Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho HS dân tộc thiểu số hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh dân tộc thiểu số ở trường Tiểu học Đồn Đạc, huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Mục tiêu của bất cứ nền giáo dục nào cũng là đào tạo nên những con người có đủ phẩm chất, năng lực, đáp ứng yêu cầu của xã hội. Để nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài thì các cơ sở giáo dục phải thực hiện tốt việc phát triển hài hoà kiến thức, thái độ, kỹ năng hành động để đào tạo những con người có tâm hồn trong sáng, trí tuệ vững vàng, thể chất cường tráng. Trong điều kiện cách mạng khoa học công nghệ phát triển như hiện nay, lợi thế sẽ thuộc về quốc gia có nhân lực trí tuệ cao, kỹ năng vững vàng và khả năng sáng tạo lớn.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII của Đảng về giáo dục và đào tạo khẳng định: “Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ tổ quốc; công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức kỷ luật; có sức khỏe…”.
Xã hội hiện nay đang phát triển mạnh mẽ, sự đan xen các mặt tốt xấu diễn ra hàng ngày nên những mặt tiêu cực của nó tác động không nhỏ đến suy nghĩ, hành động của học sinh. Học sinh thiếu hiểu biết về pháp luật, rụt rè, nhút nhát, không biết tự phục vụ bản thân, đặc biệt là kỹ năng sống còn kém. Các em chưa biết ứng xử với lối sống có văn hoá, chưa phân biệt rõ điều hay lẽ phải. Có những học sinh có điều kiện kinh tế, dù nhận thức được nhưng do thiếu thiếu kỹ năng sống nên dễ bị sa ngã, cám dỗ, chưa mạnh dạn tự tin nhất là khi giao tiếp với người lạ
Thực tế ngày nay nhiều học sinh không có khả năng đáp ứng kịp thời những đòi hỏi và căng thẳng ngày càng tăng của xã hội vì thiếu sự hỗ trợ cần thiết để tăng cường và xây dựng các kỹ năng sống cơ bản. Điều đó có thể gây ra những tổn hại về mặt sức khoẻ và đạo đức của mỗi người. Có thể thấy những gì được học ở trường, ở gia đình và tác động xã hội rất khác nhau qua bạn bè, truyền thông đại chúng, phim ảnh. Sự bùng nổ thông tin khiến học sinh tiếp cận với đủ thứ loại hoạt động tốt xấu. Không thể hiện được khả năng của bản thân; khó hòa nhập; có thái độ tiêu cực khi mâu thuẫn với bè bạn, gia đình, thầy cô giáo; lúng túng khi xử lý những tình huống phát sinh trong cuộc sống; cách học, cách sống không khoa học, hiệu quả …là những biểu hiện thiếu kỹ năng sống của học sinh phổ thông hiện nay. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho HS dân tộc thiểu số.
Học sinh tiểu học là những học sinh ở lứa tuổi nhi đồng, các em mới đang hình thành và phát triển các phẩm chất nhân cách, những thói quen cơ bản chưa có tính ổn định mà đang được hình thành và củng cố. Do đó việc giáo dục cho học sinh tiểu học kỹ năng sống để giúp các em có thể sống một cách an toàn và khỏe mạnh là việc làm cần thiết. Chính những kết quả này sẽ là cơ sở, là nền tảng giúp học sinh phát triển nhân cách sau này. Đối với học sinh tiểu học dân tộc thiểu số đang học tập tại trường Tiểu học Đồn Đạc, với những đặc điểm riêng về học tập, tâm lý và giao tiếp, các em gặp rất nhiều khó khăn trong việc hòa nhập cuộc sống với thầy cô, bạn bè, phương pháp học tập và cách giải quyết các mâu thuẫn… có thể nói các em rất thiếu kỹ năng sống.
Nhằm góp phần giáo dục kỹ năng sống cho học sinh TH đặc biệt là học sinh dân tộc thiểu số, giúp các em không chỉ có nhận thức đúng mà còn có hành động đúng, đem lại lợi ích về sức khoẻ, về giáo dục, về văn hoá xã hội và kinh tế chính trị thì việc tổ chức các hoạt động giáo dục trong nhà trường là yếu tố vô cùng quan trọng. Để đảm bảo nhiệm vụ giáo dục kỹ năng sống cho học sinh đạt hiệu quả cao, yếu tố then chốt là công tác chỉ đạo tổ chức của hiệu trưởng và sự phối kết hợp với các lực lượng giáo dục. Với mong muốn nghiên cứu thực trạng công tác tổ chức giáo dục hoạt động kỹ năng sống cho học sinh dân tộc thiểu số ở trường Tiểu học Đồn Đạc từ đó có biện pháp thích hợp trong việc tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống, tôi chọn đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh dân tộc thiểu số ở trường Tiểu học Đồn Đạc, huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh”.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh dân tộc thiểu số trường Tiểu học Đồn Đạc nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, góp phần giáo dục nhân cách học sinh, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu Hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh TH là người dân tộc thiểu số ở trường Tiểu học Đồn Đạc, huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh.
Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh dân tộc thiểu số ở trường Tiểu học Đồn Đạc, huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh TH là người dân tộc thiểu số ở trường Tiểu học Đồn Đạc.
- Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh dân tộc thiểu số ở trường Tiểu học Đồn Đạc.
- Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh dân tộc thiểu số trường Tiểu học Đồn Đạc.
- Thử nghiệm một số biện pháp đề xuất để xác định tính khả thi và cấp thiết của các biện pháp.
5. Giả thuyết khoa học Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho HS dân tộc thiểu số.
Giả định công tác Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh dân tộc thiểu số ở trường trung học phổ thông Tiểu học Đồn Đạc, huyện Ba Chẽ có nhiều tích cực tuy nhiên điểm yếu cơ bản là các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường cho học sinh dân tộc thiểu số tiểu học chưa phù hợp, các nội dung vẫn mới chỉ dừng lại ở kế hoạch tổng thể, tức là lựa chọn những ngày lễ lớn để tổ chức hoạt động giáo dục, chưa cụ thể hóa các hình thức tổ chức có tính sáng tạo. Các hình thức tổ chức chưa phong phú, đa dạng, có chiều sâu để cuốn hút học sinh và nâng cao nhận thức sâu sắc, tình cảm và niềm tin mạnh mẽ để hình thành và phát triển nhân cách một cách toàn diện, nếu thực hiện được các biện pháp Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh dân tộc thiểu số trường Tiểu học Đồn Đạc, huyện Ba Chẽ phù hợp thì chất lượng và hiệu quả giáo dục kỹ năng sống sẽ tốt hơn, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trường, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay.
6. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
6.1 Phạm vi nghiên cứu: Để đảm bảo tính khả thi, đề tài tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh dân tộc thiểu số trường Tiểu học Đồn Đạc từ năm học 2025 – 2026 đến nay.
6.2. Giới hạn nghiên cứu:
Nội dung nghiên cứu:
- Vì điều kiện thời gian cũng như phạm vi nghiên cứu, luận văn chỉ đề cập đến một số kỹ năng sống cơ bản của học sinh tiểu học.
- Luận văn tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh dân tộc thiểu số trường Tiểu học Đồn Đạc.
- Thử nghiệm 2 biện pháp được đề xuất.
