Luận văn: PPNC Nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu Ngân hàng

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: PPNC Nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu Ngân hàng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu các Ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

3.1. Quy trình nghiên cứu

Một là, xác định vấn đề và mục tiêu nghiên cứu: Dựa trên bối cảnh thực tiễn và tổng quan các nghiên cứu trước, luận văn xác định khoảng trống nghiên cứu và đặt ra các mục tiêu cụ thể cần giải quyết.

Hai là, xây dựng cơ sở lý thuyết: Hệ thống hóa các lý thuyết nền tảng về giá cổ phiếu, các yếu tố tác động đến giá cổ phiếu, đặc điểm ngành ngân hàng và lược khảo các công trình nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng.

Ba là, đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu: Từ cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu, lựa chọn các biến số tiềm năng (vi mô và vĩ mô) và xây dựng các giả thuyết về chiều hướng tác động dự kiến của chúng lên giá cổ phiếu ngân hàng.

Bốn là, lựa chọn phương pháp và thu thập dữ liệu: Xác định phương pháp định lượng là chủ đạo, lựa chọn mô hình Rừng ngẫu nhiên hiệu ứng hỗn hợp (MERF) và các mô hình truyền thống (Pooled-OLS, FEM, REM) để so sánh. Thu thập dữ liệu thứ cấp dạng bảng cho các ngân hàng TMCP niêm yết giai đoạn 2013-2023 từ các nguồn uy tín.

Năm là, xử lý và phân tích dữ liệu: Làm sạch dữ liệu, thực hiện các phép biến đổi cần thiết (như logarit hóa), sau đó tiến hành ước lượng các mô hình đã chọn. Kiểm định ý nghĩa thống kê của các hệ số và đánh giá độ phù hợp của từng mô hình.

Sáu là, thảo luận kết quả và đề xuất hàm ý: So sánh kết quả giữa các mô hình, lựa chọn mô hình tối ưu (MERF), diễn giải ý nghĩa kinh tế của các kết quả ước lượng, đối chiếu với giả thuyết và các nghiên cứu trước. Từ đó, rút ra kết luận và đề xuất các hàm ý chính sách, quản trị cho các bên liên quan.

3.2. Mô hình nghiên cứu đề xuất Luận văn: PPNC Nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu Ngân hàng.

3.2.1. Cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu

Sau khi thực hiện lược khảo các cơ sở lý thuyết và các công trình thực nghiệm trong và ngoài nước ở Chương 2, nghiên cứu đã tổng hợp được một danh sách rộng các yếu tố tiềm năng có thể ảnh hưởng đến giá cổ phiếu ngân hàng. Tuy nhiên, để đảm bảo tính tập trung, phù hợp với bối cảnh Việt Nam và dựa trên 8 biến số đã được lựa chọn cho mô hình cuối cùng, phần này sẽ luận giải cơ sở lựa chọn cho từng biến. Việc lựa chọn các biến này dựa trên tần suất xuất hiện, sự nhất quán về kết quả trong các nghiên cứu trước đây và tầm quan trọng của chúng đối với ngành ngân hàng Việt Nam.

Về nhóm biến vi mô, nghiên cứu lựa chọn các chỉ số nền tảng phản ánh sức khỏe tài chính của ngân hàng:

  • Khả năng sinh lời, đo bằng ROA và EPS, được lựa chọn dựa trên sự đồng thuận mạnh mẽ trong các công trình quốc tế của Rjoub và cộng sự (2017) và Mehr-un-Nisa và Nishat (2012), cũng như các nghiên cứu tại Việt Nam như của Nguyễn Phú Hà (2022).
  • Quy mô ngân hàng (SIZE) cũng được đưa vào mô hình theo các gợi ý từ Rjoub và cộng sự (2017) và Mehr-un-Nisa và Nishat (2012).
  • An toàn vốn (CAP), đại diện cho cấu trúc tài chính và sự ổn định, được kế thừa từ các nghiên cứu về cấu trúc vốn như của Mehr-un-Nisa và Nishat (2012) và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong ngành ngân hàng vốn chịu sự quản lý chặt chẽ.

