Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện thân thiện tại trường tiểu học

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện thân thiện tại trường tiểu học hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động thư viện thân thiện tại trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT

Hiện nay, mọi người sống trong một thế giới hiện đại, luôn chuyển động, sự hình thành năng lực, kĩ năng của con người đều phải thông qua quá trình tiếp nhận và xử lí thông tin. Trong các phương tiện hỗ trợ con người thực hiện quá trình ấy chính là sách, tài liệu tham khảo…Có thể nói, sự hình thành đạo đức, nhân cách và phẩm giá của con người một phần là do đọc sách. Văn chương hướng con người tới Chân- thiện- mĩ, giúp con người hoàn thiện nhân cách để trở nên hữu ích cho xã hội.

Trong nhà trường, thư viện đóng vai trò quan trọng hỗ trợ cho giáo viên và học sinh trong việc giảng dạy và học tập. Theo Nghị Định số 72/2002/NĐ-CP ngày 06 tháng 8 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành pháp lệnh thư viện: “Thư viện của các trường trong hệ thống giáo dục phổ thông có nhiệm vụ xây dựng vốn tài liệu đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập của người dạy và người học”, và trong quyết định số 10/2013/QĐ-BVHTT ngày 04/5/2013 của Bộ Văn hoá – Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) về Phê duyệt quy hoạch phát triển ngành Thư viện Việt Nam đến năm 2016 và định hướng đến năm 2026, mục tiêu phát triển chủ yếu cho thư viện trường phổ thông được xác định: “Thư viện trường học phải thực sự trở thành nguồn lực trung tâm của trường học; Thư viện trường học phải đảm bảo thông tin tài liệu cho chương trình học tập, giúp mở rộng kiến thức mọi mặt của các em, hình thành ở các em tính độc lập trong việc đọc, việc học; biết cách thu nhận, phân tích thông tin để hình thành kiến thức mới. Học ở lớp sẽ được củng cố bằng việc đọc (học) ở thư viện trường học” (Bộ Văn hoá – Thông tin v, ngày 04/5/2013). Bộ Giáo dục và Đào tạo đánh giá cao vai trò của thư viện trường học, điều đó thể hiện tại Điều 7-Thông tư số 47/2018/TT-BGDĐT ngày 07 tháng 12 năm 2018, quy định rõ: “Có thư viện theo tiêu chuẩn quy định về tổ chức và hoạt động của thư viện trường học”, nghĩa là một trong những tiêu chuẩn để đánh giá trường phổ thông đạt chuẩn là thư viện của trường đó phải đạt chuẩn. Như vậy, thư viện ở một trường phổ thông đạt chuẩn không phải chỉ xét về điều kiện cơ sở vật chất, về số lượng đầu sách báo,… Một thư viện trường học phát triển tốt hay không phụ thuộc phần lớn vào công tác quản lý hoạt động thư viện ở trường đó. Thực tế cho thấy vai trò của người hiệu trưởng là rất quan trọng trong vấn đề quản lý, chỉ đạo, kiểm tra hoạt động thư viện trong một nhà trường. Phải quản lý như thế nào để thư viện ở trường đó hoạt động đạt hiệu quả? Quản lý như thế nào để nâng cao chất lượng hoạt động thư viện thân thiện, phát huy vai trò tích cực của thư viện đối với công tác dạy học và giáo dục trong nhà trường.

Thư viện là trái tim của nhà trường” là bộ phận không thể thiếu trong trường học.Thư viện thân thiện góp phần hình thành và phát triển thói quen đọc sách của học sinh từ những những cấp học sớm nhất thông qua các hoạt động phong phú, hấp dẫn, gợi sự tò mò của các em từ đó thúc đẩy các em yêu thích sách và say mê đọc sách.

Thư viện thân thiện hỗ trợ các em trong học tập thông qua thúc đẩy sự tích cực của các em trong các hoạt động và chủ động tìm kiếm, phám khá thông tin, kiến thức mới để phục vụ bài học và làm giàu kiến thức của bản thân. Thư viện trường học thân thiện giúp học sinh hình thành kỹ năng tư duy, kỹ năng sử dụng ngôn ngữ, kỹ năng tìm kiếm, xử lý thông tin, phát triển khả năng sáng tạo, tưởng tượng phong phú của học sinh em và các kỹ năng xã hội khác

Thư viện thân thiện giúp các em tìm hiểu về văn hóa địa phương, từ đó khuyến khích niềm hứng thú và niềm tự hào của các em về quê hương, đất nước mình Thư viện thân thiện giúp các em giải trí với những cuốn sách yêu thích của mình trong thời gian rảnh rỗi. Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện thân thiện tại trường tiểu học.

Thư viện thân thiện mang lại hữu ích cho giáo viên vì họ có các nguồn tài nguyên, tài liệu trong thư viện để hoàn thiện kiến thức của mình để chuẩn bị cho bài giảng phong phú hơn và giải đáp các thắc mắc của học sinh. Từ các nguồn tài liệu sẵn có trong thư viện, giáo viên có thể ra các bài tập, yêu cầu học sinh sử dụng thư viện và khai khác các thông tin ở đó đề hoàn thành bài học của mình.

Từ đó, học sinh được khuyến khích học tập độc lập và chủ động trong việc tìm kiếm thông tin đồng thời hình thành thói quen tự học.

Mục tiêu của nghiên cứu đề tài này nhằm nâng cao “Quản lý hoạt động thư viện thân thiện tại trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát tỉnh Bình Dương” dựa trên cơ sở lý thuyết và thực trạng trong công tác quản lý hoạt động này. Những biện pháp mà tác giả đề xuất được trưng cầu ý kiến của tất cả các phiếu hỏi. Cụ thể như sau: Tổng số phiếu phát ra 400 phiếu, thu về 400 phiếu gồm: CBQL: 35 phiếu; GV: 115 phiếu; HS: 250 phiếu ở 15 trường Tiểu học trên địa bàn Thị xã Bến Cát .

Với những phương pháp nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đã chỉ ra một số hạn chế thiếu sót của việc xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá trong công tác quản lý hoạt động thư viện thân thiện tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát tỉnh Bình Dương từ đó đề xuất một số biện pháp hữu hiệu, bao gồm:

  • Nâng cao nhận thức về ý nghĩa hoạt động thư viện thân thiện ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương;
  • Chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động thư viện thân thiện ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương ;
  • Các điều kiện phục vụ các hoạt động thư viện thân thiện ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương;
  • Tổ chức hiệu quả hoạt động của tổ cộng tác viên thư viện, chú trọng xây dựng và tổ chức tốt mạng lưới cộng tác viên trong giáo viên, học sinh, kết hợp chặt chẽ với các đoàn thể trong nhà trường và Hội cha mẹ học sinh;

Các biện pháp đề xuất trên được đánh giá cao tính khả thi và cần thiết khi thực hiện thực tiễn trong công tác quản lý hoạt động thư viện thân thiện tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát tỉnh Bình Dương.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ 4.0, kinh tế tri thức và quá trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến sự phát triển ở nhiều quốc gia. Đảng tiếp tục khẳng định với Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2019: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội”. Nghị quyết cũng đã đề ra những nhiệm vụ, giải pháp, trong đó có giải pháp “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Nhiệm vụ của người giáo viên là giáo dục, giảng dạy để giúp học sinh phát huy tính tích cực, sáng tạo, chủ động chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện thói quen tự tìm tòi, tự học, có khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Một nơi lý tưởng nhất để tự tìm tòi lượng kiến thức vô cùng phong phú, đó chính là thư viện. Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện thân thiện tại trường tiểu học.

Trong nhà trường, thư viện đóng vai trò quan trọng hỗ trợ cho giáo viên và học sinh trong việc giảng dạy và học tập. Theo Nghị Định số 72/2002/NĐ-CP ngày 06 tháng 8 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành pháp lệnh thư viện: “Thư viện của các trường trong hệ thống giáo dục phổ thông có nhiệm vụ xây dựng vốn tài liệu đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập của người dạy và người học”, và trong quyết định số 10/2013/QĐ-BVHTT ngày 04/5/2013 của Bộ Văn hoá – Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) về Phê duyệt quy hoạch phát triển ngành Thư viện Việt Nam đến năm 2016 và định hướng đến năm 2026, mục tiêu phát triển chủ yếu cho thư viện trường phổ thông được xác định: “Thư viện trường học phải thực sự trở thành nguồn lực trung tâm của trường học; Thư viện trường học phải đảm bảo thông tin tài liệu cho chương trình học tập, giúp mở rộng kiến thức mọi mặt của các em, hình thành ở các em tính độc lập trong việc đọc, việc học; biết cách thu nhận, phân tích thông tin để hình thành kiến thức mới. Học ở lớp sẽ được củng cố bằng việc đọc (học) ở thư viện trường học”. Bộ Giáo dục và Đào tạo đánh giá cao vai trò của thư viện trường học, điều đó thể hiện tại Điều 7- Thông tư số 47/2018/TT-BGDĐT ngày 07 tháng 12 năm 2018, quy định rõ: “Có thư viện theo tiêu chuẩn quy định về tổ chức và hoạt động của thư viện trường học”, nghĩa là một trong những tiêu chuẩn để đánh giá trường phổ thông đạt chuẩn là thư viện của trường đó phải đạt chuẩn. Như vậy, thư viện ở một trường phổ thông đạt chuẩn không phải chỉ xét về điều kiện cơ sở vật chất, về số lượng đầu sách báo,… Một thư viện trường học phát triển tốt hay không phụ thuộc phần lớn vào công tác quản lý hoạt động thư viện ở trường đó. Thực tế cho thấy vai trò của người hiệu trưởng là rất quan trọng trong vấn đề quản lý, chỉ đạo, kiểm tra hoạt động thư viện trong một nhà trường. Phải quản lý như thế nào để thư viện ở trường đó hoạt động đạt hiệu quả? Quản lý như thế nào để nâng cao chất lượng hoạt động thư viện thân thiện, phát huy vai trò tích cực của thư viện đối với công tác dạy học và giáo dục trong nhà trường.

Thư viện thân thiện theo hướng tiếp cận lấy quyền trẻ em là nền tảng cho mọi hoạt động nhằm hướng tới đáp ứng quyền trẻ em và nhấn mạnh tới sự tham gia của học sinh. Theo hướng tiếp cận này, học sinh trong trường tiểu học có cơ hội tham gia vào các bước xây dựng Thư viện thân thiện tại trường của mình từ khâu lập kế hoạch, thực hiện, giám sát và đánh giá. Ngoài ra tất cả các hoạt động trong thư viện đều hướng tới đáp ứng quyền phát triển về trí tuệ cũng như về thể chất của các em. Thư viện thân thiện được dựa trên các quyền trẻ em cụ thể là quyền tiếp cận với thông tin bổ ích, hưởng một nền giáo dục phù hợp để phát triển mọi tiềm năng của học sinh.

