Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường tiểu học

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường tiểu học hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường tiểu học tại thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT

Đề tài: Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường tiểu học tại thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương được nghiên cứu từ ngày 10/11/2023 – 20/10/2025.

HĐGD NGLL là một hoạt động không thể thiếu trong nhà trường. Luận văn làm sáng tỏ lý luận về HĐGD NGLL về vị trí, vai trò, ý nghĩa, mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức HĐGD NGLL. Luận văn hệ thống hóa lý luận về nội dung quản lý HĐGD NGLL gồm vai trò của HT; Các chức năng quản lý HĐGD NGLL gồm xây dựng chương trình kế hoạch, Tổ chức thực hiện, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý HĐGD NGLL.

Từ thực trạng cho thấy, thực tiễn quản lý HĐGDNGLL ở các trường Tiểu học tại thị xã Thuận An được cải thiện, tuy nhiên còn nhiều khó khăn và hạn chế trong công tác lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá. Đánh giá những điểm đạt được, hạn chế và nguyên nhân công tác quản lý HĐGD NGLL của các trường TH tại thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương. Nêu lên một số yếu tố tác động đến hiệu quả trong công tác quản lý HĐGD NGLL.

Đề tài khảo sát, phân tích thực trạng và các hạn chế, tồn tại ở các trường tiểu học tại thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương. Các biện pháp được đề xuất dựa vào cơ sở lý luận và những thực trạng quản lý HĐGD NGLL thực tiễn, đã đưa ra hệ thống bảy biện pháp như sau: (1)Tiếp tục bồi dưỡng nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên, các tổ chức trong nhà trường về tầm quan trọng của HĐGD NGLL; (2) Hoàn thiện công tác lập kế hoạch HĐGD NGLL; (3) Đa dạng hóa nội dung, hình thức, phương pháp thực hiện HĐGD NGLL trong hoạt động giáo dục phù hợp với điều kiện của nhà trường; (4) Tăng cường công tác chỉ đạo và giám sát chất lượng HĐGD NGLL; (5) Xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị phù hợp, đáp ứng HĐGD NGLL; (6) Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng CBQL, GV về tổ chức HĐGD NGLL; (7) Tăng cường phối hợp các lực lượng giáo dục bên ngoài nhà trường trong quản lý HĐGD NGLL.

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

Theo Nghị quyết 29 – NQ/TW, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”, nêu rõ quan điểm: “Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.”[1]

Trong Mục 2, Điều 27 của luật giáo dục nêu rõ: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ”. Giáo dục tiểu học nhằm giúp HS hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để HS tiếp tục học trung học cơ sở.[24] Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường tiểu học.

Giáo dục tiểu học (TH) là bậc học đầu tiên của giáo dục phổ thông. Đây là cơ sở ban đầu giúp cho học sinh (HS) tiếp tục học tiếp ở các bậc học cao hơn, là nền tảng đầu tiên và quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách của con người – bởi đây là bậc học “nền móng”. Ở bậc học này, các em không những được học các kiến thức khoa học cơ bản mà còn được học những kiến thức, những kĩ năng xã hội.

HS TH được ví như tờ giấy trắng, người giáo dục vẽ như thế nào thì hình ảnh đứa trẻ sẽ ra như thế ấy. Ở bậc học này, nhà giáo dục không chỉ dạy chữ, dạy kiến thức mà còn phải dạy cách làm người. Vì vậy bên cạnh dạy các em biết đọc, biết viết, biết tính toán,…chúng ta còn phải dạy các em biết yêu thương gia đình, yêu thương mọi người, yêu quê hương, đất nước,…

Trong nhà trường TH, việc giáo dục HS được thực hiện thông qua hai con đường: Dạy học các môn học trên lớp và tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (HĐGD NGLL). Mỗi con đường có những ưu thế riêng, song HĐGD NGLL, do đặc trưng, có vai trò quan trọng trong việc giáo dục toàn diện cho HS. Thời lượng dành cho HĐGD NGLL cũng đã được quy định trong Kế hoạch giáo dục TH của Chương trình TH đã được Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo kí ban hành ngày 5 tháng 5 năm 2006. [27]

Trong quá trình giáo dục, ngoài việc hình thành cho HS thái độ đúng đắn, các hành vi và thói quen tốt, các kĩ năng hoạt động ứng xử trong các mối quan hệ xã hội,… mà còn phải giúp các em bổ sung và hoàn thiện những tri thức đã học trên lớp. Thế nên, quá trình giáo dục không những được thực hiện thông qua các hoạt động giáo dục trên lớp mà còn thông qua các HĐGD NGLL. Đây là hoạt động nối tiếp của hoạt động dạy học trên lớp, giúp HS biết vận dụng những tri thức đã học để giải quyết những vấn đề do đời sống đặt ra nhằm điều chỉnh hành vi đạo đức, lối sống cho phù hợp. HĐGD NGLL góp phần giúp HS biến kiến thức được học trên lớp thành những kĩ năng, kĩ xảo cho bản thân và hình thành nhân cách toàn diện cho các em HS.

Hơn thế nữa, HĐGD NGLL có vai trò quan trọng đặc biệt đối với lứa tuổi HS TH, ở lứa tuổi này khả năng tập trung của các em chưa cao, thời gian tập trung ngắn, chú ý trực quan, khả năng tư duy trừu tượng còn hạn chế, các em còn xen lẫn giữa hoạt động vui chơi và hoạt động học tập. Do đó, HĐGD NGLL đối với HS TH là rất cần thiết. Tuy nhiên, hiện nay trong chương trình giáo dục ở bậc TH chưa có tiết HĐGD NGLL riêng biệt, mà chỉ được tích hợp vào tiết sinh hoạt dưới cờ và sinh hoạt tập thể lớp. Vì thế, giáo viên cũng không nắm được các yêu cầu cụ thể về giáo dục HĐGD NGLL là gì? Chưa biết được tầm quan trọng của HĐGD NGLL như thế nào? Mà chủ yếu là giáo viên chú trọng truyền đạt những kiến thức khoa học cơ bản của các môn học trên lớp. Một phần giáo viên chưa nắm được nội dung, phương pháp, cách thức, hình thức tổ chức, chưa mặn mà với hoạt động này do tốn nhiều công sức… nên đã gây ra nhiều khó khăn cho giáo viên trong việc tổ chức các HĐGD NGLL, cũng như công tác quản lý HĐGD NGLL của Hiệu trưởng (HT) các trường TH còn một số hạn chế do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, chưa mang lại hiệu quả cho hoạt động giáo dục này.

Để HĐGD NGLL và quản lý HĐGD NGLL đạt hiệu quả như mong muốn thì vai trò quản lý của HT nhà trường có ý nghĩa quan trọng. Do đó, người HT cần phải tập trung đẩy mạnh quản lý cho hoạt động này. Để góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý HĐGD NGLL ở các trường TH tại tỉnh Bình Dương, hiện nay cũng đã có một số đề tài đã nghiên cứu về HĐGD NGLL, tuy nhiên vẫn còn một số vấn đề bất cập do tình hình trường lớp, đặc điểm về tình hình kinh tế – xã hội – giáo dục khác nhau và có sự thay đổi. Đặc biệt là tại thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương với số dân cũng như số lượng HS bậc TH đông nhất trong tất cả các huyện thị của tỉnh Bình Dương. Đội ngũ quản lý chưa chú trọng cao trong việc quản lý HĐGD NGLL cho nhà trường. Hơn thế nữa, tác giả cũng rất tâm đắc với hoạt động giáo dục này và đã chọn đề tài: “Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường tiểu học tại thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương” làm đề tài luận văn của mình.

2. Mục đích nghiên cứu Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường tiểu học.

Nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý HĐGD NGLL ở các trường TH tại thị xã Thuận An. Trên cơ sở đó, đề xuất một số biện pháp quản lý HĐGD NGLL cho Hiệu trưởng các trường TH tại thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương.

3. Nhiệm vụ nghiên cứu.

  • Nghiên cứu cơ sở lý luận về công tác quản lý HĐGD NGLL tại các trường TH.
  • Khảo sát và phân tích thực trạng quản lý HĐGD NGLL ở các trường TH tại thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương.
  • Đề xuất các biện pháp quản lý HĐGD NGLL cho các trường TH tại thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương.

4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu.

4.1 Khách thể nghiên cứu

  • HĐGD NGLL ở các trường TH.

4.2 Đối tượng nghiên cứu

  • Quản lý HĐGD NGLL ở các trường TH tại thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương.

5. Phạm vi nghiên cứu

5.1 Nội dung nghiên cứu

  • Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng và biện pháp quản lý HĐGD NGLL ở các trường TH tại thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương.

5.2 Thời gian nghiên cứu

  • Đề tài khảo sát thực trạng công tác quản lý HĐGD NGLL ở các trường TH tại thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương trong hai năm học 2023 – 2024 và 2024-2025.

6. Giả thuyết nghiên cứu Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường tiểu học.

  • Hiện nay công tác quản lý HĐGD NGLL ở các trường TH tại thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương còn những hạn chế nhất định.
  • Từ việc đánh giá thực trạng và tìm ra nguyên nhân của những hạn chế đó, sẽ là cơ sở để tác giả đề xuất các biện pháp quản lý HĐGD NGLL ở các trường TH tại thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương.

7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp luận nghiên cứu

7.1.1 Quan điểm hệ thống cấu trúc

Xem xét đối tượng nghiên cứu như một bộ phận của hệ thống, vận động và phát triển trong một hệ thống chung. Vận dụng vào đề tài nghiên cứu, người nghiên cứu thấy rằng việc chỉ đạo của ban giám hiệu, việc phối hợp giáo viên (GV), với tổng phụ trách (TPT) đội và các lực lượng khác của trường TH là vấn đề cần thiết để quản lý tốt HĐGD NGLL.