Về nhóm biến vĩ mô, các biến số được lựa chọn là những chỉ báo kinh tế quan trọng:

  • Tăng trưởng kinh tế (GDP) và Lãi suất (IR) được lựa chọn dựa trên kết quả nhất quán từ các nghiên cứu quốc tế tiêu biểu như Mehr-un-Nisa và Nishat (2012) và Rjoub và cộng sự (2017).
  • Hai biến số còn lại, Tỷ lệ lạm phát (đo bằng CPI) và Tỷ giá hối đoái (ER), được đưa vào mô hình vì tính phù hợp và tầm quan trọng đặc biệt đối với các thị trường mới nổi như Việt Nam, được khẳng định qua các nghiên cứu trong nước như của Phan Thị Bích Nguyệt và Phạm Dương Phương Thảo (2013).

Tập hợp các biến được lựa chọn này sẽ tạo thành cơ sở để xây dựng các giả thuyết và mô hình nghiên cứu chi tiết ở các phần tiếp theo.

3.2.2. Các giả thuyết nghiên cứu Luận văn: PPNC Nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu Ngân hàng.

Nhằm thực hiện bài nghiên cứu đáp ứng những mục tiêu đặt ra và mong muốn đóng góp vào thực tiễn triển khai, thông qua tổng hợp từ các tiền nghiên cứu có liên quan, tác giả đưa ra nhưng giả thuyết cho mô hình nghiên cứu như sau:

Theo Lý thuyết Chu kỳ Kinh doanh (Business Cycle Theory), hoạt động kinh tế tổng thể có ảnh hưởng lan tỏa đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Khi GDP tăng trưởng, môi trường kinh doanh thuận lợi hơn, nhu cầu tín dụng và dịch vụ ngân hàng tăng, lợi nhuận ngân hàng được kỳ vọng cải thiện, dẫn đến đánh giá tích cực hơn từ thị trường đối với cổ phiếu ngân hàng (Adaramola & Olugbenga, 1994).

Nghiên cứu của Mehr-un-Nisa và Nisa (2012) cho thấy mối quan hệ tương quan thuận giữa chỉ số GDP đến giá cổ phiếu. Tương tự, kết quả nghiên cứu của tác giả Rjoub, Civcir và Resatoglu (2017) cũng khẳng định GDP có tác động cùng chiều đến giá cổ phiếu ngành ngân hàng. Dựa vào cơ sở lý thuyết và các tiền nghiên cứu, luận văn đưa ra giả thuyết sau:

Giả thuyết H1: Tăng trưởng kinh tế (GDP) có mối tương quan thuận với giá cổ phiếu các Ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Hiệu ứng Fisher (Fisher Effect) cho thấy mối quan hệ giữa lãi suất danh nghĩa, lãi suất thực và lạm phát kỳ vọng. Lạm phát cao và bất ổn thường dẫn đến kỳ vọng lãi suất tăng, làm tăng suất chiết khấu trong các mô hình định giá (Lý thuyết Giá trị Hiện tại), từ đó làm giảm giá trị hiện tại của cổ phiếu. Lạm phát cao cũng tạo ra sự không chắc chắn trong môi trường kinh doanh và có thể làm giảm lợi nhuận thực của doanh nghiệp. Luận văn: PPNC Nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu Ngân hàng.

Chỉ số CPI thể hiện giá trị đồng tiền trên cơ sở thước đo hàng hóa, trong khi lạm phát là sự tăng giá chung theo thời gian của các loại hàng hóa, dịch vụ và cùng với đó là sự mất giá trị của một loại tiền tệ, chỉ số này được tính căn cứ vào chỉ số giá tiêu dùng của các năm; nên lạm phát và chỉ số CPI có tính liên kết chặt chẽ. Nghiên cứu của tác giả Corbet, Gurdgiev và O’Connell (2021) đã khẳng định mối quan hệ tương quan nghịch giữa tỷ suất sinh lời của cổ phiếu với các nhân tố vĩ mô như cung tiền, sản lượng công nghiệp và giá dầu thế giới. Dựa trên cơ sở lý thuyết và các tiền nghiên cứu, luận văn đưa ra giả thuyết sau:

