Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT LUẬN VĂN

1. Phần Tiếng Việt

Tiêu đề: Các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Nội dung: Luận văn phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp xây dựng tại Việt Nam. Số liệu nghiên cứu được sử dụng dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo tài chính hàng năm từ năm 2014 đến năm 2021 của 82 công ty xây dựng ở 2 sàn giao dịch chứng khoán ở Việt Nam là HOSE và HNX. Nghiên cứu sử dụng chương trình Stata để phân tích dữ liệu bảng với tác động cố định, kết quả đã cho thấy có 4 nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp xây dựng niêm yết tại Việt Nam là quy mô doanh nghiệp (SIZE), tính thanh khoản (LIQ), tài sản cố định hữu hình (TANG); khả năng sinh lời (ROA). Qua đó cho ra kết quả thực nghiệm cho thấy quy mô và tài sản cố định có ảnh hưởng cùng chiều đến cấu trúc vốn trong khi thanh khoản (LIQ) và khả năng sinh lời trên TTS (ROA) có mối quan hệ ngược chiều đến cấu trúc vốn. Nhằm hỗ trợ các nhà quản trị doanh nghiệp trong quá trình sử dụng vốn, luận văn tìm hiểu xem các nhân tố nào đang có tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Kết quả nghiên cứu đã phần nào trả lời cho câu hỏi đề ra trong mục tiêu nghiên cứu của đề tài. Sau khi xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các các doanh nghiệp, có thể kết luận rằng có nhiều yếu tố khác nhau có ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các các doanh nghiệp ngành xây dựng được niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam.

Từ khóa: cấu trúc vốn, các nhân tố cấu trúc vốn, doanh nghiệp ngành xây dựng, sàn giao dịch HOSE, sàn giao dịch HNX.

2. Phần Tiếng Anh

  • Title:Factors affecting capital structure of listed construction enterprises in Vietnam.
  • Abstract:

The study analyzes the factors affecting the capital structure of Vietnamese construction enterprises. The research data uses secondary data from the annual financial statements from 2014 to 2021 of 82 construction companies in 2 stock exchanges in Vietnam, HOSE and HNX. Using Stata to analyze panel data with fixed effects, the results showed that there are four factors affecting the capital structure of listed construction firms in Vietnam: firm size (SIZE), liquidity (LIQ), tangible fixed assets (TANG); profitability (ROA). The empirical results show that size and fixed assets have a positive effect on capital structure while liquidity (LIQ) and profitability (ROA) have a negative effect on capital structure. Consider the factors affecting the capital structure of enterprises in the construction industry in Vietnam. From there, provide solutions to help use capital structure more effectively. The research results partly answered the question posed in the research objective of the thesis. After analyzing a number of variables that can affect the capital structure of construction companies listed on the Vietnamese stock exchange, we can conclude that there are many different factors that affect capital structure of construction enterprises listed on Vietnam stock exchange. Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.

  • Keyword: capital structure, capital structure factors, construction enterprises, HOSE, HNX

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

Về mặt lý thuyết, cấu trúc vốn phản ánh tỷ lệ giữa vốn vay và vốn chủ sở hữu mà doanh nghiệp đang thực hiện. Các nghiên cứu trước thường tập trung vào việc xem xét các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp, đưa ra các nhận xét về tỷ lệ giữa vốn vay và vốn chủ sở hữu hoặc tỷ lệ nợ ngắn hạn và nợ dài hạn đã hợp lý hay chưa. Xét trên phương diện lý thuyết, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng cấu trúc vốn hợp lý sẽ góp phần tăng lợi nhuận, tăng giá trị của doanh nghiệp. Tuy nhiên cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ở môi trường kinh tế Việt Nam như thế nào là hợp lý thì chưa được làm rõ. Do đó, cần có một bức tranh tổng quát về những dạng cấu trúc vốn phổ biến mà hiện tại các doanh nghiệp ở Việt Nam đang áp dụng và cụ thể theo một ngành nghề.

Về mặt thực tiễn nền kinh tế, theo một số báo cáo trong giai đoạn từ năm 2013 – 2021, ngành xây dựng có tỷ lệ đóng góp cho GDP mỗi năm tương đối cao và ổn định, cùng với sự phát triển của ngành xây dựng, đi song song với đó là các chính sách vĩ mô của Nhà nước giúp tốc độ tăng trưởng kinh tế biến động theo xu hướng tăng. Cùng với sự hồi phục của ngành bất động sản trong giai đoạn 2014 – 2019, lĩnh vực xây dựng, xây lắp và phát triển hạ tầng đã phát triển mạnh với tăng trưởng trung bình trên 9,0%/năm so với giai đoạn trước 2015. Theo số liệu thống kê của Viện nghiên cứu phát triển hạ tầng và quy hoạch đô thị, tốc độ phát triển của mảng xây dựng xây lắp và hạ tầng có xu hướng giảm, với tỷ lệ tăng trưởng đạt đạt đỉnh điểm đạt 10,8% vào năm 2016 và giảm dần qua các năm sau đó. Năm 2019, do tác động của dịch COVID-19 cũng như các yếu tố khác, tăng trưởng GDP và ngành xây dựng đã bước theo một quỹ đạo hoàn toàn khác, giảm mạnh ở năm 2020 và 2021. (Nguồn: VietstockFinace)

Hình 1. 1: Tăng trưởng GDP và Ngành xây dựng tại Việt Nam từ 2013-2021

Mặc dù đã nỗ lực và đạt được nhiều thành quả, lĩnh vực xây dựng của Việt Nam vẫn có rất nhiều thách thức đối với các doanh nghiệp để vượt qua. Diễn biến của cuộc khủng hoảng kinh tế, dịch bệnh COVID-19, lãi suất, lạm phát và chính sách quản lý Chính phủ đã có tác động đến lĩnh vực xây dựng của Việt Nam. Hệ thống các vấn đề này làm cho các công ty xây dựng Việt Nam ngày càng quan tâm hơn nữa về vấn đề quản trị tài chính doanh nghiệp và chú ý vào việc tìm ra một cấu trúc vốn phù hợp với công ty. Cơ cấu vốn phù hợp giúp doanh nghiệp tối đa hóa lợi nhuận và hạn chế rủi ro tài chính. Việc khảo sát các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn, đặc biệt là cấu trúc vốn ngành xây dựng là rất cấp bách và có thể áp dụng trong thời buổi kinh tế ngày càng phát triển sâu rộng trong ngành xây dựng như hiện nay.

Vì vậy, với sự nhận thức về tầm quan trọng của cấu trúc vốn và đưa ra mục tiêu cao nhất trong việc tối đa hoá giá trị công ty của ngành xây dựng tại Việt Nam, với mong muốn nghiên cứu của tác giả là một nhu cầu cần thiết về mặt học thuật để từ đó giúp các nhà quản trị công ty đưa ra quyết định chính xác hơn, vì vậy tác giả chọn đề tài: “Các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.