7.1.2 Quan điểm thực tiễn

Qua khảo sát thực trạng HĐGD NGLL ở các trường TH tại thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương, người nghiên cứu sẽ phát hiện những mặt mạnh, mặt yếu trong công tác quản lý hoạt động này và nguyên nhân của nó để từ đó đề xuất các biện pháp quản lý tốt HĐGD NGLL ở các trường TH tại thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương.

7.1.3.Quan điểm lịch sử – Logic

  • Xem xét vấn đề nghiên cứu trong một quá trình phát triển lâu dài của nó từ quá khứ đến hiện tại, từ đó phát hiện ra mối liên hệ của vấn đề.

7.2 Phương pháp nghiên cứu

7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

  • Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa tài liệu…có liên quan công tác quản lý HĐGD NGLL nhằm xác định cơ sở lý luận cho đề tài.

7.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường tiểu học.

Trong luận văn này, tác giả sử dụng 01 phiếu hỏi được thiết kế dành cho công tác khảo sát ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý (CBQL), GV về công tác quản lý HĐGD NGLL ở các trường TH tại thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Bảng hỏi tập trung tìm hiểu đánh giá của CBQL, GV về việc nhà trường thực hiện các chức năng quản lý HĐGD NGLL: Lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra – đánh giá.

7.2.2.2 Phương pháp thống kê toán học

  • Phương pháp này giúp người nghiên cứu sử dụng các phép toán thống kê để xử lý số liệu thu thập được từ khảo sát.
  • Công cụ sử dụng: Phần mềm thống kê SPSS.

8. Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo, trong luận văn gồm các chương sau:

  • Chương I: Cơ sở lí luận về quản lý HĐGD NGLL ở trường TH.
  • Chương II: Thực trạng quản lý HĐGD NGLL của Hiệu trưởng ở một số trường TH tại thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương.
  • Chương III: Đề xuất các biện pháp quản lý HĐGD NGLL của Hiệu trưởng các trường TH tại thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương.

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC

1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu

1.1.1 Trên thế giới

Triết lý giáo dục đã nêu rõ: “Học đi đôi với hành” và tiến tới mục tiêu: Học để biết, học để làm, học để làm người… Với mục tiêu giáo dục toàn diện cho HS, trang bị cho HS những năng lực, phẩm chất để có thể phát triển toàn diện trong tương lai, đòi hỏi người học không những lĩnh hội kiến thức mà còn phải biết thực hành. Đó chính là hướng đến của giáo dục của các nước trên thế giới. Để thực hiện được những mục tiêu đó, ngoài việc lĩnh hội những kiến thức trên lớp, HS cần phải thực hiện những hoạt động thông qua các giờ thực hành, các hoạt động tập thể,… các hoạt động đó được thực hiện ở ngoài lớp học – gọi chung là HĐGD NGLL. Việc quản lý các hoạt động này có vai trò quyết định đến sự hình thành kiến thức, kĩ năng, hành vi và thái độ,… của HS (người học). Nó được thể hiện qua các quan điểm như sau:

Democrite (460 – 370 trước CN), một nhà giáo dục thời Hi Lạp cổ đại, rất coi trọng việc giáo dục lao động, là người đầu tiên trong lịch sử đưa ra nguyên tắc “kết hợp giáo dục với lao động và cuộc sống sinh hoạt của trẻ em.” [26, tr 45]

Ăngghen có nói: Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ sinh hoạt loài người, và … một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: Lao động đã sáng tạo ra chính bản thân con người.[26, tr 20]

Mặc Tử (475 -390 trước CN), đưa ra nguyên tắc là: Học gì phải lợi ích của muôn dân trăm họ (“Quốc gia bách tính nhân dân chi lợi”); Học gì phải mang tính thực tiễn cho mọi người (“Bách tính nhân dân nhĩ mục chi thực”); Học phải đi đôi với hành (“Sĩ tuy hữu học, nhi hành vi vi bản yên”) và miệng nói đi đôi với tay làm (“Khẩu ngôn chi thân tất hành chi”) [26, tr 67]

Pétxtalodi (1746 – 1827), người cha của mọi trẻ em, nhà giáo dục tiêu biểu trong thế kỉ XIX. Với lòng nhân ái sâu sắc, với ý đồ cải tạo xã hội bằng con đường giáo dục, đặc biệt là cải thiện cuộc sống cho người lao động. Bên cạnh giáo dục các mặt “đức dục”, “trí dục”, “thể dục” và giáo dục lao động, theo ông thì: “trong trường học, suốt ngày trẻ em vừa học tập, vừa lao động ngay trong xí nghiệp và trên đồng ruộng. Trong trường học cần có đất đai để trồng trọt, chăn nuôi và trẻ em được học một nghề thủ công (mộc, nề, dệt, đan, chữa đồng hồ,…). Trong thời gian làm việc cũng như lúc thanh nhàn, hoặc trong lao động đều tiến hành việc giáo dục (học hành)”. Vấn đề này được Pétxtalodi đánh giá cao vai trò của lao động trong việc hình thành nhân cách trẻ em.[26, tr 121] Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường tiểu học.

John Dewey (1859 – 1952) cho rằng: ‘‘Cần phải cho trẻ lao động với các hình thức đa dạng của cuộc sống và được tiến hành ở mọi nơi như ở vườn trường, xưởng trường, dưới nhà bếp, ngoài công xưởng và được trang bị bằng những công cụ lao động với các phương tiện hiện đại… qua đó trẻ phải học cách tự thiết kế, học cách tính toán, tìm tỉ lệ, tính giá trị thành phẩm, vật liệu, sử dụng các ngôn từ chuyên dùng, học cách trang trí nội thất.” Ý định của ông là xóa bỏ ranh giới giữa nhà trường với đời sống. [26, tr 140]

Ở Mĩ, cuối thế kỉ XIX, Horace Mann (1796 – 1859), là luật sư, chính trị gia, nhà giáo dục rất quan tâm đến vấn đề xã hội và giáo dục. Ông đưa ra chương trình cải tiến rộng lớn với phương pháp giáo dục tích cực. Một trong sáu luận điểm của Horace Mann là: “Giáo dục cần phải thực hiện với phương pháp sư phạm thực dụng, thúc đẩy HS học tập tích cực, quan tâm đến từng cá nhân HS, học tập trong lớp học và ngoài lớp học, áp dụng kỉ luật của một xã hội dân chủ.” [10, tr 171]

Như vậy, vấn đề giáo dục ngoài giờ lên lớp đã được các chuyên gia, nhà khoa học, nhà giáo dục,… các nước trên thế giới đã đề cập từ rất sớm. Từ đó cho thấy rằng, trong quá trình giáo dục, ngoài việc giáo dục thông qua các bài học trong lớp thì cũng có thể giáo dục người học thông qua các hoạt động giáo dục khác.

1.1.2 Ở Việt Nam

Phương châm giáo dục của Lịch sử giáo dục Việt Nam trong nội dung cải cách giáo dục năm 1950 có nêu rõ: “Học đi đôi với hành, lí luận gắn liền với thực tiễn” [9, tr137]. Trong đó có nói đến xây dựng chương trình: “Đối với trường phổ thông 9 năm tạm gác một số môn học chưa thật sự cần thiết hoặc chưa có điều kiện giảng dạy như: Ngoại ngữ, nhạc, vẽ, nữ công gia chánh. Bỏ một số phần chưa thật cần thiết trong một số môn như lịch sử cổ đại, văn học cổ, địa lí thế giới …. Ngoài ra, đưa thêm một số môn học và một số hoạt động mới như: Thời sự chính sách, giáo dục công dân, tăng gia sản xuất ở tất cả các lớp (mỗi tuần 3 giờ). [9, tr 139]

Trong cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai (1956), mục tiêu cải cách giáo dục lần này được xác định rõ: “đào tạo, bồi dưỡng thế hệ thanh niên và thiếu nhi trở thành những người phát triển về mọi mặt, những công dân tốt, trung thành với Tổ quốc, những người lao động tốt, cán bộ tốt của nước nhà, có tài, có đức để phát triển chế độ dân chủ của nhân dân, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta….”. Ngoài ra, phương châm giáo dục xác định: “lí luận liên hệ với thực tiễn, gắn chặt nhà trường với đời sống xã hội.” [6, tr 145]. Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường tiểu học.

Từ năm 1958, cuộc vận động xây dựng nhà trường xã hội chủ nghĩa được phát động. Nhà trường Xã hội chủ nghĩa có một số đặc trưng như sau: “Lao động sản xuất phải trở thành yếu tố cơ bản trong mục đích, phương châm, phương pháp giáo dục của nhà trường”. Như vậy, để xây dựng nhà trường Xã hội chủ nghĩa theo đặc trưng trên, từ năm 1958 – 1959, các trường tổ chức cho HS tham gia lao động sản xuất trong dịp hè. HS sôi nổi tỏa về các nhà máy, xí nghiệp, hợp tác xã, đi về các bản làng, thôn xóm, tham gia lao động trong các công trình thủy lợi, cầu đường,… [9, tr 155]

Cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba (1979), tháng 12/1967 Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng đã vạch ra con đường đi lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước và xác định “giáo dục là nền tảng văn hóa của một nước, là sức mạnh tương lai của một dân tộc, nó đặt ra cơ sở ban đầu rất quan trọng cho sự phát triển toàn diện con người Việt Nam Xã hội chủ nghĩa”. Thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ IV của Đảng, ngày 11/1/1976 Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết số 14 – NQ/TW về cuộc cải cách lần thứ ba. Có một số mục tiêu cơ bản đó là: “Thực hiện tốt hơn nữa nguyên lí giáo dục: Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất gắn với đào tạo nghề và nghiên cứu, thực nghiệm khoa học.” [9, tr 182]

Giáo dục Việt Nam trong thời kì đổi mới (Từ năm 1986 đến nay), đã có rất nhiều chủ trương lớn của Đảng về đổi mới giáo dục. Trong đó, Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (1997) đã phân tích sâu sắc thực trạng giáo dục và đào tạo, trên cơ sở đó đề ra những định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Một trong những tư tưởng chỉ đạo phát triển giáo dục đó là: “ Phát triển giáo dục – đào tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, những tiến bộ khoa học – công nghệ và củng cố quốc phòng, an ninh,…. thực hiện giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nghiên cứu khoa học lí luận gắn với thực tế, học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với gia đình và xã hội” [9, tr 195]

