Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ suất sinh lời của các DN hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các nhân tố tác động đến tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp ngành thủy sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
4.1. THỐNG KÊ MÔ TẢ MẪU NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được thực hiện trên mẫu với tổng số 26 doanh nghiệp thủy sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn từ 2012-2021, với mục đích phân tích các yếu tố tác động đến tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp thủy sản này. Các thống kê mô tả được tóm tắt cụ thể ở bảng sau, bao gồm giá trị trung bình, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất là độ lệch chuẩn của các biến độc lập và biến phụ thuộc.
Bảng 4-1 Bảng thống kê mô tả các biến
| Variable | Obs | Mean | Std. Dev. | Min | Max |
| ROA | 260 | -0,0361308 | 0,2977481 | -1,682234 | 1,391256 |
| X1_TTDT | 260 | 2,275718 | 16,29596 | 0,0564084 | 260 |
| X2_VQKPTHU | 260 | 8,094609 | 17,26661 | 0,0162012 | 49,77241173 |
| X3_VQKPTRA | 260 | 23,6318 | 40,24267 | -87,31581 | 321,4181 |
| X4_VQHTK | 260 | 47,9374 | 654,4058 | -6,720907 | 10553,14 |
| X5_QUYMO | 260 | 27,06789 | 1,639524 | 20,04411 | 30,44061 |
| X6_TUOI | 260 | 2,780105 | 0,5098934 | 1,609438 | 3,7612 |
| X7_TSTTHH | 260 | 1,760326 | 3,041037 | 0,0012212 | 29,40705 |
| X8_NTTTS | 260 | 1,731028 | 4,647993 | 0,0336223 | 37,37462 |
Nguồn: Trích từ phần mềm Stata 13
Kết quả bảng trên cho thấy sơ lược các biến trong mô hình, trong đó tỷ suất sinh lời có giá trị trung bình là âm 0,0361308, trong đó giá trị nhỏ nhất là âm 1,682234 và cao nhất là 1,391256. Điều này cho thấy tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp không đồng đều nhau, nguyên nhân chủ yếu khiến tỷ suất sinh lời ở mức âm là do hoạt động kinh doanh của các DN thủy sản trong giai đoạn nghiên cứu chưa thật sự hiệu quả. Phần lớn các DN có lợi nhuận sau thuế âm, như Công ty Cổ phần Công nghiệp thủy sản (SCO), Công ty cổ phần Việt An (AVF), Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản An Giang (AGF), các DN này có mức âm liên tục qua các năm trong giai đoạn 2012-2021 mà nguyên nhân chủ yếu là do chi phí mà DN bỏ ra cho hoạt động sản xuất, hoạt động bảo quản. Mặc dù hiện nay Nhà nước cũng đã có các chính sách hỗ trợ các DN như ưu đãi thuế, mở rộng thị trường xuất khẩu và chất lượng các sản phẩm thủy sản cũng được được nâng cao nhưng những sự nỗ lực, cải thiện này chưa thật sự có hiệu quả.
Cụ thể, tỷ lệ tăng trưởng doanh thu bình quân của các doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu có giá trị trung bình là 2,275718 cho thấy các doanh nghiệp hoạt động ổn định, vẫn có nguồn thu để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Tăng trưởng doanh thu trong giai đoạn này tăng thấp nhất là 0,0564084 và tăng cao nhất là 260, điều này cho thấy sự tăng giảm của DN không đồng đều của các DN. Dù các chính sách giúp các DN gia tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh nhưng năng lực và định hướng hoạt động của mỗi DN là khác nhau, do đó sự khác biệt về mức độ tăng trưởng doanh thu là điều dễ hiểu.
Số vòng quay khoản phải thu của các doanh nghiệp thủy sản dao động trong khoảng giá trị thấp nhất là 0,0564084 và cao nhất là 49,77241173; trong đó giá trị trung bình là 8,094609. Điều này cũng cho thấy sự quản trị các khoản phải thu của các DN ngành thủy sản cũng khác nhau, tùy vào khả năng tài chính và các mối quan hệ giao dịch, một phần phụ thuộc vào năng lực của nhà quản lý khi ra quyết định mua – bán với tình trạng bị chiếm dụng vốn.
Vòng quay khoản phải trả của các doanh nghiệp có giá trị trung bình là 23,6318; giá trị thấp nhất là -87,31581 và giá trị cao nhất là 321,4181. Chỉ tiêu này cho thấy mức độ DN thủy sản chiếm dụng vốn của các nhà cung cấp. Khoản phải trả của các DN thủy sản trong giai đoạn này chủ yếu là trả cho nhà cung cấp nguyên liệu đầu vào quy trình sản xuất sản phẩm, hoặc nhà cung cấp các sản phầm phục vụ hoạt động bảo quản, xuất khẩu sản phẩm xuất khẩu. Giá trị vòng quay khoản phải trả cao nhất là Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản Năm Căn, cho thấy DN này quản trị tốt các khoản phải trả, thanh toán các khoản phải trả cho nhà cung cấp đúng thời hạn. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ suất sinh lời của các DN.
Vòng quay hàng tồn kho của các doanh nghiệp thủy sản trong mẫu nghiên cứu có giá trị trung bình là 47,9374; giá trị cao nhất là 10553,14 và giá trị thấp nhất là -6,720907.
Hàng tồn kho của các DN thủy sản trong giai đoạn này không đồng đều, đa số DN có lượng hàng tồn kho rất cao, nhưng bên cạnh đó vẫn có một số DN không có hàng tồn kho qua nhiều năm như Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản Sài Gòn, nếu có thì hàng tồn kho chủ yếu là hàng mua đang đi trên đường. Có thể nói các DN thủy sản trong giai đoạn này có các chính sách hoạt động và quản lý khác nhau đáng kể.
Bảng thống kê mô tả cho thấy quy mô của các doanh nghiệp dao động ở mức 20,04411 đến 30,44061; quy mô có giá trị trung bình là 27,06789 cho thấy không có sự khác biệt lớn về quy mô của các DN thủy sản tại Việt Nam. Quy mô DN trong dữ liệu nghiên cứu được tác giả tính bằng logarit tự nhiên của tổng tài sản, giá trị trung bình bình không chênh lệch nhiều so với giá trị lớn nhất và giá trị nhỏ nhất cho thấy chính sách đầu tư của Nhà nước đều tiếp cận đến từng DN, các DN đều nỗ lực mở rộng quy mô, đầu tư nhiều vào tài sản, trang thiết bị nhằm tạo được điều kiện thuận lợi hơn cho quá trình sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu thủy sản của DN mình.
4.2. KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG MÔ HÌNH VÀ CÁC KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH
4.2.1 Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình
Phân tích ma trận tương quan chỉ ra mối quan hệ giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc, giữa các biến độc lập với nhau. Hệ số tương quan này biến thiên từ khoảng -1 đến 1. Mô hình tương quan của các DN ngành thủy sản có kết qủa như sau:
Bảng 4-2 Bảng ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình
| ROA | X1_TTDT | X2_VQKP THU | X3_VQKP TRA | X4_VQ HTK | X5_QUY MO | X6_TUOI | X7_TS TTHH | X8_NT TTS | |
| ROA | 1 | ||||||||
| X1_TTDT | 0,017 | 1 | |||||||
| X2_VQKPTHU | -0,0453 | 0,0814 | 1 | ||||||
| X3_VQKPTRA | 0,1453 | -0,0383 | 0,3298 | 1 | |||||
| X4_VQHTK | -0,0016 | -0,0194 | -0,0482 | -0,0297 | 1 | ||||
| X5_QUYMO | 0,3413 | -0,0371 | -0,1753 | -0,0897 | -0,0138 | 1 | |||
| X6_TUOI | 0,0197 | -0,0036 | 0,142 | 0,1024 | 0,0364 | -0,1393 | 1 | ||
| X7_TSTTHH | 0,1282 | -0,0249 | -0,0083 | 0,1445 | 0,0533 | -0,0229 | 0,0061 | 1 | |
| X8_NTTTS | -0,6755 | -0,0357 | 0,1643 | -0,1481 | 0,0004 | -0,4005 | 0,0323 | -0,1632 | 1 |
Nguồn: Trích từ phần mềm Stata 13 Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ suất sinh lời của các DN.