Nghiên cứu với mục đích xác định các nhân tố tác động và mức độ tác động của các nhân tố này đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2014 đến 2021. Trong đó, nhằm đạt được mục đích trên, nghiên cứu sẽ thực hiện hoàn thành 3 mục tiêu cụ thể, (i) xác định các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam; (ii) đo lường mức độ tác động của các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam; (iii) từ đó đưa ra những khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho doanh nghiệp xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam.

1.3. Câu hỏi nghiên cứu Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.

Dựa trên mục đích đã đặt ra ở phần trên, nghiên cứu sẽ lần lượt đặt ra 3 câu hỏi tương ứng nhằm giải quyết 3 mục tiêu cụ thể, (i) Những nhân tố nào tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam? (ii) Những nhân tố này tác động như thế nào đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam? (iii) Những giải pháp nào sẽ giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho doanh nghiệp xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam.

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng luận văn nghiên cứu là cấu trúc vốn và các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Nghiên cứu sẽ thực hiện lấy mẫu dựa trên dữ liệu thứ cấp của những doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Không gian nghiên cứu: số liệu sử dụng cho nghiên cứu được lấy từ báo cáo tài chính của 82 doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.

Thời gian nghiên cứu: 08 năm, kể từ năm 2014 đến năm 2021.

1.5. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, nhằm kiểm tra mức độ tác động của các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành xây dựng.

Trong đó bao gồm các phương pháp kỹ thuật cụ thể như thống kê mô tả, phân tích tương quan và phân tích hồi quy dữ liệu bảng. Đầu tiên, thống kê mô tả được sử dụng nhằm cung cấp thông tin khái quát về các biến trong mô hình nghiên cứu, các chỉ tiêu thống kê mô tả bao gồm giá trị trung bình, giá trị nhỏ nhất, giá trị lớn nhất, độ lệch chuẩn và số quan sát. Sau đó, phân tích tương quan được sử dụng nhằm xác định mức độ tương quan (mạnh hay yếu, cùng chiều hay ngược chiều) giữa các biến trong mô hình nghiên cứu và nhận diện hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng. Tiếp đến, phân tích hồi quy dữ liệu bảng cân bằng để kiểm định xu hướng và mức độ tác động của các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp xây dựng, sử dụng mô hình bình phương tối thiểu gộp (Pooled OLS), mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM). Nhằm lựa chọn ra mô hình có mức độ giải thích tốt nhất và phù hợp nhất với dữ liệu nghiên cứu, luận văn sử dụng các kiểm định (F, Hausman, LM) để từ đó lựa chọn mô hình thích hợp. Ngoài ra, nghiên cứu thực hiện kiểm định các khuyết tất của mô hình hồi quy, bao gồm đa cộng tuyến nghiêm trọng, phương sai sai số thay đổi và tự tương quan. Cuối cùng, thực hiện khắc phục khuyết tật bằng phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất tổng quát khả thi (FGLS).

1.6. Nội dung nghiên cứu

  • Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu.
  • Chương 2: Nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm
  • Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
  • Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
  • Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị.

Kết luận chương 1

Ở chương 1, tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu tổng quát và mục tiêu cụ thể nhằm xem xét các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2014 – 2021. Bên cạnh đó, một số đóng góp của khoá luận về cấu trúc vốn của doanh nghiệp xây dựng Việt Nam cũng được thể hiện rõ ở chương này. Do đó, nội dung trong Chương 2 sẽ giúp hiểu rõ hơn về tổng quan cấu trúc vốn và các nghiên cứu thử nghiệm trước đó về các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành xây dựng.

CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT VÀ THỰC NGHIỆM

2.1. Lý thuyết về cấu trúc vốn

Cấu trúc vốn của một công ty được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, bởi vì với một cơ cấu vốn tối ưu vừa giúp một công ty có thể vừa tối đa hóa giá trị và giảm thiểu chi phí sử dụng vốn của công ty. Theo Macguigan và cộng sự (2006), cấu trúc vốn của công ty là sự kết hợp giữa nợ ngắn hạn, nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu được sử dụng để tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp. Theo Ahmad và cộng sự (2012), cấu trúc vốn là tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong tổng nguồn vốn của một công ty. Theo Nguyễn Minh Kiều (2012), cấu trúc vốn của một công ty là tỷ lệ giữa phần nợ và phần vốn chủ sở hữu trên nguồn vốn được sử dụng để tài trợ cho hoạt động của công ty.

Trong luận văn này tác giả định nghĩa cấu trúc vốn là sự kết hợp giữa nợ và vốn chủ sở hữu mà một công ty sử dụng để tài trợ cho hoạt động kinh doanh (Gill và cộng sự, 2009; Azhagaiah và Gavoury, 2011; Shubita và Alsawalhah, 2012). Theo Nguyễn Đình Luân (2016), cấu trúc vốn của công ty thường thay đổi theo chu kỳ kinh tế, có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đến lợi nhuận của cổ đông. Theo Ngô Kim Phượng và cộng sự, việc phân tích cấu trúc vốn được sắp xếp theo cách tiếp cận dựa trên bảng cân đối kế toán và được giải thích chi tiết trên thuyết minh báo cáo tài chính của các công ty bổ sung tính ổn định, bao gồm cả nợ phải trả và vốn chủ sở hữu. Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.

  • Nợ phải trả: bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn

Nợ ngắn hạn: là toàn bộ khoản nợ tại thời điểm báo cáo có thời hạn trả nợ không quá 12 tháng hoặc ngắn hơn một chu kỳ kinh doanh thông thường, bao gồm khoản phải trả người bán, phải trả nội bộ, phải trả dài hạn khác, vay và thuê tài chính.

Nợ dài hạn: Là tổng giá trị các khoản nợ dài hạn của doanh nghiệp bao gồm những khoản nợ có thời hạn thanh toán còn lại từ 12 tháng trở lên hoặc trên một chu kỳ sản xuất kinh doanh thông thường tại thời điểm báo cáo như: khoản phải trả người bán, phải trả nội bộ, các khoản phải trả dài hạn khác, vay và nợ thuê tài chính dài hạn tại thời điểm báo cáo.

Vốn chủ sở hữu: bao gồm Vốn cổ phần thường, Vốn cổ phần ưu đãi, Lợi nhuận giữ lại được phản ánh chung thành khoản Vốn chủ sở hữu trong bảng cân đối kế toán. Phản ánh số hiện có và tình hình tăng, giảm các loại nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp, của các thành viên góp vốn trong công ty.

2.1.1. Quan điểm truyền thống Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.

Daivd Durand công bố về cấu trúc vốn của doanh nghiệp năm 1952, đây là công bố sớm nhất. Ông đưa ra các giả định: (i) Doanh nghiệp hoạt động trong môi trường có thuế TNDN; (ii) Thị trường tài chính là không hoàn hảo.