Phát triển thư viện thân thiện nhằm đáp ứng quyền tiếp cận thông tin, tiếp cận giáo dục của học sinh. Qua đó, các em được tiếp cận với sách, báo, tạp chí để tìm hiểu về thế giới xung quanh và thế giới bên ngoài. Trong Công ước LHQ về Quyền trẻ em, ta có thể hiểu việc xây dựng thư viện thân thiện trong trường học là trách nhiệm, nghĩa vụ của “người lớn” nhằm thực hiện các quyền của các em và học sinh em là đối tượng hưởng lợi từ các quyền của mình.

Thư viện thân thiện góp phần hình thành và phát triển thói quen đọc sách của học sinh từ những những cấp học sớm nhất thông qua các hoạt động phong phú, hấp dẫn, gợi sự tò mò của các em từ đó thúc đẩy các em yêu thích sách và say mê đọc sách.

Thư viện thân thiện hỗ trợ các em trong học tập thông qua thúc đẩy sự tích cực của các em trong các hoạt động và chủ động tìm kiếm, phám khá thông tin, kiến thức mới để phục vụ bài học và làm giàu kiến thức của bản thân. Thư viện trường học thân thiện giúp học sinh hình thành kỹ năng tư duy, kỹ năng sử dụng ngôn ngữ, kỹ năng tìm kiếm, xử lý thông tin, phát triển khả năng sáng tạo, tưởng tượng phong phú của học sinh em và các kỹ năng xã hội khác

Thư viện thân thiện giúp các em tìm hiểu về văn hóa địa phương, từ đó khuyến khích niềm hứng thú và niềm tự hào của các em về quê hương, đất nước mình Thư viện thân thiện giúp các em giải trí với những cuốn sách yêu thích của mình trong thời gian rảnh rỗi Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện thân thiện tại trường tiểu học.

Thư viện thân thiện mang lại hữu ích cho giáo viên vì họ có các nguồn tài nguyên, tài liệu trong thư viện để hoàn thiện kiến thức của mình để chuẩn bị cho bài giảng phong phú hơn và giải đáp các thắc mắc của học sinh. Từ các nguồn tài liệu sẵn có trong thư viện, giáo viên có thể ra các bài tập, yêu cầu học sinh sử dụng thư viện và khai khác các thông tin ở đó đề hoàn thành bài học của mình. Từ đó, học sinh được khuyến khích học tập độc lập và chủ động trong việc tìm kiếm thông tin đồng thời hình thành thói quen tự học

Trên thực tế hiện nay một số trường tiểu học trên địa bàn Thị xã Bến Cát vẫn còn xem nhẹ công tác thư viện, chưa có sự quan tâm đúng mức về các hoạt động của thư viện nhà trường. Thư viện hiện nay khá mang tính hình thức, để cho có. Khi có đoàn kiểm tra thì các trường mới thật sự chú ý. Các đầu sách trong thư viện hiện nay cũng không đáp ứng được nhu cầu của học sinh cũng như cán bộ công nhân viên trong nhà trường. Vì vậy, với mong muốn tìm hiểu nhu cầu thực tế cũng như có các giải pháp nhằm đáp ứng yêu cầu hiện nay, đặc biệt là một thư viện thân thiện là điều cần thiết. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực cho thư viện có nơi chỉ làm công tác kiêm nhiệm, Cán bộ thư viện có nơi chỉ làm công tác kiêm nhiệm, cán bộ quản lý còn thiếu sự chỉ đạo và quản lý chặt chẽ về công tác này, hoặc quản lý còn lỏng lẻo dẫn đến hiệu quả hoạt động thư viện chưa cao. Với nhận thức sâu sắc về vai trò quan trọng của thư viện trường tiểu học, trên cơ sở nghiên cứu thực tế về quản lý thư viện và hướng đến mục tiêu thư viện phát huy hơn nữa chức năng hỗ trợ giáo dục toàn diện trong nhà trường, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Quản lý hoạt động thư viện thân thiện tại trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát tỉnh Bình Dương” làm luận văn tốt nghiệp của mình. Với mong muốn tìm ra các giải pháp phát triển thư viện thân thiện tại thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương ngày càng phát triển mạnh và đáp ứng yêu cầu thực tế yêu cầu đổi mới giáo dục ngày nay.

2. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận về quản lý hoạt động thư viện thân thiện và khảo sát thực trạng quản lý hoạt động thư viện thân thiện tại trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, đề tài đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thư viện thân thiện ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu

  • Hoạt động thư viện thân thiện ở trường tiểu học

3.2. Đối tượng nghiên cứu

  • Quản lý hoạt động thư viện thân thiện ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

4. Nhiệm vụ nghiên cứu

Hệ thống hóa lý luận về hoạt động thư viện thân thiện và quản lý hoạt động thư viện thân thiện ở các trường tiểu học;

Tìm hiểu và phân tích thực trạng hoạt động thư viện thân thiện và quản lý hoạt động thư viện thân thiện ở trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương;

Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động thư viện thân thiện ở các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

5. Giả thuyết khoa học Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện thân thiện tại trường tiểu học.

Thư viện nhà trường có vai trò quan trọng góp phần trong việc giáo dục toàn diện học sinh trong nhà trường. Công tác quản lý hoạt động thư viện thân thiện ở các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã đạt được những kết quả trong việc giảng dạy và học tập của học sinh góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, khẳng định uy tín thương hiệu nhà trường. Tuy nhiên, công tác quản lý hoạt động thư viện thân thiện ở các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương vẫn còn một số bất cập trong việc chỉ đạo, kiểm tra và đánh giá hoạt động thư viện. Nếu khảo sát, đánh giá đúng được thực trạng quản lý hoạt động thư viện thân thiện ở các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương thì sẽ đề xuất được biện pháp quản lý hoạt động thư viện thân thiện ở các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương có tính cần thiết và khả thi cao, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động thư viện thân thiện ở các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

6. Phạm vi nghiên cứu

6.1. Về nội dung

Đề tài khảo sát thực trạng quản lý hoạt động thư viện thân thiện tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương dưới sự điều hành, lãnh đạo của hiệu trưởng nhà trường.

Các hoạt động thư viện trường học thân thiện có rất nhiều, ví dụ như: xây dựng vốn tài liệu; xử lý tài liệu; tổ chức bộ máy tra cứu; tổ chức tài liệu; bảo quản tài liệu; kiểm kê, thanh lọc tài liệu; tổ chức dịch vụ thư viện; biên soạn ấn phẩm thông tin thư viện; hoạt động truyền thông, vận động; thống kê thư viện.

6.2. Không gian

  • Trường Tiểu học trên địa bàn Bến Cát, tỉnh Bình Dương

6.3. Về thời gian

Đề tài khảo sát thực trạng trong thời gian từ khoảng thời gian 2 năm học trở lại đây là có thể đánh giá cơ bản thực trạng tại địa bàn nghiên cứu. Năm học 2023-2024 và năm học 2024-2025.

6.4. Giới hạn khách thể khảo sát Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện thân thiện tại trường tiểu học.

Cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh lớp 5 Trường Tiểu học trên địa bàn Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

7.1. Phương pháp luận

  • Quan điểm hệ thống – cấu trúc

Quan điểm hệ thống – cấu trúc nghiên cứu hiện tượng một cách toàn diện, trên nhiều mặt, dựa vào việc phân tích đối tượng thành các bộ phận. Xác định mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố của hệ thống để tìm quy luật phát triển. Qua cách tiếp cận quan điểm này, người nghiên cứu tìm hiểu được mối liên hệ chặt chẽ giữa quản lý hoạt động thư viện thân thiện với quản lý cơ sở vật chất nhà trường và quản lý các hoạt động sư phạm khác ở nhà trường. Thông qua việc nghiên cứu, quan điểm hệ thống – cấu trúc giúp người nghiên cứu tìm hiểu chính xác thực trạng công tác quản lý hoạt động thư viện ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát Tỉnh Bình Dương.

  • Quan điểm lịch sử – logic

Tìm hiểu sự hình thành và phát triển của công tác quản lý hoạt động thư viện nói chung, quản lý hoạt động thư viện thân thiện tại trường tiểu học nói riêng trên thế giới, tại Việt Nam và trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Quan điểm này giúp người nghiên cứu xác định phạm vi không gian, thời gian và điều kiện hoàn cảnh cụ thể, để điều tra thu thập số liệu chính xác, đúng với mục đích nghiên cứu đề tài, trình bày công trình nghiên cứu theo một trình tự hợp lý.

  • Quan điểm thực tiễn

Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động thư viện thân thiện ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xuất phát từ thực tiễn của công tác quản lý hoạt động thư viện thân thiện tiểu học trên địa bàn tỉnh Bình Dương nói chung và thị xã Bến Cát nói riêng để tìm ra những tồn tại, khó khăn trong công tác quản lý hoạt động thư viện thân thiện ở các cơ sở giáo dục này. Từ đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản hoạt động thư viện thân thiện phù hợp với thực tiễn.

7.2. Các phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp nghiên cứu lý luận

Phương pháp này dùng để phân tích và tổng hợp sách báo và các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài; phân loại và hệ thống hoá những nội dung lý luận nói trên làm cơ sở lý luận về quản lý hoạt động thư viện thân thiện ở các trường tiểu học.

  • Các phương pháp thực tiễn
  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Mục đích điều tra: người nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi để thu thập số liệu, dữ liệu về thực trạng hoạt động thư viện thân thiện và công tác quản lý hoạt động thư viện thân thiện dưới sự điều hành lãnh đạo của hiệu trưởng các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện thân thiện tại trường tiểu học.

Nội dung điều tra: Thu thập thông tin về thực trạng công tác quản lý hoạt động thư viện thân thiện. Chúng tôi cũng dùng bảng hỏi để khảo sát tính cần thiết và khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động thư viện thân thiện ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương mà đề tài đề xuất.

Cách thức điều tra: Xây dựng mẫu phiếu hỏi dành cho đối tượng: Phiếu khảo sát dành cho cán bộ quản lý, nhân viên và giáo viên tại các trường tiểu học thuộc địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

Phương pháp phân tích hồ sơ, tài liệu, sản phẩm hoạt động (các hồ sơ quản lý, các nội quy, quy định, các kế hoạch, các báo cáo…)

Thu thập thông tin về hoạt động thư viện thân thiện và quản lý hoạt động thư viện thân thiện tại các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

  • Phương pháp phỏng vấn

Phỏng vấn ban giám hiệu, giáo viên về các nội dung liên quan đến đề tài.

