phục vụ
  • + Đào tạo hướng dẫn viên du lịch
  • + Đào tạo cán bộ quản lý
  • + Đào tạo nâng cao chất lượng của cán bộ giảng viên
  • + Xây dựng các cơ chế ưu đãi hấp dẫn nhằm tìm kiếm, thu hút nhân lực có trình độ cao  phục vụ du lịch địa phương.
  • + Đặc biệt quan tâm đến nguồn nhân lực đã qua đào tạo chuyên ngành du lịch tại các quốc gia có ngành Du lịch phát triển.

Phát triển các cơ sở lưu trú, các cơ sở dịch vụ du lịch: Trước những nhu cầu lưu trú của thị trường khách du lịch hiện nay, số phòng khách đạt tiêu chuẩn quốc tế, đặc biệt là số lượng phòng nghỉ cao cấp chưa đáp ứng được nhu cầu lưu trú của khách quốc tế, nhất là khách du lịch kết hợp đầu tư, kinh doanh, nghiên cứu thị trường.

Do vậy, việc đầu tư xây dựng khách sạn trong những năm tới cần chú ý các vấn đề sau:

  • Ưu tiên cấp phép đầu tư cho những dự án khách sạn đạt tiêu chuẩn quốc tế.
  • Thực hiện phân loại và xếp hạng các khách sạn tại các trọng điểm du lịch.
  • Thực hiện triệt để việc niêm yết giá tại các cơ sở kinh doanh khách sạn và dịch vụ du lịch.
  • Đa dạng hóa các dịch vụ bổ sung trong các khách sạn, đáp ứng nhu cầu của các khách có thu nhập cao.
  • Nâng cấp và cải tạo về quy mô và hình thức cũng như hạ tầng kỹ thuật các khách sạn trong thành phố cũng như các điểm du lịch như: Cát Bà, Đồ Sơn.
  • Nâng cao về mặt chất lượng cũng như số lượng của các nhà hàng ăn uống trong các khách sạn đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế về quy mô, trang thiết bị và phong cách phục vụ.

Trong những năm tới, nhu cầu khách du lịch quốc tế mang theo xe ô tô tăng dần, thêm vào đó khách du lịch nội địa đến Hải Phòng bằng ô tô riêng cũng có xu hướng tăng. Điều này đòi thiết kế khách sạn phải đủ diện tích để xe.

Ngoài ra, lĩnh vực cần quan tâm nữa là các dự án đầu tư xây dựng công trình thể thao tổng hợp, khu hội chợ triển lãm, hội nghị, hội thảo quốc tế, văn phòng cho thuê. Có cơ chế ưu đãi để thu hút đầu tư trong và ngoài nước vào lĩnh vực này.

3.2. Xu hướng và yêu cầu đảm bảo an ninh – an toàn trong khách sạn Luận văn: Giải pháp tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam.

3.2.1. Xu hướng du lịch quốc tế và nội địa tác động đến du lịch Việt Nam

Xu hướng di chuyển dòng khách du lịch toàn cầu: Khách du lịch đến và xuất phát từ khu vực Châu Á – Thái Bình Dương có xu hướng tăng trưởng nhanh nhất và tiếp tục tăng trong hai thập kỉ tới, từ 204 triệu lượt năm 2020 lên đến 535 triệu lượt năm 2030, thị phần toàn cầu tăng từ 22% năm 2020 lên 30% năm 2030. Đông Nam Á sẽ trở thành khu vực thu hút khách du lịch quốc tế lớn thứ 4 thế giới với 187 triệu lượt vào năm 2030. Đây là cơ hội tốt cho du lịch Việt Nam để đón nhận dòng khách quốc tế đến khu vực ngày càng tăng. Theo dự báo của Chiến lược, năm 2026 Việt Nam sẽ đón 10 – 10.5 triệu lượt khách quốc tế và 18 triệu lượt vào năm 2030. Theo đà tăng trưởng của năm 2023 (+10,6%) thì mục tiêu 10,5 triệu lượt sẽ đạt được vào năm 2016 (trước 4 năm) và đến năm 2026 sẽ đón 15 triệu lượt, 2030 sẽ đón 25 triệu lượt.

Khách du lịch nội vùng đến các điểm đến gần tăng nhanh, khách đi du lịch lần đầu ra nước ngoài thường đến các điểm đến gần, có sự tương đồng về văn hóa, dễ tiếp cận. Hàng không giá rẻ ngày càng phổ biến khiến các điểm đến trong khu vực càng dễ tiếp cận.

Xu hướng thay đổi tính chất nhu cầu du lịch: Khách du lịch ngày càng hướng tới những giá trị thiết thực hơn. Mục đích, tham quan, nghỉ dưỡng, vui chơi, giải trí vẫn chiếm ưu thế chính. Riêng đối với khu vực Châu Á và Thái Bình Dương đáng lưu ý là khách có mục đích thăm viếng, chữa bệnh và tôn giáo cao hơn so với mức chung của thế giới.

Khách du lịch ngày càng có ý thức về tác động của hành vi khi đi du lịch đối với môi trường và xã hội. Du lịch có trách nhiệm với xã hội và môi trường đang trở thành xu hướng nổi trội, ngày càng được quan tâm trong ý thức và nhu cầu của người tiêu dùng.

Xu hướng khách du lịch hướng tới những hoạt động với những giá trị trải nghiệm mới được hình thành trên cơ sở giá trị văn hóa truyền thống (tính độc đáo, nguyên bản), giá trị tự nhiên (tình nguyên sơ, hoang dã), giá trị sáng tạo và công nghệ cao (tính hiện đại, tiện nghi) thay vì coi trọng điểm đến như trước đây.

Xu hướng cạnh tranh giữa các điểm đến: Cạnh tranh giữa các điểm đến du lịch trong khu vực và trên thế giới ngày càng gay gắt, đòi hỏi điểm đến cần có những năng lực mới: thông minh hơn, sáng tạo hơn, năng động hơn, an toàn hơn, hấp dẫn hơn, với những giá trị trải nghiệm đa dạng, độc đáo, khác biệt, chân thực gần gũi với thiên nhiên và văn hóa bản địa, nhân văn hơn, sạch hơn… Luận văn: Giải pháp tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam.

Ứng dụng e-marketing đang trở thành xu hướng phổ biến đối với quảng bá điểm đến ở hầu hết các thị trường trong thời đại mới.

Liên kết trong phát triển và quảng bá điểm đến du lịch ngày càng phổ biến tại các điểm đến, các cơ quan du lịch quốc gia. Riêng khu vực Đông Nam Á, nhiều liên minh đã hình thành với các hoạt động quảng bá xúc tiến du lịch chung như: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) khu vực Tiểu vùng sông Mekong mở rộng (GMS); hợp tác 04 quốc gia – một điểm đến (Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam); hợp tác trong khuôn khổ Chiến lược Hợp tác kinh tế các nước lưu vực các dòng sông Ayeyawady – ChaoPhraya – Mekong (ACMECS); hợp tác trong khuôn khổ Hành lang kinh tế Đông Tây (EWEC) giữa Việt Nam, Lào, Thái Lan và Myanmar. Với xu thế này, khái niệm “vừa hợp tác, vừa cạnh tranh” đang ngày càng phổ biến trong ngành du lịch ở cấp độ điểm đến quốc gia. Đây là thách thức không nhỏ đối với Việt Nam khi năng lực hội nhập quốc tế còn nhiều hạn chế.

Tăng cường sự hiện diện tại thị trường mục tiêu thông qua hoạt động của các văn phòng đại diện du lịch quốc gia. Vai trò của các văn phòng đại diện du lịch là xây dựng, quản lý, phát triển hình ảnh, thương hiệu quốc gia về du lịch liên quan đến văn hóa, tự nhiên, xã hội…tại thị trường mục tiêu; khác hoàn toàn với hoạt động của trung tâm văn hóa hoặc đại diện ngoại giao tại nước ngoài. Đối với Việt Nam đến nay chưa có văn phòng đại diện du lịch tại thị trường mục tiêu là một thách thức, trở ngại lớn trong việc nâng cao sức cạn tranh của điểm đến Việt Nam.

