Luận văn: Quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn trường THPT

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn trường THPT hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT Hòn Gai – Thành phố Hạ Long theo định hướng phát triển năng lực HS dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

1.1. Cơ sở lí luận

Nước ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, khoa học GD và sự cạnh tranh quyết liệt trên nhiều lĩnh vực giữa các quốc gia đòi hỏi GD phải đổi mới. Thực chất cạnh tranh giữa các quốc gia hiện nay là cạnh tranh về nguồn nhân lực và về khoa học và công nghệ.

Trước bối cảnh ấy, Đảng và Nhà nước ta đã sớm quan tâm và xác định GD – đào tạo cùng với khoa học – công nghệ đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao, đáp ứng sự nghiệp CNH – HĐH đất nước và hội nhập quốc tế. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng ta khẳng định “phát triển GD và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH-HĐH, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” [20]. Đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta chỉ rõ yêu cầu cấp bách và lâu dài là “nâng cao chất lượng GD toàn diện; đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, nội dung, PP dạy và học; thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, chấn hưng GD Việt Nam” [17].

Qua ba lần cải cách và quá trình đổi mới, GD Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu, góp phần quan trọng vào thắng lợi của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, GD đã bộc lộ những yếu kém, bất cập, trong đó có những vấn đề gây bức xúc xã hội kéo dài. Nhiều chính sách, cơ chế, giải pháp về GD có hiệu quả trong giai đoạn vừa qua, nay đã không còn phù hợp, cần được điều chỉnh. Nhận thấy rõ điều đó, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta xác định “đổi mới căn bản, toàn diện nền GD Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý GD, phát triển đội ngũ GV và CBQL là khâu then chốt và GD và đào tạo có sứ mạng nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng xây dựng đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam” [2]. Tiếp theo đó, Hội nghị Trung ương 8 khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 29, trong đó khẳng định “Phát triển GD và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình GD từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; GD nhà trường kết hợp với GD gia đình và GD xã hội” [20]. Các quan điểm có tính lý luận, chỉ đạo mang đậm hơi thở của cuộc sống đối với GDĐT cũng như việc dạy và học đã có những ảnh hưởng nhất định với việc đổi mới sự nghiệp trồng người tại các cơ sở GD, trong đó có nhà trường phổ thông. Sự khác biệt lớn của đổi mới GD lần này với những lần cải cách, đổi mới trước đó là mục tiêu GD chuyển từ “định hướng nội dung” sang “định hướng năng lực”. Để thực hiện việc đổi mới căn bản, toàn diện GD và đào tạo phải tiến hành nhiều giải pháp, trong đó đổi mới công tác QLGD, quản lý Hoạt động dạy học được xem là một giải pháp quan trọng và cần được quan tâm, nghiên cứu nhiều hơn từ các nhà GD, QLGD. Luận văn: Quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

Muốn nâng cao chất lượng GD, đổi mới mục tiêu GD, trước hết, những người làm công tác QLGD phải nhận thức được đầy đủ mục tiêu, nhiệm vụ của GD trong thời đại mới – thời đại khoa học và công nghệ. Chất lượng GD chỉ có thể được nâng cao khi có sự đổi mới trong giảng dạy của GV từng bộ môn và đổi mới công tác quản lý Hoạt động dạy học. Như vậy, người cán bộ QLGD không chỉ cần được trang bị đầy đủ những kiến thức về khoa học QLGD mà còn nắm được kiến thức quản lý dạy học ở từng môn học cụ thể. Trước đây, công tác quản lý Hoạt động dạy học trong nhà trường phổ thông đã được quan tâm nghiên cứu và có nhiều thành tựu đáng kể. Song thực tế việc quản lý Hoạt động dạy học các môn học cụ thể thì không phải đã làm tốt đều ở mọi nơi, mọi lúc. Để một môn học cụ thể đạt được kết quả cao, đáp ứng được yêu cầu của đổi mới GDĐT hiện nay thì việc xác định những nét riêng, đặc thù bộ môn để có PP quản lý hợp lý, hiệu quả là rất cần thiết.

1.2. Cơ sở thực tiễn

Thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 14/11/2021, Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện GD đào tạo [20] từ nhiều năm nay, nhằm góp phần nâng cao chất lượng DH, hoạt động GD của các trường phổ thông; khắc phục hạn chế của chương trình, SGK hiện hành; đồng thời chuẩn bị cho đội ngũ CBQL, GV thực hiện CTGD phổ thông mới, Bộ GD&ĐT đã ban hành các kế hoạch, đề án và công văn triển khai như: Công văn 791/BGDĐT ngày 25/6/2021 thí điểm phát triển chương trình GD nhà trường phổ thông [5]; Công văn số 5555/BGDĐT-GDTrH ngày 08/10/2022, về việc hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn về đổi mới PP dạy học và kiểm tra, đánh giá; tổ chức và quản lí các hoạt động chuyên môn của trường trung học/trung tâm GD thường xuyên qua mạng [9]. Các văn bản nêu trên, cùng với Công văn số 3535/BGDĐT-GDTrH ngày 27/5/2021 về việc hướng dẫn triển khai thực hiện PP Bàn tay nặn bột và các PP dạy học tích cực khác [4], Công văn 4612/BGD&ĐT-GDTrH ngày 03/10/2025 V/v hướng dẫn thực hiện chương trình GD phổ thông hiện hành theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất HS từ năm học 2025-2026 [12] đã tạo khung pháp lý cần thiết cho việc xây dựng và thực hiện kế hoạch GD ĐHPTNL HS [6].

Sở GD&ĐT Quảng Ninh cũng đã cụ thể hóa các văn bản chỉ đạo của Bộ GD&ĐT thành các kế hoạch, hướng dẫn và triển khai, chỉ đạo tới các nhà trường phổ thông trong toàn tỉnh như: Công văn số 2723/SGDĐT- GDTrH ngày 28 tháng 9 năm 2020 về việc Hướng dẫn dạy học bộ môn Ngữ văn định hướng PTNL HS và yêu cầu đổi mới kiểm tra, đánh giá [38]; Công văn số 2824/SGDĐT- GDTrH, ngày 19/10/2025 về việc thực hiện chương trình GD phổ thông hiện hành theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất HS từ năm học 2025-2026 [45]; Các văn bản hướng dẫn nhiệm vụ GD trung học từ các năm học, chỉ đạo đổi mới đồng bộ PP, hình thức dạy học; đổi mới căn bản việc KTĐG chất lượng GD HS; tăng cường mối quan hệ thúc đẩy lẫn nhau giữa các hình thức và PP chức Hoạt động dạy học – GD, đánh giá trong QTDH – GD và đánh giá kết quả GD nhằm phát triển năng lực và phẩm chất HS. Luận văn: Quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

Sau 5 năm triển khai thực hiện đổi mới GD, hoạt động giảng dạy và học tập trong nhà trường phổ thông đã có những chuyển biến tích cực, đáp ứng được một phần mục tiêu đặt ra. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều bất cập, chất lượng các môn khoa học xã hội còn thấp. KTĐG chậm đổi mới, chưa kích thích được người học, người dạy.

Môn Ngữ văn là môn khoa học xã hội có vị trí quan trọng trong CTGD phổ thông và có vai trò to lớn trong việc hình thành và phát triển nhân cách, phát triển kĩ năng của HS.

Nhưng hiện nay, cuộc sống ngày càng hiện đại, CNTT bùng nổ, nhiều HS không còn say mê với môn học và có tâm lý ngại học Văn dẫn tới chất lượng bộ môn chưa cao, chưa đáp ứng được mục tiêu. Việc đổi mới diễn ra chậm, lúng túng, trong đó có sự lúng túng từ khâu quản lý, điều hành. Việc quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn chưa được chú ý đúng mức, tác động và hiệu quả của quản lý đối với bộ môn Ngữ văn chưa cao.

Xuất phát từ việc học tập, nghiên cứu lý luận về khoa học QLGD, từ thực tiễn công tác và đứng trước thực trạng của nhà trường cũng như yêu cầu của nhiệm vụ đổi mới, với vai trò là Phó Hiệu trưởng giúp việc cho Hiệu trưởng về hoạt động dạy và học của nhà trường, với những trăn trở để tìm ra được các biện pháp quản lý hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng dạy học nói chung và môn Ngữ văn trong nhà trường, tác giả đã chọn đề tài: Quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT Hòn Gai – Thành phố Hạ Long theo định hướng phát triển năng lực HS”.

2. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng về Hoạt động dạy học môn Ngữ văn và quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS ở trường THPT Hòn Gai – Thành phố Hạ Long, đề xuất các biện pháp quản lý Hoạt động dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện GD.

3. Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu

  • QTDH môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS THPT.

3.2. Đối tượng nghiên cứu

Quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT Hòn Gai – Thành phố Hạ Long theo định hướng PTNL HS.

4. Giả thuyết khoa học

HĐDH môn Ngữ văn theo định hướng PTNL ở trường THPT Hòn Gai – Thành phố Hạ Long đã được quan tâm thực hiện từ khi Nghị quyết 29 Hội nghị Trung ương 8 – Khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện GD ban hành cho tới nay nhưng chưa thực sự hiệu quả, chưa đáp ứng được yêu cầu của đổi mới GD trong bối cảnh hiện nay. Một trong những nguyên nhân trên là do biện pháp quản lý còn bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu. Nếu nghiên cứu đề xuất và áp dụng được các biện pháp quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT Hòn Gai – Thành phố Hạ Long theo định hướng PTNL sẽ nâng cao được hiệu quả quản lý Hoạt động dạy học, từ đó góp phần cải thiện chất lượng dạy học bộ môn Ngữ văn theo định hướng PTNL.

5. Nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn: Quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS ở trường THPT;
  • Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo ĐHPTNL HS ở trường THPT Hòn Gai – Thành phố Hạ Long;
  • Đề xuất biện pháp quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo ĐHPTNL HS ở trường THPT Hòn Gai – Thành phố Hạ Long.

6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu đề tài

6.1. Về nội dung nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo ĐHPTNL HS đáp ứng chuẩn đầu ra HS THPT mà Bộ GDĐT đang triển khai.

