Luận văn: Thực trạng QL giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường TH

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng QL giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường TH hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý HĐGD NGLL của Hiệu trưởng ở một số trường TH tại thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1 Khái quát tình hình kinh tế – xã hội, giáo dục tại thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương

2.1.1 Tình hình kinh tế – xã hội

Thị xã Thuận An nằm ở phía Nam của tỉnh Bình Dương, có diện tích tự nhiên 8.426 ha, hiện có 10 đơn vị hành chính gồm 09 phường và 01 xã với dân số gần 400 nghìn người. Vị trí địa lý: phía Đông giáp thị xã Dĩ An, phía Bắc giáp thành phố Thủ Dầu Một và thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, phía Tây giáp quận 12, phía Nam giáp quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Chính vì vậy Thuận An có vị trí thuận lợi về giao thương, phát triển kinh tế. Hiện nay Thuận An đã không ngừng đổi mới, vươn lên cùng với sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế xã hội chung của đất nước với thế mạnh về cây ăn trái đặc sản, ngành nghề gốm sứ, điêu khắc gỗ truyền thống.

Với xu hướng phát triển chung của tỉnh, Thuận An đã đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh Bình Dương. Tốc độ tăng trưởng kinh tế thị xã luôn ở mức cao, GDP tăng bình quân khoảng 18,5 %/năm. Lĩnh vực kinh tế chuyển biến tích cực theo cơ cấu công nghiệp, dịch vụ – thương mại với 03 khu công nghiệp và 02 cụm công nghiệp tập trung thu hút hàng nghìn doanh nghiệp trong và ngoài nước hoạt động.

Về các hoạt động trên lĩnh vực văn hóa xã hội đều có những chuyển biến tích cực: Hàng năm thị xã Thuận An đều tổ chức tốt các hoạt động chào mừng các ngày lễ, kỷ niệm, tết Nguyên đán và các sự kiện của địa phương; Công tác giảm nghèo và chăm lo đời sống cho các đối tượng chính sách, xã hội được quan tâm; Công tác khám chữa bệnh, phòng chống dịch bệnh và các chương trình mục tiêu y tế quốc gia được duy trì thường xuyên; Công tác xã hội hóa trên lĩnh vực giáo dục, y tế được thực hiện có hiệu quả đáp ứng nhu cầu học tập và khám chữa bệnh của nhân dân; CSVC trường lớp, trang thiết bị y tế và các thiết chế văn hóa thể thao tiếp tục được đầu tư xây dựng phục vụ nhu cầu học tập, vui chơi giải trí ngày càng tăng của nhân dân; Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.

2.1.2 Tổng quan về giáo dục TH thị xã Thuận An Luận văn: Thực trạng QL giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường TH.

2.1.2.1 Mặt mạnh

Với sự chăm lo thực hiện một từ hệ thống chính trị và toàn xã hội, sự nghiệp GD&ĐT của thị xã Thuận An đã được phát triển khá toàn diện và đồng bộ từ Mẫu giáo đến Trung học phổ thông, phục vụ tốt nhu cầu giáo dục trên địa bàn. Cơ sở trường lớp từng bước được mở rộng theo hướng đa dạng hoá các loại hình trường và kiên cố hoá theo hướng đạt chuẩn Quốc gia về CSVC. Chất lượng giáo dục từng bước được nâng lên. Công tác XHH giáo dục được các tầng lớp nhân dân, các tổ chức xã hội tham gia hưởng ứng, quan tâm. Mối quan hệ phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong việc giáo dục toàn diện học sinh được quan tâm thực hiện. Qua đó góp phần giúp ngành giáo dục nói chung và cấp TH nói riêng quan tâm chăm lo, hỗ trợ giúp đỡ HS nghèo, khen thưởng HS giỏi, hỗ trợ tu sửa CSVC, mua sắm trang thiết bị, hỗ trợ đời sống GV, nâng cao chất lượng dạy học.

Năm học 2024-2025, cấp TH có 24 đơn vị với 769 lớp và 33.070 học sinh. Số lượng GV cấp TH là 1.458 người với trình độ đạt chuẩn và trên chuẩn ngày càng được nâng cao. Chất lượng giáo dục TH có nhiều tiến bộ, mặc dù hàng năm số lượng học sinh tăng nhanh do tỉ lệ dân nhập cư đến với Thuận An ngày càng cao. Đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục phát triển về số lượng và chất lượng với cơ cấu ngày càng hợp lý. Công tác quản lí giáo dục dần đổi mới và tiếp tục tăng cường theo hướng phân công, phân cấp, phân quyền, tăng tính tự chủ cho các đơn vị trường học trong việc thực hiện nhiệm vụ theo kế hoạch. Thực hiện nghiêm túc cuộc vận động 2 không với 4 nội dung, thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy ngày càng đi vào chiều sâu. Hằng năm tỉ lệ lên lớp toàn thị xã trên 90%, hoàn thành chương trình bậc TH trên 99%.

2.1.2.2 Mặt hạn chế

Với sự tăng dân số cơ học diễn ra nhanh chóng do nhiều người dân nhập cư đến Thuận An để làm việc nên lượng học sinh tăng nhanh hằng năm, điều này dẫn đến CSVC chưa đáp ứng cho học sinh đủ học 2 buổi/ngày, một số trường quá tải học sinh trên lớp đã ảnh hưởng tới chất lượng học tập của học sinh, đặc biệt là rất khó khăn trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi, học sinh năng khiếu đạt kết quả cao.

Chất lượng GD&ĐT nhìn chung còn thấp so với yêu cầu, nhất là giáo dục nghề nghiệp, phân luồng cho học sinh sau trung học cơ sở. Hiện nay chỉ có khoảng 10% học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở vào học các trường trung học chuyên nghiệp, trung cấp nghề.

Quản lý giáo dục có nơi chưa đáp ứng yêu cầu. Một số nhà giáo và CBQL giáo dục còn hạn chế về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; một số bộ phận chưa theo kịp nhu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, chưa sáng tạo, thiếu động lực tự học và đổi mới, chưa thực sự tâm huyết với ngành, đôi lúc vẫn còn trường hợp vi phạm đạo đức nghề nghiệp.

Trang thiết bị phục vụ cho đổi mới giảng dạy vẫn chưa đáp ứng đầy đủ, việc sử dụng thiết bị giáo dục chưa thật sự hiệu quả, còn để lãng phí, quản lí chưa chặt chẽ ở một vài đơn vị.

Một số đơn vị chưa đạt chuẩn quốc gia do CSVC chưa đủ chuẩn, mới thành lập hoặc chia tách. Vẫn còn vài cơ sở trường lớp chưa đảm bảo môi trường xanh, sạch, đẹp và cũ kỹ, thiếu khang trang do xây dựng khá lâu (Phòng GD&ĐT, 2024).

2.2 Kết quả khảo sát Luận văn: Thực trạng QL giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường TH.

2.2.1 Chọn mẫu khảo sát

Hiện địa bàn thị xã Thuận An có có 24 đơn vị với 769 lớp và 33.070 học sinh (bảng 2.1) phân bố trên 10 phường, xã. Tuy nhiên do số lượng trường lớn và giới hạn về thời gian, kinh phí nên tác giả lựa chọn 4 trường ngẫu nhiên để đơn giản cho việc thực hiện khảo sát bao gồm Trường TH Lái Thiêu; Trường TH Phan Chu Trinh; Trường TH Phú Long (thuộc phường Lái Thiêu); TH Bình Thuận (thuộc phường Thuận Giao) làm đại diện khảo sát.

  • Bảng 2.1: Danh sách trường TH tại Thuận An, năm học 2024-2025

Với trung bình số lượng CBQL, GV trong các trường TH khoảng 60 người. Tác giả chọn số mẫu là 50 cho mỗi trường, tổng số mẫu là 200 mẫu cho 4 trường trong danh sách mục tiêu lựa chọn khảo sát.

2.2.2 Tổ chức nghiên cứu

Tác giả sử dụng 01 phiếu khảo sát được thiết kế dùng chung cho CBQL và GV trong đánh giá công tác quản lý HĐGD NGLL của HT. Mỗi mẫu sẽ được cung cấp một bảng khảo sát để tiến hành trả lời các câu hỏi. Tổng số phiếu được chuẩn bị là 200 phiếu. Phiếu được định dạng ở dạng giấy phù hợp cho các hoạt động khảo sát trực tiếp.

Tác giả tiếp cận đến 04 trường trong danh sách lựa chọn khảo sát, tiếp cận BGH nhà trường, xin cung cấp thông tin liên hệ về danh sách CBQL, GV trong trường và xin phép liên hệ thực hiện phỏng vấn, hoặc phát phiếu khảo sát thu thập thông tin liên quan đến nghiên cứu. Đối với các CBQL, GV không tiếp cận trực tiếp được thì tác giả sử dụng hình thức phỏng vấn gọi điện, email hoặc mạng xã hội.

2.2.3 Kết quả khảo sát và phương pháp xử lý số liệu Luận văn: Thực trạng QL giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường TH.

