Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: KQNC thu nhập đến khả năng sinh lời các ngân hàng hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: tác động của đa dạng hóa thu nhập đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
4.1. Thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu
Nghiên cứu này đã được thực hiện trên mẫu gồm 32 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2014 – 2025. Dữ liệu để tính toán các biến trong mô hình là từ báo cáo tài chính đã được kiểm toán của các NHTM Việt Nam qua các năm 2014 – 2025 và dữ liệu kinh tế vĩ mô từ World bank và IMF. Dữ liệu các ngân hàng thu được là dữ liệu bảng không cân bằng với 400 quan sát. Thống kê về mẫu nghiên cứu được trình bày ở bảng 4.1.
Bảng 4.1: Thống kê mẫu nghiên cứu
| Biến | Số quan sát | Trung bình | Độ lệch chuẩn | Giá trị tối thiểu | Giá trị tối đa |
| roa | 400 | 0,0077529 | 0,0080802 | -0,059929 | 0,055663 |
| roe | 400 | 0,0896394 | 0,0835272 | -,563263 | 0,303316 |
| sdroa | 400 | 1,392751 | 1,12366 | -2,88355 | 4,35139 |
| sdroe | 400 | 1,49323 | 1,12366 | -2,6845 | 4,01748 |
| vcsh | 400 | 0,0928099 | 0,0434328 | 0,02621 | 0,33239 |
| cv | 400 | 0,5555823 | 0,1294469 | 0,14483 | 0,80838 |
| tg | 400 | 1,194325 | 0,2744787 | 0,50567 | 2,75265 |
| qm | 400 | 32,30759 | 1,235611 | 28,83398 | 35,10505 |
| rr | 400 | 0,0074969 | 0,0036491 | 0 | 0,0319972 |
| ddh | 400 | 0,2783172 | 0,1997358 | -1,524175 | 0,4999909 |
| hq | 400 | 0,1997609 | 0,0564625 | 0 | 0,5242802 |
| gdp | 400 | 0,1128204 | 0,0855447 | 0 | 0,2805356 |
| lp | 400 | -0,0002803 | 0,010383 | -0,0269481 | 0,0202129 |
| mo | 400 | 0,0001507 | 0,0000541 | 0,0000942 | 0,0003044 |
| dv | 400 | 0,4449099 | 1,273545 | -0,9331872 | 24,23984 |
| nh | 400 | -0,1121126 | 1,894547 | -27,18058 | 2,38362 |
| kh | 400 | 0,6097026 | 1,291748 | -1,571104 | 22,19433 |
Nguồn: Tính toán từ Stata 16 Luận văn: KQNC thu nhập đến khả năng sinh lời các ngân hàng.
Bảng 4.1 cho thấy mẫu các NHTM Việt Nam được nghiên cứu có giá trị ROA trung bình trong mẫu là 0,77%. Ngân hàng có ROA cao nhất là 5,5%, trong khi ngân hàng có ROA thấp nhất là -5,9% do ngân hàng này bị lỗ. Giá trị ROE trung bình là 8,9% trong đó NHTM có ROE cao nhất là 30,3%, ngân hàng có ROE thấp nhất là – 56,3%, cho thấy có sự chênh lệch khá lớn giữa ngân hàng có ROE cao nhất và ROE thấp nhất. Xét về khả năng sinh lời có điều chỉnh rủi ro thì hai biến SDROA và SDROE có giá trị trung bình lần lượt là 1,392751 và 1,49323 và độ lệch chuẩn lần lượt là 1,127981 và 1,12366 cho thấy khả năng sinh lời có điều chỉnh rủi ro giữa các ngân hàng không có sự chênh lệch nhiều.
Chỉ số đa dạng hóa của các NHTM Việt Nam trong mẫu nghiên cứu (DDH) trung bình là 0,2783 (so với mức cao nhất là 0,49) cho thấy mức độ đa dạng hóa của các NHTM Việt Nam ở mức độ trung bình, chênh lệch về mức độ đa dạng hóa giữa các ngân hàng trong mẫu qua các năm là không lớn (độ lệch chuẩn là 0,1997). Trong đó có ngân hàng gần như không đa dạng hóa với chỉ số DDH bằng 0 và ngân hàng đa dạng hóa gần hoàn toàn với chỉ số DDH là 0,49.
Biến QM đại diện cho quy mô của ngân hàng có giá trị thấp nhất 28,83 và cao nhất là 35,1 và giá trị trung bình là 32,3 với độ biến động so với giá trị trung bình là 1,23 cho thấy sự chênh lệch về quy mô giữa các ngân hàng trong mẫu nghiên cứu là không nhiều.
Về tỷ lệ an toàn vốn (VCSH) thì giữa các ngân hàng trong mẫu cũng không có sự chênh lệch lớn, dao động quanh mức trung bình là 9,28%, độ lệch chuẩn là 0,0434. Tỷ lệ này thấp nhất là 2,6% và cao nhất là 33,2%.
Tỷ lệ tiền gửi của khách hàng so với tổng tài sản của ngân hàng (TG) cũng ở mức khá cao, trung bình là 119,4% cho thấy các ngân hàng phụ thuộc nhiều vào tiền gửi. Trong mẫu thì ngân hàng có tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản cao nhất là 275,2% và ngân hàng có tỷ lệ thấp nhất là 50,5%, giữa các ngân hàng không có sự chênh lệch nhiều so với giá trị trung bình.
Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản (CV) là khá cao ở mức trung bình là 55,5% cho thấy dư nợ cho vay khách hàng ở mức trung bình so với tổng tài sản. Tỷ lệ cao nhất là 80,8% và thấp nhất là 14,4%. Giữa các ngân hàng không có sự chênh lệch nhiều thể hiện ở độ lệch chuẩn chỉ là 0,1294.
Tỷ lệ chi phí hoạt động trên thu nhập của các ngân hàng (HQ) là 19,9% với độ lệch chuẩn là 0,0564, giá trị cao nhất là 52,4% và thấp nhất là 0%.
Rủi ro ngân hàng (RR) không có sự chênh lệch nhiều qua các năm, dao động quanh mức 0,74% với tỷ lệ cao nhất là 3,2% và thấp nhất là 0%, cho thấy chất lượng tài sản của các ngân hàng là khá tốt.
Tỷ lệ thu nhập thuần từ hoạt động dịch vụ trên tổng thu nhập ngoài lãi của các ngân hàng (DV) có mức trung bình là 44,4% trong khi tỷ lệ cao nhất là 2.423,9% và thấp nhất là -93,3% cho thấy sự chênh lệnh tương đối lớn giữa các NHTM.
Tỷ lệ thu nhập thuần từ kinh doanh ngoại hối và vàng trên tổng thu nhập ngoài lãi (NH) trung bình là -11,2% với tỷ lệ cao nhất là 238,3% và thấp nhất là -2.718%.
Tỷ lệ thu nhập thuần từ các hoạt động ngoài lãi khác trên tổng thu nhập ngoài lãi (KH) dao động quanh mức 60,9% trong đó ngân hàng có tỷ lệ này lớn nhất đạt 2.219,4% và thấp nhất là -157,1%.
Đối với các yếu tố vĩ mô gồm tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP), lạm phát (LP) và độ mở tài chính (MO) thì giữa các năm không có dao động nhiều so với giá trị trung bình cho thấy nền kinh tế Việt Nam khá ổn định với tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2014 – 2025.