Giả thuyết H2: Tỷ lệ lạm phát có mối tương quan nghịch với giá cổ phiếu các Ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Nghiên cứu của tác giả Trương Đông Lộc (2014) về các nhân tố ảnh hưởng đến sự thay đổi giá cổ phiếu tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2006-2012 và nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thu Hằng (2022) về sự tác động của các yếu tố vĩ mô đến thị giá cổ phiếu các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam giai đoạn 2016-2020 cho thấy tỷ giá USD/VND có tương quan thuận với giá cổ phiếu. Dựa trên cơ sở lý thuyết và các tiền nghiên cứu, luận văn đưa ra giả thuyết sau:

Giả thuyết H3: Tỷ giá hối đoái (USD/VND) có mối tương quan thuận với giá cổ phiếu các Ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Lý thuyết Giá trị Hiện tại và Mô hình Định giá Tài sản Vốn (CAPM) đều chỉ ra rằng lãi suất (đặc biệt là lãi suất phi rủi ro, thường liên quan đến lãi suất chính sách) là thành phần cơ bản của suất chiết khấu. Khi lãi suất chính sách tăng, lãi suất thị trường có xu hướng tăng theo, làm tăng suất chiết khấu và giảm giá trị lý thuyết của cổ phiếu. Đồng thời, lãi suất cao làm tăng chi phí vốn của ngân hàng và giảm sức hấp dẫn của cổ phiếu so với các kênh đầu tư an toàn hơn như tiền gửi.

Nghiên cứu của tác giả Mehr-un-Nisa và Nishat (2012) thể hiện sự tương quan nghịch giữa giá chứng khoán với lãi suất. Ở Việt Nam, tác giả Phan thị Bích Nguyệt và Phạm Dương Phương Thảo (2013) cũng khẳng định lãi suất chính sách và giá cổ phiếu là hai đại lượng nghịch biến. Từ đó có thể thấy, khi lãi suất chính sách tăng, nhà đầu từ sẽ có xu hướng ưu tiên gửi tiền vào ngân hàng để nhận được lãi suất cao và rủi ro thấp hơn đầu tư vào chứng khoán. Dựa trên cơ sở lý thuyết và các tiền nghiên cứu, luận văn đưa ra giả thuyết sau: Luận văn: PPNC Nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu Ngân hàng.

Giả thuyết H4: Lãi suất chính sách có mối tương quan nghịch với giá cổ phiếu các Ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

EPS là thước đo trực tiếp lợi nhuận phân bổ cho mỗi cổ đông. Theo Lý thuyết Định giá Dòng tiền và Mô hình Định giá P/E, EPS cao hơn hoặc tăng trưởng EPS kỳ vọng cao hơn sẽ dẫn đến giá trị cổ phiếu cao hơn. EPS là một trong những chỉ số cơ bản nhất mà nhà đầu tư sử dụng để đánh giá khả năng sinh lời và ra quyết định đầu tư.

Nghiên cứu của tác giả Trương Đông Lộc (2014) đã chứng minh yếu tố về thu nhập trên mỗi cổ phiếu có mối quan hệ đồng biến với giá cổ phiếu. Trong đó, chỉ số EPS phản ánh thu nhập vốn của cổ đông. EPS giảm đồng nghĩa việc sử dụng vốn của cổ đông không hiệu quả, ngược lại khi EPS tăng khiến cổ phiếu trở nên hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư. Dựa trên cơ sở lý thuyết và các tiền nghiên cứu, luận văn đưa ra giả thuyết sau:

Giả thuyết H5: Thu nhập trên mỗi cổ phiếu có mối tương quan thuận với giá cổ phiếu các Ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Khả năng sinh lời thường được phản ảnh bằng chỉ số ROA, những doanh nghiệp có chỉ số ROA thường thu hút mạnh mẽ các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán. Một ngân hàng có ROA cao cho thấy năng lực quản trị tốt và khả năng sinh lời vượt trội. Theo Lý thuyết Tín hiệu và Lý thuyết Thị trường Hiệu quả, hiệu quả hoạt động cao là thông tin tích cực sẽ được thị trường phản ánh vào giá cổ phiếu.

Nghiên cứu của tác giả Rjoub, Civcir và Resatoglu (2017) về yếu tố tác động đến giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Thổ Nhĩ Kỳ đã chứng minh mối quan hệ đồng biến giữa giá cổ phiếu và khả năng sinh lời. Tương tự, nghiên cứu của tác giả Nguyễn Phú Hà (2022) cũng khẳng định mối tương quan thuận tương tự. Dựa trên cơ sở lý thuyết và các tiền nghiên cứu, luận văn đưa ra giả thuyết sau: Luận văn: PPNC Nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu Ngân hàng.