Tăng cường ngân sách cho Marketing du lịch: Các quốc gia ở Châu Âu, Châu Úc có ngành du lịch phát triển dành khoảng 70-100 triệu USD cho marketing du lịch từ ngân sách quốc gia hoặc chính sách tạo nguồn thu xây dựng Quỹ xúc tiến du lịch: Pháp (84,3 triệu USD), Tây Ban Nha (97,1 triệu USD), Úc (85,4 triệu USD), Bồ Đào Nha (69,7 triệu USD). Các quốc gia Châu Á tùy thuộc vào từng nước, mức cao là Malaysia (98,2 triệu USD) và Hàn Quốc (56 triệu USD). Trung Quốc và Nhật Bản ở mức khiêm tốn hơn, lần lượt là 11,8 triệu USD và 18 triệu USD; mức trung bình hàng năm cuả Thái Lan khoảng 80 triệu USD và của Singapore khoảng trên 100 triệu USD. Trong khi đó ngân sách dành cho quảng bá du lịch Việt Nam hàng năm khoảng 2 – 3 triệu USD là khó khăn lớn nhất trong việc tăng cường năng lực cạnh tranh và tiếp thị điểm đến cho du lịch Việt Nam.

Phát triển sản phẩm du lịch theo hướng du lịch xanh, sản phẩm du lịch đặc thù đi liền với kiểm soát chất lượng dịch vụ trở thành yếu tố chiến lược đối với nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến.

Tăng cường các biện pháp quản lý phát triển điểm đến theo hướng: đơn giản hóa thủ tục nhập cảnh, tạo thuận lợi cho khách du lịch; tăng cường hợp tác công – tư, tạo điều kiện hỗ trợ và phát huy vai trò doanh nghiệp, cộng đồng và phát triển bền vững dựa trên sự cân bằng giữa mục tiêu kinh tế và mục tiêu văn hóa, xã hội, môi trường.

Các nước trong khu vực là đối thủ cạnh tranh của du lịch Việt Nam có chính sách thị thực nhập cảnh rất thông thoáng. Để tạo thuận tiện cho khách du lịch nhiều quốc gia thực hiện miễn thị thực nhập cảnh, đơn giản hóa thủ tục, ứng dụng công nghệ mạng cấp thị thực qua mạng, thị thực tại cửa khẩu; Singapore đã miễn thị thực cho công dân của trên 150 quốc gia và vùng lãnh thổ; Malaysia miễn thị thực nhập cảnh cho công dân của 155 quốc gia và vùng lãnh thổ; Thái Lan áp dụng miễn thị thực cho công dân của 55 nước, cấp thị thực tại cửa khẩu cho công dân 28 nước tại 24 cửa khẩu; Thái Lan và Campuchia đã hợp tác thực hiện chính sách thị thực chung. Capuchia, Indonesia, Myanmar và Philippines đã ký ý định thư và thiết lập hệ thống thị thực chung linh hoạt (3/2023); Trung Quốc đã miễn thị thực trong vòng 72 giờ cho công dân 51 nước quá cảnh tại Bắc Kinh, Thượng Hải, Tứ Xuyên, Quảng Châu, Trùng Khánh, Đại Liên và Thẩm Dương. Luận văn: Giải pháp tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam.

3.2.2. Xu hướng và yêu cầu đảm bảo an ninh – an toàn trong kinh doanh khách sạn

3.2.2.1. Xu hướng yêu cầu ngày càng cao của du khách về an ninh – an toàn trong chuyến đi du lịch

An toàn, an ninh đã trở thành một nấc thang quan trọng trong Tháp nhu cầu của Maslow. Nhu cầu về an toàn, an ninh về mọi mặt của du khách đã trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Cảm nhận sự an toàn của du khách hoặc những người sắp đi du lịch là yếu tố hàng đầu, quyết định sự phát triển và tiếp tục tăng trưởng của ngành du lịch. Mục tiêu của quản lý rủi ro, khủng hoảng thuần tuý trong du lịch  là tái tạo sự tin tưởng và phục hồi hoạt động kinh doanh du lịch. Trong việc đối phó và quản lý rủi ro, khủng hoảng thuần tuý, Tổ chức Du lịch Quốc gia đóng vai trò hết sức quan trọng. Nhiệm vụ của Tổ chức Du lịch Quốc gia là thông báo cho dân chúng về mức độ an ninh của điểm du lịch, đảm bảo an toàn cho chuyến đi của họ.

Sự mất an toàn, an ninh trong du lịch có thể do 6 nhóm nguyên nhân chính: Mất ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội (như đánh bom, chiến tranh, đảo chính); các yếu tố đe doạ về sức khoẻ (dịch bệnh lan tràn); thiên tai; tai nạn (rơi máy bay, cháy khách sạn); Khủng bố, tội phạm (xả súng vào du khách, bắt cóc con tin); lục đục, trục trặc kỹ thuật trong hoạt động của ngành Du lịch hoặc các ngành liên quan đến du lịch.

Hình thức mất an toàn, an ninh này thường được gọi là khùng hoảng tuần tuý. Nó không xảy ra thường xuyên và thời gian giữa các khủng hoảng thường là dài, hậu quả biểu hiện rõ nét trước và sau khi xảy ra rủi ro, khủng hoảng. Khủng hoảng dưới dạng thuần tuý trong ngành Du lịch có thể chỉ do cảm nhận mức độ không an toàn và nguy hiểm cho chuyến đi du lịch, xuất hiện do sự mất lòng tin về sự an toàn và tính hấp dẫn của điểm du lịch gây ra. Rủi ro, khủng hoảng do cảm nhận, suy đoán như vậy nên có những ảnh hưởng rất xấu và rất khó khắc phục.

Bên cạnh rủi ro, khủng hoảng thuần tuý, trong quá trình phát triển, có những biểu hiện của  những thông số chủ yếu như lượng khách, thời gian lưu trú, mức tiêu dùng của khách (đồng thời cả ba thông số hay chỉ một hoặc hai thông số) có xu hướng giảm liên tục. Đây là là hậu quả của rủi ro, khủng hoảng từ từ, một loại rủi ro, khủng hoảng mà những nhà quản lý, kinh doanh du lịch phải đương đầu hàng ngày. Rủi ro, khủng hoảng từ từ là vấn đề mang tính thường xuyên, không gây tác hại rõ nét trong thời gian ngắn mà nó làm giảm dần lượng khách, thời gian lưu trú, mức tiêu dùng của khách trong một thời gian dài.

Từ những diễn biến nêu trên, khách du lịch ngày càng đòi hỏi chặt chẽ hơn về sự an toàn, anh ninh cho mình trong một chuyến đi. Các chủ thể tham gia vào quá trình hoạt động động du lịch cũng đặc biệt quan tâm chú ý đến đảm bảo an toàn, toan ninh cho khách du lịch và cho chính hoạt động của mình. Không có cơ sở kinh doanh du lịch nào không phải và buộc phải có các biện pháp phòng và chống mất an toàn, an ninh. Bất cứ nhà nước và chính quyền địa phương nào cũng có những quy định nghiêm ngặt về đảm bảo an toàn anh ninh trong xã hội.

3.2.3.2. Vệ sinh an toàn thực phẩm  trong các cơ sở lưu trú trở thành vấn đề đáng quan t m [1; tr.40]  

Chất lượng thực phẩm và vệ sinh an toàn thực phẩm không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ con người mà còn ảnh hưởng đến vấn đề an ninh xã hội, quan hệ quốc tế, phát triển văn hoá xã hội và đặc biệt ảnh hưởng cả đến giống nòi. Theo thống kê của Cục An toàn Vệ sinh thực phẩm [42], hàng năm Việt Nam có tối thiểu 1,5 triệu người bị mắc bệnh truyền nhiễm qua thực phẩm, chi phí cho các thiệt hại tới trên 1.000 tỷ đồng Việt Nam, đặc biệt có vụ ngộ độc thực phẩm với hàng ngàn lượt người mắc, gây thiệt hại lớn về người và của. Luận văn: Giải pháp tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam.

Tuy nhiên, để cải thiện tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm  đòi hỏi nhiều nỗ lực, không chỉ ở các nhà quản lý mà ở từng cộng đồng dân cư và đặc biệt mỗi người dân. Các nghiên cứu gần đây [42] đều cho thấy, cách thức nuôi trồng, cách thức xử lý thực phẩm, kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm, người chế biến thực phẩm có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm và tình trạng ngộ độc thực phẩm.