4.2. Thảo luận kết quả nghiên cứu đo bằng chỉ số DDH Luận văn: KQNC thu nhập đến khả năng sinh lời các ngân hàng.
4.2.1. Kết quả nghiên cứu tác động của đa dạng hóa thu nhập đến khả năng sinh lời của NHTM Việt Nam
Tác giả xem xét hệ số tương quan giữa các cặp biến độc lập được trình bày ở bảng 4.2. Theo Gujarati (2008) nếu hệ số tương quan giữa các biến độc lập vượt quá 0,8 thì có khả năng dẫn đến hiện tượng đa cộng tuyến cao trong mô hình. Khi đó dấu của hệ số hồi quy trong mô hình có thể bị thay đổi, dẫn đến kết quả nghiên cứu bị sai lệch. Bảng 4.2 mô tả ma trận hệ số tương quan giữa các cặp biến số độc lập trong mô hình, kết quả cho thấy hệ số tương quan của tất cả các cặp biến độc lập đều nhỏ hơn 0,8. Vì vậy không có hiện tượng đa cộng tuyến ảnh hưởng nghiêm trọng đến ước lượng của mô hình.
Bảng 4.2: Hệ số tương quan giữa các biến độc lập trong mô hình tác động của đa dạng hóa thu nhập (DDH) đến khả năng sinh lời của ngân hàng
| vcsh | cv | tg | qm | rr | ddh | hq | gdp | lp | mo | |
| vcsh | 1,0000 | |||||||||
| cv | -0,1097 | 1,0000 | ||||||||
| tg | -0,2006 | -0,6090 | 1,0000 | |||||||
| qm | -0,6532 | 0,3417 | -0,0033 | 1,0000 | ||||||
| rr | -0,1869 | 0,4936 | -0,2167 | 0,4679 | 1,0000 | |||||
| ddh | -0,1275 | 0,0783 | 0,0246 | 0,2316 | 0,0451 | 1,0000 | ||||
| hq | 0,0673 | 0,1869 | 0,0146 | 0,0125 | 0,0442 | 0,0221 | 1,0000 | |||
| gdp | 0,1833 | -0,2682 | -0,0072 | -0,1830 | -0,0020 | -0,2913 | -0,3046 | 1,0000 | ||
| lp | -0,0023 | -0,0662 | 0,0106 | -0,1010 | -0,0475 | -0,0848 | 0,0905 | 0,0891 | 1,0000 | |
| mo | 0,1541 | -0,0686 | -0,1720 | -0,2656 | -0,1377 | 0,1463 | -0,1415 | -0,2134 | 0,2113 | 1,0000 |
Nguồn: Kết quả tính toán trên Stata Luận văn: KQNC thu nhập đến khả năng sinh lời các ngân hàng.
Bảng 4.3: Kết quả phương sai VIF trong mô hình tác động của đa dạng hóa thu nhập (DDH) đến khả năng sinh lời của ngân hàng
| Biến | VIF | 1/VIF |
| cv | 2,69 | 0,372168 |
| qm | 2,56 | 0,390489 |
| tg | 2,09 | 0,477652 |
| vcsh | 2,00 | 0,500306 |
| gdp | 1,61 | 0,622792 |
| mo | 1,49 | 0,672695 |
| rr | 1,64 | 0,611438 |
| hq | 1,28 | 0,782452 |
| lp | 1,13 | 0,882903 |
| ddh | 1,19 | 0,843513 |
| Mean VIF | 1,77 |
Nguồn: Kết quả tính toán trên Stata
Luận văn cũng tiến hành kiểm định lại hiện tượng đa cộng tuyến bằng hệ số phóng đại phương sai VIF. Kết quả được trình bày ở Bảng 4.3 cho thấy các hệ số VIF có giá trị trung bình là 1,77 và dao động từ 1,13 đến 2,69, nghĩa là giữa các biến có mối tương quan rất thấp, không có hiện tượng đa cộng tuyến xảy ra trong mô hình.
Bảng 4.4: Kết quả hồi quy tác động của DDH lên ROA, ROE
| (1) | (2) | (3) | (4) | |
| roa | roe | roa | roe | |
| L.roa | 0,687*** | 0,567*** | ||
| (4,20) | (4,09) | |||
| ddh | 0,00681 | 0,111** | 0,0107*** | 0,116*** |
| (1,94) | (2,99) | (4,55) | (3,97) | |
| qm | 0,000902 | -0,00427 | 0,00142 | -0,00772 |
| (0,76) | (-0,40) | (1,90) | (-0,90) | |
| rr | 0,253 | 1,294 | -0,0100 | 4,137 |
| (0,66) | (0,36) | (-0,05) | (1,66) | |
| tg | -0,00679 | -0,134*** | -0,000611 | -0,000945 |
| (-1,94) | (-4,54) | (-0,38) | (-0,06) | |
| cv | -0,00276 | -0,324*** | 0,00606 | 0,0252 |
| (-0,32) | (-4,36) | (1,34) | (0,71) | |
| vcsh | 0,00370 | -0,866** | 0,131*** | 0,395 |
| (0,13) | (-2,68) | (6,31) | (1,61) | |
| gdp | 0,0106* | 0,0520 | -0,0136* | -0,152 |
| (2,03) | (0,92) | (-1,99) | (-1,82) | |
| lp | 0,0283 | 1,100*** | 0,0149 | 0,452 |
| (0,98) | (3,90) | (0,63) | (1,68) | |
| hq | 0,00436 | 0,0894 | -0,0284*** | -0,249* |
| (0,37) | (0,75) | (-3,31) | (-2,30) | |
| L.roe | 0,998*** | 0,825*** | ||
| (8,62) | (7,11) | |||
| mo | 56,47*** | 642,2** | ||
| (3,91) | (3,24) | |||
| _cons | -0,0224 | 0,509 | -0,0592** | 0,148 |
| (-0,63) | (1,45) | (-2,62) | (0,54) | |
| N | 367 | 367 | 367 | 367 |
| Số nhóm | 32 | 32 | 32 | 32 |
| Số công cụ | 23 | 23 | 28 | 28 |
| AR2 | 0,526 | 0,510 | 0,310 | 0,449 |
| Hansen | 0,564 | 0,289 | 0,875 | 0,575 |
Nguồn: Kết quả tính toán trên Stata Luận văn: KQNC thu nhập đến khả năng sinh lời các ngân hàng.
Bảng 4.5: Kết quả hồi quy tác động của DDH lên SDROA, SDROE
Kết quả hồi quy bằng ước lượng SGMM các yếu tố tác động đến khả năng sinh lời và khả năng sinh lời có điều chỉnh rủi ro của các NHTM Việt Nam được trình bày ở bảng 4.4 và 4.5. Với bảng 4.4, mô hình (1) và (2) là kết quả tác động của đa dạng hóa thu nhập ngân hàng (đo bằng chỉ số DDH) đến khả năng sinh lời đo bằng ROA và ROE trong điều kiện không có biến kiểm soát là độ mở tài chính. Mô hình và (4) là kết quả tác động của đa dạng hóa thu nhập ngân hàng (đo bằng chỉ số DDH) đến khả năng sinh lời đo bằng ROA và ROE trong điều kiện bổ sung thêm biến kiểm soát là độ mở tài chính.
