Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Nhân tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của NH hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT
Tên đề tài: Các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Tóm tắt:
Sự phát triển ổn định và bền vững của hệ thống ngân hàng đóng vai trò nền tảng quan trọng cho sự phát triển của các lĩnh vực khác trong nền kinh tế. Luận văn đã tổng hợp các lý thuyết liên quan và tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước, nhằm xây dựng một cơ sở lý thuyết vững chắc cho nghiên cứu. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là phân tích ảnh hưởng của các yếu tố nội bộ và vĩ mô đối với hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp quản trị phù hợp để đảm bảo sự ổn định và hiệu quả trong hoạt động của các NHTM Việt Nam.
Luận văn dựa trên dữ liệu thu thập từ 28 NHTM tại Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2024, sử dụng chỉ tiêu ROEA để đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam và các yếu tố khác để ước lượng mức độ tác động của các nhân tố khác đến hiệu quả hoạt động kinh doanh bằng phương pháp OLS, mô hình FEM, mô hình REM và phương pháp GLS. Kết quả cho thấy: tỷ lệ VCSH trên tổng tài sản bình quân (EQUITY), quy mô ngân hàng (SIZE) , đại dịch Covid-19 (COVID19), tăng trưởng GDP (GDP) và lạm phát INF có tác động cùng chiều đến biến phụ thuộc ROEA; ngược lại, biến rủi ro tín dụng (NPL) và Hình thức sở hữu (GOV) lại có tác động tiêu cực đến ROEA; biến chi phí hoạt động (COST) và đa dạng hoá thu nhập (DIV) không có tác động đến ROEA với mức ý nghĩa 5%.
Từ khóa: ROEA, hiệu quả hoạt động kinh doanh, ngân hàng thương mại Việt Nam
ABSTRACT
Topic: Factors affecting the business performance of Vietnamese commercial banks.
Abstract:
The stable and sustainable development of the banking system plays an important foundational role for the development of other sectors in the economy. The thesis has synthesized relevant theories and reviewed domestic and foreign studies, aiming to build a solid theoretical basis for the study. The research objective of the thesis is to analyze the impact of internal and macro factors on the business performance of commercial banks in Vietnam, thereby proposing appropriate management solutions to ensure the stability and efficiency in the operations of commercial banks in Vietnam.
The thesis is based on data collected from 28 commercial banks in Vietnam in the period 2011 – 2024, using the ROEA indicator to measure the business performance of commercial banks in Vietnam and other factors to estimate the impact of other factors on business performance using the OLS method, FEM model, REM model and GLS method. The results show that: the ratio of equity to average total assets (EQUITY), bank size (SIZE), Covid-19 pandemic (COVID19), GDP growth (GDP) and inflation INF have a positive impact on the dependent variable ROEA; on the contrary, the variables credit risk (NPL) and Ownership form (GOV) have a negative impact on ROEA; the variables operating costs (COST) and income diversification (DIV) have no impact on ROEA at the significance level of 5%. Luận văn: Nhân tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của NH.
Keywords: ROEA, business performance, Vietnamese commercial banks
Chương 1. Giới thiệu nghiên cứu
1.1. Đặt vấn đề
Tại nhiều quốc gia, ngành ngân hàng được xem là nền tảng của nền kinh tế. Muốn nền kinh tế của quốc gia phát triển thì hệ thống ngân hàng phải vững mạnh, do đó những quyết sách giúp hệ thống ngân hàng ngày càng phát triển là ưu tiên hàng đầu của Chính phủ và Ngân hàng Trung ương. Đối với các quốc gia nhất là các nước đang phát triển, ngành ngân hàng có vai trò đặc biệt cung cấp vốn cho nền kinh tế, là đòn bẩy tài chính hiệu quả, thúc đẩy ngành công nghiệp phát triển.
Việt Nam là quốc gia đang phát triển nên ngành ngân hàng có vai trò đặc biệt quan trọng. Theo Tạp chí Thông tin Chính phủ, hệ thống NHTM Việt Nam là trung gian tài chính quan trọng nhất đối với nền kinh tế, luôn duy trì tỷ lệ đáp ứng hơn 90% tổng nhu cầu vốn, kịp thời cung cấp nguồn vốn nhằm gia tăng cơ hội đầu tư cho các doanh nghiệp và cá nhân trên thị trường. Với thế mạnh là số lượng và mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch trải dài trên cả nước, hệ thống NHTM Việt Nam luôn sẵn sàng cung cấp các dịch vụ và tiện ích tài chính một cách nhanh nhất đến mọi người dân.
Trong giai đoạn gần đây ngày càng có nhiều chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam đã vô hình chung làm tăng sự cạnh tranh khốc liệt. Cùng với đó, năm 2019 xuất hiện dịch bệnh Covid-19 cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả hoạt động của hệ thống NHTM Việt Nam (Lê Quang Minh & Nguyễn Hoàng Minh, 2022). Trong thời gian tới các NHTM Việt Nam cần phải có những bước phát triển nhảy vọt nhằm chiếm lĩnh thị phần và nâng cao hiệu quả hoạt động, có như thế hệ thống NHTM Việt Nam sẽ càng vững mạnh thúc đẩy nền kinh tế không ngừng phát triển.
Để các NHTM Việt Nam đạt được mục tiêu phát triển bền vững thì việc nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh phải được quan tâm hàng đầu. Để từ đó có những hoạch định đúng đắn tạo điều kiện thuận lợi phát triển nhân tố tích cực, đồng thời đưa ra những biện pháp nhằm hạn chế ảnh hưởng của nhân tố tiêu cực. Từ những nguyên nhân trên, tác giả lựa chọn “Các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu.
1.2. Tính cấp thiết của đề tài Luận văn: Nhân tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của NH.
Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang chuyển mình mạnh mẽ dưới tác động của cách mạng công nghiệp 4.0, biến động kinh tế vĩ mô, hệ thống NHTM giữ vai trò then chốt trong việc duy trì sự ổn định tài chính, huy động và phân bổ nguồn vốn cho nền kinh tế. Hiệu quả hoạt động của các NHTM không chỉ quyết định năng lực cạnh tranh và khả năng tồn tại của từng ngân hàng, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả phân bổ vốn, tốc độ tăng trưởng GDP và sự bền vững của hệ thống tài chính quốc gia.
Trong giai đoạn gần đây, đặc biệt sau ảnh hưởng sâu rộng của đại dịch Covid-19, các NHTM Việt Nam đối mặt với nhiều thách thức chưa từng có: nợ xấu tăng trở lại, chênh lệch lãi suất thu hẹp, áp lực trích lập dự phòng rủi ro gia tăng, trong khi vẫn phải thực hiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp theo định hướng của Chính phủ. Song song đó, quá trình chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ tài chính (Fintech), cùng sự xuất hiện của các ngân hàng số và tổ chức phi ngân hàng đang làm thay đổi sâu sắc cấu trúc hoạt động và mô hình kinh doanh của các NHTM truyền thống. Những thay đổi nhanh và phức tạp này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đánh giá lại hiệu quả hoạt động ngân hàng một cách toàn diện, định lượng và cập nhật, nhằm cung cấp cơ sở cho việc hoạch định chính sách, tái cấu trúc và nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Về phương diện học thuật, mặc dù đã có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước về hiệu quả hoạt động của NHTM như nghiên cứu của Nguyễn Minh Sáng & Nguyễn Thiên Kim (2014) đã dựa vào các chỉ số ROA, ROE, dự phòng rủi ro tín dụng, tỷ lệ thu nhập từ lãi ròng trên tổng tài sản và quy mô ngân hàng để đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam. Nguyễn Thanh Phương & Đặng Thị Lan Phương (2022) chỉ ra quy mô tài sản, quy mô VCSH, rủi ro thanh khoản, thu nhập lãi, thu nhập ngoài lãi, chi phí quản lý, rủi ro tín dụng và thuế có ảnh hưởng đến khả năng sinh lời… nhưng đa số mới chỉ tập trung vào các yếu tố nội tại như quy mô vốn, chi phí hoạt động hay khả năng sinh lời, trong khi ít nghiên cứu xem xét đồng thời tác động của các yếu tố vĩ mô, chính sách tiền tệ, và biến động thị trường tài chính quốc tế. Hơn nữa, nhiều nghiên cứu trong nước sử dụng dữ liệu ngắn hạn hoặc giai đoạn trước khủng hoảng, nên chưa phản ánh được sự thay đổi cấu trúc và môi trường hoạt động mới của ngành ngân hàng Việt Nam trong bối cảnh hậu Covid-19 và hội nhập tài chính quốc tế sâu rộng.