Trong công cuộc cạnh tranh thu hút khách, trong xu thế hội nhập để phát triển, nhiều khách sạn ở Việt Nam đã ban hành những quy định nghiêm ngặt về vệ sinh trong các khâu nhập thực phẩm, trong bảo quản thực phẩm, trong sơ chế, chế biến thực phẩm và trong phục vụ khách các món ăn, đồ uống đảm bảo chất lượng, vệ sinh và an toàn. Nhiều khách sạn chất lượng cao đã thực hiện lọc và xử lý nước máy, tạo nước cấp vô trùng hoặc nước đảm bảo vệ sinh an toàn cho sinh hoạt và sử dụng của khách du lịch (ở Đaklak, 100% khách sạn thực hiện xử lý nước thải trước khi thải ra hệ thống công cộng).

Tuy nhiên, chỉ có các khách sạn chất lượng cao, quy mô lớn, nhập thực phẩm với số lượng lớn mới có xe chuyên dụng để cung ứng thực phẩm (vì ở Việt Nam hiện nay, chỉ có một số cơ sở sản xuất hoặc cơ sở cung ứng trang bị loại xe chuyên dụng. Nhìn chung, những  khách sạn tại các thành phố lớn, các trung tâm du lịch, đặc biệt các khách sạn cao sao đã rất chú trọng tới chất lượng thực phẩm và VSATTP. Hầu hết nguồn thực phẩm của các cơ sở này được mua theo dạng ký hợp đồng với những cơ sở sản xuất thực phẩm sạch hoặc tổ chức cung ứng có uy tín tại Việt Nam để đảm bảo chất lượng VSATTP.

Bên cạnh đó, cũng vẫn còn không ít khách sạn, kể cả hạng 3 sao, 4 sao, tuy đã nhận thức được tầm quan trọng của công tác VSATTP, nhưng chưa quản lý tốt công tác này, như trường hợp một khách sạn 4 sao khi được thanh tra đã bị phát hiện sử dụng phụ gia thực phẩm quá hạn.

Đối với các cơ sở lưu trú nhỏ, khách sạn tư nhân việc đảm bảo VSATTP chưa thực sự tốt. Nhiều cơ sở chưa nghiêm túc hoặc cố tình không thực hiện các quy định, quy chế, các văn bản pháp luật về VSATTP, chưa xây dựng và ban hành những quy chế, quy định của riêng khách sạn để quản lý các hoạt động kinh doanh của cơ sở nói chung và về VSATTP nói riêng. Nhiều khách sạn du lịch chưa có cán bộ chuyên trách có kiến thức, nghiệp vụ chuyên môn sâu về thực phẩm để tham mưu cho nhà quản lý, nên việc triển khai xây dựng, thực hiện các chương trình, kế hoạch VSATTP của khách sạn còn nhiều lúng túng và khó thực hiện. Tại một số cơ sở lưu trú và ăn uống du lịch, tuy có nhận thức, kiến thức về an toàn thực phẩm nhưng cơ sở vật chất kỹ thuật yếu, trang thiết bị, dụng cụ nấu ăn không đầy đủ, xuống cấp, thiếu vốn đầu tư, thực hiện các biện pháp VSATTP.

3.2.3.3. Xu hướng đòi hỏi an toàn khác trong các cơ sở lưu trú  

Ngoài vấn đề VSATTP, nhiều vấn đề khác về an toàn trong cơ sở lưu trú cũng cần được lưu tâm như vấn đề an toàn chống cháy nổ, hỏa hoạn, an toàn về tài sản của khách …

Thực tế, có rất nhiều cơ sở lưu trú (đặc biệt là các khách sạn mini) được xây dựng với chất lượng kém, thường không có đường thoát hiểm riêng, có ít hoặc không có các biện pháp phòng ngừa hoả hoạn .

Nhìn chung, vấn đề an toàn ở các khách sạn cao sao được thực hiện tốt. Những vấn đề còn tồn tại chủ yếu ở các cơ sở lưu trú nhỏ, khách sạn thấp sao. Luận văn: Giải pháp tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam.

3.2.3.4. Xu hướng đảm bảo an ninh, an toàn trở thành yêu cầu chung của toàn xã hội và là một trong những chức năng cơ bản của Nhà nước

Đảm bảo an ninh, an toàn đã trở thành yêu cầu chung của toàn xã hội và là một trong những chức năng cơ bản của Nhà nước. Hệ thống pháp luật của mỗi một nhà nước luôn có những cơ chế nhất định để đảm bảo an ninh, an toàn cho các công dân của quốc gia mình và những người nước ngoài có mặt trên lãnh thổ quốc gia. Với tư cách là một bộ phận của xã hội, khách du lịch, bao gồm cả khách du lịch nội địa và quốc tế cũng được bảo vệ bởi những cơ chế này. Sự hạn chế trong thông tin về các cơ sở vật chất, dịch vụ, hệ thống an ninh và các thông tin về nơi họ đến cùng việc thường xuyên thực hiện những hoạt động ngoài trời khi đi du lịch khiến khách du lịch cần phải có một cơ chế đảm bảo an ninh, an toàn đặc thù.

Xu hướng này ngày một rõ hơn và được khẳng định qua các quy định cụ thể về đảm bảo an toàn, an ninh cho khách du lịch nói chung và các quy định trong những văn bản chuyên ngành du lịch.

Đảm bảo an toàn trong các quy định về vệ sinh, an toàn thực phẩm

Nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về sinh an toàn thực phẩm, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh về vệ sinh an toàn thực phẩm ngày 26 tháng 7 năm 2013, Nghị định 163/2014/NĐ-CP ngày 7/9/2014 của Chính phủ về việc quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm. Bộ Y tế trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, với chức năng quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm cũng đã ban hành các văn bản pháp lý như: Quyết định 39/2015/QĐ-BYT về việc ban hành Quy định về các điều kiện vệ sinh chung đối với cơ sở sản xuất thực phẩm, Quyết định 41/2015/QĐ-BYT về việc ban hành “Quy định điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm đối với cơ sở kinh doanh, dịch vụ, phục vụ ăn uống”, Quyết định 42/2015/QĐ-BYT ngày 8/12/2015 của Bộ Y tế về việc ban hành “Quy chế về công bố tiêu chuẩn thực phẩm”, Quyết định số 43/2015/QĐ-BYT của Bộ Y tế ngày 20/12/2015 về việc ban hành Quy định yêu cầu kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với người trực tiếp sản xuất, kinh doanh thực phẩm”, Quyết định 11/2016/QĐ-BYT ban hành “Quy chế cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm có nguy cơ cao”.

Các văn bản trên đã hình thành một khuôn khổ pháp lý cho việc triển khai áp dụng những yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm cho các hoạt động kinh doanh nói riêng, cho hoạt động du lịch nói riêng. Khuôn khổ pháp lý này bao gồm những quy định về trách nhiệm của các đối tượng liên quan: cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức, cá nhân tham gia cung cấp thực phẩm và dịch vụ ăn uống. Các quy định này cũng làm rõ cơ chế phối hợp, phân công trách nhiệm giữa các cơ quan liên quan trong việc quản lý đối với vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm. Các cơ chế được áp dụng bao gồm: cấp giấy chứng nhận vệ sinh an toàn thực phẩm đối với các cơ sở sản xuất thực phẩm có nguy cơ cao; quy định các điều kiện về địa điểm kinh doanh, về môi trường, về người phục vụ, về nguồn thực phẩm… đối với các cơ sở phục vụ ăn uống, các cơ sở này có trách nhiệm tự giác tuân thủ, trường hợp không đảm bảo điều kiện khi kiểm tra phát hiện được sẽ bị xử lý. Thực phẩm nhập khẩu phải có giấy chứng nhận công bố tiêu chuẩn sản phẩm, giấy chứng nhận đủ điều kiện về vệ sinh an toàn thực phẩm hoặc giấy chứng nhận kiểm dịch.

Ngoài quy định đối với các tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan, pháp luật hiện hành cũng có những quy định về quản lý nhà nước về vệ sinh, an toàn thực phẩm, trong đó đặc biệt chú trọng đến mối quan hệ liên ngành bởi vấn đề quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm là một lĩnh vực có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của nhiều cơ quan khác nhau. Luận văn: Giải pháp tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam.