Dựa vào kết quả trên, ta có thể kết luận mối tương quan giữa các biến độc lập như sau:
Nhìn chung hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình nằm ở mức khá thấp, dưới 0.3, thấp nhất là hệ số tương qua giữa cặp biến Tuổi (X6_TUOI) và Tỉ số thanh toán hiện hành của doanh nghiệp (X7_TSTTHH) ở mức 0,0061. Kết quả mô hình cũng cho thấy có các cặp biến Vòng quay khoản phải trả (X3_VQKPT) và Vòng quay khoản phải thu (X2_VQKPT) có hệ số tương quan là 0,3298 ở mức tương quan trung bình.
Từ kết quả bảng trên có thể kết luận rằng các biến trong mô hình có sự tương quan với nhau, các hệ số ở mức xấp xỉ và dưới 0,8 (theo chuẩn so sánh theo Farra & Glauber 1967) nên mô hình không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng. Bảng kết quả trên cũng cho thấy các biến X2_VQKPT, X4_VQHTK và X8_NTTTS tác động ngược chiều, trong khi các biến còn lại có tác động cùng chiều với biến ROA.
4.2.2 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ suất sinh lời của các DN.
Để kết quả phân tích định lượng của mô hình có ý nghĩa hơn và để xác định các biến độc lập có mối quan hệ tương quan rất mạnh nếu xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến, chỉ tiêu VIF dùng để kiểm định giả thuyết mô hình bị hiện tượng đa cộng tuyến. Nếu hệ số VIF này lớn hơn 10 sẽ xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến (Field, 2000).
Kết quả kiểm định nhân tử phóng đại phương sai như sau:
Bảng 4-3 Kết quả kiểm định nhân tử phóng đại phương sai
| Variable | VIF | 1/VIF |
| X8_NTTTS | 1,33 | 0,75344 |
| X5_QUYMO | 1,26 | 0,7938 |
| X3_VQKPTRA | 1,23 | 0,815679 |
| X2_VQKPTHU | 1,22 | 0,82045 |
| X7_TSTTHH | 1,06 | 0,947784 |
| X6_TUOI | 1,04 | 0,960585 |
| X1_TTDT | 1,02 | 0,979714 |
| X4_VQHTK | 1,01 | 0,991784 |
| Mean VIF | 1,14 |
Nguồn: Trích xuất từ phần mềm Stata
Kết quả bảng trên cho thấy không có hệ số VIF của biến nào vượt quá 10 và VIF đạt giá trị trung bình là 1,14. Điều này cho thấy mô hình không có hiện tượng đa cộng tuyến và không ảnh hưởng đến kết quả hồi quy mô hình.
4.2.2.1. Hồi quy mô hình Pool PLS, FEM, REM
Tác giả thực hiện hồi quy dữ liệu nghiên cứu theo 3 mô hình Pooled OLS, FEM (mô hình tác động cố định), REM (mô hình tác động ngẫu nhiên). Sau khi tổng hợp được kết quả từ 3 mô hình, tác giả thực hiện so sánh để lựa chọn mô hình phù hợp. Bằng kiểm định Hausman Test tác giả lựa chọn giữa FEM và REM, kiểm định F-test để lựa chọn giữa Pooled OLS và REM.
- Mô hình hồi quy Pool OLS Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ suất sinh lời của các DN.
Mô hình hồi quy được thực hiện với biến phụ thuộc là biến ROA với các biến độc lập với kết quả được trình bày dưới bảng sau:
Bảng 4-4 Kết quả mô hình hồi quy Pool OLS
| ROA | Coef. | Std. Err. | t | P>t | [95% Conf. | Interval] |
| X1_TTDT | -0,00047 | 0,004565 | -0,1 | 0,917 | -0,00946 | 0,008517 |
| X2_VQKPTHU | 0,002517 | 0,002065 | 1,22 | 0,224 | -0,00155 | 0,006584 |
| X3_VQKPTRA | 0,000241 | 0,000376 | 0,64 | 0,523 | -0,0005 | 0,000981 |
| X4_VQHTK | 5,32E-07 | 0,000021 | 0,03 | 0,98 | -4,1E-05 | 4,18E-05 |
| X5_QUYMO | 0,019358 | 0,009353 | 2,07 | 0,04 | 0,000937 | 0,037778 |
| X6_TUOI | 0,024979 | 0,027339 | 0,91 | 0,362 | -0,02886 | 0,078821 |
| X7_TSTTHH | 0,002177 | 0,004615 | 0,47 | 0,637 | -0,00691 | 0,011266 |
| X8_NTTTS | -0,04074 | 0,003386 | -12,03 | 0,00 | -0,04741 | -0,03407 |
| _cons | -0,58589 | 0,277998 | -2,11 | 0,036 | -1,13339 | -0,03838 |
Nguồn: Trích xuất từ phần mềm Stata
Dựa vào cột P > t, nếu chỉ số này nhỏ hơn 0.05 thì biến được nghiên cứu có tác động đến biến phụ thuộc. Kết quả bảng 4-5 cho thấy các biến X5_QUYMO (Quy mô của DN) và X8_NTTTS (Tỷ lệ Nợ/Tổng tài sản hay chỉ số thể hiện mức độ DN dùng Nợ để tài trợ cho tài sản) có P > t nhỏ hơn 0,05 nên các biến này có tác động đến tỷ suất sinh lời ROA. Các biến còn lại trong mô hình là X1_TTDT (tỷ lệ tăng trưởng doanh thu), X2_VQKPTHU (Vòng quay khoản phải thu) , X3_VQKPTRA (Vòng quay khoản phải trả), X4_VQHTK (Vòng quay hàng tồn kho), X6_TUOI (Tuổi DN) , X7_TSTTHH (Tỷ số thanh toán hiện hành) có P > t lần lượt là 0,917; 0,224; 0,523; 0,98; 0,362; 0,637 cho thấy các biến này không có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 10% hay các chỉ tiêu này không có tác động đến biến phụ thuộc là tỷ suất sinh lời ROA của DN.
Về mức độ phù hợp, mô hình có hệ số xác định R – squared là 47,15% cho thấy mô hình giải thích được 47,15% bộ dữ liệu. Mô hình hồi quy theo phương pháp Pool PLS được viết lại như sau: ROA = – 0,58589 + 0,019358QUY MO – 0,04074NTTTS
Mô hình hồi quy tác động cố định (FEM):
Bảng 4-5 Kết quả hồi quy mô hình FEM
| ROA | Coef. | Std. Err. | t | P>t | [95% Conf. | Interval] |
| X1_TTDT | 0,000847 | 0,004726 | 0,18 | 0,858 | -0,00847 | 0,01016 |
| X2_VQKPTHU | 0,002627 | 0,00272 | 0,97 | 0,335 | -0,00273 | 0,007987 |
| X3_VQKPTRA | 0,000381 | 0,000479 | 0,8 | 0,427 | -0,00056 | 0,001325 |
| X4_VQHTK | 3,54E-06 | 2,17E-05 | 0,16 | 0,87 | -3,9E-05 | 4,63E-05 |
| X5_QUYMO | 0,068408 | 0,026763 | 2,56 | 0,011 | 0,015671 | 0,121144 |
| X6_TUOI | 0,01097 | 0,065792 | 0,17 | 0,868 | -0,11867 | 0,140613 |
| X7_TSTTHH | 0,001899 | 0,007702 | 0,25 | 0,806 | -0,01328 | 0,017077 |
| X8_NTTTS | -0,02348 | 0,005776 | -4,06 | 0 | -0,03486 | -0,0121 |
| _cons | -1,90997 | 0,741802 | -2,57 | 0,011 | -3,3717 | -0,44824 |
Nguồn: Trích từ phần mềm Stata Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ suất sinh lời của các DN.