Vì vậy, việc nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam” là một yêu cầu khách quan và cấp thiết cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn. Nghiên cứu này không chỉ góp phần bổ sung khoảng trống khoa học trong việc xác định và lượng hóa các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của NHTM Việt Nam, mà còn cung cấp thêm tư liệu tham khảo cho các nhà quản trị chính sách ngân hàng. Từ đó có thể khẳng định, nghiên cứu này mang tính cấp thiết, thực tiễn và kịp thời, góp phần vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam, hướng đến phát triển ổn định, bền vững và hội nhập quốc tế.
1.3. Mục tiêu của đề tài
1.3.1. Mục tiêu tổng quát Luận văn: Nhân tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của NH.
Đề xuất, kiểm định mô hình các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam.
1.3.2. Mục tiêu cụ thể
- Thứ nhất: xác định các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam.
- Thứ hai: xây dựng mô hình nhằm đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam.
- Thứ ba: đề xuất một số hàm ý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam.
1.3.3. Câu hỏi nghiên cứu
- Thứ nhất: những nhân tố nào tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam?
- Thứ hai: mức độ tác động của các nhân tố đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam như thế nào?
- Thứ ba: những hàm ý nào có thể giúp các NHTM Việt Nam hoạt động kinh doanh hiệu quả?
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu:
- Các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam.
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: 28 NHTM Việt Nam có báo cáo tài chính được kiểm toán.
- Phạm vi thời gian: thời gian nghiên cứu từ năm 2011 –
Lý do tác giả lựa chọn giai đoạn này để nghiên cứu: Giai đoạn 2011 – 2016, mặc dù nền kinh tế Việt Nam có những dấu hiệu phục hồi nhưng ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng kinh tế toàn cầu gây ra những khó khăn chồng chéo và đan xen: lạm phát tăng cao (từ 11,75% năm 2010 tăng lên 18,13% năm 2011), thị trường ngoại hối và vàng biến động mạnh thất thường, lãi suất cho vay tăng cao (21%/năm – 24%/năm), thanh khoản của các ngân hàng rơi vào trạng thái căng thẳng,… trong giai đoạn này Ngân hàng Nhà nước kiểm soát chặt chẽ hoạt động của các NHTM, thực hiện sát nhập 19 tổ chức tín dụng yếu kém đã giúp các ngân hàng hoạt động ổn định và an toàn, đưa tỉ lệ nợ xấu giảm xuống còn 2,72% trên tổng dư nợ cho vay năm 2012. Giai đoạn 2017 – 2021, lại một lần nữa khó khăn cho nền kinh tế Việt Nam khi liên tục gặp nhiều thách thức khi căng thẳng thương mại Mỹ Trung dâng lên cao, sự xuất hiện của dịch bệnh Covid-19,… Trước bối cảnh đó, Ngân hàng Nhà nước thực hiện chỉ đạo cơ cấu nợ, giảm lãi suất, gữ nguyên nhóm nợ nhằm giảm áp lực cho nền kinh tế, điều này tác động mạnh đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM. Tuy nhiên vẫn có những điểm sáng và bước tiến rõ rệt trong hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt, chuyển đổi số nền kinh tế, công nghệ phổ biến rộng rãi. Giai đoạn 2022 đến nay, nền kinh tế Việt Nam bước vào giai đoạn bình thường mới, nền kinh tế phục hồi phát triển mạnh mẽ (tăng trưởng GDP năm 2021 đạt 2,58%, năm 2022 đạt 8,02%, năm 2023 đạt 5,05%), dịch bệnh Covid-19 được kiểm soát tốt, đẩy mạnh phát triển số hoá tiến đến nền kinh tế hiện đại và bền vững, kinh tế hội nhập mạnh với thế giới. Đi kèm với những cơ hội thì vẫn có những thách thức của tình hình chung trên thế giới liên quan đến suy thoái kinh tế, dịch bệnh mà Việt Nam cần vượt qua. Qua đó, tác giả lựa chọn giai đoạn này để xem xét những nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam, đưa ra những giải pháp giúp các NHTM có kế hoạch, chiến lược cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.
1.5. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Nhân tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của NH.
1.5.1. Phương pháp nghiên cứu định tính
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính bao gồm phương pháp thống kê, tổng hợp và phân tích. Phương pháp thống kê để thu thập, sắp xếp và mô tả các dữ liệu, mục tiêu là xác định các chủ đề chính và xu hướng từ các dữ liệu thu thập được. Tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp để tạo ra bức tranh toàn diện về dữ liệu nghiên cứu. Phương pháp phân tích để làm rõ chủ đề và phân tích nội dung, nhằm đạt được những mục tiêu quan trọng là xây dựng nền tảng cơ sở lý thuyết, hoàn chỉnh mô hình nghiên cứu và cung cấp dữ liệu để ước lượng các tham số của mô hình.
1.5.2. Phương pháp nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng (POOL, REM và FEM) để phân tích dữ liệu được thu thập từ báo cáo tài chính của 28 NHTM Việt Nam, với tổng số quan sát là 392 (14 năm * 28 ngân hàng). Dữ liệu được phân tích thực hiện trên phần mềm Stata 14.1 theo thứ tự như sau: (i) Thống kê mô tả, (ii) Hồi quy mô hình POOL, REM và FEM, (iii) Kiểm định lựa chọn mô hình phù hợp, (iv) Kiểm tra giả định về hiện tượng phương sai sai số thay đổi và kiểm định các khuyết tật của mô hình, (v) Khắc phục các sai phạm của mô hình để đạt được các mục tiêu nghiên cứu.
1.6. Nội dung nghiên cứu
Luận văn sử dụng lý thuyết cấu trúc hiệu quả và lý thuyết sức mạnh thị trường, tham khảo các nghiên cứu có liên quan của các tác giả trong và ngoài nước nhằm đánh giá tác động của các nhân tố đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam. Nghiên cứu đưa ra kết quả dựa trên mô hình đề xuất, từ đó trình bày một số hàm ý quản trị giúp NHTM Việt Nam hoạt động hiệu quả trong bối cảnh nền kinh tế tại Việt Nam gặp nhiều khó khăn do chiến tranh trên thế giới, tỷ giá USD/VND tăng cao tạo ra sự bất ổn trên thị trường ngoại hối, thị trường vàng và thị trường chứng khoán có nhiều biến động.
1.7. Đóng góp của đề tài Luận văn: Nhân tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của NH.
Nghiên cứu có ý nghĩa trong giai đoạn các NHTM Việt Nam đang gặp nhiều thách thức trong việc cạnh tranh và hoạt động kinh doanh chưa đạt hiệu quả như kế hoạch đề ra. Việc phân tích tác động của các nhân tố đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2011 – 2024 thông qua mô hình đề xuất sẽ giúp NHNN cũng như các NHTM Việt Nam đưa ra các chính sách và chiến lược phù hợp với thực tế để gia tăng lợi nhuận bền vững và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh
1.8. Bố cục dự kiến của luận văn
- Chương 1. Giới thiệu nghiên cứu
- Chương 2. Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu
- Chương 3. Mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
- Chương 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
- Chương 5. Kết luận và hàm ý quản trị
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 tác giả giới thiệu về đề tài: sự cần thiết của đề tài, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Tác giả cũng trình bày ý nghĩa của nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn, nhờ đó, tác giả tiếp tục nghiên cứu cơ sở lý thuyết của các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của NHTM và lược khảo các nghiên cứu liên quan được trình bày trong chương 2.
Chương 2. Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu
2.1. Cơ sở lý thuyết về hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM
2.1.1. Khái niệm hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM
Khái niệm về hiệu quả đã được nhiều học giả và chuyên gia nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau, nhưng vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất. Một trong những định nghĩa quan trọng được đưa ra bởi Farrell vào năm 1957, cho rằng hiệu quả là khả năng tối đa hóa doanh thu đầu ra với chi phí đầu vào đã định của một đơn vị. Định nghĩa này nhấn mạnh vào việc tối ưu hóa các nguồn lực sẵn có để đạt được kết quả tốt nhất.
Theo nghiên cứu của Ongore & Kusa (2013), hiệu quả đo lường mức độ sử dụng các nguồn lực khan hiếm để tạo ra sản phẩm và dịch vụ tối ưu nhất. Hiệu quả không chỉ là chỉ số tài chính mà còn là một thước đo tổng hợp, bao gồm khả năng quản lý rủi ro, chất lượng dịch vụ và hiệu quả vận hành tổng thể của ngân hàng. Để đạt được hiệu quả cao, cần kết hợp giữa quản lý tài chính thông minh, chiến lược kinh doanh hợp lý và vận hành linh hoạt. Ngành ngân hàng được coi là hiệu quả khi có thể tối ưu hóa việc sử dụng các nguồn lực để tạo ra đa dạng sản phẩm và dịch vụ, đồng thời đạt được các mục tiêu như tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận, bảo đảm hoạt động an toàn và lành mạnh, cũng như mở rộng thị phần.
