Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục là vấn đề quan tâm của mọi quốc gia, mọi dân tộc. Một xã hội muốn phát triển đòi hỏi phải coi trọng giáo dục vì giáo dục có tác động tới tất cả các lĩnh vực của đời sống, đặc biệt giáo dục gắn với hình thành và phát triển con người, động lực của mọi sự phát triển kinh tế xã hội. Sự nghiệp đổi mới và công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà Việt Nam đang tiến hành trong điều kiện mới có thành công hay không phụ thuộc hoàn toàn vào sức sáng tạo nguồn nhân lực Việt Nam.
Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu của thời đại thì giáo dục đảm nhiệm sứ mệnh này dựa trên nền tảng của hai bộ phận cấu thành: Giáo dục chính quy và giáo dục không chính quy như giáo dục thường xuyên. Nhằm đáp ứng yêu cầu học tập suốt đời của nhân dân thì giáo dục thường xuyên với các hình thức đào tạo đa dạng đã trở thành một bộ phận quan trọng để xây dựng một xã hội học tập. Vì vậy, các Trung tâm giáo dục thường xuyên hiện nay đã đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân với các hình thức liên kết đào tạo với các trường cao đẳng, đại học nhằm cung cấp nguồn nhân lực cho thị trường lao động. Bên cạnh đó, việc sáp nhập GDNN – GDTX hiện nay đã tạo điều kiện cho liên kết đào tạo diễn ra dưới nhiều hình thức, phương thức đa dạng hơn.
Cơ hội học tập đối với người dân mở rộng hơn với nhiều hình thức khác nhau tùy theo điều kiện của mình, như vừa đi làm vừa đi học, vừa học văn hóa, vừa học nghề, bên cạnh đó còn giúp cho người dân ở vùng sâu, vùng xa không có điều kiện về thành phố học vẫn có cơ hội học tập, nhằm giảm bớt gánh nặng về tài chính, đồng thời có cơ hội định cư và nâng cao nguồn nhân lực cho địa phương. Luận văn: Quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.
Thực hiện thông tư liên tịch số 39/2022/TTLT – BLĐTBXH – BNV ngày 19 tháng 10 năm 2022 về việc hướng dẫn sáp nhập Trung tâm Dạy nghề, Trung tâm Giáo dục thường xuyên, Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp – Hướng nghiệp công lập cấp huyện thành Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên (TT GDNN – GDTX) năm 2023 UBND tỉnh Thái Nguyên ra quyết định sáp nhập các Trung tâm GDTX với TT dạy nghề và TT hướng nghiệp dạy nghề thành Trung tâm GDNN – GDTX cấp huyện. Các Trung tâm đã và đang phát triển mạnh hoạt động liên kết đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ, đào tạo tại địa phương nhằm phục vụ nhu cầu học tập tại chỗ của cán bộ, giáo viên và các tầng lớp nhân dân ở huyện Đại Từ. Tuy nhiên, hiện nay đội ngũ cán bộ quản lý còn yếu, còn thiếu, hiệu quả của công tác quản lý chưa cao, chất lượng và hiệu quả liên kết đào tạo còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu thiết thực của địa phương, các điều kiện đảm bảo chất lượng còn hạn chế, công tác tuyển sinh và giới thiệu việc làm còn vấp phải những khó khăn…
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “Quản lý hoạt động liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên” làm công trình nghiên cứu của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý hoạt động liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Đề tài đề xuất biện pháp quản lý hoạt động liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động liên kết đào tạo, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của Trung tâm.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
- Quản lý hoạt động đào tạo tại Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên cấp huyện.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
- Quản lý hoạt động liên kết đào tạo tại Trung tâm GDNN – GDTX huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
4. Giả thuyết khoa học
Hoạt động liên kết đào tạo của Trung tâm GDNN – GDTX huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên trong thời gian qua đã đạt một số kết quả nhất định, tuy nhiên trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay còn tồn tại nhiều bất cập. Nếu đề xuất và áp dụng một số biện pháp quản lý liên kết đào tạo phù hợp với điều kiện trung tâm và nhu cầu phát triển của địa phương thì sẽ nâng cao hiệu quả quản lý liên kết đào tạo tại Trung tâm GDNN – GDTX huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn: Quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý liên kết đào tạo tại Trung tâm GDNN – GDTX cấp huyện.
- Thực trạng quản lý liên kết đào tạo tại trung tâm GDNN – GDTX huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- Đề xuất một số biện pháp quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm GDNN – GDTX huyện Đại Từ, Tỉnh Thái Nguyên.
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu hoạt động phối hợp quản lý liên kết đào tạo tại Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên từ năm 2022 đến năm 2025.
Giới hạn khách thể điều tra: Cán bộ quản lý 7, trong đó Ban giám đốc 3, tổ trưởng, tổ phó 4, GV tại Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên huyện Đại Từ 30, GV đến từ các đơn vị liên kết 26 và 100 học viên đang học tập tại Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên huyện Đại Từ.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Bao gồm các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa những tài liệu lý luận có liên quan để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài. Luận văn: Quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (anket)
Phương pháp này được sử dụng trong đề tài với mục đích nhằm tìm hiểu thực trạng quản lý liên kết đào tạo tại Trung tâm GDNN – GDTX huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên và nguyên nhân của thực trạng.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Tổng kết kinh nghiệm về công tác quản lý liên kết đào tạo thông qua báo cáo của các hội nghị tập huấn, tổng kết của Trung tâm, của Sở Giáo dục, Sở Lao động thương binh – xã hội cũng như kinh nghiệm tích lũy của cá nhân trong quá trình tham gia quản lý Trung tâm.