Để tăng cường mối quan hệ liên ngành nhằm củng cố công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực VSATTP, các cơ quan liên quan đã ban hành các văn bản quy định trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan liên quan, bao gồm: Thông tư liên tịch 16/2015/TTLT-BYT-BCN ngày 20/5/2015 của Bộ Y tế và Bộ Công nghiệp về việc hướng dẫn phân công, phối hợp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm, Thông tư liên tịch 18/2015/TTLT-BYT-BTM của Bộ Y tế và Bộ Thương mại ngày 12/7/2015 về quan hệ phối hợp trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm, Thông tư liên tịch 18/2015/TTLTBYT-BTS của Bộ Y tế và Bộ Thuỷ sản về việc hướng dẫn phân công, phối hợp quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm thuỷ sản, Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-BYT-BNN của Bộ Y tế và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc hướng dẫn phân công phối hợp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm. Các văn bản trên phân công trách nhiệm giữa Bộ Y tế và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong thực hiện quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm, trách nhiệm trong phòng ngừa, khắc phục ngộ độc thực phẩm và bệnh truyền qua thực phẩm, trách nhiệm phối hợp trong thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm. Về quan hệ phối hợp giữa Bộ Y tế với Bộ Thương mại, văn bản phân công trách nhiệm rõ ràng giữa các bên trong các hoạt động: xây dựng chính sách, văn bản quy phạm pháp luật; cấp giấy chứng nhận; thanh tra, kiểm tra; trao đổi thông tin, văn bản; tuyên truyền, tập huấn, đào tạo; tổ chức kiểm nghiệm, giám định; tổ chức đoàn thanh tra, kiểm tra liên ngành. Ngày 8/3/2015 Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định 48/2015/QĐ-TTg thành lập Ban chỉ đạo liên ngành về vệ sinh an toàn thực phẩm. Ban này có trách nhiệm giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo và phối hợp hoạt động giữa các Bộ, ngành trong việc giải quyết những vấn đề quan trọng liên ngành về vệ sinh an toàn thực phẩm. Trong nội bộ ngành y tế, Bộ trưởng Bộ Y tế cũng đã ban hành Quyết định 12/2016/QĐ-BYT về việc ban hành “Quy định phân cấp nhiệm vụ quản lý và tham gia quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm”. Những văn bản này hình thành một khung pháp lý tương đối đầy đủ cho hoạt động quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm, nhất là mối quan hệ phân công, phối hợp giữa các cơ quan liên quan nhằm tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đối với công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.

Đặc biệt, các văn bản về vệ sinh an toàn thực phẩm cũng có quy định riêng cho những đối tượng đặc thù của ngành du lịch. Quyết định 41/2015/QĐ-BYT của Bộ Y tế quy định điều kiện đối với các nhà hàng ăn uống  (Điều 5), điều kiện đối với các cơ sở ăn uống ở khách sạn (Điều 6), điều kiện về vệ sinh an toàn thực phẩm trong lễ, hội (Điều 22), điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm trong hội chợ (Điều 25), điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm tại các khu du lịch (Điều 26). Việc có những quy định riêng về các đối tượng đặc thù trong ngành du lịch sẽ đảm bảo những điều kiện phù hợp hơn với tính chất hoạt động, chẳng hạn như quy định trách nhiệm của chủ lễ hội trong việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm tại các sự kiện này, hay yêu cầu phải có quy hoạch, bố trí, sắp xếp các quán ăn tại các khu du lịch…, từ đó có thể nâng cao chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm đối với ngành du lịch. Tuy nhiên, các quy định này chưa tương thích với phân loại về cơ sở lưu trú trong lĩnh vực du lịch, những quy định về điều kiện trên chưa thực sự phù hợp với những yêu cầu cụ thể đối với hoạt động du lịch.

  • Quy định về đảm bảo an ninh trật tự Luận văn: Giải pháp tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam.

Nghị định của Chính phủ số 08 /2011/NĐ-CP ngày 22 tháng 02 năm 2011 đã quy định về điều kiện an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề kinh doanh có điều kiện. Theo đó, cơ sở kinh doanh các dịch vụ có điều kiện về an ninh, trật tự phải đảm bảo các điều kiện về an toàn phòng cháy, chữa cháy, phòng nổ, phòng độc và vệ sinh môi trường; đảm bảo về trật tự, an toàn công cộng; địa điểm kinh doanh không nằm trong khu vực cấm theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, các điều kiện khác còn được quy định đối với từng ngành nghề cụ thể để đảm bảo sự phù hợp với đặc thù của từng loại hình kinh doanh.

Về chế tài xử lý, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 150/2015/NĐ-CP ngày 12/12/2015 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội, trong đó có quy định về hình thức xử lý đối với các hành vi như vi phạm trật tự công cộng, hành vi gây ảnh hưởng đến sự yên tĩnh chung, hành vi gây ảnh hưởng đến việc giữ gìn vệ sinh chung, vi phạm các quy định về quản lý một số ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự, hành vi gây thiệt hại đến tài sản của người khác…, các quy định này tạo cơ sở pháp lý để xử lý, răn đe những người có hành vi gây mất an ninh, trật tự, từ đó tăng cường việc bảo đảm an ninh, an toàn nói chung và cho khách du lịch nói riêng.

  • Đảm bảo an toàn trong các quy định về phòng cháy, chữa cháy

Pháp luật về phòng cháy chữa cháy hiện hành đã quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân trong việc thực hiện các biện pháp về phòng cháy, chữa cháy tại khu dân cư và các khu vực công cộng. Phần lớn cơ sở nơi khách du lịch thường tới đã được đưa vào danh mục cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ, cụ thể là:

  • Các chợ, trung tâm thương mại, siêu thị, cửa hàng bách hóa có tổng diện tích các gian hàng từ 300 m2 trở lên hoặc có khối tích từ 1.000 m2 trở lên;
  • Khách sạn, nhà khách, nhà nghỉ cao từ 5 tầng trở lên hoặc có khối tích từ 5.000 m2 trở lên;
  • Rạp hát, rạp chiếu phim, hội trường, nhà văn hóa, nhà thi đấu thể thao trong nhà có thiết kế từ 200 chỗ ngồi trở lên, vũ trường, câu lạc bộ trong nhà, cơ sở vui chơi giải trí và phục vụ công cộng khác trong nhà có diện tích từ 200 m2 trở lên;
  • Sân vận động 5.000 chỗ ngồi trở lên;
  • Nhà ga, cảng hàng không, cảng biển, cảng sông, bến tàu thủy, bến xe khách cấp tỉnh trở lên, bãi đỗ có 200 xe ô tô trở lên, nhà ga đường sắt,
  • Bảo tàng, di tích lịch sử, nhà hội chợ, triển lãm.

Theo quy định, cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân có những cơ sở thuộc diện có nguy hiểm về cháy, nổ phải thực hiện bảo hiểm cháy, nổ. Riêng khách sạn và nhà cho thuê văn phòng có chiều cao từ 7 tầng trở lên phải có giấy chứng nhận đủ điều kiện về phòng cháy, chữa cháy trước khi đưa vào hoạt động.

3.3. Đề xuất một số giải pháp vận dụng VTOS trong lĩnh vực an ninh, an toàn của các khách sạn 4 sao tại Hải Phòng Luận văn: Giải pháp tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam.

3.3.1. Một số giải pháp nhằm vận dụng VTOS trong việc đảm bảo an toàn tại các khách sạn 4 sao của Hải Phòng

3.3.1.1. X y dựng hệ thống trang thiết bị đảm bảo an toàn đạt chuẩn

Để hoạt động tác nghiệp của nhân viên diễn ra một cách chuyên nghiệp, hoàn hảo, các khách sạn cần đầu tư hệ thống trang thiết bị đảm bảo chất lượng từ hệ thống theo dõi an ninh, trang thiết bị phòng cháy chữa cháy cho đến các dụng cụ phục vụ cho nghiệp vụ của nhân viên.

Cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị là một tiêu chí quan trọng trong kinh doanh khách sạn. Có cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị tốt kết hợp với đội ngũ nhân viên lành nghề thì chất lượng phục vụ mới tốt. Mục đích cuối cùng của kinh doanh khách sạn đó là việc bán được tối đa các sản phẩm dịch vụ hay nói cách khác là khai thác tối đa các khả năng hiện có, đem lại cho khách sự hài lòng, thỏa mãn các dịch vụ mà khách sạn mang đến cho họ. Để làm được điều đó đòi hỏi các khách sạn phải sử dụng tối đa lợi thế các dịch vụ hiện có, đồng thời nghiên cứu xác định nhu cầu biến đổi của khách để có phương hướng cải tiến, đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách. Thường xuyên đổi mới hệ thống trang thiết bị đảm bảo an toàn nhằm phát huy tối đa công dụng của chúng là một việc làm rất quan trọng.