Ngoài việc kiểm định tác động của đa dạng hóa thu nhập đến khả năng sinh lời đo bằng ROE và ROA, nghiên cứu này còn kiểm định tác động của đa dạng hóa thu nhập đến khả năng sinh lời có điều chỉnh rủi ro bằng biến phụ thuộc là SDROA, SDROE. Với bảng 4.5, mô hình (1) và (2) là kết quả tác động của đa dạng hóa thu nhập ngân hàng (đo bằng chỉ số DDH) khả năng sinh lời có điều chỉnh rủi ro đo bằng SDROA và SDROE trong điều kiện không có biến kiểm soát là độ mở tài chính. Mô hình (3) và (4) là kết quả tác động của đa dạng hóa thu nhập ngân hàng (đo bằng chỉ số DDH) đến khả năng sinh lời có điều chỉnh rủi ro đo bằng SDROA và SDROE trong điều kiện có biến kiểm soát là độ mở tài chính.
Ở tất cả mô hình, kết quả kiểm định Hansen để kiểm định tính over-identifying của các biến công cụ cho thấy hệ số p-value đều lớn hơn 0,05, tức biến công cụ trong mô hình thỏa tính over-identifying. Bên cạnh đó, kiểm định tự tương quan bậc 2 (AR2) cho kết quả p-value đều lớn hơn 0,05 nên phần dư của mô hình không tồn tại hiện tượng tự tương quan bậc 2. Như vậy, các kiểm định đối với ước lượng bằng SGMM đều thỏa điều kiện nên các kết quả tìm thấy được trong mô hình là vững và hoàn toàn có thể phân tích được.
Kết quả nghiên cứu ở bảng 4.4 và 4.5 cho thấy đa dạng hóa thu nhập tác động cùng chiều đến khả năng sinh lời (ROA, ROE) và khả năng sinh lời có điều chỉnh rủi ro (SDROA, SDROE) của NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2014 – 2025 với mức ý nghĩa 1%. Như vậy, khi các NHTM Việt Nam đa dạng hóa thu nhập thì đã gia tăng được các nguồn thu khác nhau, làm tăng lợi nhuận của ngân hàng nên khả năng sinh lời tăng, đồng thời giúp giảm rủi ro nên khả năng sinh lời điều chỉnh rủi ro cũng tăng. Kết quả nghiên cứu này cho thấy trường hợp đa dạng hóa thu nhập của các NHTM Việt Nam đã phù hợp với lý thuyết đa dạng hóa danh mục đầu tư hiện đại. Theo đó, khi ngân hàng đa dạng hóa thu nhập thì sẽ tăng lợi nhuận và giảm rủi ro của ngân hàng.
Khi thực hiện đa dạng hóa thu nhập thông qua mở rộng thu nhập từ phí từ hoạt động đầu tư kinh doanh chứng khoán, kinh doanh ngoại hối và những hoạt động khác thì các NHTM Việt Nam cũng đồng thời phân tán rủi ro, giúp giảm rủi ro nên khả năng sinh lời điều chỉnh rủi ro của ngân hàng vẫn tăng. Điều này cũng là do khách hàng ít có sự thay đổi, thị trường chứng khoán của Việt Nam thời gian qua cũng tương đối ổn định nên thu nhập ngoài lãi của ngân hàng ít biến động. Chính vì vậy, khả năng sinh lời có điều chỉnh rủi ro của các NHTM Việt Nam tăng khi đa dạng hóa thu nhập tăng.
Vì nghiên cứu tập trung vào xem xét tác động của đa dạng hóa thu nhập đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại trong điều kiện có biến kiểm soát là độ mở tài chính nên nghiên cứu phân tích kết quả dựa trên kết quả hồi quy các mô hình (3), (4) của Bảng 4.4 và Bảng 4.5. Luận văn: KQNC thu nhập đến khả năng sinh lời các ngân hàng.
Kết quả của các mô hình (3), (4) của Bảng 4.4 và Bảng 4.5 cho thấy tác động của độ mở tài chính đến khả năng sinh lời và khả năng sinh lời có điều chỉnh rủi ro của các NHTM Việt Nam. Hệ số hồi quy của biến MO dương và có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 1% cho thấy khi độ mở tài chính càng tăng thì sẽ có tác động tích cực đến khả năng sinh lời của ngân hàng. Kết quả nghiên cứu này đã cung cấp bằng chứng bổ sung thêm một yếu tố thuộc môi trường vĩ mô có tác động đến khả năng sinh lời. Khi độ mở tài chính tăng, nền kinh tế cũng ngày càng mở cửa để đón dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, điều này giúp cho nền kinh tế nói chung phát triển, kéo theo sự phát triển của các ngân hàng nói riêng, vì thế khả năng sinh lời của ngân hàng cũng tăng theo. Việt Nam đang ngày càng mở rộng tài chính và kết quả nghiên cứu này cho thấy các NHTM Việt Nam sẽ còn gia tăng khả năng sinh lời trong tương lai.
Biến trễ khả năng sinh lời ngân hàng có tác động cùng chiều đến khả năng sinh lời ở mức ý nghĩa 1%. Điều này có nghĩa là khả năng sinh lời của ngân hàng có tác động với nhau và tác động tương quan cùng chiều giữa các thời kỳ. Kết quả này tương tự như nghiên cứu của Moudud-Ul-Huq và cộng sự (2022). Tương tự biến trễ của khả năng sinh lời có điều chỉnh rủi ro cũng tác động cùng chiều đến khả năng sinh lời điều chỉnh rủi ro của NHTM Việt Nam. Như vậy, khả năng sinh lời hay khả năng sinh lời có điều chỉnh rủi ro kỳ này sẽ phụ thuộc vào khả năng sinh lời của kỳ trước vì khả năng sinh lời của ngân hàng là quá trình diễn ra liên tục.
Quy mô ngân hàng có quan hệ cùng chiều với khả năng sinh lời ngân hàng, cho thấy khi ngân hàng mở rộng hoạt động kinh doanh thì sẽ góp phần làm tăng khả năng sinh lời của các ngân hàng. Kết quả này tương tự với kết quả nghiên cứu của Lee và cộng sự (2018), Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai (2019) nhưng lại ngược với kết quả của Meslier và cộng sự (2018). Điều này phù hợp với lý thuyết kinh tế theo quy mô, vì các ngân hàng có quy mô lớn có thể tận dụng tính kinh tế theo quy mô, khả năng đầu tư, phục vụ khách hàng tốt hơn, tạo niềm tin cho khách hàng nhiều hơn nên khả năng sinh lời cao hơn. Khi xét biến phụ thuộc là khả năng sinh lời có điều chỉnh rủi ro, thì nghiên cứu này cũng cho kết quả quy mô ngân hàng có quan hệ cùng chiều, tương đồng với kết quả của Stiroh & Rumble (2010), Chiorazzo và cộng sự (2012), Gurbuz và cộng sự (2017), Meslier và cộng sự (2018), Lê Long Hậu và Phạm Xuân Quỳnh (2020). Điều này có thể được lý giải là do những ngân hàng lớn hơn có thể ổn định hơn vì các rủi ro riêng lẻ thường có xu hướng giảm theo quy mô. Những ngân hàng lớn có khả năng đầu tư vào công nghệ hiện đại hơn và nói chung có quản trị rủi ro tốt hơn. Các ngân hàng lớn cũng có khả năng mở rộng hoạt động kinh doanh (Meslier và cộng sự, 2018), cũng có thể có cơ hội đa dạng hóa tốt hơn và ít biến động thu nhập khi mở rộng vào thị trường mới (Sanya & Wolfe, 2015). Như vậy ngân hàng có quy mô lớn sẽ tăng khả năng sinh lời và giảm rủi ro của ngân hàng nên khi NHTM Việt Nam tăng quy mô thì khả năng sinh lời và khả năng sinh lời điều chỉnh rủi ro của ngân hàng sẽ tăng.