Như vậy, theo lịch sử giáo dục Việt Nam thì từ sau cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba cho đến nay thì tên gọi HĐGDNGLL được sử dụng phổ biến và được nhiều tác giả nghiên cứu về hoạt động giáo dục này, cũng như hoạt động này đã được nhiều tác giả đã chọn để thực hiện các luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ. Đặc biệt Hoạt động giáo dục này cũng được nhiều nhà giáo dục, nhà quản lý giáo dục chọn để thực hiện nhiều đề tài báo cáo cũng như làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm trong công tác quản lý, giảng dạy,… điển hình như: Luận Án tiến sĩ: Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp theo hướng xã hội hóa ở trường Trung học phổ thông thành phố Hồ Chí Minh của tác giả Phạm Thị Lệ Nhân – Hà Nội năm 2022 [19];… Ngoài ra, với chủ đề này cũng được các tác giả chọn làm đề tài thực hiện nghiên cứu trong các luận văn thạc sĩ như: “Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lớp ở các trường TH bán trú quận 8 thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Nguyễn Quốc Hưng – Thành phố Hồ Chí Minh năm 2017 [14], Thực trạng quản lý HĐGD NGLL ở các trường Trung học phổ thông tại quận 12, thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2018 của tác giả Nguyễn Tấn Tài [25]… Đặc biệt, với tình hình giáo dục hiện nay, hoạt động này cũng đang được nhiều tác giả đã và đang chọn để thực hiện Luận án, luận văn tốt nghiệp phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương, vùng miền.

Tuy nhiên, các công trình luận án, luận văn trên tập trung nghiên cứu các HĐGDNGLL và quản lý HDGDNGLL của một số quận, huyện, tỉnh, thành phố và khu vực khác nhau. Qua tìm hiểu thực tế tại tỉnh Bình Dương cũng đã có tác giả đang và từng nghiên cứu về HĐGDNGLL. Tuy nhiên tại thị xã thuận An, tỉnh Bình Dương tôi chưa tìm thấy đề tài nghiên cứu nào về hoạt động này. Đặc biệt là quản lý HĐGDNGLL ở bậc TH tại thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương. Chính vì vậy, tôi chọn đề tài “Quản lý HĐGDNGLL ở các trường TH tại thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương” là cần thiết và phù hợp với tình hình giáo dục tại thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương.

1.2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường tiểu học.

1.2.1 Quản lý

Các tổ chức nếu được quản lý tốt, nhất định sẽ có những đóng góp vô cùng ý nghĩa đối với nền kinh tế của nhiều quốc gia, cả những nước công nghiệp phát triển. Tuy nhiên việc quản lý các tổ chức trong thời đại hiện nay đã trở nên phức tạp hơn nhiều so với trước đây, vì thế giới đang trải qua các cuộc cách mạng công nghệ cao và công nghệ thông tin, xã hội trở nên có học vấn hơn. Do vậy việc quản lý các tổ chức hiện đại đòi hỏi những người quản lý cần phải có cấp độ kĩ năng cao hơn. Hơn nữa, môi trường cạnh tranh cao đã bắt buộc những người quản lý phải tuyển dụng những người tốt nhất, có những tiếp cận công nghệ và quản lý tốt nhất để đảm bảo sự tồn tại các tổ chức này và vươn lên dẫn đầu. [17, tr 9].

Từ rất lâu, quản lý đã sớm xuất hiện từ những việc tổ chức các hoạt động săn bắt, hái lượm theo khả năng của con người trong gia đình. Một số tác giả cho rằng:

Daniel C. Mc Callum (1815 – 1878), đã đề xuất những quy tắc thao tác chính xác, các bản mô tả công việc chính thức và một trong những sơ đồ tổ chức đầu tiên. [17, tr 12]

Henry poor (1812 – 1905), là người cùng thời với McCallum và là biên tập viên của tạp chí đường sắt Hoa Kỳ. Ông đã phát triển các nguyên tắc quản lý cho tập đoàn đường sắt Hoa Kỳ và xem xét việc tổ chức, liên lạc và thông tin là những phương thức quản lý [17, tr 12]

Như đối với bất kì các khái niệm nào, có rất nhiều định nghĩa về thuật ngữ “quản lý”. Mary Parker Follett đưa ra định nghĩa khá nổi tiếng về quản lý và được trích dẫn khá nhiều trong các tài liệu, giáo trình, các đề tài nghiên cứu là “nghệ thuật hoàn thành công việc thông qua người khác”. Một định nghĩa được chấp nhận rộng rãi khác là “quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên trong tổ chức và sử dụng mọi nguồn lực sẵn có của tổ chức để đạt những mục tiêu của tổ chức” (Stoner, 1995). Một số tác giả khác cho rằng quản lý là “tập hợp các hoạt động (bao gồm cả lập kế hoạch, ra quyết định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra) nhằm sử dụng tất cả các nguồn lực của tổ chức (con người, tài chính, vật chất và thông tin) để đạt được những mục tiêu của tổ chức một cách có hiệu quả” (Qriffin, 1998). [9, tr 12-13]

Theo Trần Kiểm “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức với hiệu quả cao nhất [15]

Ngoài ra, một số tài liệu có quan niệm: Quản lý là các hoạt động được thực hiện nhằm bảo đảm sự hoàn thành công việc qua nổ lực của người khác. Hoặc Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những người cộng sự khác cùng chung một tổ chức. Các quan niệm này hàm chứa quản lý là một hoạt động thiết yếu bảo đảm phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của tổ chức / nhóm. [16]

Như vậy, có thể hiểu rằng: “Quản lý là quá trình (hoạt động) tác động có mục đích, có kế hoạch phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục đích của tổ chức.” Được thể hiện qua sơ đồ sau:

Theo Quản lý dưới góc độ chức năng: Người quản lý thực hiện rất nhiều hoạt động. Những hoạt động này có thể khác nhau tùy theo tổ chức, hay theo cấp bậc của người quản lý. Tuy nhiên, có một số nhiệm vụ cơ bản, phổ biến cho mọi người quản lý ở tất cả các tổ chức. Người ta thường gọi những nhiệm vụ chung nhất này là Chức năng quản lý. Cho tới nay, nhiều chuyên gia quản lý nhất trí cho rằng có bốn chức năng quản lý cơ bản sau: Lập kế hoạch; Tổ chức; Lãnh đạo/ Điều phối (Chỉ đạo); và Kiểm tra [17, tr 17-18]

1.2.2 Quản lý giáo dục Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường tiểu học.

Giáo dục là một dạng hoạt động đặc biệt có nguồn gốc từ xã hội. Bản chất của hoạt động giáo dục là quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử – xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hóa dân tộc, nhân loại được kế thừa, bổ sung, hoàn thiện và trên cơ sở đó không ngừng phát triển. [18, tr 15]

Khái niệm về quản lý giáo dục được rất nhiều tác giả, các nhà lý luận và quản lý thực tiễn đã đưa ra nhiều khái niệm về quản lý giáo dục như:

Theo tác giả Bush T. (Trong tác phẩm Theories of Education Management, PCP, London, 1995): “Quản lý giáo dục, một cách khái quát, là sự tác động có tổ chức và hướng đích của chủ thể quản lý giáo dục tới đối tượng quản lý giáo dục theo cách sử dụng các nguồn lực càng có hiệu quả càng tốt nhằm đạt mục tiêu đề ra”. [18, tr 17]

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường hay nói rộng ra là quản lý giáo dục là quản lý hoạt động dạy và học nhằm đưa nhà trường từ trạng thái này sang trạng thái khác và dần đạt tới mục tiêu giáo dục đã xác định [18, tr 16]

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”. Trong thực tế, Quản lý giáo dục là quá trình tác động có kế hoạch, có tổ chức của các cơ quan Quản lý giáo dục các cấp tới các thành tố của quá trình dạy học – giáo dục nhằm làm cho hệ thống giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt tới mục tiêu giáo dục nhà nước đề ra.[18, tr 16]

Theo Trần Kiểm: “Quản lý giáo dục (Vi mô) được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể HS, cha mẹ học sinh (CMHS) và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường”. [16, tr 12] Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường tiểu học.

Như vậy, quan niệm về quản lý giáo dục có nhiều cách diễn đạt khác nhau, nhưng có thể nói rằng: “Quản lý giáo dục là quá trình thực hiện có định hướng và hợp quy luật các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra nhằm đạt tới mục tiêu giáo dục đã đề ra.” [18, tr 16]

1.2.3 Quản lý trường tiểu học

  • Theo Trần Kiểm: “Quản lý nhà trường về bản chất là quản lý con người.

Xét về bản chất, quản lý con người trong nhà trường là tổ chức một cách hợp lí lao động của GV và HS, là tác động đến họ sao cho hành vi, hoạt động của họ đáp ứng được yêu cầu của việc đào tạo con người.[16, tr 258]

Theo P.V.Zinmin, M. I. Kônđakôp, N. I. Xaxerđôtôp: “Quản lý nhà trường là hệ thống xã hội sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý lên các mặt của đời sống nhà trường để đảm bảo sự vận hành tối ưu xã hội – kinh tế và tổ chức sư phạm của quá trình dạy học và giáo dục thế hệ đang lớn lên” [16, tr 11-12]

Theo Trần Kiểm, trên bình diện vi mô, quản lý giáo dục trong phạm vi nhà trường có thể xem là đồng nghĩa với quản lý nhà trường: “Quản lí vi mô là quản lí hoạt động giáo dục trong nhà trường bao gồm hệ thống những tác động có hướng đích của hiệu trưởng (principal) đến các hoạt động giáo dục, đến con người (GV, cán bộ nhân viên và HS), đến các nguồn lực (cơ sở vật chất, tài chính, thông tin,..), đến các ảnh hưởng ngoài nhà trường một cách hợp quy luật (quy luật quản lí, quy luật giáo dục, quy luật tâm lí, quy luật kinh tế, quy luật xã hội,…) nhằm đạt mục tiêu giáo dục.” [16, tr 11]. Theo một góc độ khác: “Quản lí nhà trường thực chất là việc xác định vị trí của mỗi người trong hệ thống xã hội, là quy định chức năng, quyền hạn, nghĩa vụ, quan hệ cùng vai trò xã hội của họ mà trước hết là trong phạm vi nhà trường với tư cách là một tổ chức xã hội.” [16, tr 259]

Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý trường học là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng HS” [16, tr 11]

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục là tổ chức hoạt động dạy học… Có tổ chức được hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hóa đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân, của đất nước” [16, tr 11]

Như vậy từ những quan điểm trên, ta có thể hiểu: Quản lý trường tiểu học là quản lý hoạt động của cán bộ, GV, nhân viên và HS trong nhà trường nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đã đề ra.