Sau quá trình khảo sát tác giả thu về được 175 phiếu và thực hiện sàng lọc, làm sạch dữ liệu có 162 phiếu đủ điều kiện để phân tích, chiếm 81% số phiếu thực hiện khảo sát được chuẩn bị. Số lượng phiếu bị loại bỏ nhỏ, không ảnh hưởng nhiều đến kết quả phân tích. Số phiếu khảo sát cuối cùng sẽ được tác giả đưa vào phân tích dữ liệu bằng các phần mềm chuyên dụng trong hỗ trợ phân tích dữ liệu là SPSS V22 (viết tắt của Statistical Package for the Social Sciences) và Excell 2023.

Dữ liệu khảo sát sẽ được tác giả đánh giá các chỉ số gồm tỉ lệ %, điểm trung bình, độ lệch chuẩn của từng câu nội dung khảo sát. Qua đó, tác giả sẽ so sánh, phân tích, tổng hợp và rút ra kết luận về thực trạng HĐGD NGLL của HT một số trường TH trên địa bàn thị xã Thuận An.

Quy ước đánh giá điểm trung bình (ĐTB):

  • Từ 3,26 đến dưới 4 tương ứng với mức đánh giá: Rất tốt/ Rất thường xuyên/ Ảnh hưởng rất nhiều/Rất cần thiết/ Rất khả thi.
  • Từ 2,51 đến dưới 3,25 tương ứng với mức đánh giá: Khá/ Thường xuyên/Ảnh hưởng Nhiều/ Cần thiết/ Khả thi.
  • Từ 1,76 đến dưới 2,50 tương ứng với đánh mức đánh giá nội dung là Trung Bình/ Ít thường xuyên/ Ít ảnh hưởng/ Ít cần thiết/ Ít khả thi.
  • Dưới 1,00 đến 1,75 tương ứng với mức đánh giá: Không tốt/ Không thường xuyên/ Không thực hiện/ Không ảnh hưởng/ Không cần thiết/ Không khả thi. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường TH.
  • Kết quả phân tích sẽ trình bày ở các phần bên dưới.

2.2.4 Kết quả thống kê thông tin mẫu

Kết quả phân tích mẫu khảo sát với các nội dung gồm giới tính, vị trí làm việc, thâm niên làm việc và trình độ chuyên môn hiện tại. Kết quả sẽ đánh giá cụ thể về tỉ lệ % về đặt tính riêng của đối tượng khảo sát.

  • Bảng 2.2: Thống kê thông tin đối tượng khảo sát

Về thành phần giới tính: Tỉ lệ giữa nam và nữ trong thành phần CBQL, GV trong các trường TH có sự chênh lệch lớn với 92,6% nữ và 7,4% nam (Bảng, 2.3).

Về thành phần trình độ chuyên môn: Cho thấy chiếm phần lớn là trình độ Cử nhân (Đại học) với 52,5% số phiếu, tiếp đó là trình độ Cao đẳng với 34,0% số phiếu, Trung cấp trở xuống với 13,0% số phiếu lựa chọn; Trình độ thạc sĩ rất hạn chế với 0,6% số phiếu khảo sát. Điều này cho thấy GV có trình độ chuẩn và trên chuẩn chiếm tỉ lệ cao (trình độ Trung cấp trở lên theo quy định hiện hành). Điều này là cơ sở để nhà trường có thể đưa ra và thực hiện các biện pháp trong quản lý HĐGD NGLL ở các trường TH hiện nay.

Về vị trí làm việc: Trong cuộc khảo sát cho nghiên cứu thì số lượng GV chiếm phần lớn trong thành phần đối tượng khảo sát với 84%; Tổ trưởng chuyên môn đứng thứ 2 với 9,3% số phiếu khảo sát; Ban giám hiệu với 4,3% và GV PTĐ với 2,5% số phiếu khảo sát. Tỉ lệ này phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức của các nhà trường TH hiện nay trong đó lực lượng GV là lực lượng chủ đạo trong giáo dục TH, trực tiếp thực hiện công việc giáo dục trong nhà trường.

Về thâm niên công tác: Qua số liệu phân tích cho thấy không có sự chênh lệch quá lớn về các khoảng thâm niên công tác, tuy nhiên thâm niên công tác ít có tỉ lệ cao hơn. Cụ thể số lượng CBQL, GV có thâm niên công tác dưới 5 năm chiếm tỉ lệ cao với 30,2% số đối tượng khảo sát; từ 5 -10 năm chiếm 34,0%; Số đối tượng có thâm niên làm việc từ 10-15 năm 20,4%; Thâm niên trên 15 năm chiếm 15,4% đối tượng khảo sát. Điều này cho thấy các trường đã có sự cân đối tốt giữa các đối tượng CBQL và GV nhằm ổn định tình hình dạy và học.

2.3 Thực trạng hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của các trường tiểu học tại thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương

2.3.1 Nhận thức của cán bộ, giáo viên về Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

Nhận thức của CBQL và GV về HĐGD NGLL trong nhà trường có vai trò quan trọng trong quyết định kết quả thực hiện HĐGD NGLL, vì thế cần phải có những biện pháp nâng cao nhận thức về hoạt động. Khi nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò và mức độ quan trọng của HĐGD NGLL đúng thì sẽ cải thiện được chất lượng công tác lên kế hoạch, chỉ đạo, tổ chức thực hiện, kiểm tra kết quả hoạt động, giúp nâng cao chất lượng HĐGD NGLL nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung trong các trường TH.

  • Bảng 2.3: Nhận thức về mức độ quan trọng của HĐGD NGLL

Kết quả khảo sát vấn đề được tổng kết qua bảng 2.3. Qua đó cho thấy khi đánh giá về mức độ quan trọng của HĐGD NGLL có sự phân hóa cao với 4 mức độ quan trọng từ Không quan trọng cho đến Rất quan trọng. Điều này cho thấy bên cạnh một số CBQL, GV đánh giá cao về mức độ quan trọng của HĐGD NGLL thì vẫn còn một số CBQL, GV chưa nhận thức đúng đắn về hoạt động này. Đây chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự hạn chế chất lượng HĐGD NGLL trong các trường TH trong thời gian qua. Chính vì vậy trong thời gian tới, cần phải có sự phối hợp giữa các cấp quản lí, ngành GD&ĐT, nhà trường trong việc nâng cao nhận thức của CBQL, GV về mức độ quan trọng của HĐGD NGLL trong đảm bảo chất lượng giáo dục TH hiện nay. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường TH.

  • Bảng 2.4: Nhận định về mục đích của HĐGD NGLL

Nhận định của CBQL, GV về mục đích của HĐGD NGLL trong trường TH cho thấy có đến 50,0% đối tượng khảo sát cho rằng mục đích của hoạt động này là Củng cố, khắc sâu những kiến thức các môn học ở trên lớp; 49,4% cho rằng mục đích HĐGD NGLL là Phát triển sự hiểu biết, làm phong phú thêm vốn tri thức của học sinh; 91,3% đối tượng khảo sát lựa chọn mục đích Hình thành và phát triển các kỹ năng ở học sinh; và mục đích Góp phần hình thành và phát triển tính tích cực, tự giác cho học sinh được ít người lựa chọn nhất với 22,5% đối tượng khảo sát.

Điều này cho thấy rằng HĐGD NGLL có nhiều mục tiêu khác nhau, tuy nhiên tùy theo định hướng của người tổ chức, của nhà trường mà mục tiêu nào được chú trọng hoặc được thực hiện đồng loạt nhiều mục tiêu. Theo kết quả thì mục tiêu bao quát nhất của HĐGD NGLL chính là nhằm giúp HS hình thành và phát triển các kỹ năng cá nhân, đây là mục tiêu mang tính tổng quát, toàn diện, và cũng chính là mục tiêu chung của hoạt động giáo dục TH hiện nay, vì thế được nhiều sự lựa chọn nhất.

2.3.2 Thực trạng tổ chức Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

Với vai trò là một trong những hoạt động giáo dục chính trong nhà trường, HĐGD NGLL đã được HT các trường TH tại thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương quan tâm chỉ đạo, thực hiện với nhiều hình thức. Đó là, tổ chức các hoạt động ngoại khoá, hoạt động vui chơi, thể dục thể thao, tham quan du lịch, giao lưu văn hoá; hoạt động bảo vệ môi trường; lao động công ích và các hoạt động xã hội phù hợp với điều kiện của trường và địa phương. Tất cả các trường đều đảm bảo đúng thời lượng theo quy định, góp phần với hoạt động giáo dục trong giờ lên lớp rèn luyện đạo đức, phát triển năng lực, bồi dưỡng năng khiếu, giúp đỡ học sinh yếu, học sinh chậm tiến bộ phù hợp đặc điểm tâm lí, sinh lí lứa tuổi học sinh TH. Từ đó dần nâng cao được chất lượng các môn học, giúp học sinh tự tin, mạnh dạn, tích cực tự giác và linh hoạt trong việc tham gia vào các hoạt động học tập, hoạt động chính trị – xã hội do nhà trường phát động, tổ chức.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được HĐGD NGLL còn một số hạn chế từ nhiều phía. Cụ thể nhiều phụ huynh, HS và thậm chí cả CBQL, GV trong nhà trường chưa quan niệm đúng về vai trò của HĐGD NGLL, xem đây là hoạt động phụ, không ảnh hưởng đến chất lượng, chỉ chú tâm đến hoạt động giáo dục trong giờ lên lớp, các môn học chính như Toán, Tiếng Việt, Tiếng Anh… Luận văn: Thực trạng QL giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường TH.