Việc vay vốn có thể khiến công ty gặp rắc rối về tài chính. Ngoài ra, chủ sở hữu và chủ nợ có thể thay đổi tỷ suất sinh lợi kỳ vọng nếu hiệu quả sử dụng nợ của họ thấp.  Cấu trúc vốn theo quan điểm truyền thống khẳng định rằng:

Khi một công ty bắt đầu vay nợ, chi phí nợ thường rẻ hơn vốn chủ sở hữu. Với chi phí nợ thấp, kết hợp với lợi ích từ lá chắn thuế sẽ khiến WACC (Chi phí vốn bình quân gia quyền) giảm khi nợ tăng, doanh nghiệp có nhiều thuận lợi hơn bất lợi.

Tuy nhiên, khi đòn bẩy của công ty tăng lên thì mức độ rủi ro của nó cũng tăng theo, vì vậy chủ sở hữu cần phải tăng khả năng sinh lời của họ. Kết quả là công ty phải chịu lỗ.

Ngoài ra, tỷ lệ nợ cao khiến công ty dễ gặp khó khăn về tài chính do không trả được nợ. Mức nợ cao hơn làm tăng WACC. Theo lý thuyết này, sẽ luôn có một cấu trúc vốn tối ưu để tối đa hóa và do đó giảm thiểu giá trị của công ty.

Từ quan điểm truyền thống, không có lý thuyết cơ bản nào chứng minh chi phí vốn chủ sở hữu sẽ tăng bao nhiêu do tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu hoặc chi phí nợ, do đó, tăng bao nhiêu là do rủi ro vỡ nợ. Vì vậy, Lý thuyết M&M ra đời trên cơ sở cung cấp bằng chứng cũng như bổ sung thêm những khiếm khuyết mà quan điểm này còn thiết sót (Bringham và Houston, 2009).

2.1.2.thuyết M&M

Trái ngược với quan niệm truyền thống, lý thuyết về mối liên hệ giữa vốn và giá trị doanh nghiệp lần đầu tiên được trình bày bởi Modilligani và Miller vào năm 1958. Hai tác giả đã khám phá ra rằng liệu giá trị vốn tăng hay giảm phụ thuộc vào việc tăng hay giảm khoản vay. Giả định sau đây được diễn giải bởi hai tác giả: (i) Không có thuế TNDN và thuế TNCN; (ii) Không có các loại chi phí sau: chi phí giao dịch, chi phí nợ và chi phí phá sản; (iii) Tất cả các nhà đầu tư cá nhân và doanh nghiệp đều có lãi suất vay như nhau; (iv) Thị trường vốn là thị trường hoàn hảo.

Lý thuyết M&M được thể hiện thành 2 mệnh đề: Mệnh đề (I) đề cập đến giá trị của công ty; Mệnh đề (II) đề cập đến chi phí công ty phải chi trả khi sử dụng nguồn vốn từ bên ngoài. Ngoài ra, các mệnh đề này được xem xét trong hai trường hợp là không có thuế và có thuế.

  • a) Mệnh đề (I) – Giá trị của doanh nghiệp:

Trong điều kiện không có thuế: giá trị của doanh nghiệp vay nợ (VL) và không vay nợ (VU) là như nhau, khi đứng trên góc độ của một nhà quản trị không thể tối đa hoá giá trị doanh nghiệp bằng đòn bẩy tài chính, do đó không có cấu trúc vốn tối ưu trong trường hợp này (Brigam & Houston, 2012). VL = VU (2.1)

Hình 2. 1: Cấu trúc vốn theo quan điểm truyền thống

Trong điều kiện có thuế: khi doanh nghiệp sử dụng nợ, nhờ hưởng lợi ích từ lá chắn thuế, giá trị của doanh nghiệp sẽ tăng. Khi giá trị doanh nghiệp sử dụng nợ lớn hơn giá trị của doanh nghiệp không sử dụng nợ đúng bằng hiện giá khoản tiết kiệm thuế từ lãi vay. Mức độ sử dụng nợ tăng lên trong khi chi phí sử dụng nợ giảm, từ đó WACC của doanh nghiệp sử dụng nợ thấp hơn WACC doanh nghiệp không sử dụng nợ. VL = VU + T*D     (2.2)

  • T: thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp
  • D: giá trị của nợ vay

Hình 2. 2: Giá trị của doanh nghiệp theo lý thuyết M&M khi có thuế

Do đó, cấu trúc và giá trị công ty được liên kết với nhau, phù hợp với mô hình thuế do Modigliani và Miller phát triển vào năm 1963. Giá trị của doanh nghiệp tăng lên khi việc sử dụng nợ tăng lên và đạt đến đỉnh điểm khi nó được tài trợ hoàn toàn bằng nợ. Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.

  • b) Mệnh đề (II) – Chi phí sử dụng vốn

Trong điều kiện không có thuế: nếu không có thuế thu nhập doanh nghiệp thì lợi nhuận yêu cầu trên cổ phần có quan hệ cùng chiều với mức độ sử dụng đòn bầy tài chính hay tỉ số nợ (D/E). Được biểu diễn bằng công thức: rE= rU + (rU – rD) * D/E (2.3)

Trong điều kiện có thuế: nếu có thuế thu nhập doanh nghiệp thì lợi nhuận yêu cầu trên vốn cổ phần có quan hệ cùng chiều với mức độ sử dụng đòn bầy tài chính hay tỉ số nợ (D/E), nhưng mối quan hệ được biểu diễn bởi:  rE= rU + (rU – rD) * D/E * (1-t) (2.4)

Mặc dù Lý thuyết M&M đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về tác động của cấu trúc vốn đến giá trị công ty và WACC, nhưng các giả định trên có lẽ không xác đáng, điều này làm hạn chế việc áp dụng lý thuyết M&M vào thực tế. Và đây là cơ sở cho sự phát triển của các lý thuyết hiện đại sau này.

2.1.3.thuyết đánh đổi

Ý tưởng này lần đầu tiên được đưa ra bởi Kraus & Litzenberger (1973) và sau đó là Myers (1977) phát triển thêm. Các tác giả cho rằng công ty càng nợ nhiều thì càng có giá trị. Cấu trúc vốn là nơi lợi ích của lá chắn thuế có thể bù đắp chi phí khó khăn tài chính. Tuy nhiên, một khi tỷ lệ nợ đạt đến một mức nhất định, chi phí kiệt quệ tài chính sẽ lớn hơn lợi ích của việc bảo vệ thuế lãi suất. Kể từ đó, giá trị của công ty liên tục giảm và khả năng phá sản tăng lên.

Giá trị công ty vay nợ = Giá trị công ty không vay nợ cộng (+) Hiện giá lá chắn thuế trừ (-) Hiện giá chi phí khốn khó tài chính. (2.5)

Theo quan điểm của lý thuyết đánh đổi, nhà quản trị có thể tối ưu cấu trúc vốn của mình bằng cách xác định điểm mà tại đó với mỗi lượng nợ tăng thêm vừa đủ để bù đắp cho sự gia tăng của chi phí kiệt quệ tài chính dự tính trong điều kiện các kế hoạch đầu tư và tài sản của doanh nghiệp là không đổi.