Tỷ lệ an toàn vốn (VCSH) có tác động cùng chiều đến khả năng sinh lời của ngân hàng đo bằng ROA và khả năng sinh lời có điều chỉnh rủi ro đo bằng SDROA. Các nghiên cứu của Stiroh & Rumble (2010), Lê Long Hậu và Phạm Xuân Quỳnh (2021) cũng có kết quả tương tự. Khi tỷ lệ vốn chủ sở hữu gia tăng thì ngân hàng có nhiều vốn để cung cấp nhiều dịch vụ tài chính hơn cho khách hàng, mở rộng hoạt động tạo thu nhập cũng như đảm bảo an toàn nên sẽ làm tăng khả năng sinh lời và tăng cả khả năng sinh lời điều chỉnh rủi ro. Luận văn: KQNC thu nhập đến khả năng sinh lời các ngân hàng.
Tỷ lệ cho vay khách hàng (CV) phản ánh quy mô hoạt động tín dụng của ngân hàng, có tác động cùng chiều với khả năng sinh lời có điều chỉnh rủi ro của NHTM Việt Nam. Điều này chứng tỏ khi quy mô tín dụng tăng cùng với chất lượng đảm bảo thì sẽ tăng khả năng sinh lời có điều chỉnh rủi ro của ngân hàng. Bởi vì khi tăng cho vay thì thu nhập lãi của ngân hàng tăng, đồng thời ngân hàng vẫn quản lý tốt chất lượng khoản vay thì rủi ro giảm. Vì thế tỷ lệ cho vay khách hàng tỷ lệ thuận với khả năng sinh lời điều chỉnh rủi ro.
Rủi ro ngân hàng (RR) có mối quan hệ ngược chiều với khả năng sinh lời của ngân hàng đo bằng ROA và cả SDROA với mức ý nghĩa 1%. Kết quả này đúng như kỳ vọng ban đầu của nghiên cứu, cho thấy khi nợ xấu của ngân hàng tăng làm tăng dự phòng rủi ro thì sẽ làm giảm lợi nhuận của ngân hàng nên khả năng sinh lời ngân hàng giảm. Nghiên cứu của Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai (2019) cũng cho kết quả tương tự.
Kết quả trong bảng cho thấy tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản, lạm phát và tốc độ tăng trưởng kinh tế không có ý nghĩa thống kê trong mô hình phân tích tác động của đa dạng hóa thu nhập đến khả năng sinh lời và khả năng sinh lời điều chỉnh rủi ro của ngân hàng. Nghiên cứu của Lee và cộng sự (2018) cũng cho thấy chưa xác định mối quan hệ giữa tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản và khả năng sinh lời ngân hàng. Trong khi đó, xét về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và khả năng sinh lời của ngân hàng thì nghiên cứu của Meslier và cộng sự (2018), Lê Long Hậu và Phạm Xuân Quỳnh (2020) cho kết quả dương, còn Sanya và Wolfe (2015) cho kết quả âm.
4.2.2. Kết quả nghiên cứu tác động của các cấu phần trong thu nhập ngoài lãi đến khả năng sinh lời của NHTM Việt Nam Luận văn: KQNC thu nhập đến khả năng sinh lời các ngân hàng.
Tác giả xem xét hệ số tương quan giữa các cặp biến độc lập được trình bày ở bảng 4.6. Theo Gujarati (2008) nếu hệ số tương quan giữa các biến độc lập vượt quá 0,8 thì có khả năng dẫn đến hiện tượng đa cộng tuyến cao trong mô hình. Khi đó dấu của hệ số hồi quy trong mô hình có thể bị thay đổi, dẫn đến kết quả nghiên cứu bị sai lệch. Bảng 4.6 mô tả ma trận hệ số tương quan giữa các cặp biến số độc lập trong mô hình, cho thấy hệ số tương quan của tất cả các cặp biến độc lập đều nhỏ hơn 0,8. Vì vậy không có hiện tượng đa cộng tuyến ảnh hưởng nghiêm trọng đến ước lượng của mô hình.
Bảng 4.6: Hệ số tương quan giữa các biến độc lập trong mô hình tác động của các cấu phần trong thu nhập ngoài lãi đến khả năng sinh lời của ngân hàng
| dv | nh | kh | vcsh | cv | tg | qm | rr | hq | gdp | lp | mo | |
| dv | 1,000 | |||||||||||
| nh | -0,7374 | 1,000 | ||||||||||
| kh | 0,1112 | -0,7422 | 1,000 | |||||||||
| vcsh | 0,0012 | -0,0634 | 0,0844 | 1,000 | ||||||||
| cv | 0,0672 | 0,0086 | -0,0538 | -0,1097 | 1,000 | |||||||
| tg | -0,1518 | 0,1392 | -0,0673 | -0,2006 | -0,6090 | 1,000 | ||||||
| qm | -0,0029 | 0,0973 | -0,1216 | -0,6532 | 0,3417 | -0,0033 | 1,000 | |||||
| rr | -0,0021 | 0,0426 | -0,0568 | -0,1869 | 0,4936 | -0,2167 | 0,4679 | 1,000 | ||||
| hq | -0,1006 | 0,1137 | -0,0402 | 0,0673 | 0,1869 | 0,0146 | 0,0125 | 0,0442 | 1,000 | |||
| gdp | 0,1258 | -0,1698 | 0,0818 | 0,1833 | -0,2682 | -0,0072 | -0,1830 | -0,0020 | -0,3046 | 1,000 | ||
| lp | 0,0162 | -0,0217 | 0,0081 | -0,0023 | -0,0662 | 0,0106 | -0,1010 | -0,0475 | 0,0905 | 0,0891 | 1,000 | |
| mo | -0,0090 | 0,0459 | -0,0444 | 0,1541 | -0,0686 | -0,1720 | -0,2656 | -0,1377 | -0,1415 | -0,2134 | 0,2113 | 1,000 |
Nguồn: Kết quả tính toán trên Stata Luận văn: KQNC thu nhập đến khả năng sinh lời các ngân hàng.