Một số GV chưa có nhiều kinh nghiệm trong tổ chức HĐGD NGLL, hạn chế về tài liệu tham khảo, trong khi việc đánh giá GV chỉ chú trọng đến hoạt động học tập, vì thế nên GV chưa thực sự đầu tư nghiên cứu để vận dụng sáng tạo, linh hoạt các hình thức HĐGD NGLL. Nhà trường còn buông lỏng trong quản lí, đánh giá chất lượng dẫn đến các GV thực hiện HĐGD NGLL gặp nhiều khó khăn, bối rối khi lựa chọn những hình thức, nội dung phù hợp với môn học, các điều kiện để thực hiện chưa đảm bảo, các hoạt động trùng lắp, tẻ nhạt, ảnh hưởng đến sự hứng thú của học sinh và giảm hiệu quả mục tiêu của HĐGD NGLL.

  • Bảng 2.5: Mức độ thực hiện các hình thức tổ chức HĐGD NGLL

Kết quả đánh giá về mức độ thực hiện các hình thức tổ chức HĐGD NGLL tại các trường TH tại thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương cho thấy hầu hết các hình thức điều được có mức thực hiện Ít thường xuyên với điểm trung bình từ 2,24 đến 2,48; Riêng đối với 2 hình thức Sinh hoạt văn nghệ và Tổ chức các hội thi, trò chơi dân gian được đánh giá ở mức Thường xuyên, tuy nhiên điểm trung bình đánh giá vẫn ở mức thấp trong thang đo (bảng 2.5). Điều này cho thấy các trường TH hiện đã tiến hành đa dạng các HĐGD NGLL, tuy nhiên việc thực hiện các hình thức tổ chức diễn ra ở mức hạn chế, không mang lại kết quả rõ rệt, không phát huy được hiệu quả của các hình thức HĐGD NGLL được tổ chức đối với công tác dạy học trong nhà trường.

Đánh giá mức độ cần thiết đối với các nội dung trong HĐGD NGLL tại trường cho thấy các CBQL, GV đều đánh giá cao về mức độ cần thiết của các của các nội dung hoạt động (8 nội dung) với mức đánh giá từ Cần thiết đến Rất cần thiết (bảng 2.6). Có 2 nội dung được đánh giá rất cần thiết gồm Hoạt động giáo dục đạo đức và Hoạt động học tập, điều này cho thấy CBQL, GV đánh giá cao yêu cầu phải thực hiện chúng trong HĐGD NGLL tại các trường.

  • Bảng 2.6: Đánh giá mức độ cần thiết và mức độ thực hiện đối với các nội dung trong HĐGD NGLL tại trường

Tuy nhiên, về mức độ thực hiện lại chỉ đạt mức đánh giá bình thường với đa số các nội dung xem xét. Có 2 nội dung được đánh giá mức Tốt gồm Hoạt động chính trị xã hội và Hoạt động lao động công ích, đây là hai hoạt động được các trường thực hiện thường xuyên theo quy định của ngành giáo dục. Qua kết quả phân tích cho thấy tuy các trường đã thực hiện các nội dung trong HĐGD NGLL theo quy định, tuy nhiên mức độ thực hiện còn hạn chế, điều này tác động không tốt đến chất lượng HĐGD NGLL trong các trường TH trên địa bàn. Vì thế trong thời gian tới để nâng cao chất lượng HĐGD NGLL, HT các trường TH trên địa bàn cần phải tăng cường mức độ thực hiện đối với các nội dung trong HĐGD NGLL hơn nữa.

2.4 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của các trường tiểu học tại thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường TH.

2.4.1 Thực trạng xây dựng kế hoạch Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

Xây dựng kế hoạch là công tác đầu tiên của bất kỳ một hoạt động quản lí khoa học nào để định hướng về mục tiêu, cách thức thực hiện để đạt được mục tiêu đó. Trong HĐGD nói chung và HĐGD NGLL nói riêng thì công tác xây dựng kế hoạch cũng phải được quan tâm hàng đầu. Để thực hiện việc xây dựng kế hoạch đầu mỗi năm học, HT các trường TH sẽ chỉ đạo thông qua Ban chỉ đạo các HĐGD đến từng bộ phận, cá nhân trong nhà trường xây dựng nội dung HĐGD, trong đó có HĐGD NGLL. Ban chỉ đạo HĐGD sẽ xây dựng kế hoạch HĐGD NGLL theo năm, tháng, tuần và thống nhất với kế hoạch chung của nhà trường với kế hoạch của các bộ phận nhằm tránh sự chồng chéo trong cùng một thời điểm, đồng thời vận dụng tốt sự hỗ trợ và phối hợp tổ chức hoạt động của các bộ phận, cá nhân có liên quan, nâng cao chất lượng HĐGD NGLL. HT sẽ phê duyệt kế hoạch chung năm học, hàng tháng, hàng tuần để toàn trường cùng phối hợp thực hiện. Đây chính là căn cứ quan trọng để HT thực hiện các công tác quản lí HĐGD NGLL tại trường TH.

Kết quả khảo sát về công tác xây dựng kế hoạch được tổng hợp trong bảng 2.7. Qua đánh giá của các CBQL, GV thì hiện nay công tác lập kế hoạch HĐGD NGLL ở các trường còn nhiều hạn chế cả về mức độ thực hiện và kết quả của HĐGD NGLL. Cụ thể:

  • Bảng 2.7: Đánh giá công tác xây dựng kế hoạch HĐGD NGLL

Nội dung Xây dựng kế hoạch HĐGD NGLL dựa trên kế hoạch năm học của trường, phù hợp với quy định của ngành, địa phương được đánh giá ITX (điểm trung bình 2,19). Mọi kế hoạch đều phải đảm bảo đồng bộ với kế hoạch chung của nhà trường, phù hợp với quy định của ngành, địa phương mới đảm bảo thực hiện đồng bộ với kết quả tốt. Tuy nhiên nội dung này được đánh giá thấp bởi nhà trường chưa tích cực trong việc tìm hiểu các đặc điểm của địa phương, những địa điểm có thể phối hợp thực hiện HĐGD NGLL cho HS. Kế hoạch chủ yếu căn cứ vào kế hoạch năm học của các môn học TGLL theo chương trình, vì thế HĐGD NGLL phụ thuộc quá nhiều vào nội dung các môn học, bó buộc trong khuôn viên nhà trường. Điều này làm giảm kết quả của kế hoạch HĐGD NGLL do nhà trường đề ra, vì vậy đánh giá về kết quả thực hiện của nội dung này chỉ được 2,07 điểm trung bình, tương ứng với mức đánh giá Trung bình. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường TH.

Nội dung Xây dựng kế hoạch HĐGD NGLL theo tuần, tháng, học kỳ, năm học được đánh giá thực hiện ở mức ITX với 1,90 điểm trung bình. Điều này cho thấy tính chi tiết của kế hoạch HĐGD NGLL ở trường TH còn hạn chế, chủ yếu là kế hoạch theo chương trình học tập các môn học, hoạt động văn hóa, văn nghệ, hoạt động của Đội TNTP Hồ Chí Minh. Còn các kế hoạch hoạt động thể dục, thể thao; chính trị xã hội; lao động công ích; khoa học, công nghệ mức độ chi tiết hạn chế. Điều này ảnh hưởng đến sự phối hợp hiệu quả giữa các lực lượng trong nhà trường, gây lúng túng cho hoạt động quản lí của HT và kết quả thực hiện của GV, TPT đội đối với các HĐGD NGLL của HS. Chính vì vậy nội dung này được đối tượng khảo sát đánh giá 1,88 điểm trung bình cho kết quả thực hiện. Điều này cũng cho thấy một thực tế là các trường TH hiện chưa có sự quan tâm đúng mức đến HĐGD NGLL.

Nội dung Xây dựng kế hoạch HĐGD NGLL phù hợp với nội dung các môn học có mức độ thực hiện ITX nhưng với điểm trung bình cao trong khoảng đo là 2,36 điểm. Điều này cho thấy các trường đã thực hiện việc lập kế hoạch HĐGD NGLL căn cứ vào với nội dung các môn học theo quy định chương trình nên được đánh giá cao hơn các nội dung khác. Tuy nhiên vì mức độ chất lượng kế hoạch còn thấp, có tính chung chung, nội dung thì sơ sài, các loại hình hoạt động chưa đa dạng, phong phú dẫn đến khi thực hiện kết quả không cao, gây một số khó khăn, bối rối trong quá trình quản lí và thực hiện kế hoạch. Đây chính là lý do vì sao đối tượng khảo sát đánh giá kết quả thực hiện ở mức BT với 2,33 điểm.