Đối tượng khảo sát:
- Học sinh: học sinh trường Tiểu học Đồn Đạc.
- Giáo viên: Giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm lớp, Tổng phụ trách Đội.
- Cán bộ quản lý: Hiệu trưởng, các phó hiệu trưởng.
- Cha mẹ học sinh.
7. Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá các tài liệu liên quan đến nội dung đề tài.
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, điều tra, khảo sát, đúc kết kinh nghiệm, phỏng vấn, thực địa.
Phương pháp quan sát Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho HS dân tộc thiểu số.
- Phương pháp này được thể hiện bằng việc xem xét hoạt động quản lý giáo dục kỹ năng sống của đội ngũ cán bộ quản lý trường Tiểu học Đồn Đạc.
Phương pháp điều tra
- Mục đích điều tra: Thu thập các số liệu nhằm nhận định khách quan thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng sống và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh dân tộc thiểu số của hiệu trưởng trường Tiểu học Đồn Đạc.
- Nội dung điều tra: Xây dựng hệ thống câu hỏi điều tra theo những nguyên tắc và nội dung chủ định của người nghiên cứu.
- Cách triển khai: Thông qua cuộc họp hội đồng phát và thu phiếu điều tra cho đội ngũ cán bộ giáo viên, thông qua buổi sinh hoạt lớp thực hiện phát và thu phiếu điều tra cho các lớp học sinh.
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp này được sử dụng với mục đích chủ yếu là đánh giá mức độ khả thi của các biện pháp tổ chức đã đề xuất.
Phương pháp phỏng vấn
Gặp gỡ các cán bộ tổ chức, giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm xin ý kiến đánh giá về thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng sống của nhà trường và đánh giá các biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống mà tác giả đề xuất.
8. Cấu trúc của luận văn
Luận văn được chia thành: phần mở đầu, ba chương và kết luận.
- Mở đầu theo mục đích, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu.
- Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu.
- Chương 2: Thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh dân tộc thiểu số trường Tiểu học Đồn Đạc, huyện Ba Chẽ.
- Chương 3: Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh dân tộc thiểu số trường Tiểu học Đồn Đạc đến năm 2030.
- Kết luận và khuyến nghị.
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Đứng trước quá trình toàn cầu hóa và sự phát triển nhanh chóng của khoa học, kỹ thuật, công nghệ, trong điều kiện một xã hội thay đổi nhanh, cạnh tranh toàn cầu, cộng với sự bùng nổ của kiến thức – đặc biệt “tri thức đã và đang trở thành một nguồn lực kinh tế chủ yếu và là một nguồn lực thống trị – và có thể là duy nhất – của lợi thế cạnh tranh” (Peter Drucker – 1995) – hệ thống giáo dục của tất cả các quốc gia bị đặt vào “khủng hoảng”, vì vậy chính sách và thực tiễn giáo dục luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của mỗi quốc gia, mỗi gia đình, và mỗi cá nhân. Dù ở thời đại nào, xã hội nào, kỹ năng sống vẫn luôn là bí quyết giúp con người thích ứng với môi trường sống, đặc biệt là trong xã hội đương đại, với nhịp sống quay cuồn cùng với sự canh tranh khốc liệt kỹ năng sống là năng lực tâm lí – xã hội của cá nhân, là tổ hợp của rất nhều kỹ năng tâm lí – xã hội. Vì vậy, để nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông, công tác này cần được tiếp tục tiến hành thường xuyên, liên tục, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi, hoàn cảnh, hoạt động của từng loại đối tượng, và mang tính mềm dẻo, dưới nhiều hình thức, quy mô, loại hình hoạt động.
Theo UNESCO, kỹ năng sống gắn liền với 4 mục tiêu của giáo dục là: học để biết, học để làm, học để cùng chung sống và học để làm người. Như vậy, kỹ năng sống là tất cả những kỹ năng cần có giúp cá nhân học tập, làm việc có hiệu quả hơn, sống tốt hơn. Trong xã hội hiện đại có đến hàng trăm kỹ năng sống khác nhau. Do đó, tùy vào hoàn cảnh, môi trường sống, điều kiện sống mà giáo viên cần dạy cho học sinh những kỹ năng thiết yếu phù hợp.
Có thể khẳng định: Kỹ năng sống giúp các em học sinh tự tin khi bước vào cuộc sống tương lai. Dạy trẻ kĩ năng sống là điều rất cần thiết đặc biệt đối với trẻ tiểu học, khi bắt đầu đi học cũng là lúc trẻ bắt đầu tiếp xúc với xã hội, rất cần hoàn thiện và phát triển các kĩ năng sống cho riêng mình. Chính những kĩ năng sống các em tiếp nhận được những năm đầu tiên đi học sẽ theo các em suốt cả cuộc sống sau này. Nếu ngay từ tiểu học các em đã có được những kĩ năng tốt, cuộc sống sau này sẽ rộng mở với các em hơn. Nếu ngược lại sau này các em sẽ rất khó khăn để sửa chữa những kĩ năng không tốt và gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống. Vì vậy việc dạy kỹ năng sống cho học sinh giúp các em biết làm chủ bản thân, thích ứng và biết cách ứng phó trước những tình huống khó khăn trong cuộc sống hàng ngày; Rèn cách sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình, đảm bảo mục tiêu giáo dục Kỹ năng sống cho học sinh trong cộng đồng; Mở ra cơ hội, hướng suy nghĩ tích cực và tự tin, tự quyết định và lựa chọn những hành vi đúng đắn. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho HS dân tộc thiểu số.
Việc giáo dục kỹ năng sống góp phần giải quyết tình trạng trẻ thụ động, không biết ứng phó trong những hoàn cảnh nguy cấp, không biết cách tự bảo vệ bản thân trước nguy hiểm, thậm chí không biết cách tìm kiếm sự giúp đỡ… Bên cạnh đó, các bài học về kỹ năng sống sẽ giúp trẻ hình thành những kĩ năng tâm lý – xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn tại và thích ứng trong cuộc sống. Đó là những kỹ năng chúng ta phải biết để có được sự điều chỉnh, ứng xử phù hợp với những thay đổi diễn ra hằng ngày, hàng giờ. Qua học tập và rèn luyện các kỹ năng sống các em sẽ cảm nhận, thấu hiểu và trân trọng những giá trị căn bản của cuộc sống.
Giáo dục kĩ năng sống có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của cá nhân trong xã hội đặc biệt trong thời kì hội nhập như ngày nay. Điều này càng đặc biệt đúng hơn với học sinh dân tộc thiểu số, bởi đây là đối tượng mà kĩ năng sống còn yếu và thiếu do bị chi phối bởi nhiều nguyên nhân: đặc điểm tâm sinh lí, vị trí địa lí, điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội khó khăn, chất lượng, điều kiện giáo dục còn thấp.
Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh phổ thông ở Việt Nam trong những năm gần đây đang được sự quan tâm đặc biệt của xã hội và của ngành GDĐT. Giáo dục kĩ năng sống nhằm hướng tới việc ngăn chặn những hành vi nguy cơ và hình thành, xây dựng hành vi sống tích cực, thúc đẩy quá trình mang lại sức khỏe và hạnh phúc cho con người. Việc giáo dục kỹ năng sống cho giới trẻ nói chung và cho học sinh tiểu học đặc biệt là học sinh dân tộc thiểu số hiện nay là vô cùng cần thiết. Giáo dục kỹ năng sống trở thành 1 trong 5 nội dung của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực” giai đoạn 2018-2023 do bộ Giáo dục và Đào tạo phát động và hiện nay Bộ tiếp tục phát động việc vận dụng sáng tạo phong trào này vào quá trình dạy học.