Kết quả mô hình hồi quy theo phương pháp tác động cố định FEM có kết quả số lượng biến tác động tương đồng với mô hình hồi quy Pool PLS, có 2 biến có tác động đến tỷ suất sinh lời là X5_QUYMO (Quy mô DN) và X8_NTTTS (tỷ lệ nợ/tổng tài sản), trong đó quy mô của DN tác động cùng chiều với tỷ suất sinh lời trong khi DN tài trợ cho tài sản bằng nợ sẽ làm giảm tỷ suất sinh lời của DN. Với hệ số xác định là 38,46% cho thấy mô hình giải thích được 38,46% bộ dữ liệu. Mô hình hồi quy tác động cố định FEM được viết lại cụ thể như sau: ROA = – 1,909968 + 0,0684079QUY MO – 0,023479NTTTS
Mô hình hồi quy tác động ngẫu nhiên (REM):
Bảng 4-6Kết quả hồi quy mô hình REM
| ROA | Coef. | Std. Err. | z | P>z | [95% Conf. | Interval] |
| X1_TTDT | -0,00047 | 0,004565 | -0,1 | 0,917 | -0,00942 | 0,008474 |
| X2_VQKPTHU | 0,002517 | 0,002065 | 1,22 | 0,223 | -0,00153 | 0,006564 |
| X3_VQKPTRA | 0,000241 | 0,000376 | 0,64 | 0,522 | -0,0005 | 0,000978 |
| X4_VQHTK | 5,32E-07 | 0,000021 | 0,03 | 0,98 | -4,1E-05 | 4,16E-05 |
| X5_QUYMO | 0,019358 | 0,009353 | 2,07 | 0,038 | 0,001026 | 0,037689 |
| X6_TUOI | 0,024979 | 0,027339 | 0,91 | 0,361 | -0,0286 | 0,078562 |
| X7_TSTTHH | 0,002177 | 0,004615 | 0,47 | 0,637 | -0,00687 | 0,011222 |
| X8_NTTTS | -0,04074 | 0,003386 | -12,03 | 0 | -0,04738 | -0,03411 |
| _cons | -0,58589 | 0,277998 | -2,11 | 0,035 | -1,13075 | -0,04102 |
Nguồn: Trích từ phần mềm Stata
Kết quả của mô hình tác động cố định REM gần giống với mô hình Pooled OLS và FEM về số lượng biến và chiều hướng tác động của các biến, có 2 biến tác động đến biến phụ thuộc là Quy mô của DN và Tỷ lệ nợ trên tổng tài sản với hệ số tác động lần lượt là 0,0193576 và – 0,0407435 ở mức ý nghĩa 5%. Đồng thời hệ số xác định Rsquared của mô hình này cũng tương đương với hệ số xác định của mô hình hồi quy Pool OLS là 47,15% cho thấy mức độ giải thích của mô hình Pool OLS và REM có điểm tương đồng.
Mô hình hồi quy theo phương pháp tác động ngẫu nhiên REM được viết lại như sau:
ROA = – 0,5858868 + 0,0193576QUY MO – 0,0407435NTTTS
4.2.2.2. So sánh giữa các mô hình hồi quy Pooled OLS, FEM, REM
Để kiểm định giả thiết về các hệ số hồi quy nhằm đưa ra biến phù hợp và có ý nghĩa thống kê của mô hình, tác giả sử dụng phương pháp giá trị p-value.
H0: Các biến độc lập không ảnh hưởng hay tác động lên biến phụ thuộc là tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) hoặc tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE). Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ suất sinh lời của các DN.
H1: Một trong các biến độc lập ảnh hưởng hay tác động lên biến phụ thuộc. Nếu P-value = P (|t| > t0) < α = 10%: bác bỏ giả thuyết H0. Ngược lại sẽ chấp nhận giả thuyết H0 tức những biến này không có ý nghĩa thống kê hay tác động đến biến phụ thuộc.
Sau khi thực hiện hồi quy 3 mô hình, tác giả so sánh để lựa chọn ra mô hình phù hợp nhất để nghiên cứu các nhân tố tác động đến tỷ suất sinh lời ROA của các DN thủy sản.
Bảng 4-7 Bảng tổng hợp kết quả hồi quy 3 mô hình
| Mô hình | Pool OLS | FEM | REM | |
| X1_TTDT | β1 | -0,0004734 | 0,0008473 | -0,0004734 |
| P – value | 0,917 | 0,858 | 0,917 | |
| X2_VQKPTHU | β2 | 0,0025165 | 0,0026269 | 0,0025165 |
| P – value | 0,224 | 0,335 | 0,223 | |
| X3_VQKPTRA | β3 | 0,0002407 | 0,0003811 | 0,0002407 |
| P – value | 0,523 | 0,427 | 0,522 | |
| X4_VQHTK | β4 | 5,32E-07 | 3,54e-06 | 5,32e-07 |
| P – value | 0,980 | 0,870 | 0,980 | |
| X5_QUYMO | β5 | 0,0193576 | 0,068079 | 0,0193576 |
| P – value | 0,040 | 0,011 | 0,038 | |
| X6_TUOI | β6 | 0,0249792 | 0,0109695 | 0,249792 |
| P – value | 0,362 | 0,868 | 0,361 | |
| X7-TSTTHH | β7 | 0,0021774 | -0,0234791 | 0,0021774 |
| P – value | 0,637 | 0,806 | 0,637 | |
| X8_NTTTS | β8 | -0,0407435 | -0,0234791 | -0,0407435 |
| P – value | 0,000 | 0,000 | 0,000 | |
| Hệ số tự do | β0 | -0,5858868 | -1,909968 | -0,5858868 |
| P – value | 0,036 | 0,011 | 0,035 | |
| R-squared = 0,4715 Adj R-squared = 0,4547 | R-sq: within = 0,2183 between = 0,6179 overall = 0,3846 | R-sq: within = 0,2041 between = 0,8945 overall = 0,4715 |
Nguồn: Trích xuất từ phần mềm Stata Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ suất sinh lời của các DN.
Bảng 4-7 trình bày tóm tắt kết quả hồi quy theo 3 phương pháp ước lượng mô hình là Pool OLS, FEM và REM. Theo phương pháp Pool OLS, hệ số xác định R-squared là 47,15%, có 2 biến tác động đến ROA với mức ý nghĩa 0,05 là biến X5_QUYMO và X8_NTTTS, trong đó biến X5_QUYMO có tác động cùng chiều và biến X8_NTTTS có tác động ngược chiều với ROA, các biến còn lại trong mô hình không ảnh hưởng đến ROA của DN thủy sản trong giai đoạn nghiên cứu. Đối với phương pháp ước lượng theo mô hình FEM, hệ số xác định R-squared là 38,46%, tương tự như Pool OLS, cũng có 2 biến là X5_QUY MO và X8_NTTTS có tác động đến ROA, X5_QUYMO tác động cùng chiều và biến còn lại tác động ngược chiều. Tương tự, đối với mô hình REM cũng có 2 biến X5_QUYMO tác động cùng chiều và biến X8_NTTTS tác động ngược chiều với ROA, mô hình này có hệ số xác định R-squared là 47,15%. Nhìn chung cả 3 mô hình này có sự tương đồng về hệ số xác định, số lượng biến độc lập tác động (2 biến là X5_QUYMO và X8_NTTTS), chiều hướng tác động của biến độc lập (X5_QUYMO tác động cùng chiều, X8_NTTTS tác động ngược chiều) đối với biến phụ thuộc là ROA. Trong 3 mô hình này thì mô hình Pool OLS và REM có hệ số xác định R-squared lớn hơn, có nghĩa 2 mô hình này giải thích được 47,15% tác động của các yếu tố đến khả năng sinh lời của các DN thủy sản. Đối với những trường hợp các mô hình tương tự như vậy thì cần phải thực hiện lựa chọn mô hình và kiểm định mô hình sau khi lựa chọn để đảm bảo tính vững, không chệch và hiệu quả.
Kiểm định lựa chọn mô hình
Kiểm định Hausman
Kiểm định Hausman dùng để so sánh giữa 2 mô hình FEM và REM có sự khác biệt và đưa ra sự lựa chọn mô hình phù hợp trong hai mô hình này. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ suất sinh lời của các DN.
Kiểm định Hausman được thực hiện với giả thiết:
- H0: lựa chọn mô hình REM phù hợp hơn
- H1: lựa chọn mô hình FEM phù hợp hơn
Kết quả kiểm định cho thấy Chi- square là 24,51 và Prob > F = 0,009 (nhỏ hơn 0,05). Như vậy, với mức ý nghĩa 5%, ta bác bỏ giả thiết H0, kết luận rằng mô hình FEM phù hợp hơn. (1)
Kiểm định F – test lựa chọn Pool PLS và FEM
Để lựa chọn giữa mô hình Pool OLS và FEM, ta sử dụng kiểm định F-test với giả thiết:
- H0: Mô hình Pool PLS phù hợp
- H1: Mô hình FEM phù hợp
Kết quả kiểm định F – test cho thấy F(25, 226) = 1,43, Prob > F = 0,0926 (lớn hơn 0,05) do đó chấp nhận giả thiết H0 => mô hình Pooled OLS phù hợp hơn mô hình FEM.(2)
Từ (1) và (2) đề tài kết luận mô hình hồi quy ước lượng bình phương bé nhất Pooled OLS là mô hình phù hợp để nghiên cứu các nhân tố tác động đến khả năng sinh lời của các DN ngành thủy sản, đại diện là biến ROA.