- Phương pháp phỏng vấn
Được sử dụng với mục đích tìm hiểu những nhận xét, đánh giá về vấn đề quản lý liên kết đào tạo của cán bộ, giáo viên, học viên của Trung tâm, giáo viên của các đơn vị liên kết, một số cán bộ thuộc đơn vị sử dụng học viên sau tốt nghiệp.
- Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến các chuyên gia về các biện pháp quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm GDNN – GDTX huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- Phương pháp xử lý kết quả
Sử dụng toán thống kê để xử lý các số liệu thu thập được về mặt định lượng.
8. Cấu trúc luận văn Luận văn: Quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận – Khuyến nghị, Tài liệu tham khảo và các Phụ lục, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động liên kết đào tạo tại Trung tâm GDNN – GDTX cấp huyện.
- Chương 2: Thực trạng quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm GDNN – GDTX huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- Chương 3: Biện pháp quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm GDNN – GDTX huyện Đại Từ, Tỉnh Thái Nguyên.
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT ĐÀO TẠO TẠI TRUNG TÂM GDNN – GDTX CẤP HUYỆN
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Liên kết đào tạo là một vấn đề đã được nhiều tác giả đề cập tới, mỗi tác giả chuyên sâu nghiên cứu về một trong các nội dung của hoạt động liên kết đào tạo và quản lý liên kết đào tạo.
1.1.1 Những nghiên cứu về hoạt động liên kết đào tạo:
Ở CHLB Đức, LKĐT giữa nhà trường với DN được xem là hình thức đào tạo quan trọng và được áp dụng rộng rãi trong toàn quốc. Điển hình là mô hình Dual System thường được dịch là “đào tạo kép” [dẫn theo 29]. Đây là loại hình đào tạo cơ bản, có nhiều ưu điểm nổi trội trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả ĐTN và được nghiên cứu áp dụng ở nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, mô hình này cũng có một số nhược điểm đang được các nhà giáo dục CHLB Đức nghiên cứu khắc phục và hoàn thiện. Nếu áp dụng nguyên mẫu, cứng nhắc vào đào tạo ở nước ta sẽ gặp những khó khăn nhất định và có thể không có tính khả thi. Luận văn: Quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.
Ở Trung Quốc, quán triệt quan điểm “Ba kết hợp” (đào tạo, sản xuất và dịch vụ). Các trường dạy nghề gắn bó chặt chẽ với các cơ sở sản xuất và dịch vụ. Kết hợp đào tạo phong phú và đa dạng góp phần đáng kể vào việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề. Ở Thái Lan, một trong những mục tiêu chiến lược của kế hoạch phát triển quốc gia lần thứ 8 (1997 – 2001) và lần thứ 9 (2002 – 2013) của Thái Lan tập trung vào phát triển nguồn nhân lực trong nền kinh tế năng động. Để có nhân lực kỹ thuật phục vụ tại các DN sản xuất, họ đã tổ chức đào tạo tại xưởng sản xuất của mình [dẫn theo 29].
Nguyễn Thị Hòa trong công trình nghiên cứu về “Quản lý hoạt động liên kết đào tạo đại học hệ vừa làm vừa học tại Trung tâm Đào tạo Bồi dưỡng tại chức tỉnh Nam Định” [18] đã tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạt động liên kết đào tạo đại học hệ vừa làm vừa học tại TT cấp tỉnh, trên cơ sở đó, tác giả nghiên cứu thực trạng liên kết đào tạo hệ vừa làm vừa học tại Trung tâm Đào tạo Bồi dưỡng tại chức tỉnh Nam Định, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng liên kết đào tạo.
Công Văn Hướng trong công trình nghiên cứu về “Biện pháp quản lý hoạt động liên kết đào tạo văn bằng 2 hệ đại học ở trường Cán bộ Thanh tra thuộc Thanh tra chính phủ” [22] đã tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động liên kết đào tạo văn bằng 2 hệ đại học, từ đó tác giả triển khai nghiên cứu thực trạng về quản lý hoạt động liên kết đào tạo văn bằng 2 hệ đại học ở trường Cán bộ Thanh tra thuộc Thanh tra chính phủ, đề xuất một số giải pháp, trong đó nhấn mạnh đến giải pháp quản lý hoạt động học tập của học viên và củng cố trang bị cơ sở vật chất và thiết bị tại TT để nâng cao chất lượng liên kết.
Đoàn Như Hùng, khi giới thiệu về “Liên kết đào tạo giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp với DN ở một số nước trên thế giới và Việt Nam” [21], đã trình bày về các hình thức liên kết (ở Mĩ, Cộng hòa Liên bang Đức, Nhật Bản, Việt Nam), hợp tác giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp với DN khảo sát ở Bắc Ninh, Hà Nội, Đồng Nai); lợi ích của các bên trong việc liên kết này; mô hình đào tạo liên kết của nhà trường với DN (ở khu vực Châu Âu – Châu Mĩ, khu vực Châu Á, mô hình ở Việt Nam); nêu 13 hình thức phối hợp giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp với DN; các yếu tố thúc đẩy hoặc kìm hãm đến LKĐT giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp với DN.
