Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử ở học sinh

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận Văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử ở học sinh hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh trường THCS trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu” là một trong những quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta về định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Trong đó đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ đáp ứng nguồn nhân lực theo nhu cầu của xã hội trong giai đoạn hiện nay (Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, 2013). Giáo dục nước ta đã và đang đổi mới mạnh mẽ theo bốn trụ cột của giáo dục thế kỷ XXI mà thực chất là tiếp cận giáo dục giá trị sống, hình thành kĩ năng giao tiếp cho người học đó là: Học để biết – Học để làm – Học để chung sống – Học để tự khẳng định mình (Nguyễn Thanh Hải, 2019)

Cùng với việc đào tạo kiến thức, định hướng nghề nghiệp cho các em học sinh bậc THCS thì việc nâng cao chất lượng công tác giáo dục kỹ năng sống, đạo đức, lối sống cho học sinh, phòng chống bạo lực học đường, trong đó việc chú trọng quản lý và giáo dục kỹ năng ứng xử cho các em học sinh là nhiệm vụ hàng đầu trong bối cảnh hiện nay (Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, 2013)

Chính vì vậy, tại điều 7 Chương III của Thông tư số 26/2017/TT-BGDĐT ngày 18 tháng 10 năm 2017 về quy định tổ chức hoạt động văn hóa của học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục có nói: “Cơ sở giáo dục và đào tạo xây dựng kế hoạch, tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương bố trí kinh phí và huy động các nguồn kinh phí hợp pháp khác để tổ chức hoạt động văn hóa thường xuyên trong các cơ sở giáo dục trong phạm vi quản lý tại địa phương; đôn đốc, kiểm tra và định kỳ tổ chức sơ kết, tổng kết việc thực hiện Thông tư này. Chủ động phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các đơn vị liên quan ở địa phương trong việc thực hiện Thông tư này.” Quyết định 1299/QĐ-TTg 2018 ngày 03 tháng 10 năm 2018 phê duyệt Đề án “Xây dựng văn hóa ứng xử trong trường học giai đoạn 2018-2025” đã nêu mục tiêu chung của Đề án là “Tăng cường xây dựng văn hóa ứng xử trong trường học nhằm tạo chuyển biến căn bản về ứng xử văn hóa của cán bộ quản lý, nhà giáo, nhân viên, học sinh, sinh viên để phát triển năng lực, hoàn thiện nhân cách, lối sống văn hóa; xây dựng văn hóa trường học lành mạnh, thân thiện; nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo; góp phần xây dựng con người Việt Nam: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử ở học sinh.

Do đó giáo dục văn hóa ứng xử (VHUX) trong trường học là một hoạt động GD hết sức quan trọng, góp phần GD và rèn luyện con người phát triển toàn diện, hoàn thiện nhân cách, lối sống văn hóa; xây dựng văn hóa trường học lành mạnh, thân thiện; nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo (Thủ tướng Chính phủ, 2018). Đối với HS trung học cơ sở (THCS), giáo dục VHUX lại càng quan trọng hơn bao giờ hết. Vì đây là thời kỳ nhạy cảm nhất để phát triển và hoàn thiện nhân cách trong cuộc đời của con người. Một phương pháp giáo dục hiệu quả và đồng bộ sẽ đem lại cho HS sự phát triển toàn diện trong hiện tại và cả tương lai.

Tuy nhiên, thực trạng công tác quản lý văn hóa ứng xử của học sinh trong nhà trường hiện nay còn nhiều bất cập, đặc biệt là khâu tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá về công tác này, các văn bản về công tác này chưa thật sự đi vào thực tiễn. Học sinh ngày càng năng động, thực tế hơn, có tinh thần tự chủ, bộc lộ cá tính ngày càng đậm nét. Một số học sinh chưa ngoan hoặc ở trường thì ngoan trên mạng xã hội thì chưa ngoan. Ngày càng xuất hiện nhiều trường hợp học sinh vô lễ, học sinh sử dụng bạo lực với bạn, nói tục chửi thề… Một số giá trị tốt đẹp về phẩm chất, đạo đức, ứng xử văn hóa của một bộ phận học sinh bị xuống cấp, có biểu hiện suy thoái, lệch lạc. (Báo mới, 2019).

Huyện Phú Giáo là huyện thuộc vùng sâu vùng xa của tỉnh Bình Dương, người dân chủ yếu sinh sống bằng nghề nông. Trong những năm gần đây khi mà điều kiện kinh tế ngày càng được ổn định và phát triển, trên địa bàn xuất hiện nhiều công ty, xí nghiệp, việc học tập của con em mình ngày càng được nhiều bậc phụ huynh quan tâm. Nhiều gia đình đã đầu tư máy tính, điện thoại thông minh, mua sắm xe máy cho con em đến trường…đó là tính hiệu đáng mừng. Tuy nhiên việc quản lý giờ giấc và sử dụng các phương tiện ấy không được các bậc phụ huynh quan tâm. Học sinh thường sử dụng nhiều thời gian trong ngày để tham gia các hoạt động trên Internet và mạng xã hội. Một số học sinh thường xuyên chia sẻ, bình luận dung tục, kỳ quặc trên mạng xã hội, truy cập vào các thông tin xấu độc, bạo lực, đồi trụy, có hội chứng “nghiện Internet”, chạy theo lối sống ảo, đôi khi bị lôi kéo, tham gia các hoạt động vi phạm pháp luật thông qua môi trường mạng. Bên cạnh đó có một điều không khó để nhận thấy ở học sinh là sự thiếu hụt kĩ năng ứng xử. Điều đó đẩy các em tới những khó khăn, mâu thuẫn, va vấp… trong cuộc sống một cách không đáng có (Giáo dục và thời đại, 2018)

Như vậy, một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng của lãnh đạo trong nhà trường đó chính là quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh. Vì lý do trên tác giả chọn nghiên cứu đề tài: “Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh trường THCS trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương”.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Quản Lý Giáo Dục

2. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục VHUX cho HS tại các trường THCS, đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục VHUX cho học sinh các trường THCS trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử ở học sinh.

3. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý hoạt động văn hóa ứng xử cho học sinh trường trung học cơ sở.
  • Khảo sát thực trạng về công tác quản lý hoạt động văn hóa ứng xử cho học sinh trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
  • Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao công tác quản lý hoạt động văn hóa ứng xử cho học sinh trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4.1. Khách thể nghiên cứu: Hoạt động giáo dục trong nhà trường.

4.2. Đối tượng nghiên cứu: Công tác hoạt động giáo dục VHUX của học sinh trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

5. Giả thuyết khoa học

Công tác quản lý văn hóa ứng xử luôn được sự quan tâm của CBQL và tập thể nhà trường. Tuy nhiên, công tác quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương còn nhiều vấn đề bất cập trong quá trình quản lý giáo dục như: Công tác xây dựng kế hoạch chưa được đầu tư đúng mức, công tác tổ chức chưa sát, chỉ đạo thực hiện chưa hiệu quả và các tiêu chí kiểm tra đánh giá hoạt động văn hóa ứng xử của học sinh chưa rõ ràng.

6. Phương pháp nghiên cứu

6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận: Trong quá trình nghiên cứu, đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu (sách, báo, tạp chí khoa học; kết quả các công trình khoa học…) nhằm cung cấp thông tin, kế thừa kinh nghiệm, xác lập cơ sở lý luận, cơ sở khoa học về công tác quản lý văn hóa ứng xử trong trường THCS .

6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Để đánh giá khách quan về thực trạng công tác quản lý văn hóa ứng xử ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp sau đây:

6.2.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử ở học sinh.

Điều tra giáo dục là phương pháp khảo sát một số lượng lớn các đối tượng nghiên cứu ở một hay nhiều khu vực, vào một hay nhiều thời điểm nhằm thu thập số liệu phục vụ cho mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.

Mục đích: Nhằm phối hợp với các phương pháp khác để thu lại kết quả khách quan nhất đồng thời dùng phương pháp này để tìm hiểu thực trạng công tác quản lý họt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh của CBQL (Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, tổ trưởng, tổ phó), khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh trường THCS trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương mà đề tài đề xuất.

Nội dung: Nội dung xoay quanh về công tác quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh của CBQL nhằm thu thập thông tin về thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh trong nhà trường.

Cách tiến hành: Xây dựng 2 loại phiếu khảo sát gồm:

Loại 1: Dành cho cán bộ quản lý (Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng, tổ phó) của 9 trường nghiên cứu nhằm tìm hiểu thực trạng về hoạt động VHUX cho học sinh trong nhà trường (về muc đích, nội dung, hình thức, phương pháp); về những biểu hiện VHUX của học sinh; về công tác quản lý hoạt động giáo dục VHUX (lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo thực hiện, kiểm tra và đánh giá hoạt động giáo dục VHUX), các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục VHUX cho học sinh.

Loại 2: Dành cho CBQL và GV, hỏi ý kiến về mức độ cần thiết và khả thi về các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục VHUX mà đề tài đề xuất.

6.2.2 Phương pháp xử lý dữ liệu: đề tài sử dụng phương pháp thống kê toán học bằng phần mềm SPSS để phân tích các chỉ số thống kê như tần số, độ lệch chuẩn, điểm trung bình, tỷ lệ %.

7. Ý nghĩa của luận văn

7.1 Về mặt lý luận

Đề tài góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về công tác quản lý hoạt động giáo dục VHUX ở trường THCS, góp phần cung cấp thêm nguồn luận cứ khoa học trong việc quản lý hoạt động giáo dục VHUX cho học sinh THCS.