Một trong những đặc điểm của cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị là tính sử dụng không cân đối. Đặc điểm này được tạo ra bởi tính mùa vụ trong du lịch. Tính mùa vụ tạo nên giá trị cao của một đơn vị công suất sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị. Vào chính vụ khách đông, cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị phải chịu sức tải lớn, hoạt động tối đa công suất do đó trang thiết bị rất dễ bị quá tải, nhanh hỏng hóc. Ngược lại, vào mùa vắng khách nếu không được sử dụng thường xuyên các trang thiết bị cũng rất dễ bị hỏng. Do đó, bên cạnh việc mua mới, các khách sạn cần làm tốt công tác kiểm tra, vệ sinh và bảo dưỡng các trang thiết bị. Công việc này phải được thực hiện thường xuyên nhằm cung cấp cho khách những dịch vụ hoàn hảo.

3.3.1.2. Tăng cường các biện pháp bảo vệ môi trường tại các khách sạn

Kinh doanh lưu trú là một trong những lĩnh vực hoạt động chủ yếu của ngành Du lịch. Các cơ sở lưu trú không chỉ là nơi thu hút nhiều đối tượng khách có quốc tịch, văn hóa, sở thích và nhu cầu khác nhau mà còn là nơi tiêu thụ nhiều nguyên vật liệu, tài nguyên, năng lượng như điện, nước, thực phẩm, hàng hóa… từ đó thải ra một lượng không nhỏ rác thải, nước thải, tiếng ồn… điều này làm ảnh hưởng xấu tới chất lượng môi trường. Do vậy, thực hiện biện pháp bảo vệ môi trường là nhiệm vụ thiết yếu đối với các cơ sở lưu trú nhằm không những để bảo vệ môi trường chung mà còn tạo sự yên tâm cho khách, tăng uy tín và sức cạnh tranh thu hút khách của các cơ sở lưu trú. Luận văn: Giải pháp tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam.

Với vai trò là điều kiện phát triển du lịch, môi trường có tác động tích cực tới tâm lý du khách. Môi trường tốt sẽ tạo cho khách những ấn tượng tốt về đất nước và con người nơi đến. Ngày nay, xu hướng phổ biến của nhu cầu du lịch là lựa chọn các cơ sở lưu trú thực hiện tốt việc bảo vệ môi trường. Vì vậy, để thu hút du khách các khách sạn cần quan tâm thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường, tạo môi trường trong sạch, an toàn, tạo niềm tin cho khách trong sử dụng dịch vụ của cơ sở.

Để bảo vệ môi trường, các khách sạn cần thực hiện những nhiệm vụ sau:

  • Các công trình kiến trúc phải được xây dựng theo quy hoạch và kế hoạch phát triển của ngành Du lịch và của địa phương; phải đảm bảo tiêu chuẩn xếp hạng và quy chuẩn xây dựng, tránh lãng phí;
  • Các công trình xây dựng cần quan tâm tới thiết kế, phù hợp với môi trường xung quanh về độ cao, màu sắc trang thiết bị nội thất, giảm thiểu các chất độc hại, tăng cường sử dụng vật liệu địa phương, khuyến khích chiếu sáng và thông gió tự nhiên;
  • Cần có kế hoạch đầu tư mua sắm trang thiết bị, nguyên vật liệu, thực phẩm an toàn, thân thiện với môi trường;
  • Sử dụng hợp lý tài nguyên, năng lượng, nguyên vật liệu, thực phẩm; khuyến khích sử dụng năng lượng tự nhiên cho hoạt động sản xuất và kinh doanh của khách sạn;
  • Quản lý và xử lý rác thải, nước thải, khí thải hợp vệ sinh; quản lý tiếng ồn;
  • Phổ biến thông tin, tập huấn, đào tạo và tổ chức hội thảo nhằm nâng cao nhận thức, kiến thức và kinh nghiệm bảo vệ môi trường trong các khách sạn.

3.3.1.3. Thường xuyên mở các lớp tập huấn về an toàn theo tiêu chuẩn VTOS cho toàn bộ nh n viên khách sạn

Có thể thấy, trong bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam (VTOS) 2023, vấn đề đảm bảo an toàn trong khách sạn không chỉ là nhiệm vụ của riêng nhân viên an ninh, mà nó đã trở thành kiến thức cần phải trang bị cho nhân viên trong từng bộ phận của khách sạn. Các nhân viên trong khách sạn cần thường xuyên được tập huấn các kỹ năng về an toàn được đưa ra trong bộ tiêu chuẩn VTOS. Đó là các kỹ năng về phòng cháy chữa cháy, sơ cứu vết thương, an toàn thực phẩm và xử lý tốt các tình huống liên quan đến tính mạng con người. Trong mỗi kỹ năng, nhân viên cần tuân thủ theo quy trình đã được quy định trong tiêu chuẩn VTOS để đạt được hiệu quả cao nhất.

  • Đối với việc phòng cháy chữa cháy

Việc tổ chức các buổi tuyên truyền, huấn luyện nghiệp vụ về phòng cháy chữa cháy là việc làm hết sức quan trọng và phải được duy trì thường xuyên để nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ làm việc tại khách sạn, ý thức trách nhiệm trong việc đảm bảo an toàn về phòng cháy chữa cháy. Nhận biết và sử dụng thành thạo các trang thiết bị, phương tiện chữa cháy tại chỗ, kịp thời xử lý các tình huống khi có cháy, nổ xảy ra. Các khách sạn cần phối hợp với Phòng Hướng dẫn, chỉ đạo về phòng cháy – cảnh sát phòng cháy chữa cháy thành phố để tổ chức Hội nghị tuyên truyền, huấn luyện nghiệp vụ về phòng cháy chữa cháy cho nhân viên các bộ phận của khách sạn. Luận văn: Giải pháp tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam.

  • Đối với việc sơ cứu vết thương

Kỹ năng sơ cứu vết thương là một kỹ năng quan trọng mà nhân viên khách sạn đặc biệt là nhân viên lễ tân và nhân viên an ninh cần nắm được. Việc huấn luyện kỹ năng sơ cứu vết thương cho nhân viên khách sạn cần phải được tiến hành và thực hiện theo đúng quy trình hướng dẫn của bộ phận y tế. Sơ cứu vết thương là giai đoạn cơ bản buộc các nhân viên trong khách sạn phải nắm rõ và hoàn thành tốt khi sự cố xảy ra. Sơ cứu vết thương là cách giảm thiểu tình trạng xấu ảnh hưởng đến sức khỏe của khách hàng. Các tình huống thường gặp như bỏng, ngạt thở, ngừng tim, cầm máu và bang bó vết thương, vận chuyển nạn nhân, cấp cứu say nắng, say nóng và ngạt nược,… Thực hành băng bó vết thương khi bị gãy xương khuỷu tay, cánh tay, chân, đùi, chấn thương vùng đầu, cổ, kỹ năng cứu người bị ngạt thở,…

Sơ cứu vết thương có tác dụng bảo vệ an toàn tính mạng và giảm thiểu rủi ro cho khách. Để thực hiện tốt điều đó, đòi hỏi nhân viên khách sạn phải nắm rõ nguyên tắc sơ cứu cơ bản nhất, các thao tác phải nhanh gọn, đúng quy trình và kỹ thuật, tránh tình trạng làm nặng vết thương do thực hiện sai nguyên tắc. Các dụng cụ y tế phục vụ cho quá trình sơ cứu phải được trang bị dự phòng, giúp công việc cứu người thực hiện tốt nhất, đảm bảo xử lý tình huống hiệu quả.

  • Đối với việc đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm

Nhân viên bộ phận nhà hàng cần được tập huấn các kỹ năng liên quan đến việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong quá trình cung cấp các sản phẩm ăn uống đến với khách hàng. Đây là một quy trình khép kín và phải được thực hiện đảm bảo vệ sinh từ nguồn nhập, vận chuyển, bảo quản, chế biến thực phẩm cho đến quá trình phục vụ và yêu cầu vệ sinh cá nhân đối với nhân viên phục vụ.