Công trình nghiên cứu của Phan Chính Thức “Những giải pháp phát triển đào tạo nghề góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp CNH, HĐH” [32] đã phân tích và đưa ra vấn đề “tăng cường mối quan hệ của nhà trường với các đơn vị sản xuất” là một trong những giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo. Song, do hướng nghiên cứu của đề tài nên tác giả chưa phân tích các cơ sở khoa học, chỉ đề cập tới cách thức tiến hành tăng cường quan hệ của nhà trường với các 18 đơn vị sản xuất một cách đơn phương, chưa đề cập phương thức kết hợp đào tạo tổng quát ở Việt Nam, chưa đưa ra các giải pháp đồng bộ để quản lý hoạt động LKĐT giữa nhà trường và doanh nghiệp (do nhiệm vụ đề tài là tập trung giải quyết các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo công nhân kỹ thuật xây dựng ở Thủ đô Hà Nội, nên không đi sâu vào giải quyết lý luận và thực tiễn kết hợp đào tạo nghề).
Tác giả Lương Thị Tâm Uyên đã đề xuất 6 biện pháp phối hợp đào tạo giữa cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp nhằm đào tạo đội ngũ công nhân lành nghề, có đủ các yếu tố mà cơ sở sản xuất yêu cầu khi nghiên cứu về “Một số biện pháp phối hợp đào tạo giữa cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp” [36]. Luận văn: Quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.
Bàn về “Liên kết nhà trường – doanh nghiệp trong đào tạo nghề ở nước ta” [26], Võ Thị Ngọc Lan đề xuất một trong số các biện pháp có hiệu quả nhất là liên kết đào tạo nghề của nhà trường với doanh nghiệp. Bài viết tập trung trình bày khái lược về liên kết đào tạo nghề, trong đó nhấn mạnh về mô hình LKĐT ở một số nước ngoài như Úc, Nhật, Pháp, Đức. Kế tiếp là sơ lược thực trạng về LKĐT của nhà trường với doanh nghiệp ở Việt Nam. Sau cùng, đề xuất giải pháp tăng cường mối LKĐT của nhà trường với doanh nghiệp.
Từ địa bàn của tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn Tuyết Lan khi nghiên cứu về “Quản lý LKĐT giữa trường cao đẳng nghề với DN ở tỉnh Vĩnh Phúc đáp ứng yêu cầu phát triển nhân lực” [25] đã phân tích được những thành tựu, bất cập của thực trạng, nêu lên 5 nhóm biện pháp tiền đề cho quản lý LKĐT, biện pháp quản lý đầu vào, biện pháp quản lý quá trình đào tạo, biện pháp quản lý kết quả đầu ra, biện pháp quản lý bối cảnh đào tạo.
Đề tài “Xây dựng cơ chế, chính sách, mô hình liên kết giữa nhà trường với DN trong ĐTN cho người lao động” [11] do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chủ trì, đã đề xuất một số giải pháp liên quan tới cơ chế, chính sách trong các mô hình liên kết giữa cơ sở đào tạo với DN trong quá trình cùng hợp tác để nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động, phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
“Mô hình liên kết: DN – trường dạy nghề – trường đại học nhằm đào tạo nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Đồng Nai” [21] được tác giả Đoàn Như Hùng đề xuất. Sau khi đánh giá những hạn chế về đào tạo bậc đại học đang diễn ra ở các trường đại hiện nay như chưa gắn với thị trường lao động, với nhu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp. Tác giả phân tích các nguyên nhân như hình thức liên kết đào tạo chưa đa dạng, từ đó đề xuất mô hình liên kết, cơ chế liên kết giữa DN – trường dạy nghề – trường đại học và điều kiện thành công. Luận văn: Quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.
Với bài viết “Mối quan hệ giữa nhà trường với DN ở một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” [20] của nhóm tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy, Phạm Thanh Tùng và Đỗ Thế Hưng, nhóm tác giả chỉ rõ tầm quan trọng của mối quan hệ hợp tác giữa các trường với các doanh nghiệp, lợi ích mang lại khi thực hiện mối liên hệ này. Đồng thời nhóm tác giả chỉ ra những bài học kinh nghiệm của các nước trên thế giới và giải pháp thúc đẩy mối hoạt động liên kết đào tạo, những giải pháp cần thiết để xóa bỏ những khoảng cách giữa lý thuyết và thực hành, thúc đẩy mối quan hệ hợp tác giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp.
Tác giả Mạnh Xuân viết “Gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo nhân lực” [40], tác giả trích dẫn ý kiến phát biểu của Bùi Anh Tuấn, ông đã chỉ ra thực trạng trong hoạt động liên kết đào chưa thực sự triệt để, hiệu quả đạt được chưa cao. Tác giả đã phân tích rất rõ nguyên nhân là vì các cơ sở đào tạo chủ yếu chỉ thiết lập mối quan hệ với các doanh nghiệp bằng cách là mời họ với tư cách là đối tác chiến lược, chứ không tham gia trực tiếp vào đào tạo. Vì vậy mà các doanh nghiệp cùng với cơ sở đào tạo góp phần vào đào tạo nguồn nhân lực bằng cách tham gia trực tiếp góp ý xây dựng khung chương trình đào tạo, có chính sách đãi ngộ đối với lao động…
1.1.2 Những nghiên cứu về liên kết đào tạo ở TT GDNN- GDTX: Luận văn: Quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.