Nội dung Lựa chọn nội dung HĐGD NGLL phù hợp với hình thức, phương pháp HĐGD NGLL cho từng khối lớp được đánh giá khá thấp, chỉ với 1,87 điểm trung bình. Điều này thể hiện các nội dung, hình thức, phương pháp HĐGD NGLL hiện còn sơ sài, chất lượng thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu, vai trò của hoạt động này đối với giáo dục TH. Các nội dung thể hiện tính chung chung, chưa có nét đặc trưng, những kiến thức, kỹ năng, thái độ mang lại cho HS trong quá trình thực hiện HĐGD NGLL hạn chế nếu không muốn nói là nhàm chán, cứng nhắc và trùng lặp. Vì thế làm giảm sự hứng thú của HS đối với HĐGD NGLL và kết quả thực hiện không cao. Đánh giá kết quả thực hiện ở nội dung này chỉ được 1,80 điểm trung bình, tương ứng với mức BT.

Nội dung Xây dựng kế hoạch phối hợp các lực lượng giáo dục bên trong trường được đánh giá 2,47 điểm trung bình, tương ứng mức thực hiện ITX và kết quả thực hiện mức BT với 2,27 điểm. Điều này cho thấy việc lên kế hoạch phối hợp các lực lượng trong nhà trường trong HĐGD NGLL còn hạn chế, chủ yếu giao cho GV chủ nhiệm hoặc PTĐ thực hiện những hoạt động riêng lẻ. Đối với các HĐGD NGLL cần có sự phối hợp của nhiều bên trong nhà trường còn nhiều lúng túng, người thực hiện phải tự kêu gọi, sắp xếp, phối hợp với nhau vì cơ chế phối hợp chưa chặt chẽ vì sợ tác động đến kết quả học tập các môn học chính. Về các điều kiện sân bãi, phòng lớp, trang thiết bị kĩ thuật, sách báo và tài liệu tham khảo, tài chính phục vụ cho các HĐGD NGLL chưa đầy đủ và chủ yếu tập trung vào trang bị cho hoạt động giáo dục TGLL vì vậy đôi khi HĐGD NGLL không có đủ nguồn lực để thực hiện. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường TH.

Nội dung Xây dựng kế hoạch phối hợp các lực lượng giáo dục bên ngoài trường được đánh giá mức độ thực hiện là 1,92 điểm trung bình, tương ứng với mức ITX và kết quả thực hiện ở mức BT với 1,93 điểm. Điều này cho thấy kế hoạch phối hợp các lực lượng giáo dục bên ngoài trường như Đảng bộ, chính quyền, Đoàn Thanh niên (Đoàn phường, Đoàn xã, thị đoàn), Hội chữ thập đỏ địa phương, Hội CMHS. Đây là các lực lượng có thể hỗ trợ nhà trường trong các HĐGD NGLL cho HS nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục đề ra trong hoạt động này. Việc kế hoạch phối hợp không được đánh giá cao là do nhà trường chưa có bộ phận thực hiện vấn đề này, công tác phối hợp chủ yếu do HT thực hiện, tuy nhiên do áp lực chương trình còn nặng trong hoạt động dạy học trong nhà trường vì thế HĐGD NGLL chưa được chú trọng, quan tâm đúng mức.

Nội dung Xác định điều kiện CSVC, trang thiết bị, nguồn lực về con người, tài chính cho HĐGD NGLL được đánh giá khá hạn chế về mức độ thực hiện với 1,95 điểm trung bình, tương ứng đánh giá ITX và kết quả thực hiện được đánh giá 1,91 điểm trung bình tương ứng mức BT. Kết quả này cho thấy các trường TH hiện nay còn hạn chế trong cung cấp các điều kiện phục vụ HĐGD NGLL, chủ yếu vẫn tập trung cho hoạt động giáo dục TGLL. Nếu trong cùng thời gian diễn ra hoạt động học tập và HĐGD NGLL thì các nguồn lực sẽ ưu tiên cho hoạt động học tập TGLL của HS. Điều này đã tác động hạn chế đến kết quả việc xác định các điều kiện CSVC, trang thiết bị, nguồn lực về con người, tài chính cho HĐGD NGLL trong thực tế tại các nhà trường hiện nay.

Tóm lại, qua kết quả phân tích hoạt động xây dựng kế hoạch HĐGD NGLL cho thấy mức độ thực hiện các nội dung trong công tác lập kế hoạch còn hạn chế, ở mức thực hiện ITX và kết quả thực hiện ở mức BT. Tác động không tốt đến chất lượng công tác lập kế hoạch HĐGD NGLL trong nhà trường, ảnh hưởng đến các công tác thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá. Nguyên nhân là nhận thức của một số nhận thức của một số HT, CBQL, GV, các lực lượng bên trong và bên ngoài nhà trường chưa thực sự đúng về vị trí, vai trò và mục đích của HĐGD NGLL. Do đó việc đầu tư cho công tác kế hoạch còn ít, sự chuẩn bị về nội dung và phương pháp thực hiện HĐGD NGLL còn sơ sài, trùng lắp cho dù mục đích các hoạt động khác nhau. Việc đầu tư hầu như hoàn toàn vào hoạt động giáo dục TGLL ở các trường tạo nên một lỗ hổng không nhỏ trong kế hoạch HĐGD NGLL nhất là xây dựng kế hoạch sử dụng, phối hợp các nguồn lực bên trong và bên ngoài nhà trường để thực hiện HĐGD NGLL. Vì vậy trong thời gian tới để nâng cao chất lượng công tác quản lí HT các trường TH cần phải chú trọng hơn đến hoạt động xây dựng kế hoạch HĐGD NGLL, góp phần đảm bảo mục tiêu phát triển toàn diện nhân cách học sinh mà ngành giáo dục đã đề ra.

2.4.2 Thực trạng tổ chức thực hiện kế hoạch Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Luận văn: Thực trạng QL giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường TH.

Hoạt động tổ chức thực hiện kế hoạch HĐGD NGLL là việc triển khai kế hoạch HĐGD NGLL trong thực tế thực hiện các HĐGD trong nhà trường. Để thực hiện đạt kết quả cao thì HT cần phải có xác định các lực lượng tham gia và phân công nhiệm vụ đến từng lực lượng. Hiện nay ở các trường thì Ban chỉ đạo các HĐGD nói chung mà chưa có Ban chỉ đạo các HĐGD NGLL riêng lẻ. Tùy điều kiện từng trường, Ban chỉ đạo mà thành phần tham gia có thể gồm của HT, phó HT, bí thư chi đoàn, TPT đội, các tổ trưởng khối lớp, tổ trưởng bộ môn. Sự chỉ đạo các HĐGD được thông qua Ban chỉ đạo phân phối đến từng đơn vị, cá nhân.

Trong quá trình tổ chức HĐGD NGLL, Ban chỉ đạo có thể tổ chức phối hợp các lực lượng bên trong và bên ngoài như tổ trưởng khối, tổ trưởng bộ môn, GV, TPT đội, Chi đoàn Thanh niên, Hội Chữ thập đỏ nhà trường, Công đoàn nhà trường, bộ phận văn thư, quản lí CSVC, trang thiết bị để thực hiện tốt nội dung HĐGD NGLL. Trong HĐGD NGLL thì TPT đội có nhiệm vụ quan trọng nhất, TPT có nhiệm vụ tổ chức, quản lí các hoạt động của Đội Thiếu niên và Sao Nhi đồng ở trường TH và tổ chức, quản lí HĐGD NGLL. Ngoài ra, Ban chỉ đạo cũng cũng phải xác định được các lực lượng bên ngoài tham gia vào các HĐGD NGLL để kết quả đạt được là cao nhất.

Để đánh giá hoạt động tổ chức thực hiện kế hoạch HĐGD NGLL tác giả nêu lên các nội dung liên quan để đối tượng khảo sát đánh giá, kết quả được thống kê trong bảng 2.8. Cụ thể như sau:

  • Bảng 2.8: Đánh giá hoạt động tổ chức thực hiện kế hoạch HĐGD NGLL

Nội dung Xác định các lực lượng tham gia quản lí HĐGD NGLL và nhiệm vụ của từng lực lượng được đánh giá mức độ thực hiện ITX với 2,23 điểm trung bình. Điều này là do nhà trường hiện chưa chú trọng đến việc thiết lập chi tiết kế hoạch, chỉ đảm bảo thực hiện theo quy định của chương trình hiện nay là 1 tiết/ tuần/ lớp hoặc một buổi/ tháng /lớp với những hình thức đơn điệu, lặp lại như các tiết sinh hoạt cuối tuần, sinh hoạt dưới cờ, hoạt động Đội TNTP và nhi đồng Hồ Chí Minh… trong đó thường diễn ra một vài hình thức hoạt động đơn giản như sơ kết hoạt động, tuyên dương khen thưởng, phê bình, nhắc nhở, kỷ luật, tuyên truyền trong hoạt động hay dặn dò, giao nhiệm vụ triển khai thời gian tiếp theo, trong khi đó các hoạt động vui chơi mang tính trải nghiệm rất hạn chế, điều này chưa tạo ra hứng thú cần thiết cho HS tham gia, việc hình thành các kỹ năng thông qua HĐGD NGLL kết quả không cao. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường TH.