Luận văn “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh dân tộc thiểu số ở trường Tiểu học Đồn Đạc, huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh” có thừa kế và phát triển những kết quả của nhiều công trình nghiên cứu ơ trong và ngoài nước. Vấn đề luận văn quan tâm không chỉ là giáo dục kỹ năng sống như thế nào mà quan tâm tới những biện pháp quản lý của nhà trường để thực hiện việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh dân tộc thiểu số một cách hiệu quả và thiết thực. Trong quá trình nghiên cứu về giáo dục kỹ năng sống, tác giả đã sưu tầm, tham khảo các tài liệu và hệ thống lại như sau:
1.1.1. Ở ngoài nước Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho HS dân tộc thiểu số.
Trước yêu cầu đổi mới và nâng cao chất lương giáo dục đào tạo hiện nay. Giáo dục kỹ năng sống cho người học là trách nhiệm của mỗi quốc gia (Theo tinh thần của chương trình hành động Dakar năng 2010) Giáo dục kỹ năng sống cho người học cần được triển khai theo hai hướng: Một mặt trang bị cho người học những kỹ năng sống cốt lõi để họ có thể ứng phó với các tình huống trong cuộc sống, mặt khác cần triển khai các nội dung giáo dục tiếp cận kỹ năng sống nhằm không chỉ nhận thức, thái độ mà quan trọng là thay đổi hành vi theo hướng tích cực.
UNESCO đã tiến hành dự án ở 5 nước Đông Nam Á nhằm vào các vấn đề khác nhau liên quan đến kỹ năng sống. Kết quả của dự án là bức tranh tổng thể các nhận thức, quan niệm về kỹ năng sống mà các nước tham gia dự án đang áp dụng hoặc dự kiến áp dụng. Dự án chia làm 2 giai đoạn với hai nhóm nghiên cứu:
Giai đoạn một: Xác định quan niệm của từng nước về kỹ năng sống. Câu hỏi đặt ra ở giai đoạn này cho mỗi nước là: Quan niệm về kỹ năng sống như thế nào và phát triển quan niệm này như thế nào trong bối cảnh giáo dục cho mọi người? VIệt Nam cũng tham gia chia sẻ với các nước về vấn đề này qua ấn phẩm “Life skills Mappingain Viet Nam”, được in bằng tiếng Việt và tiếng Anh là kết quả của nghiên cứu trong khuôn khổ hợp hợp tác giữa UNESCO với Viện Chiến lược và chương trình giáo dục.
- Giai đoạn 2: Đưa ra những chỉ dẫn đo đạc, đánh giá và xây dựng các công cụ kiểm tra.
Như vậy, giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là một vấn đề đang được nhiều nước trên thế giới quan tâm. Ở một số quốc gia, giáo dục kỹ năng sống được lồng ghép vào các môn học, chủ đề, nội dung có liên quan trực tiếp đếp những vấn đề bức xúc trên thực tế.
Ở Ma – rốc: giáo dục kỹ năng sống hướng đến các vấn đề như: Vệ sinh, các vấn đề nổi cộm ở đô thị, bảo quản nguồn nước…
Ở các nước phương tây, kỹ năng sống từ lâu đã được quan tâm. Mô hình giáo dục của Pháp thế khỉ XXI theo đề xuất của Edgard Morin là phải giảng dạy về hoàn cảnh con người (hiểu rõ con người là gì, con người sống và hoạt động như thế nào trong những điều kiện nào, con người xử lý bằng cách nào) và học cách sống. Triết lý giáo dục Mỹ đầu thế kỉ XXI cũng cho rằng: Cần nâng cao kỹ năng giao lưu qua nói, viết, đọc, nghe, cần phát triển khả năng suy ngẫm… Người Nhật đi vào thế kỉ XXI với mô hình không đánh giá học sinh, sinh viên qua năng lực hiểu các môn học mà đánh giá khả năng giải quyết các vấn đề của đời sống thực tiễn. Nội dung giáo dục kỹ năng sống đã được tích hợp trong một số môn học và các hoạt động giáo dục trong trường phổ thông, việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh còn được thực hiện thông qua nhiều chương trình, dự án như: Giáo dục bảo vệ môi trường, giáo dục phòng chống đuối nước, giáo dục phòng tránh tai nạn thương tích… Đây chính là giáo dục kỹ năng sống gắn với những nội dung/vấn đề cụ thể. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho HS dân tộc thiểu số.
1.1.2. Ở trong nước
Đối với Việt Nam đây là một vấn đề rất được quan tâm và có nhiều công trình nghiên cứu nhưng cũng mới chỉ có sự tiếp cận trên một vài phương diện chủ yếu là giáo dục sức khoẻ và giáo dục vệ sinh môi trường. Chủ yếu là Giáo dục kỹ năng sống với sự hỗ trợ của UNICEF (2011 – 2015) nhằm hướng đến cuộc sống khoẻ mạnh cho trẻ em và trẻ chưa thành niên trong và ngoài nhà trường ở một số dự án như: “Trường học nâng cao sức khoẻ” của Bộ GD & ĐT, Bộ y tế, Tổ chức Y tế thế giới (WHO); dự án “Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở” của Bộ GD & ĐT.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác giáo dục kỹ năng sống cho thanh thiếu nhi trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước đang bước vào thời kỳ hội nhập và phát triển nên đã có rất nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề này của các tác giả: GS. TS. Nguyễn Thị Mỹ Lộc, PGS. TS. Đặng Quốc Bảo, PGS. TS. Nguyễn Thị Hường, Bác sỹ Lê Công Phượng; PGS. TS. Nguyễn Thanh Bình; TS. Lưu Thu Thuỷ; TS. Nguyễn Kim Dung, TS. Vũ Thị Sơn; Lưu Thị Lịch, Nguyễn Thị Chính, Đoàn Thị Hương; TS Tâm lý học: Huỳnh Văn Sơn; PGS. TS. Nguyễn Dục Quang; GS. TS. Nguyễn Quang Uẩn…..
Từ năm học 2012-2013 ở Việt Nam đã thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông (Tiểu học và Trung học cơ sở) trong cả nước. Trong chương trình Tiểu học đổi mới đã hướng đến giáo dục kỹ năng sống thông qua lồng ghép một số môn học có tiềm năng như: Giáo dục đạo đức, Tự nhiên-Xã hội (ở lớp 1-3) và môn Khoa học (ở lớp 4-5). Kỹ năng sống được giáo dục thông qua một số chủ đề: “Con người và sức khoẻ”. Đề tài cấp bộ Ts. Nguyễn Thanh Bình nghiên cứu về thực trạng kỹ năng sống cho học sinh và đề xuất một số biện pháp về giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
Nhìn chung giáo dục Kỹ năng sống cho con người nói chung, cho học sinh nói riêng đã được các nước trên thế giới và Việt Nam quan tâm khai thác, nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau, bao gồm những kĩ năng được vận dụng trong những tình huống hàng ngày để tương tác với người khác và giải quyết hiệu quả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống, tuy nhiên cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào về quản lý công tác Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh dân tộc thiểu số.