  • Đối với nguồn thực phẩm nhập vào

Đối với các khách sạn, thực phẩm phải được quản lý, đảm bảo độ an toàn ngay từ khâu nhập nguyên liệu, tránh sử dụng những nguồn thực phẩm có nguy cơ cao, không rõ xuất sứ hoặc từ những khu vực có môi trường ảnh hưởng xấu đến tính an toàn của thực phẩm. Để làm được điều đó, các khách sạn cần đáp ứng được những yêu cầu sau:

  • Chỉ sử dụng các nguồn thực phẩm sạch được chứng nhận bởi các cơ quan chức năng về đảm bảo tiêu chuẩn thực phẩm của Việt Nam hoặc quốc tế.
  • Ký hợp đồng dài hạn với các đơn vị cung cấp thực phẩm có uy tín, được các cơ quan chức năng xác nhận.
  • Chỉ mua thực phẩm với số lượng vừa đủ để đảm bảo sự luân chuyển hàng hoá trong kho sao cho thực phẩm được sử dụng trong thời hạn của chúng. Luận văn: Giải pháp tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam.
  • Đối với khâu vận chuyển, bảo quản thực phẩm

Ở khâu này, các khách sạn phải đảm bảo những yêu cầu sau:

  • Sử dụng các phương tiện chuyên dùng phù hợp với tính chất đặc biệt của từng loại thực phẩm để vận chuyển.
  • Đảm bảo giữ gìn vệ sinh ngay cả với các phương tiện vận chuyển.
  • Các khách sạn phải trang bị đầy đủ hệ thống trang thiết bị thích hợp để bảo quản thực phẩm như kho, tủ chứa…

Đối với quá trình chế biến thực phẩm

Nhằm đảm bảo công việc chế biến thực phẩm được diễn ra thuận lợi, hợp vệ sinh, đảm bảo thực phẩm không bị ô nhiễm trong quá trình chế biến, cơ sở lưu trú du lịch và nhà hàng du lịch cần thực hiện các yêu cầu sau:

  • Khu vực chế biến thực phẩm được thiết kế, bố trí, sắp xếp theo nguyên tắc một chiều nhằm bảo vệ chống ô nhiễm chéo do thực phẩm gây ra giữa công đoạn này với công đoạn khác. Cụ thể như sau: khu vực tập kết, sơ chế thực phẩm tươi sống-khu vực chế biến nóng, lạnh-khu vực tập kết thực phẩm đã qua chế biến chuẩn bị đưa ra phục vụ cho khách – khu vực làm vệ sinh và bảo quản các dụng cụ phục vụ ăn uống.
  • Khu vực chế biến biến và hệ thống trang thiết bị được bố trí để tạo điều kiện thuận lợi cho việc lau chùi, tẩy rửa, khử trùng.
  • Xây dựng hệ thống thoát nước tốt, đảm bảo vệ sinh môi trường, không gây ô nhiễm đến khu vực xung quanh.
  • Bảo đảm yêu cầu kỹ thuật chế biến món ăn, đặc biết yêu cầu về xử lý nhiệt độ và thời gian nấu chín các món ăn; không sử dụng các loại phụ gia thực phẩm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của khách hàng.
  • Thực hiện tốt quy trình làm vệ sinh các dụng cụ chế biến, phục vụ ăn uống theo thứ tự các bước: rửa – tráng – khử trùng – lau hoặc sấy khô.

Đối với quá trình phục vụ ăn uống

Nhằm tránh nguy cơ gây ô nhiễm trong khu vực phục vụ khách các cơ sở lưu trú du lịch cần thực hiện các yêu cầu cụ thể sau:

  • Khu vực phục vụ ăn uống cần được bố trí cách xa các nguồn gây ô nhiễm hoặc có khả năng gây ô nhiễm, như: phòng vệ sinh, nơi chứa rác thải, cống rãnh, nơi ẩm thấp, nơi có nhiều bụi.
  • Bàn ghế, các phương tiện, trang thiết bị trong khu vực phục vụ ăn uống cần được thường xuyên lau chùi, đảm bảo vệ sinh như: bàn ghế, khăn trải bàn, đồ đựng gia vị, dụng cụ ăn uống,…
  • Quy trình phục vụ phải được thực hiện theo đúng yêu cầu của các thao tác kỹ thuật nghiệp vụ đối với nhân viên.

Yêu cầu về vệ sinh cá nhân đối với nhân viên phục vụ

Nhân viên phục vụ là người có tiếp xúc trực tiếp với các món ăn cung cấp cho khách. Do đó, đảm bảo vệ sinh cá nhân là một yêu cầu không thể thiếu. Để cung cấp những món ăn, thức uống vệ sinh cho khách, nhân viên nhà hàng cần:

  • Có các biện pháp giữ gìn vệ sinh cá nhân, như: mặc quần áo, trang phục sạch sẽ; rửa tay trước khi thực hiện công việc chế biến hoặc phục vụ ăn uống trong các cơ sở kinh doanh; rửa tay sau khi đi vệ sinh hoặc hút thuốc; cắt ngắn và giữ móng tay sạch.
  • Tránh các hành vi có thể dẫn đến nhiễm bẩn thực phẩm, như: hút thuốc, khạc nhổ, nhai hay ăn, hắt hơi hay ho khi tiếp xúc với thực phẩm,… Luận văn: Giải pháp tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam.

3.3.2. Một số giải pháp vận dụng VTOS trong đào tạo và sử dụng đội ngũ nhân viên an ninh cho các khách sạn 4 sao tại Hải Phòng 

3.3.2.1. Đổi mới tư duy và nhận thức, quan điểm của các nhà lãnh đạo về công tác đào tạo và sử dụng đội ngũ nhân viên an ninh theo Tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam (VTOS)

Thực tế, khi khảo sát việc áp dụng tiêu chuẩn VTOS trong nghiệp vụ an ninh khách sạn 4 sao của Thành Phố hải Phòng có thể thấy phạm vi áp dụng tiêu chuẩn VTOS chưa rộng rãi và thiếu đồng bộ. Bộ phận an ninh đóng vai trò rất quan trọng trong kinh doanh khách sạn. Nó đặc biệt quan trọng trong tình hình chính trị, xã hội có nhiều bất ổn như hiện nay. Thế nhưng khi nhắc đến khách sạn người ta hay nhắc đến bộ phận lễ tân, bộ phận buồng, bộ phận nhà hàng,… mà gần như quên mất bộ phận an ninh.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, nhưng nguyên nhân quan trọng nhất là do lãnh đạo khách sạn 4 sao ở Thành phố Hải Phòng chưa nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng trong việc tạo ấn tượng tốt đẹp cho nhân viên an ninh trước khách. Ấn tượng tốt đẹp này có thể từ ngoại hình, từ phục trang bên ngoài và quan trọng hơn cả là từ thái độ và phong cách làm việc chuyên nghiệp.

Sự thiếu đồng bộ về chất lượng đội ngũ nhân viên an ninh trong các khách sạn 4 sao tại Hải Phòng cũng là một yếu tố dẫn đến sự so sánh của khách hàng. Đây có thể là lợi thế cho những khách sạn có chất lượng đội ngũ nhân viên tốt, được đào tạo bài bản nhưng lại trở thành yếu điểm cho các khách sạn khác. Để tăng khả năng cạnh tranh cũng như góp phần hoàn thiện hệ thống cơ sở lưu trú chất lượng cao, đồng đều cho thành phố, các khách sạn 4 sao cần tìm được cho mình “tiếng nói chung” trong đào tạo nhân viên an ninh nói riêng và nhân viên khách sạn nói chung. Bộ tiêu chuẩn VTOS được xem là một công cụ hữu ích cho bài toán trên. Nhưng để tiêu chuẩn VTOS được áp dụng rộng rãi trong các khách sạn thì nhận thức của các lãnh đạo khách sạn về tầm quan trọng của bộ tiêu chuẩn là rất quan trọng.

Các khách sạn 4 sao ở Thành phố Hải Phòng cần thông tin đầy đủ và có kế hoạch tập huấn, nâng cao nhận thức và quan điểm của các lãnh đạo khách sạn, từ giám đốc đến lãnh đạo các bộ phận trong khách sạn, về tầm quan trọng của bộ Tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam (VTOS) trong công tác đào tạo và sử dụng đội ngũ nhân viên an ninh theo Tiêu chuẩn này.