7.2 Về mặt thực tiễn Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử ở học sinh.

Đề tài đánh giá được thực trạng hoạt động giáo dục VHUX và quản lý hoạt động giáo dục VHUX ở trường THCS trên địa bàn huyện Huyện Phú Giáo- tỉnh Bình Dương, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục VHUX nhằm góp phần nâng cao chất lượng công tác quản lý hoạt động giáo dục VHUX cho học sinh trường THCS. Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong bồi dưỡng về giáo dục VHUX cho học sinh, bồi dưỡng cho GV, cán bộ quản lý trường THCS về vấn đề giáo dục VHUX.

8. Phạm vi nghiên cứu

8.1. Về nội dung: Đề tài khảo sát thực trạng hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh và công tác quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

8.2. Về không gian: Phạm vi nghiên cứu tại 8/8 trường THCS trên địa bàn huyện Phú giáo tỉnh Bình Dương, bao gồm: Trường THCS An Linh, THCS Trần Quang Diệu, THCS Vĩnh Hòa, THCS Bùi Thị Xuân, THCS An Bình, THCS Trần Hưng Đạo, THCS Phước Hòa, THCS Nguyễn Trãi.

8.3. Về thời gian: Đề tài khảo sát thực trạng trong thời gian: Năm học 2017 – 2018, 2018 – 2019.

9. Bố cục luận văn

Ngoài các phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn chia làm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh trường THCS.

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho HS trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC VĂN HÓA ỨNG XỬ CHO HỌC SINH TRƯỜNG THCS

1.1. Tổng quan nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục VHUX cho học sinh trường THCS

1.1.1. Văn hóa nhà trường Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử ở học sinh.

Văn hóa nhà trường đã từng được nhiều nhà khoa học, nhiều tác giả trên thế giới nghiên cứu và phát biểu như Hay Heckman (1993) miêu tả “văn hóa nhà trường phổ thông chủ yếu là niềm tin của giáo viên, học sinh và Hiệu trưởng để định hướng các hoạt động của họ”. Trong nghiên cứu về văn hóa nhà trường của Greert, Terreb E. Deal và Kent D. Peterson (1990) đã lưu ý về định nghĩa văn hóa: “những kiểu cấu trúc sâu sắc về giá trị, niềm tin và truyền thống đó được hình thành qua giai đoạn lịch sử”. Nhà học giả nổi tiếng Edgar Schein định nghĩa: Văn hóa tổ chức là hệ thống những giá trị, niềm tin được chia sẻ, phát triển trong một tổ chức và định hướng hành vi của các thành viên. Banks (1993) cho rằng: Nhà trường là một hệ thống xã hội có văn hóa riêng của mình. Văn hóa đó bao gồm “các quy phạm, cơ cấu xã hội, niềm tin, giá trị và mục tiêu”. Ông chỉ rõ: Văn hóa nhà trường cho học sinh thấy rõ thái độ của nhà trường đối với hàng loạt vấn đề như: nhà trường nhìn nhận họ như thế nào, thái độ của nhà trường đối với nam sinh, nữ sinh, học sinh đặc biệt, học sinh đến từ các chủng tộc, tôn giáo, văn hóa khác nhau,…Văn hóa và cơ cấu tổ chức của một nhà trường phải được tất cả mọi thành viên trong trường xem xét. Mọi cán bộ, giáo viên trong trường phải tham gia vào việc xây dựng văn hóa nhà trường. Tác phẩm nổi tiếng “Văn hóa nguyên thủy” của Tylor (1871) trình bày khái niệm “Văn hóa là tổ hợp các tri thức, niềm tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và toàn bộ các khả năng và thói quen khác mà con người với tư cách là thành viên của xã hội tiếp thu được”, trong Peterson (2009) định nghĩa: “VHNT là tập hợp các chuẩn mực, giá trị và niềm tin, các nghi lễ và nghi thức, các biểu tượng và truyền thống tạo ra “vẻ bề ngoài” của nhà trường”.

Từ những định nghĩa trên, có thể rút ra những đặc điểm cơ bản trong định nghĩa VHNT bao gồm: VHNT là hệ thống những giá trị vật chất và tinh thần tồn tại trong nhà trường làm cho nhà trường có những nét riêng biệt, khác biệt để phân biệt nhà trường này với nhà trường khác; là tập hợp các chuẩn mực, giá trị và niềm tin, các nghi lễ và nghi thức, các biểu tượng và truyền thống tạo ra “vẻ bề ngoài” của nhà trường; VHNT tốt hướng tới chất lượng giáo dục tốt.

Peter Adler (1972), đã miêu tả về sốc văn hóa như sau: “Người ta cho sốc văn hóa là phản ánh sự lo lắng và hồi hộp với sự khác biệt văn hóa qua kỹ xảo phòng thủ như sự ức chế, sự cách ly và sự từ chối không tiếp ai”. Trong nghiên cứu này tác giả cũng đề cập đến việc dạy và học ngoại ngữ ở nước ta hiện nay. Học ngoại ngữ không chỉ là giao tiếp lưu loát, chính xác, tự nhiên và giống như người bản ngữ, mà còn học những điều hay, điều tốt của họ. Ví dụ, trong giao tiếp với bạn bè chúng ta ít sử dụng từ “Xin lỗi”, “Cám ơn” vì cho là khách sáo. Nhưng những từ này lại sử dụng trong giáo tiếp thường ngày của nền văn hóa Anh, Mỹ, Úc. Nó được xem như là cách ứng xử lịch sự. Học ngoại ngữ còn giúp chúng ta mở rộng hiểu biết, tiếp nhận thêm những tri thức mới phục vụ cho nghề nghiệp bản thân, cho sự phát triển của đất nước. Việc dạy ngoại ngữ trong nhà trường cần gắn liền với sự tìm hiểu về văn hóa của dân tộc nói thứ tiếng đó. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử ở học sinh.

Việt Nam đã có tài liệu, công trình nghiên cứu về văn hóa nhà trường, văn hóa ứng xử như: công trình nghiên cứu “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam”, tác giả Trần Ngọc Thêm (2001) đã đưa ra định nghĩa văn hóa: “Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị (vật chất và tinh thần, tĩnh và động, vật thể và phi vật thể …) do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”. Trong giáo dục, “Nhà trường là một tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp có tính đặc thù trong giáo dục và đào tạo con người, tạo ra nguồn nhân lực hữu ích cho xã hội, đất nước”. Theo tác giả Vũ Thị Quỳnh (2018), “Nhà trường có thể coi là một thiết chế tổ chức chuyên biệt trong hệ thống tổ chức xã hội, đóng vai trò tái tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự duy trì và phát triển của xã hội”. Theo Nguyễn Thị Ngọc Phương, Đỗ Đình Thái (2018) “nhà trường là đơn vị cơ sở nằm trong hệ thống giáo dục và để tiến hành quá trình giáo dục đào tạo nhà trường là một thiết chế đặc biệt của xã hội, thực hiện chức năng đào tạo nguồn nhân lực theo yêu cầu của xã hội, đào tạo các công dân cho tương lai.

Trường học với tư cách là một tổ chức giáo dục cơ sở vừa mang tính giáo dục vừa mang tính xã hội, trực tiếp đào tạo thế hệ trẻ, là “tế bào” quan trọng của bất kì hệ thống giáo dục nào từ Trung ương đến địa phương”. Theo Đỗ Tiến Sỹ (2016): “VHNT được coi là hệ thống các giá trị về tinh thần, vật chất, thể hiện niềm tin, sự đánh giá về các chuẩn mực, sự kì vọng về các sứ mệnh, tầm nhìn, kết quả đạt được của nhà trường”. Theo Vũ Thị Quỳnh (2018): “VHNT là hệ thống những giá trị vật chất và tinh thần tồn tại trong nhà trường làm cho nhà trường có những nét riêng biệt, khác biệt để phân biệt nhà trường này với nhà trường khác. Nó bao gồm từ bầu không khí nhà trường, các giá trị tồn tại trong các hoạt động giảng dạy, giáo dục, môi trường cảnh quan, cơ sở vật chất đến niềm tin, sự kì vọng của từng cá nhân…”. Tác giả Nguyễn Khắc Hùng nhấn mạnh “Sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh chịu ảnh hưởng rất lớn của môi trường văn hóa học đường, vì đây không chỉ là nơi các em lĩnh hội kiến thức văn hóa, khoa học, nghề nghiệp mà còn là một môi trường xã hội thu nhỏ, có ảnh hưởng rất lớn đến những gì xung quanh. Một môi trường văn hóa học đường thuận lợi sẽ tạo điều kiện cho các em nhanh chóng trưởng thành, tạo nền tảng cơ bản vững chắc để các em có thể trở thành người công dân tốt cho xã hội” VJE Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt tháng 8/2018, tr 72-76 74. Tác giả Đặng Văn Minh (2009), quan niệm văn hóa học đường là tổng thể các giá trị cơ bản, các chuẩn mực đạo đức, các mẫu hành vi quy định cách thức tương tác giữa các thành viên trong nhà trường với nhau. Một số nội dung cơ bản của văn hóa học đường như: trang phục của thành viên, ngôn ngữ giao tiếp, khung cảnh nhà trường, tình cảm, sự tôn trọng của các thành viên với nhau.

Tác giả Phạm Minh Hạc (2009), đã tìm hiểu một số vấn đề lý luận về văn hóa nhà trường. Nghiên cứu này đã xác định một số khái niệm công cụ như: học đường, văn hóa học đường,… Học đường trong nghiên cứu này là không gian tiến hành hoạt động dạy và học của thầy và trò. Học đường là nơi biến vốn học vấn thành vốn văn hóa, biến tri thức và kỹ năng sống thành các giá trị nhân cách. Khái niệm văn hóa học đường theo tác giả Phạm Minh Hạc xuất hiện đầu những năm 1990. Tại một số nước như Mỹ, Úc đã thành lập trung tâm nghiên cứu văn hóa học đường. Mục tiêu của văn hóa học đường là xây dựng một trường học lành mạnh. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử ở học sinh.