1.2. Một số khái niệm cơ bản Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho HS dân tộc thiểu số.
1.2.1. Quản lý, Quản lý Giáo dục, Quản lý nhà trường
- Quản lý:
Theo Harold Koontz: Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức tổ chức về quản lý là một khoa học.
Trong luận văn này chúng tôi sử dụng định nghĩa quản lí khái quát như sau: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được các mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường.
- Quản lý giáo dục
Vể nội dung khái niệm quản lý giáo dục có nhiều cách hiểu khác nhau, trong luận văn này được hiểu theo tác giả Đặng Quốc Bảo: Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy công tác giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội.
Để thực hiện mục tiêu đã định, đảm bảo sự ổn định và phát triển hệ thống giáo dục, người quản lý giáo dục phải thực hiện bốn chức năng cơ bản là: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. Đó chính là những nội dung phương thức hoạt động mà trong quá trình quản lý, chủ thể sử dụng nhằm tác động đến các đối tượng để thực hiện mục tiêu quản lý.
Quản lý giáo dục tồn tại dưới hai cấp độ quản lý vĩ mô và quản lý vi mô. Quản lý vĩ mô là quản lý nhà nước mà cơ quan trực tiếp là Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo, quản lý vi mô là quản lý trường học.
- Quản lý nhà trường
Quản lý nhà trường là quản lý giáo dục theo nghĩa hẹp ở tầm vi mô. Đó là quá trình tác động có định hướng, có kế hoạch của hiệu trưởng lên tất cả các nguồn lực nhằm đẩy mạnh hoạt động của nhà trường theo nguyên lý giáo dục của Đảng mà trọng tâm là đưa hoạt động dạy học tiến lên trạng thái mới về chất. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho HS dân tộc thiểu số.
Công tác quản lý trong nhà trường bao gồm quản lý các hoạt động diễn ra trong nhà trường và sự tác động qua lại giữa nhà trường với các hoạt động ngoài xã hội. Quản lý nhà trường như là quản lý một hệ thống bao gồm các thành tố:
- Quá trình giáo dục của nhà trường: Mục đích giáo dục, nội dung giáo dục, các kế hoạch GD, biện pháp giáo dục.
- Thành tố con người: Cán bộ giáo viên, nhân viên và học
- Thành tố vật chất: Cơ sở vật chất, tài chính, các trang thiết bị, phương tiện phục vụ giảng dạy và học tập.
Trọng tâm quản lý nhà trường phổ thông là quản lý các hoạt động giáo dục diễn ra trong nhà trường và các quan hệ giữa nhà trường với xã hội trên những nội dung sau đây:
- Quản lý hoạt động dạy học.
- Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
- Quản lý hoạt động học tập ngoài giờ lên lớp.
- Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức.
- Quản lý hoạt động xã hội của nhà trường, hoạt động của đoàn thể.
- Quản lý và sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật, tài chính.
Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống của hiệu trưởng có trong tất cả các thành tố nói trên của quản lý nhà trường.
1.2.2. Giá trị sống và kỹ năng sống
- Giá trị sống
Giá trị là cái mà con người dùng làm cơ sở xem xét một vật có ích lợi như thế nào đối với con người; cái mà người ta dựa vào chúng để xem xét một người đáng quí đến mức nào về mặt đạo đức, trí tuệ, tài năng; những quan niệm và thực tại về cái đẹp, sự thật, điều thiện của xã hội….
Dưới góc độ Xã hội học, giá trị được quan tâm ở nội dung, nguyên nhân, điều kiện kinh tế xã hội cụ thể trong quá trình hình thành hệ thống giá trị nhất định của một xã hội. Giá trị trong Đạo đức học gắn với các khái niệm như: cái thiện, cái ác, sự bình đẳng, lòng bác ái… Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho HS dân tộc thiểu số.
Dưới góc độ Tâm lý học, giá trị được nghiên cứu để tìm hiểu hành vi, hoạt động của con người và dự báo phát triển nhân cách.
Giá trị sống là những điều chúng ta cho là quý giá, là quan trọng, là có ý nghĩa đối với cuộc sống của mỗi người. Giá trị sống trở thành động lực để người ta nỗ lực phấn đấu để có được nó. Có những giá trị sống đích thực, trở thành những giá trị chung cho nhiều người và toàn xã hội như lòng trung thực, hoà bình, tôn trọng, yêu thương, công bằng, tình bằng hữu, lòng vị tha.
Giá trị sống mang tính cá nhân, không phải giá trị sống của mọi người đều giống nhau. Có người cho rằng “tiền bạc là trên hết”, có người cho danh vọng là thước đo giá trị, có người lại cho rằng nhàn hạ là giá trị cuộc sống trong khi những người khác cho rằng tình yêu thương mới là điều quý giá nhất trên đời. Có người coi trọng lòng trung thực, sự bình yên… Chính vì vậy cho nên việc học tập để nhận diện đúng đâu là giá trị đích thực của cuộc sống là điều thực sự cần thiết.
Để nghiên cứu xem những giả trị phổ quát là những giá trị nào, năm 1995 một dự án quốc tế về giá trị sống đã được triển khai trên hơn 100 nước, và các nhà nghiên cứu đã đưa ra kết quả với 12 giá trị sau: Giá trị Hoà bình, giá trị Tôn trọng, giá trị Yêu thương, giá trị Khoan dung, giá trị Trung thực, giá trị Khiêm tốn, giá trị Hợp tác, giá trị Hạnh phúc, giá trị Trách nhiệm, giá trị Giản dị, giá trị Tự do, giá trị Đoàn kết.
- Kỹ năng sống
Thuật ngữ ”Kỹ năng sống” được WinthropAdkins sử dụng lần đầu tiên trong một chương trình đào tạo nghề thực hiện trong những năm 1960 với tên gọi “TheAdins Lì feSkillsProgramme: EmployabilitySkillsSeries” những nhà tâm lý học thực hành coi đó như là khả năng quan trọng trong việc phát triển nhân cách. Trong những năm gần đây, thuật ngữ kỹ năng sống xuất hiện ngày càng nhiều ở mọi nơi trên thế giới. Việc sử dụng thuật ngữ này có ở tất cả các loại nước: phát triển, đang phát triển, có thu nhập cao, trung bình, thấp và các vùng giáo dục cho mọi người.
Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về Kỹ năng sống và mỗi quan niệm lại được diễn đạt theo những cách khác nhau:
- Quan niệm của Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO):
Kỹ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày. Kỹ năng sống gắn với 4 trụ cột của giáo dục, đó là: Học để biết, Học để tự khẳng định, Học để cùng chung sống với người khác, Học để làm.
Kĩ năng sống là cụm từ được sử dụng rộng rãi cho mọi lứa tuổi trong mọi lĩnh vực hoạt động. Đó có thể hiểu là năng lực tâm lí xã hội để đáp ứng và đối phó với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hằng ngày. Hay có thể hiểu nôm na rằng: Kĩ năng sống là những kĩ năng cần có cho hành vi lành mạnh, tích cực, cho phép mỗi cá nhân đối mặt với những thách thức của cuộc sống hằng ngày. Như vậy, có thể nói, kĩ năng sống là tất cả những kĩ năng cần có giúp cá nhân học tập, làm việc có hiệu quả và sống tốt hơn.