  • Thuế thu nhập doanh nghiệp

Trong trường hợp doanh nghiệp có mức thuế suất khác nhau, doanh nghiệp có mức thuế suất cao hơn sẽ có động cơ vay nợ cao hơn, vay nợ càng nhiều lợi ích càng lớn.

Từ đó, lợi nhuận từ lá chắn thuế có quan hệ cùng chiều với cấu trúc vốn.

  • Chi phí khốn khó tài chính

Lý thuyết đánh đổi cũng có hàm ý rằng, chi phí khốn khó tài chính nghịch biến với cấu trúc vốn. Doanh nghiệp có khả năng gặp khó khăn tài chính cao hơn sẽ sử dụng nợ ít hơn các doanh nghiệp có ít rủi ro về phá sản.

  • Tài sản hữu hình của công ty

Khi tài sản hữu hình được sử dụng để đảm bảo cho các khoản vay, chúng sẽ ảnh hưởng đến CTV.

  • Quy mô công ty

Công ty càng lớn, nhà đầu tư càng dễ dàng nắm bắt thông tin. Do đó, việc vay vốn từ các công ty này sẽ dễ dàng hơn. Họ không có khả năng gặp rắc rối về tài chính.

  • Lợi nhuận

Lợi nhuận được xem có mối quan hệ cùng chiều với cấu trúc vốn. Khi doanh nghiệp làm ăn hiệu quả, tỷ suất sinh lời cao thì sẽ dễ dàng được vay vốn, và bản thân doanh nghiệp cũng muốn tăng tỷ trọng nợ để tối đa hoá lợi nhuận từ lãi vay.

Những hạn chế của lý thuyết M&M liên quan đến việc cạn kiệt chi phí tài chính của doanh nghiệp được giải thích bằng lý thuyết về sự đánh đổi. Tuy nhiên, cũng có nhiều điều mà lý thuyết đánh đổi không thể giải thích, chẳng hạn như việc tại sao một số doanh nghiệp vẫn có khả năng thành công, kết quả kinh doanh tốt khi vay rất ít nợ; hay trong thực tế khi giá cổ phiếu của doanh nghiệp đang cao và doanh nghiệp đang cần về tài trợ bên ngoài thì công ty có nhiều khả năng phát hành cổ phiếu (hơn là vay nợ). Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.

2.1.4.thuyết trật tự phân hạng

Bên cạnh các lý thuyết trên, lý thuyết trật tự phân hạng được phát triển bởi Stewart Myers và Nicolas Majluf (1984) lại đi theo một hướng khác khi phát biểu rằng: “không tồn tại một cấu trúc vốn tối ưu, mà chỉ ra một trật tự ưu tiên khi khi sử dụng các khoản đầu tư”. Nghiên cứu chia ngồn tài trợ thành: nguồn vốn bên trong (vốn góp và lợi nhuận giữ lại) và nguồn vốn bên ngoài (vốn vay và phát hành cổ phiếu mới).

Myers và Majluf lưu ý khoảng cách thông tin giữa các nhà quản lý tài chính và các nhà đầu tư quốc tế, lập luận rằng các nhà đầu tư ít hiểu biết hơn các nhà quản lý và do đó thường yêu cầu chiết khấu cao hơn. Điều này làm tăng chi phí huy động vốn nước ngoài và tạo ra các ưu tiên tài trợ.

Lựa chọn số 1: Nguồn vốn bên trong (Vốn nội bộ hiện có): Gồm hai phần chính:

Vốn góp ban đầu và nguồn vốn từ lợi nhuận giữ lại.

Vốn góp ban đầu là vốn có thể do chủ nhân bỏ ra, do các bên tham gia, các đối tác góp, đối với doanh nghiệp nhà nước sẽ là vốn đầu tư của nhà nước.

Vốn từ lợi nhuận giữ lại là một phần lợi nhuận dùng để tái đầu tư. Đối với công ty cổ phần, công ty để lại một phần lợi nhuận vào tái đầu tư, tức là không dùng số lợi nhuận đó để chia lãi cổ phần, các cổ đông không được nhân tiền lãi cổ phần nhưng bù lại, họ có quyền sở hữu số vốn cổ phần tăng lên của công ty.

Vốn nội bộ hiện có luôn được ưu tiên sử dụng đầu tiên khi doanh nghiệp có nhu cầu về vốn. Điều này xảy ra là do việc sử dụng vốn nội bộ hiện có là biện pháp chứa đựng ít rủi ro nhất. Các nhà quản trị về tài chính sẽ là người hiểu doanh nghiệp nhất, cũng muốn đảm bảo quyền kiểm soát cho các chủ sở hữu hiện tại, giảm bớt sự phụ thuộc của doanh nghiệp vào bên ngoài, tăng tính tự chủ về tài chính. Bên cạnh đó nếu ưu tiên vay nợ quá nhiều, một doanh nghiệp nếu không có khả năng chi trả sẽ là một nguyên nhân làm cho doanh nghiệp rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính. Vì vậy, nguồn vốn sẵn có bên trong luôn được sử dụng đầu tiên.

Tuy nhiên nếu gia tăng quá lớn tỷ lệ tài trợ từ nguồn nội bộ thì có thể dẫn đến bất lợi cơ bản là có thể làm cho giá cổ phiếu trên thị trường giảm, ảnh hưởng xấu đến doanh nghiệp. Bởi vì bản chất trong mắt của những nhà đầu tư, một doanh nghiệp vững mạnh là một doanh nghiệp đủ sức chi trả phần lợi nhuận dư ra cho mình, tức chia cổ tức đều qua các năm. Chính vì vậy, doanh nghiệp hoặc công ty sẽ thực hiện tài trợ vốn bằng vốn nội bộ với một mức độ nhất định để đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp. Khi đó, các nguồn tài trợ bên ngoài sẽ được các nhà quản lý xem xét đến.

Lựa chọn số 2: Các khoản vay nợ (chứng khoán nợ): Khi sử dụng các khoản vay nợ, nhà quản lý sẽ huy động các khoản vay nợ ngắn hạn và các khoản vay nợ dài hạn.

Dựa trên lý thuyết trật tự phân hạng, khi nhà quản lý xem xét đến việc huy động các nguồn vốn từ bên ngoài thì việc sử dụng tài trợ từ các khoản vay sẽ được ưu tiên hơn việc phát hành cổ phiếu mới, bởi vì:

Chi phí này chính là lãi vay mà doanh nghiệp phải trả cho khoản vay của mình, ngoài ra còn được lợi từ tấm lá chắn thuế.

Thêm một lí do nữa khiến việc vay vốn được ưu tiên hơn gọi vốn là do người cho vay sẽ luôn nhận được khoản chi trả cố định, điều này khiến họ trở nên dễ thuyết phục hơn so với các cổ đông tương lai.