Nguyễn Thị Kim Anh, luận văn thạc sĩ “Quản lý hoạt động liên kết đào tạo ở TT GDTX 2 tỉnh Lạng Sơn” Đại học Giáo dục [1] đã phân tích cơ sở lý luận của hoạt động liên kết đào tạo (bậc cao đẳng, đại học, trung cấp chuyên nghiệp) tại TT GDTX 2 tỉnh Lạng Sơn, từ đó nghiên cứu về các hoạt động liên kết đào tạo diễn ra rất đa dạng, dưới nhiều hình thức khác nhau, cần thiết phải có biện pháp để quản lý. Tác giả đã đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng liên kết đào tạo tại TT GDTX 2 tỉnh Lạng Sơn và đánh giá ở mức độ rất khả thi khi triển khai áp dụng như thu thập các thông tin của học viên về chất lượng đào tạo và khảo sát nhu cầu của học viên về hoạt động học tập. Từ đó, tác giả đề xuất một số biện pháp như: Phối hợp quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên và hoạt động học tập của học viên; Hoàn thiện quy chế phối hợp quản lý liên kết đào tạo; Tăng cường xã hội hóa công tác liên kết đào tạo.
Đặng Thị Phương trong công trình nghiên cứu về “Quản lý hoạt động liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục thường xuyên Phố Nối tỉnh Hưng Yên” [28] đã trình bày cơ sở lý luận về hoạt động liên kết đào tạo và thực trạng hoạt động liên kết đào tạo tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên Phố Nối tỉnh Hưng Yên, tác giả đã đánh giá mặt mạnh, mặt yếu của TT, từ đó đề xuất một số giải pháp như: Củng cố trang bị cơ sở vật chất và thiết bị tại TT để nâng cao chất lượng liên kết; Quản lý hoạt động giảng dạy của GV và học viên…
Lâm Thanh Vĩnh trong luận văn thạc sĩ “Quản lý hoạt động đào tạo theo phương thức liên kết ở các TT GDTX tỉnh Thái Bình”, Đại học Giáo dục [38]. Từ kết quả nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng, tác giả đã đề xuất quản lý hoạt động đào tạo theo phương thức liên kết tại các TT GDTX tỉnh Thái Bình như: TT cần đổi mới cách thức điều tra nhu cầu học tập, thu thập nguyện vọng của xã hội để lập kế hoạch tuyển sinh; TT cần bổ sung quy chế phối hợp quản lý hoạt động liên kết đào tạo; TT cần phải thống nhất trong quản lý giảng dạy của giảng viên, hoạt động học tập của sinh viên; TT cần tăng cường vai trò chủ động của TT trong việc tìm kiếm đối tác…
Luận án tiến sĩ “Quản lý hoạt động liên kết đào tạo của trường cao đẳng kỹ thuật với doanh nghiệp” [29] của tác giả Nguyễn Ngọc Phương. Tác giả để nghiên cứu thực trạng, phương hướng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động liên kết đào tạo tại trường cao đẳng kỹ thuật nói chung với doanh nghiệp.
Luận án tiến sĩ “Quản lý liên kết đào tạo cao đẳng nghề đáp ứng nhu cầu nhân lực tại các khu công nghiệp tại Bình Dương” [27] tác giả Phan Trần Phú Lộc đã đề xuất giải pháp quản lý liên kết đào tạo tại các trường cao đẳng nghề và các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp tại tỉnh Bình Dương như khảo sát nhu cầu về nguồn nhân lực của các doanh nghiệp, mời doanh nghiệp tham gia xây dựng chương trình đào tạo… Luận văn: Quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.
Bên cạnh đó, nội dung hoạt động liên kết đào tạo còn là chủ đề mà các cơ sở giáo dục lựa chọn làm đề tài để tổ chức hội thảo, tiêu biểu như:
Tháng 10 năm 2020, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam đã chủ trì hội thảo khoa học với chủ đề là: “Đào tạo nhân lực trong giai đoạn hội nhập và phát triển kinh tế”. Hội thảo có sự góp mặt các các nhà khoa học, nhà quản lý, các nhà kinh tế… các báo cáo tham luận cùng nhau đi phân tích thực trạng, chỉ ra nguyên nhân để từ đó cùng nhau đưa ra các giải pháp nhằm đào tạo và phát nguồn nhân lực trong quá trình hội nhập và phát triển đất nước [37].
Tháng 11 năm 2020 với chủ đề “Tăng cường gắn kết giữa nhà trường với DN với mục đích nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu xã hội”, hội thảo của trường Đại học sư phạm Kỹ thuật Vinh đã thu hút được rất nhiều nhà Khoa học với 32 báo cáo. Các báo cáo đều xoay quanh những vấn đề như quan điểm, thực trạng và đề ra các giải pháp để thực hiện mối quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp, làm sao để đáp ứng được nhu cầu của xã hội.
Giữa năm 2021 trường Cao đẳng kinh tế Lý Tự Trọng Thành phố Hồ Chí Minh chủ trì hội thảo với chủ đề: “Hợp tác giữa nhà trường với DN để đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội”. Điểm mới của hội thảo là đã mời được các doanh nghiệp đưa ra những ý kiến cũng như là yêu cầu thực tế của mình đối với người lao động, để các cơ sở đào tạo nắm bắt được xu thế của các doanh nghiệp cũng như toàn xã hội.