Văn hóa học đường trong nghiên cứu này được định nghĩa là hệ các chuẩn mực, giá trị giúp những người quản lý, giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh có cách thức suy nghĩ, tình cảm và hành động tốt đẹp. Nội dung của văn hóa nhà trường gồm: Làm cho các thành viên hiểu được mục tiêu và giá trị của nhà trường; Chuẩn học các bộ môn; Làm cho mọi người học cam kết có trách nhiệm học tập tốt; Xây dựng quan hệ hợp tác trong nhà trường; Tạo điều kiện đẻ các nhà giáo và cán bộ bám sát thực tiễn, chia sẻ kinh nghiệm cho nhau; Các nhà giáo luôn có ý thức rèn luyện nâng cao tay nghề, đổi mới phương pháp giảng dạy. Tác giả cũng phân tích việc xây dựng văn hóa học đường ở Việt Nam hiện nay:

  • Chú ý đến điều kiện học tập, cơ sở vật chất của nhà trường. Cơ sở vật chất của các trường còn nhiều khó khăn (trường lớp, sách giáo khoa). Để xây dựng văn hóa học đường cần chú ý đến xây dựng cơ sở vật chất của nhà trường.
  • Xây dựng môi trường giáo dục trong nhà trường – một môi trường giáo dục thân thiện gồm 6 nội dung: Kỷ cương, trung thực, khách quan, công bằng, tình thương, khuyến khích sáng tạo, hiệu quả.
  • Xây dựng văn hóa ứng xử, văn hóa giao tiếp trong nhà trường. Đó là cách ứng xử văn minh, thân thiện, biết tôn trọng, quan tâm đến người khác.

Tác giả Phạm Minh Hạc (1991), đã công bố cuốn sách “Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI”. Trong cuốn sách này tác giả đã phân tích sâu về giáo dục nếp sống văn hóa cho sinh viên trong học tập, sinh hoạt, văn hóa, tiêu dùng và trong ứng xử .Theo bài viết “Văn hóa học đường trong bối cảnh hiện nay” – Trịnh Ngọc Toàn “VHNT được coi như một mẫu thức cơ bản, tạo ra một môi trường quản lý ổn định, giúp cho Nhà trường thích nghi với môi trường bên ngoài, tạo ra sự hoà hợp môi trường bên trong. Một tổ chức có nền văn hóa mạnh sẽ hội tụ được cái tốt, cái đẹp cho xã hội. VHNT sẽ giúp cho Nhà trường thực sự trở thành một trung tâm văn hóa giáo dục, là nơi hội tụ sức mạnh của trí tuệ và lòng nhân ái trong xã hội, góp phần quan trọng tạo nên sản phẩm giáo dục toàn diện”. Tác giả Hồ Bá Thâm (2009), đã nêu một số quan điểm về xây dựng văn hóa học đường. Theo tác giả, văn hóa học đường gồm văn hóa dạy, văn hóa học, văn hóa quản lý, phục vụ. Tác giả có nêu ra văn hóa học đường thời phong kiến ở nước ta là “Tiên học lễ, hậu học văn” – Học ứng xử trước rồi mới học nghề, học chữ. Văn hóa học đường ngày này gắn với khoa học công nghệ, gắn hiện đại với truyền thống. Tác giả cũng nêu ra một số biểu hiện tiêu cực của văn hóa học đường hiện nay ở nước ta là: bạo lực học đường, bệnh giáo điều rập khuôn, hình thức chủ nghĩa, bảo thủ, bình quân chủ nghĩa,…Văn hóa học đường phải là văn hóa mở, phải kích thích sáng tạo, vừa hướng tới hiện đại, mang tính dân tộc.

Một số bài báo và công trình nghiên cứu của các tác giả như: Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Phạm Thành Nghị, Lê Tiến Hùng, Phạm Quang Huân, Phan Thị Hoa Hương, Trần Quốc Thành… tập trung vào phân tích những quan niệm của tác giả nước ngoài về văn hóa nhà trường và đưa ra một số giải pháp cho các trường phổ thông hiện nay ở Việt Nam.

1.1.2. Quản lý VHUX cho học sinh Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử ở học sinh.

Từ thập niên 70 các tác giả U.C.Marienco, B.M.Ko6rotop, I.A.Dorokhop,… đã công bố các tài liệu liên quan đến giáo dục văn hóa hành vi nói chung và giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa cho học sinh. Trong các tác phẩm của mình, các tác giả đã chứng minh sự cần thiết phải giáo dục hành vi có văn hóa cho HS nhỏ tuổi. Các nhà tâm lý học và GD học của Liên xô như L.X.Vugotxki, X.L.Robinstein, A.N.Leonchiev, A.X.Makarenco… đã nghiên cứu về lý luận khoa học của hành vi và giáo dục hành vi đạo đức nói chung, hành vi giao tiếp có văn hóa cho HS nói riêng trong nhà trường như là cơ sở để hình thành phẩm chất đạo đức, nhân cách của người công dân J. Plaget trong công trình nghiên cứu về giáo dục văn hóa đạo đức cho trẻ em đã khẳng định: Cần chú trọng giáo dục đạo đức cho trẻ để giúp trẻ nắm được các quy tắc ứng xử. Trong những năm 1977-1978, trung tâm nghiên cứu khoa học về thanh niên ở Bungari nghiên cứu về vấn đề GD đạo đức cho thanh niên trong đó có đề cập đến vấn đề GD VHUX, định hướng lối sống của Thanh niên. Năm 2012, báo cáo nghiên cứu mã số DFE-RR218 của Bộ Giáo dục Anh nghiên cứu về ứng xử của HS trong các trường học ở Anh quốc nhằm xem xét về bản chất và tiêu chuẩn của hành vi trong trường học Tiếng Anh, tác động của ứng xử tiêu cực trên HS và GV, những điều mà nhà trường và GV có thể làm để phát huyu tốt hành vi ứng xử của HS. Một bầu không khí UX nghèo nàn/không tốt sẽ dẫn đến những UX xã hội xấu xí. Từ kết quả nghiên cứu, các nhà khoa học cũng nhận định. Việc UX tốt sẽ mang lại hiệu quả làm việc cho lãnh đạo nhà trường. Ngoài ra, sự phối hợp của CMHS với nhà trường cũng mang lại những kết quả tích cực cho hành vi UX của HS.

Năm 1985, Viện nghiên cứu thế giới của Nhật Bản đã chú trọng nghiên cứu thanh niên của 11 quốc gia với lứa tuổi từ 15-24 tuổi. Tiếp theo đó, Viện khảo sát xã hội châu Âu nghiên cứu trên Thanh niên 10 nước Châu Âu. Cả hai cuộc điều tra này đều đề cập đến vấn đề định hướng lối sống và GD VHUX cho Thanh niên nhằm giúp họ chuẩn bị bước vào cuộc sống.

Giao tiếp và ứng xử đã từng được nhiều nhà khoa học, nhiều tác giả đề cập tới như: J. Hoben (1954) – “Các lý thuyết giao tiếp người”, Hybels Richard L.Weaver (1992) – “Làm thế nào để giao tiếp hiệu quả”, Brandon Toropov (Hương Lan biên dịch, 2001) “Nghệ thuật giao tiếp hữu hiệu nơi công sở”… Các công trình nghiên cứu tiếp cận vấn đề giao tiếp từ góc độ lý thuyết, vai trò của giao tiếp trong quan hệ giữa người với người, kỹ năng giao tiếp trong các hoạt động …

Tác giả Nguyễn Minh Phụng (2009), đã phân tích một số biểu hiện tiêu cực của văn hóa học đường hiện nay. Đó là, học sinh sử dụng ngôn ngữ giao tiếp chưa văn hóa; Bạo lực học đường phát triển. Chỉ từ những biểu hiện nhỏ cũng có thể dẫn tới bạo lực, chính giáo viên cũng trở thành nạn nhân của bạo lực học đường, không chỉ có nam học sinh dùng bạo lực mà có cả nữ học sinh; Vấn đề tình cảm khác giới trong nhà trường (yêu đương vội vàng ảnh hưởng xấu đến học tập). Tác giả đã đề cập đến một số nguyên nhân của những hành vi chưa văn hóa này như: tác động của hội nhập quốc tế và kinh tế thị trường; thay đổi giá trị sống, chủ nghĩa cá nhân,… Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử ở học sinh.

Nguyễn Thanh Tuấn (2008) – “Văn hóa ứng xử Việt Nam nay”, Lê Thị Bừng (1997) – “Tâm lý học ứng xử”, Trần Thị Thu Nhung (2016) – “Văn hóa ứng xử của gia đình trẻ trong quá trình đô thị hóa ở Hà Nội hiện nay”, Lê Thùy dung (2013) – “Tìm hiểu về văn hóa ứng xử trong công ty cổ phần du lịch và thương mại Phương Đông”. Trần Trọng Thuỷ trong công trình nghiên cứu về giao tiếp đã đưa ra các kỹ năng giao tiếp sau: Biết cách ứng xử tế nhị; biết im lặng đúng lúc; biết tự kiềm chế; biết lắng nghe…Các tài liệu nghiên cứu chủ yếu về thực trạng văn hóa ứng xử của con người Việt Nam, cách ứng xử cá văn hóa, tìm hiểu về văn hóa ứng xử trong công ty, trong gia đình… Tác giả Nguyễn Minh (2009), khi phân tích về văn hóa học đường ở Việt Nam hiện nay đã cho rằng văn hóa học đường là khung cảnh sư phạm, môi trường sư phạm, giao tiếp và ứng xử học đường. Các giá trị cơ bản của văn hóa học đường gồm: các giá trị cơ bản, các chuẩn mực đạo đức, các mẫu hành của các thành viên (lãnh đạo, giáo viên học sinh, cán bộ nhân viên,…). Tác giả này cũng chỉ ra những hạn chế của văn hóa học đường hiện nay như: Học sinh mặc dù mặc đồng phục nhưng nói năng văng tục, chửi bậy, gọi thầy cô là ông này, bà nọ, thiếu tôn trọng thầy cô. Nạn bạo lực học đường gia tăng, xẩy ra liên tục. Nữ sinh ăn mặc chưa đứng đắn. Trong thi cử thì quay cóp, thi hộ,… Một số hành vi bạo lực mà trước đây không xuất hiện như học trò, phụ huynh đánh thầy. Trong nghiên cứu của mình tác giả cũng đưa ra một số yếu cầu để xây dựng văn hóa học đường ở nước ta hiện nay như: Tăng quá trình tự học trong nhà trường, nâng cao kiến thức, kỹ năng sư phạm của người thầy, tăng cường giáo dục đạo đức cho học sinh, chú trọng văn hóa ứng xử trong nhà trường, chú ý ăn mặc của thầy giáo và học sinh. Giáo dục những giá trị truyền thống tốt đẹp cho học sinh.