Nhưng vì nợ là chi phí tài chính cố định, dù doanh nghiệp của bạn có hoạt động ra sao, thu nhập nhiều hay thậm chí đang thua lỗ thì doanh nghiệp vẫn phải đảm bảo việc trả lãi vay đúng kỳ hạn và trả nợ gốc khi đáo hạn. Do đó, khi khoản nợ của doanh nghiệp tăng lên, thì những rủi ro về tài chính cũng tăng theo. Như vậy, doanh nghiệp luôn phải cân nhắc khi nào thì sử dụng nợ và mức độ bao nhiêu là phù hợp.

Lựa chọn số 3: Vốn góp mới trực tiếp từ chủ sở hữu: Các doanh nghiệp huy động vốn chủ sở hữu mới bằng cách phát hành cổ phiếu. Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.

Việc huy động VCSH mới là lựa chọn cuối cùng của các nhà quản lý khi có nhu cầu về vốn, bởi điều này hàm chứa nhiều rủi ro sau:

Khi doanh nghiệp công bố thông tin phát hành thêm cổ phiếu, thị trường sẽ đón nhận thông tin này như một tín hiệu xấu về triển vọng doanh nghiệp, sẽ khiến giá cổ phiếu giảm.

Các chi phí liên quan đến phát hành cổ phiếu mới, chi phí nghiên cứu thị trường, và các chi phí khác liên quan rất tốn kém.

Quyền sở hữu có thể bị chia nhỏ. Do đó, chính vì những nhược điểm trên nên việc huy động vốn chủ sở hữu mới thường là lựa chọn cuối cùng của các nhà quản lý.

  • Lý thuyết trật tự phân hạng ra đời đã lý giải được một số điều sau:

Các doanh nghiệp có khả năng sinh lợi cao thường vay ít hơn, vì họ có nguồn vốn nội bộ đủ cho đầu tư vốn. Còn các doanh nghiệp có khả năng sinh lợi ít hơn thường phát hành nợ vì họ không có nguồn vốn nội bộ đủ cho đầu tư vốn.

Lý giải những hành động quản trị, đó là các doanh nghiệp có khả năng sinh lợi cao với cơ hội đầu tư hạn chế sẽ cố gắng duy trì tỷ lệ nợ mục tiêu thấp trong khi các doanh nghiệp có cơ hội đầu tư lớn hơn các nguồn phát sinh nội bộ buộc phải tăng tỷ lệ nợ.

Lý thuyết trật tự phân hạng giải thích được một số nhân tố tác động đến việc doanh nghiệp quyết định lực chọn nguồn tài chính nào, nhưng nó vẫn còn hạn chế do chưa tính đến việc thuế ảnh hưởng như thế nào đến các quyết định, chi phí phá sản và chi phí liên quan đến việc phát hành chứng khoán để thanh toán các nghĩa vụ của công ty.

2.1.5.thuyết thời điểm thị trường 

Theo lý thuyết xác định thời điểm thị trường, cấu trúc vốn là kết quả tích lũy của những nỗ lực xác định thời điểm thị trường trong quá khứ. Nói cách khác, theo lý thuyết trao đổi, không có cấu trúc vốn tối ưu. Baker và Wurgler (2002) cho rằng giá trị công ty được quyết định bởi hai yếu tố sau: giá cổ phiếu và thời điểm lần đầu tiên đưa cổ phiếu ra thị trường.

Giá cổ phiếu: Một công ty hoặc tập đoàn phát hành chứng khoán khi giá thị trường của cổ phiếu cao hơn giá trị sổ sách. Nó nhằm mục đích giảm chi phí vốn của công ty bằng cách tận dụng những biến động tạm thời của chi phí vốn. Mặt khác, công ty sẽ tiến hành mua lại cổ phần trong trường hợp cổ phiếu của họ bị định giá thấp.

Thời điểm gia nhập thị trường: thời điểm này có tác động rất lớn và dai dẳng lên tỷ lệ đòn bẩy.

Mặc dù đã đạt được những thành công, nhưng lý thuyết về thời điểm thị trường của cấu trúc vốn vẫn còn hạn chế vì không giải thích rõ ràng mức độ ảnh hưởng của các nhân tố và cấu trúc công ty mong muốn là gì (Hồ Đình Bảo, 2014).

Tác giả đã trình bày một loạt các lý thuyết cấu trúc. Tuy nhiên, luận văn này tập trung triển khai hai lý thuyết cấu trúc vốn là lý thuyết đánh đổi và lý thuyết trật tự phân hạng.

Bảng 2. 1. Các yếu tố tác động đến cấu trúc vốn

STT Lý thuyết Các yếu tố ảnh hưởng Mối quan hệ với cấu trúc vốn
1 Lý thuyết M&M Thuế TNDN Đồng biến (+)
2 Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn Lợi nhuận Đồng biến (+)
Quy mô Đồng biến (+)
Tài sản CĐHH Đồng biến (+)
Chi phí khốn khó tài chính Nghịch biến (-)
Thuế TNDN Đồng biến (+)
3 Lý thuyết trật tự phân hạng Lợi nhuận Nghịch biến (-)
Quy mô Nghịch biến (-)
Cơ hội tăng trưởng Đồng biến (+)
Tài sản cố định hữu hình Đồng biến (+)
4 Lý thuyết thời điểm thị trường Giá thị trường/Giá sổ sách Nghịch biến (-)

Nguồn: Tác giả tổng hợp

2.2. Tổng quan các nghiên cứu trước Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.

2.2.1. Nghiên cứu nước ngoài

Huang và Song (2001) phân tích dữ liệu thị trường và số liệu kế toán của hơn 1.000 doanh nghiệp niêm yết của Trung Quốc đến năm 2000. Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô doanh nghiệp và cơ cấu tài sản có tác động cùng chiều đến đòn bẩy tài chính; trong khi đó lợi ích lá chắn thuế phi nợ, tỷ suất lợi nhuận, khả năng tăng trưởng lại có mối tương quan âm.

Bhaduri (2002) cho rằng lá chắn thuế phi nợ là những thay thế tốt cho lợi thuế từ vay nợ, do đó doanh nghiệp với lợi ích lá chắn thuế phi nợ lớn sẽ vay nợ ít. Nghiên cứu cũng cho rằng doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ có xu hướng đa dạng hóa nguồn vốn huy động nên ít bị khủng hoảng tài chính, nói cách khác tồn tại một mối quan hệ thuận chiều của quy mô doanh nghiệp đến cơ cấu nguồn vốn. Mặt khác, đặc trưng sản phẩm của doanh nghiệp tương quan âm tới hệ số nợ, bởi lẽ với cấu trúc vốn đặc trưng sẽ giảm được nguy cơ phá sản doanh nghiệp.