Các lực lượng tham gia thường là TPT, GV với sự phối hợp của bộ phận văn thư nhà trường trong việc chuẩn bị, cung cấp các trang thiết bị phục vụ hoạt động. HĐGD NGLL thường diễn ra một cách tùy hứng theo khả năng thực hiện của TPT, GV và điều kiện trang thiết bị có sẵn mà ít có sự chuẩn bị, trang bị theo dạng chủ đề. Chính vì vậy nên chất lượng HĐGD NGLL còn hạn chế, việc phối hợp các lực lượng và phân công nhiệm vụ được thực hiện một cách bị động, không được lên kế hoạch cụ thể, chi tiết. Vì vậy nội dung này được đánh giá có kết quả thực hiện ở mức BT với 2,02 điểm trung bình.

Nội dung Tổ chức thực hiện HĐGD NGLL đúng kế hoạch và đúng nội dung, hình thức, địa điểm đã đề ra được đánh giá mức thực hiện ITX với 2,26 điểm trung bình. Điều này là do hiện nay việc xây dựng kế hoạch HĐGD NGLL chưa được quan tâm đúng mức, dẫn đến mỗi trường thực hiện một kiểu, mỗi GV thực hiện một kiểu một cách tùy chọn theo năng lực của bản thân và CSVC của nhà trường. Việc thực hiện HĐGD NGLL ít căn cứ vào nhu cầu của HS cũng như sự phù hợp của nội dung, hình thức, địa điểm đối với đặc điểm sức khỏe, tâm sinh lí của học sinh TH, tác động hạn chế kết quả thực hiện mục tiêu giáo dục phát triển năng lực toàn diện hiện nay. Nội dung, hình thức, địa điểm thực hiện HĐGD NGLL diễn ra một cách trùng lặp, nội dung hoạt động ít thay đổi, hình thức hoạt động đơn điệu, ít có sự đầu tư nghiên cứu để vận dụng sáng tạo, linh hoạt các hình thức HĐGD NGLL. Chính vì thế kết quả của nội dung này chỉ được đánh giá ở mức BT với 2,27 điểm trung bình.

Nội dung Thực hiện phối hợp các lực lượng giáo dục bên trong, bên ngoài trường trong HĐGD NGLL được đánh giá thực hiện ở mức ITX với 1,94 điểm trung bình. Điều này phù hợp với phân tích ở trên trong việc lập kế hoạch phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường trong HĐGD NGLL còn hạn chế, chủ yếu giao cho GV chủ nhiệm hoặc PTĐ thực hiện những hoạt động riêng lẻ trong khi nhận thức về tầm quan trọng của HĐGD NGLL còn thấp và áp lực hoạt động giáo dục TGLL còn nặng vì thế HĐGD NGLL chưa được thực hiện đúng với vai trò, tầm quan trọng. Việc thực hiện XHH trong đầu tư CSVC, trang thiết bị phục vụ HĐGD NGLL, phối giúp đỡ các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của các cấp chính quyền địa phương, các ngành, các đoàn thể, tổ chức xã hội, các cơ sở sản xuất, các gia đình, các cá nhân còn ít được thực hiện, kết quả rất hạn chế. Vì thế kết quả thực hiện nội dung này chỉ được đánh giá ở mức BT với 1,90 điểm trung bình.

Nội dung Bố trí CSVC, trang thiết bị và nguồn tài chính phù hợp với HĐGD NGLL được đánh giá thực hiện ITX với 1,75 điểm trung bình. Điều này thể hiện rằng công tác bố trí CSVC, trang thiết bị và nguồn tài chính cho HĐGD NGLL chưa được quan tâm, nhất là các hoạt động mang tính đặc trưng, cần nhiều sự đầu tư về CSVC, trang thiết bị và nguồn tài chính như hoạt động thực hành khoa học- kĩ thuật; tham quan các di tích lịch sử – văn hóa; Hoạt động thăm viếng, giúp đỡ, ủng hộ; Hoạt động bảo vệ môi trường… Nhà trường chỉ chú trọng đến việc bố trí CSVC, trang thiết bị và nguồn tài chính cho hoạt động học tập trên lớp dẫn đến HĐGD NGLL chưa được đẩy mạnh, nguồn kinh phí hạn hẹp trong mua sắm trang thiết bị, dụng cụ nên nếu GV, TPT có muốn đổi mới nội dung, phương pháp hoạt động cũng không được vì bị hạn chế ở những khía cạnh nêu trên. Khi thực hiện HĐGD NGLL nhà trường cần các khoản kinh phí dùng cho việc khen thưởng, khuyến khích các thành tích của HS, những người tham gia trong suốt quá trình thực hiện, kinh phí đầu tư trang thiết bị phục vụ cho hoạt động; các chi phí phát sinh trong quá trình thực hiện. Hiện nhà trường phải sử dụng nhiều nguồn để thực hiện HĐGD NGLL như kinh phí có sẵn được cấp, kinh phí CMHS đóng góp hoặc trích từ quỹ của Hội CMHS hoặc kêu gọi mạnh thường quân hỗ trợ, tuy nhiên kinh phí này rất hạn chế. Chính vì thể kết quả của nội dung này chỉ được đối tượng khảo sát đánh giá ở mức BT với 1,77 điểm trung bình.

Nội dung Giám sát việc thực hiện mục tiêu và kế hoạch HĐGD NGLL NGLL được dánh giá thực hiện ở mức ITX với 2,05 điểm trung bình. Mục tiêu và kế hoạch HĐGD NGLL đã được các nhà trường thực hiện theo chương trình, tuy nhiên còn nhiều hạn chế, chính vì thế đã tác động đến hoạt động giám sát thực hiện. Các mục tiêu chưa được đề ra một cách rõ ràng, nội dung mang tính chung chung, sơ lược; quy trình tổ chức các HĐGD NGLL chưa đầy đủ; cách hiểu về tổ chức, nội dung và phương pháp HĐGDNGLL chưa thống nhất trong các trường; các điều kiện để thực hiện hoạt động chưa đảm bảo đầy đủ đã tác động gây khó khăn trong việc giám sát thực hiện. Chính vì vậy kết quả thực hiện nội dung này chỉ được đánh giá mức BT với 1,83 điểm trung bình, đây là một kết quả hạn chế. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường TH.

Nội dung Điều chỉnh linh hoạt kế hoạch HĐGD NGLL phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường được đánh giá ở mức ITX với 2,41 điểm trung bình nhưng khá cao trong khoảng đo. Điều này cho thấy tuy kế hoạch không được xây dựng một cách chi tiết nhưng tính linh hoạt được đánh giá cao hơn các nội dung khác khi nhà trường cho phép GV, TPT có quyền quyết định thực hiện các HĐGD NGLL phù hợp chương trình, khả năng của bản thân, học sinh, tình hình trang thiết bị, điều kiện thực tế của nhà trường, điều kiện của địa phương. Đây là điểm mạnh và cũng chính là điểm yếu gây khó khăn trong hoạt động quản lý của HT đối với HĐGD NGLL. Kết quả thực hiện nội dung này được đánh giá ở mức BT với 1,98 điểm trung bình.

Tóm lại, kết quả phân tích đã cho thấy hoạt động tổ chức thực hiện kế hoạch HĐGD NGLL được thực hiện ở mức hạn chế tương ứng với đánh giá ITX, kết quả thực hiện chỉ đạt mức bình thường cho tất cả các nội dung của công tác. Điều này cho thấy có sự logic khi công tác xây dựng kế hoạch HĐGD NGLL có chất lượng thấp, không chi tiết đã dẫn đến việc tổ chức thực hiện gặp phải những khó khăn nhất định, gây bối rối cho các lực lượng tham gia HĐGD NGLL trong và ngoài nhà trường. Chính vì thế nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lí của HT các trường TH đối với HĐGD NGLL cần phải có những giải pháp phù hợp trong công tác chỉ đạo thực hiện HĐGD NGLL, nhằm góp phần thúc đẩy việc hoàn thành xu hướng giáo dục phát triển phẩm chất và năng lực học sinh hiện nay.

2.4.3 Thực trạng chỉ đạo thực hiện kế hoạch Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

Chỉ đạo của HT trong thực hiện kế hoạch HĐGD NGLL có vai trò quan trọng thông qua sự hỗ trợ hướng dẫn, giúp đỡ, động viên, khuyến khích và theo dõi tiến trình và ghi nhận kết quả của các đối tượng tham gia HĐGD NGLL, qua đó thúc đẩy quá trình hoàn thành mục tiêu giáo dục đã đề ra trong HĐGD NGLL. Đánh giá hoạt động chỉ đạo thực hiện kế hoạch HĐGD NGLL tại các trường TH trên địa bàn Thuận An được trình bày tại bảng 2.9. Cụ thể như sau:

  • Bảng 2.9: Đánh giá chỉ đạo thực hiện kế hoạch HĐGD NGLL

Nội dung Phổ biến kế hoạch HĐGD NGLL và phân công nhiệm vụ đến từng tổ chuyên môn GV, lực lượng liên quan đến HĐGD NGLL được đánh giá được thực hiện ở mức ITX với 2,02. Điều này cho thấy việc xây dựng kế hoạch HĐGD NGLL chưa tốt đã tác động đến công tác phổ biến kế hoạch và phân công nhiệm vụ trong nhà trường. Vì vậy, việc phân công nhiệm vụ trở nên khó khăn, chủ yếu tập trung vào GV và TPT trong các hoạt động NGLL, còn các lực lượng khác chỉ thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ được phân định một cách chung chung, không cụ thể. Việc phối hợp giữa các lực lượng bên trong và bên ngoài cũng hạn chế, nhất là các lực lượng bên ngoài. Điều này dẫn đến kết quả thực hiện nội dung chỉ được đánh giá ở mức BT với 1,96 điểm trung bình. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường TH.