Văn hóa ứng xử là một biểu hiện của giao tiếp, là sự phản ứng của con người trước sự tác động của người khác với mình trong một tình huống nhất định được thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng của con người nhằm đạt kết quả tốt trong mối quan hệ giữa con người với nhau. Văn hóa ứng xử chính là những đặc điểm tính cách của cá nhân được thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, lời nói của từng cá nhân trong giao tiếp xã hội (Báo giáo dục TP Hồ Chí Minh, 2019).

Quản lý hoạt động giáo dục VHUX cho học sinh nói chung, học sinh THCS nói riêng là một trong những hướng nghiên cứu về quản lý giáo dục. Các nghiên cứu trên thế giới và trong nước như trình bày, cho học sinh ở nhiểu khía cạnh khác nhau, và đã đề xuất những biện pháp cần thiết và khả thi.

Nhìn chung, các đề tài nghiên cứu của các nhà khoa học chủ yếu tập trung nghiên cứu biện pháp, quy trình giáo dục văn hóa ứng xử, đã có nhiều đóng góp trong việc xây dựng cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục VHUX trên các đối tượng sinh viên, con người, học sinh nói chung, vợ chồng, học sinh THPT. Đây chính là nền tảng quý báu để tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài này. Tuy nhiên, chưa có một công trình nào nghiên cứu sâu về biện pháp quản lý giáo dục VHUX học sinh THCS.

1.2 Các khái niệm của đề tài Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử ở học sinh.

1.2.1 Khái niệm quản lý

Kozlova O.V và Kuzenetsov I.N (1976) cho rằng: “Quản lý là sự tác động có mục đích đến những tập thể con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình sản xuất”. Nguyễn Ngọc Quang (1989) “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”. Trần Kiểm (1997) “Quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội”.

Từ điển tiếng Việt thông dụng, thuật ngữ “quản lý” được định nghĩa là “Tổ chức điều khiển hoạt động của một dơn vị, cơ quan”.

Theo Trần Quốc Thành: “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí quản lý, phù hợp với quy luật khách quan”.

1.2.2 Khái niệm quản lý giáo dục Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử ở học sinh. 

Theo M.I.Kônđacốp (1984) “QLGD là tập hợp những biện pháp: tổ chức, phương pháp cán bộ, kế hoạch hóa,… nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống GD để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt chất lượng cũng như số lượng”. P.V.Khuđôminxky (1995) “QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến các khâu của hệ thống (Từ Bộ đến Trường), nhằm mục đích đảm bảo việc GD Cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, bảo đảm sự phát triển toàn diện và hài hòa của họ”.

Nguyễn Ngọc Quang (1998) cho rằng “QLGD là một hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lí GD của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, GD thế hệ trẻ, đưa GD tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”. Mục đích cuối cùng của QLGD là tổ chức quá trình GD có hiệu quả để đào tạo lớp thanh niên thông minh, sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và biết phấn đấu của bản thân và của xã hội (Phạm Viết Vượng, 2003).

Theo tác giả Nguyễn Kì và Bùi Trọng Tuân, hai Ông quan niệm: Quản lý GD là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát, … một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội (Trần Kiểm, 2011). Một số nhà khoa học khác lại quan niệm: Quản lý giáo dục thật chất là tác động một cách khoa học đến nhà trường làm cho nó tổ chức được tối ưu quá trình dạy học, GD thể chất theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, quán triệt được những tính chất trường THPT ã hội chủ nghĩa Việt Nam, bằng cách đó tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái chất lượng mới (Những khoa học quản lý, 1976).

Mặc dù các tác giả có quan niệm khác nhau và cách giải thích khác nhau về quản lý GD. Ong điểm chung của các khái niệm trên thể hiện ở tất cả các khái niệm đều có chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, mục đích và mục tiêu quản lý, kế hoạch tổ chức thực hiện và tất cả nhằm thực hiện chung mục tiêu là phát triển hệ thống giáo dục.

1.2.3 Khái niệm quản lý nhà trường

Quản lý nhà trường chính là tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý, đến tất cả các mặt của đời sống nhà trường, nhằm đảm bảo sự vận hành tối ưu về các mặt kinh tế – xã hội, tổ chức sư phạm của quá trình dạy học và GD thế hệ trẻ và thực hiện tốt sứ mạng của nhà trường (Phạm Minh Hạc, 1986). Quản lý nhà trường là quản lý vi mô, nó là một hệ thống con của quản lý vĩ mô: QLGD, quản lý nhà trường có thể hiểu là một chuỗi tác động hợp lý (có mục đích, tự giác, hệ thống, có kế hoạch) mang tính tổ chức – sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể GV và HS, đến những lực lượng GD trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ cùng cộng tác, phối hợp, tham gia vào mọi hoạt động của nhà trường nhằm làm cho quá trình này vận động tối ưu để đạt được những mục tiêu dự kiến (Hồ Văn Liên, 2007). Theo Luật giáo dục (2015): Mục tiêu của giáo dục THCS là nhằm giúp học sinh cũng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học, có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động. Quản lý trường THCS là quản lý, lãnh đạo hoạt động dạy của GV, hoạt động học của HS, hoạt động phục vụ dạy – học của cán bộ, nhân viên và các điều kiện phục vụ dạy – học trong nhà trường nhằm đạt được mục tiêu của giáo dục THCS. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử ở học sinh.

Tác giả Nguyễn Hữu Nguyên (2009), đã phân tích một số biểu hiện tiêu cực của văn hóa học đường, chỉ ra nguyên nhân, hệ quả và các giải pháp khắc phục. Về khái niệm văn hóa học đường, tác giả cho rằng văn hóa học đường là môi trường vật chất và môi trường tinh thần tốt cho hoạt động dạy và học. Tác giả đã chỉ ra một số hiện tượng tiêu cực của văn hóa học đường hiện nay là: Về văn hóa chất, việc đầu tư cho xây dựng trường ở nhiều nơi chưa đúng mức. Chi phí cho xây dựng nhà trường còn rất khiêm tốn. Một số trường lớp còn đơn sơ, học sinh thiếu lớp học phải học theo ca. Đồ dùng học tập thiếu so với yêu cầu học tập của học sinh, nhà trường thiếu phòng thí nghiệm. Ở một số địa phương con đường đến trường còn chưa đảm bảo an toàn, nhất là ở các địa phương miền núi. Sự bất cập về cơ sở vật chất này của nhà trường làm hạn chế hiệu quả, chất lượng dạy và học, hạn chế sự phát triển của các trường.Về văn hóa tinh thần, biểu hiện đáng lo ngại nhất là không ít giáo viên trình độ chuyên môn hạn chế, thiếu kiến thức và kỹ năng sư phạm, chậm đổi mới phương pháp giảng dạy. Một bộ phận giáo viên thiếu đạo đức nghề nghiệp, bắt học sinh phải học thêm, xúc phạm danh dự và thân thể của học sinh. Trong nhiều nhà trường tồn tại bệnh thành tích. Điều này làm giảm chất lượng giáo dục của nhà trường, tác động xấu đến sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Tình trạng kinh doanh giáo dục tồn tại ở một số trường có vốn đầu tư nước ngoài, các trường dân lập làm hạ thấp văn hóa nhà trường.

Tóm lại, quản lý nhà trường phổ thông nói chung và trường THCS nói riêng là việc người hiệu trưởng xây dựng xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra đánh giá các kết quả đạt được so với yêu cầu và chuẩn mực đề ra trong chương trình GD và nhiệm vụ năm học về chất lượng phát triển toàn diện nhân cách của HS. Quản lý nhà trường tập trung vào việc nâng cao chất lượng GD mà trọng tâm là quản lý các hoạt động dạy học và GD diễn ra trong nhà trường, trên lớp học và các hoạt động ngoài nhà trường. Trong luận văn này, tác giả đi sâu nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục VHUX cho học sinh ở các trường THCS huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Đây là một nội dung trong quản lý hoạt động dạy học, giáo dục của trường THCS.

1.2.4 Giáo dục văn hóa ứng xử Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử ở học sinh.

Khái niệm văn hóa

Theo từ điển Tiếng Việt, Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. Ứng xử là có thái độ, hành vi, lời nói thích hợp khi tiếp xúc với người xung quanh. Theo nhiều tác giả, ứng xử là các hành động (cả hành động vật chất và hành động tinh thần) của con người nhằm ứng phó và xử lí trong các tình huống tác động của thiên nhiên, xã hội và người khác đối mình. Theo UNESCO (2002) cho rằng: Văn hóa là tổ hợp các đặc điểm tinh thần, vật chất, trí tuệ, tình cảm nổi bật của xã hội hay nhóm xã hội, bao hàm cả nghệ thuật, văn học, lối sống, cùng với đường đời, hệ giá trị, truyền thống và niềm tin. UNESCO cũng đưa ra khái niệm rất khái quát về văn hóa: Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần. Theo tác giả Thái Duy Tuyên: Văn hóa là những giá trị vật chất và tinh thần của nhân loại, là kinh nghiệm của lịch sử xã hội loài người đã được hệ thống hóa, tích lũy lại qua nhiều thế kỷ và có thể truyền lại cho các thế hệ sau. Theo các tác giả M.T. Cicero, Samuel Von Pufendorf, A.Adler, J.A. Keller cho rằng: Văn hóa là những gì do con người tạo nên, đối lập với trạng thái tự nhiên.