Nghiên cứu của Chen (2003) được thực hiện trên 77 doanh nghiệp lớn niêm yết trên thị trường chứng khoán Thượng Hải ở Trung Quốc. Tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu dựa trên lý thuyết đánh đổi và trật tự phân hạng. Kết quả của Chen cho thấy khả năng sinh lời và quy mô doanh nghiệp có tác động âm (-) đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp, trong khi tốc độ tăng trưởng và tài sản cố định hữu hình có tác động dương (+) đến tỷ lệ nợ. Ngoài ra, nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt trong việc sử dụng nợ giữa các doanh nghiệp Trung Quốc và các quốc gia phát triển, trong đó các doanh nghiệp Trung Quốc thường ưu tiên nợ ngắn hạn hơn nợ dài hạn. Chen tuyên bố rằng lý thuyết về trật tự phân hạng, giải thích tốt hơn cho kết quả nghiên cứu so với lý thuyết đánh đổi. Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.

Nicolaos Daskalakisa, Maria Psillakib (2008) nghiên cứu về các yếu tố quyết định đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ từ 1997 đến 2002 tại Hy Lạp và Pháp. So với Pháp, Hy Lạp giữ lại nhiều nợ hơn trong cấu trúc vốn. Ngoài ra, tỷ lệ tài sản hữu hình, Pháp duy trì cao hơn sao với Hy Lạp. Tác giả thực hiện chạy dữ liệu sử dụng phương pháp ước tính là SUR được tổng hợp theo chu kỳ EGLS (bình phương tổng quát tối thiểu ước tính). Kết quả các yếu tố quyết định cấu trúc vốn về sự thay đổi trong tỷ lệ nợ trên tài sản của Hy Lạp là 52,23% và Pháp là 39,61%. Kết quả còn thể hiện tác động âm (-) của cơ cấu tài sản và tỷ suất lợi nhuận lên cấu trúc vốn và có ý nghĩa ở cả hai bảng hồi quy. Tác động của tăng trưởng thu nhập lên cơ cấu vốn là tích cực, tuy nhiên đây là kết quả của Pháp, còn Hy Lạp thì không.

Wanrapee Banchuenvijit (2009) thực hiện trên 81 công ty niêm yết ở Thái Lan từ năm 2004 đến 2008. Mô hình này bao gồm TSSL, quy mô công ty, tỷ lệ tài sản cố định hữu hình, tốc độ tăng trưởng của tài sản, lợi nhuận giao dịch biến động. Kết quả cho thấy 3 nhân tố có ý nghĩa thống kê ở mức 1%, đó là: khả năng sinh lời, tài sản cố định có quan hệ nghịch biến với khả năng vay nợ và quy mô doanh nghiệp có quan hệ cùng chiều với tỷ lệ nợ.

Mutalib (2011) tiến hành phân tích thực nghiệm các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp xi măng ở Nigeria trong giai đoạn 2000 – 2009. Nghiên cứu sử dụng phương pháp ước lượng Pooled OLS cho mẫu dữ liệu bảng với 08 biến độc lập. Kết quả cho thấy, có 07 biến độc lập ảnh hưởng đáng kể đến cấu trúc vốn. Trong đó, khả năng sinh lời, quy mô doanh nghiệp, khả năng thanh toán và biến trễ bậc 1 của hệ số nợ có tác động âm đến cấu trúc vốn. Ngược lại, khả năng tăng trưởng, tuổi của doanh nghiệp có tác động dương chiều đến tỷ lệ nợ.

Shafie Mohamed Zabri (2012) nghiên cứu về các yếu tố quyết định đến cấu trúc vốn của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Malaysia. Mẫu nghiên cứu bao gồm 50 doanh nghiệp trong giai đoạn từ 1998-2010. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng: tài sản cố định, tấm chắn thuế và tính thanh khoản có ý nghĩa thống kê với cấu trúc vốn; mặt khác các yếu tố gồm khả năng sinh lời, tốc độ tăng trưởng, tuổi của doanh nghiệp, quy mô của doanh nghiệp không có ý nghĩa thống kê trong vấn đề quyết định cấu trúc vốn của công ty.

Khairul Alom (2013) nghiên cứu về sự lựa chọn vốn của các công ty Bangladesh, mẫu nghiên cứu bao gồm 44 công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Dhaka (DSE) trong giai đoạn 2004-2011. Nghiên cứu sử dụng phương pháp Pooled OLS và cho kết quả bao gồm các yếu tố: khả năng sinh lời, tài sản đảm bảo tính thanh khoản có tác động tiêu cực đến cấu trúc vốn. Hệ số giá trị sổ sách có quan hệ cùng chiều đến đòn bẩy. Tỷ lệ trả cổ tức và quy mô không tác động nhiều đến cấu trúc vốn. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn cho thấy, cấu trúc vốn sẽ khác nhau giữa các nhàng công nghiệp ở Bangladesh

Mawih Kareem AL ANI1, Maha Saud AL AMRI (2014) này điều tra năm nhân tố quyết định cấu trúc vốn (đòn bẩy) trong ba phân ngành của các công ty Công nghiệp Oman (thực phẩm, xây dựng và hóa chất) được niêm yết trên thị trường chứng khoán Muscat trong giai đoạn 2008–2012. Theo thông tin có sẵn và đánh giá tài liệu, các yếu tố được cho là quyết định đó là khả năng sinh lời đo lường bằng lợi tức trên tài sản (ROA), rủi ro được đo lường bằng độ lệch chuẩn của lợi nhuận trên tài sản, quy mô của công ty được đo bằng logarit tự nhiên của tổng tài sản, tốc độ tăng trưởng được đo lường bằng tỷ lệ giá trị sổ sách thị trường (P/E) và tính hữu hình của tài sản được đo lường bằng tỷ lệ tài sản cố định trên tổng tài sản. Cấu trúc vốn hoặc đòn bẩy được đo lường bằng tổng tỷ lệ nợ. Quy mô và rủi ro có liên quan tiêu cực với đòn bẩy trong khi lợi nhuận có liên quan cùng chiều. Mô hình diễn giải 57,3% tổng phương sai và có ba biến quan trọng trong phương trình hồi quy là lợi nhuận, quy mô và rủi ro.

Natalia Mokhovaa, Marek Zineckera (2014) đưa ra các bằng chứng về tác động của yếu tố kinh tế vĩ mô đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp tại Châu Âu. Sự khác nhau còn phụ thuộc vào cơ cấu nợ của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy tại Cộng Hòa Séc, có mối quan hệ tiêu cực giữa tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ tổng nợ và tỷ lệ nợ dài hạn; nợ chính phủ có ảnh hưởng ngược chiều đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Tại Hungary và Slovakia, nợ chính phủ có tác động tích cực mạnh mẽ đến cấu trúc vốn. Ba nước gồm Ba Lan, Hungary và Hy Lạp có không chịu ảnh hưởng mạnh bởi mối quan hệ giữa lãi suất dài hạn và cấu trúc vốn. Mặc khác, Ba Lan chịu ảnh hưởng tiêu cực của nợ chính phủ đối với cấu trúc vốn.