4.2.2.3. Kiểm định phương sai sai số thay đổi và tự tương quan
Kết quả kiểm định phương sai sai số thay đổi và kiểm định tự tương quan được trình bày trong bảng 3-10:
Bảng 4-8 Bảng kết quả kiểm định tự tương quan và phương sai sai số thay đổi của mô hình
| Mẫu | Kết quả kiểm tra phương sai
Giả thiết kiểm định: Ho: Phương sai thuần nhất |
Kết quả kiểm tra tự tương quan
Giả thiết kiểm định: Ho: Không có tự tương quan bậc nhất |
| DN thủy sản Khả năng sinh lời (ROA) | Kết quả kiểm định: chi2 (1) = 343,80 Prob > chi2 = 0,000 | Kết quả kiểm định: F(1, 25) = 1,850 Prob > F = 0,1860 |
| Kết luận: Với mức ý nghĩa 5%, mô hình xảy ra hiện tượng phương sai của sai số thay đổi | Kết luận: Với mức ý nghĩa 5%, mô hình không có sự tự tương quan |
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Stata Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ suất sinh lời của các DN.
Như vậy, sau khi kiểm tra khuyết tật mô hình bằng kiểm định Breusch-Pagan (kiểm định phương sai sai số thay đổi) và Wooldridge (kiểm định hiện tượng tự tương quan), mô hình có hiện tượng phương sai sai số thay đổi cần phải khắc phục. Để giải quyết khuyết tật này, tác giả dùng phương pháp FGLS – bình phương bé nhất tổng quát khả thi, để đảm bảo các ước lượng thu được bằng phương pháp hồi quy có hiệu quả và đáng tin cậy.
4.2.2.4. Kiểm định bằng phương pháp bình phương bé nhất tổng quát khả thi – FGLS
Sau khi sử dụng phương pháp khắc phục khuyết tật của mô hình cho thấy Prob = 0.0000 nên mô hình có mức ý nghĩa ở mức 1%, kết quả như sau:
Bảng 4-9 Kết quả kiểm định phương pháp bình phương bé nhất FGLS
| ROA | Coef. | Std. Err. | z | P>z | [95% Conf. | Interval] |
| X1_TTDT | 0,001169 | 0,0019 | 0,6 | 0,54 | -0,00255 | 0,00489 |
| X2_VQKPTHU | 0,0030591 | 0,0006938 | 4,41 | 0,69 | 0,0016992 | 0,004419 |
| X3_VQKPTRA | 0,000156 | 5,9E-05 | 2,7 | 0,01 | 0,000041 | 0,00027 |
| X4_VQHTK | -4,80E-08 | 4,48E-06 | -0 | 0,99 | -8,83E-06 | 8,73E-06 |
| X5_QUYMO | 0,00848 | 0,00242 | 3,5 | 0,00 | 0,003742 | 0,01322 |
| X6_TUOI | 0,002168 | 0,00384 | 0,6 | 0,57 | -0,00536 | 0,0097 |
| X7_TSTTHH | 2,43E-05 | 0,00178 | 0 | 0,99 | -0,00346 | 0,00351 |
| X8_NTTTS | -0,05181 | 0,00539 | -9,6 | 0,00 | -0,06238 | -0,0412 |
| _cons | -0,18605 | 0,06621 | -2,8 | 0,01 | -0,31582 | -0,0563 |
Nguồn: Trích xuất từ Stata 13
Mô hình được khắc phục khuyết tật được thể hiện trong bảng 3-11 cho thấy tại mức ý nghĩa 5%, các nhân tố tác động đến biến phụ thuộc ROA là X3_VQKPTRA,
X5_QUYMO, X8_NTTTS, trong đó biến Vòng quay khoản phải trả và Quy mô tác động cùng chiều, ngược lại Tỷ lệ Nợ/Tổng tài sản của DN có tác động ngược chiều với Tỷ suất sinh lời ROA của DN thủy sản.
Mô hình hồi quy cụ thể được viết lại như sau: ROA = – 0,18605 + 0,000156VQKPTRA + 0,00848QUY MO – 0,05181NTTTS
Biến VQKPTRA tác động cùng chiều đến ROA và có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 1% (P>|z|=0,001 <1%). Điều này đồng nghĩa với việc khi biến Vòng quay khoản phải trả tăng lên 1% sẽ làm ROA tăng 0,000156.
Biến QUYMO tác động cùng chiều đến ROA và có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 1% (P>|z|=0,0000 <1%). Điều này đồng nghĩa với việc khi biến quy mô DN thủy sản tăng lên 1% sẽ làm ROA tăng 0,00848.
Biến NTTTS tác động cùng ngược chiều đến ROA và có ý nghĩa thống kế với mức ý nghĩa 1% (P>|z|=0,0000 <1%). Điều này đồng nghĩa với việc khi biến Tỷ lệ Nợ/Tổng tài sản tăng lên 1% sẽ làm ROA giảm 0,05181.
Các biến còn lại được nghiên cứu theo dữ liệu thu thập được trong mô hình không có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5% (P-value > 5%), hay nói cách khác là các biến này không tác động đến ROA của các DN thủy sản trong giai đoạn nghiên cứu.
Bảng 4-10 Bảng tổng hợp các kết quả kiểm định Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ suất sinh lời của các DN.
| Biến độc lập | Giả thiết | Kết quả |
| TTDT | Tỷ lệ tăng trưởng doanh thu có tác động hai chiều đến TSSL của DN thủy sản (+/-) | Không có ý nghĩa thống kê |
| VQKPTHU | Vòng quay khoản phải thu có tác động hai chiều đến TSSL của DN thủy sản (+/-) | Không có ý nghĩa thống kê |
| VQKPTRA | Vòng quay khoản phải trả có tác động cùng chiều đến TSSL của DN thủy sản (+) | + |
| VQHTK | Vòng quay hàng tồn kho có tác động cùng chiều đến TSSL của DN thủy sản | Không có ý nghĩa thống kê |
| QUYMO | Quy mô DN có tác động hai chiều đến TSSL của DN thủy sản (-) | + |
| TUOI | Tuổi DN có tác động hai chiều đến TSSL của DN thủy sản (+/-) | Không có ý nghĩa thống kê |
| TSTTHH | Tỷ số thanh toán hiện hành có tác động cùng chiều đến TSSL của DN thủy sản (+) | Không có ý nghĩa thống kê |
| NTTTS | Tỷ lệ Nợ/Tổng tài sản có tác động ngược chiều đến TSSL của DN thủy sản (+) | – |
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ mô hình FGLS
4.3. CÁC BIẾN CÓ Ý NGHĨA THỐNG KÊ Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ suất sinh lời của các DN.
4.3.1 Vòng quay khoản phải trả của DN (VQKPTRA)
Kết quả từ mô hình hồi quy FGLS cho thấy Vòng quay khoản phải trả có tác động cùng chiều đến tỷ suất sinh lời ROA của các DN thủy sản với độ tin cậy 99%. Hệ số hồi quy của biến Vòng quay khoản phải trả là 0,000156; điều này có nghĩa là khi các yếu tố khác không đổi, Vòng quay khoản phải trả của DN tăng lên 1% thì tỷ suất sinh lời của DN tăng lên 0,000156 và ngược lại. Đây là nhân tố tuy có tác động tích cực đến ROA của DN thủy sản nhưng mức tác động yếu. Kết quả nghiên cứu này tương đồng với nghiên cứu của Hian Agha (2014), Asif Iqbal& Wang Zhuquan (2015) khi cho rằng nếu các DN thanh toán các khoản nợ, các khoản phải trả cho nhà cung cấp kịp thời và đúng hạn, thì sẽ làm tăng tỷ suất sinh lời của DN, bên cạnh đó DN còn được hưởng các ưu đãi, chiết khấu, làm tăng mức độ tín nhiệm của mình. Các DN thủy sản tại Việt Nam hiện nay khi thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh đặc biệt là các DN lớn, DN xuất khẩu thì họ thường tham gia vào nhiều chuỗi cung ứng. Các nhà cung cấp nguyên li u đầu vào cho các DN, các tổ chức cung cấp tín dụng, các nhà phân phối, bán lẻ các sản phẩm đầu ra của ngành thủy sản. Chỉ tiêu Nợ phải trả trên tổng tài sản của các DN thủy sản trong giai đoạn nghiên cứu chiếm một tỷ lệ rất cao lên đến hơn 70% (tác giả tổng hợp từ BCTC đã kiểm toán), cho thấy các DN đang áp dụng chính sách đòn bẩy và chiếm dụng vốn của nhà cung cấp. Điều này cũng cho thấy khả năng trả nợ của các DN chưa được tốt, vẫn còn duy trì một tỷ lệ nợ phải trả cao và nếu không kiểm soát tốt có thể gây tổn thất cho DN.