Giả thuyết H6: Tỷ suất sinh lời trên tài sản có mối tương quan thuận với giá cổ phiếu các Ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Lý thuyết về Lợi thế kinh tế nhờ quy mô và Thuyết Trật tự phân hạng (Pecking Order Theory) (Myers & Majluf, 1984) gợi ý rằng các ngân hàng lớn hơn có thể có lợi thế về chi phí, đa dạng hóa, khả năng tiếp cận vốn và sự ổn định lợi nhuận, từ đó có thể được thị trường định giá cao hơn.

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà (2010) đã phân tích đề cập của Scott (1977) trong thuyết đánh đổi cấu trúc vốn của mình rằng quy mô doanh nghiệp càng lớn, doanh nghiệp càng dễ chiếm lĩnh thị trường hơn. Thuyết trật tự phân hạng của Myers và Majluf (1984) khẳng định quy mô doanh nghiệp càng lớn thì lợi nhuận doanh nghiệp càng ít biến động. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của Mehr-un-Nisa và Nishat (2012) cho thấy mối quan hệ tương quan thuận giữa quy mô công ty và giá cổ phiếu. Dựa trên cơ sở lý thuyết và các tiền nghiên cứu, luận văn đưa ra giả thuyết sau:

Giả thuyết H7: Quy mô ngân hàng có mối tương quan thuận với giá cổ phiếu các Ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Lý thuyết Cấu trúc vốn và Lý thuyết Chi phí đại diện (Agency Cost Theory) cho thấy một cấu trúc vốn với tỷ lệ vốn chủ sở hữu cao hơn (đòn bẩy thấp hơn) thường hàm ý rủi ro tài chính thấp hơn. Đối với ngân hàng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu cao (hay Tỷ lệ an toàn vốn – CAR cao) là dấu hiệu của sự an toàn, ổn định và khả năng chống chịu rủi ro tốt hơn, điều này tạo niềm tin cho nhà đầu tư và được kỳ vọng sẽ tác động tích cực đến giá cổ phiếu.

Thực tế cho thấy đầu tư vào doanh nghiệp có cấu trúc tài chính với tỉ lệ nợ cao đem lại rủi ro cao cho nhà đầu tư. Do đó, các doanh nghiệp có tỷ trọng nợ càng lớn thì rủi ro về giá cổ phiếu càng cao và ngược lại. Dựa trên cơ sở lý thuyết và các tiền nghiên cứu, luận văn đưa ra giả thuyết sau:

Giả thuyết H8: Cấu trúc tài chính có mối tương quan nghịch với giá cổ phiếu các Ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

3.2.3. Mô hình nghiên cứu đề xuất Luận văn: PPNC Nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu Ngân hàng.

Dựa trên cơ sở phân tích lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm ở chương trước, có thể thấy rằng mối quan hệ giữa các nhân tố tài chính và giá cổ phiếu thường phức tạp và có thể không hoàn toàn tuyến tính. Các mô hình hồi quy truyền thống, mặc dù phổ biến, có thể gặp hạn chế trong việc nắm bắt các tương tác đa chiều và các mối quan hệ phi tuyến này.

Chính vì vậy, để có được một cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn, nghiên cứu này đề xuất sử dụng mô hình Rừng ngẫu nhiên (Random Forest), một thuật toán học máy (machine learning) hiện đại. Việc lựa chọn mô hình này dựa trên những ưu điểm vượt trội của nó trong việc phân tích dữ liệu tài chính, bao gồm: khả năng tự động mô hình hóa các mối quan hệ phi tuyến tính phức tạp, độ chính xác dự báo cao, và tính bền vững trước các vấn đề như đa cộng tuyến (Breiman, 2001; Hastie và cộng sự, 2009).

Trên cơ sở đó, tác giả lựa chọn mô hình Random Forest bao gồm các biến độc lập là yếu tố vĩ mô xác định, bao gồm tăng trường kinh tế (GDP), lạm phát (INF), lãi suất chính sách (IR), tỷ giá hối đoái USD/VND (ER) và các yếu tố vi mô bao gồm thu nhập trên cổ phiếu (EPS), khả năng sinh lời (ROA), quy mô ngân hàng (SIZE), cấu trúc tài chính ngân hàng (CAP). Biến phụ thuộc trong mô hình là giá cổ phiếu các Ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Điều kiện để lựa chọn các yếu tố này dựa trên tiêu chí có cơ sở lý thuyết hoặc bằng chứng, xác định bằng thực nghiệm những yếu tố ảnh hướng đến lợi nhuận và biến động chỉ số giá cổ phiếu.