Ngân hàng Trung ương Châu Âu định nghĩa “hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng là khả năng tạo ra lợi nhuận bền vững.” Luận văn: Nhân tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của NH.
Còn theo Basel II, tối ưu hóa hiệu quả hoạt động ngân hàng là tối ưu hóa lợi nhuận thông qua các chiến lược kinh doanh dựa trên mức độ rủi ro, phân bổ vốn hợp lý vào các đối tượng khách hàng và sản phẩm, đồng thời xây dựng danh mục đầu tư/tín dụng có lợi nhuận tối ưu. Trên thực tế, các ngân hàng không chỉ cần giảm thiểu rủi ro và sử dụng vốn một cách hiệu quả, mà còn phải lên kế hoạch để giảm thiểu thiệt hại do biến động của nền kinh tế.
Khả năng sinh lời là một chỉ báo quan trọng về hiệu quả hoạt động kinh doanh tại các NHTM (Đặng Thị Minh Nguyệt & cộng sự, 2021). Mục tiêu của các NHTM là tối đa hóa lợi nhuận thông qua các sản phẩm và dịch vụ cốt lõi của ngân hàng, tuy nhiên, tiêu chí an toàn luôn cần được đặt lên hàng đầu để duy trì sự ổn định trong hoạt động kinh doanh.
Vì vậy, hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM được hiểu là mức độ thành công trong việc sử dụng các nguồn lực (nhân sự, vốn, công nghệ,…) để đạt được mục tiêu kinh doanh, tối ưu hóa lợi nhuận và tăng trưởng bền vững, đồng thời nâng cao sự hài lòng và giá trị cho khách hàng. Khả năng sinh lời là thước đo chính để đánh giá hiệu quả hoạt động của NHTM. Nâng cao hiệu quả hoạt động không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực giúp các ngân hàng cải thiện năng lực cạnh tranh, thu hút khách hàng mới và liên tục đổi mới dịch vụ, đầu tư công nghệ mới, cũng như phát triển các sản phẩm tài chính đa dạng, phù hợp với nhu cầu thị trường, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững trong tương lai.
2.1.2. Lý thuyết về hiệu quả hoạt động của NHTM
2.1.2.1. Lý thuyết cấu trúc – hiệu quả (Efficient Structure – ES)
Lý thuyết cấu trúc hiệu quả (ES – Efficient Structure), do Demsetz (1973) đề xuất, là lý thuyết đầu tiên đưa ra một cách giải thích khác về mối quan hệ giữa cấu trúc và hiệu quả hoạt động. Áp dụng vào ngành ngân hàng, giả thuyết này cho rằng ngân hàng có hiệu quả hoạt động cao là nhờ vào việc giảm chi phí hoạt động, qua đó tăng lợi nhuận. Lý thuyết cấu trúc hiệu quả của Demsetz mang đến một góc nhìn mới về cách các ngân hàng đạt được hiệu quả, không chỉ dựa vào lợi thế thị trường như vị trí, quy mô hay sức mạnh thương hiệu, mà còn chú trọng vào việc tối ưu hóa nội bộ và quản trị hiệu quả. Các ngân hàng có thể tăng sức cạnh tranh bằng cách tối ưu hóa chi phí và cung cấp dịch vụ với chi phí thấp nhưng hiệu quả hơn các đối thủ.
Do hiệu quả quyết định cấu trúc và hiệu suất thị trường, nên mối quan hệ giữa chúng không phải lúc nào cũng chặt chẽ. ROA và ROE là những chỉ số quan trọng để đo lường hiệu quả hoạt động của các ngân hàng, và chúng chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố như vốn, tài sản và chi phí. Việc quản lý hiệu quả các yếu tố này sẽ tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động chung của ngân hàng. Luận văn: Nhân tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của NH.
Lý thuyết cấu trúc hiệu quả ES cho rằng cấu trúc thị trường phụ thuộc vào hiệu suất của các công ty. Olwenty & Shipho (2011) chỉ ra rằng các ngân hàng có lợi nhuận cao là vì chúng hoạt động hiệu quả hơn. Lý thuyết này có thể được tiếp cận từ hai hướng: hiệu quả X (X-Efficiency) và hiệu quả theo quy mô (Scale-Efficiency). Theo Berger (1995), việc lựa chọn hướng tiếp cận phụ thuộc vào loại hiệu suất cần xem xét. Tiếp cận theo hiệu quả X cho rằng việc thâu tóm và sáp nhập là kết quả của việc tối thiểu hóa chi phí và tối đa hóa lợi nhuận. Các ngân hàng có thể giảm hoặc miễn phí cho các sản phẩm dịch vụ thông thường để thu hút khách hàng, từ đó mở rộng hoạt động với chi phí thấp hơn nhưng vẫn cung cấp được nhiều sản phẩm dịch vụ hơn, giúp gia tăng lợi nhuận. Hướng tiếp cận theo quy mô, hay còn gọi là hiệu quả theo quy mô (Scale-Efficiency), phân tích mối quan hệ giữa quy mô hoạt động của tổ chức và hiệu quả kinh tế mà tổ chức đó đạt được. Trong ngành ngân hàng, hướng tiếp cận này cho rằng các ngân hàng lớn hơn có thể đạt được lợi nhuận cao hơn nhờ tiết kiệm chi phí sản xuất và bán hàng, dựa vào tính kinh tế theo quy mô (Olwenty & Shipho, 2011). Jayaratne & Strahan (1998) cho rằng việc mở rộng chi nhánh giúp các ngân hàng giảm chi phí hoạt động và nợ xấu, từ đó cải thiện kết quả kinh doanh. Hướng tiếp cận này cũng giải thích cách thức quy mô tác động đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng.
Lý thuyết cấu trúc hiệu quả nhấn mạnh rằng hiệu quả nội tại của ngân hàng là yếu tố quyết định chính đến sự thành công của ngân hàng, thay vì các yếu tố cấu trúc bên ngoài. Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với các ngân hàng trong việc định hướng chiến lược quản trị và phát triển. Bằng cách tập trung vào cải thiện hiệu quả hoạt động và quản lý chi phí, các ngân hàng có thể xây dựng nền tảng vững chắc để phát triển bền vững và nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường.
2.1.2.2. Lý thuyết quyền lực thị trường (Market Power – MP)
Smirlok (1985) ủng hộ giả thuyết hiệu quả, cho rằng thị phần là biểu hiện của hiệu quả. Giả thuyết này cho thấy mối tương quan dương đáng kể giữa thị phần và khả năng sinh lời, ngụ ý rằng hiệu quả là yếu tố chi phối. Cách tiếp cận này dựa trên giả định rằng mức độ tập trung thị trường cao là nguồn gốc chính của quyền lực thị trường. Mối liên hệ giữa cấu trúc thị trường và hiệu quả vận hành được nghiên cứu trong khuôn khổ mô hình Cấu trúc – Hành vi – Hiệu suất (SCP), mô hình này cho rằng hiệu quả là kết quả của các yếu tố bên ngoài tác động đến hành vi ngân hàng. Theo SCP, sự tập trung cao hơn trong ngành ngân hàng tạo điều kiện thuận lợi cho sự hợp tác giữa các ngân hàng, từ đó giúp họ đưa ra mức giá cao hơn và thu lợi nhuận lớn hơn (Pilloff & Rhoades, 2002; Alzaidanin, 2003; Farooq, 2003; Sathye, 2005; Maudos và Fernandez de Guevara, 2007; Samad, 2008; Al-Muharrami & Matthews, 2009). Luận văn: Nhân tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của NH.
Tuy nhiên, Shepherd (1986) phản bác cách tiếp cận này, cho rằng quyền lực thị trường không nhất thiết bắt nguồn từ mức độ tập trung cuối cùng, mà xuất phát từ sự thống trị của từng ngân hàng trong các thị trường riêng biệt. Từ đó hình thành giả thuyết Sức mạnh thị trường tương đối (RMP), theo đó chỉ những ngân hàng có thị phần lớn và sản phẩm phong phú mới đủ khả năng khai thác quyền lực thị trường để định giá và tìm kiếm lợi nhuận. Theo RMP, thị phần cá nhân mới phản ánh chính xác sức mạnh và sự thiếu hoàn hảo của thị trường.