Như vậy, vấn đề nghiên cứu về hoạt động liên kết đào tạo và quản lý hoạt động liên kết đào tạo ở TT GDTX đã được nhiều tác giả tập trung phân tích, đánh giá nhưng chưa có một đề tài nào nghiên cứu về quản lý hoạt động liên kết đào tạo tại TT GDNN – GDTX huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Chính vì vậy, các nguồn tài liệu nêu trên đã cung cấp cho tác giả kiến thức để xây dụng cơ sở lý luận của đề tài, đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động liên kết đào tạo phù hợp tại TT GDNN – GDTX huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài Luận văn: Quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.
1.2.1. Quản lý
- Khi bàn về khái niệm quản lý, tùy vào cách tiếp cận khác nhau mà có nhiều quan điểm khác nhau:
Theo khái niệm trong cuốn Từ điển Giáo dục học cho rằng: “Quản lý là hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [34, tr.326].
Theo Nguyễn Ngọc Quang thì khẳng định: “Quản lý là hoạt động tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [30].
Nguyễn Quốc Chí, đã xác định một cách cụ thể còn cho rằng: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [12].
Trần Kiểm khẳng định: “Quản lý là tác động có hướng đích của chủ thể quản lý, dựa trên nhận thức những quy luật khách quan của hệ quản lý đến các quá trình đang diễn ra nhằm đạt mục đích đặt ra một cách tối ưu” [24, tr.9].
Theo Trần Khánh Đức: “Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất” [16, tr.328]. Luận văn: Quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.
- Từ những quan điểm trên tác giả có thể khái quát khái niệm “Quản lý” được hiểu theo những khuynh hướng sau:
Đầu tiên, nếu nghiên cứu khái niệm quản lý với tư cách là một hoạt động lao động tất yếu trong các hoạt động, của con người thì khái niệm quản lý được hiểu như là cách thức tổ chức, định hướng và kiểm tra giám sát; dưới góc độ chuyên môn khác, khái niệm quản lý được hiểu là một quá trình điều khiển, thực hiện nhiệm vụ của tổ chức với những bản chất khác nhau (sinh học, xã hội, kỹ thuật…) nó đảm bảo cấu trúc, đồng thời duy trì chế độ hoạt động và bảo đảm sự hoạt động đó một cách thuận lợi của các hệ thống đó. Với tác động hợp quy luật khách quan, quản lý làm cho hệ vận động, vận hành và phát triển; Cuối cùng, khái niệm quản lý đóng vai trò với tư cách là một quá trình thực hiện các chức năng trong sự tương tác lẫn nhau. Theo cách hiểu này, quản lý được coi là sự tổng hợp của một chu trình như: lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo đồng thời kiểm tra, giám sát các công việc của các thành viên trực thuộc một đơn vị và cách thức sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích xác định. Có thể khẳng định rằng quản lý là quá trình hoạt động của chủ thể quản lý đối với các thành viên trong tổ chức. Chủ thể quản lý hoạt động với nhiệm vụ là lập dự báo, lên kế hoạch, chỉ đạo thực hiện và tiến hành tổ chức sản xuất; đồng thời phải kiểm tra đánh giá, giám sát. Trong quá trình thực hiện chức năng quản lý các hoạt động có thể diễn ra đan xem, có tác động, bổ sung tương trợ lẫn nhau để đạt hiệu quả quản lý nhất định.
Như vậy, theo chúng tôi quản lý là những tác động có mục đích, có tổ chức, kế hoạch của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý đề ra.
1.2.2. Đào tạo và quản lý đào tạo
- Đào tạo: Luận văn: Quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo,… một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công nhất định, góp phần của mình vào phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn mình của loài người. Đào tạo là một phạm trù giáo dục để chỉ riêng lĩnh vực giáo dục về nghề nghiệp, với một trình độ nghề nghiệp nhất định” [19].
Đào tạo “đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định. Khái niệm đào tạo thường có nghĩa hẹp hơn khái niệm giáo dục, thường đào tạo đề cập đến giai đoạn sau, khi một người đã đạt đến một độ tuổi nhất định, có một trình độ nhất định. Có nhiều dạng đào tạo: đào tạo cơ bản và đào tạo chuyên sâu, đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề, đào tạo lại, đào tạo từ xa, tự đào tạo” [19].
Từ những khái niệm trên, theo chúng tôi: Đào tạo là quá trình hoạt động có tổ chức và mục đích nhằm cung cấp những kiến thức và kỹ năng, kỹ xảo trong lý thuyết và thực tiễn nhằm thay đổi hành vi và thái độ làm việc của con người, làm cho họ có khả năng đáp ứng tiêu chuẩn và hiệu quả công việc chuyên môn.
- Quản lý đào tạo
Theo từ điển Tiếng Việt cụm từ Quản lý đào tạo có nghĩa là: “việc tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [35]. Hoạt động Quản lý đào tạo là tác động của những nhà quản lý vào quá trình giáo dục và đào tạo, chủ thể của quá trình đào tạo là những giảng viên và học viên, cùng với sự phối hợp của các lực lượng xã hội, mục đích là nhằm hình thành và giúp phát triển toàn diện cả về tri thức và nhân cách cho học viên theo mục tiêu, kế hoạch cũng như là sứ mệnh đào tạo của nhà trường đã đặt ra.