1.2.4 Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường tiểu học.

1.2.4.1 Hoạt động giáo dục

Khái niệm hoạt động: “Hoạt động là quá trình con người thực hiện các mối quan hệ giữa: Con người với thế giới tự nhiên; Con người với xã hội; Con người với người khác; Con người với chính mình.”[8, tr 12]

Như vậy, khái niệm hoạt động không chỉ đơn thuần bao gồm các yếu tố “động” mà còn là các yếu tố “tĩnh”.

Theo Điều 29. Điều lệ trường TH (Ban hành kèm theo Thông tư số 41/2017/TT-BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) quy định về Hoạt động giáo dục là: Hoạt động giáo dục bao gồm hoạt động giáo dục trong giờ lên lớp (TGLL) và HĐGD NGLL nhằm rèn luyện đạo đức, phát triển năng lực, bồi dưỡng năng khiếu, giúp đỡ HS yếu phù hợp đặc điểm tâm lí, sinh lí lứa tuổi HS TH; Hoạt động giáo dục TGLL được tiến hành thông qua việc dạy học các môn học bắt buộc và tự chọn trong Chương trình giáo dục phổ thông cấp TH do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành; HĐGD NGLL bao gồm hoạt động ngoại khoá, hoạt động vui chơi, thể dục thể thao, tham quan du lịch, giao lưu văn hoá; hoạt động bảo vệ môi trường; lao động công ích và các hoạt động xã hội khác.[2]

1.2.4.2 Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

“HĐGD NGLL là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học của các môn học ở trên lớp, diễn ra trong hay ngoài nhà trường, được tổ chức nhằm giáo dục HS theo mục tiêu giáo dục đã đề ra, là sự tiếp nối hoạt động giáo dục trên lớp, là con đường gắn lí thuyết với thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức và hành động của HS” [8, tr 12]

Theo tác Đặng Vũ Hoạt: “HĐGD NGLL là việc tổ chức giáo dục thông qua hoạt động thực tiễn của HS về khoa học – kĩ thuật, lao động công ích, hoạt động xã hội, hoạt động nhân đạo, văn hóa văn nghệ, thẩm mĩ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí,… để giúp các em hình thành và phát triển nhân cách (đạo đức, năng lực, sở trường…)” [11, tr 7]

Như vậy, HĐGD NGLL là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học của các môn học ở trên lớp. HĐGD NGLL là sự tiếp nối hoạt động dạy và học trên lớp, là con đường gắn lý thuyết với thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức và hành động của HS. Nhằm củng cố khắc sâu kiến thức các môn học. Rèn luyện kỹ năng cơ bản phù hợp với lứa tuổi HS và có những thái độ đúng đắn hơn đối với cuộc sống.

Ở đây, HĐGD NGLL là hoạt động do nhà trường chủ động tổ chức. Trong quá trình đó, nhà trường có thể phối hợp với gia đình và các lực lượng xã hội, nhưng trong đó, nhà trường luôn đóng vai trò chủ đạo.

1.2.5 Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

Quản lý HĐGD NGLL là quá trình tác động có mục đích có kế hoạch phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý (HT) đến đối tượng quản lý (GV, HS) theo chương trình, kế hoạch nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đề ra.

1.3 Lý luận về hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường tiểu học.

1.3.1. Đặc điểm lứa tuổi của học sinh tiểu học.

HS TH có độ tuổi từ 6 đến 12 tuổi, lứa tuổi này có những biến đổi cực kì quan trọng trong hoạt động và trong đời sống của trẻ. HS TH có một số đặc điểm như sau: [27]

Cơ thể của HS TH còn ít thích nghi với các điều kiện của tư thế tĩnh kéo dài là tư thế các em thường giữ khi ngồi học ở trường, do cơ và các xương còn yếu. Vì vậy, đối với HS TH việc thay đổi các hình thức giáo dục là điều quan trọng. HĐGD NGLL với các hình thức phong phú, luôn thay đổi sẽ giúp cho HS được thay đổi tư thế trong quá trình giáo dục.

Ở HS TH bắt đầu hình thành các kiểu cơ bản của “Hoạt động khép kín của vỏ bán cầu đại não” là cái làm cơ sở cho các đặc điểm tâm lí cá nhân của hoạt động trí tuệ và các quá trình cảm xúc.

Hoạt động chủ đạo của trẻ em ở lứa tuổi TH đã chuyển từ vui chơi sang học tập. Song nhu cầu vui chơi của các em vẫn còn rất lớn. Thông thường, vẫn gặp những trẻ chưa quen với nỗ lực trí tuệ: chúng chỉ có thể giải quyết một nhiệm vụ nào đó được đặt ra trên lớp khi nhiệm vụ đó mang tính chất trò chơi. HĐGD NGLL cần tạo ra nhiều sân chơi cho HS, giúp cho các em được chơi mà học, học mà chơi – phù hợp với lứa tuổi của các em.

Khả năng tri giác và quan sát hiện thực bên ngoài của HS TH đã được phát triển nhưng chưa hoàn thiện. Các em tri giác những đối tượng bên ngoài một cách thiếu chính xác, phân biệt trong các đối tượng đó không phải những dấu hiệu đặc điểm cơ bản mà chỉ là những dấu hiệu và đặc điểm ngẩu nhiên. Vì vậy, trong các hoạt động giáo dục cho HS việc sử dụng đúng đắn phương pháp trực quan, tăng cường sử dụng kênh hình và giúp phát triển quan sát của trẻ em lứa tuổi TH.

Tính hiện thực là đặc điểm tiêu biểu đối với sự tưởng tượng của HS TH. Sự tưởng tượng của các em ỏ lứa tuổi này thể hiện ở chỗ mang nhiều yếu tố nhớ lại đơn giản và mang tính bắt chước. Do vậy, các nội dung giáo dục qua HĐGD NGLL phải gắn bó chặt chẽ với cuộc sống hàng ngày của HS, phải lấy chất liệu từ cuộc sống thực của các em. Đồng thời nhà giáo dục phải chú ý mẫu cho HS quan sát và làm theo. Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường tiểu học.

HS TH rất đa cảm, dễ xúc động. Các hình thức hoạt động như diễn tiểu phẩm, sắm vai,… về những chủ đề giáo dục gây cho trẻ một hứng thú đặc biệt. Các em hoạt động một cách hào hứng, nhiệt thành vì luôn mong chờ những hoạt động tiếp theo.

Sự chú ý của HS TH còn chưa bền vững. Các em không thể tập trung làm việc trong thời gian dài, dễ bị sao nhãng, sự chú ý bền vững không lâu, đặc biệt là vào đầu giờ học. Vì vậy khi thiết kế các hoạt động giáo dục, nhà giáo dục cần nắm những đặc điểm này để thiết kế các hoạt động một cách đa dạng, thu hút sự chú ý của các em nhằm đạt kết quả cao nhất.

1.3.2 Vị trí, vai trò, ý nghĩa của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

  • Vị trí

Quá trình giáo dục và quá trình dạy học là những bộ phận của quá trình sư phạm toàn diện, thống nhất. Trong quá trình dạy học, ngoài việc truyền thụ cho HS những tri thức khoa học một cách có hệ thống, còn phải luôn luôn mang lại hiệu quả giáo dục và tạo cơ sở cho toàn bộ quá trình giáo dục đạt được hiệu quả. Trong quá trình giáo dục, ngoài việc hình thành cho HS về ý thức, hành vi, kĩ năng hoạt động và ứng xử trong các quan hệ xã hội về chính trị, đạo đức, pháp luật,… còn phải tạo cơ sở cho các em bổ sung và hoàn thiện những tri thức đã học trên lớp. Vì vậy, quá trình giáo dục không những được thực hiện qua các hoạt động giáo dục trên lớp mà còn qua các HĐGD NGLL.[12, tr 5]

Như vậy trong quá trình giáo dục, HĐGD NGLL là một hoạt động giáo dục không thể thiếu trong quy trình thực hiện mục tiêu đào tạo. Đặc biệt đối với HS, sinh viên nói chung và HS TH nói riêng. Nó chiếm một vị trí then chốt và quan trọng trong quá trình giáo dục, là cầu nối giữa ba môi trường giáo dục Gia đình – Nhà trường – Xã hội. Từ vị trí quan trong đó, HĐGD NGLL có vai trò như sau:

  • Vai trò

HĐGD NGLL có vai trò rất quan trọng trong quá trình giáo dục. Vì nó lôi cuốn HS vào các hoạt động nhằm phát huy khuynh hướng tự lập của các em thành những cá tính sáng tạo, rèn luyện được những phẩm chất tốt của cá nhân, phẩm chất xã hội, hình thành ý thức tập thể, củng cố kết quả dạy học trên lớp, phát triển quan hệ giao tiếp giữa các lớp trong trường và trong cộng đồng xã hội, qua đó điều chỉnh và định hướng quá trình giáo dục toàn diện đạt hiệu quả, nhằm thực hiện mục tiệu đào tạo của cấp học, giúp HS hình thành và phát triển nhân cách.[8, tr 14]

Đối với HS TH, HĐGD NGLL có vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách phát triển toàn diện cho HS bởi vì:[27]

Thứ nhất, HĐGD NGLL mang tính chất linh hoạt, mềm dẻo, mở hơn về tất cả các mặt như: HĐGD NGLL có thể tổ chức vào những thời điểm khác nhau trong năm học, với thời lượng linh hoạt, có thể từ 30 phút đến 150 phút; Có thể tổ chức theo những quy mô khác nhau như theo nhóm, theo lớp, theo khối lớp, trường hoặc liên trường,…; Có thể tổ chức theo các hình thức đa dạng khác nhau, Có thể sử dụng tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau,…

Thứ hai, HĐGD NGLL có nội dung mang tính tích hợp, tổng hợp cao của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực khoa học và đời sống thực tiễn. Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường tiểu học.