4.3.2 Quy mô DN (QUYMO) Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ suất sinh lời của các DN.
Với độ tin cậy lên đến 99%, một nhân tố tác động đến tỷ suất sinh lời của DN thủy sản trong giai đoạn nghiên cứu là quy mô của DN, quy mô được đo lường bằng logarit tự nhiên của tổng tài sản. Mô hình nghiên cứu cho thấy khi các yếu tố khác không đổi thì khi quy mô DN tăng lên 1% thì sẽ làm tỷ suất sinh lời của DN tăng lên 0,00848 và ngược lại. Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu của Mesut Dogan (2013), Ali Saleh Alarussi, Sami Mohammed Alhaderi (2018) khi cho rằng quy mô của DN càng lớn thì có khả năng làm tăng tỷ suất sinh lời của DN. Trên thực tế hiện nay các DN có quy mô lớn thường là các DN do có nguồn lực về tài chính, nhân lực tốt, tình trạng kinh doanh tốt và mở rộng đầu tư. Các DN này thường có lợi thế về thông tin so với các DN nhỏ hơn, việc thông tin bất cân xứng này giúp rất nhiều cho các DN lớn trong việc cạnh trạnh. Bên cạnh đó, các DN có quy mô lớn dễ dàng tiếp cận nguồn vốn vay hơn do có uy tín trên thị trường, hoạt động kinh doanh tốt, có thể hoàn thành các nghĩa vụ nợ. Một phần do yếu tố tâm lý người cho vay thường sẽ ưu tiên các DN có quy mô lớn do các DN này có nhiều tài sản đảm bảo, có nhiều tiềm năng hơn trong việc thu hồi vốn. Việc sử dụng nợ vay cũng chính là một trong các phương pháp để làm giảm chi phí đại diện giữa người quản lý và cổ đông, chính điều này giúp cho việc giám sát của các chủ sở hữu đối với nhà quản lý tốt hơn. Mặc khác, các DN quy mô lớn có nhiều cơ hội hơn trong việc đầu tư khai thác vào các lĩnh vực ngoài lĩnh vực lõi. Hiện nay trên thị trường, có rất nhiều DN có sự đa dạng hóa lĩnh vực đầu tư, được nhiều người biết tới và các DN này thường có nhiều hoạt động phúc lợi xã hội. Các DN thủy sản tại Việt Nam hiện nay có quy mô tương đối đồng đều và lớn, tuy nhiên việc mở rộng quy mô tạo ra áp lực tài chính, quy mô càng rộng thì tỷ lệ nợ phải trả càng cao và khiến các DN phụ thuộc vào các khoản nợ. điều này có thể lý giải một phần nguyên nhân vì sao các DN thủy sản hi n nay đang duy trì một tỷ lệ nợ phải trả khá cao.
4.3.3 Tỷ lệ Nợ/Tổng tài sản DN (NTTTS)
Biến duy nhất trong mô hình nghiên cứu có tác động theo chiều hướng ngược chiều đến tỷ suất sinh lời của DN là Tỷ lệ Nợ/Tổng tài sản. Với độ tin cậy 99%, khi các yếu tố khác trong mô hình không thay đổi thì khi Tỷ lệ Nợ/Tổng tài sản của DN tăng lên 1% thì tỷ suất sinh lời ROA của DN giảm 0,05181 và ngược lại. Đây là một trong những yếu tố có mức tác động mạnh đến tỷ suất sinh lời của các DN thủy sản trong giai đoạn nghiên cứu. Chỉ tiêu Nợ được tác giả xem xét trong bài nghiên cứu này là tổng nợ của DN, bao gồm cả nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. Kết quả nghiên cứu này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Mohamed M. Tailab (2014), Paul Aondona Angahar và Agbo Alematu (2014), Tharshiga Murugesu (2013) và Hoàng Tùng (2016), cho thấy các DN dù ở bất kỳ ngành nào thì việc sử dụng nợ quá nhiều không mang lại kết quả tích cực.
Việc sử nợ vay có thể giúp cho DN hưởng lợi từ lá chắn thuế, giảm chi phí đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng cũng mang lại nhiều bất cập. Nhìn vào báo cáo tài chính của DN, chỉ số nợ vay quá cao cũng khiến cho các nhà đầu tư e ngại, do phần lớn tài sản của DN được tài trợ bằng nợ, DN cũng không có khả năng trả nợ bằng tài sản đảm bảo, những điều này cũng làm ảnh hưởng nhiều đến uy tín, xếp hạng tín nhiệm của DN.
4.4. CÁC BIẾN KHÔNG CÓ Ý NGHĨA THỐNG KÊ
4.4.1 Tỷ lệ tăng trưởng doanh thu (TTDT)
Kết quả mô hình từ bảng tổng hợp cho thấy tỷ lệ tăng trưởng doanh thu của các DN thủy sản không có tác động đến tỷ suất sinh lời, tức là khi các DN này có mức tăng trưởng doanh thu cao thì vẫn không làm tăng tỷ suất sinh lời. Có thể hiểu việc gia tăng doanh thu do các DN bỏ ra chi phí nhiều hơn, phần doanh thu tạo ra tương ứng để bù đắp cho phần chi phí đó cho nên không còn nhiều phần thặng dư, DN không có nhiều lợi nhuận. Kết quả nghiên cứu này tương tự như nghiên cứu của N.Sivathaasan và các cộng sự (2013), Noushen Tariq Bhutta, Arshad Hasan (2013) cho thấy tăng trưởng doanh thu không có mối quan hệ đến ROA.
Số liệu từ báo cáo tài chính của các DN thủy sản giai đoạn 2012-2021 cho ta thấy tốc độ tăng trưởng doanh thu bình quân của các doanh nghiệp biến động không đồng đều, tăng giảm xen kẽ qua các năm. Việc tăng trưởng doanh thu đòi hỏi các doanh nghi p phải có đủ năng lực về tài chính, nhân lực,…để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh. Doanh thu của các doanh nghiệp thủy sản phần lớn là doanh thu xuất khẩu, tuy doanh thu ở mức rất cao nhưng lợi nhuận sau thuế của các doanh nghiệp vẫn ở mức âm, điều này như đã đề cập là do chi phí nguyên liệu đầu vào tăng cao hơn so với giá bán, chi phí lưu trữ do tồn đọng hàng tồn kho, bên cạnh đó việc xuất khẩu cũng tốn thêm chi phí logistics.
Tốc độ tăng trưởng doanh thu trong giai đoạn 2012-2021 cao nhất đạt 2,8% vào năm 2020 và thấp nhất vào năm 2012 đạt 0,88%, năm 2012 là một năm có nhiều khó khăn thử thách đối với ngành thủy sản. Đến năm 2020, mặc dù bị ảnh hưởng của dịch Covid 19 ngay từ đầu quý 1 nhưng doanh thu trong năm 2020 của ngành có sự tăng vọt.
Trên thực tế khi các DN thủy sản muốn gia tăng doanh thu của mình phải tăng sự đầu tư vào quy mô hoặc gia tăng chu kỳ kinh doanh, áp dụng các biện pháp nhằm tăng số lượng hoặc nâng cao chất lượng sản phẩm xuất khẩu, các khoản chi phí cho các khoản đầu tư này rất lớn, nhất là việc đầu tư cho hoạt động khai thác, đảm bảo môi trường chế biến và bảo quản sản phẩm. Trong trường hợp DN không thể dự toán được các chi phí này hoặc chi phí này biến động đột ngột thì kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DN không hiệu quả.