Bảng 4.7: Kết quả hồi quy tác động của các cấu phần trong thu nhập ngoài lãi lên ROA, ROE
| (1) | (2) | (3) | (4) | |
| roa | roe | roa | roe | |
| L.roa | 0,310** | 0,227** | ||
| (3,09) | (2,96) | |||
| dv | 0,0164 | 0,149 | 0,0138** | 0,145** |
| (1,90) | (1,76) | (2,72) | (2,76) | |
| nh | 0,0156 | 0,173* | 0,0132** | 0,152** |
| (1,83) | (2,23) | (3,15) | (3,25) | |
| kh | 0,0101 | 0,127 | 0,0110* | 0,120** |
| (1,19) | (1,86) | (2,46) | (2,63) | |
| qm | 0,00246 | -0,0193* | 0,00186* | -0,00280 |
| (1,71) | (-2,29) | (2,44) | (-0,34) | |
| rr | 0,477 | 6,935*** | 0,334* | 5,217* |
| (1,59) | (3,30) | (2,49) | (2,28) | |
| tg | -0,00137 | -0,131*** | -0,0111*** | -0,0852*** |
| (-0,38) | (-3,40) | (-8,09) | (-5,30) | |
| cv | 0,0165 | -0,298** | -0,0204*** | -0,154* |
| (1,59) | (-2,98) | (-4,15) | (-2,46) | |
| vcsh | 0,0976** | -0,984** | 0,115*** | 0,261 |
| (2,96) | (-2,63) | (7,19) | (0,95) | |
| gdp | 0,0238*** | 0,0770 | -0,00955 | -0,146* |
| (4,44) | (1,23) | (-1,77) | (-2,04) | |
| lp | -0,0207 | 0,342 | -0,0639*** | -0,223 |
| (-1,03) | (1,44) | (-4,68) | (-1,08) | |
| hq | -0,0136 | 0,250** | -0,00661 | -0,0744 |
| (-1,32) | (3,03) | (-1,35) | (-1,14) | |
| L.roe | 0,845*** | 0,625*** | ||
| (6,39) | (7,35) | |||
| mo | 42,85*** | 563,3** | ||
| (3,31) | (3,21) | |||
| _cons | -0,105* | 0,826* | -0,0562** | 0,0944 |
| (-2,32) | (2,43) | (-2,79) | (0,31) | |
| N | 367 | 367 | 367 | 367 |
| Số nhóm | 32 | 32 | 32 | 32 |
| Số công cụ | 27 | 27 | 32 | 32 |
| AR2 | 0,979 | 0,389 | 0,983 | 0,450 |
| Hansen | 0,793 | 0,876 | 0,272 | 0,270 |
Nguồn: Kết quả tính toán trên Stata Luận văn: KQNC thu nhập đến khả năng sinh lời các ngân hàng.
Bảng 4.8: Kết quả hồi quy tác động của các cấu phần trong thu nhập ngoài lãi lên SDROA, SDROE
Kết quả hồi quy tác động của các cấu phần trong thu nhập ngoài lãi đến khả năng sinh lời và khả năng sinh lời có điều chỉnh rủi ro của các ngân hàng được trình bày ở bảng 4.7 và 4.8. Trong đó trong bảng 4.7 mô hình (1) và (2) là kết quả tác động của các cấu phần trong thu nhập ngoài lãi đến khả năng sinh lời đo bằng ROA và ROE trong điều kiện không có biến kiểm soát độ mở tài chính. Mô hình (3) và (4) trong bảng 4.7 là kết quả tác động của các cấu phần trong thu nhập ngoài lãi đến khả năng sinh lời đo bằng ROA và ROE trong điều kiện có biến kiểm soát độ mở tài chính. Đối với biến phụ thuộc là khả năng sinh lời điều chỉnh rủi ro đo bằng SDROA, SDROE thì mô hình (1) và (2) trong bảng 4.8 là kết quả tác động của các cấu phần trong thu nhập ngoài lãi đến khả năng sinh lời điều chỉnh rủi ro trong điều kiện không có biến kiểm soát độ mở tài chính. Mô hình (3) và (4) trong bảng 4.8 là kết quả tác động của các cấu phần trong thu nhập ngoài lãi đến khả năng sinh lời có điều chỉnh rủi ro trong điều kiện có biến kiểm soát độ mở tài chính.
Ở tất cả mô hình, kết quả kiểm định Hansen để kiểm định tính over-identifying của các biến công cụ cho thấy hệ số p-value đều lớn hơn 0,05, tức biến công cụ trong mô hình thỏa tính over-identifying. Bên cạnh đó, kiểm định tự tương quan bậc 2 (AR2) cho kết quả p-value đều lớn hơn 0,05 nên phần dư của mô hình không tồn tại hiện tượng tự tương quan bậc 2. Như vậy, các kiểm định đối với ước lượng bằng SGMM đều thỏa điều kiện nên các kết quả tìm thấy được trong mô hình là vững và hoàn toàn có thể phân tích được.
Kết quả ở bảng 4.7 và 4.8 cho thấy các cấu phần trong thu nhập ngoài lãi (DV, NH, KH) có tác động cùng chiều đến khả năng sinh lời (ROA, ROE) và khả năng sinh lời điều chỉnh rủi ro (SDROA, SDROE) của NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2014 – 2025 với mức ý nghĩa 1%.
Dựa vào kết quả bảng 4.7 và 4.8 cho thấy hoạt động kinh doanh dịch vụ tác động làm tăng khả năng sinh lời của các NHTM Việt Nam. Điều này là hợp lý vì bản chất nguồn thu là từ phí và hoa hồng, các hoạt động dịch vụ ngân hàng mang ít rủi ro hơn và qua đó đóng góp tích cực, bền vững vào khả năng sinh lời cũng như trở thành vũ khí cạnh tranh luôn cần phải phát triển trong bối cảnh hiện đại hóa và toàn cầu hóa như hiện nay.
Cũng như hoạt động dịch vụ, tác động của hoạt động kinh doanh ngoại hối là tích cực đối với khả năng sinh lời của các NHTM Việt Nam. NHTM là trung gian duy nhất cung ứng các dịch vụ thanh toán quốc tế nên ngân hàng sẽ có lợi thế dễ dàng mua, bán các loại ngoại hối và hoạch định kinh doanh của riêng mình, qua đó nâng cao hơn khả năng sinh lời.
Tương tự, hoạt động mua bán chứng khoán, góp vốn mua cổ phần và các hoạt động khác có tác động làm tăng khả năng sinh lời của các NHTM Việt Nam. Hiện nay, Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp luật nhằm phát triển và kiểm soát mảng hoạt động kinh doanh chứng khoán, góp vốn mua cổ phần không thể thiếu được sự tham gia của các NHTM trên thị trường này vì các NHTM sẽ có kinh nghiệm điều hành hơn cũng như có khả năng về vốn rót vào phát triển thị trường, chính điều này đã dần hình thành nên xu hướng ngân hàng đa năng hay tập đoàn tài chính, kết hợp giữa ngân hàng truyền thống và ngân hàng đầu tư.
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
5.1. Kết luận Luận văn: KQNC thu nhập đến khả năng sinh lời các ngân hàng.
Nghiên cứu này nhằm cung cấp thêm cơ sở lý luận và bằng chứng thực nghiệm để kết luận về tác động của đa dạng hóa thu nhập đến khả năng sinh lời và khả năng sinh lời có điều chỉnh rủi ro tại NHTM Việt Nam. Mô hình nghiên cứu trong luận văn này sử dụng dữ liệu từ BCTC đã được kiểm toán của 32 NHTM Việt Nam trong thời gian 2014 – 2025 và dùng phương pháp ước lượng SGMM hai bước để có kết quả ước tính tốt nhất. Qua kết quả nghiên cứu được trình bày ở chương 4, có thể kết luận một số ý chính như sau:
Đa dạng hóa thu nhập ngân hàng ảnh hưởng cùng chiều đến khả năng sinh lời và khả năng sinh lời có điều chỉnh rủi ro của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2014 – 2025. Khi ngân hàng đa dạng hóa thu nhập từ nhiều sản phẩm dịch vụ khác nhau thì sẽ tăng lợi nhuận và giảm rủi ro cho ngân hàng. Vì vậy khi đa dạng hóa thu nhập tăng thì khả năng sinh lời và khả năng sinh lời điều chỉnh rủi ro đều tăng.
Biến trễ của khả năng sinh lời (hoặc khả năng sinh lời có điều chỉnh rủi ro) tác động cùng chiều đến khả năng sinh lời (hoặc khả năng sinh lời có điều chỉnh rủi ro) của ngân hàng, cho thấy kết quả kinh doanh của ngân hàng mỗi năm sẽ phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của năm trước, và khi ngân hàng kinh doanh có hiệu quả thì kết quả này sẽ ngày một tốt hơn.