Laura Serghiescua, Viorela-Ligia Videanb (2014) nghiên cứu về tầm quan trọng của các yếu tố đối với cấu trúc vốn của các công ty trong lĩnh vực xây dựng tại Rumani được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Bucharest. Mẫu nghiên cứu được lấy bao gồm 20 công ty trong vòng 3 năm 2009 – 2011. Bằng cách sử dụng phương pháp Pooled OLS, mô hình FEM. Các hồi quy tuyến tính đơn giản, kết quả nhận được như sau: khả năng sinh lời, tính thanh khoản và tài sản hữu hình có tác động tiêu cực đến cấu trúc vốn; quy mô của công ty và vòng quay tài sản có mối quan hệ tích cực đến cấu trúc vốn.

Gholamhossein Asadi, Morteza Bayat, Salad Naghdi. (2015) nghiên cứu về các yếu tố tài chính và phi tài chính ảnh hưởng đến các quyết định về cấu trúc vốn của 74 công ty tại Tehran từ 2005-2010. Phương pháp hồi quy kết hợp phương pháp Pooled OLS, kết quả nhận được như sau: tỷ suất sinh lời trên tài sản có mối quan hệ âm với cấu trúc vốn; quy mô công ty có mối quan hệ dương với cấu trúc vốn; tính độc đáo của sản phẩm, tốc độ tăng trưởng tài sản và tốc độ tăng trưởng doanh thu có mối quan hệ tích cực với cấu trúc vốn. Mặt khác, các yếu tố như tỷ lệ chi trả cổ tức và giá trị tài sản thế chấp không có tác động đáng kể đối với cấu trúc vốn.

Harc (2015) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa tài sản cố định và cấu trúc vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Croatia. Hầu hết các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra mối quan hệ khác nhau giữa tài sản cố định hữu hình và CTV. Nghiên cứu này được thực hiện trên một mẫu gồm 500 doanh nghiệp vừa và nhỏ của Croatia từ năm 2005 đến năm 2010. Để xem xét mối quan hệ giữa tài sản vật chất và đòn bẩy tài chính, nhóm tác giả sử dụng hệ số tương quan Pearson. Kết quả của nghiên cứu này cho thấy tài sản cố định hữu hình có tương quan khác nhau với nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. TSCĐ và CTV có tác động âm. Các quan sát và ý nghĩa thống kê trong suốt cả năm chỉ ra mối tương quan thuận giữa của cải vật chất và đòn bẩy tài chính dài hạn.

Audil Rashid Kaki, Ahmet Akin (2020) nghiên cứu về các yếu tố quyết định đến cấu trúc vốn ở các quốc gia thuộc Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh (GCC) bao gồm Bahrain, Kuwait, Quatar, Oman, Ả Rập Saudi. Mẫu nghiên cứu được lấy từ 329 công ty phi tài chính trong giai đoạn (2009-2017). Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng quy mô doanh nghiệp, tài sản hữu hình, cơ hội tăng trưởng có tác động tích cực đến cấu trúc vốn. Mặt khác, các yếu tố bao gồm khả năng sinh lời, tuổi thọ của doanh nghiệp, rủi ro kinh doanh, tính thanh khoản và sở hữu Nhà nước có tác động ngược chiều đến cấu trúc vốn. Mặt khác nghiên cứu cũng cho thấy thêm tùy thuộc vào đặc điểm thế chế của quốc gia mà cấu trúc vốn cũng sẽ bị tác động, tuy nhiên sẽ không bị tác động quá nhiều.

2.2.2. Nghiên cứu trong nước Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.

Trần Đình Khôi Nguyên và Ramachandran (2006) đã tìm hiểu các yếu tố đóng vai trò quan trọng trong việc xác định cấu trúc vốn của 558 doanh nghiệp vừa và nhỏ từ năm 1998 đến năm 2001. Kết quả cho thấy các biến tỷ lệ có thể thay đổi. Rủi ro kinh doanh, mối quan hệ với ngân hàng và tăng trưởng thu nhập có mối tương quan thuận với cấu trúc vốn của công ty. Mặt khác, khả năng sinh lời và cấu trúc tài sản có tác động tiêu cực đến tỷ lệ nợ của công ty.

Nghiên cứu của Đặng Thị Quỳnh Anh và Quách Thị Hải Yến (2014) tìm hiểu tác động của 10 nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM giai đoạn 2010-2013. Kết quả nghiên cứu cho thấy ba nhân tố ảnh hưởng mạnh nhất đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp là tỷ suất sinh lời, quy mô công ty và tỷ lệ thuế TNDN. Tỷ suất lợi nhuận và thuế suất có tác động ngược chiều đến đòn bẩy của doanh nghiệp, trong khi quy mô doanh nghiệp có tác động tích cực. Ngoài ra, các nghiên cứu cho thấy các công ty Việt Nam chủ yếu sử dụng nợ ngắn hạn do thị trường trái phiếu kém phát triển.

Nghiên cứu của Lê Thị Minh Nguyên (2016), phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu vốn của 17 công ty xi măng niêm yết Việt Nam (HOSE và HNX) từ 2007 đến 2013. Kết quả cho thấy các nhân tố như khả năng sinh lời, tuổi công ty và sở hữu nhà nước có tác động tiêu cực tác động đến cấu trúc vốn. Nghiên cứu cũng cho thấy doanh nghiệp kinh doanh xi măng có quy mô càng lớn thì tỷ lệ nợ dài hạn trên tổng tài sản càng cao. Kết quả cũng nhấn mạnh ảnh hưởng của khả năng thanh toán và giá trị tài sản cố định đến cấu trúc vốn, đặc biệt là tỷ lệ nợ dài hạn trên quy mô bảng cân đối kế toán. Đặc biệt, yếu tố trú ẩn thuế có tác động tiêu cực đến cấu trúc vốn của các công ty.

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thúy Hạnh (2017) khảo sát 14 công ty du lịch niêm yết trên hai sàn chứng khoán Việt Nam là HOSE và HNX từ năm 2009 đến 2015. Tác giả sử dụng mô hình hồi quy bảng để chỉ ra ba yếu tố ảnh hưởng đến đòn bẩy tài chính của công ty du lịch. Kết quả cho thấy quy mô và tài sản có mối quan hệ thuận chiều với đòn bẩy tài chính, trong khi khả năng sinh lời có mối quan hệ nghịch chiều với đòn bẩy tài chính.

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thúy Hạnh (2018) xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp sản xuất thương mại tại Việt Nam. Lấy dữ liệu của 38 doanh nghiệp sản xuất trên hai sàn giao dịch HOSE và HNX từ năm 2009 đến 2016. Kết quả thực nghiệm cho thấy quy mô, tài sản cố định và khả năng sinh lời có tác động tích cực đến cấu trúc vốn, trong khi tính thanh khoản và tỷ lệ sở hữu của chính phủ lại có tác động tiêu cực đến cấu trúc vốn.