  • Phương pháp thống kê toán học

Người nghiên cứu sử dụng phần mềm xử lý thống kê SPSS for Windows, phiên bản 20.0, excel 2019 để xử lý các thông tin thu thập được trong quá trình nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động thư viện thân thiện ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát Tỉnh Bình Dương.

8. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện thân thiện tại trường tiểu học.

Về lý luận: Đề tài góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận về công tác quản lý hoạt động thư viện thân thiện tại các trường tiểu học.

Về thực tiễn: Nhận xét, đánh giá đúng thực trạng hoạt động thư viện thân thiện và quản lý hoạt động thư viện thân thiện tại các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Từ đó đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động thư viện thân thiện có hiệu quả nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của các trường tiểu học trên địa bàn.

9. Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động thư viện thân thiện tại các trường tiểu học.
  • Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động thư viện thân thiện tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, Bình Dương.
  • Chương 3: Biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động thư viện thân thiện tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, Bình Dương.

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN THÂN THIỆN TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC

1.1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Trên thế giới

Trường học thân thiện là mô hình trường do Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) đề xướng từ những thập kỷ cuối của thế kỷ trước, và đã được triển khai có kết quả tốt ở nhiều nước trên thế giới.

Vào năm 1983 tại E-rê-van (Liên Xô cũ) đã diễn ra hội nghị khoa học thực tiễn về hiệu quả và chất lượng phục vụ thư viện- thư mục cho trẻ em và thiếu niên. Hội nghị do Bộ văn hóa Liên Xô, Bộ Văn hóa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Ac-mê-ni, Thư viện quốc gia Liên Xô mang tên V.I. Lênin, Thư viện thiếu nhi của nước Cộng hòa tổ chức. Những vấn đề được quan tâm trao đổi trong hội nghị là: Vai trò giáo dục của thư viện trong việc hình thành đời sống tinh thần của bạn đọc trẻ tuổi, lập trường sống tích cực, tính công dân, tình yêu quê hương, Tổ quốc, tình yêu lao động. Hội nghị đã khẳng định những ảnh hưởng của sách và thư viện trong quá trình trưởng thành về tinh thần và đạo đức của người công dân trẻ tuổi. (Văn Hải, 1986)

Claus Ulrich Werner (Giám đốc thư viện Đại học tự do Berlin, ủy viên Hội đồng xây dựng thư viện và lưu trữ – Viện Tiêu chuẩn Đức) trong bài viết “Thư viện với vai trò là không gian học tập và là nơi mọi người đều muốn đến” đã nghiên cứu về sự phát triển của thư viện trong thời đại hiện nay và đưa ra ý kiến nhận định: “Một trong những điều kỳ lạ có thể nói về thư viện là chúng đang trải qua một thời kỳ phục hưng trong kỷ nguyên kỹ thuật số”. Sự phục hưng này liên quan đến việc chuyển đổi thư viện từ vai trò là nơi lưu trữ sách trở thành không gian công cộng, một phòng khách của thành phố, một trung tâm học tập cho sinh viên, một “địa điểm thứ ba” và một cửa hàng phương tiện truyền thông phi thương mại. Ở nhiều nước châu Âu, thư viện có các tên mới để mô tả sự thay đổi vai trò và chức năng của thư viện như: “Trung tâm thông tin”, “Cửa hàng ý tưởng”, “Trung tâm truyền thông”. Trong bài viết của mình, tác giả đã chỉ ra rằng: “Ngày nay, người sử dụng thư viện thích được lựa chọn các không gian học tập và làm việc khác nhau, các kiểu ghế và bầu không khí khác nhau. Thư viện ngày nay cần phải được thiết kế đảm bảo rằng thư viện có thể vận hành tốt và làm tròn các chức năng của nó: là nơi học tập, giao tiếp và nghiên cứu” (Claus Ulrich Werner, 2020).

1.1.2. Trong nước Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện thân thiện tại trường tiểu học.

Ở Việt Nam, phối hợp với UNICEF, Bộ đã làm thí điểm nhiều năm nay ở 50 trường tiểu học và THCS (trong đó có một số trường ở TP.HCM). Từ kết quả thí điểm, Bộ chủ trương tiến hành đại trà trong năm học 2014 – 2015 ở tất cả các trường tiểu học và THCS trong toàn quốc, rồi “lan ra” tất cả các trường phổ thông cho tới năm 2019.

Tác giả Đoàn Thị Thu (Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, thành phố Hồ Chí Minh) nghiên cứu đề tài: “Vai trò của thư viện trường trong việc xây dựng và phát triển tủ sách lớp học ở các thư viện trường phổ thông” cho rằng: Xây dựng và phát triển tủ sách lớp học là động lực giúp thư viện trường phổ thông nâng cao hiệu quả hoạt động của mình, từng bước khẳng định được vai trò của thư viện trong hoạt động dạy và học ở trường phổ thông. Hiệu quả hoạt động của tủ sách lớp học phụ thuộc rất lớn vào mức độ tham gia của thư viện nhà trường. Để tủ sách lớp học thực sự hữu ích như mong muốn, cần nhất là trình độ và tâm huyết của người cán bộ thư viện trường phổ thông. (Đoàn Thị Thu, 2020)

Tác giả Nguyễn Thị Lan Thanh (Trường Đại học Văn hóa Hà Nội) đã đề cập đến những khái niệm về quản lý thư viện trong bài viết “Một số vấn đề về quản lý thư viện hiện đại” đăng trên tạp chí Thư viện Việt Nam số 5 (49) tháng 9 năm 2020 đã nêu lên các định nghĩa về quản lý thư viện và quản lý thư viện hiện đại. Sự giống nhau và khác nhau giữa quản lý thư viện truyền thống và quản lý thư viện hiện đại, khái quát một số nội dung quản lý thư viện hiện đại như: quản lý nguồn nhân lực thư viện, quản lý hoạt động chuyên môn, quản lý tài chính, quản lý cơ sở vật chất,..Theo tác giả, thư viện hiện đại là một loại thư viện được áp dụng những thành tựu mới nhất của khoa học kỹ thuật mà cụ thể là công nghệ thông tin. Dưới tác động của ứng dụng công nghệ thông tin, thư viện hiện đại có rất nhiều thay đổi: từ cơ cấu tổ chức, nguồn nhân lực cho đến cơ sở vật chất trang thiết bị. Thư viện hiện đại ngày nay có những cấp độ khác nhau với các tên gọi khác nhau như: thư viện đa phương tiện, thư viện điện tử, thư viện số,… Quản lý thư viện hiện đại rất cần người quản lý có các kiến thức về ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động thư viện và có kỹ năng thực hành phần mềm quản lý. Nói cách khác, quản lý thư viện hiện đại là hoạt động được chủ thể quản lý và đối tượng quản lý tự giác thực hiện nhằm đảm bảo đạt được mục tiêu của thư viện với sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật hiện đại. (Nguyễn Thị Lan Thanh, 2020).

Tác giả Đỗ Văn Hùng, Thái Thị Trâm (Khoa Thông tin – Thư viện, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội) nghiên cứu về thư viện ở khía cạnh khá mới; “Thư viện đại học trước xu thế sử dụng thiết bị di động trong học tập của sinh viên”..Nghiên cứu của hai tác giả nhận định: Hiện nay các thiết bị di động ngày càng trở nên quan thuộc và là một vật dụng không thể thiếu của giới trẻ, đặc biệt là sinh viên. Các thiết bị này đã và đang ảnh hưởng đến sinh viên trong hoạt động học tập. Bài viết đánh giá tình hình sử dụng thiết bị di động của sinh viên và phân tích các yếu tố tác động đến việc sử dụng các thiết bị này cho hoạt động học tập. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những khuyến nghị cho thư viện đại học trong việc nâng cao chất lượng hoạt động phục vụ đào tạo trong kỷ nguyên số và di động. (Đỗ Văn Hùng, Thái Thị Trâm, 2020).

1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện thân thiện tại trường tiểu học.

1.2.1. Khái niệm hoạt động thư viện

  • Thư viện:

Thư viện là kho sưu tập sách, báo và tạp chí. Tuy nó có thể chỉ đến kho sưu tập cá nhân của người riêng, nhưng nó thường chỉ đến nhà lớn sưu tập sách báo xuất bản được bảo quản bởi thành phố hay học viện hay nhận tiền góp của họ. Những nhà sưu tập này thường được sử dụng bởi những người không muốn (hay không có thể) mua nhiều sách cho mình. Tuy nhiên, tại vì giấy không còn là phương tiện duy nhất để lưu giữ thông tin, nhiều thư viện cũng sưu tập và cung cấp bản  đồ,  bản  thiết  kế  hay công  trình  nghệ  thuật khác, micrôphim (tiếngAnh: microfilm), vi phim (microfiche), băng cassette, CD, LP, băng video và DVD, và họ để người khác truy cập các cơ sở dữ liệu CD-ROM và Internet.

Định nghĩa mới nhất của UNESCO: Thư viện, không phụ thuộc vào tên gọi, là bất kì bộ sưu tập có tổ chức của sách, báo, tài liệu các loại, ấn phẩm định kì… Nhân viên thư viện có trách nhiệm tổ chức cho bạn đọc sử dụng tài liệu để nghiên cứu thông tin, giáo dục & giải trí.

Do đó, các thư viện hiện đại ngày càng trở thành nơi để truy cập thông tin vô hạn chế bằng nhiều định dạng và từ nhiều nguồn gốc. Gần đây hơn, các thư viện không còn chỉ là kiến trúc, họ cũng hỗ trợ tìm kiếm và phân tích rất nhiều kiến thúc dùng đủ loại thứ công cụ điện tử.

  • Thư viện thân thiện:

Thư viện thân thiện là nơi học sinh được khuyến khích và hỗ trợ cho việc đọc một cách tích cực trong một môi trường thân thiện và an toàn. Cán bộ thư viện, giáo viên, phụ huynh và cộng đồng cùng chung tay trong việc hướng trẻ em tham gia đọc với sự thích thú. Ở thư viện thân thiện, với những đầu sách và các hoạt động phù hợp với học sinh được tổ chức nhằm đảm bảo rằng tất cả học sinh, không phân biệt giới tính hay trình độ, đều được tham gia đọc và đọc tốt.

  • Hoạt động thư viện:

Là những hoạt động được thực hiện theo quy tắc, quy trình của nghiệp vụ thư viện, bao gồm: xây dựng vốn tài liệu; xử lý tài liệu; tổ chức bộ máy tra cứu; tổ chức tài liệu; bảo quản tài liệu; kiểm kê, thanh lọc tài liệu; tổ chức dịch vụ thư viện; biên soạn ấn phẩm thông tin thư viện; hoạt động truyền thông, vận động; thống kê thư viện.