Đối với các biến thuộc yếu tố nội tại của ngân hàng thì quy mô ngân hàng, tỷ lệ an toàn vốn và tỷ lệ cho vay khách hàng có tác động cùng chiều đến khả năng sinh lời ngân hàng. Như vậy, các ngân hàng cần tăng trưởng quy mô, tăng tỷ lệ vốn chủ sở hữu để cải thiện kết quả kinh doanh của ngân hàng mình. Bên cạnh việc đa dạng hóa thì ngân hàng cũng cần chú trọng công tác cho vay để tăng tỷ lệ cho vay khách hàng đồng thời vẫn đảm bảo chất lượng khoản vay để cải thiện kết quả kinh doanh điều chỉnh rủi ro tốt hơn.
Rủi ro tín dụng có tác động ngược chiều với khả năng sinh lời của ngân hàng. Rủi ro tín dụng cao thể hiện qua việc dự phòng rủi ro cao là do tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng cao. Việc trích lập dự phòng theo quy định của NHNN đã làm giảm lợi nhuận của các ngân hàng.
Tỷ lệ chi phí hoạt động cũng có quan hệ tỷ lệ nghịch với khả năng sinh lời ngân hàng, cho thấy khi ngân hàng quản lý không hiệu quả thì làm khả năng sinh lời giảm. Luận văn: KQNC thu nhập đến khả năng sinh lời các ngân hàng.
Biến lạm phát có tác động cùng chiều với khả năng sinh lời của ngân hàng cho thấy nhà quản trị ngân hàng thường dự đoán trước lạm phát và có chiến lược điều chỉnh lãi suất để doanh thu tăng cao hơn chi phí nên lạm phát không làm giảm kết quả kinh doanh mà ngược lại còn giúp tăng khả năng sinh lời của ngân hàng.
Một yếu tố mới thuộc môi trường vĩ mô cần được xem xét khi đánh giá các yếu tố tác động đến khả năng sinh lời đó là biến về độ mở tài chính. Biến này có tác động cùng chiều với khả năng sinh lời của ngân hàng. Trong điều kiện nền kinh tế ở Việt Nam ngày càng mở cửa, độ mở tài chính ngày càng cao thì khả năng sinh lời của ngân hàng sẽ ngày càng tốt hơn.
Nghiên cứu chưa tìm thấy mối quan hệ giữa biến về tỷ lệ tiền gửi với khả năng sinh lời ngân hàng.
Về thực tiễn đã được minh chứng qua cả hai phía là NHTM lẫn các cơ quan quản lý. Trong thời gian vừa qua, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và hội nhập, các NHTM đã mạnh dạn đầu tư chi phí lớn vào hệ thống công nghệ thông tin cho các dịch vụ hiện đại như dịch vụ ngân hàng trực tuyến (Online banking), thẻ thanh toán, thanh toán quốc tế, ATM, POS… Bên cạnh đó, nhiều chính sách lớn của Chính Phủ đã được thông qua như: Quyết định 1726 phê duyệt Đề án nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế, Quyết định 1813 phê duyệt Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2025 – 2025… đã tạo điều kiện cho hoạt động dịch vụ ngân hàng phát triển hơn trong thời gian tới. Như vậy, thu nhập từ hoạt động dịch vụ không những là thành phần quan trọng trong tổng thu nhập ngoài lãi góp phần gia tăng khả năng sinh lời của bản thân các NHTM, mà còn là yếu tố tích cực đóng góp vào điều hành nền kinh tế vĩ mô của Nhà nước.
Đa dạng hóa thu nhập tại các NHTM cổ phần Việt Nam là điều cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Trên thực tế, hoạt động tín dụng vẫn là hoạt động tạo thu nhập chủ yếu của các ngân hàng khi tỉ lệ thu nhập thuần từ lãi luôn chiếm trên 70% trong tổng thu nhập hoạt động, do đó, thu nhập ngoài lãi vẫn chưa phát huy được nhiều tác động tích cực của mình. Ngoài ra, một vấn đề quan trọng mà bài nghiên cứu đã tìm ra được, đó chính là tác động thực sự của các thành phần thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả sinh lời để có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về thu nhập này. Thông qua đó, đã góp phần gợi ý chính sách phù hợp để nguồn thu nhập này thực sự có ý nghĩa nâng cao hiệu quả hoạt động, bổ trợ cho hoạt động kinh doanh truyền thống vốn đã bộc lộ nhiều rủi ro và khó khăn trong thời gian qua. Như vậy, với yêu cầu “từng bước chuyển dịch mô hình kinh doanh của các NHTM theo hướng giảm bớt sự phụ thuộc vào hoạt động tín dụng và tăng thu nhập từ hoạt động phi tín dụng” được nêu ra trong Đề án Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng đem lại nhiều vấn đề liên quan đến cấu trúc thu nhập ngoài lãi của NHTM cổ phần Việt Nam cần có những giải pháp phù hợp.
5.2. Một số khuyến nghị đến các NHTM Luận văn: KQNC thu nhập đến khả năng sinh lời các ngân hàng.
Từ kết quả nghiên cứu, luận văn đưa ra một số khuyến nghị như sau:
- Thứ nhất, các NHTM Việt Nam cần tăng đa dạng hóa thu nhập để tăng khả năng sinh lời.
Phát triển các sản phẩm dịch vụ ngân hàng dựa trên nền tảng công nghệ thông tin hiện đại để đáp ứng nhu cầu sử dụng của khách hàng một cách nhanh chóng và thuận lợi. Hiện nay, với sự phát triển của công nghệ thông tin và sự phổ biến của việc sử dụng internet và điện thoại di động ở Việt Nam thì việc phát triển các sản phẩm dịch vụ dựa trên nền tảng này sẽ giúp ngân hàng có khả năng cung ứng sản phẩm dịch vụ đến cho nhiều người một cách nhanh chóng, thuận lợi hơn. Từ đó, khuyến khích khách hàng sử dụng và có thói quen sử dụng các dịch vụ ngân hàng trong cuộc sống hàng ngày.
Đẩy mạnh việc hợp tác với các tổ chức công nghệ tài chính (fintech) để cung ứng sản phẩm dịch vụ đến khách hàng. Fintech có những lợi thế về tốc độ, sự đơn giản, độ hiệu quả, tôn trọng quyền riêng tư và tiềm năng đã cho phép chia sẻ với khách hàng nhiều hơn, trao cho họ quyền kiểm soát và quyết định trong các giao dịch tài chính và các hoạt động đầu tư. Các công ty Fintech cũng cung cấp các dịch vụ tài chính bổ sung cho nhóm khách hàng có yêu cầu đặc thù và nhóm khách hàng chưa từng sử dụng dịch vụ ngân hàng. Do đó, khi hợp tác với các công ty fintech thì ngân hàng có thể cung ứng dịch vụ đa dạng đến các đối tượng khách hàng khác nhau, giúp mọi người dễ dàng tiếp cận các dịch vụ ngân hàng một cách thuận tiện nhất với chi phí thấp nhất.
Xây dựng hệ thống quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng theo các chuẩn mực quốc tế. Quản trị rủi ro là nội dung rất quan trọng trong quản trị ngân hàng. Trong điều kiện hội nhập quốc tế thì Việt Nam cũng cần phải tuân theo các chuẩn mực quốc tế. Khi ngân hàng cung ứng sản phẩm dịch vụ mới để đa dạng hóa thu nhập thì có thể luôn kèm theo rủi ro. Vì vậy, các ngân hàng cần nghiên cứu những rủi ro này để xây dựng cho mình một hệ thống giám sát, phòng ngừa và cảnh báo sớm để quản trị rủi ro thật tốt. Nhờ đó, các ngân hàng sẽ vừa đa dạng hóa thu nhập vừa giảm rủi ro để đạt kết quả kinh doanh tốt nhất.