6.2. Về chủ thể quản lý

Đề tài nghiên cứu biện pháp quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS của Hiệu trưởng trường THPT Hòn Gai – Thành phố Hạ Long.

6.3. Về khách thể khảo sát

Đề tài nghiên cứu khảo sát các đối tượng gồm CBQL, GV dạy môn Ngữ văn và HS với số lượng 320 người (trong đó: CBQL là 04 người; GV là 16 người và 300 HS các khối lớp 10, 11, 12 ở trường THPT Hòn Gai – Thành phố Hạ Long.

6.4. Về thời gian nghiên cứu Luận văn: Quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

Nghiên cứu được tiến hành lấy số liệu từ năm 2023 đến 2025 thực hiện chương trình đổi mới căn bản toàn diện GD.

7. Phương pháp nghiên cứu

7.1. Các phương pháp nghiên cứu lý luận

Từ việc nghiên cứu các tài liệu, các công trình nghiên cứu có liên quan, các văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản chỉ đạo của các ngành, các cấp có liên quan để hệ thống hóa, khái quát hóa để xây dựng cơ sở lý luận, xây dựng các khái niệm cơ bản của đề tài. Trên cơ sở đó xây dựng các phương pháp nghiên cứu, khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT Hòn Gai – Thành phố Hạ Long.

7.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

  • Phương pháp điều tra bằng phiếu

Xây dựng hệ thống câu hỏi điều tra với mục đích chủ yếu là thu thập những thông tin nhằm xác định thực trạng các biện pháp quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn, phân tích các nguyên nhân thành công và hạn chế của các biện pháp đang thực hiện.

  • Phương pháp quan sát sư phạm

Thu thập thông tin qua việc quan sát hoạt động giảng dạy của GV tổ Ngữ văn, dự giờ GV thăm lớp, phân tích giờ dạy; hoạt động của tổ trưởng chuyên môn; sinh hoạt chuyên môn; hồ sơ sổ sách quản lý chuyên môn của nhà trường.

  • Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

Phân tích các văn bản hướng dẫn Hoạt động dạy học và dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS; tổng hợp các tài liệu, minh chứng, những thuận lợi, khó khăn về quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS của Hiệu trưởng. Từ đó rút ra những kết luận làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp nhằm cải tiến công tác quản lý này.

  • Phương pháp chuyên gia Luận văn: Quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

Tham khảo ý kiến của lãnh đạo, chuyên viên phụ trách môn Ngữ văn Sở GD và Đào tạo, các CBQL, GV Ngữ văn giảng dạy lâu năm để có thêm thông tin tin cậy đảm bảo tính khách quan cho các kết quả nghiên cứu.

  • Phương pháp khảo nghiệm

Tiến hành khảo nghiệm các biện pháp đã đề xuất để khẳng định tính khoa học, cần thiết, khả thi của các biện pháp quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS trường THPT.

  • Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động

Tiến hành nghiên cứu kế hoạch bài dạy của GV Ngữ văn và kết quả học tập bộ môn Ngữ văn của HS THPT Hòn Gai.

7.3. Phương pháp xử lý số liệu bằng toán thống kê

Thực hiện bằng một số thuật toán của toán học thống kê áp dụng trong nghiên cứu GD. Phương pháp này được sử dụng với mục đích định lượng các kết quả điều tra, nghiên cứu, đồng thời đánh giá mức độ tin cậy của PP điều tra, trên cơ sở đó rút ra nhận xét khoa học mang tính khái quát.

8. Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn chia làm 3 chương.

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS ở trường THPT.
  • Chương 2: Thực trạng quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT Hòn Gai – Thành phố Hạ Long theo định hướng phát triển năng lực HS.
  • Chương 3: Biện pháp quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT Hòn Gai – Thành phố Hạ Long theo định hướng phát triển năng lực HS.

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ Hoạt động dạy học MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HS

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Luận văn: Quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

Quản lý Hoạt động dạy học nói chung, nâng cao chất lượng quản lý Hoạt động dạy học theo định hướng PTNL nói riêng là một vấn đề được giới nghiên cứu khoa học GD quan tâm và tiếp cận dưới nhiều góc độ. Đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu về vấn đề này. Có thể khái quát như sau:

1.1.1. Trên thế giới

Từ thế kỷ XV – XVIII, nhà GD Tiệp Khắc J.A.Comesnky đã khái quát kinh nghiệm dạy học của loài người nâng lên đỉnh cao bằng cách đưa ra một hệ thống các nguyên tắc chỉ đạo công tác dạy học, đó là những nguyên tắc như: dạy học phát huy tính tích cực của HS, dạy học vừa sức, đảm bảo tính trực quan, đảm bảo độ bền vững của tri thức, dạy học phải đảm bảo tính hệ thống, liên tục. Cho đến nay, nguyên tắc này vẫn còn nguyên giá trị lý luận của nó.

Nhiều nhà GD có tư tưởng tiến bộ đã chú ý đến dạy học hướng vào người học, khai thác tiềm năng của mỗi cá nhân HS. Thế kỷ XX, J.Dewey (1916) cho rằng GD và dạy học là sự chỉ dẫn phát triển tiềm năng, năng lực vốn có của HS. Việc học tập là quá trình xử lý kinh nghiệm mà người học tự tiến hành với sự giúp đỡ của nhà GD theo nhu cầu và lợi ích cá nhân. QTDH phải hướng vào người học, đảm bảo cho họ học bằng sự phân tích kinh nghiệm của mình. Như vậy, dạy học phải chú ý đến cái riêng của mỗi người, đặc biệt là nhu cầu, hứng thú. Dạy học dựa trên kinh nghiệm cá nhân và hiệu quả học tập do từng người quyết định.

Singapore là một ví dụ điển hình, với mục tiêu GD là “Phát triển tài năng của từng cá nhân, sao cho mỗi người đều có thể đóng góp vào sự nghiệp kinh tế và vào cuộc đấu tranh liên tục nhằm biến Singapore thành một thị trường quốc tế giàu năng suất và mang tính cạnh tranh” đã tạo nên một Singapore có cơ sở hạ tầng hiện đại, có một số ngành công nghiệp phát triển cao hàng đầu Châu Á và thế giới, là một quốc gia có trình độ dân trí cao và hệ thống GD phát triển.

Rất nhiều vấn đề và góc độ dạy học theo ĐHPTNL người học đã được các tác giả nghiên cứu. Điểm chung nhất của các nghiên cứu là cùng tập trung nhấn mạnh ý nghĩa, tầm quan trọng của dạy học theo định hướng PTNL HS để nâng cao chất lượng GD.

1.1.2. Ở Việt Nam

Đã có một số tác giả nghiên cứu về năng lực, hình thành năng lực. GS. TS Phạm Minh Hạc khẳng định: Năng lực là một tổ hợp đặc điểm tâm lý của một con người (còn gọi là tổ hợp thuộc tính tâm lý của một nhân cách), tổ hợp này vận hành theo mục đích, tạo ra kết quả của một hoạt động nào đấy. Năng lực là những đặc điểm tâm lý cá biệt tạo thành điều kiện, quy định tốc độ, chiều sâu, cường độ của việc tác động của con người vào đối tượng lao động, nghĩa là quy định chất lượng của hoạt động. Tác giả cũng chỉ ra mối quan hệ giữa năng lực và tri thức, kĩ năng, kĩ xảo. Theo ông: tri thức, kĩ năng, kĩ xảo là chất liệu để tạo thành năng lực tương ứng. Không có tri thức, kĩ năng, kĩ xảo thì không có năng lực, tuy chúng không đồng nhất với nhau [23].

Tác giả Nguyễn Văn Cường và Bernd Meier trong cuốn “Lý luận dạy học hiện đại, cơ sở đổi mới mục tiêu, nội dung và PPDH” (2024) [3] đã cho rằng PTNL như là mục tiêu dạy học, GD định hướng năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc DH, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp. GD định hướng năng lực nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức.

Tác giả Lê Đình Trung, Phạm Thị Thanh Hội trong cuốn “Dạy học định hướng hình thành và PTNL người học ở trường phổ thông” (2024) [47] đã khái quát được một số vấn đề chung về hình thành và PTNL người học ở trường phổ thông, định hướng việc tổ chức dạy học theo định hướng PTNL ở trường THPT và kiểm tra định hướng hình thành và PTNL người học.

Trong cuốn Tạp chí Quản lý GD, số đặc biệt tháng 4/2023, Hội thảo quốc tế phát triển năng lực người học trong bối cảnh hiện nay có nhiều bài viết liên quan đến dạy học PTNL như: Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc với bài viết “dạy học PTNL”; tác giả Đặng Tự Ân với bài viết “GD định hướng PTNL”; tác giả Lê Xuân Trường với bài viết “Giải pháp đổi mới PPDH nhằm PTNL HS trung học”.

Ngoài ra, còn một số luận văn, luận án nghiên cứu vấn đề quản lý quá trình sư phạm, dạy học, quản lý Hoạt động dạy học đã được bảo vệ. Luận văn: Quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

Luận văn chuyên ngành Quản lý giáo dục “Biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo hướng phát huy tính tích cực học tập của học viên tại trung tâm hướng nghiệp và giáo dục thường xuyên tỉnh Quảng Ninh” của tác giả Trần Văn Sọi, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, năm 2018.

Luận văn chuyên ngành Quản lý giáo dục “Quản lý hoạt động quản hoạt động dạy học ở trường trung học phổ thông Phan Đình Giót – Thành phố Điện Biên Phủ theo hướng tiếp cận phát triển năng lực” của tác giá Phạm Thị Hà, Trường Đại học Giáo dục – Đại học Sư phạm Hà Nội, năm 2023.

Luận văn chuyên ngành Quản lý giáo dục “Quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS các trường THPT huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam” của tác giả Bùi Đức Thiện, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, năm 2024.

Tóm lại, đã có khá nhiều tác giả nghiên cứu về Hoạt động dạy học, quản lý Hoạt động dạy học theo định hướng PTNL. Tuy nhiên, đối với trường THPT Hòn Gai – Thành phố Hạ Long cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề quản lý Hoạt động dạy học theo định hướng PTNL HS và quản lí Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS. Luận văn này sẽ kế thừa, tiếp thu một cách chọn lọc các công trình nghiên cứu có liên quan về công tác này, để tập trung nghiên cứu sâu vấn đề quản lí Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS, góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở trường THPT đáp ứng mục tiêu GD – đào tạo trong giai đoạn hiện nay.