Thứ ba, HĐGD NGLL tạo cơ hội cho HS được thực hành, trải nghiệm các kiến thức đã học vào trong thực tiễn cuộc sống, giúp các em phát triển các kĩ năng, thái độ, hành vi tích cực, phát triển năng lực thích ứng, những năng lực cần thiết của con người sống trong xã hội hiện đại.

Thứ tư, HĐGD NGLL tạo cơ hội thuận lợi cho HS được tham gia một cách tích cực, trên cơ sở đó giúp các em phát triển các phẩm chất và năng lực cần thiết. Việc tham gia vào nhiều dạng HĐGD NGLL phong phú sẽ tác động tích cực đến nhận thức, tình cảm, niềm tin và hành vi của HS, tạo cơ hội cho các em được được thể hiện, bộc lộ, tự khẳng định bản thân, được giao lưu học hỏi bạn bè. Từ đó, các em được phát triển những kĩ năng sống, những phẩm chất tích cực,…

Thứ năm, Các hình thức đa dạng của HĐGD NGLL giúp cho việc chuyển tải các nội dung giáo dục tới HS một cách nhẹ nhàng, hấp dẫn; Do HĐGD NGLL không gò bó về thời lượng, không gian, quy mô tổ chức,…như hoạt động dạy học các môn văn hóa nên HĐGD NGLL có những lợi thế riêng trong việc chuyển tải nội dung giáo dục tới HS. Mặt khác nhờ các hình thức hoạt động đa dạng, việc giáo dục HS được thực hiện một cách tự nhiên, sinh động, không gò bó và khô cứng, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí cũng như nhu cầu, nguyện vọng của HS.

Thứ sáu, HĐGD NGLL có khả năng phối hợp, liên kết nhiều lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường như: BGH, TPT Đội, GV, chính quyền địa phương, các nhà hoạt động xã hội,…

Ngoài ra, thông qua các hoạt động ngoại khóa để giáo dục toàn diện cho HS. Đặc biệt là những vấn đề cấp bách như: An toàn giao thông, phòng và chống các loại bệnh dịch, phòng và xử lý các tình huống bị xâm hại trẻ em, bảo vệ môi trường, phòng chống các tệ nạn xâm nhập vào nhà trường, phòng chống cháy nổ, truyền thống địa phương.., góp phần củng cố, khắc sâu và phát triển những kiến thức đã học qua các môn học trên lớp; Phát triển sự hiểu biết trong các lĩnh vực đời sống, xã hội, từng bước làm phong phú hơn vốn tri thức của HS, tạo nên sự cân đối hài hòa quá trình giáo dục toàn diện; Phát triển ở HS các kĩ năng cần thiết, phù hợp với sự phát triển lứa tuổi; Tạo cho HS lòng ham thích, hứng thú trong hoạt động; Bồi dưỡng tình cảm yêu trường, yêu lớp, yêu quý thầy cô, bạn bè,…

  • Ý nghĩa

Từ những vị trí, vai trò được nêu trên thì HĐGD NGLL có ý nghĩa rất lớn cho sự hình thành và phát triển tri thức, nhân cách của HS. HĐGD NGLL giúp HS gắn kết những tri thức đã học trên lớp với thực tiễn cuộc sống, từ thực tiễn xã hội giúp HS hình thành kiến thức sâu sắc. HĐGD NGLL cũng chính là con đường hình thành thái độ, tình cảm của HS một cách bền vững. Từ đó sẽ hình thành ở HS những kĩ năng, những hành vi và thói quen tích cực, bền vững.

1.3.3 Nội dung hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường tiểu học Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường tiểu học.

HĐGD NGLL ở các trường TH hiện nay thường được tiến hành theo các chủ điểm ở các tháng với một số nội dung cụ thể như sau:

  • Hoạt động chính trị xã hội

Đó là những hoạt động có liên quan đến những dịp kỉ niệm các ngày lễ lớn của dân tộc, các mốc thời gian có liên quan đến nhân loại, các sự kiện chính trị, xã hội trong nước và quốc tế đang được quan tâm. Các hoạt động tìm hiểu truyền thống nhà trường, địa phương, dân tộc. Các hoạt động nhân đạo, đền ơn đáp nghĩa, các hoạt động từ thiện,… Những hoạt động này vừa có tác dụng giáo dục ý thức đối với dân tộc, với quê hương, vừa có ý nghĩa với đời sống xã hội, giúp các em có thêm hiểu biết về tình hình chính trị xã hội của đất nước và quốc tế. Nếu tổ chức thường xuyên các hoạt động này cho HS sẽ có tác dụng giáo dục rất lớn về trách nhiệm công dân.[23]

  • Hoạt động giáo dục đạo đức

Tham gia các hoạt động tại địa phương như: Chăm sóc các gia đình thương binh, liệt sĩ, tham gia các chương trình từ thiện, nhân đạo thông qua tổ chức Đoàn Thanh niên, hội Chữ thập đỏ trong nhà trường.

Chú trọng việc xây dựng nếp sống văn hóa trong nhà trường, gia đình và nơi công cộng như xếp hàng ngay ngắn vào lớp, trật tự trong giờ ăn, không xả rác bừa bãi, giữ vệ sinh nơi công cộng, thông qua các hoạt động như: Thi tìm hiểu An toàn giao thông, ngày chủ nhật xanh, thi vẽ tranh về bảo vệ môi trường, tổ chức làm các sản phẩm tái chế, kiểm tra việc giữ vệ sinh… trên cơ sở phát huy tốt vai trò của đội tự quản, vai trò của Ban cán sự lớp, Ban chỉ huy Liên đội, Chi đội.

Giáo dục các đức tính tốt của HS như: Lễ phép với thầy cô, hiếu thảo với cha mẹ, tôn trọng giúp đỡ bạn bè, tương thân tương ái… thông qua các hoạt động như: Mừng ngày tết thầy cô (20/11), sáng tác thiệp tặng thầy cô và mẹ, Tuần học tốt, Tháng học tốt, giúp đỡ gia đình thương binh liệt sĩ, ủng hộ đồng bào thiên tai, trẻ em nghèo, người tàn tật, phong trào nắm gạo tình thương, văn nghệ mừng xuân quyên góp tiền, xổ số giúp bạn nghèo vui tết.

Tổ chức tuyên truyền nội quy, quy chế của nhà trường thông qua các buổi sinh hoạt tập thể, bằng các phương tiện truyền thông trong trường – Tổ chức tìm hiểu lịch sử địa phương thông qua các hội thi dưới dạng như thi đố vui để học, hái hoa dân chủ,…

Tổ chức cho HS biết và phát huy giá trị di tích văn hóa, lịch sử địa phương qua việc chăm sóc nhà bia liệt sĩ, thắp nhang tưởng niệm… Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường tiểu học.

  • Hoạt động học tập

Khai thác tối đa tiềm năng về cơ sở vật chất (CSVC) của nhà trường đặc biệt là các phương tiện thiết bị mới để học sinh nhanh chóng làm quen như sử dụng máy tính, máy chụp hình kĩ thuật số, ipad… trong các hoạt động ngoại khóa.

Thành lập các nhóm sinh hoạt học tập trên cơ sở rèn luyện theo chương trình hoạt động đội. Thành lập các câu lạc bộ văn học, toán học, nhà sử học nhỏ tuổi,.. Tổ chức các hoạt động, chương trình giao lưu để HS học tập như: Đố vui để học, thi vẽ tranh, Thi olympic, rung chuông vàng,…để kích thích hoạt động của HS.

Thường xuyên chú trọng công tác kiểm tra học tập của HS ở trường cũng như ở nhà. Có kế hoạch theo dõi phong trào “Đôi bạn cùng tiến”, “Nhóm học tập”,…

  • Hoạt động vui chơi, giải trí

Đặc điểm của HS TH là hoạt động học tập chuyển từ hoạt động chủ đạo vui chơi. Vì vậy, trong việc thực hiện các nội dung giáo dục cần chú ý đến hoạt động vui chơi cho các em. Hoạt động vui chơi góp phần phát triển nhân cách toàn diện, tăng cường thể lực, sức khỏe, cân bằng trạng thái tâm lí và phát triển trí tuệ, thúc đẩy khả năng học tập cho các em. Tổ chức hoạt động vui chơi nhằm rèn luyện cho HS các kĩ năng cơ bản như: Kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tổ chức, điều khiển, kĩ năng tham gia các trò chơi,… Các hoạt động vui chơi giải trí có những hình thức sau: thi đấu thể thao, thi ứng xử, chơi trò chơi, thi đố vui trí tuệ,… [23]

  • Hoạt động về văn hóa, nghệ thuật

Tổ chức các hội thi, các buổi giao lưu văn nghệ chào mừng các ngày lễ lớn mang tiếng hát dân ca, lễ hội dân gian phát triển trong nhà trường.

Tổ chức ca múa hát tập thể, trò chơi dân gian thường xuyên trong những giờ ra chơi để các em thoải mái sau những giờ học căng thẳng và tạo nên sự thân thiện với bạn bè. Tạo điều kiện giúp đỡ để HS tham gia thi viết bài tuyên truyền, thi sáng tạo, thi tiểu phẩm,… Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường tiểu học.