Qua phân tích đã cho thấy được rằng, hoạt động kinh doanh ngoại hối đem lại hiệu quả tích cực cho ngân hàng nhưng vẫn còn bị động trước những thay đổi của thị trường và chính sách của NHNN. Chính vì vậy, trong thời gian sắp tới, khi nhà nước cũng đã linh hoạt hơn trong điều hành tỷ giá thì buộc các NHTM phải chủ động hơn nữa trong công tác nghiên cứu, phân tích, dự báo thị trường. Ngoài ra, các NHTM cần xây dựng bộ máy tổ chức kinh doanh chuyên nghiệp hơn trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm của các ngân hàng trên thế giới, chú trọng đào tạo hơn nữa về nghiệp vụ và xây dựng các quy trình kinh doanh, quy trình kiểm soát nội bộ nhằm quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối. Luận văn: KQNC thu nhập đến khả năng sinh lời các ngân hàng.
- Thứ hai, các NHTM Việt Nam cần nâng cao chất lượng tín dụng để giảm rủi ro tín dụng.
Trong quá trình hướng đến mục tiêu gia tăng lợi nhuận, các NHTM cần tập trung phát triển các hoạt động của ngân hàng an toàn, bền vững. Ví dụ như: đa dạng hóa tiền gửi, tăng trưởng sản phẩm dịch vụ phi tín dụng, thận trọng trong hoạt động cho vay để hạn chế việc phải trích lập dự phòng. Qua đó sẽ càng nâng cao hiệu quả khả năng sinh lời của đa dạng hóa thu nhập.
- Thứ ba, các NHTM Việt Nam cần tiếp tục tăng quy mô, tăng vốn tự có.
Các NHTM Việt Nam đều đã tăng vốn điều lệ đáp ứng quy định của Nhà nước nhưng để có thể mở rộng kinh doanh thì ngân hàng cần tiếp tục gia tăng vốn điều lệ cũng như quy mô hơn nữa. Trong thời gian vừa qua, việc các ngân hàng tăng vốn điều lệ và sáp nhập là đúng đắn vì đã giúp các ngân hàng có vốn chủ sở hữu và quy mô lớn hơn, có điều kiện phát triển các hoạt động ngoài lãi, tăng đa dạng hóa thu nhập và cải thiện khả năng sinh lời ngân hàng. Khi tăng vốn điều lệ thì ngân hàng mới có đủ tiềm lực tài chính để đầu tư công nghệ, phát triển các sản phẩm dịch vụ mới hiện đại, cũng như đầu tư vào các lĩnh vực khác mà ngân hàng có thế mạnh. Từ đó, quy mô của ngân hàng cũng tăng nhanh và tạo sự cộng hưởng để khả năng sinh lời ngân hàng ngày càng tốt hơn. Với kết quả kinh doanh khá tốt của các ngân hàng trong thời gian vừa qua thì các ngân hàng có thể tăng vốn từ phần lợi nhuận vượt trội so với kế hoạch hoặc chia cổ tức cho cổ đông dưới hình thức phát hành cổ phiếu thưởng. Ngoài ra, các NHTMCP cũng có thể tăng vốn bằng hình thức phát hành các công cụ nợ khác như phát hành cổ phiếu ưu đãi, trái phiếu, trái phiếu chuyển đổi… Tuy nhiên hình thức này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố nội tại của NHTMCP. Bên cạnh đó, việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại các tổ chức tín dụng có quy mô nhỏ, năng lực tài chính yếu kèm thành các NHTM có quy mô lớn đang là xu thế phổ biến. Đối với các NHTM có quy mô lớn thì việc sáp nhập, mua lại, hợp nhất sẽ giúp cho các ngân hàng này trở thành một ngân hàng có quy mô lớn hơn. Đối với các NHTM có quy mô nhỏ, tăng vốn thông qua phát hành cổ phiếu là một vấn đề khó khăn thì sáp nhập, hợp nhất là một sự lựa chọn tốt nhất để các ngân hàng này có thể tăng quy mô và mở rộng thị trường và tạo lập vị thế trong kinh doanh. Tuy nhiên, để thành công bằng hình thức này đòi hỏi các NHTM phải giải quyết triệt để các vấn đề: Tâm lý bất ổn của cổ đông sáng lập; Xác định giá trị ngân hàng; Giải quyết nhân sự sau khi sáp nhập; Văn hoá kinh doanh của tổ chức mới…
- Thứ tư, các NHTM Việt Nam cần tận dụng sự mở cửa tài chính để phát triển các sản phẩm dịch vụ mới, vừa đa dạng hóa thu nhập vừa đem lại khả năng sinh lời cao hơn cho ngân hàng.
Hiện nay, Việt Nam ngày càng mở cửa, hội nhập kinh tế thế giới, do đó độ mở tài chính sẽ ngày càng cao. Kết quả nghiên cứu cho thấy đây là một yếu tố ảnh hưởng tích cực đến đa dạng hóa thu nhập và khả năng sinh lời của các NTM Việt Nam. Do đó, đây là cơ hội để NHTM Việt Nam phát triển hơn nữa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại đáp ứng nhu cầu của khách hàng và cũng làm tăng sự đa dạng hóa thu nhập, đem lại khả năng sinh lời cao hơn cho các ngân hàng.
- Thứ năm, các NHTM Việt Nam cần có dự báo tốt về tỷ lệ lạm phát để tăng khả năng sinh lời ngân hàng trong điều kiện lạm phát cao. Luận văn: KQNC thu nhập đến khả năng sinh lời các ngân hàng.
Tỷ lệ lạm phát cao không phải luôn là vấn đề tác động xấu đến khả năng sinh lời ngân hàng mà vấn đề là ngân hàng cần có sự dự báo đúng về tỷ lệ lạm phát, từ đó có chính sách lãi suất cũng như các chiến lược kinh doanh phù hợp nhằm đem lại khả năng sinh lời cao hơn cho ngân hàng. Do đó, công tác quản trị ngân hàng cần nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cải thiện chất lượng dự báo lạm phát để ngân hàng có chiến lược kinh doanh phù hợp nhằm tăng khả năng sinh lời.
- Thứ sáu, NHTM Việt Nam cần nâng cao khả năng quản lý điều hành để giảm chi phí hoạt động nhằm tăng hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
Việc giảm chi phí hoạt động không có nghĩa là các ngân hàng sẽ cắt giảm chi phí hoạt động bằng cách giảm đầu tư cho tài sản cố định và lương cho nhân viên. Mà ngược lại, trong thời gian đầu để có thể tăng đa dạng hóa thu nhập thì các NHTM Việt Nam cần đầu tư phát triển công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để phát triển các sản phẩm dịch vụ đem lại thu nhập ngoài lãi. Khi đó, chi phí hoạt động của ngân hàng sẽ tăng cao. Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu thì điều này sẽ thúc đẩy tỷ lệ thu nhập ngoài lãi tăng, tức đa dạng hóa thu nhập tăng. Tiếp đến, việc đa dạng hóa thu nhập sẽ nâng cao hiệu quả kinh doanh ngân hàng và do đó sẽ bù đắp được cho chi phí đầu tư cho phát triển hoạt động ngoài lãi. Như vậy, để vừa gia tăng đa dạng hóa thu nhập vừa gia tăng hiệu quả kinh doanh ngân hàng thì các ngân hàng cần đầu tư phát triển công nghệ và chất lượng nhân lực đi đôi với nâng cao hiệu quả quản lý điều hành để làm sao sử dụng con người cũng như sử dụng tài sản một cách tối ưu nhằm đem lại lợi ích lớn hơn chi phí.