3.3.2.2. Tăng cường đội ngũ đào tạo viên trong các khách sạn

Bảng 2.15 cho thấy số lượng đào tạo viên tại 3 khách sạn còn rất hạn chế và chủ yếu tập trung vào các nghiệp vụ lễ tân, nghiệp vụ buồng và nghiệp vụ nhà hàng. Nhân rộng đội ngũ đào tạo viên về nghiệp vụ an ninh là một biện pháp hữu hiệu, bởi họ chính là người tham gia vào quá trình đào tạo, duy trì và phát triển. Mặt khác các khách sạn phải sử dụng các đào tạo viên đã được cấp chứng chỉ và giao cho họ phải trình kế hoạch hoạt động đào tạo nhân viên trong từng bộ phận theo quy định của VTOS. Hơn thế nữa, việc có được đội ngũ đào tạo viên giúp các khách sạn tiết kiệm được chi phí thuê đào tạo viên từ bên ngoài và nâng cao hiệu quả đào tạo. Lãnh đạo các khách sạn nên bám sát thông tin các dự án đào tạo VTOS để có thể đăng ký các lớp đào tạo viên cho nghiệp vụ an ninh. Luận văn: Giải pháp tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam.

3.3.2.3. Giải pháp hoàn thiện quá trình đào tạo đội ngũ nhân viên an ninh của các khách sạn theo tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam VTOS

Mặc dù công tác đào tạo tương đối được quan tâm tại hầu hết các khách sạn 4 sao được khảo sát tại Hải Phòng. Nhưng về cơ bản, công tác đào tạo và phát triển đội ngũ nhân viên an ninh của các khách sạn theo tiêu chuẩn VTOS vẫn còn một số bất cập về phương pháp, nội dung hoặc cách xác định các yếu tố then chốt cũng như các nguyên tắc cần thiết để xây dựng một chương trình đào tạo có hiệu quả. Mặt khác, có khách sạn vì lý do khách quan hoặc chủ quan mà chưa quan tâm đúng mực đến công tác đào tạo vì một số lý do:

  • Không nhận thức được những tiêu chuẩn khách sạn có thể đạt được cũng như lợi ích của đào tạo.
  • Thường xuyên chú trọng đến vấn đề điều hành trực tiếp và không lập kế hoạch cho tương lai.
  • Khách sạn không có đủ kinh phí cho đào tạo.

Chính vì các lý do trên mà công tác đào tạo tại các khách sạn vẫn còn một số hạn chế và chưa thực sự mang lại hiệu quả như mong muốn. Vì vậy, việc đầu tiên các khách sạn cần làm là cần xác định lại các yếu tố chính trong đào tạo.

Có 3 yếu tố chính mỗi cá nhân cần có để làm việc hiệu quả mà các nhà quản trị nhân lực cần nắm được, đó là: kiến thức, kỹ năng và thái độ. Chính vì vậy, việc đào tạo nên dựa vào ba yếu tố này để lập kế hoạch đào tạo cũng như xây dựng nội dung và phương pháp đào tạo.  Những yếu tố này đều có thể phát triển và cải thiện thông qua đào tạo, tuy nhiên, mỗi yếu tố cần có một phương pháp đào tạo khác nhau. Ví dụ: đào tạo kiến thức chuyên môn có thể truyền thụ thông qua nói chuyện, thuyết trình, phim ảnh, song không thể sử dụng phương pháp này để phát triển yếu tố thứ hai là kỹ năng, ví dụ sử dụng các loại bình cứu hỏa, cách kiểm tra các trang thiết bị bằng điện… Đối với kỹ năng, luyện tập và thực hành là cần thiết và hiệu quả. Yếu tố thứ ba là thái độ và quan điểm của nhân viên đối với công việc thường là vấn đề khó truyền thụ và thay đổi nhất, ngay cả khi đào tạo có cơ sở rất thuận lợi. Thay đổi phương pháp truyền giảng, nâng cao tính sáng tạo, chủ động của học viên là giải pháp hữu hiệu.

Việc quan trọng thứ hai mà các khách sạn cần chú trọng để thiết kế chương trình đào tạo hiệu quả là các khách sạn cần đảm bảo hiểu rõ những nguyên tắc sau:

  • Đào tạo chỉ có thể thành công nếu được người lao động thừa nhận rằng học tập là quá trình tự giác, các cá nhân cần tự giác học và do đó họ cần có động cơ phù hợp. Các khách sạn cần có kế hoạch khen thưởng chính đáng cho những nhân viên có kết quả học tập tốt trong các khóa đào tạo.
  • Mỗi người học sẽ có sự tiếp thu kiến thức khác nhau, đặc biệt trong trường hợp người học lớn tuổi, mặt khác nhân viên thường bắt đầu quá trình học tập đào tạo với kiến thức, trình độ, động cơ và thái độ khác nhau.
  • Cảm giác bất an, lo sợ, tự ti hay thiếu tự tin có ảnh hưởng tiêu cực đến việc học tập nâng cao trình độ của người lao động. Vì vậy, các nhà quản trị nhân lực khách sạn cần nắm bắt được điều này để có những giải pháp tạo niềm tin tưởng cũng như tạo tâm lý thoải mái cho người học để đạt hiệu quả cao nhất trong đào tạo.
  • Việc đào tạo cần tiến hành theo nhiều đợt ngắn, thường xuyên chứ không nên đào tạo theo đợt dài, rải rác. Ví dụ: nếu phải dạy nhân viên mới ra nghề cách sử dụng thiết bị nhà bếp thì nên học thành 10 buổi, mỗi buổi 45 phút chắc chắn sẽ có hiệu quả hơn một buổi học kéo dài 7 đến 8 tiếng.
  • Người học cần có vai trò tích cực, có nghĩa là cần được tham gia vào quá trình dạy và học: Ví dụ: phương pháp thuyết trình đặt người học vào vai trò tương đối thụ động, trong khi thảo luận và thực hành sẽ thúc đẩy và hấp dẫn người học trở nên tích cực hơn. Luận văn: Giải pháp tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam.
  • Người học cần có mục tiêu rõ ràng, sự tiến bộ của người học cần được thường xuyên kiểm tra, đánh giá.

Để các buổi đào tạo thực sự có hiệu quả, các khách sạn cần làm tốt từ khâu chuẩn bị. Dưới đây là những nội dung cần chuẩn bị trước khi tổ chức đào tạo:

Bảng 3.1. Những nội dung cần chuẩn bị khi tổ chức đào tạo

Bên cạnh đó, công tác đánh giá hiệu quả đào tạo của các khách sạn cần được quan tâm trú trọng hơn. Thực tế, cả 3 khách sạn 4 sao được khảo sát đều đã có xây dựng chương trình đánh giá hiệu quả đào tạo, nhưng thực sự hiệu quả thực sự đo lường được chưa cao. Bởi vì hiệu quả của chương trình đào tạo thường được đánh giá qua hai giai đoạn cụ thể:

  • Giai đoạn 1: Học viên tiếp thu, học hỏi được gì sau khóa đào tạo?
  • Giai đoạn 2: Học viên áp dụng các kiến thức kỹ năng đã học hỏi được vào trong thực tế để thực hiện công việc như thế nào?

Hầu hết các khách sạn 4 sao được khảo sát ở Hải Phòng đều đã đánh giá thành công kết quả học tập của học viên ở giai đoạn 1. Nhưng để đánh giá được hiệu quả của toàn khóa học thông qua việc đánh giá học viên áp dụng các kiến thức kỹ năng đã được học vào trong thực tế thực hiện công việc lại là vấn đề phức tạp và đòi hỏi thời  gian. Trong thực tế, có thể học viên đã lĩnh hội rất tốt các kỹ năng, kiến thức mới trong khóa học, hoàn thành xuất sắc chương trình đào tạo, nhưng  không áp dụng được những gì đã học vào trong thực hiện công việc. Chính vì vậy, để tránh lãng phí trong công tác đào tạo, các khách sạn cần quan tâm chú trọng đến vấn đề đánh giá hiệu quả của toàn bộ quá trình đào tạo thông qua đánh giá sự thay đổi hay sự tiến bộ của học viên trong quá trình thực hiện công việc sau khi đào tạo.