1.2.2. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường tiểu học Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện thân thiện tại trường tiểu học.

  • Khái niệm quản lý:

Quản lý là một hoạt động được hình thành từ khi xã hội loài người có sự phân công lao động, con người có sự hợp tác với nhau hoặc cùng nhau hoạt động với những mục đích chung nào đó. Quản lý rất cần thiết cho tất cả mọi lĩnh vực hoạt động đời sống của con người. Ở đâu con người tạo lập nên nhóm xã hội là ở đó cần đến quản lý, dù đó là nhóm nhỏ, nhóm lớn, nhóm chính thức, nhóm không chính thức và bất kể nội dung hoạt động nhóm đó là gì. Có thể nói quản lý là một thuộc tính gắn liền với xã hội ở mọi giai đoạn phát triển của nó. K.Marx đã khẳng định: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất… Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”. (Nguyễn Văn Lê, 1983)

Điều đó cho thấy rằng hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công hợp tác lao động của xã hội loài người, nhằm đạt mục đích nhất định. Đây chính là hoạt động giúp cho người đứng đầu tổ chức phối hợp sự nỗ lực của các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng để đạt mục tiêu đề ra.

Hoạt động quản lý còn là hoạt động lao động để điều khiển lao động, một loại lao động có ý nghĩa tất yếu và vĩnh hằng với chức năng điều khiển mọi hoạt động xã hội về kinh tế, quân sự, chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục.

  • Có nhiều tác giả với những phát biểu khác nhau về quản lý, cụ thể như:

W.Taylor, người đầu tiên nghiên cứu quá trình lao động đã nêu: “Quản lý là một nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm như thế nào để đạt hiệu quả tốt nhất và rẻ nhất”. (Hà Sỹ Hồ, 1994)

H.Koonts cho rằng “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nhằm đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực cá nhân để đạt được những mục đích của nhóm. Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được những mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”. (Harol, 1994)

Nhà lý luận quản lý kinh tế người Pháp H.Fayon viết “Quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức điều khiển, phối hợp và kiểm tra”. (Nguyễn Thi Doan, 1996) Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện thân thiện tại trường tiểu học.

Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng “Quản lý là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: Quản và lý. Đó là hoạt động chăm sóc, giữ gìn (quản) và sửa sang, sắp xếp (lý) để cho cộng đồng theo sự phân công hợp tác lao động được ổn định và phát triển. (Đặng Quốc Bảo, 1997)

Tác giả Nguyễn Thị Liên Diệp cho rằng “Quản lý là một hoạt động cần thiết khi con người kết hợp với nhau trong các tổ chức, nhằm đạt được những mục tiêu chung. Như vậy, hoạt động quản lý là hoạt động chỉ phát sinh khi con người kết hợp với nhau thành một tập thể”. (Nguyễn Thị Liên Diệp, 1993)

Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng có thể hiểu:

  • Quản lý là một loại lao động để điều khiển lao động.
  • Quản lý là một hệ thống xã hội trên nhiều phương diện (Quản lý hành chính, Quản lý văn hóa, Quản lý sản xuất…)
  • Quản lý là một tổ hợp phương pháp tạo nên vận hành của hệ nhằm thực hiện các mục tiêu.
  • Quản lý tồn tại với tư cách là một hệ thống gồm hai phân hệ chủ thể quản lý và khách thể quản lý.
  • Đối tượng quản lý chủ yếu vẫn là con người.

Khi nói đến hoạt động quản lý và người quản lý cần khởi đầu từ khái niệm “tổ chức”. Do tính đa nghĩa của thuật ngữ này nên ở đây chúng ta chỉ nói đến tổ chức như một nhóm có cấu trúc nhất định những con người cùng hoạt động vì một mục đích chung nào đó mà để đạt được mục đích gì đó một con người riêng lẻ không thể đạt đến. Bất luận một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu và quy mô ra sao đều cần phải có sự quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích của mình.

Từ các định nghĩa được nhìn nhận từ nhiều góc độ, chúng ta thấy rằng tất cả các tác giả đều thống nhất về cốt lõi của khái niệm quản lý, đó là trả lời câu hỏi; Ai quản lý? (Chủ thể quản lý); Quản lý ai? Quản lý cái gì? (Khách thể quản lý); Quản lý như thế nào? (Phương thức quản lý); Quản lý bằng cái gì? (Công cụ quản lý); quản lý để làm gì? (Mục tiêu quản lý). Từ đó chúng ta có thể đưa ra định nghĩa:

Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý để chỉ huy, điều khiển, liên kết các yếu tố tham gia vào hoạt động thành một chỉnh thể thống nhất, điều hoà hoạt động của các khâu một cách hợp quy luật nhằm đạt đến mục tiêu xác định trong điều kiện biến động của môi trường.

Như vậy: Quản lý là hiện tượng tồn tại trong mọi chế độ xã hội. Bất kỳ ở đâu, lúc nào con người có nhu cầu kết hợp với nhau để đạt mục đích chung đều xuất hiện quản lý. Quản lý trong xã hội nói chung là quá trình tổ chức điều hành các hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu và yêu cầu nhất định dựa trên những quy luật khách quan. Xã hội càng phát triển, nhu cầu và chất lượng quản lý càng cao. Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện thân thiện tại trường tiểu học.

  • Quản lý giáo dục:

Quản lý giáo dục là một bộ phận của quản lý xã hội. Khái niệm QLGD được hiểu khá rộng trong nhiều phạm vi, từ vĩ mô đến vi mô cũng có những định nghĩa sau:

QLGD là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý, nhằm đưa hoạt động giáo dục tới mục tiêu đã định trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng những quy luật khách quan của hệ thống giáo dục quốc dân (Đinh Văn Vang, 1996)

QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống (từ Bộ, Sở và Phòng GD&ĐT đến trường), nhằm mục đích đảm bảo giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hòa của họ trên cơ sở nhận thức và sử dụng các quy luật chung vốn có của chủ nghĩa xã hội cũng như những quy luật khách quan của quá trình dạy học – giáo dục, của sự phát triển về thể chất, về tinh thần của các thế hệ. (Trần Kiểm, 1997)

QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm tổ chức, điều khiển và quản lý hoạt động giáo dục của những người làm công tác giáo dục (khách thể quản lý) nhằm thực hiện mục tiêu, kế hoạch giáo dục đặt ra. (Nguyễn Ngọc Quang, 1998)

Như vậy, các nhà nghiên cứu QLGD đều thống nhất quan niệm: QLGD nói chung (quản lý trường học nói riêng) là hệ thống những tác động có mục đích, có khoa học, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất. (Trần Kiểm, 1997)

QLGD cũng là thực hiện các chức năng quản lý trong công tác giáo dục, bao gồm kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra và đánh giá các quá trình giáo dục. Thực chất QLGD là quá trình tổ chức, điều chỉnh các yếu tố cơ bản sau:

  • Đường lối, chiến lược và chính sách giáo dục của đất nước.
  • Tập thể các nhà sư phạm (Cán bộ QLGD, giáo viên), trẻ em, gia đình, các đoàn thể và xã hội…
  • Điều kiện cơ sở vật chất (bàn ghế, trường lớp, đồ dùng trang thiết bị dạy học, đồ chơi…).

Tóm lại, QLGD là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt được kết quả mong muốn (mục tiêu) một cách có hiệu quả nhất.

  • Quản lý nhà trường: Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện thân thiện tại trường tiểu học.

Quản lý, lãnh đạo nhà trường là quản lý, lãnh đạo hoạt động của cán bộ, giáo viên, công nhân viên, học sinh trong trường. Nhà trường là đơn vị cơ sở trực tiếp giáo dục – đào tạo, hoạt động của nhà trường rất đa dạng, phong phú và phức tạp, nên việc quản lý, lãnh đạo chặt chẽ, khoa học sẽ bảo đảm đoàn kết thống nhất được mọi lực lượng, tạo nên sức mạnh đồng bộ nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục đích giáo dục. (Hồ Văn Liên, 2012)

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì quản lý nhà trường là tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và cán bộ khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và lao động xây dựng vốn tự có, hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường, mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới (Nguyễn Ngọc Quang, 1998)

Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh”. (Phạm Minh Hạc, 1986)

Quản lý nhà trường là một hoạt động được thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của quản lý, đồng thời cũng có những nét đặc thù riêng. Quản lý nhà trường khác với các loại quản lý xã hội, được quy định bởi bản chất hoạt động sư phạm của người giáo viên, bản chất của quá trình dạy học, giáo dục, trong đó mọi thành viên của nhà trường vừa là đối tượng quản lý vừa là chủ thể hoạt động của bản thân mình. Sản phẩm tạo ra của nhà trường là nhân cách của người học được hình thành trong quá trình học tập, tu dưỡng và rèn luyện theo yêu cầu của xã hội và được xã hội thừa nhận. (Hồ Văn Liên, 2012)

Hoạt động quản lý nhà trường là hoạt động quản lý toàn diện nhằm hoàn thiện và phát triển nhân cách thế hệ trẻ một cách hợp lý, hợp quy luật, khoa học và hiệu quả. Hiệu quả giáo dục trong nhà trường phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của nhà trường, kể cả các lực lượng hỗ trợ như các đoàn thể trong và ngoài nhà trường. Muốn có hiệu quả trong công tác quản lý, người quản lý phải xem xét đến những điều kiện đặc thù của nhà trường, phải chú trọng đến việc cải tiến công tác quản lý giáo dục.

  • Công tác quản lý nhà trường bao gồm: Quản lý giáo viên, quản lý học sinh; Quản lý quá trình dạy học và giáo dục;
  • Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học; Quản lý tài chính trường học;
  • Quản lý mối quan hệ giữa nhà trường với cộng đồng.

Công tác quản lý nhà trường nhằm đưa nhà trường từ trạng thái đang có tiến lên một trạng thái phát triển mới, bằng phương thức xây dựng và phát triển mạnh mẽ các nguồn lực giáo dục và hướng các nguồn lực đó vào phục vụ cho việc tăng cường chất lượng giáo dục. (Hồ Văn Liên, 2012) Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện thân thiện tại trường tiểu học.

  • Trọng tâm của công tác quản lý nhà trường là:

Chỉ đạo thực hiện tốt các hoạt động chuyên môn theo hướng dẫn của các cấp quản lý giáo dục cao hơn. Thực hiện đúng chương trình và phương pháp giáo dục để chất lượng giáo dục ngày một nâng cao. Quản lý phải sát sao bằng các công việc như kiểm tra, thanh tra kịp thời để giúp đỡ, uốn nắn, tạo điều kiện cho các hoạt động được thực hiện đúng theo kế hoạch đề ra.