Tác giả M. Mead cho rằng: Văn hóa là những cái xung quanh chúng ta do con người tạo nên. Theo tác giả Trần Ngọc Thêm cho rằng: Văn hoá là một bộ phận không thể tách rời của cuộc sống và nhận thức của các cá nhân và các cộng đồng. Văn hoá là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỉ, các hoạt động tạo ấy đã hình thành nên một hệ giá trị, các truyền thống và các thị hiếu- những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc.

Theo tác giả Hoàng Quốc Đạt (2018) Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần đã được hệ thống hóa, tích lũy lại qua thời gian và có thể truyền lại cho các thế hệ sau. Văn hóa gồm hai thành tố cơ bản: các giá trị vật chất (văn hóa vật chất – văn hóa vật thể) và các giá trị tinh thần (văn hóa tinh thần- văn hóa phi vật thể). Đối với mỗi nền văn hóa khác nhau, mỗi dân tộc và quốc gia khác nhau có các giá trị văn hóa khác nhau. Các giá trị này phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, môi trường, vào sự phát triển kinh tế – xã hội của các dân tộc, các quốc gia, vào lịch sử phát triển của dân tộc và các quốc gia đó.

Khái niệm ứng xử Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử ở học sinh.

Theo Phan Xuân Dũng (2018) Xét trên bình diện nhân cách thì bản chất của ứng xử chính là những đặc điểm tính cách của cá nhân được thể hiện ra thành thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng của con người trong quan hệ giữa con người với nhau và giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội.

Khái niệm văn hóa ứng xử

Văn hóa ứng xử trong nhà trường (còn gọi là các hành vi ứng xử văn hóa) là những biểu hiện hoạt động của mỗi cá nhân (hoặc nhóm người), được thể hiện ở lối sống, nếp sống, suy nghĩ, sự giao tiếp và cách ứng xử của con người đối với bản thân, với những người xung quanh, trong công việc và môi trường hoạt động giáo dục hằng ngày.

Văn hóa ứng xử là một biểu hiện của giao tiếp, là sự phản ứng của con người trước sự tác động của người khác với mình trong một tình huống nhất định được thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng của con người nhằm đạt kết quả tốt trong mối quan hệ giữa con người với nhau. Văn hóa ứng xử chính là những đặc điểm tính cách của cá nhân được thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, lời nói của từng cá nhân trong giao tiếp xã hội (Báo giáo dục TP Hồ Chí Minh, 2019). Văn hóa ứng xử là hành vi giao tiếp và đối nhân xử thế ở đời. Nó thể hiện mức độ học vấn và nhận thức cá nhân, suy rộng ra là của một cộng đồng dân tộc. Qua đó mà thấy được xã hội văn minh hay lạc hậu như thế nào (Minh Văn, 2015).

Văn hóa ứng xử trong nhà trường (còn gọi là các hành vi ứng xử văn hóa) là những biểu hiện hoạt động của mỗi cá nhân, được thể hiện ở lối sống (Phạm Thị Trang , 2014).

Từ các khái niệm trên, tác giả khái niệm VHUX như sau: “VHUX là một biểu hiện của giao tiếp, thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng của con người nhằm đạt kết quả tốt trong mối quan hệ giữa con người với nhau”.

Khái niệm giáo dục

Tác giả Phạm Thị Lệ Nhân (2015) cho rằng: Hoạt động giáo dục của nhà giáo dục (theo nghĩa hẹp) được tổ chức theo kế hoạch, chương trình hoạt động, nhằm hình thành nhân sinh quan, phẩm chất đạo đức, đồng thời bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ và phát triển thể chất cho học sinh lồng ghép vào hệ thống tác động sư phạm tới tư tưởng, tình cảm, lối sống của học sinh cùng kết hợp với các biện pháp giáo dục của gia đình và xã hội để phát huy những mặt tốt, khắc phục được những mặt hạn chế, tiêu cực trong suy nghĩ và hành động của các em. Giáo dục (theo nghĩa hẹp) là một bộ phận của hoạt động giáo dục tổng thể nhằm tổ chức, hướng dẫn người được giáo dục hình thành thế giới quan khoa học tư tưởng chính trị, đạo đức, thẩm mỹ, lao động, phát triển thể lực, những hành vi và thói quen ứng xử đúng đắn của cá nhân trong xã hội.

Tác giả Trần Thị Hương, Nguyễn Đức Danh, Hồ Văn Liên, Ngô Đình Qua (2015) cho rằng: Giáo dục (theo nghĩa hẹp) là hoạt động trong đó, dưới tác động chủ đạo của nhà giáo dục, người được giáo dục tự giác, tích cực, chủ động tự giáo dục nhằm hình thành và phát triển những phẩm chất, nhân cách phù hợp với yêu cầu của xã hội.

Khái niệm hoạt động giáo dục VHUX cho học sinh trung học cơ sở Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử ở học sinh.

Quản lý xây dựng văn hóa trường trung học cơ sở là sự tác động có định hướng, có mục đích, có hệ thống thông tin của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm tạo ra hoặc gìn giữ, phát triển các giá trị vật chất và các giá trị tinh thần của nhà trường để thực hiện mục tiêu giáo dục và truyền lại cho các thế hệ sau.(Hoàng Quốc Đạt, 2018)

Từ khái niệm về VHUX, quản lý xây dựng văn hóa trường THCS, tác giả luận văn có thể định nghĩa hoạt động giáo dục VHUX cho học sinh trung học cơ sở như sau: hoạt động giáo dục VHUX là hoạt động dưới sự tác động của nhà trường, gia đình và xã hội học sinh THCS tự giác, tích cực, chủ động tự giáo dục nhằm hình thành và phát triển những phẩm chất, nhân cách phù hợp với yêu cầu của xã hội.

Trong định nghĩa này, học sinh THCS là người học từ lớp 6 đến lớp 9 ở cấp THCS. Tuổi của học sinh THCS từ 11 đến 15 tuổi. Nhà trường là bao gồm: CBQL, GV, nhân viên, học sinh khác, các tổ chức Đoàn, Đội, Hội. Gia đình là các bậc CMHS, xã hội là các tổ chức chính quyền địa phương, bằng các phương pháp dạy học và giáo dục giúp cho các em tự giác, tích cực, chủ động tự giáo dục nhằm hình thành và phát triển những phẩm chất, nhân cách cần thiết trong cuộc sống đặc biệt là có thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng nhằm đạt kết quả tốt trong mối quan hệ giữa con người với nhau.

1.2.5 Khái niệm quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh trường THCS

Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh trường THCS là cách mà nhà quản lý GD sử dụng chức năng quản lý tác động đến hoạt động GD VHUX nhằm hoàn thiện VHUX cho HS ở cấp học này.

Trong khái niệm này, nhà quản lý GD gồm: Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng, tổ trưởng, tổ phó. Chức năng quản lý bao gồm: xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá hoạt động GDVHUX cho học sinh THCS. Hoạt động GDVHUX cho HS thì bao gồm: mục đích, nội dung, phương pháp, hình thức, phương tiện và điều kiện hoạt động GDVHUX. (Hoàng Quốc Đạt, 2018)

1.3 Lý luận về hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh trường THCS Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử ở học sinh.

1.3.1 Mục tiêu giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh trường THCS

Mục tiêu của GD VHUX cho học sinh THCS là nhằm hình thành hệ thống kỹ năng ứng xử, góp phần phát triển toàn diện nhân cách học sinh.

Quyết định số số 1299/QĐ-TTg ngày 03 tháng 10 năm 2018 của Thủ tướng chính phủ về phê duyệt đề án “Xây dựng văn hóa ứng xử trong trường học giai đoạn 2018 – 2025” nêu rõ:

Mục tiêu chung:

Tăng cường xây dựng văn hóa ứng xử trong trường học nhằm tạo chuyển biến căn bản về ứng xử văn hóa của cán bộ quản lý, nhà giáo, nhân viên, học sinh, sinh viên để phát triển năng lực, hoàn thiện nhân cách, lối sống văn hóa; xây dựng văn hóa trường học lành mạnh, thân thiện; nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo; góp phần xây dựng con người Việt Nam: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo.

Mục tiêu cụ thể:

  • 100% trường học xây dựng và thực hiện bộ quy tắc ứng xử trong trường học theo quy định quy tắc ứng xử do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, phù hợp với điều kiện và đặc trưng vùng miền của mỗi nhà trường;
  • Hằng năm có ít nhất 90% cán bộ quản lý, nhà giáo, nhân viên, học sinh, sinh viên được tuyên truyền, phổ biến, học tập các vấn đề liên quan đến văn hóa ứng xử, môi trường văn hóa trong gia đình, nhà trường và cộng đồng;
  • Có ít nhất 90% cán bộ quản lý, nhà giáo, nhân viên, cán bộ Công đoàn giáo dục, Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên, Đội Thiếu niên trong nhà trường được bồi dưỡng nâng cao năng lực ứng xử văn hóa và có năng lực tốt trong tổ chức giáo dục văn hóa ứng xử trong trường học;
  • Có ít nhất 90% trường học đạt tiêu chuẩn xanh, sạch, đẹp, an toàn, lành mạnh, thân thiện, góp phần xây dựng môi trường văn hóa trong nhà trường.

Như vậy, giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh trường THCS nhằm tạo chuyển biến căn bản về ứng xử văn hóa của học sinh để phát triển năng lực, hoàn thiện nhân cách, lối sống văn hóa; xây dựng văn hóa trường học lành mạnh, thân thiện; nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo; góp phần xây dựng con người Việt Nam: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo. HS được tuyên truyền, phổ biến, học tập các vấn đề liên quan đến văn hóa ứng xử. Đảm bảo trường học đạt tiêu chuẩn xanh, sạch, đẹp, an toàn, lành mạnh, thân thiện, góp phần xây dựng môi trường văn hóa trong nhà trường.