4.4.2 Vòng quay khoản phải thu (VQKPTHU) Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ suất sinh lời của các DN.
Bảng tổng hợp kết quả theo mô hình FGLS cho thấy Vòng quay khoản phải thu của DN không có tác động đến tỷ suất sinh lời ROA, điều này có nghĩa là đối với các DN thủy sản, khi các nhà quản trị có chiến lược quản lý tốt các khoản phải thu của mình cũng không thể góp phần làm tăng tỷ suất sinh lời. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Paul Aondona Angahar và Agbo Alematu (2014) khi cho rằng khi các DN thu hồi các khoản nợ càng nhanh thì không làm tăng lợi nhuận của DN. Việc bị chiếm dụng vốn từ các bạn hàng hoặc từ các DN có nguồn nguyên liệu đầu vào là sản phẩm đầu ra của các DN thủy sản sẽ gây không ít thiệt hại cho các DN này, nhất là trong các trường hợp cần mở rộng quy mô, tăng số lượng sản phẩm sản xuất hoặc các trường hợp cần vốn gấp cho các dự án lớn. Tuy nghiên cứu cho kết quả không có sự ảnh hưởng nhưng điều quan trọng là các nhà quản trị cần quản lý tốt các khoản phải thu này để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, đáp ứng các nhu cầu vốn trong quá trình hoạt động của DN.
4.4.3 Vòng quay hàng tồn kho (VQHTK)
Một trong các biến không có tác động đến tỷ suất sinh lời ROA của các DN thủy sản trong bài nghiên cứu là Vòng quay hàng tồn kho, đặc điểm các DN thủy sản trong giai đoạn 2012 – 2021 là hàng tồn kho ở mức cao, tuy nhiên cũng có các DN không có hàng tồn kho qua nhiều năm như Công ty CP NTACO,… Kết quả này cho thấy khi các DN quản lý tốt lượng hàng tồn kho của mình, không để ứ đọng nhiều, các DN tiêu thụ nhanh sản phẩm mình sản xuất ra cũng không ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh. Kết quả của bài nghiên cứu này có sự khác biệt so với các nghiên cứu trước đây khi cho rằng vòng quay hàng tồn khi càng nhanh cũng không thể làm tăng lợi nhuận của DN. Trên thực tế các DN thủy sản ở Việt Nam với quy mô sản xuất lớn và liên tục nên lượng tồn kho nhiều. Bên cạnh đó việc trữ lại nhiều hàng không hẳn là xấu, các nhà quản trị thường tính toán và duy trì một mức tồn kho nhất định, các khoản này đề phòng trường hợp đơn hàng tăng đột ngột hoặc số lượng nhiều cần hoàn thành trong thời gian ngắn. Tuy vậy việc bảo quản nhiều hàng tồn kho đi đôi với chi phí bỏ ra cho việc bảo quản cũng rất lớn, do đó phần doanh thu tạo ra bù đắp nhiều cho chi phí, phần lợi nhuận còn lại không còn nhiều. Vì vậy, các nhà quản trị DN thủy sản cần có cơ chế quản lý hàng tồn kho phù hợp để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả.
4.4.4 Tuổi doanh nghiệp (TUOI)
Tuổi của DN theo nghiên cứu này được tính bằng logarit tự nhiên số năm DN thành lập cho đến giai đoạn nghiên cứu. Theo kết quả từ bảng tổng hợp 4-11 cho thấy tuổi của các DN thủy sản không có tác động đến ROA, hay nói cách khác không có bằng chứng cho thấy DN hoạt động càng lâu đời thì có tỷ suất sinh lời cao. Các DN hoạt động ở tất cả các ngành nói chung và ngành thủy sản nói riêng nếu có thời gian hoạt động lâu thì các DN này có nhiều kinh nghiệm trong hoạt động sản xuất, có nhiều mối quan hệ và chứng tỏ DN có đủ năng lực, kinh nghiệm và tài chính để duy trì DN cũng như duy trì hoạt động kinh doanh. Kết quả này tương đồng với kết quả trong nghiên cứu của Abate Gashow Ayele (2012) và nghiên cứu của Farah Margaretha và các cộng sự (2016) khi cho rằng DN hoạt động lâu đời không có nghĩa rằng DN đó có lợi nhuận cao.
4.4.5 Tỷ số thanh toán hiện hành (TTHH) Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ suất sinh lời của các DN.
Tỷ số thanh toán hiện hành cũng là một trong các nhân tố không có tác động đến tỷ suất sinh lời ROA của các DN thủy sản. Chỉ số này trong nghiên cứu của Hina Agha (2014), N. Sivathaasan và các cộng sự (2013) cũng không có ảnh hưởng đến ROA, cho thấy khi các DN có khả năng đáp ứng nghĩa vụ tài chính trong ngắn hạn cũng không thể làm tăng lợi nhuận của mình, điều này chỉ có thể chứng minh sức khỏe tài chính của DN. Khi các DN có thể hoàn thành các nghĩa vụ nợ trong ngắn hạn hoặc doanh nghiệp giữ được cân đối cấu trúc tài sản, vốn ngắn hạn và dài hạn thì điều này có thể giúp DN tăng mức độ xếp hạng tín nhiệm, tăng uy tín của DN, giúp DN nâng cao năng lực cạnh tranh và có nhiều cơ hội tiếp xúc các nguồn vốn vay dễ dàng hơn.
4.5. KẾT LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỜI CỦA DN THỦY SẢN
Nghiên cứu được thực hiện để đánh giá các nhân tố tác động đến tỷ suất sinh lời của các DN ngành thủy sản, với mẫu nghiên cứu là 26 DN được niêm yết trên các sàn giao dịch Hose, HNX, Upcom,…trong giai đoạn 2012 – 2021. Các DN thủy sản trong giai đoạn này có các điểm nổi bật đa số có chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế âm, điều này cho thấy các DN đang bỏ ra mức chi phí cao cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, bên cạnh đó có các DN có hệ số Nợ cao gấp nhiều lần so với tổng tài sản của DN, do đó đề tài nghiên cứu cho thấy tỷ suất sinh lời của các DN hiện nay chủ yếu bị tác động nhiều bởi nhân tố này. Bài nghiên cứu này cũng cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm về các yếu tố tác động đến tỷ suất sinh lời của các DN ngành thủy sản tại Việt Nam nhằm giúp cho các nhà quản trị có thêm cơ sở thực tiễn những đề xuất từ bài nghiên cứu nhằm gia tăng lợi nhuận từ đó có thể cải thiện tỷ suất sinh lời của các DN này.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy Vòng quay khoản phải trả của các DN thủy sản có tác động cùng chiều đối với tỷ suất sinh lời, điều này có nghĩa là khi DN càng hoàn thành nghĩa vụ nợ càng sớm, thanh toán nợ đúng hạn thì sẽ làm tăng lên số vòng quay của các khoản nợ nay, bên cạnh việc tăng uy tín của DN còn làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả hơn, gia tăng doanh thu và từ đó có thể làm tăng tỷ suất sinh lời của DN. Về quy mô của DN, đây cũng là yếu tố tác động cùng chiều đến tỷ suất sinh lời. Khi DN hoạt động hiệu quả sẽ có cơ hội đầu tư mở rộng quy mô, đa dạng hóa lĩnh vực kinh doanh sẽ làm tăng doanh thu của DN, từ đó gia tăng tỷ suất sinh lời. Tỷ lệ Nợ trên tổng tài sản có tác động ngược chiều đến tỷ suất sinh lời, hay các DN sử dụng nhiều nợ ngoài các lợi ích được miễn giảm chi phí nhưng nếu lạm dụng nhiều có thể ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của DN.
Dựa trên những kết quả đạt được, tác giả có các đề xuất nhằm giúp cho các nhà quản trị DN thủy sản, các nhà đầu tư có những chiến lược phù hợp hơn.