Xây dựng đội ngũ giáo viên, công nhân viên và tập thể học sinh dạy tốt, học tốt; tạo bầu không khí sư phạm vui vẻ, thoải mái, đoàn kết, tương thân, tương ái, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.

Quản lý tốt việc học tập của học sinh theo quy chế của Bộ GD&ĐT. Quản lý cả thời gian và chất lượng học tập. Quản lý học sinh tốt thì chất lượng sẽ cao.

Quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học nhằm phục vụ tốt cho việc giảng dạy, học tập, giáo dục học sinh. Thường xuyên kiểm tra, bổ sung thêm những thiết bị mới theo yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục.

Quản lý nguồn tài chính hiện có của nhà trường theo đúng quy tắc tài chính của nhà nước và của ngành giáo dục; đồng thời biết động viên, thu hút các nguồn tài chính khác nhằm xây dựng, mua sắm thêm thiết bị phục vụ các hoạt động dạy học.

Quản lý việc thi đua khen thưởng và việc đề bạt cán bộ kế cận, nâng bậc lương cho giáo viên. Các hoạt động này phải được công khai minh bạch trước hội đồng sư phạm nhà trường. Luôn luôn chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ giáo viên, công nhân viên. Phải tạo một phong trào thi đua liên tục trong nhà trường “Thầy dạy tốt – Trò học tốt”. Thầy trò cùng hướng đến một chất lượng giáo dục của trường ngày một nâng cao.

Tóm lại, quản lý nhà trường là những tác động quản lý của các cơ quan quản lý giáo dục cấp trên nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho hoạt động giảng dạy, học tập giáo dục của nhà trường đạt kết quả tốt nhất.

Quản lý trường tiểu học cũng giống như các trường phổ thông – là một hoạt động của nhà quản lý cấp cơ sở do hiệu trưởng là người đứng đầu để dẫn dắt một tổ chức chuyên môn- nghiệp vụ và quản lý con người, cơ sở vật chất kỹ thuật, tài chính… Trường tiểu học được hình thành tại cộng đồng dân cư nên nó phải thỏa mãn được lợi ích của cộng đồng dân cư và phát huy các nguồn lực trong cộng đồng.

Nhà trường tiểu học là nền tảng cho giáo dục phổ thông. Điều II Luật phổ cập giáo dục đã nêu: “Giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, …”. Bậc tiểu học là bậc học đầu tiên để đào tạo những cơ sở ban đầu cơ bản và bền vững cho trẻ tiếp tục học lên bậc học trên, giúp trẻ hình thành những cơ sở ban đầu, những nét cơ bản của nhân cách.

1.2.3. Thư viện thân thiện Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện thân thiện tại trường tiểu học.

Khái niệm thư viện thân thiện được đề cập đến trong khá nhiều bài viết của các tác giả. Khái niệm xuất phát từ các phòng trào xây dựng “trường học thân thiện, học sinh tích cực” mà các sở giáo dục các tỉnh, thành phố phát động. Ở Việt Nam hiện nay, thư viện đã trở thành một trong những tiêu chí để đánh giá và xếp hạng các trường góp phần quyết định chất lượng và nâng cao năng lực giảng dạy của giáo viên, mở rộng kiến thức và xây dựng thói quen tự học, tự nghiên cứu cho học sinh. Đứng trước tình hình đó công tác thư viện trường học đã và đang trở thành một vấn đề được nhiều cấp, ngành quan tâm, thể hiện ở số lượng và nội dung các văn bản có liên quan Chỉ thị số 40/2014/CT-BGDĐT và kế hoạch 307/KH-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo phát động triển khai phong trào thi đua “xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” (Lê Thị Chinh, 2022)

Khái niệm thư viện thân thiện được xây dựng dựa trên hướng tiếp cận của mô hình trường học thân thiện lấy quyền trẻ em là nền tảng cho mọi hoạt động, có thể hiểu thư viện thân thiện được hiểu là bao hàm những ý nghĩa sau:

  • Thứ nhất: đó là một không gian học tập mở, tạo cơ hội cho học sinh tiếp cận thong tin, xây dựng thói quen đọc sách
  • Thứ hai: thư viện tạo điều kiện và để học sinh tích cực tham gia các hoạt động của thư viện
  • Thứ ba: thư viện đến với người sử dụng một cách linh hoạt, hiệu quả
  • Thứ tư: hỗ trợ cho việc dạy học tích cực, dạy và học mọi lúc, mọi nơi
  • Thứ năm: thư viện góp phần phát triển mối quan hệ thân ái, cởi mở tích cực giữa các đối tượng trong thư viện.

Thư viện thân thiện là nơi học sinh được khuyến khích và hỗ trợ cho việc đọc một cách tích cực trong một môi trường thân thiện và an toàn. Cán bộ thư viện, giáo viên, phụ huynh và cộng đồng cùng chung tay trong việc hướng trẻ em tham gia đọc với sự thích thú. Ở thư viện thân thiện, với những đầu sách và các hoạt động phù hợp với học sinh được tổ chức nhằm đảm bảo rằng tất cả học sinh, không phân biệt giới tính hay trình độ, đều được tham gia đọc và đọc tốt.

1.2.4. Quản lý hoạt động thư viện thân thiện trường tiểu học

Là sự tác động có chủ đích tới tập thể người lao động để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình thực hiện các mục đích và nhiệm vụ đề ra. QLHĐTV dựa trên quyền hạn được quy định và cùng với nó là sự tác động tổ chức, điều hành. (Bộ Văn hóa Thông tin, 2002)

Là hoạt động được các cán bộ lãnh đạo và tập thể viên chức thực hiện một cách tự giác và có kế hoạch nhằm đảm bảo cho sự hoạt động và phát triển bình thường của thư viện, bao gồm: kế hoạch, tổ chức và kích thích lao động, quản lý các quá trình thư viện, thống kê và kiểm tra công việc, công tác cán bộ (tổ chức cán bộ) (Nguyễn Huy Chương , 1998)

Tổng hợp những định nghĩa nêu trên, tác giả cho rằng QLHĐTV là quản lý 3 lĩnh vực: quản lý con người, quản lý chuyên môn và quản lý cơ sở vật chất của thư viện. Và vì 3 lĩnh vực này được quản lý bằng con người và thông qua con người, nên có thể định nghĩa QLTV như sau:

Là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý thư viện (cá nhân, tập thể) lên đối tượng quản lý (hoạt động của thư viện) với mục đích tổ chức và điều hành hoạt động thư viện nhằm đạt được mục tiêu mà chủ thể quản lý đề ra.

1.3. Hoạt động thư viện thân thiện trường tiểu học Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện thân thiện tại trường tiểu học.

1.3.1. Vị trí, vai trò của hoạt động thư viện thân thiện trường tiểu học

Là một cơ quan truyền thông trong nhà trường, nhằm mục đích cung cấp thông tin để giải đáp thắc mắc,thỏa mãn óc tò mò, tìm hiểu của học sinh.

Là một động lực đóng góp vào việc cải tiến giáo dục trong nhà trường, nhằm mục đích sử dụng các nguồn tài liệu để hỗ trợ cho sự thay đổi cách học tập và giảng dạy trong nhà trường.

Thư viện trường học là linh hồn của một trường học, nơi hội tụ kiến thức, tri thức của loài người, giúp cho thầy trò trong nhà trường không chỉ dạy tốt – học tốt mà còn mở mang trí tuệ, bồi đắp nhân cách, xây dựng nền tảng và phong văn hóa cá nhân.

1.3.2. Mục tiêu hoạt động thư viện thân thiện trường tiểu học

TVTHTT nhằm đáp ứng quyền tiếp cận thông tin, tiếp cận giáo dục của học sinh, góp phần hình thành và phát triển thói quen đọc sách của học sinh, tạo ra môi trường học tập tích cực cho học sinh.

TVTHTT là nơi lưu giữ những nét đặc sắc của văn hóa địa phương. Đáp ứng Quyền trẻ em và sự tham gia của trẻ

TVTHTT Hỗ trợ dạy và học tích cực. Là nơi tạo điều kiện tốt nhất cho giáo viên và học sinh chủ động khám phá và tìm tòi kiến thức. Là nền tảng cho sự sáng tạo của học sinh. Là cơ sở cho giáo viên áp dụng các phương pháp dạy học mới

1.3.3. Nội dung hoạt động thư viện thân thiện trường tiểu học

Đối với thư viện thân thiện, học sinh không chỉ đọc sách mà còn thỏa thích trổ tài với những góc: nghệ thuật, viết, vẽ và bình luận về sách được bày trí trong thư viện. Các hoạt động tại các góc: đọc, viết, nghệ thuật, trò chơi và văn hóa địa phương trong thư viện trường học thân thiện đã tạo điều kiện cho học sinh hình thành các kỹ năng nhận thức, kỹ năng tìm kiếm, kỹ năng xử lý thông tin, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hợp tác… đảm bảo sự phát triển toàn diện của học sinh trong từng giai đoạn và góp phần hình thành thói quen đọc sách của các em. Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện thân thiện tại trường tiểu học.

Chú trọng việc sắp xếp bố trí khoa học theo không gian, chia thành các góc hoạt động . Căn cứ vào mục đích các buổi hoạt động mà cán bộ thư viện có thể tổ chức các hoạt động góc khác nhau đồng thời xác định các kiến thức và kỹ năng mà học sinh cần có để định hướng các em tham gia vào hoạt động của các góc tương ứng.

Góc đọc: Các em có cơ hội đọc sách để giải trí và nâng cao kiến thức mở rộng và hình thành kỹ năng đọc cũng như thói quen đọc sách cho học sinh ngay từ đầu.

Góc viết: Là nơi các em có cơ hội thể hiện sự sáng tạo, trí tưởng tượng của mình thông qua các bài thơ, câu chuyện hoặc chia sẽ một câu chuyện hay một bài thơ cảm động. Góc viết còn là nơi để các em rèn chữ viết, câu văn đúng đẹp. Ngoài ra các em có năng khiếu sáng tác thơ, truyện có thể sử dụng góc viết để viết lên những tác phẩm của mình và được trưng bày chia sẽ cùng các bạn.

Góc nghệ thuật: Dành cho các em cơ hội để trình bày ý tưởng cũng như thể hiện lại các nhân vật, sự kiện trong các câu chuyện thông qua đóng kịch phân vai giúp các em hiểu sâu hơn về nội dung về các cuốn sách. Các góc nghệ thuật là nơi các em thể hiện năng khiếu vẽ, nặn tượng, làm đồ chơi qua đó các em có thể tưởng tượng ra các nhân vật hoặc các hình ảnh gây hứng thú cho các em.

Tổ chức xây dựng thư viện lưu động thông qua giỏ sách lưu động hoạt động dưới sự chỉ đạo của cán bộ thư viện. Triển khai xây dựng và tổ chức thư viện ngoài trời nhằm phục vụ đông đảo nhu cầu đọc sách cho các học sinh.