Nội dung Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các lực lượng trong thực hiện HĐGD NGLL được đánh giá có phần cao hơn các nội dung khác, vì chức năng nhiệm vụ của các đơn vị, cá nhân trong nhà trường đã được ngành giáo dục quy định rất rõ trong điều lệ hoạt động trường TH, quy chế, nội quy nhà trường. Tuy nhiên đây là cơ chế phối hợp trong quá trình thực hiện các hoạt động giáo dục nói chung, còn trong HĐGD NGLL không có quy chế phối hợp cụ thể. Đối tượng khảo sát đã đánh giá về mức độ thực hiện nội dung này ở mức ITX với 2,47 điểm trung bình. Điều này đã tác động đến kết quả thực hiện nội dung chỉ ở mức BT với 2,13 điểm trung bình.

Nội dung Khai thác hiệu quả, đầu tư CSVC, trang thiết bị phục vụ HĐGD NGLL được đánh giá mức thực hiện ITX với 2,07 điểm trung bình. Để thực hiện HĐGD NGLL có kết quả, góp phần hoàn thành mục tiêu giáo dục, HT các trường TH phải chỉ đạo các bộ phận, cá nhân thực hiện HĐGD NGLL khai thác hiệu quả trang thiết bị sẵn có của nhà trường, đề xuất mua sắm bổ sung các trang thiết bị cần thiết một cách hiệu quả, chú trọng đến duy trì và phát huy việc ứng dụng thiết bị công nghệ hiện đại trong HĐGD NGLL. Tuy nhiên hiện nay các nhà trường chỉ mới chú trọng đến đầu tư CSVC, trang thiết bị, khai thác trong quá trình thực hiện hoạt động giáo dục TGLL hiệu quả. Trong xây dựng CSVC đầu tư mua sắm trang thiết bị cho HĐGD NGLL còn hạn chế, hoạt động này chỉ sử dụng những trang thiết bị có sẵn và không trùng lịch sử dụng của các lớp đang hoạt động dạy học trên lớp, rất nhiều HĐGD NGLL không sử dụng trang thiết bị như các tiết tuyên truyền, thống kê từ phía GV, TPT. Chính vì thế việc đầu tư CSVC, trang thiết bị và khai thác nhằm phục vụ HĐGD NGLL chưa được đánh giá cao, kết quả thực hiện chỉ ở mức BT với 2,02 điểm trung bình.

Nội dung Khuyến khích sự sáng tạo, cải tiến phương pháp, hình thức cho phù hợp nội dung HĐGD NGLL được đánh giá ở mức thực hiện ITX với 2,28 điểm trung bình. Để thực hiện tốt nội dung này nhà trường cần tạo ra bầu không khí học tập, phấn đấu, thúc đẩy nâng cao chất lượng HĐGD NGLL. Nhà trường cần xây dựng các phong trào thi đua thực hiện HĐGD NGLL giữa các lớp, khối lớp với nhau qua đó khuyến khích GV, tổ bộ môn, HS tăng cường tính sáng tạo, đa dạng các phương pháp, hình thức phù hợp với lứa tuổi, đặc điểm tâm sinh lí HS, thu hút HS tham gia vào các hoạt động ngoại khóa do nhà trường tổ chức. Tuy nhiên hiện nay các HĐGD NGLL chưa được sự chú ý quan tâm, hoạt động này chủ yếu được thực hiện ở các hoạt động Đội, văn hóa, văn nghệ, thể thao. Những hoạt động mang tính trải nghiệm nâng cao năng lực toàn diện cho HS còn hạn chế. Điều này đã làm giảm tính sáng tạo, không tạo cơ hội cho sự sáng tạo, cải tiến phương pháp, hình thức để nâng cao chất lượng HĐGD NGLL. Chính vì thể kết quả thực hiện nội dung này được đánh giá ở mức BT với 2,07 điểm trung bình.

Nội dung Hỗ trợ, giúp đỡ và theo dõi tiến trình thực hiện HĐGD NGLL được đánh giá mức thực hiện ITX với 2,06 điểm trung bình. Để thực hiện nội dung này nhà trường tạo điều kiện tối đa, hỗ trợ các đơn vị, cá nhân về trong vấn đề quy chế, về thời gian, phương thức các vướng mắc trong suốt quá trình thực hiện các hoạt động ngoại khóa. Điều này cho thấy trong các HĐGD NGLL cá nhân, đơn vị tổ chức vẫn tự lức trong các khâu lựa chọn nội dung, hình thức và tổ chức thực hiện, chính vì thế quy mô của các HĐGD NGLL ở các trường thường chỉ gói gọn trong phạm vi lớp hoặc nhà trường. Đánh giá về kết quả thực hiện nội dung này được 1,99 điểm trung bình, tương ứng với mức BT.

Nội dung Có các hình thức động viên, khuyến khích và ghi nhận kết quả trong HĐGD NGLL được đánh giá mức thực hiện ITX với 2,30 điểm trung bình. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường TH.

Hiện nay tất cả các HĐGD nói chung đều được nhà trường thực hiện những biện pháp khuyến khích, động viên đối với các hoạt động có kết quả tốt trong dạy và học của GV, HS. Tuy nhiên các hình thức khen thưởng chỉ được vận dụng trong quá trình dạy học các môn học trên lớp mà ít vận dụng trong các HĐGD NGLL, kết quả trong HĐGD NGLL không được ghi nhận kết quả đánh giá GV, HS vào học kỳ, cuối năm. Điều này dẫn đến một thực tế là cả GV, HS và nhà trường đều xem nhẹ vai trò của HĐGD NGLL đối với hoạt động giáo dục HS trong nhà trường. Kết quả nội dung này chỉ được đánh giá ở 2,01 điểm trung bình, tương ứng với mức BT.

Tóm lại, kết quả phân tích dữ liệu khảo sát về hoạt động chỉ đạo thực hiện kế hoạch HĐGD NGLL cho thấy còn rất nhiều hạn chế trong hoạt động này ở các trường TH trên địa bàn Thuận An. Điều này có nguyên nhân sâu xa, ngay trong các quy định của ngành giáo dục về chương trình giáo dục TH chỉ quy định số tiết dành cho HĐGD NGLL là 1 tiết/tuần hoặc 4 tiết/tháng với mỗi lớp, chiếm khoảng 4% thời lượng học tập. Những hướng dẫn, quy định, quy chế, hỗ trợ, đánh giá, ghi nhận đều thể hiện rất rõ đối với hoạt động giáo dục TGLL, trong khi đó HĐGD NGLL ít được quan tâm đúng mức như một môn học thực sự mà chỉ xem là một hoạt động phụ, chủ yếu là vui chơi, giúp trẻ tham gia một số hoạt động Đoàn, Đội, thể thao, văn hóa nghệ thuật. Chính vì thế công tác chỉ đạo của HT đối với công tác này có phần xem nhẹ, chưa tương xứng với vai trò của HĐGD NGLL trong các trường TH hiện nay. Trong thời gian tới cần phải có giải pháp toàn diện, phù hợp trong hoạt động chỉ đạo để nâng cao chất lượng HĐGD NGLL trong các trường TH, đáp ứng tốt xu thế tăng cường các HĐTN để phát triển năng lực toàn diện cho trẻ mà ngành giáo dục đang phấn đấu thực hiện.

2.4.4 Thực trạng kiểm tra, đánh giá Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

Kiểm tra, đánh giá của HT đối với HĐGD NGLL sẽ đảm bảo kế hoạch được thực hiện đứng theo mức độ đã đề ra Qua đó phát hiện những thiếu sót, sai lầm từ đó rút kinh nghiệm và thực hiện các điều chỉnh phù hợp với thực tiễn nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng HĐGD NGLL tại các trường trong thời gian tiếp theo. Để đảm bảo hoạt động kiểm tra, đánh giá hiệu quả thì điều quan trọng nhất là nhà trường cần phải xây dựng tiêu chí, lực lượng kiểm tra, sử dụng những phương pháp kiểm tra phù hợp với hoạt động. Đây là cơ sở để nhà trường thực hiện tốt hoạt động kiểm tra, đánh giá một cách chính xác, phù hợp và mang tính công bằng, dân chủ. Đánh giá về hoạt động kiểm tra, đánh giá HĐGD NGLL tại các trường TH trên địa bàn thị xã Thuận An hiện nay được thể hiện trong bảng 2.10, cụ thể: Luận văn: Thực trạng QL giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường TH.