1.2.3. Học sinh dân tộc thiểu số Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho HS dân tộc thiểu số.
- Dân tộc thiểu số
Tại điều 4 – Nghị định số 05/2021/NĐ-CP, ngày 14 tháng 01 năm 2021 Nghi định về công tác dân tộc có quy định: “Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Học sinh – Người học:
Luật Giáo dục 2015 sửa đổi bổ sung năm 2019 quy định tại Điều 83. Người học: Người học là người đang học tập tại cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân.
- Học sinh dân tộc thiểu số:
Học sinh dân tộc thiểu số là những học sinh người dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang học tập tại cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân.
1.3. Đổi mới căn bản toàn diện giáo dục, giáo dục TH:
1.3.1. Nhiệm vụ GDTH năm học 2025 – 2026 nhiệm vụ đổi mới giáo dục TH:
Công văn số 4323/BGDĐT-GDTH ngày 25/8/2025 của Bộ GDĐT V/v Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục Tiểu học (GDTH) năm học 2025-2026, đã thể hiện đầy đủ nhiệm vụ đổi mới giáo dục cho học sinh: “Tiếp tục chỉ đạo việc quản lí, tổ chức dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng và định hướng phát triển năng lực học sinh; điều chỉnh nội dung dạy học phù hợp đặc điểm tâm sinh lí học sinh tiểu học; tăng cường giáo dục đạo đức, giáo dục kĩ năng sống; chỉ đạo triển khai hiệu quả mô hình trường tiểu học mới, mở rộng áp dụng tại các trường có điều kiện; đổi mới phương pháp dạy, phương pháp học và thực hiện tốt Thông tư 30/2024/TT-BGDĐT ngày 28/8/2024 về quy định đánh giá học sinh tiểu học; tăng cường cơ hội tiếp cận giáo dục cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn; tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số…”.1.3.2. Nghị quyết 29, ngày 4 tháng 11 năm 2023 – Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI – Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo: Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho HS dân tộc thiểu số.
Mục tiêu: Giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời.
Biện pháp: Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề. Đổi mới nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân. Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Tăng cường giáo dục thể chất, kiến thức quốc phòng, an ninh và hướng nghiệp. Dạy ngoại ngữ và tin học theo hướng chuẩn hóa, thiết thực, bảo đảm năng lực sử dụng của người học. Quan tâm dạy tiếng nói và chữ viết của các dân tộc thiểu số; dạy tiếng Việt và truyền bá văn hóa dân tộc cho người Việt Nam ở nước ngoài.
1.4. Yêu cầu cơ bản về giáo dục kỹ năng sống cho học sinh dân tộc thiểu số bậc tiểu học
1.4.1. Mục đích giáo dục kỹ năng sống trong trường TH Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho HS dân tộc thiểu số.
Giáo dục kỹ năng sống nhằm giúp học sinh dân tộc thiểu số:
- Có kỹ năng để tự bảo vệ trước những vấn đề xã hội có nguy cơ ảnh hưởng cuộc sống khoẻ mạnh và an toàn, phòng ngừa những hành vi nguy cơ có hại cho sức khoẻ và sự phát triển.
- Biết làm chủ bản thân, có khả năng thích ứng, biết cách ứng phó trước những tình huống căng thẳng, khó khăn trong giao tiếp hàng ngày.
- Rèn luyện và định hướng cho các em biết sống có trách nhiệm với bản thân, bạn bè, gia đình và cộng đồng khi các em lớn lên trong một xã hội hiện đại.
- Tạo ra cho các em những cơ hội, hướng suy nghĩ, hướng đi tích cực và tự tin cũng như giúp các em tự có quyết định và chọn lựa đúng đắn trong các vấn đề của cuộc sống…
1.4.2. Cách thức thực hiện giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường
Ở bậc học phổ thông, con đường giáo dục Kỹ năng sống được thực hiện chủ yếu thông qua tiếp cận Kỹ năng sống đối với quá trình dạy học
- Thông qua hoạt động lồng ghép tích hợp vào các môn văn hoá trong nhà trường.
- Thông qua các hoạt động giáo dục trong nhà trường (Ngoại khoá; môn học tự chọn; hoạt động ngoài giờ…)
1.4.3. Nội dung giáo dục kỹ năng sống đối với học sinh tiểu học
Dựa trên cơ sở phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực trạng giáo dục Kỹ năng sống ở Việt Nam những năm qua, theo tác giả Lưu Thu Thủy (tài liệu giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học qua các môn học) nội dung giáo dục Kỹ năng sống cho HS tiểu học trong nhà trường bao gồm 21 Kỹ năng sống cơ bản.
1.4.4. Phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống
Có hai cách tiếp cận trong giáo dục Kỹ năng sống:
- Các hoạt động tập trung vào kỹ năng cốt lõi như kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp…Theo cách này, bằng hoạt động với chủ đề kỹ năng cụ thể người học sẽ hiểu Kỹ năng sống đó là gì và vận dụng để giải quyết các tình huống.
- Mỗi kỹ năng gắn với một vấn đề hay nảy sinh trong cuộc sống và cần vận dụng những Kỹ năng sống khác nhau để giải quyết. Ở trường hợp này Kỹ năng sống được gắn liền với các vấn đề cụ thể.
Có một số phương pháp sau thường được sử dụng trong giáo dục Kỹ năng sống:
- PPDH theo nhóm
- PP giải quyết vấn đề
- PP đóng vai
- PP trò chơi
- … Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho HS dân tộc thiểu số.
Các phương pháp giáo dục Kỹ năng sống thúc đẩy phát triển kỹ năng tư duy phê phán và tư duy sáng tạo. Chúng vừa là nội dung của Kỹ năng sống vừa là phương tiện để hình thành các Kỹ năng sống khác.
Tóm lại: giáo dục Kỹ năng sống ở Việt Nam với nghĩa là cung cấp cho người học những tri thức thực tiễn, cập nhật và rèn luyện một số kỹ năng nhận thức, thực hành, để đáp ứng với những thách thức của cuộc sống và nâng cao chất lượng cuộc sống đã được quan tâm, đặc biệt trong đổi mới giáo dục.
1.5. Các lực lượng tham gia giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường
Giáo dục là quá trình tác động để hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ theo mục đích xã hội. Quá trình giáo dục đòi hỏi nhiều lực lượng tham gia phối hợp và bằng nhiều con đường khác nhau từ việc giáo dục thông qua dạy học, thông qua việc tổ chức các hoạt động phong phú đa dạng, thông qua sinh hoạt tập thể và tự tu dưỡng bản thân. Việc giáo dục Kỹ năng sống không phải là việc làm đơn thuần diễn ra trong nhà trường mà còn đòi hỏi sự lâu dài bền bỉ phối hợp giữa gia đình – nhà trường – xã hội. Tuy nhiên trong trường TH, việc giáo dục Kỹ năng sống cần sự tham gia của các lực lượng sau đây:
1.5.1. Giáo viên bộ môn
GVBM là người được Hiệu trưởng phân công trực tiếp giảng dạy 01 hoặc vài bộ môn trong chương trình học của học sinh như Âm nhạc, Mĩ thuật, Thể dục, Tiếng Anh, giáo viên dạy buổi hai…. Là người chịu trách nhiệm thực hiện quyết định của của Hiệu trưởng về chất lượng bộ môn đối với lớp được phân công giảng dạy. GVBM phải có sự phối kết hợp với Giáo viên chủ nhiệm để cùng theo dõi, đánh giá kết quả học tập và rèn luyện năng lực, phẩm chất của học sinh. GV bộ môn tích hợp trong bài giảng về các Kỹ năng sống thông qua các môn học mà nhiều nhất là trong môn Đạo đức và Tiếng Việt, cùng học sinh chia sẻ những nội dung kiến thức khoa học và góp phần giáo dục nhân cách cho học sinh.