Hình 3.2: Các yếu tố tác động đến giá cổ phiếu các Ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong mô hình hồi quy

  • Trong đó: Luận văn: PPNC Nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu Ngân hàng.

Biến phụ thuộc: Giá cổ phiếu (Price) của các ngân hàng TMCP niêm yết. Đo lường bằng giá đóng cửa điều chỉnh cuối quý của cổ phiếu các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết. Để giảm thiểu sự biến động và đảm bảo tính dừng, giá cổ phiếu sẽ được chuyển đổi sang dạng logarit tự nhiên (ln(Price)).

Biến độc lập: Các nhân tố được lựa chọn dựa trên cơ sở lý thuyết tài chính, các nghiên cứu thực nghiệm trước đây và tính sẵn có của dữ liệu, bao gồm:

Các yếu tố tố vi mô:

  • Quy mô ngân hàng (Size): Đo lường bằng logarit tự nhiên của tổng tài sản (ln(SIZE)) vào cuối quý. Tổng tài sản phản ánh quy mô hoạt động chung của ngân hàng.
  • Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA): Đo lường bằng tỷ lệ phần trăm (%) giữa lợi nhuận sau thuế và tổng tài sản bình quân trong quý. Chỉ số này thể hiện hiệu quả sử dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận.
  • Hệ số an toàn vốn (CAR): Đo lường bằng tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản vào cuối quý, tính bằng phần trăm (Cap).
  • Thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS): Đo lường bằng logarit tự nhiên của thu nhập trên mỗi cổ phần (ln(EPS)) tính theo quý. Chỉ số này phản ánh phần lợi nhuận phân bổ cho mỗi cổ phiếu đang lưu hành.

Các yếu tố kinh tế vĩ mô:

  • Lãi suất (Interest rates): Đo lường bằng lãi suất chính sách hoặc lãi suất liên ngân hàng bình quân theo quý (đơn vị: %/năm).
  • Tăng trưởng GDP thực tế (Real GDP): Đo lường bằng tỷ lệ tăng trưởng phần trăm của GDP thực tế (Real gdp).
  • Tỷ giá hối đoái (Exchange rate): Đo lường bằng logarit tự nhiên của tỷ giá hối đoái bình quân quý giữa VND và USD (ln(ER)).
  • Chỉ số giá tiêu dùng (CPI): Đo lường bằng tỷ lệ thay đổi phần trăm (%) của Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân quý so với cùng kỳ năm trước hoặc so với gốc. Luận văn: PPNC Nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu Ngân hàng.

3.3. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa mô hình Random Forest (thông qua MERF) để kiểm soát hiệu ứng đơn vị không quan sát được và mô hình hồi quy Pooled-OLS trên phần dư để ước lượng một cách nhất quán các hệ số tác động của các nhân tố đến giá cổ phiếu ngân hàng. Cách tiếp cận này tận dụng khả năng xử lý dữ liệu phức tạp của Random Forest (Breiman, 2001) đồng thời cung cấp các ước lượng hệ số có thể diễn giải về mặt kinh tế từ mô hình hồi quy tuyến tính (Greene, 2018)

Phương pháp nghiên cứu này kết hợp ưu điểm của mô hình Random Forest trong việc xử lý dữ liệu phức tạp và phi tuyến tính với khả năng ước lượng hệ số tác động cụ thể của mô hình hồi quy tuyến tính truyền thống. Để đánh giá tính hiệu quả của phương pháp này, kết quả sẽ được so sánh với các mô hình hồi quy truyền thống.

3.3.1. Dữ liệu nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp dạng bảng được thu thập từ các báo cáo tài chính đã công bố của các ngân hàng TMCP niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam và dữ liệu kinh tế vĩ mô trong một khoảng thời gian xác định từ 2013 đến 2023.