1.3.4. Hình thức tổ chức hoạt động thư viện thân thiện trường tiểu học

Thư viện thân thiện là nơi mang lại cho trẻ nhiều lợi ích, ngoài mục đích đọc sách thư viện còn tạo điều kiện thuận lợi nhất cho trẻ em phát triển các tiềm năng của mình một cách toàn diện đó là không gian học tập phong phú, đa dạng với các góc hoạt động khác nhau như góc đọc, góc sáng tạo, góc vẽ, góc nghệ thuật…

  • Thư viện đa chức năng.
  • Thư viện góc lớp: Chỉ đơn giản là một giá sách, tủ sách nhỏ nhắn đảm bảo tất cả các lớp ở các khối đều có góc thư viện tại lớp mình.
  • Thư viện ngoài trời: Không gian ở đây là dưới những tán cây xanh, hành lang lớp học.

1.3.5. Đặc điểm của học sinh Tiểu học Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện thân thiện tại trường tiểu học.

Học sinh tiểu học là lứa tuổi thiếu nhi (6 -11 tuổi) với đặc trưng nổi bật là sự nhảy vọt về sinh lý. Đây là lứa tuổi phát triển mạnh mẽ nhưng không đồng đều về mặt cơ thể. Học sinh tiểu học là một thực thể hồn nhiên, ngây thơ và trong sáng. Sự thay đổi về chất của lứa tuổi học sinh tiểu học đã làm cho các em có những đặc điểm nhân cách khác với các lứa tuổi khác. Tuy nhiên, lứa học sinh tiểu học chưa ý thức được hạn chế về sức lực của mình. Do đó, nhà sư phạm cần chú ý đến đặc điểm của HS để có những tác động giáo dục ATGT cho phù hợp.

  • Nhận thức và sự phát triển trí tuệ ở học sinh tiểu học:

Ở bậc mầm non hoạt động thường xuyên của trẻ là những hoạt động vui chơi, các em chưa ý thức được là bản thân mình học gì, chủ yếu là vừa học vừa chơi theo sự hướng dẫn của giáo viên. Đến lứa tuổi tiểu học thì những hoạt động chủ đạo của trẻ đã có sự thay đổi rõ ràng về chất, chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập. Nhưng đi đôi với hoạt động học tập ở các em cũng còn diễn ra các hoạt động khác như: Hoạt động vui chơi, hoạt động lao động, hoạt động xã hội. Các nhà khoa học nghiên cứu và đã xác định quá trình phát triển trí tuệ hay còn gọi là phát triển nhận thức của học sinh tiểu học là 2 quá trình từ cảm tính đến lý tính.

Nhận thức cảm tính là do các cơ quan cảm giác: Thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác đều phát triển và đang trong quá trình hoàn thiện. Và cơ quan tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không ổn định: ở đầu tuổi tiểu học tri giác thường gắn với hành động trực quan, đến cuối tuổi tiểu học tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm.

Nhận thức lý tính gồm tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động. Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát. Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 4, 5 bắt đầu biết khái quát hóa lý luận. Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng ở phần đông học sinh tiểu học. Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em.

Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể.

 Trí nhớ: Ghi nhớ có chủ định được hình thành và phát triển dần trong quá trình học tập và được hình thành rõ nét ở lứa tuổi. Hai hình thức ghi nhớ chủ định và ghi nhớ không chủ định tồn tại song song, chuyển hóa, bổ sung cho nhau. Ở những năm cuối của giai đoạn này, trí nhớ có sự tham gia tích cực của ngôn ngữ.

Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thú của các em…

Tóm lại, phát triển nhận thức cho học sinh tiểu học là yêu cầu quan trọng đối với việc giáo dục ATGT cho thông cho trẻ. Tuy nhiên, sự phát triển nhận thức lứa tuổi này đòi hỏi ở nhà giáo dục sự kiên trì bền bỉ trong công tác giáo dục, muốn vậy thì trước hết mỗi bậc cha mẹ, thầy cô phải trở thành tấm gương về nghị lực trong mắt trẻ nếu không chú ý đến đặc điểm này sẽ không thể phát huy được tính tích cực chủ động của HS. Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện thân thiện tại trường tiểu học.

  • Tình cảm ở học sinh tiểu học:

Theo N.S.Leitec và P.I. Iakobson với các kết quả đã nghiên cứu thì đứa trẻ 7 tuổi thường chưa có khả năng tri giác đúng đắn những biểu hiện giận dữ, sự sợ hãi và nỗi kinh hoàng của người khác. Do sự thiếu hoàn thiện trong tri giác và sự hiểu biết những tình cảm mà làm cho học sinh tiểu học thường hay bắt chước máy móc người lớn trong việc biểu hiện tình cảm của mình. Vậy nên có thể nói tình cảm của học sinh tiểu học chưa bền vững, dễ thay đổi. Khi đó, phương pháp giáo dục ATGT hiệu quả cho trẻ được kết hợp với các đặc tính trên, phát triển theo từng khối lớp đến từng em theo những kỹ năng phù hợp lứa tuổi.

  • Nhân cách ở học sinh tiểu học:

Học sinh tiểu học là một thực thể hồn nhiên, ngây thơ và trong sáng. Nét tính cách của trẻ đang dần được hình thành. Nhìn chung việc hình thành nhân cách của học sinh tiểu học mang những đặc điểm cơ bản sau: Nhân cách của các em lúc này mang tính chỉnh thể và hồn nhiên, luôn bộc lộ những nhận thức, tư tưởng, tình cảm, ý nghĩ của mình một cách vô tư, hồn nhiên, thật thà và ngay thẳng; những năng lực, tố chất của các em còn chưa được bộc lộ rõ rệt. Việc hình thành nhân cách sẽ được hoàn thiện dần cùng với tiến trình phát triển của mình.

Giáo dục ATGT cho học sinh lứa tuổi hình thành nhân cách này là vấn đề rất phức tạp nhưng không phải nan giải.

Tóm lại, học sinh tiểu học hồn nhiên, trong sáng, dễ thích nghi và tiếp nhận cái mới, luôn hướng tới tương lai nhưng các em chưa đủ ý thức, chưa đủ phẩm chất và năng lực như một công dân trong xã hội mà các em luôn cần sự bảo trợ, giúp đỡ, định hướng của người lớn, của gia đình, nhà trường và xã hội.

1.4. Quản lý hoạt động thư viện thân thiện trường tiểu học Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện thân thiện tại trường tiểu học.

1.4.1. Xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động thư viện thân thiện

Xây dựng kế hoạch là một chức năng của quản lý. Xây dựng kế hoạch là quá trình xác lập được mục tiêu và quyết định những biện pháp tốt nhất để thực hiện những mục tiêu đó. Chức năng Xây dựng kế hoạch không chỉ dừng ở việc xác định mục tiêu, xây dựng các loại kế hoạch mà phải bao gồm cả quá trình triển khai thực hiện và điều chỉnh kế hoạch.

Lập kế hoạch hoạt động thư viện thân thiện theo năm học, tháng, tuần, cho toàn trường và cho từng khối lớp một cách chặt chẽ để đảm bảo tính hệ thống và hoàn chỉnh của kế hoạch năm học, kế hoạch từng học kỳ của nhà trường.

Xác định rõ các nội dung cần thực hiện và quyết định chọn hình thức nào để thực hiện kế hoạch công tác thư viện thân thiện trong kế hoạch chung nhằm thực hiện nhiệm vụ của nhà trường.

Phân công nhiệm vụ cụ thể cho các lực lượng để thực hiện các hoạt động. Tổ chức các hoạt động: giới thiệu sách, điểm sách, thông báo sách mới, triển lãm trung bày sách, thi kể chuyện sách.

Đầu tư mua sắm cơ sở vật chất kỹ thuật cho thư viện. Kiểm kê tài sản của thư viện, thanh lý các ấn phẩm rách nát, nội dung thay đổi hoặc đã hết hạn sử dụng.

Có sự tham gia của các chuyên gia của nhiều lĩnh vực khác nhau. Từ đó đảm bảo chất lượng và tính khả thi của kế hoạch, đồng thời tạo ra sự cam kết của các bên liên quan trong việc tổ chức thực hiện khi kế hoạch được phê duyệt.

Tính khả thi và hiệu quả của kế hoạch trong thực tiễn: kế hoạch phải thể hiện rõ các điều kiện về nguồn lực (tài lực, vật lực, nhân lực và nguồn lực thông tin), xác định rõ ràng của các tổ chức có liên quan trong công tác quản lý cũng như triển khai thực hiện kế hoạch.

Tính hệ thống: sử dụng các kỹ thuật và phương pháp hiện đại như phương pháp SWOT, phương pháp đường Găng….

Tính pháp lý: kế hoạch cần được trình lên các cấp có thẩm quyền để thẩm định, phê duyệt và chính thức ban hành để nâng cao hiệu lực của công tác quản lý.

1.4.2. Tổ chức thực hiện hoạt động thư viện thân thiện Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện thân thiện tại trường tiểu học.

  • Thành lập tổ công tác thư viện thân thiện.

Tổ công tác thư viện do Hiệu trưởng hoặc Phó Hiệu trưởng trực tiếp làm tổ trưởng và có các thành viên gồm:

  • Cán bộ phụ trách công tác thư viện làm tổ phó.
  • Các khối trưởng chuyên môn, một số giáo viên chủ nhiệm lớp.
  • Đại diện của Công đoàn, Đoàn thanh niên, Đội thiếu niên.
  • Đại diện của Hội Cha mẹ học sinh.

Quy định chức năng, nhiệm vụ cho từng thành viên trong tổ công tác thư viện thân thiện. Thông thường các thành viên trong tổ công tác thư viện thường có nhiệm vụ như sau:

Các thành viên trong tổ là mạng lưới phát hiện, sưu tầm những sách, báo, tư liệu mới, tổ chức giới thiệu, hướng dẫn phục vụ các nhu cầu dạy học theo mục tiêu đào tạo, nâng cao dân trí.

Vận động các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước ủng hộ xây dựng thư viện thân thiện.

Các khối trưởng chuyên môn chỉ đạo tổ tham gia công tác thư viện, có kế hoạch về sách, giới thiệu sách, tổ chức sưu tầm sách báo xây dựng kho tư liệu, hướng dẫn học sinh đọc sách.

Xây dựng quy chế phối hợp trong hoạt động thư viện thân thiện. Hiệu trưởng trường tiểu học có trách nhiệm phối hợp với Đoàn thanh niên, Đội thiếu niên, Công đoàn cơ sở, Hội Cha mẹ học sinh của nhà trường và các tổ chức, đoàn thể địa phương để tham gia việc xây dựng thư viện thân thiện vững mạnh.