Kết luận chương 4
Dựa trên dữ liệu tác giả thu thập dược từ báo cáo tài chính đã kiểm toán của các DN thủy sản trong giai đoạn 2012-2021 và bằng phương pháp định lượng trên phần mềm Stata với mô hình hồi quy với biến phụ thuộc là Tỷ suất sinh lời ROA. Kết quả cho thấy các biến có ý nghĩa thống kê trong mô hình được nghiên cứu là Vòng quay khoản phải tra (VQKPTRA), quy mô DN (QUYMO) và tỷ lệ Nợ trên tổng tài sản (NTTTS), các biến còn lại được nghiên cứu không có ý nghĩa thống kê đối với tỷ suất sinh lời. Kết quả này cho thấy có 3/8 nhân tố trong nghiên cứu có tác động đến biến phụ thuộc. Tuy nhiên, kết quả này chưa thật sự khả quan và chưa giải thích hết được các nhân tố tác động đến tỷ suất sinh lời của DN thủy sản tại Việt Nam. Dựa vào kết quả của mô hình hồi quy này, các nhà quản trị các DN thủy sản biết được các nhân tố tác động đến tỷ suất sinh lời, biết được chiều hướng tác động của các nhân tố này để xác định chiến lược phù hợp cho DN mình nhằm gia tăng hiệu quả hoạt động.
CHƯƠNG 5: CÁC HÀM Ý CHÍNH SÁCH NHẰM NÂNG CAO TỶ SUẤT SINH LỜI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP THỦY SẢN
5.1. CÁC HÀM Ý CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI CÁC DN THỦY SẢN TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
Mục tiêu của các DN khi hoạt động là tối đa hóa giá trị của DN cũng như tối thiểu hóa chi phí, một trong các mục tiêu tối đa hóa này là gia tăng tỷ suất sinh lời của DN. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ suất sinh lời của các DN.
5.1.1 Nhân tố Quy mô của DN thủy sản
Kết quả nghiên cứu ở chương 4 cho thấy Quy mô doanh nghiệp có tác động cùng chiều với tỷ suất sinh lời, hay nói cách khác DN có quy mô càng lớn thì tỷ suất sinh lời của DN càng cao. Trong đề tài nghiên cứu này, quy mô của DN được xác định bằng logarit tự nhiên của tổng tài sản. Hiện nay thực tế các DN ngày càng gia tăng quy mô, phạm vi hoạt động của mình, bên cạnh những lĩnh vực kinh doanh lõi thì các DN đang đa dạng các ngành nghề kinh doanh, thực tế các DN thủy sản hiện nay ngoài việc đa dạng thị trường trong nước cũng dần dần đạt được các tiêu chuẩn xuất khẩu của các thị trường khó tính như Mỹ, các nước châu Âu,… để đa dạng hóa thị trường xuất khẩu nước ngoài. Đây cũng là cơ hội tốt cho các DN thủy sản Việt Nam mở rộng quy mô. Bằng chứng cho thấy hiện nay các DN phân bố đều các vùng kinh tế trọng điểm trên cả nước, không còn tập trung ở các vùng có điều kiện thuận lợi như các vùng có nhiều sông ngòi, đi lại thuận tiện do chính sách phát triển cũng như sự đầu tư của nhà nước cũng là tạo điều kiện thuận lợi cho các DN thủy sản hiện nay mở rộng quy mô và hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả. Đặc biệt thủy sản hiện nay được phân bố đều khắp cả nước, việc nuôi trồng và khai thác không còn tập trung, bó hẹp, những điều này tạo một khối lượng công việc lớn, giải quyết vấn đề việc làm, tạo thu nhập cho người lao động, một mặt giúp DN gia tăng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, mặt khác góp phần đảm bảo an sinh xã hội. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ suất sinh lời của các DN.
Tuy nhiên, việc mở rộng quy mô cũng cần được cân nhắc do việc mở rộng mạng lưới hoạt động sẽ làm gia tăng các loại chi phí như chi phí đầu tư vào máy móc, dây chuyển kinh doanh, nhà xưởng; chi phí nguyên liệu đầu; chi phí nhân công do gia tăng số lượng lao động; chi phí bảo quản sản phẩm đầu ra đòi hỏi về nhiệt độ bảo quản, các sản phẩm hỗ trợ bảo quản,… những sự thay đổi đột ngột này có thể làm tăng cao chi phí hoạt động, và nếu không kiểm soát được có thể làm sụt giảm lợi nhuận, ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của DN. Do đó, các nhà quản trị các DN thủy sản cần cân nhắc kỹ lưỡng khi có các quyết định mở rộng quy mô về số lượng hay khối lượng của DN mình. Muốn đạt được mục tiêu thì trước khi mở rộng quy mô, các nhà quản trị cần đo lường giữa lợi ích và thiệt hại mà DN nhận được, xác định rõ mục tiêu, sự cần thiết, phương hướng phát triển và quan trọng là nhận định rõ các rủi ro có thể gặp phải và phải có các chiến lược cụ thể để giải quyết các rủi ro này, đảm bảo cho việc mở rộng quy mô thật sự có hiệu quả.
5.1.2 Về nhân tố Vòng quay khoản phải trả
Theo kết quả nghiên cứu thu được tại chương 4, Vòng quay khoản phải trả được tính bằng giá vốn hàng bán chia cho các khoản phải trả bình quân, là nhân tố tác động tích cực đến tỷ suất sinh lời của DN thủy sản. Điều này có nghĩa là khi DN thanh toán các khoản nợ hoặc các khoản mua hàng hóa cho chủ nợ, nhà cung cấp sớm hoặc đúng hạn sẽ làm tăng lên số vòng quay khoản phải trả, chính điều này sẽ làm tăng tăng tỷ suất sinh lời của DN. Thực tế hiện nay, các DN không riêng ngành thủy sản mà ở tất cả mọi ngành trên lĩnh vực kinh tế, trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình đều tham gia ít nhất một chuỗi cung ứng, có thể DN là người đi mua hoặc là người bán các sản phẩm cho bạn hàng khác. Việc mua các nguyên liệu đầu vào hoặc các sản phẩm phụ trợ cho hoạt động của mình là điều thường xuyên xảy ra, và việc “mua thiếu”, thanh toán sau khi DN chưa kịp xoay sở nguồn vốn.
Vì vậy khi các DN thực hiện các giao dịch này cần: (1) nắm bắt các lợi ích khi thực hiện giao dịch mua bán với các bạn hàng của mình để được hưởng chiết khấu, thương mại nhằm tiết kiệm chi phí đầu vào, chi phí sản xuất, (2) tuy nhiên phải có kế hoạch hoàn thành nghĩa vụ nợ đúng thời hạn hoặc sớm hơn nếu có thể, không để trì trệ hoặc nợ kéo dài. Muốn đạt được điều này thì ngay từ khi bắt đầu một chu kỳ kinh doanh mới, các nhà quản trị DN cần xác định rõ mục tiêu, các công việc thực hiện mục tiêu, dự toán ngân sách và quan trọng là phải đánh giá các rủi ro, biến động có thể gặp phải trong quá trình sản xuất kinh doanh của mình và có chiến lược, biện pháp khắc phục rõ ràng. Ngành thủy sản là một ngành ngoài việc chịu tác động do công tác quản lý nội tại DN còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố nội sinh như thiên nhiên, khí hậu, do đó có rất nhiều rủi ro từ bên ngoài, các DN cần có sự sẵn sàng thích ứng với biến đổi khí hậu.
5.1.3 Nhân tố Tỷ lệ Nợ/Tổng tài sản
Đây là nhân tố tác động ngược chiều duy nhất đến tỷ suất sinh lời của các DN thủy sản trong mô hình nghiên cứu. Điều này có nghĩa là khi DN tài trợ cho tài sản bằng nợ mà không dùng vốn chủ sở hữu càng nhiều thì làm cho hoạt động của DN không mang lại hiệu quả. Như đã phân tích yếu tố vòng quay khoản phải trả, các DN dù kinh doanh trên lĩnh vực nào cũng tham gia vào các chuỗi cung ứng, có quan hệ mua bán với các DN khác hoặc các nhà cung cấp vốn như Ngân hàng, các tổ chức tín dụng. Kết quả của bài nghiên cứu này phù hợp với thực tế, trên thị trường cũng có nhiều trường hợp DN bị ảnh hưởng nặng nề từ nợ khi mất khả năng thanh toán, kết quả kinh doanh không đủ bù đắp chi phí đã bỏ ra. Mục tiêu chính đặt ra đó chính là giảm thiểu nợ vay nhằm tránh sự ảnh hưởng tiêu cực của nợ đến tình hình tài chính của DN. Để đạt được mục tiêu này, các nhà quản trị DN thủy sản cần: Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ suất sinh lời của các DN.