1.2. Dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT theo định hướng phát triển năng lực HS Luận văn: Quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

1.2.1. Năng lực và phát triển năng lực HS THPT

  • Năng lực
  • Khái niệm

Thuật ngữ năng lực có nguồn gốc tiếng Latinh là “competentia”, có nghĩa là gặp gỡ. Trong tiếng Anh, “năng lực” có thể được dùng với những thuật ngữ như capability, ability, competency, capacityCapability: Khả năng mà cá nhân thể hiện khi tham gia một hoạt động nhất định; Competency – Năng lực hành động: Khả năng thực hiện hiệu quả các hành động, các vấn đề liên quan đến một lĩnh vực nhất vực nhất định dựa trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và sự sẵn sàng hành động; Attribute: Phẩm chất cá nhân (quality of person): cá tính hay nhân cách.

Khái niệm năng lực được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Tuy nhiên, có thể hiểu và khái quát: Năng lực là tổng hợp những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy. Năng lực được hiểu là kĩ năng biết làm thành thạo và có hiệu quả, mà không chỉ có biết và hiểu của một cá nhân [47].

  • Cấu trúc năng lực:

Theo quan điểm của các nhà sư phạm nghề Đức, cấu trúc chung của năng lực hành động được mô tả là sự kết hợp của 4 năng lực thành phần sau: Luận văn: Quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

  • Sơ đồ 1.1. Các thành phần cấu trúc của năng lực

Năng lực chuyên môn (Professional competency): Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có PP chính xác về mặt chuyên môn. Trong đó bao gồm cả khả năng tư duy lôgic, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khả năng nhận biết các mối quan hệ hệ thống và quá trình.

Năng lực PP (Methodical competency): Là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề. Năng lực PP bao gồm năng lực PP chung và PP chuyên môn.

Năng lực xã hội (Social competency): Là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống xã hội xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác.

Năng lực cá thể (Induvidual competency): Là khả năng xác định, đánh giá được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu cá nhân, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các ứng xử và hành vi.

Từ cấu trúc của khái niệm năng lực cho thấy GD định hướng PTNL không chỉ nhằm mục tiêu PTNL chuyên môn bao gồm tri thức, kĩ năng chuyên môn mà còn PTNL PP, năng lực xã hội và năng lực cá thể. Những năng lực này không tách rời nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ. Năng lực hành động được hình thành trên cơ sở có sự kết hợp các năng lực này.

  • Năng lực GD:

Đặng Thành Hưng cho rằng: “năng lực GD được hiểu một cách toàn diện, đó là sự huy động và kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức các kiến thức, kĩ năng, thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân HS… để thực hiện thành công các yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh cụ thể trong trường học hay ngoài cuộc sống” (dẫn theo [29]).

Trong GD, năng lực là thuộc tính cho phép cá nhân thực hiện thành công hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể. Về năng lực của người học, đó là sự kết hợp lý thuyết, kĩ năng và sự sẵn sàng tham gia để cá nhân hành động có trách nhiệm và biết phê phán tích cực hướng tới giải pháp cho các vấn đề. Năng lực có thể hiểu như là khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực. Những khả năng này được sử dụng một cách phù hợp, bao gồm tất cả những gì đã học được từ nhà trường cũng như kinh nghiệm cá nhân; những kĩ năng, thái độ và sự hứng thú; ngoài ra còn có những nguồn lực bên ngoài.

  • Phân loại năng lực trong GD:

Năng lực được phân thành 02 nhóm chính: năng lực chung và năng lực riêng (hay được gọi là năng lực chuyên biệt).

Năng lực chung là năng lực trong một phạm vi rộng, tạo tiền đề và là cơ sở cần thiết trong nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau, như: khả năng hành động độc lập thành công; khả năng sử dụng các công cụ giao tiếp và công cụ tri thức một cách tự chủ; khả năng hành động thành công trong các nhóm xã hội không đồng nhất. Năng lực chung trong lĩnh vực GD được hình thành và phát triển qua nhiều môn học. Luận văn: Quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

  • Phát triển năng lực HS THPT
  • Đặc điểm HS THPT

HS THPT là lứa tuổi trong khoảng từ 15 đến 18 tuổi; các em học tập chương trình từ lớp 10 đến lớp 12. Ở lứa tuổi này các em đang trưởng thành và dần hoàn thiện: phát triển chiều cao, cân nặng, sức vóc tăng dần; về tâm sinh lí cũng dần chuyển sang những nét tâm sinh lý của người lớn, các em ý thức được bản thân mình nhiều hơn, nhu cầu tự khẳng định cá nhân ngày càng cao.

Hoạt động học tập của các em đang dần dần được nâng cao cả về lượng kiến thức và PP học tập. Tự bản thân các em đã nhận thức được đầy đủ và khá sâu sắc nhiệm vụ học tập của mình. Ở lứa tuổi này thái độ và động cơ học tập của các em rõ ràng hơn trước rất nhiều. Hầu hết các em xác định được mục đích học tập và cách học để đạt kết quả cao nhất. Tuy nhiên ở các em vẫn còn nét tính cách của tuổi mới lớn, vẫn cần có sự giám sát, đôn đốc của người lớn mới đạt được kết quả như mong muốn.

Hoạt động học tập của HS THPT đòi hỏi cao về tính năng động, độc lập, gắn liền với xu hướng học lên. Đồng thời cũng đòi hỏi muốn nắm được CT học một cách sâu sắc thì cần phải phát triển tư duy lý luận, khả năng trừu tượng. Các em ý thức được vị trí, vai trò của mình. Do vậy, thái độ có ý thức của các em trong hoạt động học tập ngày càng được phát triển. Các em có ý thức chọn lựa các môn học, tính phân hóa trong hoạt động học tập thể hiện rõ hơn, cao hơn, do xu hướng lựa chọn nghề chi phối. Ở các em đã hình thành những hứng thú học tập gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp. Cuối bậc THPT các em đã xác định được cho mình một hứng thú ổn định đối với một môn học nào đó, hoặc một tri thức nhất định. Hứng thú này thường liên quan đến việc chọn một nghề nhất định của HS. Hơn nữa, hứng thú của HS THPT mang tính chất rộng rãi, sâu và bền vững. Tuy vậy, nhược điểm là một mặt, các em rất tích cực học một số môn mà các em cho là quan trọng đối với nghề mình đã chọn, mặt khác các em lại xao nhãng các môn học khác hoặc chỉ học để đạt được điểm trung bình. Do đó, GV cần giúp các em hiểu được ý nghĩa và chức năng GD cơ bản, toàn diện, tạo nền tảng vững chắc hình thành nhân sinh quan, thế giới quan khoa học của con người cho các em trong bậc học phổ thông.

  • Khái niệm về phát triển năng lực HS

Dạy học theo PTNL chính là chú ý nhiều đến việc hình thành năng lực cho người học thông qua việc tổ chức hướng dẫn học tập của GV như cung cấp phần kiến thức được lựa chọn phù hợp với đối tượng người học, rèn kỹ năng từ đó hình thành năng lực cho người học, và năng lực sẽ hỗ trợ lại khả năng tiếp thu kiến thức, phát triển kỹ năng và năng lực.

Phát triển năng lực là trang bị cho HS kiến thức, kỹ năng căn bản từ đó hình thành năng lực hành động, HS sẽ chú ý đến việc làm và ít chú ý đến tri thức; dựa trên tri thức cơ bản phát triển kỹ năng, hình thành năng lực.

Để hình thành năng lực cho người học chúng ta phải lựa chọn nội dung, kiến thức cơ bản để giảm nội dung phải truyền tải; hình thành năng lực là không cần nhồi nhét kiến thức, như vậy GV phải có cách dạy và yêu cầu HS biết vận dụng kiến thức vào giải quyết vấn đề, các tình huống trong đời sống. Luận văn: Quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

  • Chuẩn đầu ra HS THPT

Nghị quyết số 88/2022/QH13 ngày 28-11-2022 của Quốc hội quy định: GD phổ thông 12 năm, gồm hai giai đoạn GD: Giai đoạn GD cơ bản (gồm cấp tiểu học 5 năm và cấp THCS bốn năm); giai đoạn GD định hướng nghề nghiệp (cấp THPT ba năm). Theo Dự thảo chương trình GD phổ thông tổng thể, ở cấp THPT – giai đoạn GD định hướng nghề nghiệp, mục tiêu cần đạt là bảo đảm cho HS tiếp cận nghề nghiệp, chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng đồng thời, tiếp tục phát triển những phẩm chất, năng lực cần thiết đối với người lao động, ý thức và nhân cách công dân; khả năng tự học và ý thức học tập suốt đời; khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của bản thân để tiếp tục học lên, học nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao động; khả năng thích ứng với những đổi thay trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp mới. Cụ thể là cần có được những phẩm chất và năng lực chủ yếu sau:

Về phẩm chất: yêu đất nước, yêu con người, chăm học, chăm làm, trung thực, trách nhiệm.

Về năng lực cốt lõi bao gồm: những năng lực chung mà tất cả các môn học phải phát triển như năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo; những năng lực chuyên môn được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học nhất định như năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất.

Bên cạnh việc hình thành, phát triển các năng lực cốt lõi, CTGD phổ thông còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng lực đặc biệt (năng khiếu) của HS.

  • Hệ thống năng lực cần phát triển cho HS THPT
  • Năng lực chung: Luận văn: Quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

Là năng lực cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống và làm việc bình thường trong xã hội; được hình thành và phát triển do nhiều môn học, liên quan đến nhiều môn học. Chương trình dạy học hiện đại được xây dựng theo hai trục chính: tích hợp và phân hóa nhằm hướng tới hình thành và phát triển 3 phẩm chất (sống yêu thương, sống trách nhiệm, sống trung thực) và 8 năng lực cốt lõi (Phụ lục 4)

Từ các phẩm chất và năng lực chung, mỗi môn học xác định những phẩm chất, và năng lực cá biệt và những yêu cầu đặt ra cho từng môn học, từng hoạt động GD.