Từ những khái niệm theo chúng tôi: Quản lý đào tạo là một hoạt động với vai trò là tổ chức, điều khiển và kiểm tra, giám sát việc thực hiện; còn ĐT là quá trình làm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định. Vậy, khái niệm quản lý đào tạo là tổ chức, điều khiển và kiểm tra giám sát quá trình đào tạo để người học sau khi kết thúc khóa đào tạo có thể trở thành người có năng lực về chuyên môn, nghiệp vụ theo mục tiêu đào tạo.
1.2.3. Liên kết, liên kết đào tạo Luận văn: Quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.
- Liên kết
Có rất nhiều khái niệm khác nhau khi bàn về “Liên kết”.
Theo cuốn Từ điển Tiếng Việt, khái niệm liên kết được hiểu là “kết lại với nhau từ nhiều thành phần, hoặc tổ chức riêng rẽ” [35]. Từ khái niệm trên, khái niệm liên kết sẽ được sử dụng rộng rãi trên nhiều lĩnh vực: từ chính trị, kinh tế – xã hội, đến khoa học – công nghệ, văn hóa, GD-ĐT.
Khi xây dựng cơ chế, chính sách của mô hình liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp Bộ GD & ĐT cho rằng,, liên kết “Là sự phối hợp, kết hợp với nhau, chỉnh sửa cho phù hợp các khái niệm, hành động và các phần cấu thành”, “Là phối hợp cùng một mục đích và trong cùng một lúc nhiều tác dụng khác nhau tăng cường lẫn nhau”; “Là bố trí cùng nhau làm theo một kế hoạch chung để đạt một mục đích chung”; “Là sắp xếp nhiều yếu tố để cùng tiến hành theo một mục đích chung” [3]. Dưới góc độ xét về mục tiêu, hiệu quả, liên kết là: “Kết lại với nhau từ nhiều thành phần hoặc tổ chức riêng rẽ nhằm mục đích nào đó” [10]…
Như vậy, dù khái niệm liên kết dù xét trên khía cạnh nào, phương diện nào thì bản chất của liên kết là sự hợp thành của các yếu tố như: Đối tượng, chủ thể tham gia hoạt động liên kết; Hình thức liên kết; Nội dung liên kết; Mục đích liên kết. Tất cả các khái niệm đều có điểm chung là sự kết hợp, phối hợp của các đối tượng tham gia và cùng có một mục đích nhất định. Chính sự liên kết của các đối tượng, tổ chức có cùng lợi ích hay hướng giải quyết vấn đề sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn. Tùy từng hoạt động mà có các hình thức liên kết khác nhau như: liên kết bên trong (nội bộ), tức là sự kết hợp của hệ thống các bộ phận cấu thành với nhau và liên kết bên ngoài tức là các tổ chức kết hợp với nhau.
Hoạt động liên kết đào tạo ngày càng trở nên phổ biến. Khi bàn về khái niệm này Bộ LĐTB – XH từng đưa ra: “một hình thức gửi HS, HV đến thực tập tại các nhà máy, tại DN có điều kiện về trang thiết bị…”; “Là một hình thức đào tạo theo địa chỉ sử dụng, theo yêu cầu của đầu ra”[8]. Hay Bộ GD-ĐT nước ta đã ban hành Quyết định số 42/2015/QĐ-BGDĐT về LKĐT trình độ trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học. Tại văn bản này liên kết đào tạo được hiểu là “sự hợp tác giữa các bên để tổ chức thực hiện các CTĐT, cấp bằng tốt nghiệp tương ứng với trình độ đào tạo” [3].
LKĐT là một hoạt động nhằm phát huy được sức mạnh tổng hợp về nguồn lực vật chất và tri thức, nó giúp việc gắn kết giữa học đi đôi với hành, bởi ngay bản thân sản phẩm mà nhà trường tạo ra chính là nguồn lực cho xã hội. Chính nguồn lực này góp mặt trong tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa. Nhờ LKĐT sẽ tạo ra một sức mạnh mới, một chất lượng làm việc mới cho tổ chức. Đặc biệt trong các cơ sở giáo dục như các Trung tâm GDTX, các trường nghề, các trường CĐ, ĐH, thời lượng dạy thực hành là chủ yếu, chiếm khối lượng lớn tổng quỹ thời gian đào tạo. Do vậy, LKĐT sẽ góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo trên các mặt: Luận văn: Quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.
Như vậy, theo chúng tôi hoạt động LKĐT được hiểu là: Hoạt động cộng đồng trách nhiệm, hợp lực ở nhiều cấp độ hoặc toàn diện giữa các cơ sở đào tạo, các doanh nghiệp, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả trong đào tạo trình độ, đáp ứng đúng nhu cầu nhân lực cho sự phát triển của xã hội.
Mục đích liên kết đào tạo: Nó phản ánh lợi ích, mong muốn chung và cụ thể của từng tổ chức, thành phần tham gia liên kết như lợi ích kinh tế, lợi ích môi trường, lợi ích tuyển dụng nhân lực,…
Các thành phần, tổ chức liên kết đào tạo: Bao gồm các thành phần tổ chức độc lập có tư cách pháp nhân thuộc nhiều loại hình, tổ chức kinh tế – xã hội, giáo dục đào tạo, cơ quan quản lý nhà nước,… tham gia với những vai trò và vị trí nhất định trong liên kết.
Các hình thức liên kết: Theo thông tư số: 29/2024/TT-BLĐTBXH của Bộ LĐ-TB&XH ngày 15 tháng 12 năm 2024 quy định, có hai hình thức liên kết đào tạo. Tùy theo mục đích và tính chất liên kết mà các cơ sở có thể lựa chọn các liên kết đào tạo theo hình thức tổ chức khác nhau.