Thực nghiệm cho thấy khi đưa mức độ tập trung vào các phương trình giải thích hiệu suất, biến này không có ý nghĩa, trong khi thị phần lại có mối tương quan dương với giá cả hoặc lợi nhuận. Tuy nhiên, việc sử dụng cấu trúc thị trường trong các mô hình này vẫn chưa mang lại kết luận rõ ràng. Một ngân hàng có vị thế mạnh có thể tận dụng để gia tăng quyền lực hoặc để nâng cao hiệu quả. Nhiều nghiên cứu thực nghiệm phân tích mối liên hệ giữa mức độ tập trung và lợi nhuận nhằm kiểm tra giả thuyết SCP và RMP nhưng không ủng hộ hoàn toàn bất kỳ lý thuyết nào. Nguyên nhân là vì cả quyền lực thị trường và hiệu quả đều có thể tồn tại đồng thời trong các biến cấu trúc thị trường, dẫn đến sự triệt tiêu trong kết quả thống kê. Một nghịch lý có thể phát sinh là hiệu quả và mức độ tập trung có thể có mối quan hệ ngược chiều, điều này khiến kết quả nghiên cứu dễ gây hiểu nhầm nếu không được xử lý cẩn trọng.
Một khía cạnh đặc biệt của giả thuyết sức mạnh thị trường là giả thuyết Quite Life do Hicks (1935) đưa ra, cho rằng các nhà quản lý ngân hàng có thị phần lớn sẽ ít quan tâm đến việc cải thiện hiệu quả vì có thể dễ dàng thu lợi nhuận thông qua quyền lực định giá. Khi sức mạnh thị trường tăng lên, hiệu quả vận hành có xu hướng giảm, dẫn đến việc các ngân hàng không đạt được mức lợi nhuận cao hơn như kỳ vọng. Giả thuyết này giúp lý giải những trường hợp không tồn tại mối liên hệ rõ ràng giữa cấu trúc thị trường và lợi nhuận.
Vì vậy, sự khác biệt giữa lý thuyết Cấu trúc hiệu quả (ES) và Quyền lực thị trường (MP) là rất rõ. ES nhấn mạnh các yếu tố nội bộ như chi phí hoạt động, cấu trúc vốn, năng lực quản trị và chiến lược của ngân hàng, trong khi MP tập trung vào các yếu tố thị trường như mức độ cạnh tranh, phân bổ thị phần, khả năng định giá và quyền lực thị trường.
Trước thực tế rằng cả mô hình SCP và mô hình hiệu quả đều chưa thể giải thích trọn vẹn mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động và cấu trúc ngành, Berger và Hannan (1993) là những người đầu tiên đề xuất việc tích hợp rõ ràng các yếu tố hiệu quả vào trong mô hình. Các nghiên cứu sau đó của Samad (2008), Al-Obaidan (2008), Fu & Heffernan (2009), Chortareas et al. (2009), Al- Muharrami & Matthews (2009), Seelanatha (2010) tiếp tục mở rộng khái niệm hiệu quả theo nhiều cách tiếp cận khác nhau. Như vậy, hiệu quả hoạt động của ngân hàng chịu ảnh hưởng cả từ yếu tố nội tại lẫn yếu tố bên ngoài, và đây là nền tảng để xây dựng mô hình nghiên cứu nhằm giải quyết các câu hỏi đặt ra.
2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của NHTM Luận văn: Nhân tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của NH.
Để đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nói chung và các NHTM nói riêng, có ba phương pháp được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu, bao gồm: phương pháp tỷ số tài chính, phương pháp dựa trên biến động giá cổ phiếu và phương pháp đo lường theo biên hiệu quả.
Phương pháp tỷ số tài chính là cách tiếp cận truyền thống và phổ biến nhất trong các nghiên cứu về hiệu quả ngân hàng (Elnahass và cộng sự, 2021). Các chỉ tiêu thường được sử dụng bao gồm: tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), biên lãi ròng (NIM), tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR), tỷ lệ nợ xấu (NPL) và hệ số an toàn vốn (CAR). Ưu điểm của phương pháp này là đơn giản, dễ áp dụng và dữ liệu được công bố rộng rãi trong báo cáo tài chính của các ngân hàng. Các chỉ số này cho phép đánh giá trực tiếp hiệu quả sinh lời, khả năng quản trị chi phí và mức độ an toàn vốn – những khía cạnh then chốt trong hoạt động ngân hàng. Trong nghiên cứu này, tác giả lựa chọn phương pháp này để đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM tại Việt Nam.
Phương pháp dựa trên chênh lệch giá cổ phiếu đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng thông qua sự biến động của giá cổ phiếu. Phương pháp này phù hợp với các ngân hàng đã niêm yết trên thị trường chứng khoán, cho phép đo lường hiệu quả theo chu kỳ tháng (Nartea & cộng sự, 2013), tuần (Khovansky & Zhylyevskyy, 2013) hoặc ngày (Miller, 1990). Ưu điểm của phương pháp này là cập nhật thường xuyên hiệu quả hoạt động thông qua giá cổ phiếu biến động liên tục.
Phương pháp đo lường biên lợi nhuận, theo Berger & De Young (1997), không chỉ đánh giá hiệu quả qua khả năng sinh lời như hai phương pháp trên mà còn dựa trên khoảng cách giữa đơn vị khảo sát với đơn vị hiệu quả nhất nằm trên biên hiệu quả. Đây là một cách tiếp cận mới trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động của các NHTM, tuy nhiên nó đòi hỏi phải xác định chính xác các yếu tố đầu vào – đầu ra, xây dựng mô hình phù hợp với dạng hàm cụ thể và đảm bảo các giả định đặt ra được thỏa mãn.
Hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng được đo lường bằng tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), biên lãi ròng (NIM), tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR), tỷ lệ nợ xấu (NPL) và hệ số an toàn vốn (CAR) (Elnahass và cộng sự, 2021). Chỉ số hoạt động càng cao thể hiện ngân hàng đó có lợi nhuận càng tốt (Abdelsalam & Elnahass và cộng sự, 2022). Dựa trên đặc điểm đối tượng và dữ liệu nghiên cứu, luận văn này áp dụng phương pháp tỷ số để đo lường hiệu quả hoạt động của các NHTM thông qua chỉ tiêu ROEA (lợi nhuận trên VCSH). Trong các nghiên cứu gần đây, một số tác giả đã sử dụng tỷ số ROEA, được tính bằng lợi nhuận sau thuế chia cho VCSH bình quân. Việc sử dụng VCSH bình quân được lý giải bởi sự khác biệt về bản chất giữa hai đại lượng: lợi nhuận sau thuế là chỉ tiêu phản ánh kết quả trong một khoảng thời gian, trong khi VCSH là chỉ tiêu tại một thời điểm. Do đó, để đảm bảo tính phù hợp, các tác giả đã sử dụng VCSH bình quân trong tính toán. Tương tự, trong nghiên cứu này tác giả cũng lựa chọn ROEA làm biến phụ thuộc để đo lường hiệu quả hoạt động, được tính theo công thức: Luận văn: Nhân tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của NH.
Trong các nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại, nhiều chỉ tiêu tài chính khác nhau có thể được sử dụng như ROA, ROE, NIM, CIR, NPL, CAR… Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả lựa chọn ROE làm biến đại diện duy nhất để đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Việc lựa chọn này xuất phát từ cả cơ sở lý thuyết và thực tiễn nghiên cứu.
Về mặt lý thuyết, theo Lý thuyết giá trị cổ đông (Shareholder Value Theory) và Lý thuyết tài chính doanh nghiệp, mục tiêu cuối cùng của các tổ chức tài chính là tối đa hóa giá trị cho cổ đông, tức là tối đa hóa lợi nhuận trên phần vốn mà cổ đông đầu tư. Chỉ tiêu ROEA phản ánh trực tiếp mức sinh lời của vốn chủ sở hữu, thể hiện hiệu quả sử dụng đồng vốn và khả năng quản trị nguồn lực của ngân hàng. Khác với ROAA chỉ đo lường lợi nhuận trên tổng tài sản, ROEA cho thấy hiệu quả thực sự của hoạt động kinh doanh sau khi đã tính đến cơ cấu tài chính và mức độ đòn bẩy, do đó cung cấp góc nhìn toàn diện hơn về hiệu quả tài chính.
Về mặt thực tiễn, ROEA là chỉ tiêu phổ biến nhất trong các nghiên cứu đánh giá hiệu quả hoạt động ngân hàng, được sử dụng rộng rãi trong các công trình của Sutrisno & cộng sự (2020), Bekana Dembel (2021), Nguyễn Thị Thanh Bình và cộng sự (2021) hay Mohsin Shabir và cộng sự (2023). Các tác giả này đều khẳng định ROEA có khả năng phản ánh tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động như rủi ro tín dụng, chi phí hoạt động, quy mô ngân hàng và môi trường kinh tế vĩ mô. Ngoài ra, ROEA còn có ưu thế trong việc so sánh hiệu quả giữa các ngân hàng có quy mô và cơ cấu tài sản khác nhau, đồng thời phù hợp với tiêu chuẩn đánh giá của các nhà đầu tư và cơ quan giám sát tài chính.