  • Năng lực chuyên biệt:

Là những năng lực được hình thành và phát triển trên cơ sở các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hạn hẹp hơn của một hoạt động như Ngữ văn, Toán học, Âm nhạc, Mĩ thuật, Lịch sử….

  • Bảng 1.1. So sánh một số đặc trưng cơ bản của dạy học theo cách tiếp cận truyền thống và theo tiếp cận phát triển năng lực người học

1.2.2. Môn ngữ văn ở trường THPT

  • Nội dung môn ngữ văn ở trường THPT

Nội dung môn Ngữ văn trong trường THPT được tập hợp thành ba bộ phận chủ yếu là: Văn; Tiếng Việt; Làm văn. Các nội dung có quan hệ qua lại với nhau theo một hệ thống cấu trúc nội dung CT, đảm bảo tính khoa học và thực tiễn, quy định bằng các văn bản, SGK, chuẩn kiến thức kỹ năng do Bộ GD&ĐT ban hành.

Phân môn Văn bao gồm các nội dung về văn bản: Văn học sử, văn bản văn học, văn bản nhật dụng; lý luận văn học.

Phân môn Tiếng Việt bao gồm các nội dung về lịch sử Tiếng Việt, đặc điểm loại hình tiếng Việt, yêu cầu sử dụng Tiếng Việt, hoạt động giao tiếp, về ngôn ngữ, phong cách ngôn ngữ, biện pháp tu từ, ngữ cảnh, nghĩa của câu, luật thơ, hàm ý.

Phân môn làm văn các nội dung về những vấn đề chung về văn bản và tạo lập văn bản, các kiểu bài làm văn và các kĩ năng làm văn với các kiểu bài. Luận văn: Quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

  • Chương trình môn Ngữ văn trong trường THPT

Chương trình môn Ngữ văn THPT hiện nay được thực hiện căn cứ vào Chương trình GD phổ thông cấp THPT, ban hành kèm theo Quyết định số 16/2014/QĐ-BGD-Đ, ngày 05 tháng 05 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ GD và Đào tạo và Công văn số 7608 /BGDĐT-GDTrH, ngày 31 tháng 8 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT “Về việc quy định Khung phân phối chương trình THCS, THPT năm học 2017-2018”; Công văn số 5682/ BGDĐT-VP, ngày 01 tháng 9 năm 2019 của Bộ GD và đào tạo “Về việc hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học GD phổ thông”.

Chương trình Ngữ văn THPT vẫn thực hiện trong 37 tuần, một số nội dung chi tiết trong chương trình có sự điều chỉnh theo chuẩn kiến thức kĩ năng để phù hợp với giảm tải nội dung chương trình theo sự chỉ đạo của Bộ GD&ĐT

  • Bảng 1.2. Biên chế chương trình Ngữ văn THPT
  • Đặc điểm môn Ngữ văn THPT

Ở bậc học THPT – Giai đoạn GD định hướng nghề nghiệp, chương trình môn Ngữ văn nhằm củng cố và phát triển các kết quả của giai đoạn GD cơ bản, giúp HS nâng cao năng lực giao tiếp, năng lực tiếp nhận; tăng cường năng lực tạo lập văn bản nghị luận, văn bản thông tin có độ phức tạp hơn về chủ đề và kĩ thuật viết, qua đó phát triển tư duy độc lập, sáng tạo và khả năng lập luận; đồng thời giúp HS học sâu hơn về tác phẩm văn học, trang bị một số kiến thức lịch sử văn học, lí luận văn học có tác dụng thiết thực đối với việc đọc và viết về văn học.

Ngữ văn là môn học thuộc lĩnh vực GD ngôn ngữ và văn học. Thông qua các văn bản ngôn từ và những hình tượng nghệ thuật sinh động trong các tác phẩm văn học, bằng hoạt động đọc, viết, nói và nghe, môn Ngữ văn có vai trò to lớn trong việc giúp HS phát triển những phẩm chất cao đẹp; có những cảm xúc lành mạnh, biết tôn trọng cái đẹp; có đời sống tinh thần phong phú; có tâm hồn nhân hậu và lối sống nhân ái, vị tha. Là một môn học vừa có tính công cụ, vừa có tính thẩm mĩ – nhân văn, môn Ngữ văn giúp HS hình thành, phát triển các năng lực chung và năng lực môn học như năng lực ngôn ngữ, năng lực thẩm mĩ để học tập tốt các môn học khác, để sống và làm việc hiệu quả, để học suốt đời. Nội dung CT môn Ngữ văn liên quan tới nhiều môn học và Hoạt động dạy học khác như Lịch sử, Địa lí, GD công dân, Ngoại ngữ, …

Môn Ngữ văn ở trường phổ thông phát triển các năng lực và phẩm chất trên thông qua các Hoạt động dạy học, xoay quanh bốn lĩnh vực giao tiếp cơ bản: đọc, viết, nói và nghe. Các kiến thức lí thuyết về tiếng Việt, lịch sử văn học, lí luận văn học và làm văn chủ yếu được dùng như là phương tiện tiến hành các Hoạt động dạy học đó.

Xét về bản chất, môn Văn là môn học nghệ thuật, là môn học về cái đẹp, nhằm bồi dưỡng năng lực thẩm mỹ cho HS. Nhưng cái đẹp trong văn học không dễ gì tìm thấy ngay, và càng khó hơn khi phải dẫn dắt HS tìm đến, khám phá để cảm nhận được cái đẹp và chiếm lĩnh nó. Người GV ngữ văn vừa phải có năng lực phát hiện ấy, vừa phải biết truyền cái năng lực ấy đến cho HS. Đây chính là việc hình thành năng lực thẩm mỹ, năng lực khám phá cái đẹp trong văn học. Như vậy, khi dạy văn học cùng một lúc, sẽ đạt được kết quả kép: vừa đem đến cho HS cái đẹp trong tác phẩm văn chương, lại bồi dưỡng được năng lực thẩm mỹ cho các em – vốn là một năng lực cần thiết cho con người hiện đại ngày nay. Và từ việc cảm nhận cái đẹp mà các em sẽ tự hình thành những tình cảm tốt đẹp khác một cách tự nhiên như yêu con người, yêu cuộc sống, yêu nước, yêu các giá trị mà con người đã tạo ra. Cái đẹp của văn chương đã trở thành cái đẹp của con người và cuộc sống.

Môn Văn là môn công cụ, là môn học mang ý nghĩa thực hành, mà ở đây chính là cách đọc hiểu văn bản, cách tạo lập văn bản, cách diễn đạt sao cho đúng, cho hay. Nó phải trở thành mẫu mực, phải nâng lên mức kỹ năng thuần thục để có thể hỗ trợ cho các môn khác. Luận văn: Quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

1.2.3. Dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS ở trường THPT

  • Khái niệm dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS ở trường THPT

Dạy học theo định hướng PTNL người học là nhằm mục tiêu PTNL cho người học phát triển toàn diện phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng kiến thức vào tình huống thực tiễn, chuẩn bị cho người học năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, người học có vai trò là chủ thể của quá trình nhận thức [36].

Như vậy, từ định nghĩa trên cho thấy, “dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS ở trường THPT là việc tổ chức Hoạt động dạy học môn Ngữ văn nhằm hình thành, tăng cường và nâng cao hệ thống năng lực, phẩm chất của HS, giúp HS vận dụng vào các cấp học cao hơn hoặc hoạt động nghề nghiệp trong tương lai một cách hiệu quả, chuẩn bị cho người học năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp” [36].

  • Mục tiêu dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS ở trường THTP

Môn Ngữ văn được coi là môn học công cụ nên ngoài một số năng lực chung như: Năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực hợp tác, năng lực tự quản bản thân, môn Ngữ văn còn hướng tới phát triển cho HS những năng lực đặc thù, cụ thể, chuyên biệt như: Năng lực giao tiếp tiếng Việt, năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mỹ. Vậy, năng lực Ngữ văn là trình độ vận dụng các kiến thức, kĩ năng cơ bản về văn học và tiếng Việt để thực hành giao tiếp trong cuộc sống. Trong môn Ngữ văn, việc hình thành và phát triển kĩ năng trình bày ngôn ngữ và giao tiếp (năng lực giao tiếp) là mục tiêu quan trọng và cũng là mục tiêu thế mạnh mang tính đặc thù. Năng lực giao tiếp trong các nội dung dạy học Ngữ văn được thể hiện qua bốn kĩ năng cơ bản: nghe, nói, đọc viết và khả năng ứng dụng các kiến thức và kĩ năng ấy vào các tình huống giao tiếp khác nhau trong cuộc sống. Năng lực cảm thụ thẩm mĩ là năng lực đặc thù, HS sẽ biết rung động trước những hình ảnh, hình tượng được khơi gợi từ các tác phẩm văn học và từ đó các em HS sẽ biết rung động trước cái đẹp, biết sống và hành động vì cái đẹp, nhận ra cái xấu và phê phán những hình tượng, biểu hiện không đẹp trong cuộc sống, biết đam mê và mơ ước cho cuộc sống tốt đẹp hơn.

  • Mục tiêu phát triển năng lực chuyên biệt cho HS ở môn Ngữ văn

Trong định hướng phát triển CT GDPT sau 2023, môn Ngữ văn được coi là môn học công cụ, nó có ưu thế trong việc phát triển những năng lực chuyên biệt. Luận văn: Quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

  • Bảng 1.3. Bảng năng lực chuyên biệt phát triển cho HS ở môn Ngữ văn
  • Nội dung dạy học môn Ngữ văn trường THPT theo định hướng PTNL HS

Nội dung dạy học môn ngữ văn theo định hướng PTNL HS được thực hiện theo tài liệu hướng dẫn Chuẩn kiến thức kỹ năng do Bộ GD&ĐT biên soạn cụ thể đối với từng chủ đề cụ thể.

GV phải bám sát chuẩn kiến thức kỹ năng để thiết kế bài giảng với mục tiêu là đạt được các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kỹ năng, dạy không quá tải và không quá lệ thuộc hoàn toàn vào SGK. Việc khai thác kiến thức, kỹ năng phải phù hợp với khả năng tiếp thu của HS. Mức độ cần đạt tùy theo từng chủ đề là HS có thể nhận biết, hiểu, vận dụng được kiến thức qua đó hình thành các năng lực chung và năng lực chuyên biệt của môn Ngữ văn (tiếp nhận văn bản và tạo lập văn bản).