  • Bảng 2.10: Đánh giá thực hiện kiểm tra, đánh giá HĐGD NGLL

Nội dung Xây dựng kế hoạch kiểm tra, thành lập bộ phận kiểm tra được đánh giá mức thực hiện ITX với 2,14 điểm trung bình. Hiện nay các trường chưa chú trọng đến việc lên kế hoạch riêng hay thành lập bộ phận thực hiện kiểm tra HĐGD NGLL mà chỉ quan tâm đến hoạt động dạy học TGLL, việc kiểm tra HĐGD NGLL chỉ được thực hiện thông qua các kế hoạch đánh giá HS, GV trong hoạt động dạy học. Vì thế kết quả nội dung này được đánh giá TB với 1,86 điểm trung bình.

Nội dung Xây dựng chuẩn kiểm tra, chế độ kiểm tra được đánh giá thực hiện ở mức ITX với chỉ 2,13 điểm trung bình. Khác với hoạt động dạy học trên lớp, HĐGD NGLL đa dạng và phong phú nên không có chuẩn chung cho mọi hoạt động, vì thế để đánh giá kết quả giáo dục phù hợp của mỗi hoạt động nhà trường cần phải xây dựng tiêu chí riêng căn cứ vào mục đích, yêu cầu của mỗi hoạt động. Đây là cơ sở cho việc kiểm tra, đánh giá rút kinh nghiệm trong tổ chức HĐGD NGLL tại các trường. Tuy nhiên hiện nay các trường chưa xây dựng tốt các tiêu chí cho các HĐGD NGLL và cũng chưa quan tâm đúng mức đến chế độ kiểm tra. Kết quả HĐGD NGLL cũng không được vào đưa tiêu chí đánh giá kết quả xếp loại thi đua các tập thể lớp, các tổ bộ môn, hay xếp loại thi đua GV và xếp loại hạnh kiểm học sinh. Vì những thực tế trên nên đối tượng khảo sát chỉ đánh giá mức độ thực hiện nội dung ở mức hạn chế và kết quả thực hiện chỉ đạt mức BT với 2,00 điểm trung bình.

Nội dung Các yêu cầu, tiêu chí và phương pháp đánh giá phù hợp với từng HĐGD NGLL được đáng giá ở mức ITX với 2,09 điểm trung bình cho thấy nội dung này được thực hiện rất hạn chế. Trong lựa chọn các phương pháp đánh giá HĐGD NGLL hiện nay các trường có thể sử dụng như dự một số hoạt động; quan sát hoạt động của GV, HS; Kiểm tra hồ sơ, sổ sách; Kiểm tra sản phẩm hoạt động của HS như bài dự thi, báo tường, tranh vẽ… đã hoàn thành; Trao đổi, trò chuyện cùng HS, GV; Tự đánh giá của HS; Báo cáo của GV chủ nhiệm, cán bộ lớp,… về hoạt động. Tuy nhiên các phương pháp này rất ít được sử dụng trong kiểm tra đánh giá HĐGD NGLL hiện nay. Vì vậy kết quả thực hiện chỉ được đánh giá ở mức BT với 1,81 điểm trung bình.

Nội dung Thường xuyên thực hiện sơ kết, tổng kết, đánh giá kết quả HĐGD NGLL có đối chiếu với kế hoạch được đánh giá ở mức thực hiện ITX với 2,15 điểm trung bình cho thấy có sự hạn chế trong nội dung này. Hiện nay tại các trường TH trên địa bàn HĐGD NGLL được xem là một hoạt động phụ và riêng lẻ, có xu hướng xem nhẹ như một hoạt động vui chơi, giải trí hoặc hoạt động của Đội, Đoàn chứ không phải là một hoạt động học tập, HĐTN cho HS phát triển toàn diện các phẩm chất, năng lực bản thân. HĐGD NGLL chỉ được thực hiện sơ kết, tổng kết từng hoạt động riêng lẻ sau khi thực hiện xong với phạm vi nhỏ trong lớp học, trong các phong trào được phát động mà ít đưa vào đánh giá sơ kết, tổng kết học kì và năm học. Cũng chính vì vậy mà kết quả thực hiện nội dung này chỉ được đánh giá ở mức 1,75 điểm trung bình, tương ứng với đánh giá Không tốt.

Nội dung Khuyến khích, khen thưởng trách phạt trong thực hiện kế hoạch HĐGD NGLL được đánh giá với 2,12 điểm trung bình về thực hiện, tương ứng mức ITX và kết quả thực hiện ở mức BT với 1,85 điểm trung bình. Điều này thấy vấn đề khuyến khích, khen thưởng, trách phạt ít được thực hiện trong HĐGD NGLL, tuy nhiên đây lại là yếu tố mang tính chất động lực để thúc đẩy chất lượng HĐGD nói chung và HĐGD NGLL nói riêng. Chính vì vậy trong thời gian tới các nhà trường cần phải đề ra các chính sách khuyến khích, khen thưởng, trách phạt đối với các kết quả thực hiện trong HĐGD NGLL để nâng cao chất lượng hoạt động này trong nhà trường, giúp đẩy mạnh giáo dục theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh hiện nay.

Tóm lại, qua phân tích hoạt động kiểm tra, đánh giá HĐGD NGLL tại một số trường TH tại thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương cho thấy một thực tế chung rằng hoạt động này còn nhiều hạn chế trong mức độ thực hiện lẫn kết quả đạt được. Điều này là kết quả của việc nhận thức của không phù hợp của nhà trường, GV, HS về HĐGD NGLL trong công tác giáo dục HS TH hiện nay, chỉ xem đây là hoạt động phụ, chỉ tập trung vào các hoạt động dạy học trên lớp. Vì thế vấn đề công tác quản lý HĐGD NGLL chưa được đầu tư đúng mức, trong đó có hoạt động kiểm tra, đánh giá. Vì vậy để nâng cao chất lượng HĐGD NGLL các trường cần phải có sự thay đổi toàn diện ngay trong tư duy nhận thức về hoạt động, từ đó có những biện pháp đẩy mạnh quản lý HĐGD NGLL nhằm nâng cao chất lượng học tập, thúc đẩy sớm đạt mục tiêu giáo dục phát triển năng lực học sinh.

2.5 Đánh giá công tác quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của các trường TH tại thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường TH.

2.5.1 Ưu điểm

Theo quy định mới về chương trình giáo dục phổ thông thì HĐGD NGLL dần có được vị trí, vai trò quan trọng hơn trong HĐGD tại nhà trường, vì thế nhận thức của các trường TH dần được cải thiện. Qua đó hứa hẹn sẽ tạo được những động lực trong nâng cao chất lượng HĐGD NGLL trong các trường TH thời gian tới.

Các trường TH hiện tuân thủ tốt quy định về thời lượng các HĐGD NGLL với 4 tiết một tháng, hay 1 tiết một tuần. Đội ngũ cán bộ TPT, GV các trường ngày càng được đào tạo chuyên nghiệp, trẻ hóa, có cơ hội được học hỏi, giao lưu để nâng cao trình độ trong thực hiện các HĐGD NGLL ở các trường.

Nội dung, hình thức và phương pháp thực hiện trong HĐGD NGLL ngày càng được đa dạng, phong phú phù hợp với từng chủ đề và điều kiện của trường. Điều này là ngày càng có nhiều tài liệu về HĐGD NGLL để TPT, GV, nhà trường tham khảo thực hiện, xuất hiện ở nhiều phương tiện như tivi, sách báo, chia sẻ của các đồng nghiệp, các nhà trường, các chuyên gia thông qua các phương tiện công nghệ thông tin, internet. Bên cạnh đó Phòng GD&ĐT đã phối hợp tổ chức nhiều phong trào hoạt động ngoại khóa, các hoạt động vui để học trong phạm vi thị xã… giúp tạo điều kiện để các nhà trường tham gia, thúc đẩy chất lượng HĐGD NGLL của các trường.

CSVC và trang thiết bị phục vụ HĐGD ngày càng đa dạng, phong phú đáp ứng được yêu cho việc tổ chức các hoạt động dạy học và hoạt động ngoại khóa. Điều này là do sự quan tâm chỉ đạo kịp thời của Phòng GD&ĐT thị xã, các cấp chính quyền trong đầu tư mua sắm, trang bị các trang thiết bị phục vụ học tập cho nhà trường. Ngoài ra theo định kỳ hoặc theo chuyên đề phòng GD&ĐT thị xã đều tổ chức tập huấn bồi dưỡng cho CBQL, GV, TPT về HĐGD NGLL.

2.5.2 Hạn chế Luận văn: Thực trạng QL giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường TH.

Còn nhiều CBQL và GV, HS và CMHS chưa nhận thức đúng về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của HĐGD NGLL ở trường TH, cho rằng chỉ cần chú trọng đến các môn học chính như Toán, Tiếng Việt, Tiếng Anh… Một phần do chương trình các môn học còn nặng kiến thức, quá tải. Chưa quan tâm đúng mức trong xây dựng được kế hoạch HĐGD NGLL, dẫn đến kế hoạch không được thực hiện hoặc thực hiện với chất lượng thấp với nội dung chung chung, sơ sài. Điều này dẫn đến nhiều khó khăn trong công tác thực hiện, chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá sau này.