  • Hoạt động thể dục, thể thao

Hoạt động thể dục thể thao chiếm một vị trí đáng kể trong nhà trường, là một bộ phận quan trọng của giáo dục nói chung. Tham gia hoạt động thể dục thể thao, các em sẽ có điều kiện dể rèn luyện thể lực, tăng cường sức khỏe, hình thành nhiều phẩm chất tốt đẹp như: Ý thức tổ chức kỉ luật, ý chí vượt khó, tinh thần đồng đội, tính kiên trì, lòng dũng cảm, tình đoàn kết,… Hoạt động thể dục thể thao diễn ra dưới nhiều hình thức như: thể dục nhịp điệu, aerobic, đá cầu, cầu lông, bơi lội, các trò chơi tập thể, bóng đá, cờ vua, điền kinh, các môn võ thuật.  [23]

  • Hoạt động lao động khoa học, công nghệ

Hoạt động này nhằm đáp ứng những hứng thú và niềm say mê tìm tòi cái mới trong học tập, ứng dụng những kiến thức đã học vào thực tế. Đó là các hoạt động của câu lạc bộ theo chuyên đề, tìm hiểu về xã hội, khoa học, về các ngành nghề trong xã hội, tham quan cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp. Các hoạt động sáng tạo trẻ, ứng dụng khoa học để phát minh ra các mô hình tại địa phương. [23]

  • Hoạt động lao động công ích (Xây dựng môi trường Xanh – Sạch – Đẹp)

Ngoài công việc học tập, nhà trường và liên đội phối hợp với Chi đoàn Thanh niên tổ chức cho các em tham gia trực nhật làm vệ sinh lớp học, sân trường, các khu vực xung quanh sân trường, các buổi lao động trồng cây xanh, chăm sóc cây, trồng và chăm sóc vườn thuốc nam, thi trang trí lớp học, làm xanh lớp học, thi vẽ tranh bảo vệ môi trường, tái chế rác thải, kiểm tra vệ sinh lớp học, giờ ăn, tham gia ngày “Thứ sáu xanh – vệ sinh khuôn viên trường cuối tuần”,… Tham gia lao động trong các công trình công cộng của nhà trường, của địa phương. Lao động giúp đỡ cho các gia đình chính sách (Mẹ Việt Nam Anh hùng, thương binh liệt sĩ,…)

1.3.3. Phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường tiểu học

Việc tổ chức chủ điểm giáo dục cho HS ở trường TH thường được thực hiện theo hai phạm vi đó là: Toàn trường và theo lớp.

  • Quy trình tổ chức chủ điểm giáo dục theo phạm vi trường

Thực tế ở trường TH hiện nay, quy trình tổ chức này dùng để thực hiện chung cho cả trường. Có thể là nhiều khối, nhiều lớp, thường được cụ thể hóa qua những tiết sinh hoạt dưới cờ. Quy trình tổ chức gồm 3 bước như sau:

  • Bước 1: Bước chuẩn bị, lập kế hoạch.
  • Bước 2: Tổ chức thực hiện.
  • Bước 3: Tổng kết. đánh giá, rút kinh nghiệm.

Quy trình tổ chức chủ điểm giáo dục theo phạm vi lớp học

  • Bước 1: Giáo viên chuẩn bị: Các hoạt động sẽ được tổ chức; Người thực hiện các kế hoạch; Thời gian thực hiện; CSVC phục vụ việc tổ chức chủ đề, chủ điểm; Địa điểm tiến hành các hoạt động.
  • Bước 2: Lập kế hoạch, phân công nhiệm vụ.
  • Bước 3: Thực hiện kế hoạch.
  • Bước 4: Tổng kết, đánh giá.

1.3.4. Hình thức tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường tiểu học Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường tiểu học.

Ở bậc TH, các em HS có các hoạt động: Học tập, vui chơi, công tác xã hội và lao động,… Các hoạt động đó đều có thể tổ chức cho các em tham gia vào thời gian ngoài giờ lên lớp bằng các hình thức phong phú, đa dạng. Tùy theo đặc điểm, điều kiện, tình hình nhà trường mà có thể tổ chức theo các hình thức khác nhau như: nhóm, tập thể lớp, khối lớp hay toàn trường,…. Ở các trường TH thường có những hình thức HĐGD NGLL như: [13]

Nhóm năng khiếu: Những nhóm này được tổ chức nhằm phát triển năng khiếu, khả năng sáng tạo và thõa mãn nhu cầu của HS về một số lĩnh vực. Đó có thể là các nhóm về nghệ thuật (đàn ghi – ta, organ, vẽ,..), về thể dục – thể thao (cờ vua, bơi lội, bóng đá, bóng bàn…)

Văn nghệ: HS TH đã có thể hát, đọc thơ, kể chuyện, múa, diễn kịch, biểu diễn nhạc cụ… Những khả năng này cần được rèn luyện qua các cuộc thi, cuộc liên hoan văn nghệ theo chủ đề (bảo vệ môi trường, an toàn giao thông…), Chủ đề giáo dục (20/11, 22/12…), vào các dịp thành lập Sao, Chi đội thiếu niên, qua các tiết sinh hoạt tập thể… Văn nghệ là hình thức hoạt động hấp dẫn với trẻ em, giúp HS hình thành ý thức, thái độ và kĩ năng, hành vi thẩm mĩ…

Báo tường: HS có thể sưu tầm văn thơ, tranh ảnh, sáng tác văn, làm thơ, vẽ tranh, trang trí báo,.. Hình thức này thường được tổ chức chủ yếu theo các chủ đề, chủ điểm giáo dục. Qua đó, hình thành các kĩ năng, thái độ thẩm mĩ, HS còn bày tỏ thái độ, tình cảm của mình đối với đối tượng theo chủ điểm nhất định, ví như tình cảm của các em đối với thầy cô giáo theo chủ điểm 20/11…

Hái hoa dân chủ: HS chỉ cần trả lời các câu hỏi bốc thăm được trong các cuộc thi về một chủ đề, chủ điểm nào đó. Những câu hỏi thi ở đây thường được cho HS biết trước để các em tìm hiểu qua sách báo, chương trình tivi, mạng internet, thầy cô và người thân,…. Hình thức này thường được tổ chức theo các chủ đề, chủ điểm giáo dục nhằm giúp cho HS mở rộng tri thức, bày tỏ thái độ tình cảm của mình đối với các đối tượng liên quan đến chủ điểm, giáo dục tính bạo dạn, tự tin khi trả lời các câu hỏi thi.

Lao động: Những loại hình lao động có thể tổ chức cho HS TH vào thời gian ngoài giờ lên lớp là rất khác nhau – lao động tự phục vụ (trực nhật lớp, tổng vệ sinh trường lớp…), lao động công ích (làm vệ sinh môi trường một số nơi công cộng, giúp đỡ những gia đình thương binh, liệt sĩ gặp khó khăn, diệt trừ các động vật có hại giúp nông dân…), lao động sản xuất (trồng và chăm sóc cây xanh, hoa ở vườn trường, công viên, đường làng…). Qua những buổi lao động đó, có thể đồng thời giáo dục các mặt đạo đức, lao động, thể chất, thẩm mĩ… cho HS. Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường tiểu học.

Tham quan: Đây là một hình thức gắn liền với quá trình giáo dục đời sống xã hội bởi khi tham quan, HS được chứng kiến, quan sát trực tiếp những sự vật, hiện tượng có trong thực tiễn cuộc sống. Nhà trường có thể tổ chức cho HS tham các viện bảo tàng, các di tích lịch sử hay kháng chiến, các danh lam thắng cảnh, các cơ sở sản xuất… Qua đó, HS TH không chỉ mở rộng vốn hiểu biết của mình, mà còn hình thành thái độ tích cực và hành vi đúng đắn đối với các sự vật, đối tượng, hiện tượng mà các em tiếp cận khi tham quan.

Thường thức các loại nghệ thuật: HS TH rất hứng thú với xiếc, phim, sân khấu, ca nhạc,…, tiếp xúc giao lưu với các văn nghệ sĩ… Qua đó, nhà trường không những góp phần giáo dục thẩm mĩ, mà còn giáo dục đạo đức cho các em.

Giao lưu với các nhân vật điển hình: Qua đây, HS không những được nghe kể chuyện mà còn được học tập, rèn luyện của mình, HS tham gia biểu diễn văn nghệ chào mừng… Nhờ đó HS được hiểu biết thêm về các lĩnh vực của đời sống xã hội, mở rộng mối quan hệ xã hội, kinh nghiệm ứng xử đạo đức, hình thức này thường được tổ chức theo các chủ đề, chủ điểm, phục vụ cho nội dung giáo dục cập nhật (Giáo dục an toàn giao thông, phòng tránh các tệ nạn xã hội, các gương người tốt việc tốt, các gương sáng về ý chí Nghị lực…)

Trò chơi dân gian: Tổ chức các hoạt động như hội khỏe phù đổng, đồng diễn thể dục, trò chơi dân gian, thi và tìm hiểu tuyên truyền về quyền của trẻ em….

Tùy theo tình hình cũng như điều kiện của nhà trường, địa phương mà có thể lựa chọn vận dụng những hình thức trên sao cho phù hợp, vừa sức và hấp dẫn đối với HS của trường mình. Tất cả những hình thức cụ thể đó, trong thực tế giáo dục của nhà trường TH có thể được tổ chức độc lập hoặc kết hợp với nhau qua ba hình thức cơ bản là Chủ điểm giáo dục, tiết chào cờ và tiết sinh hoạt tập thể lớp.

1.4 Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường tiểu học

  • Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường tiểu học bao gồm các nội dung sau:

Vai trò của Hiệu trưởng trong quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp: HT trường TH là người chịu trách nhiệm tổ chức, quản lý các hoạt động và chất lượng giáo dục của nhà trường. Như vậy, HT là người quản lý cao nhất ở nhà trường. Trong việc tổ chức các HĐGD NGLL, HT có vai trò quyết định đối với việc chỉ đạo, quản lý chất lượng của hoạt động. Có thể nói, HT được xem như một “Tổng chỉ huy” toàn bộ HĐGD NGLL ở nhà trường. Họ sẽ có những quyêt định dứt khoát để thực thi một cách triệt để toàn bộ chương trình HĐGD NGLL của nhà trường.