  • PP dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT theo định hướng PTNL HS

PPDH theo định hướng PTNL cần “phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng; Theo định hướng PTNL, cần đổi mới PP dạy của GV và PP học của HS. GV phải dạy cho HS NL nhận thức, NL tư duy sáng tạo. Muốn thế GV phải nắm vững NL nhận thức, NL tư duy của HS và biết áp dụng các PPDH khác nhau, tùy theo mục tiêu, nội dung, tính chất của môn học, đặc điểm của người học, lớp học. GV cần có tâm thế nhiệt thành, tinh thần dân chủ và thái độ ân cần trong mỗi giờ dạy để khích lệ HS hào hứng học. Bên cạnh những PPDH theo đặc trưng của bộ môn, việc phát huy các PPDH tích cực cũng góp phần vào việc đổi mới PPDH Ngữ văn đạt hiệu quả: thảo luận nhóm, đóng vai, nghiên cứu tình huống, dự án và các kĩ thuật dạy học tích cực được thực hiện trong các Hoạt động dạy học.

Như vậy, PPDH theo định hướng PTNL môn Ngữ văn không chỉ chú ý tích cực hóa hoạt động trí tuệ của HS mà còn chú ý rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống; gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn. Luận văn: Quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

Phương tiện dạy học (PTDH) có vai trò quan trọng trong việc đổi mới PPDH nhằm tăng cường tính trực quan, thực hành trong giờ học. Trong dạy học hiện đại, GV có thể khai thác hiệu quả các phương tiện, TBDH, ứng dụng CNTT hợp lý, phù hợp với đặc trưng môn Ngữ văn để các tiết học thêm sinh động, hấp dẫn.

  • Hình thức tổ chức dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT theo định hướng PTNL HS

Dạy học theo định hướng PTNL HS nói chung và đối với môn Ngữ văn nói riêng yêu cầu GV phải đa dạng hóa các hình thức học tập, chú ý các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, nghiên cứu khoa học của HS; sử dụng các HTDH trên cơ sở ứng dụng CNTT và truyền thông như: dạy học trực tuyến, trường học kết nối… Ngoài việc tổ chức cho HS thực hiện các nhiệm vụ học tập ở trên lớp, cần coi trọng giao nhiệm vụ và hướng dẫn HS học tập ở nhà, ở ngoài nhà trường.

Xây dựng mô hình tủ sách lớp học, phát động tuần lễ “Hưởng ứng học tập suốt đời” và phát triển văn hóa đọc gắn với xây dựng câu lạc bộ yêu thích môn học trong nhà trường.

Tiếp tục thực hiện tốt việc sử dụng di sản văn hóa trong dạy học theo Hướng dẫn số 73/HD-BGDĐT-BVHTTDL ngày 16/01/2021 của liên Bộ GDĐT, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

  • Đánh giá kết quả dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT theo định hướng PTNL HS

Đổi mới KTĐG kết quả dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT theo định hướng PTNL HS không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trung tâm mà chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo kiến thức trong những tình huống khác nhau.

Theo định hướng về KTĐG của Chương trình GD phổ thông môn Ngữ văn, một trong những nội dung rất quan trọng mà việc đánh giá cần hướng tới là năng lực phân tích, bình giá và cảm thụ văn học nghệ thuật một cách chủ động, tích cực của mỗi HS cũng như NL tư duy và giao tiếp bằng tiếng Việt. Do vậy việc yêu cầu HS thực hiện những bài tập tự luận vẫn là một cách ra đề rất cần thiết trong môn học Ngữ văn, và trong một bài kiểm tra tổng hợp thì việc phân bố thời lượng cũng như điểm số đối với những câu hỏi tự luận không thể dưới 70% số điểm toàn bài. Theo cấu trúc của đề thi THPT Quốc gia do Bộ GD&ĐT chỉ đạo, không có câu hỏi trắc nghiệm ở cả phần Đọc – hiểu, Làm văn. Vì thế, việc kiểm tra bằng hình thức tự luận rất cần có sự đổi mới để phù hợp với mục tiêu, nội dung và PP học tập mới.

Trong quá trình đánh giá, cần sử dụng các PP như quan sát, đánh giá qua sản phẩm hoạt động của HS, đánh giá thực hành, HS tự đánh giá và HS đánh giá lẫn nhau… Đồng thời, chú trọng đánh giá kiến thức ở mức độ tư duy bậc cao; chuyển hóa/sáng tạo lại kiến thức…

1.3. Quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS ở trường THPT Luận văn: Quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

1.3.1. Khái niệm quản lý, quản lý Hoạt động dạy học, quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT theo định hướng PTNL HS

  • Quản lý

Khái quát về quản lý: Hiện nay, có nhiều quan niệm về quản lý, song về cơ bản các quan niệm đều khẳng định: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể lên khách thể bằng việc vận dụng những tri thức, kĩ năng nhằm khai thác có hiệu quả các tiềm năng và cơ hội của hệ thống tổ chức đạt được mục tiêu dự kiến [3].

Về chức năng quản lý: Chức năng quản lý là một thể thống nhất những hoạt động tất yếu của chủ thể quản lý nảy sinh từ sự phân công, chuyên môn hoá của hoạt động quản lý. Có nhiều cách phân chia chức năng quản lý, song về cơ bản đều thống nhất có bốn chức năng: Lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra, chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thành một chu trình quản lý.

  • Quản lý Hoạt động dạy học

Quản lý Hoạt động dạy học là sự tác động có chủ đích, hợp quy luật của chủ thể quản lý dạy học đến khách thể quản lý dạy học bằng các giải pháp phát huy tác dụng của các phương tiện quản lý dạy học như chế định GD và đào tạo, bộ máy tổ chức và nhân lực dạy học, nguồn tài lực và vật lực dạy học, môi trường dạy học và thông tin dạy học nhằm đạt được mục đích quản lý dạy học [27]. Luận văn: Quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

Nội dung tổng thể của hoạt động quản lý dạy học bao gồm: Quản lý thực thi chế định GD&ĐT trong dạy học; quản lý hoạt động của bộ máy tổ chức và nhân lực dạy học; quản lý việc huy động và sử dụng CSVC và TBDH; quản lý mối quan hệ trong môi trường dạy học; quản lý việc ứng dụng CNTT và truyền thông trong dạy học.

Nội dung cụ thể trong quản lý Hoạt động dạy học bao gồm: Quản lý thực hiện mục tiêu dạy học; quản lý thực hiện nội dung CT dạy học; quản lý đổi mới cách sử dụng PPDH; quản lý việc đề xuất và lựa chọn HTTC dạy học; quản lý CSVC và TBDH; quản lý môi trường dạy học; quản lý về đánh giá kết quả dạy học; quản lý công tác hành chính giáo vụ.

  • Quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS ở trường THPT

QTDH là sự thống nhất biện chứng của hai thành tố cơ bản trong QTDH: hoạt đông dạy và hoạt động học

Hoạt động dạy của GV: đó là hoạt động lãnh đạo, tổ chức điều khiển hoạt động nhận thức học tập của HS, giúp HS tìm khám phá tri thức, qua đó thực hiện hiệu quả chức năng học của bản thân.

Hoạt động học tập của HS: là hoạt động tự giác, tích cực chủ động, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức học tập của mình nhằm thu nhận xử lý và biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức của bản thân, qua đó người học thể hiện mình, biến đổi mình, tự mình làm phong phú tri thức của mình.

Quản lý Hoạt động dạy học là quản lý một quá trình xã hội, một quá trình sư phạm đặc thù, nó tồn tại như một hệ thống, bao gồm nhiều thành tố cấu trúc như: mục đích và nhiệm vụ dạy học, nội dung dạy học, PPDH, PTDH, thầy với hoạt động dạy, trò với hoạt động học tập, kết quả học tập.

Như vậy quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS là sự tác động của chủ thể quản lý tới QTDH môn Ngữ văn nhằm đảm bảo dạy học không chỉ dừng ở mục tiêu hình thành kiến thức, kỹ năng, thái độ tích cực ở người học mà còn nhằm đạt mục tiêu cao hơn là phát triển các năng lực chuyên biệt của môn Ngữ văn cho người học để giải quyết các tình huống thực tiễn của cuộc sống và nghề nghiệp.

1.3.2. Nội dung quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT theo định hướng PTNL HS Luận văn: Quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

  • Quản lý thực hiện mục tiêu, nội dung chương trình dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT theo định hướng PTNL HS

Chương trình Ngữ văn hiện hành nêu lên 03 mục tiêu, trong đó mục tiêu đầu tiên là “cung cấp cho HS những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, có tính hệ thống về ngôn ngữ (trọng tâm là tiếng Việt) và văn học (trọng tâm là văn học Việt Nam), phù hợp với trình độ phát triển của lứa tuổi và yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [7]. Mục tiêu thứ hai là hình thành và phát triển năng lực sử dụng tiếng Việt, tiếp nhận văn học, cảm thụ thẩm mĩ. Mục tiêu thứ ba là bồi dưỡng tinh thần, tình cảm như tình yêu tiếng Việt, yêu thiên nhiên, gia đình, lòng tự hào dân tộc…

Căn cứ vào Hướng dẫn nhiệm vụ GDTrH hàng năm của Sở GD&ĐT, căn cứ chuẩn kiến thức kỹ năng của môn học, khối, lớp cùng thảo luận để xây dựng mục tiêu đánh giá của môn học đồng thời xác định các mức độ năng lực của người học. Trên cơ sở mục tiêu và mức độ năng lực đã xác định của môn học, GV xây dựng mục tiêu cụ thể và xác định các phương diện năng lực mà HS cần hình thành và phát triển qua môn học và CBQL nhà trường căn cứ vào bảng mục tiêu môn học đã được xây dựng để đánh giá hiệu quả giảng dạy bộ môn của giáo viên và chất lượng học tập bộ môn của học sinh.