Liên kết phối hợp đào tạo là việc đơn vị phối hợp liên kết đào tạo trực tiếp tham gia giảng dạy CTĐT, phối hợp quản lý quá trình đào tạo và đảm bảo điều kiện cơ sở vật chất để thực hiện liên kết đào tạo.
Liên kết đặt lớp đào tạo là việc đơn vị phối hợp liên kết đào tạo không tham gia giảng dạy, chỉ phối hợp quản lý và “đảm bảo điều kiện cơ sở vật chất để thực hiện liên kết đào tạo. Với hình thức này, cơ sở giáo dục nghề nghiệp chủ trì đào tạo phải có đội ngũ giảng viên cơ hữu giảng dạy 100% nội dung, khối lượng chương trình đào tạo.
1.2.4. Quản lý liên kết đào tạo Luận văn: Quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.
Quản lý liên kết đào tạo là quá trình tác động qua lại giữa các chủ thể là các cơ sở giáo dục hoặc các cơ sở giáo dục với doanh nghiệp. Các chủ thể này cùng tham gia vào quá trình thực hiện mục tiêu phát triển bền vững nguồn nhân lực kỹ thuật, thực hiện được mục tiêu đào tạo của cả nhà trường và mục tiêu sản xuất của DN. Hoạt động LKĐT thể hiện tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với xã hội, đối với mỗi bên liên kết.
Để tạo ra những sản phẩm được xã hội kiểm chứng và tiếp nhận luôn có sự gắn kết giữa các cơ sở đào tạo và các doanh nghiệp, bắt đầu từ khâu lập kế hoạch, mục tiêu, khảo sát thực tế… để từ đó xây dựng chương trình, kế hoạch đào tạo, hướng nghiệp cho người học, tổ chức đào tạo phù hợp với thực tế. Đây là một hướng đi tích cực đòi hỏi vai trò của hoạt động quản lý LKĐT giữa cơ sở đào tạo với các doanh nghiệp, hay nhà tuyển dụng, là giúp cho quá trình đào tạo sát với thực tế sản xuất, cung cấp nguồn lực kỹ thuật thế hệ mới, đáp ứng với sự thay đổi to lớn về mặt khoa học công nghệ, chủ động được nguồn nhân lực, tăng khả năng cạnh tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế.
Như vậy, theo chúng tôi: Quản lý liên kết đào tạo là tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý để quản lý các hình thức phối hợp đào tạo nhằm tạo sự gắn bó chặt chẽ với nhau giữa các cơ sở đào tạo hoặc giữa các cơ sở đào tạo đối với đối tác khác nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của cơ sở đào tạo.
1.2.5. Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên, Quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên
- Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên
Theo Thông tư liên tịch, số 39/2022/TTLT-BLĐTBXH-BGDĐT-BNV thì GDNN – GDTX là một bộ phận của hệ thống giáo dục quốc dân, đóng vai trò đồng hành quan trọng trong việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu thay đổi công nghệ trong sản xuất và đời sống, xây dựng xã hội học tập. Người lao động hiện nay có thể học liên tục, suốt đời, vừa làm vừa học để nắm bắt xu thế của thời đại, đáp ứng yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao trình độ để từ đó người lao động tự tìm việc làm [9]. Đối với GDNN – GDTX, theo quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm giáo dục thường xuyên thì: “Trung tâm giáo dục thường xuyên là cơ sở giáo dục thường xuyên của hệ thống giáo dục quốc dân. Trung tâm giáo dục thường xuyên bao gồm Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện và Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh. Trung tâm giáo dục thường xuyên có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng” [7]. Luận văn: Quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.
- Quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên
Từ những khái niệm quản lý LKĐT đã nêu ở trên và theo Thông tư liên tịch, số 39/2022/TTLT-BLĐTBXH-BGDĐT-BNV về quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm GDNN – GDTX, theo chúng tôi Quản lý liên kết đào tạo ở TT GDNN – GDTX là tác động của chủ thể quản lý (CBQL TT GDNN -GDTX) đến đối tượng quản lý (hoạt động LKĐT) để xây dựng quy chế phối hợp LKĐT với đơn vị chủ trì đào tạo nhằm quản lý tốt và hiệu quả quản lý nề nếp dạy học, quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên và hoạt động học tập của học viên.