Xây dựng chương trình kế hoạch hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Mục tiêu: Xây dựng kế hoạch HĐGD NGLL được xem là một trong những bước quan trọng trong quản lý, giúp cho hoạt động giáo dục đạt được mục tiêu đề ra. Vì vậy muốn xây dựng kế hoạch, chủ thể quản lý HT cần nắm rõ được mục tiêu hoạt động giáo dục, nội dung giáo dục, hình thức, phương pháp, biện pháp và các điều kiện về CSVC cũng như năng lực của đội ngũ giáo viên hiện có. Ngoài ra, chủ thể quản lý cần nắm rõ nội dung các môn học, các điều kiện, các phương tiện hiện có, các lực lượng tham gia vào công tác HĐGD NGLL, nắm rõ các văn bản hướng dẫn của ngành và địa phương và xác định rõ tình hình thực tiễn tại đơn vị,…

Các giải pháp: Nghiên cứu các văn bản hướng dẫn của ngành, của địa phương về quản lý HĐGD NGLL, nắm vững nội dung giáo dục các môn học, các hoạt động giáo dục cho HS TH. Nắm vững các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo của ngành về quản lý HĐGD NGLL cho học sinh bậc TH. Khảo sát tình hình thực tiễn tại đơn vị như: Đội ngũ quản lí, đội ngũ giáo viên, các lực lượng bên ngoài nhà trường, CSVC tại đơn vị. Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường tiểu học.

Kế hoạch hành động: Xây dựng kế hoạch hành động tổng thể cho từng ngày, hàng tuần, hàng tháng và học kì,…

Hàng ngày: HS biết cách bảo vệ môi trường tại lớp học, xung quanh trường, biết chăm sóc và bảo vệ cây xanh tại lớp học và vườn trường, biết tự phòng tránh tai nạn thương tích, phòng tránh bị xâm hại trẻ em…

Hàng tuần: Tổ chức sinh hoạt sao nhi đồng, tổ chức các trò chơi tập thể, tham gia tuyên truyền bằng các tiểu phẩm, múa hát văn nghệ, tham gia các câu lạc bộ đội nhóm…

Hàng tháng: Sinh hoạt các chủ điểm, tổ chức tuyên truyền kỉ niệm các ngày lễ lớn, thi kể chuyện, hội diễn văn nghệ, tham quan, thăm hỏi và giúp đỡ các gia đình chính sách, thắp nhang tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, thi kể chuyện, thi cắm hoa, các hội thi tìm hiểu pháp luật,…

Học kì: Tổ chức hoạt động sơ kết (tổng kết) hoạt động thi đua, khen thưởng và rút kinh nghiệm kịp thời.

Điều kiện hỗ trợ: Xác định, kiểm soát các điều kiện để thực hiện như kinh phí hoạt động, CSVC trường lớp, huy động được sự hỗ trợ của Cha mẹ học sinh CMHS. Quan tâm, chú ý các lực lượng giáo dục bên ngoài nhà trường – Các đoàn thể tại địa phương.

  • Tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

Tổ chức là quá trình sắp xếp con người và các nguồn lực để cùng nhau làm việc nhằm đạt tới một mục tiêu cụ thể.

HT cần nắm rõ tình hình các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, điều kiện hiện có tại đơn vị, địa phương,…. Trong nhà trường cần chú ý nguồn lực con người như: Đội ngũ CBQL, GV, Tổng phụ trách đội, Chi đoàn Thanh niên, Hội Chữ thập đỏ nhà trường, Công đoàn nhà trường. Lực lượng ngoài nhà trường gồm có: Đảng bộ, chính quyền địa phương, Đoàn Thanh niên địa phương (Đoàn phường, thị đoàn), Hội chữ thập đỏ địa phương,…

Cơ cấu tổ chức: Cần xác định rõ chủ thể của quản lý HĐGD NGLL bao gồm: HT, Phó hiệu trưởng phụ trách, Tổ trưởng chuyên môn, TPT đội. Xác định lực lượng tham gia gồm: GV, Chi đoàn Thanh niên, Hội Chữ Thập đỏ nhà trường, Đoàn thể địa phương,… Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường tiểu học.

  • Phân công bố trí các nguồn lực

Về nhân lực: Phân công rõ nhiệm vụ, trách nhiệm cho Phó hiệu trưởng phụ trách về quản lý HĐGD NGLL, tổ trưởng chuyên môn, PTĐ thiếu niên, Chi đoàn Thanh niên, GV. Xây dựng kế hoạch thực hiện HĐGD NGLL theo từng tuần, từng tháng và học kì theo đúng kế hoạch, nội dung, hình thức, địa điểm.

Phó hiệu trưởng và TPT đội: Xây dựng kế hoạch hoạt động tổng thể cho năm học, từng tháng và có kế hoạch phối hợp với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường cùng tham gia.

Tổ trưởng chuyên môn: Xây dựng kế hoạch cụ thể từng tháng, hàng tuần cho tổ khối,…

Giáo viên: Xây dựng kế hoạch và thực hiện cho từng tháng, hàng tuần, hàng ngày cụ thể cho lớp.

Các đoàn thể trong và ngoài nhà trường: HT chỉ đạo các đoàn thể trong trường cần chủ động phối hợp nhịp nhàng cùng với các bộ phận, đoàn thể trong nhà trường và các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường.

Về nguồn lực tài chính: Cần xác định các hoạt động tổng thể để xây dựng kế hoạch tài chính cho phù hợp, đẩy mạnh công tác huy động các nguồn từ bên ngoài của các mạnh thường quân, hội CMHS cùng tham gia,…

Về vật lực: Nghiên cứu, xác định rõ về điều kiện CSVC hiện có như: Phòng học, sân bãi, đồ dùng dạy học, các phương tiện thực hiện (âm thanh, vật dụng cần thiết…).

Nguồn lực thông tin: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền đến cho toàn thể cán bộ, GV, nhân viên, học sinh của nhà trường nắm rõ. Ngoài ra, cần có biện pháp thông tin hai chiều đến CMHS, các đoàn thể trong nhà trường và địa phương cùng tham gia hoạt động giáo dục. Tùy thuộc vào tình hình tổ chức thực tiễn, HT linh hoạt điều chỉnh các hoạt động phù hợp với đơn vị.

Như vậy, các chủ thể quản lý cần phối hợp chặt chẽ với gia đình thông qua Hội CMHS, các lực lượng giáo dục tại địa phương. Gia đình là một trong những mắt xích quan trọng trong việc cấu thành cộng đồng giáo dục: nhà trường – gia đình – xã hội. Trong đó, nhà trường cần phải phát huy chức năng cơ bản là trung tâm văn hóa giáo dục. Ngoài ra, HT cần chú ý hoạt động bồi dưỡng thường xuyên cho đội ngũ GV về mục đích, vai trò và nhiệm vụ của HĐGD NGLL trong tình hình mới.

  • Chỉ đạo thực hiện hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

Chỉ đạo là một trong bốn chức năng quan trọng trong quá trình quản lý. Để công tác quản lý HĐGD NGLL đạt hiệu quả cao thì vai trò của HT có ảnh hưởng rất lớn. Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường tiểu học.

HT chỉ đạo cho Phó hiệu trưởng, Chi đoàn Thanh niên, PTĐ và giáo viên chủ nhiệm có sự phối hợp chặt chẽ trong việc thực hiện các hoạt động giáo dục trong nhà trường. Chú trọng công tác xây dựng, bổ sung các điều kiện về CSVC. Cần khai thác mọi điều kiện CSVC hiện có của nhà trường, ngoài ra cần huy động sự hỗ trợ từ các tổ chức xã hội, các mạnh thường quân trong công tác xã hội hóa,… cụ thể như sau:

Phổ biến kế hoạch: Hiệu trưởng phổ biến kế hoạch đến từng bộ phận, từng Tổ trưởng chuyên môn, GV, phổ biến đến các đoàn thể trong và ngoài nhà trường, Hội cha mẹ học sinh,…

Phân công: HT phân công và giao nhiệm vụ đến từng phó hiệu trưởng, tổ khối trưởng, GV, các đoàn thể của nhà trường,… để thực hiện kế hoạch.

  • Tổ chức, triển khai thực hiện kế hoạch đến từng bộ phận, giáo viên và các lực lượng tham gia,…
  • Theo dõi, giám sát việc thực hiện kế hoạch của các bộ phận, giáo viên,…

Xây dựng mối quan hệ phối hợp các lực lượng tham gia hoạt động giáo dục:

HT quán triệt công tác phối hợp giữa các đoàn thể, các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà nhà trường.

Tổng phụ trách đội: Căn cứ vào kế hoạch của nhà trường và thực tiễn tại đơn vị xây dựng kế hoạch hàng tháng, từng tuần, đánh giá và thực hiện các hoạt động.

Tổ trưởng: Căn cứ theo kế hoạch chung, xây dựng kế hoạch và thực hiện từng tháng, từng tuần cho tổ.

Giáo viên: Xây dựng hoạt động giáo dục cụ thể từng tuần, từng ngày cho lớp đang phụ trách. Ngoài ra, cần chủ động phối hợp chặt chẽ với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để thực hiện hoạt động giáo dục.

Khuyến khích sự sáng tạo của GV, phụ trách đội, các đoàn thể của nhà trường, thường xuyên nghiên cứu nhằm chỉ đạo TPT Đội, GV cải tiến nội dung và các hình thức, phương pháp hoạt động phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của HS, đáp ứng với yêu cầu giáo dục phù hợp với đặc điểm tình hình của nhà trường và địa phương.

Có hình thức động viên, khuyến khích, ghi nhận thành tích và đề cao sự sáng tạo, phát huy tính tích cực gương mẫu của Chi đoàn giáo viên, của Liên đội cũng như toàn thể đội ngũ giáo viên nhà trường trong việc thực hiện các HĐGD NGLL, Chỉ đạo sát việc tổ chức HĐGD NGLL tại lớp của GVCN. Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường tiểu học.

  • Kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

Kiểm tra đánh giá là chức năng không thể thiếu trong một kế hoạch quản lý. Kiểm tra các hoạt động và mức độ thực hiện các hành động để kịp thời sửa đổi, điều chỉnh những thiếu sót khi cần thiết nhằm đảm bảo cho các hoạt động đạt tới mục tiêu giáo dục. Kiểm tra đánh giá để xem mức độ thực hiện của kế hoạch, nhằm rút kinh nghiệm và điều chỉnh lại nội dung, các hình thức, phương pháp tổ chức các hoạt động phù hợp với thực tiễn. Vì vậy, HT cần:

Xây dựng kế hoạch kiểm tra: Thành lập bộ phận kiểm tra bao gồm Phó hiệu trưởng phụ trách quản lý HĐGD NGLL, TPT đội và tổ trưởng Chuyên môn. Xây dựng chuẩn kiểm tra: Xây dựng căn cứ vào mục tiêu HĐGDNGLL, Chương trình kế hoạch; đánh giá nội dung chương trình, hình thức và các biện pháp thực hiện, mức độ thực hiện, kết quả đạt được. Kiểm tra đánh giá phải toàn diện, khách quan, công bằng và có tính hệ thống cả về các mặt kiến thức, kĩ năng và thái độ của HS, tình hình thực hiện của GV và các đoàn thể trong nhà trường so với kế hoạch.

Xây dựng chế độ kiểm tra: Có chế độ kiểm tra cụ thể từng tháng, học kì và cuối năm học hoặc đột xuất khi cần thiết.

Xây dựng Tiêu chí, yêu cầu cho từng hoạt động cụ thể: Có nhiều hình thức để kiểm tra đánh giá như Kiểm tra bằng quan sát, phiếu hỏi, phỏng vấn HS, GV, thông qua các sản phẩm hoạt động, điểm số hay nhận xét… Từ đó, rút ra kinh nghiệm về nội dung, hình thức, phương pháp tổ chức các hoạt động, tiếp tục phát huy những thành tựu, những ưu điểm, sửa chữa những khuyết điểm để điều chỉnh cho kế hoạch tiếp theo tốt hơn.

Khen thưởng, trách phạt: Qua các hoạt động giáo dục, tổ chức sơ kết đánh giá kết quả so với mục tiêu kế hoạch. Có hình thức khen thưởng, động viên khuyến khích cho GV, HS kịp thời sửa chữa, điều chỉnh những thiếu sót, hạn chế.

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường tiểu học.

Thực tế kết quả HĐGD NGLL hiện nay phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, trong số đó có một số yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý HĐGD NGLL như:

1.5.1 Yếu tố bên ngoài

  • Yếu tố chủ trương, chính sách và quy định của các cấp quản lý HĐGD NGLL

Hiện nay, các trường học nói chung và trường tiểu học nói riêng thường thực hiện các hoạt động giáo dục theo hướng dẫn chung của ngành phù hợp với tình hình thực tiễn tại địa phương. Vì vậy, ngành có chủ trương và chính sách hợp lý, khuyến khích các trường đẩy mạnh công tác tổ chức các HĐGD NGLL, tạo điều kiện cho học sinh các hoạt động trải nghiệm (HĐTN) thực tế sẽ làm tăng hiệu quả hoạt động và quản lý HĐGD NGLL.

  • Sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục, giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý

Như các phần trên đã nêu, HĐGD NGLL là cầu nối giữa ba môi trường Gia đình – Nhà trường – Xã hội. Trong đó, nhà trường luôn xác định giữ vai trò giáo dục chủ đạo. Sự phối hợp giữa GV với GV, giữa TPT Đội với GV, sự phối hợp tích cực giữa các đoàn thể của nhà trường và đoàn thể địa phương, giữa HT với GV và các đoàn thể sẽ tạo sự cộng hưởng đến hiệu quả của HĐGD NGLL.

  • Điều kiện phát triển kinh tế xã hội của địa phương

Điều kiện kinh tế xã hội của địa phương phát triển sẽ tạo cơ sở thuận lợi cho các hoạt động giáo dục của các trường, trong đó có HĐGD NGLL. Trình độ dân trí của người dân được nâng lên, nhận thức được cải thiện, có điều kiện quan tâm cho giáo dục nhiều hơn, điều kiện học tập của HS tốt hơn. Kinh tế xã hội của địa phương phát triển sẽ tạo điều kiện tốt trong các công tác vận động sự ủng hộ của các mạnh thường quân, thuận lợi cho công tác xã hội hóa (XHH) trong giáo dục. Bên cạnh đó, các cơ sở phát triển kinh tế giúp nhà trường phối hợp tổ chức các hoạt động tham quan, HĐTN, học tập mô hình phát triển kinh tế thực tiễn cho học sinh.

  • Sự quan tâm của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường đến HĐGD NGLL

Các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường có nhận thức tốt về vai trò, ý nghĩa của HĐGD NGLL sẽ góp phần quan trọng đến hiệu quả HĐGD NGLL. Các lực lượng giáo dục có sự quan tâm tốt sẽ tạo ra nhiều hình thức HĐGD NGLL phong phú, đa dạng, các hoạt động được các lực lượng giáo dục trong nhà trường quan tâm tổ chức có trách nhiệm, bài bản, khoa học. Các lực lượng bên ngoài nhà trường luôn ủng hộ, theo dõi, phối hợp, hỗ trợ cho nhà trường thực hiện, góp phần đem đến thành công trong HĐGD NGLL. Ngược lại sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả HĐGD NGLL và quản lý HĐGD NGLL của nhà trường.

1.5.2 Yếu tố bên trong Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường tiểu học.

  • Nhận thức của một số giáo viên và các lực lượng giáo dục về tầm quan trọng của HĐGD NGLL chưa cao

GV cần nhận thức đúng về vai trò, ý nghĩa của HĐGD NGLL như là một yếu tố quyết định sự thành công trong dạy học. GV và các đoàn thể cần chủ động lập kế hoạch hoạt động cho từng ngày, hàng tuần phù hợp với nội dung từng môn học, từng chủ điểm tạo điều kiện cho học sinh hình thành kiến thức, biến kiến thức thành kĩ năng, thái độ cho người học. Lồng ghép tốt vào các tiết Sinh hoạt lớp, phối hợp chặt chẽ với các đoàn thể trong và ngoài nhà trường để tổ chức các hoạt động ngoài giờ cho học sinh. Nếu các lực lượng giáo dục xem nhẹ tầm quan trọng của hoạt động này sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả giảng dạy, giáo dục học sinh cũng như HĐGD NGLL.

  • Kinh phí dành cho HĐGD NGLL chưa hợp lý

Bất kể một hoạt động nào cũng cần có kinh phí để thực hiện. Ngoài việc cân đối kinh phí cho các hoạt động giáo dục khác, cần quan tâm cân đối một khoản kinh phí tương đối để thực hiện HĐGD NGLL. Kinh phí dành để bổ sung các thiết bị, phương tiện, tập huấn… dành cho HĐGD NGLL. Nguồn kinh phí hạn chế sẽ ảnh hưởng đến tính đa dạng, phong phú của các hoạt động giáo dục.

  • Cơ sở vật chất, trang thiết bị hỗ trợ HĐGD NGLL còn thiếu

CSVC, trang thiết bị là một trong những điều kiện đủ để tổ chức được các HĐGD NGLL. Chúng dùng để tổ chức được các hoạt động đa dạng, phong phú,…để đạt được hiệu quả giáo dục. CSVC hiện đại sẽ thuận lợi khi tổ chức các hoạt động mang tính trừu tượng cao, giúp người học được trải nghiệm trên những đồ dùng, phương tiện sẵn có. Ngược lại, yếu tố CSVC, trang thiết bị không đầy đủ sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến kết quả giáo dục, hiệu quả quản lý không như mong muốn.

  • Năng lực tổ chức HĐGD NGLL của GV còn hạn chế, trình độ quản lý HĐGD NGLL của các lực lượng chưa đồng đều Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường tiểu học.

Trong bất kì một lĩnh vực nào, một hoạt động nào, nhân tố con người cũng đóng vai trò then chốt chủ đạo nhất. GV cần tự bồi dưỡng, rèn luyện, học hỏi kinh nghiệm tổ chức tất cả các hoạt động giáo dục. Tự học, tự có kế hoạch nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ để thực hiện các nhiệm vụ giáo dục trong tình hình mới. Từ đó hình thành các năng lực tổ chức, quản lý các hoạt động giáo dục nói chung và HĐGD NGLL nói riêng. Ngược lại, nếu khả năng, trình độ, năng lực tổ chức, quản lý HĐGD NGLL yếu sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của HĐGD NGLL.

Tiểu kết chương 1

HĐGD NGLL là một bộ phận không thể thiếu trong toàn bộ quá trình giáo dục trong nhà trường nói chung và ở trường TH nói riêng. Để quản lý HĐGD NGLL theo chức năng quản lý ở trường TH là một việc làm không thể thiếu đối với CBQL, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, Đoàn Thanh niên, PTĐ và các đoàn thể khác trong và ngoài nhà trường.

Trong chương 1, tác giả đã nêu lên những vấn đề lý luận về HĐGD NGLL. Đó là, vị trí, vai trò, ý nghĩa, mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức HĐGD NGLL. Đặc biệt, tác giả đã hệ thống hóa lý luận về nội dung quản lý HĐGD NGLL gồm:

  • Vai trò của Hiệu trưởng trong quản lý HĐGD NGLL.
  • Xây dựng chương trình kế hoạch HĐGD NGLL.
  • Tổ chức thực hiện HĐGD NGLL. Chỉ đạo thực hiện HĐGD NGLL. Kiểm tra, đánh giá HĐGD NGLL.
  • Các yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.

Đây là cơ sở lý luận để tác giả khảo sát thưc trạng HĐGD NGLL ở các trường TH tại thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương trong chương 2. Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường tiểu học.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng QL giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường TH

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993