  • Chương trình dạy học môn Ngữ văn

Về nguyên tắc CT dạy học là pháp lệnh do Bộ GDĐT ban hành, là căn cứ pháp lí để nhà trường tiến hành chỉ đạo giám sát quản lý Hoạt động dạy học. Từ chương trình (khung) quy định số lượng tiết học, các Sở GD&ĐT, các nhà trường chỉ đạo GV bộ môn xây dựng CT, PP, HTDH, số tiết trên tuần và số tiết cho cả năm học nhằm thực hiện mục tiêu của cấp học, phù hợp với điều kiện và đặc điểm, năng lực HS nhà trường.

Xây dựng CT theo định hướng PTNL là xu hướng tất yếu, đáp ứng yêu cầu GDĐT con người trong bối cảnh khoa học và công nghệ phát triển với tốc độ chưa từng có và nền kinh tế tri thức đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với mọi quốc gia. Cách tiếp cận này đặt ra mục tiêu là giúp cho HS có thể làm được gì, chứ không tập trung vào việc xác định HS cần học những gì về các lĩnh vực chuyên môn.

  • Nội dung môn Ngữ văn Luận văn: Quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

Nội dung môn Ngữ văn được tổ chức theo mạch tương ứng với bốn kĩ năng giao tiếp cơ bản. Bốn mặt kĩ năng này được triển khai thành hệ thống các chuẩn cần đạt đối với từng kĩ năng.

Chuẩn cần đạt thể hiện ở những điều HS cần biết và có thể làm được sau khi học. Việc xây dựng nội dung CT dựa vào hệ thống các chuẩn cần đạt, thay vì dựa vào các nội dung cần dạy học, giúp nhà trường có được cơ sở đánh giá được chất lượng của sản phẩm mà mình tạo ra. Hệ thống chuẩn này cũng là căn cứ để xác định được những nội dung PPDH và PP đánh giá thích hợp đối với mỗi lớp học sao cho HS có được những năng lực và phẩm chất mà xã hội kì vọng.

  • Quản hoạt động dạy môn Ngữ văn trường THPT theo định hướng PTNL HS
  • Quản lý việc thiết kế bài dạy của GV

Kết quả từng tiết học nói riêng và chất lượng của QTDH nói chung phụ thuộc rất nhiều vào việc chuẩn bị trước giờ lên lớp của GV là:

Chuẩn bị soạn bài kĩ lưỡng và dự tính các bước đi trong một tiết học, các việc có thể xảy ra trong mỗi tiết học, HTTC dạy học, PP giảng dạy phải phù hợp với trình độ nhận thức của HS, đổi mới PPDH, HTTC phải nâng cao hiệu suất một giờ lên lớp.

Thiết kế bài giảng là một quá trình có tính hệ thống sử dụng những nguyên tắc dạy học nhằm hình thành hoạt động dạy, hoạt động học, biết sử dụng, khai thác các PTDH, các tài liệu với nhiều cách tiếp cận khác nhau như tiếp cận nội dung, tiếp cận mục tiêu, tiếp cận năng lực…

Thiết kế bài giảng theo PTNL cần xác định mục tiêu bài dạy sát với yêu cầu thực tiễn, biết lực chọn nội dung, biết tích hợp giữa lý thuyết với rèn kỹ năng và hình thành năng lực cho HS.

Hiệu trưởng cần yêu cầu các tổ, nhóm chuyên môn nghiên cứu kỹ nội dung CT mà mình thực hiện giảng dạy, trao đổi kỹ trong nhóm dạy để thống nhất về mục đích, yêu cầu, nội dung, PP, PT, HTTC dạy học theo hướng PTNL.

  • Quản lý giờ lên lớp của GV Luận văn: Quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

Giờ lên lớp của GV giữ vai trò quan trọng nhất của QTDH, nó quyết định chất lượng dạy học. Việc soạn bài, và chuẩn bị thiết bị đồ dùng dạy học trước giờ lên lớp đạt kết quả cao khi người GV thực hiện thành công tiết dạy trên lớp. Ngoài việc thực hiện ý đồ chuẩn bị, người GV khi lên lớp phải biết lựa chọn nội dung, PP, phát huy cao nhất tính tích cực chủ động sáng tạo, hình thành kỹ năng, PTNL của HS dưới sự hướng dẫn học tập của GV, linh hoạt giải quyết các tình huống xảy ra, tạo ra niềm yêu thích và hứng thú học tập cho HS.

Trong nhà trường hiệu trưởng không giữ vai trò trực tiếp quyết định chất lượng giờ lên lớp nhưng trên cương vị lãnh đạo và quản lý nhà trường, Hiệu trưởng có vai trò tác động gián tiếp tới chất lượng hiệu quả giờ lên lớp. Ngoài ra việc tác động về mặt tinh thần, vật chất, để tạo điều kiện phát huy hết nhiệt tình, khả năng lên lớp của GV, Hiệu trưởng phải có những biện pháp quản lý tác động sâu sắc tới giờ lên lớp của GV.

  • Dự giờ – đánh giá tiết dạy

Do đặc tính dạy học ở trường THPT có nhiều môn học nên nhà trường phải xây dựng kế hoạch dự giờ thăm lớp với nhiều hình thức kiểm tra thường xuyên, đột xuất, hay định kỳ; hoạt động này huy động hầu hết CB- GV nhà trường tham gia.

Sau khi dự giờ GV, việc tổ chức rút kinh nghiệm và đánh giá tiết dạy phải được thực hiện nghiêm túc, phải giúp GV thấy rõ điểm yếu, điểm mạnh của mình về nội dung, kiến thức về PP giảng dạy; về tổ chức các hoạt động học tập của HS qua đó giúp GV nâng cao được năng lực sư phạm, đồng thời giúp hiệu trưởng thấy rõ việc kiểm tra bằng dự giờ, rút kinh nghiệm đánh giá tiết dạy là công việc thường xuyên, quan trọng trong Hoạt động dạy học của một nhà trường.

  • Quản lý hồ sơ chuyên môn của GV

Quản lý hồ sơ là một trong các hoạt động quản lý, là một phương diện phản ánh quá trình quản lý có tính khách quan và cụ thể giúp hiệu trưởng nắm chắc hơn việc thực hiện quy chế chuyên môn của GV theo yêu cầu đề ra.

Theo “Điều lệ trường THCS, THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học”, Điều 27 quy định hồ sơ chuyên môn đối với mỗi GV phải có: Bài soạn, kế hoạch giảng dạy theo tuần, sổ dự giờ thăm lớp, sổ chủ nhiệm.

Để quản lý tốt hồ sơ chuyên môn của GV hiệu trưởng cần quy định nội dung, thống nhất mẫu ghi chép các loại sổ sách, kết hợp với tổ trưởng chuyên môn có kế hoạch thường xuyên KTĐG chất lượng hồ sơ của từng GV, tổ trưởng chuyên môn.

  • Quản hoạt động học môn Ngữ văn trường THPT theo định hướng PTNL HS

Căn cứ vào kết quả môn học Ngữ văn năm học trước của HS, căn cứ vào các chỉ tiêu phấn đấu năm học, nhà trường cần xây dựng các biện pháp GD phù hợp nhằm phát huy tinh thần, thái độ và động cơ học tập cho HS ở môn học này.

Học tập trên lớp: Yêu cầu mỗi HS tự xây dựng được tinh thần, thái độ học tập đúng đắn, nắm được cách học, cách tự học, tự rèn luyện, có ý thức học tập tốt, biết tập trung nghe giảng để hiểu bài ngay tại lớp, chuyên cần học bài và làm bài đầy đủ, có thái độ trung thực trong kiểm tra. Luận văn: Quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

Học tập ở nhà: Tự biết sắp xếp thời gian học tập ở nhà, đảm bảo điều kiện tốt nhất có thể để thực hiện tốt nhất nhiệm vụ học tập như học bài và làm đầy đủ bài tập về nhà, soạn bài, chuẩn bị bài học học mới và chuẩn bị đồ dùng học tập.

Khen thưởng – kỷ luật trong thực hiện nền nếp học tập môn Ngữ văn: Xây dựng, tổ chức khen thưởng để động viên HS, động viên cho HS có tiến bộ trong lớp và HS học tập nổi trội trong lớp. GV cần tạo sân chơi cho các em HS qua hình thức các câu lạc bộ mà các em yêu thích như: câu lạc bộ thơ, câu lạc bộ HS yêu thích văn học,… qua đó, giúp HS tìm hiểu kiến thức, phát triển trí tuệ phù hợp năng lực trí tuệ của HS, làm tốt sẽ kích thích hoạt động học tập của HS.

  • Quản lý PP, hình thức tổ chức và kỹ thuật dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT theo định hướng PTNL HS
  • Tổ chức các chuyên đề về đổi mới PP dạy học

Đổi mới PPDH là yêu cầu cần thiết để nâng cao chất lượng dạy học, vì thế bằng nhiều PP khác nhau, bằng nhiều HTTC khác nhau, Sở GD&ĐT phải chỉ đạo các trường xây dựng kế hoạch tổ chức các chuyên đề về đổi mới PPDH thực hiện theo từng năm học. Khi tổ chức các chuyên đề phải chú ý đến tính thực tiễn và phù hợp với tình hình thực tế của mỗi nhà trường, phải đầu tư và chuẩn bị thật chu đáo khi thực hiện chuyên đề đó. Cụ thể:

Chỉ đạo mỗi cụm trường, mỗi trường, mỗi tổ/nhóm chuyên môn và từng GV xây dựng kế hoạch riêng về việc thực hiện đổi mới PPDH theo định hướng PTNL HS.

Vận dụng linh hoạt các PP, KTDH tích cực như dạy học nêu vấn đề, dạy học theo dự án, bàn tay nặn bột, trải nghiệm…từng bước áp dụng các hình thức/mô hình tổ chức dạy học mới như trường học gắn với thực tiễn, trường học kết nối, mô hình trường học mới…Chuyển từ dạy học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng CNTT và truyền thông trong dạy và học.

Tăng cường quản lý theo chất lượng sản phẩm Hoạt động dạy học. Nhân rộng các nhân tố điển hình, các mô hình đổi mới tích cực trong nhà trường và địa phương. Luận văn: Quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

Từ đó Hiệu trưởng phải xác định được nhiệm vụ chuyên môn của mỗi nhà trường là tập trung đổi mới PPDH để nâng cao chất lượng GD đại trà, chất lượng HS giỏi theo định hướng PTNL HS ở các môn học nói chung và môn Ngữ văn nói riêng.