1.3.2 Nội dung của giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh trường THCS Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử ở học sinh.

Ở lứa tuổi THCS, các em có nhiều nhu cầu khác nhau: học tập, vui chơi, tìm tòi cái mới, giao tiếp với thầy cô, bạn bè và người khác, tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao, các hoạt động xã hội… Do đó, các em cần được GD VHUX và nội dung GD VHUX phải phù hợp với lứa tuổi và đặc điểm tâm lý của học sinh.

Theo Quyết định số số 1299/QĐ-TTg ngày 03 tháng 10 năm 2018 của Thủ tướng chính phủ về phê duyệt đề án “Xây dựng văn hóa ứng xử trong trường học giai đoạn 2018 – 2025” có nêu:

Bổ sung, hoàn thiện nội dung giáo dục văn hóa ứng xử trong các hoạt động giáo dục, trong chương trình giáo dục phổ thông, lựa chọn các nội dung giáo dục văn hóa ứng xử, lối sống văn hóa có giá trị và phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, tình cảm của học sinh; giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật, giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống và các hoạt động trải nghiệm để hình thành các phẩm chất nhân ái, tự trọng bản thân, tôn trọng, trách nhiệm với bạn bè, chia sẻ, bao dung của người học.

Xây dựng quy định, hướng dẫn cụ thể trong thực hiện nếp sống, thói quen văn minh, lịch sự đối với các chủ thể trong trường học, như: văn hóa xếp hàng nơi công cộng, triển khai nguyên tắc tự giáo dục (tự phục vụ) trong các hoạt động liên quan (thư viện, căng tin, trực nhật…). Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử ở học sinh.

1.3.3 Phương pháp giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh trường THCS

Phương pháp giáo dục là cách thức hoạt động phối hợp thống nhất của nhà GD và người được GD, được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của nhà GD nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ GD phù hợp với mục đích GD (Trần Thị Hương, 2015)

Theo Quyết định số số 1299/QĐ-TTg ngày 03 tháng 10 năm 2018 của Thủ tướng chính phủ về phê duyệt đề án “Xây dựng văn hóa ứng xử trong trường học giai đoạn 2018 – 2025” có nêu: Đổi mới phương pháp dạy học các môn học: Đạo đức, Giáo dục công dân, Giáo dục chính trị, Ngữ văn, Lịch sử…, theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học. Trong đó, đặc biệt coi trọng phương pháp trải nghiệm, các hoạt động giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp, ứng xử văn hóa của người học; giáo dục kiến thức pháp luật, giáo dục công dân. Thực hiện hiệu quả công tác tư vấn tâm lý học sinh.

Do đó, phương pháp GD VHUX phải phù hợp với mục tiêu và nội dung GD VHUX cho học sinh THCS. Sử dụng các phương pháp lồng ghép vào các môn học, hoạt động ngoại khóa, hoạt động của Đội Thiếu niên, Đoàn Thanh niên, tiết sinh hoạt lớp, NGLL…

1.3.4 Hình thức giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh trường THCS

Bên cạnh phương pháp thì hình thức GD VHUX cũng là một yếu tố quan trọng không thể thiếu trong việc truyền tải nội dung đến học sinh hiệu quả và tích cực nhất. Vì vậy để học sinh có thể tiếp thu kiến thức, hình thành và phát triển VHUX hiệu quả cần có những hình thức giáo dục phù hợp, phù hợp với đặc điểm tâm lý học sinh, phù hợp với hoàn cảnh của nhà trường.

Theo Quyết định số số 1299/QĐ-TTg ngày 03 tháng 10 năm 2018 của Thủ tướng chính phủ về phê duyệt đề án “Xây dựng văn hóa ứng xử trong trường học giai đoạn 2018 – 2025” có nêu:

  • Đa dạng hóa hình thức giáo dục văn hóa ứng xử thông qua các hoạt động tập thể, các câu lạc bộ, cuộc thi, diễn đàn, tọa đàm, đối thoại…; đặc biệt phát huy vai trò hướng dẫn về ứng xử văn hóa của các học sinh khóa trên, đội ngũ cán bộ lớp, chi đoàn đối với các học sinh khóa sau.
  • Phát huy vai trò của tổ chức Đoàn, Hội, Đội, tổ chức đa dạng hình thức giáo dục ứng xử văn hóa, thể hiện tinh thần yêu nước, tôn trọng giá trị lịch sử truyền thống văn hóa tốt đẹp cho học sinh, sinh viên thông qua hoạt động hát Quốc ca, Lễ chào cờ Tổ quốc và các hoạt động tập thể.
  • Tăng cường tổ chức các hoạt động giáo dục góp phần trong công tác thi đua xây dựng trường học văn hóa, văn hóa ứng xử, thực hiện nếp sống văn minh, lịch sự trong cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên, học sinh thiết thực, thường xuyên, hiệu quả trong mỗi năm học. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử ở học sinh.
  • Khuyến khích học sinh, sinh viên tham gia tuyên truyền về trường học văn hóa, những hành vi ứng xử đẹp, phê phán hành vi chưa đẹp của những người xung quanh; nâng cao thẩm mỹ, nghệ thuật cho học sinh, sinh viên thông qua các hoạt động giáo dục và quan tâm đến các sự kiện thời sự – chính trị của đất nước, quốc tế.
  • Tạo cơ chế để học sinh, sinh viên phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo trong học tập, rèn luyện và tham gia giám sát các hoạt động nhà trường, việc thực hiện văn hóa ứng xử và dân chủ trong trường học; ngăn chặn các hành vi vi phạm quy tắc ứng xử văn hóa trong trường học.
  • Tăng cường giáo dục, định hướng để học sinh, sinh viên sử dụng hiệu quả công nghệ thông tin mạng xã hội trong học tập, rèn luyện, hướng nghiệp, khởi nghiệp, giải trí lành mạnh và thể hiện ứng xử văn hóa trong môi trường mạng Internet, các mạng xã hội; thực hiện nghiêm Luật An ninh mạng.

1.4 Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh trường THCS

Nghiên cứu nội dung quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh của luận văn dựa trên cách tiếp cận chức năng quản lý. Dựa theo cách tiếp cận này, quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh trung học cơ sở có các nội dung sau: Lập kế hoạch; Tổ chức thực hiện; Chỉ đạo, điều phối thực hiện; Kiểm tra, đánh giá.

1.4.1 Lập kế hoạch quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh

Hiệu trưởng nhà trường cùng với Phó Hiệu trưởng và bộ phận chức năng lập được kế hoạch quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh. Theo Hoàng Quốc Đạt (2018) cho thấy lập kế hoạch quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh thể hiện ở các khía cạnh sau:

Đây là hoạt động giáo dục được thực hiện thông qua việc tích hợp – lồng ghép vào một số môn học trên lớp và thông qua các hoạt động NGLL, vì vậy, kế hoạch hoạt động của các hoạt động giáo dục này cũng được tích hợp vào kế hoạch của các tổ chuyên môn và tích hợp vào kế hoạch hoạt động NGLL. Việc lập kế hoạch quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh phải đáp ứng được các yêu cầu sau : Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử ở học sinh.

Kế hoạch quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh qua những nội dung phù hợp được tích hợp vào kế hoạch chung của nhà trường, trong sự phối hợp với kế hoạch của các bộ phận khác trong nhà trường như kế hoạch dạy – học, kế hoạch hoạt động ngoại khóa, kế hoạch ngoài giờ lên lớp, kê hoạch chuyên đề

Kế hoạch chỉ rõ các mốc thời gian, các nội dung chính về quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh, có lịch hoạt động cho toàn trường, từng khối lớp theo năm học, học kỳ, tháng và hàng tuần. Kế hoạch cân đối từ đầu năm học đến cuối năm học và trong hè.

Xây dựng kế hoạch tuyên truyền về những nội dung cần trong công tác quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh.

Xây dựng kế hoạch tập huấn cho giáo viên và cán bộ nhà trường về những nội dung về quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh.

Xây dựng kế hoạch tập huấn kĩ năng phối hợp với các lực lượng khác ở địa phương tham gia vào việc phát huy những nội dung phù hợp trong quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh (ủy ban nhân dân thị trấn; phòng giáo dục và đào tạo; các tổ chức chính trị xã hội tại huyện Phú Giáo).

  • Xây dựng kế hoạch phối hợp với cha mẹ học sinh trong việc quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh.
  • Xây dựng kế hoạch kiểm tra, thanh tra về việc phát huy những nội dung quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh.