- biết được đặc điểm ảnh hưởng của việc sử dụng nợ để tài trợ cho tài sản của DN, bao gồm việc đầu tư mua sắm tài sản, sử dụng nợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm đảm bảo cơ cấu giữa nợ và nguồn vốn, nguồn ngắn hạn và nguồn dài hạn để có chiến lược đầu tư hiệu quả, tránh sự mất cân đối vốn nhất là lúc DN gặp khó khăn về tài chính, tránh thiếu hụt vốn làm mất đi các dự án lớn, các dự án mang lại lợi nhuận lớn cho DN. Chu kỳ sản xuất kinh doanh của DN thủy sản diễn ra trong thời gian ngắn, việc cần vốn nhanh và đột xuất là thường xuyên gặp phải.
- cần phải có dự toán kế hoạch vốn từng năm, dự đoán được các giai đoạn thặng dư hay thâm hụt vốn dựa trên các kinh nghiệm sản xuất qua từng năm để đảm bảo sẵn sàng nguồn vốn khi cần thiết. Đây cũng là một trong các phương pháp quản lý nguồn ngân sách DN hiệu quả, tránh thất thoát, sử dụng vốn lãng phí.
- có biện pháp huy động vốn phù hợp và nguồn vốn đáng tin cậy, đa dạng hóa hình thức vay nợ. Có thể áp dụng chính sách “mua chịu”, chậm trả hoặc ghi nợ từ các bạn hàng hoặc các nhà cung cấp để giảm bớt lãi vay đối với các nguyên liệu, sản phẩm đầu vào của DN. Khi cần huy động vốn số lượng nhiều để trang trải chi phí hoạt động, sản xuất, quản lý thì các DN có thể phát hành cổ phiếu, trái phiếu, trong trường hợp DN muốn đi vay nợ thì tốt nhất nên vay ở các ngân hàng thương mại lớn, các tổ chức cung cấp tín dụng uy tín. Đối với các tài sản dài hạn, có giá trị lớn nên cân nhắc giữa việc thuê các công cụ, tài chính và việc đầu tư mới trong giai đoạn bắt đầu hoạt động của DN hay mở rộng quy mô kinh doanh.
- sử dụng nguồn vốn vay phù hợp, chủ yếu phục vụ cho hoạt động kinh doanh lõi hoặc lĩnh vực thế mạnh của DN mình, không đầu tư mạo hiểm vào các lĩnh vực có rủi ro cao, không liên quan đến chuyên môn hoặc không có khả năng mang lại lợi nhuận hoặc thu hồi lại vốn đầu tư ban đầu.
- tận dụng lợi thế về quy mô khi sử dụng nợ vay cũng như các chính sách ưu đãi khi vay nợ. Các DN có quy mô lớn thường tạo được sự tin tưởng cho chủ nợ rằng DN có khả năng trả nợ cao vì DN có đa dạng nguồn thu, có dòng tiền ổn định và quy mô lớn chứng tỏ DN có nhiều tài sản đảm bảo.
5.2 ĐỀ XUẤT ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC VÀ CÁC CƠ QUAN QUẢN LÝ Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ suất sinh lời của các DN.
Nhà nước và địa phương cần có sự quan tâm, đầu tư và hỗ trợ các DN thủy sản, phát huy tối đa vai trò và hiệu quả của chính sách đầu tư vốn cho ngành thủy sản theo hướng kết hợp giữa trung ương và địa phương. Bên cạnh đó, các chính sách tín dụng cho các dự án phát triển nuôi trồng thủy sản, sản xuất sản phẩm xuất khẩu, vốn vay để đầu tư phương tiện hoạt động, cần linh hoạt hơn mức độ giải ngân, các tổ chức vi mô, các quỹ tín dụng ở những địa phương có hoạt động nuôi trồng và sản xuất sản phẩm thủy sản cần có những sự hỗ trợ, thiết lập các chính sách cho vay phù hợp với chu kỳ kinh doanh hoặc các trường hợp xảy ra thiên tại, dịch bệnh.
5.3HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO
5.3.1 Hạn chế của đề tài
Đề tài nghiên cứu về tỷ suất sinh lời của các DN thủy sản trong giai đoạn 2012 – 2021 mặc dù đã kế thừa những yếu tố và phương pháp từ những nghiên cứu trước nhưng vẫn còn tồn tại một số hạn chế như sau:
Thứ nhất, đặc trưng của ngành thủy sản là các hoạt động từ nuôi trồng đến khai thác và chế biến, xuất khẩu thủy sản không chỉ chịu tác động từ các yếu tố nội tại DN mà còn chịu tác động của các yếu tố khách quan như điều kiện tự nhiên, các yếu tố kinh tế – xã hội. Đề tài chưa triển khai nghiên cứu các nhân tố vĩ mô tác động đến tỷ suất sinh lời của các DN này.
Thứ hai, tỷ suất sinh lời của DN ngoài chỉ tiêu ROA (tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản) còn có các chỉ tiêu như ROE (tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sỡ hữu) hay ROS (tỷ số lợi nhuận trên doanh thu), bài nghiên cứu này chỉ giới hạn nghiên cứu các nhân tố tác động đến biến ROA, do đó chưa thể đánh giá và kết luận được sự tác động và mức độ tác động của các biến trong mô hình.
Thứ ba, các biến được xây dựng trong mô hình với nguồn dữ liệu thu thập được chưa khái quát được hết mức độ tác động đến tỷ suất sinh lời của DN. Có rất nhiều biến khả quan nhưng chưa được đưa vào nghiên cứu. Do đó kết quả của nghiên cứu còn bị hạn chế, chưa tổng quát được hết các nhân tố có tác động đến tỷ suất sinh lời của DN thủy sản. Mặt khác, mô hình cũng chưa thể hiện được vai trò của các nhà quản trị DN, chưa xác định được sự ảnh hưởng của việc quản trị DN đến tỷ suất sinh lời. Bên cạnh đó, dữ liệu nghiên cứu bị giới hạn về không gian và thời gian, số lượng DN hoạt động trong lĩnh vực thủy sản rất lớn, tuy nhiên chỉ có 26 DN được niêm yết trên thị trường chứng khoán và được công bố thông tin tài chính rộng rãi nên số liệu được nghiên cứu trong giai đoạn này chưa thật sự đầy đủ, chưa đại diện được hết cho các DN thủy sản đang hoạt động cũng như các DN có vốn nước ngoài,… Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ suất sinh lời của các DN.
Những hạn chế của đề tài này sẽ làm định hướng cho nghiên cứu tiếp theo để làm rõ hơn vai trò của các nhà quản trị ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của các DN và đưa vào các nhân tố tiềm năng vào nghiên cứu để đạt được kết quả khả quan và tổng quát hơn.
5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo
Trong các nghiên cứu tiếp theo, tác giả sẽ phát triển thêm số lượng các DN thủy sản đang hoạt động tại Việt Nam, cũng như số lượng các biến được đưa vào mô hình nghiên cứu. Các biến tiềm năng đã bỏ qua trong nghiên cứu lần này sẽ được tác giả cân nhắc đưa vào, bổ sung đầy đủ các nhân tố vào mô hình để có kết quả tổng quát nhất về nghiên cứu khả năng sinh lời của các DN thủy sản tại Việt Nam hiện nay.
Kết luận chương 5
Từ kết quả hồi quy mô hình chương 4 cũng như phân tích thực trạng, đặc điểm của ngành thủy sản cũng như của các DN thủy sản, chương 5 đã kết luận về các nhân tố tác động đến tỷ suất sinh lời ROA và có các đề xuất, kiến nghị và các biện pháp khắc phục các tồn tại, hạn chế. Đối với các DN thủy sản, nghiên cứu đưa ra một số giải pháp về việc quản lý các khoản phải trả cho người bán, nhà cung cấp; việc gia tăng quy mô nhưng cần phải cân nhắc, so sánh giữa lợi ích và thiệt hại; đối với việc sử dụng nợ để tài trợ cho tài sản, cần duy trì việc cân đối giữa nguồn ngắn hạn và dài hạn. Bên cạnh sự nỗ lực của các DN thủy sản cũng cần có sự phối hợp, giúp sức cũng như sự quan tâm đầu tư của Nhà nước và các cơ quan quản lý. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ suất sinh lời của các DN.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Nhân tố tác động đến tỷ suất sinh lời của các DN

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ suất sinh lời của các DN […]