  • Chỉ đạo các tổ nhóm chuyên môn rà soát chương trình hiện hành, phát hiện những bất cập từ đó xây dựng chương trình môn học riêng của nhà trường; xây dựng các chủ đề dạy học phù hợp với thực tiễn.
  • Tích cực tổ chức các Hội thảo, chuyên đề cấp trường về thực hiện đổi mới PPDH theo định hướng PTNL HS để thực hiện công tác tự bồi dưỡng đội ngũ tại chỗ.
  • Xây dựng các chủ đề dạy học. Có 3 loại chủ đề dạy học: chủ đề tích hợp, chủ đề liên môn và chủ đề môn học. Mỗi tổ nhóm chuyên môn xây dựng và thực hiện ít nhất 2 chủ đề dạy học/học kì. Nội dung cấu trúc các chủ đề dạy học bám sát kế hoạch số 984/KH-BGD&ĐT.
  • Tổ chức các cuộc thi cấp trường và có sản phẩm tham gia các cuộc thi: dạy học tích hợp, nghiên cứu khoa học.

Chỉ đạo việc sinh hoạt tổ nhóm chuyên môn:

  • Dự giờ theo hướng phân tích hoạt động của HS.
  • 100% GV tham gia sinh hoạt chuyên môn trên diễn đàn trường học kết nối.

Có sản phẩm minh chứng theo yêu cầu.

  • Các tổ nhóm chuyên môn tổ chức cho từng GV đăng ký sản phẩm hoạt động đổi mới PPDH theo định hướng PTNL HS.
  • Tổ chức ít nhất 01 hoạt động trải nghiệm sáng tạo/năm.

Ban giám hiệu họp giao ban với GV chủ nhiệm, tổ trưởng chuyên môn hàng tháng để kiểm tra, đôn đốc, phát hiện, điều chỉnh các hoạt động chuyên môn phù hợp, kịp thời. Lưu giữ toàn bộ sản phẩm minh chứng của việc thực hiện đổi mới PPDH theo định hướng PTNL HS trong hồ sơ của tổ chuyên môn và nhà trường.

Để nâng cao chất lượng giờ lên lớp, nhà trường cần phải tổ chức các chuyên đề, các bài dạy minh họa về đổi mới PPDH; thông qua chuyên đề, đánh giá chuyên đề, thông qua tọa đàm về đổi mới PPDH, chia sẻ kinh nghiệm của GV, kinh nghiệm khi thiết kế giáo án và sử dụng đồ dùng dạy học hiện đại, tổ chức hội giảng,…

  • Quản lý việc bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho GV

Đẩy mạnh công tác kiện toàn đội ngũ, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ GV là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của các trường, một nhiệm vụ hết sức quan trọng và bức thiết của các nhà quản lý trường học, bởi vì ĐNGV là tạo động lực thực hiện dạy tốt và học tốt. Luận văn: Quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

Về nội dung quản lý hoạt động bồi dưỡng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho GV phải là một việc làm thường xuyên của các nhà quản lý giúp cho GV nâng cao và mở rộng tri thức mới để theo kịp những thay đổi của nội dung, CT, trang TBDH, PPDH và những kỹ năng sư phạm đáp ứng tinh thần đổi mới hiện nay.

Về hình thức bồi dưỡng: dự các lớp bồi dưỡng chuyên môn; sinh hoạt chuyên môn ở tổ, nhóm tham dự các chuyên đề về giờ lên lớp, hội giảng, đặc biệt coi trọng hình thức bồi dưỡng thường xuyên gắn với thực tiễn bài học, lớp học, môn học, ngoài ra tạo điều kiện cho GV được đi học tập nâng cao trình độ; tổ chức phổ biến áp dụng các sáng kiến kinh nghiệm.

  • Quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn ở trường THPT theo định hướng PTNL HS

KTĐG có vai trò vừa tạo động lực, điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt động học, hoạt động QLGD vừa xác nhận sự tiến bộ thành tích học tập theo chuẩn đầu ra được quy định trong CT GD. Đánh giá phải hướng tới phát triển phẩm chất, năng lực người học thông qua mức độ đạt chuẩn của chương trình; cung cấp được các thông tin đúng, khách quan, kịp thời làm cơ sở thực tiễn đưa ra các giải pháp điều chỉnh các Hoạt động dạy học.

Quản lý KTĐG kết quả học tập môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS phải bám sát chuẩn kiến thức, kỹ năng.

  • Những nội dung quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá
  • Tổ chức cho GV xác định năng lực và các mục tiêu nhận thức tương ứng làm cơ sở cho dạy học nói chung và cho KTĐG.

Thông thường, đầu năm học Phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn cùng các Tổ trưởng chuyên môn căn cứ chuẩn kiến thức kỹ năng của môn học, khối, lớp cùng thảo luận để xây dựng mục tiêu đánh giá của môn học đồng thời xác định các mức độ năng lực của người học. Ngoài ra có thể tham khảo CBQL của các đơn vị GD khác. Trên cơ sở mục tiêu và mức độ năng lực đã xác định của môn học sẽ yêu cầu GV giảng dạy xây dựng mục tiêu cụ thể và xác định các phương diện năng lực mà HS cần hình thành và phát triển qua môn học.

  • Xây dựng kế hoạch KTĐG.

Kế hoạch KTĐG được thực hiện chính là hệ thống các mẫu biểu, thời điểm kiểm tra, nội dung kiểm tra và hình thức kiểm tra.

  • Tổ chức thực hiện các hình thức KTĐG trong Luận văn: Quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

Các PP KTĐG phải phù hợp với mục tiêu của môn học và mục tiêu của cả CT cho nên phải do người quản lí quyết định. Việc lựa chọn chính xác PP và hình thức kiểm tra sẽ góp phần rất lớn đến việc nâng cao chất lượng GD. Các hình thức KTĐG môn Ngữ văn cấp THPT đang thực hiện là:

Kiểm tra thường xuyên: Bao gồm kiểm tra miệng và kiểm tra 15 phút được tiến hành vào bất cứ thời điểm nào mà không cần phải thông báo trước, đây là những bài kiểm tra được tính điểm hệ số 1. Với hình thức kiểm tra vấn đáp, trắc nghiệm và tự luận ngắn hoặc có thể là một số câu hỏi trắc nghiệm khách quan.

Kiểm tra định kì: Gồm kiểm tra 45 phút, 90 phút được tiến hành vào cuối một giai đoạn, thời gian đã định trước có tính chất thống nhất cho tất cả HS cùng một chương trình học tập. Bài kiểm tra định kì được tính hệ số 2 khi tính điểm trung bình môn học. Kiểm tra định kì thường sử dụng theo cấu trúc đề thi do Bộ GD&ĐT hướng dẫn.

Kiểm tra học kì (tổng kết) được thực hiện khi kết thúc một học kì, hình thức này được sử dụng nhằm đánh giá khả năng nắm bắt kiến thức và kĩ năng của HS sau khi học xong một kì. Đây là dạng bài kiểm tra có tính chất tổng hợp để đánh giá năng lực của HS. Đề bài là các câu hỏi tự luận theo cấu trúc đề thi THPT Quốc gia, các câu hỏi, bài tập tập trung vào nhiều phần kiến thức khác nhau trong các nội dung đã học tập. Điểm kiểm tra học kì được nhân hệ số 3 khi tính điểm trung bình môn học.

  • Tổ chức để GV theo dõi sự tiến bộ của

Sử dụng kết quả KTĐG để theo dõi, thúc đẩy, hỗ trợ sự tiến bộ của HS; để điều chỉnh PP dạy của GV và PP học tập của HS, cũng như điều chỉnh mục tiêu dạy học và GD.

  • Thu thập và xử lí thông tin phản hồi từ Luận văn: Quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

Thu thập kịp thời chính xác những thông tin về mức độ đã hoặc chưa đạt được trên các phương diện kiến thức, kĩ năng, thái độ học tập của HS căn cứ vào mục tiêu và chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ văn. Xác định khách quan, chính xác mức độ năng lực học tập môn Ngữ văn của HS vào những thời điểm nhất định, có tính chiến lược theo mục tiêu môn học và mặt bằng chất lượng chung của HS. Tìm đúng nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng học tập môn Ngữ văn trên cả hai phương diện tiêu cực và tích cực. Đưa ra những quyết định đúng vào các giai đoạn để điều chỉnh hoạt động dạy và học để có được kết quả tốt nhất. Nhận định và thông báo kết quả, thành tích học tập môn Ngữ văn của HS tới mọi người để giúp HS, phụ huynh, GV, nhà quản lí… biết kết quả học tập môn học của HS, định hướng nghề nghiệp, có kế hoạch bổ trợ, nâng cao chất lượng học tập của HS3.

  • Những yêu cầu về quản hoạt động KTĐG trong giai đoạn hiện nay

Muốn quản lý hoạt động KTĐG hiệu quả theo tinh thần “đổi mới căn bản và toàn diện” (Nghị quyết TW8 khóa XI) phải đảm bảo các yêu cầu sau:

  • Có mục tiêu, kế hoạch KTĐG cụ thể, khoa học phù hợp với thực tiễn nhà trường.
  • Có quy trình KTĐG phù hợp.
  • Phối hợp sử dụng kết quả KTĐG trong quá trình học với đánh giá cuối kỳ, cuối năm học, đánh giá của người dạy với tự đánh giá của người học, đánh giá của nhà trường với đánh giá của gia đình và xã hội.
  • Tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện KTĐG theo đúng quy trình. Xây dựng “ma trận” đề trong KTĐG đảm bảo đánh giá kiến thức một cách toàn diện, tránh học tủ, hướng tới PTNL người học.
  • Thanh tra, kiểm tra hoạt động KTĐG để có các điều chỉnh kịp thời để nâng cao chất lượng KTĐG.
  • Quản lý CSVC, sử dụng TBDH và ứng dụng CNTT phục vụ cho Hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT theo định hướng PTNL HS

CSVC là điều kiện quan trọng nhất cho nhà trường hình thành và đi vào hoạt động, là điều kiện không thể thiếu được trong việc tổ chức nâng cao chất lượng dạy và học. Quản lý và quản lý sử dụng CSVC và TBDH là vô cùng cần thiết để đảm bảo việc tổ chức dạy học trong nhà trường tránh việc dạy chay, dạy lí thuyết đơn thuần. Riêng với bộ môn Ngữ văn, CSVC, TBDH không đòi hỏi nhiều như các môn thí nghiệm thực hành nhưng lại có đặc trưng riêng như: sách tham khảo, băng đĩa nhạc, ngâm thơ, từ điển và cả các thiết bị dạy học hiện đại. Luận văn: Quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

Nội dung quản lý CSVC – trang thiết bị dạy và học trong nhà trường:

  • Quản lý trường lớp, phòng học, bàn ghế, bảng và các điều kiện khác phục vụ cho lớp học.
  • Quản lý trang thiết bị phục vụ cho dạy học, …
  • Quản lý thư viện trường học với các sách báo, tài liệu phục vụ cho giảng dạy của GV và học tập của HS.
  • Quản lý đồ dùng học tập của HS.