1.4.2 Tổ chức thực hiện quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh

Sau khi kế hoạch quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh đã được thực hiện xong, Hiệu trưởng cần tổ chức bộ máy để thực hiện nhiệm vụ quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh trong nhà trường. Đây là khâu quan trọng của quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh. Bởi vì, bất cứ một hoạt động nào khi tiến hành thực hiện cũng cần phải có con người cụ thể, các bộ phận cụ thể để thực hiện các nhiệm vụ. Bên cạnh công việc tổ chức bộ máy thực hiện nhiệm vụ quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh thì chủ thể quản lý nhiệm vụ này cần phải tổ chức các hoạt động cụ thể. Các nội dung này sẽ được phân tích cụ thể dưới đây (Hoàng Quốc Đạt, 2018):

  • Hiệu trưởng thành lập các bộ phận của nhà trường chịu trách nhiệm chính trong việc quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử ở học sinh.
  • Hiệu trưởng huy động tất cả giáo viên và cán bộ nhà trường tham gia vào việc quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh.
  • Hiệu trưởng huy động tối đa nỗ lực của các giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, tổ chuyên môn, tổ chủ nhiệm, phối hợp với tổ chức Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh trong việc quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh.
  • Phối hợp với các lực lượng bên ngoài xã hội nhằm nâng cao vai trò của các tổ chức chính trị – xã hội trong trường trong việc quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh.
  • Huy động tối đa sự tham gia của các tổ chức xã hội tại địa phương trong việc quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh…

1.4.3 Chỉ đạo thực hiện hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh

Nghiên cứu của Hoàng Quốc Đạt (2018) nhận ra rằng chỉ đạo thực hiện hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh gồm những nội dung sau:

  • Hiệu trưởng ra quyết định triển khai các hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh. Chỉ đạo hoạt động của các bộ phận chịu trách nhiệm chính trong việc quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh như: hoạt động của các tổ chuyên môn, tổ chủ nhiệm, bộ phận giám thị, bảo vệ, thư viện, thiết bị, các đoàn thể trong nhà trường…. Phối hợp với các lực lượng xã hội như cha mẹ học sinh, chính quyền địa phương …
  • Hiệu trưởng hướng dẫn giáo viên, cán bộ, học sinh nhà trường, các lực lượng liên quan lựa chọn nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh.
  • Hiệu trưởng chỉ đạo đổi mới về mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức xây dựng những nội dung giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh.
  • Hiệu trưởng hướng dẫn giáo viên, cán bộ, học sinh nhà trường, các lực lượng liên quan lựa chọn tài liệu về xây dựng những nội dung giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh.
  • Hiệu trưởng chỉ đạo các bộ phận bố trí thời gian hợp lí cho việc thực hiện những nội dung giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh..
  • Hiệu trưởng chỉ đạo chuẩn bị và sử dụng các thiết bị, phương tiện vật chất phục vụ cho hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử ở học sinh.

1.4.4 Kiểm tra, đánh giá việc giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh.

Hoạt động kiểm tra, đánh giá là không thể thiếu được trong quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh. Nó góp phần quan trọng đối với hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh. Khi hiệu trưởng thường xuyên kiểm tra, đánh giá giáo viên, học sinh, nhân viên của nhà trường thì hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh sẽ được thực hiện tốt, đáp ứng được mục tiêu đề ra. Trái lại, khi Hiệu trưởng thiếu sâu sát, ít kiểm tra thì việc quản lý giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh sẽ không đồng bộ, chất lượng, hiệu quả thấp.

Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch kiểm tra các hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh trong nhà trường sau khi phê duyệt kế hoạch giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh. Trong kế hoạch kiểm tra nêu rõ đối tượng kiểm tra, thời gian kiểm tra, nội dung kiểm tra. Hiệu trưởng tổ chức kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh được thể hiện ở các khía cạnh cụ thể sau (Hoàng Quốc Đạt, 2018):

  • Kiểm tra hoạt động của các bộ phận chịu trách nhiệm chính trong việc quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh qua các biên bản họp và kế hoạch triển khai công việc thường xuyên, kiểm tra trên cơ sở đánh giá hiệu quả công việc của bộ phận này.
  • Hiệu trưởng tổ chức kiểm tra tiến độ thực hiện kế hoạch giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh của các tổ chuyên môn thông qua việc họp tổ, dự giờ, kiểm tra khi tiến hành kiểm tra nội bộ nhà trường.
  • Hiệu trưởng tổ chức kiểm tra việc phối hợp các lực lượng trong giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh.
  • Hiệu trưởng tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả về những nội dung hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh.
  • Hiệu trưởng tổ chức kiểm tra việc sử dụng các nguồn lực nhằm phát huy những nội dung phù hợp trong giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh.
  • Hiệu trưởng tổ chức báo cáo kết quả kiểm tra, rút kinh nghiệm về những hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh…

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh trường THCS

1.5.1 Các yếu tố khách quan Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử ở học sinh.

  • Giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn

Trong quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh, giáo viên chủ nhiệm có vai trò không thể thiếu. Ở cấp trung học cơ sở, giáo viên chủ nhiệm có ảnh hưởng lớn và trực tiếp đến học sinh. Giáo viên chủ nhiệm là người quản lý và dạy trực tiếp học sinh. Do vậy, giáo viên chủ nhiệm đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhận thức, thái độ và hành vi của học sinh trong học tập nói nói chung và trong giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh nói riêng.

Giáo viên chủ nhiệm cũng là người phổ biến và yêu cầu học sinh thực hiện các chuẩn mực của nhà trường, các nội quy, quy tắc ứng xử trong nhà trường nói riêng và thực hiện các quy định của pháp luật nói chung. Thái độ, hành vi và cách giao tiếp hàng ngày của học sinh ảnh hưởng trực tiếp đến giáo dục văn hóa ứng xử của học sinh nhà trường, phản ánh nhiều nhất đến văn hóa ứng xử của học sinh trong nhà trường.

Cùng với giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn cũng có ảnh hưởng lớn đến học sinh. Thông qua môn học của mình, giáo viên bộ môn đồng thời vừa truyền đạt đến học sinh tri thức, kỹ năng của môn học và vừa giáo dục học sinh các chuẩn mực đạo đức, những hành vi ứng xử mang tính văn hóa.

Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh trường THCS thì tổ chức Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh có ảnh hưởng lớn đến giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh. Tổ chức này là người tập hợp, giáo dục học sinh về quan điểm, lối sống, hình thành ở học sinh những hành vi có văn hóa. Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh cũng là người giúp Hiệu trưởng, chi bộ triển khai kế hoạch hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử của học sinh, đánh giá các hành vi của học sinh trong thực hiện các chuẩn mực ứng xử của nhà trường, cũng như các chuẩn mực pháp luật nói chung.

Các quy định của Nhà nước, của Bộ Giáo dục và Đào tạo Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử ở học sinh.

Trong những năm qua Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách về giáo dục và đào tạo. Bởi lẽ, giáo dục được Đảng và Nhà nước coi là quốc sách hàng đầu của đất nước. Các chủ trương, chính sách này trực tiếp hoặc gián tiếp đều liên quan đến xây dựng văn hóa nhà trường và quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh trong nhà trường như:

Thứ nhất, Luật giáo dục sửa đổi (2005), có nhiều điều quy định tạo điều kiện để xây dựng con người văn hóa trong nhà trường. Trong điều về giáo dục phổ thông (Điều 27) chỉ rõ:“Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Thứ hai, Quy định về đạo đức nhà giáo tại Quyết định số 16/2008/QĐ – BGDDT ngày 16/4/2008 của Bộ GD & ĐT. Việc quy định những tiêu chuẩn về đạo đức của nhà giáo nhằm hình thành những cách ứng xử mô phạm của người thầy trong không gian của nhà trường, cũng như ngoài nhà trường. Đây là yếu tố quan trọng trong quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh. Vì người thầy có ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi ứng xử của học sinh.

Thứ ba, một văn bản có liên quan trực tiếp nhất và được ban hành trong thời gian gần đây là Công văn số 282/BGĐT – CTHSSV về việc đẩy mạnh xây dựng văn hóa nhà trường (ban hành ngày 25/1/2017). Trong công văn này cũng chỉ rõ những hạn chế của việc xây dựng văn hóa nhà trường; chỉ ra những nhiệm vụ, giải pháp về quản lý để xây dựng văn hóa nhà trường, trong đó nhấn mạnh đến “Bộ quy tắc ứng xử văn hóa” trong trường học; chỉ ra yêu cầu và cách thức xây dựng khẩu hiệu trong trường học.

Thứ tư, Quyết định 1299/QĐ-TTg 2018 ngày 03 tháng 10 năm 2018 phê duyệt Đề án “Xây dựng văn hóa ứng xử trong trường học giai đoạn 2018-2025” mục tiêu của Công văn nhằm tăng cường xây dựng văn hóa ứng xử trong trường học tạo chuyển biến căn bản về ứng xử văn hóa của cán bộ quản lý, nhà giáo, nhân viên, học sinh, sinh viên để phát triển năng lực, hoàn thiện nhân cách, lối sống văn hóa; xây dựng văn hóa trường học lành mạnh, thân thiện; nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo; góp phần xây dựng con người Việt Nam: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo. Đây là một cơ sở pháp lý để Hiệu trưởng nhà trường triển khai hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại trường của mình.

  • Cơ sở vật chất nhà trường: Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử ở học sinh.

Việc quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh, phụ thuộc một phần vào điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường như kinh phí, phòng học, phòng làm việc, không gian học tập và sinh hoạt của học sinh, cơ sở hạ tầng của nhà trường, các trang thiết bị, đồ dùng học tập,…Nếu không có những điều kiện cơ sở vật chất này thì cũng không thể xây dựng được văn hóa nhà trường nói chung và văn hóa ứng xử cho học sinh nói riêng.

Khi nhà trường có cơ sở vật chất quy củ, khang trang thì việc xây dựng các giá trị tinh thần của văn hóa ứng xử cũng thuận lợi vì mọi người từ giáo viên đến học sinh phải có ý thức học tập, hành vi ứng xử tích cực.

Khi nhà trường có cơ sở vật chất quy củ, khang trang thì việc quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh của Hiệu trưởng có nhiều thuận lợi. Trái lại, khi cơ sở vật chất của nhà trường nghèo nàn, khó khăn thì việc quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh gặp nhiều hạn chế trong việc hình thành môi trường học tập, sinh hoạt, giao tiếp, vui chơi… cho các em

  • Truyền thống văn hóa của nhà trường:

Truyền thống văn hóa có ảnh hưởng lớn đến quản lý giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh. Bởi vì, truyền thống văn hóa là những giá trị tinh thần được các thế hệ thầy và trò trước đó xây dựng, giữa gìn. Các thế hệ thầy trò hiện tại kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp này. Hiệu trưởng nhà trường khi quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh cần kế thừa, phát huy các truyền thống văn hóa của nhà trường, coi đó là cơ sở, là điểm tựa để giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh của nhà trường trong thời điểm hiện tại. Trong quá trình quản lý giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh nhà trường hiệu trưởng cần dựa vào truyền thống văn hóa của nhà trường để quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh.