Từ những cơ sở trên, việc lựa chọn ROEA làm biến phụ thuộc duy nhất trong mô hình nghiên cứu là hoàn toàn hợp lý và có cơ sở khoa học. Chỉ tiêu này không chỉ phản ánh chính xác hiệu quả sinh lời của vốn chủ sở hữu, mà còn phù hợp với mục tiêu nghiên cứu là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tạo lợi nhuận cho cổ đông của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh và hội nhập ngày càng sâu rộng.
2.3. Các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM Luận văn: Nhân tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của NH.
2.3.1. Các nhân tố vĩ mô
Hoạt động kinh doanh của các NHTM và toàn bộ hệ thống ngân hàng chịu ảnh hưởng sâu sắc từ các yếu tố kinh tế vĩ mô, đặc biệt là tốc độ tăng trưởng kinh tế và lạm phát. Trong bối cảnh kinh tế ổn định và phát triển thuận lợi, niềm tin của người tiêu dùng và các tổ chức vào triển vọng tăng trưởng sẽ tạo điều kiện để các NHTM mở rộng hoạt động và gia tăng lợi nhuận thông qua nhiều chiến lược khác nhau. Cụ thể, các NHTM có thể tận dụng môi trường kinh tế thuận lợi để đẩy mạnh huy động vốn từ nhiều nguồn như tiền gửi khách hàng, phát hành trái phiếu hoặc vay từ các tổ chức tài chính khác. Đồng thời, các ngân hàng cũng có cơ hội mở rộng hoạt động tín dụng với các điều kiện ưu đãi hơn để thu hút khách hàng.
Bên cạnh đó, niềm tin kinh tế được củng cố cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các NHTM triển khai chiến lược bán chéo sản phẩm từ tín dụng, tiết kiệm cho đến các dịch vụ tài chính phức tạp hơn như bảo hiểm, đầu tư hay quản lý tài sản. Chiến lược này giúp tối ưu hóa giá trị từ mỗi khách hàng và là động lực quan trọng để gia tăng lợi nhuận. Do đó, khả năng nắm bắt và khai thác hiệu quả các yếu tố vĩ mô chính là chìa khóa giúp các NHTM phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Các nghiên cứu thực nghiệm của Bekana Dembel (2021), Đặng Thị Minh Nguyệt & cộng sự (2021), Nguyễn Thị Thanh Bình & cộng sự (2021), Thisaranga & Ariyasena, 2021 cùng Maria José Palma Lampreia Dos-Santos & cộng sự (2022) đều chỉ ra rằng tốc độ tăng trưởng GDP – đại diện cho sự tăng trưởng kinh tế – có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Tăng trưởng GDP thúc đẩy nhu cầu về tín dụng và các dịch vụ tài chính, qua đó nâng cao khả năng sinh lời và hiệu quả hoạt động của NHTM.
Ngược lại, lạm phát lại có mối quan hệ nghịch chiều với hiệu quả hoạt động ngân hàng. Khi lạm phát tăng cao, các ngân hàng buộc phải nâng lãi suất cho vay, khiến doanh nghiệp và người tiêu dùng giảm nhu cầu vay vốn và chi tiêu. Điều này kéo theo sự suy giảm nhu cầu về dịch vụ tài chính, tác động tiêu cực đến lợi nhuận cũng như hiệu quả hoạt động của các NHTM (Thisaranga & Ariyasena, 2021; Dos-Santos và cộng sự, 2022; Nicholas Mbugua Njoki & Winnie Nyamu 2023).
2.3.2. Các nhân tố bên trong ngân hàng Luận văn: Nhân tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của NH.
Tỷ lệ Vốn chủ sở hữu (VCSH) trên tổng tài sản: Hoạt động kinh doanh của ngân hàng luôn gắn liền với nhiều loại rủi ro, cả từ yếu tố chủ quan lẫn khách quan. Để đảm bảo hoạt động được an toàn, hiệu quả và giảm thiểu tối đa những rủi ro có thể xảy ra, các ngân hàng cần duy trì và thường xuyên bổ sung VCSH. Đặc biệt, việc tăng cường vốn điều lệ, một thành phần quan trọng của VCSH đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao năng lực tài chính và khả năng chống chịu rủi ro. Bên cạnh đó, các ngân hàng còn tích lũy thông qua các quỹ dự trữ nhằm gia tăng nguồn vốn này. Mức độ an toàn vốn của ngân hàng được phản ánh thông qua chỉ số tỷ lệ VCSH trên tổng tài sản, được tính theo công thức sau:
Theo Nguyễn Khắc Minh (2004), tỷ lệ VCSH cao không chỉ thể hiện nền tảng tài chính vững mạnh mà còn phản ánh khả năng của ngân hàng trong việc hấp thụ các tổn thất tài chính, duy trì sự ổn định khi đối mặt với biến động kinh tế hoặc tài chính. Ngân hàng có tỷ lệ VCSH cao sẽ có đủ nguồn lực để ứng phó với các rủi ro bất ngờ, qua đó bảo vệ các khoản đầu tư và củng cố lòng tin của khách hàng cũng như nhà đầu tư. Ngược lại, tỷ lệ VCSH thấp làm gia tăng rủi ro tài chính, khiến ngân hàng dễ bị tổn thương khi xảy ra khủng hoảng. Điều này có thể dẫn đến mất khả năng thanh toán, làm suy giảm niềm tin của thị trường và tiềm ẩn nguy cơ lan truyền rủi ro trong toàn hệ thống tài chính. Do đó, việc duy trì ổn định tỷ lệ VCSH giúp ngân hàng giảm áp lực trả nợ vay, đảm bảo khả năng thanh khoản kịp thời, từ đó có điều kiện tập trung vào các hoạt động sinh lời. Nhờ đó, ngân hàng có thể nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh một cách bền vững (Frederick, 2015).
Quy mô ngân hàng: Theo Mohsin Shabira & cộng sự (2023), quy mô ngân hàng phản ánh năng lực tài chính và mức độ phát triển của một tổ chức tín dụng. Thông thường, các NHTM có quy mô lớn với mạng lưới chi nhánh rộng khắp có lợi thế rõ rệt so với các ngân hàng nhỏ về khả năng huy động vốn, cấp tín dụng và cung cấp dịch vụ thanh toán. Chính nhờ những lợi thế này, các ngân hàng lớn thường đạt được doanh thu và lợi nhuận cao hơn. Ngoài ra, quy mô lớn đi kèm với bề dày hoạt động và thương hiệu uy tín giúp các ngân hàng này thu hút được nhiều khách hàng, nhờ vào độ tin cậy cao, khả năng bảo mật tốt và danh mục dịch vụ đa dạng. Việc thu hút được nhiều khách hàng sử dụng dịch vụ là điều kiện tiên quyết để ngân hàng phát triển bền vững. Do đó, quy mô ngân hàng được xem là yếu tố có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh. Quy mô ngân hàng thường được đo lường thông qua tổng tài sản, với công thức như sau:
Rủi ro tín dụng: Ngân hàng đóng vai trò là trung gian tài chính, kết nối các chủ thể có nguồn vốn dư thừa với những chủ thể có nhu cầu vốn trong nền kinh tế (Elnahass & cộng sự, 2021). Trong đó, hoạt động cấp tín dụng là nghiệp vụ cốt lõi, đồng thời là nguồn thu nhập chủ yếu của ngân hàng. Tuy nhiên, hoạt động này luôn tiềm ẩn rủi ro tín dụng đây là một trong những loại rủi ro lớn nhất đối với ngân hàng. Chất lượng tín dụng của mỗi ngân hàng được thể hiện rõ nét thông qua tỷ lệ nợ xấu. Khi tỷ lệ nợ xấu gia tăng, hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng có xu hướng suy giảm, do ngân hàng bắt buộc phải trích lập dự phòng rủi ro tín dụng. Cụ thể, theo quy định các khoản nợ xấu thuộc nhóm 3 đến nhóm 5 phải trích lập dự phòng từ 20% đến 100%, trong khi dự phòng chung cho các khoản vay từ nhóm 1 đến nhóm 4 là 0,75% tổng dư nợ. Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) “tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ giữa nợ xấu so với tổng các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 5”. Công thức tính như sau:
Chi phí hoạt động: Đây là một yếu tố quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả của các NHTM và các tổ chức tài chính khác. Hiệu quả hoạt động thường được đo lường thông qua khả năng sử dụng nguồn lực một cách tối ưu để đạt được kết quả kinh doanh tốt nhất với chi phí thấp nhất có thể. Khi chi phí hoạt động tăng lên, tỷ suất lợi nhuận của ngân hàng sẽ bị giảm, trừ khi doanh thu tăng tương ứng. Ngược lại, nếu ngân hàng kiểm soát tốt chi phí hoạt động, tỷ suất lợi nhuận sẽ được cải thiện. Hơn nữa, khi chi phí hoạt động tăng, ngân hàng có thể phải điều chỉnh giá của các sản phẩm và dịch vụ để bù đắp, điều này có thể làm giảm tính cạnh tranh và ảnh hưởng đến khả năng thu hút khách hàng. Do đó, sự gia tăng chi phí hoạt động sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận của các NHTM. Việc kiểm soát và tối ưu hóa chi phí hoạt động đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế, cải thiện tỷ suất lợi nhuận, duy trì khả năng cạnh tranh và giảm thiểu rủi ro tài chính. Chi phí hoạt động có ảnh hưởng mạnh mẽ và trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng, vì vậy, các ngân hàng cần xây dựng chiến lược quản lý chi phí hiệu quả và liên tục cải tiến để đảm bảo sự phát triển bền vững trong dài hạn. Theo Koju & Wang (2018), công thức tính chỉ tiêu này như sau: Luận văn: Nhân tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của NH.