  • Ban hành văn bản hướng dẫn về hoạt động thư viện thân thiện.
  • Thực hiện các hoạt động thư viện thân thiện theo kế hoạch.

Các trường tiểu học có thể lựa chọn những hình thức và phương pháp hoạt động phù hợp với điều kiện thực tế của trường mình, từ đó có thể tổ chức các hoạt động sao cho hiệu quả nhất và tiết kiệm nhất, phù hợp nhất với điều kiện cụ thể của trường mình.

1.4.3. Chỉ đạo thực hiện hoạt động thư viện thân thiện

Tổ chức hiệu quả hoạt động của tổ cộng tác viên thư viện, chú trọng xây dựng và tổ chức tốt mạng lưới cộng tác viên trong giáo viên, học sinh, kết hợp chặt chẽ với các đoàn thể trong nhà trường và Hội cha mẹ học sinh

Có lịch cụ thể phục vụ các hoạt động đọc sách, mượn sách của giáo viên, học sinh. Ngoài ra còn tổ chức cho học sinh đọc sách vào giữa giờ ra chơi ở tại thư viện và ở sân trường. Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện thân thiện tại trường tiểu học.

Thường xuyên tổ chức tuyên truyền, giới thiệu sách cho giáo viên và học sinh; vận động, hướng dẫn GV và HS đọc và làm theo sách bằng nhiều hình thức, cán bộ thư viện thực hiện tuyên truyền giới thiệu sách theo chủ đề, chủ điểm

Tổ chức cho học sinh khai thác các dữ liệu phục vụ bồi dưỡng HSG

Các trường bám nội dung kế hoạch để liên tục có chỉ đạo sát sao nhằm đánh giá được hoạt động thư viện thân thiện trong toàn trường.

1.4.4. Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện hoạt động thư viện thân thiện

Là quá trình đánh giá và điều chỉnh nhằm đảm bảo cho các hoạt động đạt tới mục tiêu của tổ chức đã đề ra.

Kiểm tra là quá trình xem xét thực tiễn, đánh giá thực trạng, khuyến khích cái tốt, phát hiện những sai phạm và điều chỉnh nhằm đạt tới những mục tiêu đã đặt ra và góp phần đưa toàn bộ hệ thống quản lý lên một trình độ cao hơn.

Bản chất của kiểm tra: Là mối quan hệ ngược trong quản lý; Kiểm tra là một hệ thống thông tin phản hồi trong quản lý: phản hồi về kết quả các hoạt động và phản hồi dự báo.

Xây dựng hệ thống chuẩn thực hiện trên cơ sở các chỉ tiêu được xác định trong kế hoạch xây dựng thư viên thân thiện. Các chuẩn thực hiện bao gồm chuẩn về quy trình, các hoạt động và chuẩn về các sản phẩm của hệ thống qua các mục tiêu của hệ thống thư viện thân thiện.

Kiểm tra, giám sát và đánh giá việc thực hiện và kết quả đạt được trên cơ sở so sánh với chuẩn.

Trong quá trình tổ chức các hoạt động thư viện thân thiện, nếu có sự chênh lệch thì cần điều chỉnh kế hoạch sao cho phù hợp với hoàn cảnh.

Việc kiểm tra được tiến hành tường xuyên, liên tục để có sự điều chỉnh kịp thời các nội dung và hình thức tổ chức hoạt động thư viện sao cho hiệu quả nhất.

Hàng năm tự kiểm tra, đánh giá, chấm điểm thư viện theo 5 tiêu chuẩn thư viện trường phổ thông.

1.5. Quản lý các điều kiện phục vụ các hoạt động thư viện thân thiện

  • Lên kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ nhận thức và các kỹ năng tổ chức hoạt động thư viện cho nhân viên thư viện
  • Quản lý hoạt động của nhân viên thư viện, kiểm tra, giám sát hiệu quả làm việc của nhân viên thư viện.
  • Dành kinh phí, thời gian cho việc tổ chức các hoạt động của thư viện một cách thỏa đáng.
  • Lên kế hoạch mua sắm, sử dụng, bảo quản các phương tiện phục vụ hoạt động thư viện.

Để đảm bảo độ bền của các tài liệu và cơ sở vật chất, kỹ thuật trong thư viện, hiệu trưởng cần mua sắm các đồ dùng có chất lượng, có sổ sách theo dõi, ghi chép tình trạng sử dụng, giao trách nhiệm tự quản các trang thiết bị này cho nhân viên thư viện.

1.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động thư viện thân thiện trường tiểu học Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện thân thiện tại trường tiểu học.

1.6.1. Các yếu tố khách quan

  • Tác động CNTT đến quản lý hoạt động thư viện thân thiện trường tiểu học.

Sự phát triển của khoa học công nghệ nói chung và sự ra đời của máy tính điện tử với dung lượng bộ nhớ tưởng chừng không hạn chế, khả năng tính toán cực nhanh và hầu như không bao giờ nhầm lẫn đã mở ra hướng đi mới, đầy triển vọng cho hoạt động thư viện – thông tin. Việc sử dụng kỹ thuật số để biểu diễn thông tin đã dẫn đến sự xuất hiện của một loại hình tài liệu mới, đó là tài liệu số.

Cho đến nay, đã có không ít định nghĩa về tài liệu số được đưa ra. Điểm chung của các định nghĩa này đều cho rằng: tài liệu số là tài liệu mà thông tin chứa đựng trong đó đã được biểu diễn dưới dạng mã nhị phân, tức là mã chỉ gồm hai số 0 và 1. Nói cách khác, những thông tin về tài liệu, một phần hay toàn bộ nội dung của tài liệu đã được chuyển thành các “bit” thông tin dữ liệu và được lưu trữ, khai thác trên máy tính, với sự hỗ trợ của một hay một vài thiết bị chuyên dụng, phần mềm ứng dụng và hệ thống mạng máy tính. Như vậy, tài liệu được tạo lập trực tiếp từ máy tính, được lưu trữ thành các tệp dữ liệu (file), với những định dạng khác nhau như: .doc, .exe, .jpg… và các tài liệu có nội dung là kết quả của quá trình số hoá các loại hình tài liệu khác: giấy, ảnh, phim… đều là tài liệu số.

Với cách hiểu đó, có thể coi tài liệu số là tất cả những thông tin được lưu trữ dưới dạng số, được xử lý, lưu trữ và truy cập trên máy tính, hay trên mạng máy tính. Tài liệu số có những đặc trưng như:

  • Mật độ thông tin của tài liệu số rất lớn.
  • Thông tin chứa trong tài liệu số luôn mới vì có thể được cập nhật nhanh chóng, thường xuyên và kịp thời với một mức chi phí hợp lý và thao tác không quá phức tạp, chiếm nhiều thời gian và công sức.
  • Tài liệu số có khả năng được truy cập theo nhiều dấu hiệu khác nhau, bởi nhiều người dùng ở cùng một thời điểm mà không bị giới hạn về thời gian hay vị trí địa lý.
  • Tài liệu số có thể lưu trữ thông tin theo nhiều định dạng khác nhau: văn bản, hình ảnh, âm thanh, video…

Tài liệu số tạo ra một kênh thông tin phản hồi đa chiều, giúp người dùng tin có thể liên hệ trực tiếp với tác giả hay người tổ chức nguồn tin (thường được biết đến với vai trò quản trị viên hay Admin của nguồn tin), cũng như hỗ trợ người dùng tin tham gia vào các diễn đàn học thuật để trao đổi thông tin và chia sẻ cảm nhận với những người dùng tin khác.

Chính với những đặc trưng nổi trội nói trên, tài liệu số đang là nguồn tài liệu mà các TV hướng tới phát triển. Bởi thực tế đã chỉ ra rằng một cơ quan thư viện – thông tin riêng lẻ chắc chắn sẽ không có đủ khả năng để bổ sung tài liệu một cách đầy đủ và toàn diện, cũng như đến một lúc nào đó không có đủ diện tích để lưu trữ và bảo quản mọi nguồn tin họ có, nếu như họ chỉ liên tục bổ sung một loại hình tài liệu duy nhất là tài liệu in ấn như: sách in, báo, tạp chí in… Liên kết, chia sẻ nguồn tài nguyên thông tin chính là giải pháp tất yếu mà các thư viện lựa chọn. Không chỉ dừng lại ở việc liên kết, trao đổi dữ liệu dạng thư mục, mà cùng với việc ứng dụng những thành tựu tiên tiến của công nghệ thông tin đã giúp các TV chia sẻ cả dữ liệu dạng toàn văn (tài liệu số). Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện thân thiện tại trường tiểu học.

Thực tế cho thấy, hiện nay hầu hết các tạp chí khoa học và nghiên cứu, ấn phẩm nhiều kỳ, sách, âm nhạc và phim ảnh, tất cả những nội dung điện tử đều có xu hướng xuất bản dưới dạng số. Đặc biệt, những ấn phẩm nhiều kỳ là dạng tài liệu hướng tới chia sẻ dưới dạng số sớm nhất. Thậm chí ngày nay, phần lớn thư viện đại học và nghiên cứu đã, đang trải qua sự dịch chuyển tạp chí khoa học và nghiên cứu từ dạng in sang dạng điện tử. Nhiều trường đại học và viện nghiên cứu trên thế giới đã thay vì mở rộng các ấn phẩm nhiều kỳ đóng tập bằng các sản phẩm hay cơ sở dữ liệu tạp chí điện tử. Nhiều dự án số hoá đã được triển khai. Chẳng hạn như trên thế giới, Google đang trên con đường hoàn thành những dự án số hoá hàng triệu đầu sách từ những thư viện lớn trên thế giới; còn ở Việt Nam, một số dự án số hoá cũng đã được triển khai như: Dự án “Xây dựng thư viện số trường Đại học Khoa học Tự nhiên” được Hội đồng xét duyệt Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh thông qua năm 2003; Dự án “Tăng cường năng lực thư viện số và bảo quản số tại Thư viện Quốc gia Việt Nam” được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đầu tư năm 2018…

Với tốc độ chuyển dịch loại hình tài liệu từ dạng giấy sang dạng số như hiện nay, thì rất có thể chỉ trong một vài thập niên tới, “Cơ sở của thư viện là sách” theo quan điểm của các nhà thư viện học trước đây sẽ không chỉ đơn thuần là các sách được xuất bản dưới dạng giấy mà sẽ bổ sung thêm một loại hình mới đó là sách số hoá.

Nói tóm lại, việc ứng dụng công nghệ thông tin đã và đang góp phần làm thay đổi về chất của hoạt động giao lưu thông tin, trong đó có hoạt động thư viện thông tin trên toàn thế giới.