1.5.2. Giáo viên chủ nhiệm lớp Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho HS dân tộc thiểu số.
GVCN lớp là người được Hiệu trưởng phân công trực tiếp quản lý 01 lớp học sinh. Là người chịu trách nhiệm thực hiện quyết định quản lý của Hiệu trưởng đối với lớp và các thành viên trong lớp. Giáo viên chủ nhiệm là người vạch kế hoạch, tổ chức cho lớp chủ nhiệm thực hiện các chủ đề theo kế hoạch và theo dõi, đánh giá việc thực hiện của học sinh. Giáo viên chủ nhiệm lớp là nhân vật trung tâm, là linh hồn của tập thể lớp, tập hợp đoàn kết học sinh trong tập thể. Giáo viên chủ nhiệm lớp có vai trò to lớn trong tổ chức mọi hoạt động của lớp nhằm giáo dục học sinh. Có thể khẳng định rằng: Trong nhà trường, giáo viên chủ nhiệm như thế nào thì lớp học sẽ như thế. Trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục Kỹ năng sống cho học sinh, giáo viên chủ nhiệm là người hiểu rõ học sinh của lớp mình nhất nên giáo viên chủ nhiệm như một cố vấn đặc biệt về tâm lý tình cảm, là chỗ dựa cho học sinh trong các tình huống khó khăn, là người đưa ra lời khuyên hữu ích và tin cậy đối với học trò. Không những thế, giáo viên chủ nhiệm còn là người chủ động phối hợp với tổ chức Đội trong các hoạt động tập thể, hoạt động ngoại khoá, chăm sóc các em ăn ngủ (bán trú), cùng với các lực lượng giáo dục khác để giáo dục các em. Người giáo viên chủ nhiệm chính là chiếc cầu nối mối quan hệ giữa nhà trường với gia đình học sinh. Bằng kiến thức bài giảng của một giáo viên bộ môn, bằng nhân cách trong sáng và bằng những hoạt động giáo dục phong phú đa dạng, người giáo viên chủ nhiệm là lực lượng quan trọng tham gia hoạt động giáo dục Kỹ năng sống cho học sinh ở trong nhà trường.
1.5.3. Tổ chức Đội thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh
Tổ chức Đội TNTP Hồ Chí Minh có nhiệm vụ thông qua các hoạt động của mình để giáo dục truyền thống dân tộc, truyền thống cách mạng, truyền thống yêu nước, thông qua đó giúp đội viên hiểu hơn về truyền thống lịch sử dân tộc, tự hào với các thế hệ cha anh đi trước để có ý thức trách nhiệm với bản thân, gia đình, nhà trường và cả cộng đồng.
Bên cạnh tổ chức Đội trong nhà trường phối hợp các tổ chức đoàn thể khác thực hiện việc tập hợp, thu hút học sinh trong các nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ thông qua các hoạt động cụ thể như hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, hoạt động ngoại khóa theo chủ đề, các Hội thi, giao lưu… giúp học sinh nâng cao các kỹ năng hoạt động xã hội như kỹ năng giao tiếp ứng xử, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng phòng vệ và một số kỹ năng khác.
Bằng các hoạt động tích cực, tổ chức Đội tích cực phối hợp cùng nhà trường hướng tới mục tiêu giáo dục toàn diện, giúp học sinh có đầy đủ kiến thức, kĩ năng, năng lực và phẩm chất cần thiết để học lên các bậc học cao hơn, cũng như vận dụng vào cuộc sống hàng ngày.
1.6. Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho HS dân tộc thiểu số.
1.6.1. Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống
Quản lý giáo dục Kỹ năng sống là “dạy người” với mục tiêu hình thành các thói quen, hành vi, thái độ tích cực trong việc ứng xử mọi tình huống của cuộc sống và tham gia đời sống xã hội. Đây là hoạt động mang tính nhân văn sâu sắc, đòi hỏi nhà giáo dục phải kiên trì, sáng tạo; đối tượng giáo dục chỉ có thể hình thành được kỹ năng sống thông qua tham gia hoạt động thực tiễn, tự trải nghiệm, tự rèn luyện để hoàn thiện nhân cách, bổ sung kinh nghiệm sống.
Quản lý hoạt động giáo dục Kỹ năng sống trong nhà trường cần:
- Xây dựng kế hoạch hành động về giáo dục Kỹ năng sống lồng ghép với chương trình giáo dục Ngoài giờ lên lớp, kế hoạch dạy học chính khóa, kế hoạch hoạt động Đoàn, Đội.
- Xây dựng các chủ đề giáo dục Kỹ năng sống cho học sinh phù hợp với tình hình thực tiễn của nhà trường.
- Tổ chức, triển khai tiến hành giáo dục Kỹ năng sống trong hoạt động Ngoài giờ lên lớp; kết hợp với các bộ môn trong giờ chính khóa; các hoạt động Đoàn, Đội.
- Tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả những giờ Giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn Giáo dục công dân giảng dạy Kỹ năng sống ở một số lớp cụ thể.
- Tổng kết đánh giá rút kinh nghiệm hằng năm ở trường.
1.6.2. Mục tiêu quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học.
Mục tiêu của quản lý giáo dục kỹ năng sống cho HS là làm cho quá trình GD vận hành một cách đồng bộ, hiệu quả để nâng cao chất lượng GD toàn diện cho HS. Quá trình này bao gồm: Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho HS dân tộc thiểu số.
- Trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị, thái độ, kỹ năng phù hợp.
Hình thành cho HS những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực; loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực. Kỹ năng sống giúp HS có khả năng ứng phó phù hợp và linh hoạt trong các tình huống của cuộc sống hàng ngày.
Kỹ năng sống giúp HS vận dụng tốt kiến thức đã học, làm tăng tính thực hành. Tạo cơ hội thuận lợi để HS thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình và phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức.
Nhằm đẩy mạnh phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, đồng thời có sự thống nhất cao việc tăng cường giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học trong toàn cấp học; trang bị cho học sinh những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực, loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ, các tình huống và hoạt động hàng ngày; giúp các em có khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử, ứng phó phù hợp, tích cực trước tình huống cuộc sống.
- Giúp GV soạn và dạy được Kỹ năng sống cho học sinh
Yêu cầu:
- Việc bố trí sắp xếp bàn ghế trong phòng học, vị trí trưng bày sản phẩm của học sinh….
- Chuẩn bị thiết bị đồ dùng dạy học, các loại phiếu học tâp sử dụng cho các hoạt động trong giờ học.