Đa dạng hóa thu nhập: Theo nghiên cứu của Nicholas Mbugua Njoki & Winnie Nyamute (2023), đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh là chiến lược quan trọng giúp các ngân hàng gia tăng nguồn thu ngoài lãi, đồng thời tạo cơ hội cho việc tiếp cận và bán chéo các sản phẩm, dịch vụ. Để có thể cung cấp một loạt sản phẩm phù hợp, các ngân hàng cần phải nắm vững nhu cầu của khách hàng. Đa dạng hóa thu nhập là cách thức giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro thông qua việc phân bổ nguồn thu từ nhiều kênh khác nhau. Thay vì phụ thuộc vào một nguồn thu nhập duy nhất, việc có nhiều nguồn thu khác nhau giúp ngân hàng linh hoạt hơn trong việc ứng phó với biến động và rủi ro, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả và ổn định hoạt động của ngân hàng. Chỉ số Herfindahl Hirschman (HHI_REV) được tác giả sử dụng để đại diện cho mức độ đa dạng hóa thu nhập, với công thức tính như sau:
Trong đó: NON là thu nhập ngoài lãi; NET là thu nhập lãi thuần; NETOP là tổng thu nhập từ hoạt động kinh doanh (NETOP = NET + NON).
Cơ cấu tổ chức và quản trị: Sự tổ chức chặt chẽ và mạch lạc trong các chính sách quản trị là yếu tố quan trọng giúp đảm bảo sự ổn định và hiệu quả trong hoạt động của các NHTM. Các chính sách quản trị đóng vai trò như bản đồ chỉ dẫn cho ngân hàng trong việc thực hiện các bước đi hiệu quả trong công việc kinh doanh, ví dụ như các chính sách về huy động vốn, cấp tín dụng, thẩm định giá tài sản, hoạt động thanh toán, và các chính sách về phí dịch vụ. Các quy trình quản trị như quản lý tài sản, quản lý rủi ro tín dụng, quản lý rủi ro thanh khoản… tất cả cùng tạo thành một hệ thống quy tắc để đảm bảo sự ổn định, an toàn và hiệu quả trong các hoạt động của ngân hàng.
Nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực có vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động, chất lượng dịch vụ và sự phát triển bền vững của ngân hàng. Nhân lực không chỉ là nền tảng mà còn là động lực thúc đẩy sự phát triển và thành công của ngân hàng. Chất lượng nhân lực được thể hiện qua trình độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp, và khả năng ứng xử phù hợp với khách hàng. NHTM là một tổ chức đặc biệt với môi trường làm việc đa dạng và nhiều nghiệp vụ, phục vụ một lượng khách hàng đông đảo với những yêu cầu ngày càng cao và phức tạp. Để đảm bảo chất lượng dịch vụ và nâng cao hiệu quả hoạt động, nguồn nhân lực trong ngành ngân hàng cần không ngừng học hỏi, nâng cao kiến thức và tích lũy kinh nghiệm, đồng thời phải sẵn sàng thích nghi với những thay đổi mạnh mẽ trong ngành ngân hàng cũng như sự hội nhập của nền kinh tế.
Hình thức sở hữu: Yếu tố này có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động và chiến lược phát triển của các NHTM tại Việt Nam. Các ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước thường có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các chính sách tài chính quốc gia, thực hiện nhiệm vụ ổn định vĩ mô và thúc đẩy phát triển kinh tế. Tuy nhiên, các ngân hàng này thường gặp phải hạn chế về tính linh hoạt và đổi mới do phải tuân thủ các chỉ thị của Chính phủ, đồng thời có thể thiếu tính cạnh tranh trong việc cải tiến dịch vụ và sản phẩm. Ngược lại, các NHTM cổ phần và ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài thường linh hoạt hơn trong việc triển khai các chiến lược đổi mới, cải tiến sản phẩm và dịch vụ, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh. Các ngân hàng này cũng dễ dàng huy động vốn từ thị trường, tuy nhiên, đôi khi phải đối mặt với áp lực về lợi nhuận từ các cổ đông và rủi ro trong việc duy trì ổn định tài chính khi có biến động từ các yếu tố bên ngoài. Hơn nữa, sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài giúp ngân hàng tăng cường khả năng huy động vốn quốc tế và áp dụng các công nghệ tiên tiến, nhưng cũng có thể dẫn đến sự lệ thuộc vào các yếu tố bên ngoài và không đồng nhất về lợi ích giữa chiến lược quốc tế và lợi ích quốc gia. Tóm lại, hình thức sở hữu quyết định nhiều đến khả năng quản lý, chiến lược phát triển, cũng như sự linh hoạt và khả năng đối phó với rủi ro của các ngân hàng tại Việt Nam.
2.4. Tổng quan nghiên cứu Luận văn: Nhân tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của NH.
2.4.1. Nghiên cứu trong nước
Phạm Thủy Tú & Đào Lê Kiều Oanh (2021), “Tác động của năng lực cạnh tranh đến mức độ ổn định tài chính của các NHTM Việt Nam trong bối cảnh tham gia hiệp định Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương” sử dụng bộ dữ liệu của 31 NHTM tại Việt Nam giai đoạn 2010 – 2018.
Nghiên cứu sử dụng chỉ số Lerner để đo lường năng lực cạnh tranh, chỉ số Z-score để ước tính mức độ ổn định tài chính ngân hàng và các yếu tố tác động (biến độc lập) được lựa chọn dựa trên khung phân tích CAMELS như Chỉ số đo lường sự ổn định tài chính của ngân hàng trong năm trước, Quy mô VCSH, Quy mô tài sản, Quy mô tín dụng, Thị phần huy động vốn, Tỷ lệ chi phí dự phòng rủi ro tín dụng, Khả năng đa dạng hóa thu nhập, Tốc độ tăng trưởng tổng tài sản, Hình thức sở hữu. Ngoài ra, nghiên cứu còn xác định tác động của các yếu tố môi trường cạnh tranh như Số lượng chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Tỷ trọng tổng tài sản ngân hàng nước ngoài trong toàn hệ thống và nhóm các yếu tố kinh tế vĩ mô gồm Tốc độ tăng trưởng GDP, Tỷ lệ lạm phát. Thông qua phương pháp hồi quy OLS, mô hình FEM, REM và các kiểm định liên quan, kết quả nghiên cứu hàm ý rằng năng lực cạnh tranh càng tăng thì mức độ ổn định tài chính của hệ thống ngân hàng Việt Nam càng tăng, ủng hộ cho quan điểm “cạnh tranh – dễ tổn thương”. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy rằng trong khi quy mô VCSH, quy mô tín dụng, khả năng đa dạng hoá thu nhập, tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát, tỷ trọng tổng tài sản ngân hàng nước ngoài trong toàn hệ thống có tác động tích cực đến ổn định ngân hàng thì Quy mô ngân hàng, thị phần huy động vốn, tốc độ tăng trưởng tổng tài sản và hình thức sở hữu tác động tiêu cực đến ổn định ngân hàng.