Nghiên cứu này sử dụng hoàn toàn dữ liệu thứ cấp dạng bảng (panel data), được thu thập theo quý cho các ngân hàng TMCP niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2013-2023. Dữ liệu được tổng hợp từ các nguồn uy tín và được phân loại như sau:

Dữ liệu vĩ mô: Các biến số về môi trường kinh tế vĩ mô được thu thập từ các tổ chức trong nước và quốc tế. Cụ thể, dữ liệu về Giá trị của GDP (GDP) và Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) được lấy từ nguồn công bố chính thức của Tổng cục Thống kê Việt Nam. Các số liệu về lãi suất (IR) và tỷ giá hối đoái (ER) được trích xuất từ cơ sở dữ liệu Thống kê Tài chính Quốc tế (International Financial Statistics – IFS) của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF).

Dữ liệu vi mô: Các biến số đặc thù của từng ngân hàng, bao gồm Quy mô ngân hàng (SIZE), Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA), Hệ số an toàn vốn (CAP) và Thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS), được thu thập một cách có hệ thống. Các chỉ số này được trích xuất từ các báo cáo tài chính đã được kiểm toán của từng ngân hàng thông qua việc sử dụng thư viện Vnstock3 trong ngôn ngữ lập trình Python, đảm bảo tính nhất quán và hiệu quả trong quá trình tổng hợp dữ liệu.

3.3.2. Phương pháp phân tích Luận văn: PPNC Nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu Ngân hàng.

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp phân tích kết hợp giữa mô hình Random Forest và mô hình hồi quy Pooled-OLS bao gồm các bước sau:

3.3.2.1. Xử lý dữ liệu

Dữ liệu thô sau khi thu thập sẽ được làm sạch, kiểm tra tính nhất quán và xử lý các giá trị ngoại lai (nếu có). Các biến định lượng, đặc biệt là giá cổ phiếu, quy mô ngân hàng, EPS và tỷ giá hối đoái, sẽ được chuyển đổi sang dạng logarit tự nhiên để giảm độ lệch, ổn định phương sai và tuyến tính hóa mối quan hệ tiềm năng với các biến độc lập khác. Các dòng dữ liệu có giá trị âm đối với các biến cần logarit hóa sẽ được loại bỏ trước khi thực hiện phép biến đổi logarit.

Việc loại bỏ này có hai ảnh hưởng tiềm tàng đến dữ liệu nghiên cứu. Thứ nhất, nó làm giảm kích thước mẫu quan sát. Thứ hai, và quan trọng hơn, nó có thể gây ra sai lệch lựa chọn (selection bias) nếu các quan sát bị loại bỏ có chung một đặc tính hệ thống nào đó (ví dụ: các ngân hàng hoạt động kém hiệu quả trong các năm khủng hoảng). Điều này có thể khiến cho mẫu còn lại không còn mang tính đại diện đầy đủ cho tổng thể, từ đó ảnh hưởng đến tính tổng quát của kết quả nghiên cứu.

Để kiểm soát rủi ro này, tác giả đã tiến hành kiểm tra và nhận thấy số lượng quan sát có EPS âm hoặc bằng không trong bộ dữ liệu là không đáng kể (chiếm dưới 2% tổng số quan sát) và không tập trung vào một ngân hàng hay một năm cụ thể nào. Do đó, có thể kết luận rằng việc loại bỏ các quan sát này không gây ra sai lệch lựa chọn nghiêm trọng và không ảnh hưởng đáng kể đến độ tin cậy của các kết quả ước lượng sau này.

3.3.2.2. Ước lượng tác động cố định bằng mô hình Mixed Effect Random Forest (MERF)

Để kiểm soát tác động cố định theo từng ngân hàng (hiệu ứng đơn vị), nghiên cứu sử dụng mô hình Mixed Effect Random Forest (MERF) theo phương pháp của Hajjem et al. (2014) và Sela & Simonoff (2012). Mô hình này cho phép phân tách sự biến động của giá cổ phiếu thành hai phần: phần được giải thích bởi các biến độc lập chung và phần biến động riêng theo từng ngân hàng. Cụ thể, mô hình MERF được xây dựng như sau: 𝑦𝑖𝑡 = 𝑋𝑖𝑡𝛽 + 𝑍𝑖𝑡𝑏𝑖 + 𝜖𝑖𝑡

Trong đó:

  • 𝑦𝑖𝑡 là giá cổ phiếu của ngân hàng i vào năm t
  • 𝑋𝑖𝑡 là ma trận các biến độc lập chung cho ngân hàng i vào năm t
  • 𝛽 là vector các hệ số tác động cố định của các biến độc lập chung
  • 𝑍𝑖𝑡 là ma trận các biến giải thích cho tác động ngẫu nhiên của đơn vị i (trong trường hợp này, 𝑍𝑖𝑡 là một vector cột chứa giá trị 1) Luận văn: PPNC Nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu Ngân hàng.
  • 𝑏𝑖 là vector các tác động ngẫu nhiên riêng của ngân hàng i, tuân theo phân phối chuẩn đa biến với ma trận hiệp phương sai D
  • 𝜖𝑖𝑡 là sai số ngẫu nhiên, tuân theo phân phối chuẩn với phương sai 𝜎2

Mô hình MERF sẽ được ước lượng thông qua một thuật toán lặp, cụ thể là một dạng của thuật toán Kỳ vọng – Tối đa hóa (Expectation-Maximization – EM), để có thể xử lý đồng thời cả hai thành phần: tác động cố định tuyến tính và các mối quan hệ phi tuyến phức tạp (Sela & Simonoff, 2012; Hajjem và cộng sự, 2014).

  • Quy trình này diễn ra như sau:

Bước Kỳ vọng (E-step): Ở bước này, thuật toán sẽ tạm thời cố định các tham số của phần hiệu ứng hỗn hợp (phương sai của các tác động ngẫu nhiên). Sau đó, một mô hình Rừng ngẫu nhiên (Random Forest) tiêu chuẩn sẽ được huấn luyện trên phần dư của mô hình. Mục đích của bước này là để cho mô hình học máy nắm bắt tất cả các cấu trúc phi tuyến tính, các mối quan hệ phức tạp giữa các biến độc lập mà phần mô hình tuyến tính bỏ sót.

Bước Tối đa hóa (M-step): Sau khi có kết quả từ mô hình Rừng ngẫu nhiên, thuật toán sẽ cập nhật và ước lượng lại các tham số của phần hiệu ứng hỗn hợp tuyến tính. Cụ thể, nó sẽ tối ưu hóa hàm khả năng cận biên (marginal likelihood) để tìm ra các ước lượng mới cho phương sai của tác động ngẫu nhiên (b_i) và phương sai của sai số ngẫu nhiên (epsilon_it) .

Hai bước này được lặp đi lặp lại cho đến khi các tham số của mô hình hội tụ (tức là không còn thay đổi đáng kể giữa các vòng lặp). Sau khi quá trình này kết thúc, kết quả quan trọng nhất thu được chính là các tác động ngẫu nhiên riêng của từng ngân hàng (hatb_i). Các giá trị này đại diện cho những đặc tính cố hữu, không quan sát được của mỗi ngân hàng và sẽ được sử dụng trong bước phân tích tiếp theo.

3.3.2.3. Ước lượng hệ số tác động bằng mô hình Pool-OLS trên phần dư

Để ước lượng tác động của từng biến độc lập lên giá cổ phiếu, nghiên cứu sử dụng phương pháp Frisch–Waugh–Lovell (Frisch & Waugh, 1933; Lovell, 1963) bằng cách hồi quy phần dư (residual) của giá cổ phiếu (sau khi đã loại bỏ tác động cố định ước lượng bởi MERF) lên các biến độc lập bằng mô hình Pooled OLS. Cụ thể, biến phụ thuộc mới (𝑦 ) được tính bằng cách lấy giá cổ phiếu thực tế trừ đi tác động cố định ước lượng cho từng ngân hàng: 𝑦 = 𝑦𝑖𝑡 − 𝑏P𝑖

Để ước lượng tác động của từng biến độc lập lên giá cổ phiếu, nghiên cứu sử dụng phương pháp Frisch–Waugh–Lovell bằng cách hồi quy phần dư (residual) của giá cổ phiếu. Luận văn: PPNC Nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu Ngân hàng.