  • Trình độ nghiệp vụ của cán bộ thư viện

Cán bộ thư viện trong nhà trường phải có nghiệp vụ tốt thì mới hoàn thành các nhiệm vụ liên quan đến nghiệp vụ thư viện gồm các công việc sau:

Thực hiện các quyết định, chỉ thị của cấp trên về công tác thư viện, tổ chức các hoạt động của thư viện trường phổ thông theo kế hoạch từng tháng, học kỳ và cả năm. Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện thân thiện tại trường tiểu học.

Nắm vững đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, các chủ trương chính sách về ngành Giáo dục và Đào tạo, nhất là đối với cấp học, bậc học phổ thông, các văn bản chỉ đạo về công tác thư viện.

Thực hiện đầy đủ quy chế và nguyên tắc, nghiệp vụ quản lý thư viện, có biện pháp tăng cường nguồn sách báo, hướng dẫn đọc, tuyên truyền giới thiệu sách. Làm tốt các khâu tổ chức kỹ thuật, xây dựng thư viện hoàn chỉnh phục vụ cho yêu cầu giảng dạy, học tập của giáo viên, học sinh. Công việc này đòi hỏi tinh thần trách nhiệm cao, cần cù, chịu khó, hiểu rõ mục tiêu đào tạo và chương trình học tập của nhà trường (để thực hiện tốt công tác bổ sung sách báo, xây dựng mục lục, biên soạn thư mục,…). Cán bộ thư viện phải phối hợp với Hội đồng giáo dục thành lập mạng lưới giới thiệu, tuyên truyền sách báo trong giáo viên, học sinh hoặc tổ chức các cuộc triển lãm, trưng bày sách phục vụ giảng dạy, học tập của nhà trường.

Tham gia công tác hướng dẫn sử dụng sách báo, tư liệu và giảng dạy kiến thức thư viện cho học sinh; theo dõi và giúp đỡ học sinh đọc sách, giúp các em tìm chọn những cuốn sách phù hợp, bổ ích; hướng dẫn và giáo dục học sinh làm quen với thư viện để các em có thói quen đọc sách và đọc có phương pháp khoa học, giúp các em rèn luyện kỹ năng tự học để đạt kết quả học tập tốt nhất.

Tổng kết, phổ biến và áp dụng kinh nghiệm thư viện tiên tiến, tổ chức lao động khoa học trong thư viện. Tham mưu cho lãnh đạo nhà trường, đề xuất những ý kiến xây dựng và kiện toàn thư viện; vận động giáo viên, học sinh đọc và làm theo sách. Chủ động phát động những phong trào đọc sách, tìm hiểu sách nhân kỷ niệm những ngày lễ lớn hoặc phục vụ các đợt học tập chính trị, bồi dưỡng hè,…

Giáo dục và vận động bạn đọc giữ gìn sách báo, bảo vệ và xây dựng thư viện bằng cách đóng góp sách cũ, tham gia sửa chữa giá tủ, bàn ghế thư viện; đóng, bọc, phục chế lại những cuốn sách đã cũ nhưng vẫn còn giá trị về mặt khoa học.

Thực hiện tốt việc cho thuê, mượn và phát không sách giáo khoa, kết hợp với việc bán lẻ sách giáo khoa cho học sinh dùng riêng theo quy định.

Trong mỗi nhà trường, cán bộ- giáo viên phụ trách công tác thư viện thực chất là người làm công tác giáo dục trực tiếp học sinh bằng phương tiện sách báo và là đồng nghiệp đáng tin cậy của giáo viên. Vai trò và uy tín của cán bộ – giáo viên thư viện trường học được đánh giá ngang với giáo viên, lao động của họ và lao động của người thầy giáo đều được coi trọng như nhau, cùng chung một mục đích cao cả là đào tạo và giúp thế hệ trẻ thành những người có ích cho đất nước.

Ngày nay, với tốc độ phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, cán bộ, giáo viên phụ trách công tác thư viện còn phải có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý kho dữ liệu của thư viện, phải biết quản lý thư viện bằng phần mềm quản lý thư viện, hỗ trợ giáo viên và hoc sinh ứng dụng công nghệ thông tin trong soạn giảng và học tập.

Cán bộ thư viện có nghiệp vụ tốt sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình và góp phần khẳng định vai trò của thư viện trong việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục của nhà trường. Nếu cán bộ thư viện nghiệp vụ non kém sẽ khiến các hoạt động của thư viện bị ngưng trệ, không sắp xếp và quản lý nổi kho sách, báo, tạp chí trong thư viện, cũng như không thể giúp giáo viên và học sinh tìm đọc sách để phục vụ cho hoạt động giảng dạy và học tập.

1.6.2. Các yếu tố chủ quan Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện thân thiện tại trường tiểu học.

Nhận thức của lãnh đạo nhà trường về vai trò và nhiệm vụ của thư viện trường tiểu học: Lãnh đạo nhà trường nhận thức đúng đắn về vai trò và nhiệm vụ của thư viện thì sẽ có những đầu tư cần thiết để xây dựng và phát triển thư viện nhà trường: Đầu tư về con người, về cơ sở vật chất, về lập kế hoạch hoạt động, tổ chức hoạt động. Nhận thức đúng đắn về vai trò của thư viện trong hoạt động chung của nhà trường thì sẽ phối hợp các nguồn lực trong trường cùng thực hiện kế hoạch hoạt động thư viện, thường xuyên kiểm tra giám sát việc thực hiện kế hoạch và hỗ trợ, tạo điều kiện cần thiết để thư viện hoạt động hiệu quả nhất.

Thư viện phải được đặt tại nơi thuận tiện trong trường để phục vụ việc đọc và mượn sách, báo của giáo viên, học sinh, cán bộ quản lý giáo dục.

Mỗi thư viện cần đảm bảo diện tích tối thiểu là 50 m2 để làm phòng đọc và kho sách (có thể 1 hoặc một số phòng).

Phòng đọc: chia làm 2 khu vực dành riêng hoặc có phòng đọc riêng cho học sinh, giáo viên, có đủ bàn ghế, ánh sáng, tủ mục lục, bảng giới thiệu, hướng dẫn tra cứu,…

Kho sách: là phòng kiên cố, cao ráo, sách báo được bảo quản tốt, sắp xếp khoa học. Tỉ lệ số sách trong kho phục vụ cấp, bậc học phù hợp chiếm đa số.

Kho sách được chia thành các bộ phận:

  • Sách giáo khoa: Bảo đảm đủ cho giáo viên, học sinh thuê, mượn (theo chính sách xã hội) hoặc bán dùng riêng theo yêu cầu.
  • Sách nghiệp vụ của giáo viên:

Các văn bản pháp quy , Nghị quyết của Đảng, Nhà nước, của Bộ và các tài liệu hướng dẫn của Ngành phù hợp với cấp học, ngành học và nghiệp vụ quản lý giáo dục phổ thông.

  • Các sách bồi dưỡng về nghiệp vụ sư phạm.
  • Các sách nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, các tài liệu bồi dưỡng thường xuyên theo từng chu kỳ.
  • Sách, tài liệu tham khảo hàng năm theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo:
  • Các sách công cụ, tra cứu: các loại từ điển, tác phẩm kinh điển,…
  • Sách, tài liệu tham khảo của các môn học.
  • Sách mở rộng kiến thức, nâng cao trình độ; sách nguyên tác phẩm, bản đò, tranh ảnh,… theo các chương trình học tập phù hợp với cấp học, bậc học.
  • Sách phục vụ cho các nhu cầu về mở rộng, nâng cao kiến thức chung, cuộc thi tìm hiểu theo các chủ đề, chuyên đề, thi học sinh giỏi,… Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện thân thiện tại trường tiểu học.

Các loại báo, tạp chí, tập san của ngành phù hợp với cấp học, ngành học và các tạp chí, báo chung của Đảng, Nhà nước, địa phương và các đoàn thể quần chúng.

Thư viện cần có các thiết bị thiết yếu: Có giá, tủ chuyên dùng trong thư viện để đựng sách, báo, tạp chí, bản đồ, tranh ảnh giáo dục, băng đĩa giáo khoa; Có đủ bàn ghế, ánh sáng cho phòng đọc và cho cán bộ làm công tác thư viện làm việc. Có tủ hoặc hộp mục lục, sổ mục lục, bảng để giới thiệu sách với bạn đọc.

Những trường có điều kiện về kinh phí, từng bước trang bị máy vi tính các phương tiện nghe nhìn, máy hút bụi, máy hút ẩm, quạt điện, máy điều hòa không khí, máy photocopy… nhằm tạo thuận lợi cho công việc quản lý tài sản, vốn sách báo, tài liệu và điều kiện phục vụ bạn đọc.

Các nhà trường muốn xây dựng thư viện thì cần phải có phòng, nếu trường nhỏ, chỉ đủ phòng cho các phòng học thì không thể bố trí phòng làm phòng thư viện.

Phòng thư viện nếu nhỏ hẹp thì khó mà bố trí tủ và giá sách cho đẹp và khoa học; không đủ chỗ bày sách, báo, tạp chí hay tổ chức các hoạt động phục vụ bạn đọc.

Nếu trường có phòng rộng nhưng kinh phí có hạn thì việc xây dựng kho học liệu của nhà trường cũng sẽ gặp khó khăn, không thể trang bị các thiết bị hiện đại cho thư viện, không thể mua nhiều sách, báo, tạp chí, do đó tài liệu của thư viện sẽ không thể phong phú như mong muốn.

Tiểu kết chương 1

Quản lý thư viện thân thiện trường tiểu học là xây dựng kế hoạch hoạt động thư viện, tổ chức thực hiện các hoạt động, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các hoạt động đó và quản lý các nguồn lực phục vụ hoạt động thư viện.

Quản lý tốt hoạt động của thư viện thân thiện sẽ phát huy tối đa các các tiện ích của thư viện, nâng cao hiệu quả hoạt động của thư viện trong các nhà trường, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên, bồi dưỡng kiến thức cơ bản về khoa học thư viện và xây dựng thói quen tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, tạo cơ sở từng bước thay đổi phương pháp giảng dạy và học tập, đồng thời thư viện sẽ tham gia tích cực vào việc bồi dưỡng tư tưởng chính trị, xây dựng nếp sống văn hóa mới cho các thành viên của nhà trường.

Quản lý tốt hoạt động của thư viện thân thiện sẽ giúp thư viện trở thành một địa chỉ văn hóa đáng tin cậy trong nhà trường, nơi học tập thú vị cho học sinh, kích thích học sinh ham thích đọc sách báo và khơi gợi sự sáng tạo, góp phần hoàn thiện nhân cách cho học sinh tiểu học. Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện thân thiện tại trường tiểu học.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng QL thư viện thân thiện tại các trường tiểu học

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993