Đối với việc đầu tư phát triển công nghệ thì đây thực sự là vấn đề cần thiết do trong thời đại cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, các NHTM phải hướng đến chiến lược đa dạng hoá dịch vụ ngân hàng trên nền tảng công nghệ hiện đại. Đến nay, các NHTM Việt Nam đều đã áp dụng phần mềm Core banking. Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ cho quá trình cung cấp các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại, đòi hỏi các NHTM phải tiếp tục nâng cấp hệ thống ngân hàng lõi, Core banking cùng với cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, mở rộng băng thông, lắp đặt thêm đường truyền tốc độ cao, đảm bảo xử lý dữ liệu, giám sát và cung ứng dịch vụ từ xa cho khách hàng một cách hiệu quả. Việc đầu tư phát triển công nghệ không chỉ đảm bảo việc quản lý, giám sát từ xa tốt hơn mà còn phải đảm bảo cung cấp các sản phẩm dịch vụ hiện đại, đáp ứng nhanh chóng nhu cầu của khách hàng, đặc biệt là đảm bảo vấn đề về bảo mật, an toàn dữ liệu cho ngân hàng và cho khách hàng. Khi ứng dụng công nghệ hiện đại trong các giao dịch ngân hàng thì đòi hỏi các ngân hàng cũng phải có phương án dự phòng để khắc phục sự cố xảy ra trong các giao dịch ngân hàng nhằm đảm bảo sự an toàn cho khách hàng khi giao dịch.
Để giảm thiểu chi phí đầu tư nhưng vẫn cung cấp cho khách hàng những sản phẩm dịch vụ ngân hàng tốt nhất thì các NHTM Việt Nam nên đẩy mạnh quá trình liên kết giữa các ngân hàng trong việc ứng dụng công nghệ hiện đại, đặc biệt là các ngân hàng cùng tham gia vào một trung tâm thanh toán thẻ quốc gia để lúc bây giờ người sử dụng thẻ có thể sử dụng thẻ ở bất kỳ máy ATM nào mà không phân biệt ngân hàng. Ngân hàng cũng có thể hợp tác với các Fintech để chia sẻ chi phí và tận dụng kinh nghiệm triển khai công nghệ thông tin. Luận văn: KQNC thu nhập đến khả năng sinh lời các ngân hàng.
Đối với việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, do nguồn nhân lực là nhân tố tạo nên sự khác biệt về chất lượng sản phẩm dịch vụ giữa các NHTM, nên muốn tăng thu nhập nói chung và thu nhập ngoài lãi nói riêng thì phải gắn liền với với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Hiện nay, chất lượng nguồn nhân lực do thị trường lao động cung cấp tương đối đáp ứng được yêu cầu tuyển dụng của ngân hàng. Tuy nhiên để có được nguồn nhân lực có chất lượng cao và gắn bó, cống hiến lâu dài vì sự phát triển của ngân hàng thì ngân hàng cần tiếp tục thực hiện và phát huy hơn nữa các vấn đề sau:
Cần có chiến lược dài hạn và bắt tay ngay vào thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực và thu hút nhân tài trong bối cảnh xu thế số hóa, tự động hóa sẽ yêu cầu các NHTM vừa phải cắt giảm nhân sự giao dịch truyền thống, vừa yêu cầu một lượng lớn nhân sự có khả năng làm chủ công nghệ và yêu cầu các kỹ năng hoàn toàn mới. Ngân hàng cần thành lập một trung tâm đào tạo của ngân hàng mình vì mỗi ngân hàng có những đặc điểm riêng. Trung tâm đào tạo cần thường xuyên tổ chức các khóa đào tạo bồi dưỡng thêm kiến thức thực tế nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trang bị những kỹ năng cần thiết để hình thành một phong cách làm việc chuyên nghiệp. Bên cạnh đó, đây cũng là nơi đào tạo về văn hóa riêng của ngân hàng mình để tạo sự khác biệt với các ngân hàng khác. Ngoài ra, ngân hàng cũng nên có chính sách hỗ trợ cho nhân viên tham gia các khóa đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, tiếp cận các chương trình đào tạo tại các quốc gia phát triển để học hỏi kinh nghiệm.
Cần có sự gắn kết hơn nữa giữa cơ sở đào tạo và các ngân hàng thông qua việc thường xuyên tổ chức các buổi hội thảo, báo cáo chuyên đề, kinh nghiệm thực tiễn của ngân hàng, tài trợ học bổng, hỗ trợ cho sinh viên thực tập được tiếp cận nhiều hơn với công việc thực tế. Việc ngân hàng tài trợ các chương trình học bổng để hỗ trợ, phát huy những tài năng vượt khó không chỉ tạo mối liên kết với nhà trường mà còn tạo sự gắn bó với sinh viên, nhân lực tương lai của ngân hàng.
Cần có đội ngũ chuyên viên giỏi về tổ chức và sử dụng nguồn lực con người, tư vấn cho lãnh đạo ngân hàng trong việc bố trí công việc thích hợp cho từng nhân viên. Từ đó xây dựng sự gắn bó với công việc và phát huy hết tiềm năng sáng tạo của từng người lao động. Luận văn: KQNC thu nhập đến khả năng sinh lời các ngân hàng.
Cần có chế độ đãi ngộ hợp lý đối với nhân viên ngân hàng, thưởng phạt minh bạch rõ ràng, đặc biệt là việc trả lương thưởng cần lấy thước đo mức độ hoàn thành công việc để quyết định. Qua đó tại được cơ chế động lực, gia tăng mức độ hiệu quả trong công việc của nhân viên.
5.3. Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo
Nghiên cứu này sử dụng đo lường khả năng sinh lời thông qua các chỉ số tài chính. Vì vậy, hướng nghiên cứu tiếp theo là thực hiện đo lường đa dạng hóa thu nhập dùng chỉ số Herfindahl Hirschman điều chỉnh là tổng bình phương của từng loại tỷ lệ thu nhập ngoài lãi, đồng thời bổ sung cách đo lường khả năng sinh lời thông qua hiệu quả biên để có kết quả nghiên cứu đầy đủ hơn. Luận văn: KQNC thu nhập đến khả năng sinh lời các ngân hàng.
Ngoài ra, do hạn chế về dữ liệu nghiên cứu nên nghiên cứu này giới hạn phạm vi nghiên cứu ở 32 NHTM Việt Nam, chưa đầy đủ tất cả các NHTM Việt Nam, cũng như chưa bao gồm các ngân hàng liên doanh, ngân hàng nước ngoài. Vì vậy, hướng nghiên cứu tiếp theo là mở rộng phạm vi nghiên cứu kể cả các ngân hàng liên doanh và ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam để đánh giá đầy đủ hơn về tác động của đa dạng hóa thu nhập đến khả năng sinh lời của toàn bộ hệ thống NHTM tại Việt Nam.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Tác động thu nhập đến khả năng sinh lời các ngân hàng

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: KQNC thu nhập đến khả năng sinh lời các ngân hàng […]