Đặng Thị Minh Nguyệt & cộng sự (2021), “Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả của các NHTM Nhà nước ở Việt Nam hiện nay”. Nhóm nghiên cứu đã sử dụng mô hình FEM và mô hình REM để phân tích dữ liệu được thu thập từ năm 2005 đến năm 2020 để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của bốn NHTM nhà nước lớn nhất tại Việt Nam. Kết quả phân tích cho thấy, khi sử dụng ROA làm biến phụ thuộc để đại diện cho hiệu quả của các ngân hàng, mô hình FEM là phù hợp nhất. Trong khi đó, sử dụng ROE làm biến phụ thuộc thì mô hình REM được cho là phù hợp nhất. Các phát hiện cho thấy tác động của các biến lên ROA và ROE là tương tự nhau. Quy mô ngân hàng (BASZ) có tác động tiêu cực đến cả ROA và ROE còn năng suất lao động (PROD) tác động đến ROA và ROE theo mối quan hệ thuận chiều. Ngoài ra, tỷ lệ nợ xấu có tác động tiêu cực đến cả ROA và ROE, trong khi chỉ tiêu huy động vốn lại có tác động đến ROE của các NHTM nhà nước trong thời gian nghiên cứu theo mối quan hệ nghịch chiều. Việc tập trung nâng cao năng suất lao động và quản lý tốt tỷ lệ nợ xấu là những khuyến nghị quan trọng mà nghiên cứu đề xuất cho các nhà quản trị ngân hàng và các nhà hoạch định chính sách trong việc cải thiện hiệu quả hoạt động của các NHTM nhà nước. Luận văn: Nhân tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của NH.
Nguyễn Thị Thanh Bình & cộng sự (2021), “Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHTM giai đoạn 2017-2020”. Dựa trên dữ liệu từ các báo cáo tài chính được kiểm toán của 24 ngân hàng niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam, nghiên cứu đã sử dụng mô hình hồi quy OLS là phương pháp phổ biến nhất để phân tích mối quan hệ giữa các biến trong nghiên cứu. Nghiên cứu tập trung vào việc phân tích mối quan hệ giữa ROA là một chỉ số quan trọng để đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng với các biến độc lập nội bộ như quy mô của ngân hàng, chi phí hoạt động, tỷ lệ cho vay trên tài sản và tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi, cũng như các nhân tố bên ngoài như CPI và cấu trúc sở hữu. Nghiên cứu chứng minh quy mô tài sản và tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi được xác định là có ảnh hưởng tích cực đến ROA. Để tối ưu hóa lợi nhuận thì các NHTM phải có chiến lược quản trị hiệu quả về quy mô và cân đối nguồn vốn. Ngược lại, các nhân tố như tỷ lệ cho vay trên tài sản, chi phí hoạt động và cấu trúc sở hữu tác động tiêu cực lên ROA trong giai đoạn nghiên cứu.
Phan Thị Hằng Nga & Phạm Minh Tiến và cộng sự (2022), “Tác động của Covid-19 đến hiệu qua kinh doanh của các NHTM Việt Nam”. Tác giả đã dùng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng để xem xét tác động của dịch bệnh Covid-19 đến hiệu quả kinh doanh của các NHTM Việt Nam. Dữ liệu thu thập để nghiên cứu trong giai đoạn 2012-2021 của 21 ngân hàng. Nghiên cứu sử dụng chỉ số ROA làm đại diện cho hiệu quả kinh doanh; quy mô, tỷ lệ vốn, rủi ro tín dụng, năng lực quản trị chi phí, tốc độ tăng trưởng tổng tài sản, lạm phát, tăng trưởng kinh tế là các biến độc lập. Sử dụng mô hình hồi quy và phương pháp GMM, kết quả đã chỉ ra hiệu quả kinh doanh chịu ảnh hưởng bởi tỷ lệ VCSH trên tổng tài sản, năng lực quản trị chi phí rủi ro tín dụng và chịu tác động tiêu cực của dịch bệnh Covid-19. Từ kết quả trên có thể rút ra một số giải pháp để hạn chế ảnh hưởng của dịch bệnh đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM Việt Nam: tăng cường quản lý rủi ro, tăng cường kiểm soát cho vay và tăng trưởng dư nợ, có lộ trình tăng quy mô VCSH và tài sản phù hợp, đa dạng hoá danh mục tài sản đầu tư. Đồng thời có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và người dân đi vay để vượt qua khó khăn trong bối cảnh sau dịch bệnh Covid-19.
Lê Quang Minh & Nguyễn Hoàng Minh (2022), “Tác động của mức độ bùng phát dịch bệnh Covid-19 đến hiệu qua hoạt động của các NHTM niêm yết tại Việt Nam”. Bài nghiên cứu này đo lường mức độ tác động của dịch bệnh Covid-19 đến hiệu quả hoạt động NHTM trong giai đoạn từ quý 01 năm 2020 đến quý 03 năm 2021. Biến đại diện cho hiệu quả hoạt động là ROA, ROE; biến độc lập là VCSH, quy mô ngân hàng, chi phí hoạt động, dư nợ cho vay, rủi ro tín dụng. Sau khi phân tích hồi quy đa biến, kết quả thu được mức độ bùng phát dịch bệnh Covid-19 tác động ngược chiều với hiệu quả hoạt động của các NHTM niêm yết tại Việt Nam. Từ kết quả trên Ngân hàng Nhà nước có thể đưa ra những chính sách phù hợp nhằm kiểm soát và hướng dẫn hoạt động kinh doanh của NHTM, song song đó hỗ trợ khó khăn với các đối tượng trong nền kinh tế trong giai đoạn dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp. Trong giai đoạn nghiên cứu, đề tài này có giá trị thực tiễn cao, góp phần giữ vững hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM niêm yết tại Việt Nam.
2.4.2. Nghiên cứu nước ngoài Luận văn: Nhân tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của NH.
Sutrisno Sutrisno & cộng sự (2020), “The effect of Covid-19 pandemic on the performance of Islamic bank in Indoneisa”. Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu gồm 13 NHTM Hồi giáo ở Indonesia để phân tích sự khác biệt của các hoạt động kinh doanh trước và trong đại dịch, dữ liệu được thu thập từ 4 quý trước đại dịch và 3 quý trong đại dịch. Nghiên cứu cho thấy đại dịch Covid-19 đã tác động đến nền kinh tế của tất cả các quốc gia trên thế giới rất nghiêm trọng, bao gồm cả ngành ngân hàng, cả ngân hàng truyền thống và ngân hàng Hồi giáo ở Indonesia. Cụ thể đối với ngân hàng Hồi giáo thì chỉ số về khả năng phân bổ nguồn tài chính của các ngân hàng Hồi giáo đã giảm. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng cho rằng, trong thời kỳ đại dịch, các ngân hàng Hồi giáo vẫn được quản lý tốt với hiệu quả hoạt động ở mức vừa phải. Nghiên cứu này có hạn chế về dữ liệu vì thời kỳ đại dịch vẫn còn 3 quý, trong khi nghiên cứu chỉ sử dụng dữ liệu của 3 quý trong thời kỳ đại dịch và 4 quý trước đại dịch.
Do Hoai Linh, Le Hong Lieu, Le Linh Nguyen Dan (2021), “Determinants of Banks Profitability: Case of Vietnam Listed Commercial Banks”. Nghiên cứu nhằm mục đích phân tích các yếu tố tác động đến khả năng sinh lời của các NHTM niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2020. Khả năng sinh lời đại diện bởi chỉ số ROA, ROE, NIM; các biến độc lập bao gồm: tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ cho vay trên tiền gửi, tỷ lệ tiền mặt trên tổng tài sản, chỉ số cổ phiếu thanh khoản, tỷ lệ vốn, tỷ lệ giá trên thu nhập, tỷ lệ chi phí trên thu nhập, GDP, tỷ lệ lạm phát, lãi suất. Thông qua mô hình Panel Tobit để kiểm tra mức độ tác động của các biến độc lập đến khả năng sinh lời của các NHTM tại Việt Nam. Kết quả thể hiện các biến độc lập không đồng thời gây ra tác động đến các chỉ số đại diện, tuy nhiên có 02 biến tác động đồng thời là tỷ lệ cho vay trên tiền gửi có tác động cùng chiều đến khả năng sinh lời trong khi tỷ lệ chi phí trên thu nhập có tác động ngược chiều. Từ bài nghiên cứu trên có thể rút ra một số biện pháp để cải thiện khả năng sinh lời cho các NHTM tại Việt Nam bao gồm: kiểm soát tốt chi phí hoạt động có thể sử dụng hệ thống dữ liệu MIS (hệ thống quản lý thông tin), giảm rủi ro thanh khoản bằng cách đảm bảo nguồn huy động vốn để đảm bảo khả năng thanh toán, giảm rủi ro tín dụng thông qua cải tiến quy trình thẩm định và phê duyệt tín dụng.