Đối với giai đoạn 2, có thể áp dụng một hoặc phối hợp các cách đánh giá hiệu quả đào tạo sau đây:

  • Phân tích thực nghiệm: Bộ phận an ninh trong các khách sạn có thể chọn hai nhóm để ghi lại kết quả thực hiện công việc của mỗi nhóm lúc trước khi áp dụng chương trình đào tạo. Sau đó, chọn một nhóm được tham gia vào quá trình đào tạo, còn nhóm kia vẫn thực hiện công việc bình thường. Sau thời gian đào tạo, ghi lại kết quả thực hiện về cả số lượng và chất lượng công việc giữa  hai nhóm: nhóm đã được đào tạo và nhóm chưa được đào tạo. Phân tích, so sánh kết quả thực hiện công việc giữa hai nhóm với chi phí đào tạo sẽ cho phép xác định mức độ hiệu quả của chương trình đào tạo.
  • Đánh giá những thay đổi của học viên: Đánh giá những thay đổi của học viên dựa trên các tiêu thức về: phản ứng, học thuộc, hành vi và mục tiêu như sau: Luận văn: Giải pháp tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam.

Phản ứng: Đánh giá phản ứng của học viên đối với chương trình đào tạo: có thích chương trình không? Nội dung chương trình có phù hợp với thực tế công việc của họ không?…

  • Học thuộc: Kiểm tra học viên để xác định họ có nắm vững các nguyên tắc, kỹ năng, các yêu cầu của khóa đào tạo chưa?
  • Hành vi thay đổi: Nghiên cứu hành vi của nhân viên có thay đổi gì do kết quả tham dự khóa học không?
  • Mục tiêu: Học viên có đạt được mục tiêu của khóa đào tạo không? Được thể hiện bằng sự thay đổi bằng năng suất công việc, chất lượng thực hiện công việc của học viên.

Xác định mục tiêu, căn cứ và các bước xây dựng chương trình đào tạo đội ngũ hướng dẫn viên du lịch theo tiêu chuẩn kỹ năng nghề hướng dẫn du lịch của doanh nghiệp.

3.4. Kiến nghị

Tổng cục Du lịch cần phải tăng thời gian tổ chức các đợt tập huấn thường xuyên cho đội ngũ đào tạo viên, lãnh đạo của các khách sạn cần. Để thực hiện được cần thiết sử dụng biện pháp tuyên truyền giáo dục, có những biện pháp khuyến khích giúp cho các nhà lãnh đạo khách sạn thay đổi cách nhìn nhận, tham gia tích cực, phổ biến việc áp dụng tiêu chuẩn VTOS trong đào tạo. Đưa ra những quy chế nếu thấy cần thiết yêu cầu các khách sạn cần tổ chức đào tạo VTOS.

Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Hải Phòng cần đưa Tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam trở thành tiêu chuẩn bắt buộc để cấp chứng chỉ nghiệp vụ khách sạn trong các cơ sở đào tạo và dạy nghề du lịch, mục đích chuẩn hoá đội ngũ nhân viên khách sạn và nâng cao chất lượng phục vụ. Bên cạnh đó, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch cũng cần xem xét đưa nghiệp vụ an ninh khách sạn vào bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam (VTOS) 2023 vì tầm quan trọng của nó.

Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Hải Phòng cần có các chính sách quản lý chặt chẽ về chất lượng nguồn nhân lực Du lịch, chất lượng sản phẩm dịch vụ theo tiêu chuẩn thứ hạng của các khách sạn, quản lý về chính sách giá hợp lý theo các thời điểm, bảo vệ quyền lợi chính đáng và lâu dài của khách du lịch.

Tiểu kết chương 3: Việc áp dụng Tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam VTOS trong đảm bảo an toàn cũng như trong hoạt động đào tạo đội ngũ nhân viên an ninh tại các khách sạn là quan trọng, góp phần chuẩn hoá chất lượng dịch vụ và phục vụ cung cấp cho khách. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn cơ bản về áp dụng tiêu chuẩn VTOS nhằm đảm bảo an toàn trong 3 khách sạn Camela, Avani Hải Phòng Harbour View và làng quốc tế Hướng Dương tại Hải Phòng và thực trạng đào tạo và hoạt động tác nghiệp theo tiêu chuẩn VTOS với đội ngũ nhân viên an ninh của 3 khách sạn, luận văn đã đưa ra một số giải pháp hoàn thiện áp dụng tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam VTOS trong lĩnh vực an ninh – an toàn tại các khách sạn 4 sao ở Hải Phòng nói riêng và các khách sạn ở Hải Phòng và trong toàn quốc nói chung.

KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam.

Con người mong muốn có sự bảo vệ cho sự sống của mình khỏi các nguy hiểm đặc biệt là khi người ta đi xa địa điểm cư trú thường xuyên. Vì vậy, trong du lịch đảm bảo an ninh, an toàn cho khách là một vấn đề đặc biệt quan trọng, không chỉ tại các điểm du lịch mà còn tại các cơ sở lưu trú mà khách nghỉ lại. Khách đến khách sạn luôn luôn mong muốn được sống trong một môi trường đảm bảo về an ninh và an toàn. Luận văn với tên đề tài: “Áp dụng tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam (VTOS) vào nghiên cứu lĩnh vực an ninh – an toàn trong các khách sạn 4 sao tại Hải Phòng” nghiên cứu về an ninh, an toàn trong các khách sạn 4 sao tại địa bàn thành phố Hải Phòng.

Với các nội dung đã triển khai, luận văn đã tập trung giải quyết những vấn đề chủ yếu sau:

Về mặt lý luận, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, an ninh, an toàn là một nhu cầu cần thiết và chính đáng của khách lưu trú. Đồng thời, luận văn cũng đã tiếp cận hệ thống các tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam trong lĩnh vực an ninh- an toàn để ứng dụng lượng hóa trong việc đánh giá công tác đào tạo và hoạt động tác nghiệp của nhân viên đặc biệt là nhân viên an ninh của các khách sạn 4 sao tại Hải Phòng.

Về mặt thực tiễn, luận văn đã đánh giá thực trạng áp dụng tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam (VTOS) vào lĩnh vực an ninh – an toàn trong các khách sạn 4 sao tại Hải Phòng, từ đó có những giải pháp phù hợp cho việc vận dụng VTOS trong đào tạo và sử dụng đội ngũ nhân viên nhằm đảm bảo an ninh – an toàn cho các khách sạn 4 sao tại Hải Phòng.

Thông qua việc nghiên cứu thực tiễn áp dụng tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam (VTOS) trong lĩnh vực an ninh – an toàn tại các khách sạn 4 sao tại Hải Phòng, luận văn cũng chỉ ra công tác đào tạo trong một tổ chức là một công việc khó khăn và phức tạp. Đặc biệt, đối với ngành khách sạn, đối tượng phục vụ là con người, vì vậy đòi hỏi nguồn nhân lực phải có chất lượng cao, có chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp thuần thục thực sự cần thiết trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt hiện nay. Cụ thể, luận văn đã giải quyết được những nội dung sau:

Luận văn đã trình bày được những nét chung của các khách sạn 4 sao tại thành phố Hải Phòng, đồng thời làm rõ được khái niệm về an ninh, an toàn, hệ thống hóa việc đánh giá chất lượng an ninh – an toàn theo tiêu chuẩn Luận văn đã kết hợp đánh giá định tính cũng như định lượng thực trạng áp dụng tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam (VTOS) vào lĩnh vực an ninh – an toàn trong các khách sạn 4 sao tại Hải Phòng.

Luận văn đã đề xuất được một số biện pháp quan trọng nhằm vận dụng VTOS vào lĩnh vực an ninh – an toàn trong các khách sạn 4 sao tại Hải Phòng. Luận văn: Giải pháp tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam.

Để hoàn thành công trình nghiên cứu này, tác giả luận văn đã nhận được nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của các cá nhân cũng như các doanh nghiệp khách sạn trong phạm vi khảo sát. Đặc biệt, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới TS. Nguyễn Văn Lưu, người đã trực tiếp hết lòng hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình thực hiện đề tài. Tiếp đến, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tới các bộ phận quản lý nhân sự tại các khách sạn 4 sao tại thành phố Hải Phòng, đặc biệt là Bà Trần Thanh Thủy – trưởng bộ phận nhân sự làng Quốc tế Hướng Dương, Ông Phạm Đức Lạc – trưởng bộ phận nhân sự khách sạn Camela, Ông  Trần Minh Tân – giám đốc nhân sự khách sạn Harbour View, Ông Nguyễn Văn Tấn – trưởng phòng Nghiệp vụ Du lịch, sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch Hải Phòng, cùng với sự động viên, khích lệ của các thầy cô giáo trong khoa Du lịch học, trường Đại học Khoa học  xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội, bạn bè, đồng nghiệp trong suốt thời gian qua./.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: Áp dụng tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993