Hiện nay với định hướng thực hiện dạy học theo PTNL thì việc đầu tư trang thiết bị càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Trang thiết bị phục vụ Hoạt động dạy học ngày càng hiện đại càng có thể đáp ứng yêu cầu đổi mới PPDH theo định hướng PTNL. Tuy nhiên, để khai thức và sử dụng hiệu quả các trang TBDH đó, cần thiết phải bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ GV, nhân viên nhà trường về khía cạnh này.

Thay vì việc quản lý chỉ đạo GV sử dụng các phương tiện TBDH hiện có trong thư viện, CBQL cần có biện pháp khuyến khích và bắt buộc GV dạy Ngữ văn tăng cường khai thác các từ nguồn tư liệu mở trên internet, trên trường học kết nối…

1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT theo định hướng PTNL HS

1.4.1. Nhận thức của CBQL, GV nhà trường về dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT theo định hướng PTNL HS

Nhiều GV đã có nhận thức đúng đắn và xác định rõ sự cần thiết phải đổi mới PPDH, đã vận dụng được các PPDH và kỹ thuật DH tích cực trong quá trình GD. Tuy nhiên, nhận thức của một bộ phận GV về vấn đề này còn hạn chế, chưa nghiên cứu sâu lý luận về PPDH hoặc vận dụng chắp vá nên chưa tạo sự đồng bộ và do đó chưa đạt hiệu quả. Tình trạng DH theo lối truyền thụ một chiều, đọc – chép ở bộ môn Ngữ văn vẫn còn tồn tại.

1.4.2. Trình độ năng lực của đội ngũ GV, CBQL nhà trường đáp ứng các yêu cầu về dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT theo định hướng PTNL HS Luận văn: Quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

Về trình độ, năng lực, phẩm chất của Hiệu trưởng: Hiệu trưởng phải là người am hiểu mục tiêu GD, nguyên lý GD, PP GD và PPDH; có khả năng lãnh đạo, tiếp thu các chủ trương, các chương trình, kế hoạch một cách sâu sắc; có khả năng triển khai, chỉ đạo tổ chức thực hiện nội dung dạy, đổi mới PP GD, PPDH; Hiệu trưởng phải là người có hiểu biết về tâm lý quản lý, có uy tín, gương mẫu trong thực hiện nhiệm vụ. Tuy nhiên, thực tế ở một số nhà trường năng lực chỉ đạo đổi mới PPDH của BGH nhà trường còn chưa đáp ứng yêu cầu.

Về trình độ, năng lực, phẩm chất của đội ngũ GV dạy học môn Ngữ văn: GV là đội ngũ chủ lực, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ dạy học, làm nên chất lượng dạy học của nhà trường.

Trình độ, năng lực GV hiện nay: cơ bản đáp ứng đủ về số lượng và chất lương dạy học, đa số GV đều đạt trình độ đào tạo chuẩn và trên chuẩn, nhưng trong thực tế năng lực chuyên môn, nhận thức về đổi mới PPDH còn ở các mức độ khác nhau.

Phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp: Người GV phải luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, làm gương trong việc thực hiện ý thức đạo đức, nghề nghiệp của mình. Đặc biệt với GV dạy môn Ngữ văn thì khả năng diễn đạt, việc sử dụng ngôn từ phải mang tính chuẩn xác để làm gương cho HS.

Như vậy, trình độ, năng lực chuyên môn, kỹ năng sư phạm, phẩm chất của GV có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dạy học, chất lượng GD của nhà trường.

1.4.3. Điều kiện đảm bảo để dạy học và quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT theo định hướng PTNL HS

Một số yếu tố ảnh hưởng đến môi trường học tập: nhà trường, HS, gia đình. Đây là những nhân tố cơ bản có tác động tích cực để xây dựng môi trường học tập theo quan điểm PTNL:

Về phía gia đình: Gia đình giữ vai trò quan trọng nhất trong việc giúp HS hình thành những chuẩn mức đạo đức, ý thức trách nhiệm, thực hiện chức năng cơ bản của mình; Để có chức năng xã hội hóa tốt hình thành nhân cách con người, đồi hỏi phải có sự chăm sóc, dạy bảo, hướng dẫn, rèn luyện của các bậc phụ huynh giúp các em làm quen và thực hiện những chuẩn mực, nền nếp trong gia đình và ngoài xã hội. Luận văn: Quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

Về phía nhà trường: Tập trung tạo điều kiện về CSVC, trang TBDH, cảnh quan môi trường tạo ra môi trường học tập thân thiện; tập trung đổi mới PPDH, giảm áp lực dạy học theo hình thức, tiếp cận nội dung, thực hiện theo quan điểm PTNL; giảm áp lực về hình thức đánh giá HS như vậy mới có thể có môi trường học tập tích cực để HS không cảm thấy ngại khi học Ngữ văn. Như vậy, các em sẽ phát huy được tích cực, phát huy khả năng, năng lực của mình trong môn học.

1.4.4. Sự phối hợp của các bên liên quan trong và ngoài nhà trường trong quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT theo định hướng PTNL HS

Những năm qua Đảng, Nhà nước đã quan tâm đến phát triển và đổi mới GD. Từ năm 2002 bắt đầu đã triển khai chương trình SGK phổ thông mới mà trọng tâm là đổi mới PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS.

Ngành GD&ĐT đã tăng cường chỉ đạo đổi mới PPDH qua các đợt tập huấn, hội thảo chuyên môn các cấp; đổi mới sinh hoạt CM dựa trên nghiên cứu bài học; dạy học theo định hướng PTNL HS; dạy học trải nghiệm, dạy học theo chủ đề… Triển khai thí điểm phát triển CT GD nhà trường phổ thông theo Hướng dẫn số 791/HD- BGDĐT ngày 25/6/2021 của Bộ GDĐT.

Nguồn lực phục vụ quá trình đổi mới PPDH trong trường như: CSVC, thiết bị DH, hạ tầng CNTT…dù đã được chú ý nhưng còn chưa đồng bộ làm hạn chế các PPDH hiện đại.

Áp lực từ phía xã hội với GD có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dạy và học của nhà trường.

Vậy ngoài thực hiện tốt các chức năng nhiệm vụ, nhà quản lý phải biết nắm bắt các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý Hoạt động dạy học, biết vận dụng hợp lý trên cơ sở phối hợp tích cực giữa gia đình, nhà trường và xã hội, thực hiện đúng các đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đưa Hoạt động dạy học nói chung và môn Ngữ văn nói riêng đạt kết quả cao nhất.

Kết luận chương 1 Luận văn: Quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

Dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS là việc tổ chức Hoạt động dạy học môn Ngữ văn nhằm hình thành, tăng cường và nâng cao hệ thống năng lực, phẩm chất của HS, giúp HS vận dụng vào các cấp học cao hơn hoặc hoạt động nghề nghiệp trong tương lai một cách hiệu quả, chuẩn bị cho người học năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp.

Quản lí Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS là sự tác động của chủ thể quản lý tới QTDH môn Ngữ văn nhằm đảm bảo dạy học không chỉ dừng ở mục tiêu hình thành kiến thức, kỹ năng, thái độ tích cực mà còn nhằm đạt mục tiêu cao hơn là phát triển các năng lực chuyên biệt của môn Ngữ văn cho người học nhằm chuẩn bị cho HS năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp.

Nội dung quản lí Hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở trường THTP theo định hướng PTNL HS bao gồm: (1) Quản lý thực hiện mục tiêu, nội dung chương trình dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT theo định hướng PTNL HS; (2) Quản lý hoạt động dạy môn Ngữ văn ở trường THPT theo định hướng PTNL HS; (3) Quản lý hoạt động học môn Ngữ văn ở trường THPT theo định hướng PTNL HS; (4) Quản lý PP, hình thức tổ chức và kỹ thuật dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT theo định hướng PTNL HS; (5) Quản lý KTĐG học tập môn Ngữ văn ở trường THPT theo định hướng PTNL HS; (6) Quản lý CSVC, sử dụng TBDH và ứng dụng CNTT phục vụ cho Hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT theo định hướng PTNL HS.

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lí Hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT theo định hướng PTNL HS là: (1) Nhận thức của CBQL, GV nhà trường về dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT theo định hướng PTNL HS; (2) Trình độ năng lực của đội ngũ GV, CBQL nhà trường đáp ứng các yêu cầu về dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT theo định hướng PTNL HS; (3) Điều kiện đảm bảo để dạy học và quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT theo định hướng PTNL HS; (4) Sự phối hợp của các bên liên quan trong và ngoài nhà trường trong quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT theo định hướng PTNL HS.

Phần lý luận về Hoạt động dạy học môn Ngữ văn và quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS ở chương 1 được sử dụng làm cơ sở để:

Phân tích thực trạng Hoạt động dạy học và quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS ở trường THPT Hòn Gai – Thành phố Hạ Long trong chương 2.

Đề xuất các biện pháp quản lý khả thi để nâng cao chất lượng Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS ở trường THPT Hòn Gai trong chương 3. Luận văn: Quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Ngữ văn trường THPT

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993