Nghiên cứu Lê Thị Nhung (2020) phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp xi măng niêm yết tại Việt Nam với mẫu 77 quan sát trong giai đoạn 2010 – 2019. Các yếu tố được xác định ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp xi măng: quy mô công ty, cơ cấu tài sản, tiềm năng tăng trưởng, khả năng thanh toán và khả năng sinh lời. Trong đó nhân tố quy mô công ty có tác động mạnh nhất và tích cực nhất đến cấu trúc vốn. Yếu tố khả năng sinh lời có tác động tiêu cực đến tỷ lệ nợ.

Nguyễn Thị Như Quỳnh và cộng sự (2020) đã phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của 148 công ty phi tài chính niêm yết trên HOSE bằng cách so sánh tỷ lệ kỳ hạn nợ tài chính ngắn hạn so với nợ tài chính dài hạn từ năm 2011 đến 2018. Tỷ lệ nợ bị ảnh hưởng trong ngắn hạn bởi mức lãi suất, cấu trúc tài sản và tính thanh khoản của công ty. Về lâu dài, đòn bẩy bị ảnh hưởng bởi quy mô, khả năng sinh lời, cấu trúc tài sản, cơ hội tăng trưởng và tính thanh khoản, trong khi thuế không ảnh hưởng đến cấu trúc vốn. Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.

Bảng 2. 2. Tổng hợp kết quả các nghiên cứu thực nghiệm

Nhân tố Kỳ vọng Lý thuyết Tác giả
Quy mô doanh nghiệp + Lý thuyết đánh đổi Huang và Song (2001), Bhaduri (2002), Wanrapee Banchuenvijit (2009), Trần Đình Nguyên Khôi và Ramachandran (2006), Harc (2015), Đặng Thị Quỳnh Anh và Quách Thị Hải Yến (2014), Lê Thị Minh Nguyên (2016), Nguyễn Thị Thuý Hạnh (2017), Lê Thị Nhung (2020)
Lý thuyết trật tự phân hạng Chen (2003), Mutalib (2011), Mawih Kareem & Maha Saud (2014)
Tỉ suất sinh lời + Lý thuyết đánh đổi Mawih Kareem & Maha Saud (2014)
Lý thuyết trật tự phân hạng Huang và Song (2001), Chen (2003), Wanrapee Banchuenvijit (2009), Mutalib (2011), Trần Đình Khôi Nguyên và Ramachandran (2006), Đặng Thị Quỳnh Anh và Quách Thị Hải Yến (2014), Lê Thị Minh Nguyên (2016), Nguyễn Thị Thuý Hạnh (2017), Lê Thị Nhung (2020), Nguyễn Thị Như Quỳnh và cộng sự (2020)
Tài sản cố định hữu hình + Lý thuyết đánh đổi Chen (2003), Mutalib (2011), Harc (2015), Lê Thị Minh Nguyên (2016), Nguyễn Thị Thuý Hạnh (2018), Lê Thị Nhung (2020)
Trần Đình Khôi Nguyên và Ramachandran (2006), Wanrapee Banchuenvijit (2009)
Lý thuyết đánh đổi Huang và Song (2001)
Tốc độ tăng trưởng + Lý thuyết trật tự phân hạng Chen (2003), Mutalib (2011), Trần Đình Khôi Nguyên và Ramachandran (2006), Lê Thị Nhung (2020)
Tính thanh khoản Lý thuyết trật tự phân hạng Lê Thị Minh Nguyên (2016), Nguyễn Thị Thuý Hạnh (2018)
Giá thị trường/Giá sổ sách (P/B) Lý thuyết định thời điểm thị trường Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.
Thuế TNDN + Lý thuyết M&M, Lý thuyết đánh đổi Chen (2003) Huang và Song (2001), Bhaduri (2002), Đặng Thị Quỳnh Anh và Quách Thị Hải Yến (2014), Lê Thị Minh Nguyên (2016)
Tuổi của DOANH NGHIỆP + Mutalib (2011)

Nguồn: Tác giả tổng hợp

2.2.3. Khoảng trống nghiên cứu

Việc sử dụng cấu trúc vốn, nhất là vốn vay không hiệu quả sẽ gây ra hiệu ứng ngược của đòn bẩy tài chính. Các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp đã được kiểm chứng bởi nhiều nghiên cứu trước đây. Các nghiên cứu cũng đã đưa ra nhiều kết quả khác nhau bao gồm việc các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn cùng chiều, hoặc ngược chiều hoặc không có ý nghĩa thống kê đối với nghiên cứu. Theo lý thuyết đánh đổi, việc gia tăng nợ sẽ tạo ra được lợi ích từ lá chắn thuế nhưng đồng thời chi phí kiệt quệ cũng tăng theo (Myers, 1977). Nghĩa là đến một mức nhất định, việc gia tăng thêm tỷ lệ nợ sẽ làm dẫn đến bất lợi cho doanh nghiệp.

Với bất kỳ doanh nghiệp nào, một trong số các chỉ tiêu tài chính quan trọng nhất là khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Chỉ tiêu tài chính này không vận động độc lập mà chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố khác, trong đó có cấu trúc vốn. Điều này khá dễ hiểu bởi một sự thay đổi về tỷ lệ vay nợ khiến chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp thay đổi và dẫn đến tỷ suất lợi nhuận thay đổi. Việc đo lường hiệu quả hoạt động có thể bị tác động bởi mục tiêu của doanh nghiệp mà mục tiêu này có thể ảnh hưởng đến việc lựa chọn cách đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và sự phát triển của thị trường chứng khoán và thị trường vốn. Nghiên cứu của Ma Jiahui (2015) cho thấy có tồn tại một mối quan hệ tương tác giữa cấu trúc vốn của các doanh nghiệp Trung Quốc niêm yết tại GEM với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. Tuy  nhiên, nó không thể giải thích bằng mô hình phương trình đơn nhưng được giải thích rõ ràng qua phương trình đồng thời. Nghiên cứu của Pratheepkanth, Puwanenthiren (2011) cho thấy cho thấy mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là tiêu cực, nó phản  ánh  mức  độ  không đáng kể của các doanh nghiệp kinh doanh tại Sri Lanka. Do đó các doanh nghiệp kinh doanh chủ yếu phụ thuộc vào nợ và do đó, họ phải trả chi phí lãi nhiều.

Như vậy, hiệu quả hoạt động có thể bị tác động bởi cấu trúc vốn. Do vậy xem xét tác động của cơ cấu vốn đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sẽ cho chúng ta chứng cứ rõ  ràng nhất về hiệu ứng của cấu trúc vốn lên hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ngành xây dựng.

Kết luận chương 2

Dựa trên các lý thuyết cấu trúc vốn bao gồm: lý thuyết M&M, lý thuyết đánh đổi, trật tự phân hạng và lý thuyết định thời điểm thị trường, tác giả đã thực hiện phân tích thống kê kết quả nghiên cứu thực tế về các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Đó là cơ sở rất quan trọng được sử dụng để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc nguồn vốn trong việc xây dựng mô hình lý thuyết, mô hình nghiên cứu thực nghiệm, hệ biến và phương pháp nghiên cứu đến các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của công ty. Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: PPNC tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993