- Giáo viên mạnh dạn, tích cực trong việc tổ chức các hoạt động dạy học, vận dụng các phương pháp dạy học, các kỹ thuật dạy học phù hợp…
- Tạo được sự thân thiện, hợp tác, các giao tiếp ứng xử trong giờ học giữa giáo viên và học sinh, học sinh và học sinh, động viên, tạo cơ hôị cho mọi đối tượng học sinh cùng tham gia
- Ngoài việc Giáo dục kỹ năng sống cho HS TH thông qua các kĩ thuật dạy học, tổ chức các hoạt động Giáo dục ngoài giờ lên lớp, phối hợp với gia đình, PGD&ĐT chỉ đạo các lớp đưa nội dung Giáo dục kỹ năng sống vào dạy trong tiết SHTT (1 tiết/tuần, bắt đầu từ đầu năm học).
- Nhà trường cần phải rà soát lại thực trạng của trường mình, về hạn chế và hướng giải quyết để có thể tổ chức tốt việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, sau đó căn cứ vào chương trình khung của PGD, xây dựng chương trình cụ thể cho đơn vị. Tùy theo hoàn cảnh thực tế của từng địa phương, từng trường để triển khai Giáo dục kỹ năng sống cho thật hiệu quả.
- Các trường cũng cần phải xây dựng được quy tắc ứng xử văn hóa. Thầy cô giáo, cán bộ, phụ huynh phải gương mẫu. Bên cạnh đó, cần tạo được môi trường thân thiện, gia đình thân thiện, cộng đồng thân thiện. Ngoài ra, việc đẩy mạnh phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” cũng là biện pháp góp phần trang bị thêm nhiều kiến thức kỹ năng sống cho học Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho HS dân tộc thiểu số.
1.6.3. Chức năng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở trường tiểu học
Nội dung quản lý công tác giáo dục Kỹ năng sống cho học sinh TH bao gồm:
- Lập kế hoạch Quản lý giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường
Đây là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ hệ thống kế hoạch quản lý trường học. Như vậy khi lập kế hoạch người cán bộ quản lý cần phải chú ý:
- Đảm bảo tính thống nhất giữa mục tiêu GD kỹ năng sống với mục tiêu GD chung trong nhà trường.
- Lựa chọn nội dung, hình thức hoạt động đa dạng, thiết thực, phù hợp với hoạt động tâm sinh lý học sinh để có hiệu quả GD cao.
Thành lập ban chỉ đạo cụ thể, để theo dõi, kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện kế hoạch. Người cán bộ quản lý phải xây dựng các kế hoạch sau:
- Kế hoạch hoạt động theo chủ điểm.
- Kế hoạch hoạt động theo chương trình.
- Kế hoạch hoạt động theo các mặt của hoạt động xã hội.
Các kế hoạch phải đảm bảo tính vừa phải, tính bao quát, tính cụ thể, tính khả thi.
- Tổ chức, chỉ đạo hoạt động GD kỹ năng sống trong nhà trường
- Tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học trong các hoạt động dạy học
Hoạt động dạy học là quá trình thống nhất biện chứng giữa giáo viên và học sinh. Dưới tác động tổ chức, điều khiển của giáo viên, học sinh tự giác tích cực tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động học nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học đặt ra. Tổng hợp thành quả các bài học, các môn học, các mặt giáo dục, học sinh hình thành được nhân cách của bản thân thông qua kiến thức, kỹ năng, thái độ với các hiện tượng đời sống. Quản lý hoạt động giáo dục Kỹ năng sống trong các hoạt động dạy học chính là quản lý việc thực hiện các nội dung trong chương trình có liên quan đến việc giáo dục kỹ năng sống, nhất là một số môn khoa học xã hội có ưu thế như ngữ văn, giáo dục công dân…; quản lý phương pháp dạy học của giáo viên giúp học sinh có những kỹ năng cần thiết không chỉ nắm vững, nắm chắc nội dung bài học mà còn hình thành các thái độ, hành vi ứng xử trong cuộc sống có liên quan đến kỹ năng sống như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng giải quyết vấn đề…; quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh không chỉ đơn thuần là chú trọng đến việc nắm kiến thức mà còn quản lý việc đánh giá thông qua hành vi thái độ mà học sinh tích luỹ được dần dần thông qua các bài học. Nói cách khác phải quản lý việc thực hiện mục tiêu bài dạy trên cả ba phương diện: kiến thức, thái độ, hành vi.
- Tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học trong các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Quá trình giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là quá trình tác động bền bỉ, lâu dài, bằng nhiều con đường khác nhau. Ngoài việc giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động dạy học, việc giáo dục kỹ năng sống còn được thực hiện trong các hoạt động giáo dục. Nhà trường phải quản lý từ việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, chỉ đạo việc thực thi kế hoạch và có kiểm tra đánh giá trong công tác chủ nhiệm lớp, trong giờ sinh hoạt lớp, giờ chào cờ và các hoạt động ngoài giờ lên lớp; Chỉ đạo và phối hợp chặt chẽ với tổ chức Đội trong các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu giáo dục toàn diện trong đó chú trọng đến các hoạt động vui chơi, hoạt động phong trào, công tác từ thiện, lao động công ích, kỉ niệm nhân các ngày lễ lớn, hoạt động trải nghiệm, các Hội thi và giao lưu,… có các kỹ năng hoạt động xã hội… Nhà trường cần có kế hoạch cụ thể trong việc phối hợp với các lực lượng xã hội thực hiện giáo dục kỹ năng sống như: đoàn thanh niên, Ban đại diện cha mẹ học sinh và phụ huynh học sinh…nhằm tổ chức các chương trình giáo dục chuyên đề về kỹ năng sống.
Để thực hiện tốt chức năng kế hoạch hoá hoạt động giáo dục Kỹ năng sống, nhà quản lý cần xác định rõ mục tiêu cần đạt trong hoạt động giáo dục Kỹ năng sống, từ đó xác định những biện pháp có tính khả thi để thực hiện kế hoạch.
- Kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học trong nhà trường:
Nhà trường phải xây dựng được tiêu chí đánh giá, quy định thời gian đánh giá. Xác định được cách kiểm tra. Sau kiểm ta cần tổng kết đánh giá, xếp loại từ đó khen, chê kịp thời và có những điều chỉnh hợp lý nhằm thực hiện tốt những mục tiêu đề ra.
1.7. Các yếu tố tác động tới quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở trường tiểu học. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho HS dân tộc thiểu số.
1.7.1. Yếu tố bên trong nhà trường
Giáo dục bên trong nhà trường là hoạt động giáo dục trong các trường lớp thuộc hệ thống giáo dục quốc dân theo mục đích, nội dung, phương pháp có chọn lọc trên cơ sở khoa học và thực tiễn nhất định. Giáo dục nhà trường được tiến hành có tổ chức, tác động trực tiếp, có hệ thống đến sự hình thành và phát triển của nhân cách. Thông qua giáo dục nhà trường, mỗi cá nhân được bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, kiến thức khoa học, kỹ năng thực hành cần thiết, đáp ứng yêu cầu trình độ phát triển của xã hội trong từng giai đoạn.