Nội dung, hình thức, phương pháp sử dụng trong HĐGD NGLL chưa đa dạng, phong phú, chỉ tập trung vào một vài hoạt động cơ bản như sơ kết, tổng kết, giao nhiệm vụ, hợp đồng vệ sinh trường lớp, sinh hoạt dưới cờ… trong khi đó các HĐGD NGLL theo chủ điểm rất ít. Điều này là do nhà trường chưa có sự đầu tư về thời gian, CSVC, trang thiết bị phù hợp cũng như chưa có ý thức nâng cao chất lượng HĐGD NGLL, chưa xem đây là một hình thức giúp HS trải nghiệm, rèn luyện phẩm chất, năng lực thực tiễn, dẫn đến công tác tổ chức, thực hiện mang tính đối phó, chất lượng không cao.

HS không được phát huy tính tích cực, không đóng vai trò chủ thể trong HĐGD NGLL dẫn đến không thu hút HS tham gia các hoạt động. Điều này là do nhà trường, GV chỉ sử dụng một vài hình thức sơ kết, tổng kết, giao nhiệm vụ, tập trung ở một vài hoạt động cơ bản, chưa thúc đẩy tính sáng tạo, cải tiến nhằm nâng cao chất lượng trong HĐGD NGLL.

Vấn đề lập kế hoạch HĐGD NGLL chưa được quan tâm; các quy trình tổ chức các hoạt động GDNGLL chưa đầy đủ; tiêu chí kiểm tra, đánh giá công tác HĐGD NGLL chưa được thiết lập một cách khoa học, đầy đủ. Điều này gây rất nhiều khó khăn, vướng mắc, chồng chéo ảnh hưởng đến kết quả thực hiện, quản lý HĐGD NGLL trong trường TH.

Kinh nghiệm, kỹ năng quản lý và thực hiện của CBQL nhà trường và GV về HĐGD NGLL có nhiều hạn chế. Trong khi đó nhiều GV không chịu đầu tư nghiên cứu để vận dụng sáng tạo, linh hoạt các hình thức HĐGD NGLL. Điều này là do nhà trường chưa xem HĐGD NGLL là một tiêu chí để đánh giá GV, HS cuối kỳ, cuối năm vì thế chưa tạo nên động lực thúc đẩy GV, HS nâng cao chất lượng HĐGD NGLL.

2.6 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường tiểu học tại thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương

Nhà trường trong quá trình tổ chức các hoạt động giáo dục nói chung phải chịu nhiều sự tác động của các yếu tố bên trong và bên ngoài, trong HĐGD NGLL cũng vậy. Các yếu tố này có thể thúc đẩy kết quả hoặc làm trì trệ kết quả tùy theo khả năng vận dụng các yếu tố có lợi hoặc triệt tiêu các yếu tố bất lợi của nhà trường. trong HĐGD NGLL tại các trường TH tại thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương thì các yếu tố ảnh hưởng được trình bày trong bảng 2.11. Cụ thể:

  • Bảng 2.11: Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý HĐGD NGLL

Yếu tố Chủ chương, chính sách và quy định của các cấp quản lý về HĐGD NGLL có điểm trung bình đánh giá ảnh hưởng là 3,24, tương ứng với mức ảnh hưởng Nhiều. Thực tế cho thấy nhà trường là tổ chức giáo dục nằm dưới sự quản lý của ngành giáo dục nên phải thực hiện mục tiêu mà ngành giáo dục đề ra. Chính vì vậy các chủ trương, chính sách và quy định của ngành sẽ tác động trực tiếp đến hoạt động của nhà trường, trong đó có HĐGD NGLL. Hiện nay ngành giáo dục ngày càng có xu hướng xem trọng HĐGD NGLL thông qua các quy định sửa đổi chương trình tăng cường các HĐTN, vì thế các trường có cơ sở để thúc đẩy thực hiện các HĐGD NGLL hơn nữa trong thời gian tới.

Yếu tố Sự phối hợp giữa các lực lượng GD, giữa chủ thể và khách thể quản lý có điểm trung bình đánh giá ảnh hưởng là 3,38 điểm, tương ứng với mức ảnh hưởng Rất nhiều. Vì là một tổ chức nên nhà trường có rất nhiều thành viên hoạt động theo mục tiêu chung đã đề ra vì thế để đạt được kết quả tốt trong các hoạt động giáo dục cần phải có sự phối hợp tốt giữa các lực lượng giáo dục, giữa chủ thể và khách thể quản lý. Sự phối hợp tốt sẽ dẫn đến một kết quả tốt, ngược lại sẽ gây cản trở, ảnh hưởng đến kết quả đạt được của hoạt động giáo dục. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường TH.

Yếu tố Điều kiện phát triển kinh tế xã hội của địa phương có điểm trung bình đánh giá ảnh hưởng là 3,40, tương ứng với mức ảnh hưởng Rất nhiều. Khác với hoạt động giáo dục được thực hiện trên lớp được quy định trong chương trình và đảm bảo các điều kiện để thực hiện thì HĐGD NGLL các điều kiện thực hiện nhà trường phải tự thu xếp, vận động. Chính vì thế đối với các địa phương có điều kiện kinh tế tốt thì sự vận động từ phía xã hội, phụ huynh học sinh diễn ra dễ dàng qua đó có thể thúc đẩy việc đa dạng các HĐGD NGLL. Ngược lại các trường sẽ rất khó tìm nguồn kinh phí để nâng cao chất lượng HĐGD NGLL.

Yếu tố Sự quan tâm của các lực lượng GD trong và ngoài nhà trường đến HĐGD NGLL có điểm trung bình đánh giá ảnh hưởng là 3,13, tương ứng với mức ảnh hưởng Nhiều. Như đã phân tích ở trên một trong những hạn chế đối với kết quả thực hiện HĐGD NGLL ở các trường là nhận thức từ phía các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường chưa đầy đủ dẫn đến chưa quan tâm đúng mức đến hoạt động này. Chính vì vậy để nâng cao chất lượng quản lý HĐGD NGLL cần phải có biện pháp nâng cao nhận thức từ đó thúc đẩy sự quan tâm của các lực lượng GD trong và ngoài nhà trường đến HĐGD NGLL.

Nội dung Nhận thức của một số GV và các lực lượng giáo dục về tầm quan trọng của HĐGDNGL chưa cao có điểm trung bình đánh giá ảnh hưởng là 3,28, tương ứng với mức ảnh hưởng Rất Nhiều. Kết quả đánh giá thực trạng công tác quản lý HĐGD NGLL đã chứng minh cho kết quả này, gây hạn chế rất nhiều đến kết quả công tác quản lý HĐGD NGLL trong các trường TH thời gian qua.

Yếu tố Kinh phí dành cho HĐGD NGLL chưa hợp lý có điểm trung bình đánh giá ảnh hưởng là 3,34, tương ứng với mức ảnh hưởng Rất nhiều. Như đã nói ở trên, kinh phí trong HĐGD NGLL được nhà trường thu xếp một phần từ nguồn được phân bổ, còn phần lớn là từ sự hỗ trợ của các mạnh thường quân, phụ huynh HS. Nguồn này còn nhiều hạn chế đã ảnh hưởng lớn đến kết quả thực hiện HĐGD NGLL trong các nhà trường.

Yếu tố CSVC, trang thiết bị hỗ trợ HĐGD NGLL còn thiếu có điểm trung bình đánh giá ảnh hưởng là 3,46, tương ứng với mức ảnh hưởng Rất Nhiều. Hiện nay việc mua sắm, trang bị CSVC ở các trường chủ yếu được sử dụng trong hoạt động giáo dục trên lớp, còn các HĐGD NGLL chưa được quan tâm đầu tư, chính vì thế rất thiếu, nhất là những hoạt động mang tính khám phá, cần nhiều vật dụng, thiết bị, trò chơi, đồ dùng. Điều này làm giảm tính phong phú, đa dạng trong lựa chọn nội dung, phương pháp thực hiện các HĐGD NGLL của GV, HS, TPT…

Yếu tố Năng lực tổ chức HĐGD NGLL của GV còn hạn chế và trình độ quản lý HĐGD NGLL của các lực lượng chưa đồng đều có điểm trung bình đánh giá ảnh hưởng là 3,44, tương ứng với mức ảnh hưởng Rất Nhiều. Qua phân tích thực trang đã cho thấy hiện nay lực lượng GV chưa có nhận thức tốt về HĐGD NGLL và năng lực tổ chức còn hạn chế. Điều này đã làm giảm đáng kể kết quả các HĐGD NGLL được thực hiện, cũng như sự cải tiến, rút kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng HĐGD NGLL ở các trường thời gian qua.

Tiểu kết chương 2

Nội dung chương 2 đã đi phân tích thực trạng công tác thực hiện và quản lý HĐGD NGLL của HT một số trường TH tại thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương. Qua đó cho thấy công tác quản lý HĐGD NGLL tại các trường đã dần được cải thiện, tuy nhiên còn rất nhiều khó khăn, hạn chế trong công tác lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá kết quả thực hiện hoạt động. Một số nguyên nhân đã được phân tích cụ thể. Ngoài ra nội dung chương cũng nêu lên một số yếu tố tác động đến công tác quản lý HĐGD NGLL. Đây là cơ sở để tác giả đề ra các biện pháp cải tiến chất lượng quản lý HĐGD NGLL trong thời gian tới ở nội dung chương 3. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường TH.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp QL giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường TH

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993