Sau đó, mô hình Pool-OLS được ước lượng như sau: 𝑦 = 𝛼 + D 𝛾𝑘𝑋𝑘𝑖𝑡 + 𝜇𝑖𝑡 𝑘%1

Trong đó:

  • 𝑦 là giá cổ phiếu đã điều chỉnh của ngân hàng i vào năm t
  • 𝛼 là hệ số chặn
  • 𝑋𝑘𝑖𝑡 là giá trị của biến độc lập thứ k cho ngân hàng i vào năm t
  • 𝛾𝑘 là hệ số tác động của biến độc lập thứ k lên giá cổ phiếu
  • 𝜇𝑖𝑡 là sai số của mô hình Pooled-OLS

Để đảm bảo tính vững của kết quả ước lượng, nghiên cứu sẽ sử dụng phương sai – hiệp phương sai chuẩn robust theo cụm (cluster-robust standard errors) ở cấp độ ngân hàng khi ước lượng mô hình Pooled-OLS. Điều này giúp giải quyết vấn đề tự tương quan trong sai số theo thời gian cho mỗi ngân hàng và phương sai sai số thay đổi.

3.3.2.4. So sánh với các mô hình truyền thống

Sau khi ước lượng, các hệ số tác động của từng biến độc lập sẽ được kiểm định ý nghĩa thống kê thông qua các kiểm định t-test. Dấu và độ lớn của các hệ số ước lượng sẽ được phân tích để đánh giá chiều hướng và mức độ tác động của từng nhân tố lên giá cổ phiếu ngân hàng.

Nghiên cứu cũng sẽ thực hiện một số kiểm định độ vững (robustness checks) bằng cách thay đổi đặc tả mô hình, như sử dụng các biến kiểm soát khác hoặc thay đổi khoảng thời gian nghiên cứu, để đảm bảo tính ổn định của các kết quả tìm được.

Để đánh giá hiệu quả của phương pháp MERF kết hợp Pooled OLS, kết quả ước lượng được so sánh với các mô hình hồi quy truyền thống, bao gồm mô hình Fixed Effects, Random Effects, Pooled OLS thông thường để làm nổi bật sự khác biệt trong kết quả và đánh giá tiềm năng của phương pháp MERF trong bối cảnh của nghiên cứu này. Các tiêu chí so sánh bao gồm các hệ số ước lượng, sai số chuẩn, giá trị thống kê. Luận văn: PPNC Nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu Ngân hàng.

TÓM TẮT CHƯƠNG 3

Chương 3 trình bày về phương pháp luận, xây dựng một khuôn khổ nghiên cứu có hệ thống và khoa học nhằm kiểm định các giả thuyết đã được đề ra ở chương trước. Dựa trên việc tổng hợp từ các lý thuyết nền tảng và các công trình thực nghiệm trước đây, chương đã đề xuất một mô hình nghiên cứu toàn diện. Mô hình này xem xét tác động của hai nhóm nhân tố chính đến giá cổ phiếu của các Ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam: nhóm yếu tố vi mô và nhóm yếu tố vĩ mô. Trên cơ sở đó, tám giả thuyết nghiên cứu cụ thể, từ H1 đến H8, đã được xây dựng để dự báo chiều hướng tác động của từng biến số.

Về phương pháp thực hiện, luận văn lựa chọn một hướng tiếp cận kết hợp sáng tạo và hiện đại, sử dụng mô hình Rừng ngẫu nhiên hiệu ứng hỗn hợp (MERF) và mô hình hồi quy OLS gộp (Pooled-OLS). Cách tiếp cận này được lựa chọn nhằm khai thác khả năng xử lý các mối quan hệ phức tạp, phi tuyến và kiểm soát hiệu ứng riêng không quan sát được của từng ngân hàng từ MERF, đồng thời vẫn có thể ước lượng được các hệ số tác động cụ thể, dễ diễn giải về mặt kinh tế. Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp dạng bảng, được thu thập theo năm trong giai đoạn 2013-2023. Quy trình phân tích được thực hiện theo các bước bài bản: xử lý dữ liệu, ước lượng mô hình MERF để tách riêng các hiệu ứng cố định, sử dụng Pooled-OLS trên phần dư đã điều chỉnh để ước lượng hệ số, và cuối cùng là so sánh kết quả với các mô hình truyền thống để đảm bảo tính vững chắc và tin cậy. Luận văn: PPNC Nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu Ngân hàng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: KQNC Nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu Ngân hàng

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Contact Me on Zalo
0877682993
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x