Nhà trường là một hệ thống giáo dục được tổ chức quản lý chặt chẽ, là yếu tố quan trọng nhất trong quá trình GD kỹ năng sống cho HS. Với hệ thống chương trình khoa học, các tài liệu, sách giáo khoa, sách tham khảo, các phương tiện hỗ trợ giáo dục ngày càng hiện đại, đặc biệt là với một đội ngũ cán bộ, giáo viên, giáo viên chủ nhiệm được đào tạo cơ bản có đủ phẩm chất và năng lực tổ chức lớp là yếu tố có tính chất quyết định hoạt động GD kỹ năng sống cho học sinh.
1.7.2. Yếu tố bên ngoài nhà trường
- Cha, mẹ học sinh
Gia đình là cơ sở đầu tiên, có vị trí quan trọng và ý nghĩa lớn đối với quá trình hình thành và phát triển nhân cách của mỗi người. Vì vậy, mỗi người luôn hướng về gia đình để tìm sự bao bọc, chia sẻ.
Trong gia đình, cha mẹ là những người đầu tiên dạy dỗ, truyền đạt cho con cái những phẩm chất nhân cách cơ bản, tạo nền tảng cho quá trình phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể lực, thẩm mĩ…đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội. Đây là điều có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của các em trong xã hội hiện đại. Tuy vậy, giáo dục gia đình vẫn không thể thay thế hoàn toàn giáo dục của nhà trường.
Nền kinh tế thị trường hiện nay đang ảnh hưởng mạnh mẽ đến toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần của gia đình. Các tệ nạn xã hội tạo ra nhiều thách thức và khó khăn trong việc lựa chọn các giá trị chân, thiện, mĩ trong giáo dục gia đình. Mặt khác, giáo dục gia đình chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện kinh tế, tiện nghi, nếp sống, nghề nghiệp của cha mẹ…đặc biệt là mối quan hệ gắn bó, gần gũi giữa cha mẹ và con cái. Vì vậy, cha mẹ cần dành thời gian để tìm hiểu những tâm tư, nguyện vọng của con, gần gũi và chia sẻ với con những điều con cảm thấy vướng mắc, khó khăn, tiếp thêm cho con sức mạnh và bản lĩnh để ứng phó với các tình huống, vấn đề nảy sinh trong cuộc sống. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho HS dân tộc thiểu số.
- Yếu tố giáo dục xã hội
Địa bàn dân cư nơi HS cư trú, các cơ quan, ban, ngành… ảnh hưởng rất lớn đến việc GD kỹ năng sống cho học sinh nói chung và học sinh TH nói riêng. Môi trường xã hội trong sạch, lành mạnh, văn minh là điều kiện thuận lợi cho GD kỹ năng sống và hình thành nhân cách HS. Vì vậy, cần phải có sự phối hợp, thống nhất giữa nhà trường, gia đình và XH. Sự phối hợp này tạo ra môi trường thuận lợi, sức mạnh tổng hợp để giáo dục học sinh có hiệu quả.
1.7.3. Yếu tố chủ quan
Tự giáo dục là một bộ phận của quá trình giáo dục, là hoạt động có ý thức, mục đích của mỗi cá nhân để tự hoàn thiện những phẩm chất nhân cách bản thân theo định hướng giá trị xác định. Nhu cầu tự giáo dục nảy sinh theo từng giai đoạn phát triển của cá nhân. Ở lứa tuổi học sinh TH, bước đầu các em đã có nhu cầu tự giáo dục, các em đã tự ý thức được những giá trị mà các em cho là hữu ích với cuộc sống như: rèn luyện thân thể, tập thói quen tốt…Đồng thời, các em đã bắt đầu hình thành ý thức về trách nhiệm của bản thân với bạn bè, người thân, tự phấn đấu, nỗ lực trong học tập Quá trình tự giáo dục bao gồm 4 yếu tố cơ bản:
- Năng lực tự ý thức của học sinh về sự phát triển nhân cách bản thân
- Năng lực tổ chức tự giáo dục: Lập kế hoạch, lựa chọn phương pháp, phương tiện thực hiện…
- Sự nỗ lực của bản thân để vượt qua khó khăn, trở ngại trong quá trình thực hiện kế hoạch tự giáo dục.
- Tự kiểm tra kết quả tự giáo dục để rút ra bài học kinh nghiệm cho bản thân.
Kết luận chương 1 Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho HS dân tộc thiểu số.
- Qua tìm hiểu các vấn đề lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu, có thể rút ra một số kết luận sau:
Hoạt động giáo dục Kỹ năng sống trong trường tiểu học là cần thiết, cấp bách. Đã đến lúc phải coi giáo dục Kỹ năng sống là một nhiệm vụ thiết yếu trong công tác giáo dục học sinh. Thực hiện tốt việc giáo dục Kỹ năng sống cho học sinh cũng chính là thực hiện bốn trụ cột trong giáo dục của UNESCO là: Học để biết (kỹ năng sống liên quan đến “kiến thức”), học để làm (KNS liên quan đến “hành vi”), học để tự khẳng định mình (KNS liên quan đến “giá trị”), học để cùng chung sống (KNS liên quan đến “thái độ”)
Công tác quản lý của nhà trường luôn đóng vai trò chủ đạo trong việc thực hiện hoạt động giáo dục Kỹ năng sống. Muốn nâng cao chất lượng giáo dục Kỹ năng sống trong nhà trường thì người hiệu trưởng phải quản lý tốt các hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục trong nhà trường theo hướng tiếp cận Kỹ năng sống. Người hiệu trưởng cần chú trọng đến tất cả các khâu từ việc lập kế hoạch, tổ chức triển khai, chỉ đạo thực hiện đến việc kiểm tra đánh giá của các lực lượng tham gia giáo dục Kỹ năng sống trong nhà trường. Người quản lý cần nâng cao nhận thức và trang bị kiến thức về giáo dục Kỹ năng sống cho tập thể đội ngũ giáo viên nhà trường, xây dựng và triển khai kế hoạch, thực hiện chỉ đạo thực hiện và kiểm tra kế hoạch trong lực lượng giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm, tổ chức Đội thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh và biết phối hợp với các lực lượng giáo dục khác ngoài nhà trường, làm tốt các chức năng quản lý, biết động viên tập thể cán bộ giáo viên tham gia tích cực nhiệt tình nhằm đảm bảo học sinh đến trường không chỉ đơn thuần được dạy chữ mà còn được dạy cách ứng xử làm người. Trong quá trình trang bị các kiến thức về kỹ năng sống cần căn cứ vào các đặc điểm tâm sinh lý nhân cách của học sinh TH để có những phương pháp giáo dục phù hợp.
Trong chương 1, tôi đã phân tích và làm sáng tỏ các vấn đề cơ bản về giáo dục Kỹ năng sống, tầm quan trọng và các kỹ năng sống cần giáo dục cho học sinh cũng như công tác quản lý Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh TH. Đây là cơ sở lý luận quan trọng để chúng tôi có cơ sở đề xuất các biện pháp quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở trường TH Đồn Đạc. Tuy nhiên muốn đề ra được các biện pháp mang tính khả thi và có hiệu quả thì đòi hỏi người cán bộ quản lý ngoài việc nắm vững những vấn đề về mặt lý luận đã trình bày ở trên thì phải có sự đánh giá một cách khách quan, khoa học về thực trạng công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong giai đoạn hiện nay của các nhà trường. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho HS dân tộc thiểu số.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh dân tộc

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