Bhadrappa Haralayya & Sreeramana Aithal (2021), “Performance affecting factors of Indian banking sector: an empirical analysis”. Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu của 18 ngân hàng khu vực công, 13 ngân hàng tư nhân và 16 NHNNg ở Ấn Độ giai đoạn 2005 – 2020 để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngành ngân hàng thông qua các nhân tố ảnh hưởng đến nó. Nghiên cứu cho thấy ROA và ROE có mối liên quan đáng kể với lợi nhuận ròng, lợi nhuận trên các khoản tạm ứng được điều chỉnh theo chi phí vốn, tỷ lệ tiền gửi bằng tiền mặt, tổng dư nợ tín dụng và lợi nhuận do mỗi nhân viên tạo ra. Đây được xem là những nhân tố có tác động nhiều nhất đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng tại Ấn Độ. Tăng cường tính minh bạch trong cơ chế cho vay đối với người dân nhằm gia tăng lợi nhuận và để tăng cường niềm tin của họ vào lĩnh vực ngân hàng là những khuyến nghị cấp thiết mà nghiên cứu đề xuất đối với ngành ngân hàng tại Ấn Độ.
Xing Xiazi & Mohsin Shabir (2022), “Coronavirus pandemic impact on bank performance”. Nghiên cứu này xem xét tác động của dịch Covid-19 đến hiệu quả hoạt động của ngành ngân hàng. Dữ liệu của nghiên cứu bao gồm 1.575 ngân hàng tại 85 quốc gia từ quý 1 năm 2020 đến quý 4 năm 2021. Các phát hiện chứng minh rằng đợt bùng phát Covid 19 đã làm giảm đáng kể hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Hơn nữa, tác động bất lợi của Covid-19 còn phụ thuộc vào các khía cạnh cụ thể của ngân hàng và quốc gia. Bằng cách sử dụng các thước đo hiệu quả hoạt động và kỹ thuật ước tính của ngân hàng thay thế, nghiên cứu chứng minh sự bùng phát Covid-19 tác động bất lợi hơn đối với các ngân hàng nhỏ, thiếu vốn và kém đa dạng hơn các ngân hàng có quy mô lớn. Tuy nhiên, môi trường và việc phát triển tài chính tốt hơn đã tăng cường đáng kể sức mạnh và khả năng phục hồi của các ngân hàng. Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa thiết thực cho các cơ quan quản lý và hoạch định chính sách trước sự bất ổn chưa từng có do dịch bệnh Covid-19 gây ra. Luận văn: Nhân tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của NH.
Maria José Palma Lampreia Dos-Santos & cộng sự (2022), “Factors Affecting Banking Performance in Pakistan: An Empirical Investigation”. Nghiên cứu sử dụng thước đo ROE là biến phụ thuộc để đánh giá khả năng sinh lời của ngân hàng, với các nhân tố bên trong là quy mô, độ tuổi, VCSH và sự phát triển tài chính của các ngân hàng và các nhân tố bên ngoài là GDP và lạm phát để đánh giá hiệu quả hoạt động của các NHTM tại Pakistan. Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu bảng của sáu ngân hàng ở Pakistan trong bảy năm (2010 đến 2017), trong đó có bốn ngân hàng truyền thống (UBL, ABL, Standard Chartered và MCB) và hai ngân hàng Hồi giáo (Bank Islami và Meezan Bank). Quy mô, phát triển tài chính, GDP và lạm phát ảnh hưởng đáng kể đến lợi nhuận của các ngân hàng, trong khi tuổi và vốn chủ hữu hầu như không có bất kỳ ảnh hưởng nào là kết quả mà nghiên cứu đưa ra. Từ những kết quả trên, nghiên cứu đề xuất các nhà hoạch định chính sách cần thiết lập chính sách bằng cách tập trung vào các nhân tố bên ngoài, vì các nhân tố này có tác động đáng kể hơn đến lợi nhuận của các ngân hàng Hồi giáo so với các ngân hàng thông thường. Vì vậy, các ngân hàng Hồi giáo có thể hoạt động tốt hơn và hiệu quả hơn bằng cách tập trung vào các nhân tố bên ngoài. Nghiên cứu còn những hạn chế về số lượng biến độc lập, và các nghiên cứu tiếp theo cần làm rõ hơn các nhân tố như: tỉ lệ thanh toán hiện hành, lãi suất, tổng dư nợ, tổng chi tiêu trên tổng tài sản, chi phí nhân viên trên tổng tài sản có tác động đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thượng mại, để giúp các nhà quản trị đưa ra những quyết định hợp lý và chính xác hơn.
Mohsin Shabira & Ping Jiangb và cộng sự (2023), “Covid-19 pandemic impact on banking sector: A cross-country analysis”. Nghiên cứu này xem xét tác động của dịch bệnh Covid-19 đối với hiệu quả hoạt động và sự ổn định của ngành ngân hàng. Nghiên cứu thu thập mẫu bao gồm 2073 ngân hàng tại 106 quốc gia trong giai đoạn từ quý 01 năm 2016 đến quý 02 năm 2021. Biến đại diện cho hiệu quả hoạt động là ROA, ROE, NIM CIN (tỷ lệ chi phí trên thu nhập); các biến độc lập được sử dụng là Covid-19 (ba quý đầu năm 2020 giá trị biến = 1, các quý còn lại giá trị biến = 0), quy mô ngân hàng, vốn hoá, tính thanh khoản, cơ cấu tài sản và đa dạng hoá; các biến khách quan là GDP, lạm phát, mức độ tập trung ngân hàng. Thông qua mô hình hồi quy và phương pháp GMM, kết quả thu được biến Covid-19 có tác động tiêu cực đến cả ba biến đại diện cho hiệu quả hoạt động, các biến còn lại đều có tác động đến hiệu quả hoạt động. Các phát hiện trên cho thấy sự bùng phát của Covid-19 đã làm giảm đáng kể hiệu quả và sự ổn định của ngân hàng. Bài nghiên cứu này mang lại ý nghĩa thiết thực cho các cơ quan quản lý và hoạch định chính sách trước sự bất ổn chưa từng có do đại dịch Covid-19 gây ra.
2.5. Khoảng trống nghiên cứu Luận văn: Nhân tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của NH.
Dựa trên việc tổng hợp khung lý thuyết liên quan đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM và đối chiếu với các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước, tác giả nhận thấy rằng tác động của đại dịch Covid-19 và hình thức sở hữu vẫn chưa được nghiên cứu sâu tại Việt Nam. Trong khi đó, những ảnh hưởng mà hai yếu tố trên mang lại là rất đáng quan tâm và cần được phân tích kỹ lưỡng để đưa ra các giải pháp phù hợp với thực tiễn hoạt động của các NHTM trong nước.
Covid-19 đã đặt ra những thách thức lớn chưa từng có cho hệ thống tài chính toàn cầu, bao gồm cả lĩnh vực ngân hàng, với các tác động tiêu cực như gia tăng nợ xấu, suy giảm hoạt động tín dụng và mất niềm tin từ khách hàng.
Tuy nhiên, Covid-19 cũng đồng thời là động lực thúc đẩy chuyển đổi số, mở ra cơ hội cho các NHTM tại Việt Nam nâng cao hiệu quả hoạt động thông qua việc ứng dụng công nghệ.
Hình thức sở hữu có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng quản lý, chiến lược phát triển, cũng như sự linh hoạt và khả năng đối phó với rủi ro của các NHTM tại Việt Nam.
Do đó, việc đưa yếu tố Covid-19 và hình thức sở hữu vào mô hình nghiên cứu nhằm đánh giá tác động của nó đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam là rất cần thiết. Điều này không chỉ giúp làm rõ những thách thức mà các ngân hàng đang phải đối mặt, mà còn tạo cơ sở cho việc đề xuất các hàm ý quản trị phù hợp, nhằm nâng cao khả năng thích ứng và phát triển bền vững của ngành ngân hàng trong bối cảnh mới.
- KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Trong Chương 2, tác giả tập trung trình bày nền tảng lý thuyết có liên quan, cùng với các yếu tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM. Đặc biệt, chương này nhấn mạnh hai lý thuyết quan trọng: lý thuyết cấu trúc – hiệu quả và lý thuyết quyền lực thị trường. Lý thuyết cấu trúc – hiệu quả làm rõ mối liên hệ giữa cấu trúc thị trường và hiệu quả hoạt động, trong khi lý thuyết quyền lực thị trường xem xét tác động của quyền lực thị trường đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Dựa trên các nền tảng lý thuyết đó, tác giả tiến hành phân tích và lựa chọn một số tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của NHTM, nhằm phục vụ cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu hoàn chỉnh. Để tăng cường cơ sở lý luận cho đề tài, tác giả cũng tiến hành tổng hợp và phân tích các nghiên cứu liên quan trước đó, qua đó tạo nền móng vững chắc cho nghiên cứu. Từ những cơ sở này, mô hình nghiên cứu chính thức được xây dựng và sẽ được triển khai theo quy trình cụ thể ở Chương 3. Luận văn: Nhân tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của NH.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: PPNC tác động đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