  • Gia đình học sinh (Ông bà, cha mẹ)

Gia đình có ảnh hưởng lớn đến hình thành hành vi ứng xử của học sinh. Thông qua giáo dục, thông qua truyền thống văn hóa của gia đình, thông qua việc kiểm soát học sinh, gia đình mà trước hết là cha mẹ, ông bà hình thành hành vi ứng xử văn hóa cho trẻ em. Đó là cách ứng xử lễ phép, sự trung thực, trách nhiệm của học sinh trong quan hệ với thày cô giáo, với bạn bè và trong học tập hàng ngày. Ngày nay trong bối cảnh của cơ chế thị trường, nhiều cha mẹ không có nhiều thời gian quan tâm chăm sóc và giáo dục con cái, ít có thời gian kiểm soát hành vi của con cái nên những hành vi lệch chuẩn của học sinh gia tăng. Điều này ảnh hưởng đến hành vi ứng xử của học sinh tại nhà trường, gây nhiều khó khăn cho công tác quản lý giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh của Hiệu trưởng.

  • Sự phối hợp của các lực lượng xã hội: Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử ở học sinh.

Quản lý giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh đòi hỏi phải sử dụng tổng hợp các giải pháp từ các lực lượng trong nhà trường (giáo viên, cán bộ và học sinh) đến các lực lượng xã hội ở địa phương. Chính vì vậy, trong quản lý giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh, Hiệu trưởng cần biết kết hợp được một số lực lượng xã hội, trước hết là Đội thiếu niên Tiền Phong, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội cha mẹ học sinh; Hội phụ nữ địa phương, Hội cựu chiến binh ở địa phương (xã/ phường), Hội người cao tuổi (xã/phường) Hội khuyến học (xã/phường,…). Các lực lượng xã hội này có thể đóng góp cho nhà trường ý tưởng, nhân lực, kinh phí để nhà trường xây dựng cơ sở vật chất, tổ chức các hoạt động giáo dục học sinh.

  • Địa bàn dân cư nơi nhà trường làm việc:

Địa bàn dân cư nơi nhà trường làm việc có ảnh hưởng lớn đến quản lý giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh. Chính quyền địa phương (phường, tổ dân phố, thôn/xóm) tạo điều kiện cho nhà trường về đất đai, không gian hoạt động, về cơ sở hạ tầng (đường đi), bảo đảm trật tự giao thông cho học sinh đi học, cho phụ huynh đưa đón học sinh. Ở các địa bàn dân cư nơi có trường trung học cơ sở là ở đó dẫn tới tắc nghẽn giao thông, các hoạt động kinh doanh, các tiệm Net, tiệm game, thậm chí các tệ nạn xã hội. Điều này ảnh hưởng tiêu cực đến học sinh, đến quản lý giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh. (Nguyễn Hoàng Như, 2018)

1.5.2 Các yếu tố chủ quan Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử ở học sinh.

Công tác quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh ở các trường THCS ngoài việc chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố khách quan thì còn chịu tác động rất lớn bởi các yếu tố chủ quan. Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng tới hiệu quả công tác quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh ở trường THCS bao gồm:

Nhận thức của cán bộ quản lý về tầm quan trọng của công tác quản lý giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh đối với việc GD toàn diện HS:

Hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh chịu sự ảnh hưởng rất lớn của yếu tố chủ quan của chủ thể quản lý, trong đó trước hết là nhận thức về tầm quan trọng của công tác quản lý giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh đối với việc GD toàn diện cho HS.

  • Năng lực và kinh nghiệm quản lý của hiệu trưởng:

Trong bối cảnh hiện nay, những người đứng đầu các trường học không chỉ cần có chuyên môn sư phạm giỏi mà còn phải có tư duy lãnh đạo, quản lý sáng tạo, luôn chấp nhận sự thay đổi, nếu một ngày không có sự thay đổi nào coi như không phát triển. Hiệu trưởng phải vận động, thuyết phục và tập hợp được cán bộ, giáo viên, học sinh trong quản lý giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh. Đây là một trong những điều kiện quyết định của thành công trong quản lý giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh. Bởi lẽ, khi có kế hoạch, chủ trương đúng, nhưng không được giáo viên, cán bộ và học sinh nhà trường ủng hộ và thực hiện thì mọi chủ trương, kế hoạch đều nằm trên giấy tờ, không đi vào thực tiễn. Hiệu trưởng cũng là người triển khai thực hiện các chính sách, chế độ đãi ngộ cán bộ, giáo viên của Đảng và Nhà nước, đồng thời Hiệu trưởng cũng là người quyết định các vấn đề về đãi ngộ của nhà trường đối với cán bộ, giáo viên.

  • Trình độ tay nghề của GV: Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử ở học sinh.

Trong quản lý quản lý giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh thì yếu tố trình độ năng lực của người thầy ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả công tác quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh. Người thầy ngoài việc cần có phẩm chất đạo đức, tác phong gương mẫu, chuẩn mực thì không những phải có năng lực trình độ tốt, đáp ứng cho việc dạy tốt môn học mà còn có khả năng, bản lĩnh để giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh. Trình độ, năng lực của người thầy thể hiện ở trình độ học vấn, năng lực thực hành, năng lực sư phạm và năng lực tổ chức điều hành hoạt động dạy học, hoạt động giáo dục và tổ chức các hoạt động ngoại khóa. Do khoa học kỹ thuật không ngừng phát triển, do phương pháp dạy học không ngừng cải tiến, người thầy cần phải thường xuyên được tiếp tục đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để đáp ứng yêu cầu không ngừng nâng cao chất lượng học sinh.

Nếu các chủ thể quản lý nhận thức đúng và đầy đủ về công tác GD sẽ có hành vi quản lý sâu sát và quan tâm đầy đủ tới sự chuẩn bị các yếu tố trong công tác quản lý giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh như kế hoạch, chương trình, giáo án, sân bãi, phương tiện dạy học, quá trình giảng dạy của GV và quá trình học tập của HS… Ngược lại, nếu nhận thức chưa đầy đủ hoặc có ý thức coi nhẹ công tác quản lý giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh thì sẽ làm giảm hiệu quả quản lý (Nguyễn Hoàng Như, 2018) Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử ở học sinh.

Tiểu kết Chương 1

HS THCS là lứa tuổi có sự biến đổi lớn về thể chất cũng như tinh thần, là giai đoạn các em đang hoàn thiện dần về đạo đức cũng như kỹ năng. Việc giáo dục VHUX cho HS THCS là hết sức cần thiết, bởi vì VHUX không chỉ góp phần hình thành nhân cách của các em mà còn giúp các em có đủ bản lĩnh, tự tin, kinh nghiệm để giải quyết các tình huống xảy ra trong đời sống hằng ngày và trong học tập. VHUX cũng chính là phương tiện để các em mở rộng giao tiếp với nhiều người nhất là khi các em tốt nghiệp THCS, có đủ bản lĩnh để học tiếp THPT hoặc phân luồng học nghề. Và nó cũng là phương tiện để các em dễ hòa nhập vào cộng đồng xã hội trong giai đổi mới, hội nhập quốc tế như hiện nay. Ngoài ra có thể nói VHUX của HS THCS là thước đo về chất lượng giáo dục của nhà trường và gia đình nói chung, chất lượng của công tác quản lý hoạt động GD VHUX cho HS nói riêng. Do đó, cần phải nâng cao hiệu quả hoạt động GD VHUX cho HS trong trường THCS . Tính hiệu quả đó thể hiện qua việc tổ chức lồng ghép các nội dung GD VHUX cho HS vào các môn học, tiết sinh hoạt lớp, NGLL, hoạt động của Đội TNTP, Đoàn TNCS HCM và các lực lượng giáo dục khác.

Quản lý hoạt động GD VHUX cho HS trường trung học cơ sở là sự tác động có định hướng, có mục đích, có hệ thống thông tin của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm tạo ra hoặc gìn giữ, phát triển các giá trị vật chất và các giá trị tinh thần của nhà trường để thực hiện mục tiêu giáo dục và truyền lại cho các thế hệ sau.

Nghiên cứu quản lý hoạt động GD VHUX cho HS trường trung học cơ sở của luận văn dựa trên tiếp cận chức năng quản lý. Dựa theo cách tiếp cận này, quản lý hoạt động GD VHUX cho HS trường trung học cơ sở có các nội dung sau: Lập kế hoạch; Tổ chức thực hiện; Chỉ đạo, điều phối thực hiện; Kiểm tra, đánh giá hoạt động GD VHUX cho HS trường trung học cơ sở.

Trong chương 1, kế thừa kết quả nghiên cứu đi trước cũng như mục đích nghiên cứu của luận văn. Tác giả luận văn đã trình bày các khái niệm và khái quát hóa lý luận về hoạt động và quản lý hoạt động GD VHUX cho HS THCS, các yếu tố chủ quan và các yếu tố khách quan như: Hiệu trưởng, Giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn; Tập thể học sinh; Đội TNTP; Các quy định của Nhà nước, của Bộ GD & ĐT; Cơ sở vật chất của nhà trường; truyền thống văn hóa của nhà trường; Gia đình học sinh (Ông bà, cha mẹ); Sự phối hợp của các lực lượng xã hội có ảnh hưởng tới quản lý xây dựng văn hoá nhà trường.

Kết quả nghiên cứu của chương 1 sẽ là cơ sở quan trong để luận văn tiếp tục triển khai nghiên cứu chương 2 của luận văn. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử ở học sinh.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hóa ứng xử ở học sinh

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
2 Comments
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử ở học sinh […]

Hai
Hai
1 tháng trước

Luận văn trên của tác giả nào vậy ad?

2
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993