Trong quan hệ liên kết đào tạo giữa các TT GDNN –GDTX và các trường đại học, cao đẳng chuyên nghiệp phải tuân thủ đúng quy định về trách nhiệm, quyền hạn của các bên tham gia liên kết đào tạo, quy định rõ cơ chế hoạt động, thống nhất mức thu lệ phí tuyển sinh và học phí theo quy định, đồng thời thỏa thuận cụ thể hợp đồng thực hiện liên kết đào tạo. Các đơn vị cũng phải quy định rõ hình thức liên kết đào tạo theo hình thức phối hợp đào tạo hay đặt lớp đào tạo, sinh viên sẽ thực tập tại cơ sở chủ trì đào tạo hay cơ sở phối hợp đào tao/cơ sở giáo dục đặt lớp đào tạo… Khi các bên trong hoạt động liên kết đào tạo thống nhất được về cơ chế liên kết đào tạo và hài hòa lợi ích của các bên thì hoạt động liên kết sẽ đảm bảo lâu dài, bền vững và đạt được chất lượng tốt nhất. Lợi ích mà các cơ sở giáo dục chủ trì đào tạo (trường đại học, cao đẳng) đạt được trong liên kết đào tạo giáo dục nghề nghiệp là việc sử dụng được tối đa nguồn lực giảng viên, trang thiết bị giảng dạy, tối ưu chi phí đồng thời tăng phạm vi tuyển sinh khi có thể liên kết đào tạo với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp ở những vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn; tăng hiệu quả hoạt động đào tạo nguồn nhân lực, đạt được những mục tiêu, sứ mệnh do nhà trường đề ra. Đối với các TT GDNN – GDTX cũng tận dụng được nguồn lực từ các trường cả về nội dung bài giảng, đội ngũ giảng viên và công tác quản lý giáo dục, hoạt động tuyển sinh… đồng thời vẫn thực hiện được những mục tiêu và nhiệm vụ của chính cơ sở giáo dục nghề nghiệp đó. Đối với những TT GDNN –GDTX ở nơi có điều kiện khó khăn chưa có đủ nguồn lực để đáp ứng công tác giảng – dạy thì thông qua hoạt động liên kết đào tạo có thể sử dụng nguồn lực trang thiết bị, dụng cụ học tập và giảng dạy từ cơ sở chủ trì đào tạo. Luận văn: Quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.
1.3. Một số vấn đề lý luận về Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên cấp huyện
1.3.1. Nhiệm vụ của Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên trong quản lý hoạt động liên kết đào tạo
- Tổ chức đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ ở trình độ sơ cấp, đào tạo nghề nghiệp dưới 03 tháng; đào tạo theo hình thức kèm cặp nghề, truyền nghề, tập nghề; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng nghề cho người lao động trong doanh nghiệp; bồi dưỡng hoàn thiện kỹ năng nghề nghiệp cho người lao động; đào tạo nghề cho lao động nông thôn và tổ chức thực hiện các chính sách hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp và đào tạo dưới 03 tháng.
- Tổ chức thực hiện các chương trình giáo dục thường xuyên bao gồm: chương trình xóa mù chữ và tiếp tục sau khi biết chữ; chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu người học, cập nhật kiến thức, kỹ năng, chuyển giao công nghệ; chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ; chương trình giáo dục để lấy bằng của hệ thống giáo dục quốc dân.
- Tổ chức xây dựng và thực hiện các chương trình, giáo trình, học liệu trình độ sơ cấp, dưới 03 tháng đối với những nghề được phép đào tạo; chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, cập nhật kiến thức, kỹ năng, chuyển giao công nghệ.
- Xây dựng kế hoạch tuyển sinh, tổ chức tuyển
- Quản lý đội ngũ viên chức, giáo viên và nhân viên của Trung tâm theo quy định của pháp luật.
- Tổ chức lao động sản xuất và dịch vụ kỹ thuật phục vụ đào tạo.
- Nghiên cứu ứng dụng các đề tài khoa học về giáo dục nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên và hướng nghiệp, thử nghiệm, ứng dụng và chuyển giao công nghệ mới phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.
- Tổ chức các hoạt động dạy và học; kiểm tra và cấp chứng chỉ theo quy định.
- Tư vấn nghề nghiệp, tư vấn việc làm cho người học; phối hợp với các Trường Trung học cơ sở, Trung học phổ thông tuyên truyền, hướng nghiệp, phân luồng học sinh. Luận văn: Quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.
- Phối hợp với các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, gia đình người học trong hoạt động đào tạo nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên và hướng nghiệp; tổ chức cho người học tham quan, thực hành,thực tập tại doanh nghiệp.
- Thực hiện dân chủ, công khai trong việc thực hiện các nhiệm vụ đào tạo nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên và hướng nghiệp.
- Quản lý, sử dụng đất đai, cơ sở vật chất, thiết bị và tài chính theo quy định của pháp luật.
- Tạo điều kiện hoặc tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho viên chức, giáo viên và nhân viên của Trung tâm được học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.
- Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ và đột xuất theo quy định.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật” [9].
Nhiệm vụ đầu tiên các Trung tâm GDNN – GDTX là phải tuân thủ các quy định của pháp luật trong quản lý giáo dục của nhà nước Việt Nam, từ đó các Trung tâm góp phần quan trọng vào chương trình dạy học trong hệ thống giáo dục quốc dân; Các chương trình bồi dưỡng kiến thức, bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học,… đáp ứng nhu cầu của người học. Mục tiêu đáp ứng các yêu cầu của người học trong quá trình làm việc, học tập và phát triển bản thân, giúp các cá nhân có cơ hội hoàn thiện kỹ năng, học vấn.
Bên cạnh đó, theo Quyết định 01/2014/QĐ, Điều 3, Quy chế tổ chức và hoạt động của trung tâm giáo dục thường xuyên, của Bộ GD-ĐT đã quy định rất cụ thể nhiệm của Trung tâm giáo dục thường xuyên là:
“Thứ nhất,… đáp ứng yêu cầu của người học, cập nhật kiến thức, kỹ năng, chuyển giao công nghệ; Chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ bao gồm: chương trình bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học ứng dụng, công nghệ thông tin – truyền thông; chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn; chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ… Luận văn: Quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.
Thứ hai, thực hiện điều tra nhu cầu học tập trên địa bàn, xác định nội dung học tập, đề xuất với sở giáo dục và đào tạo, chính quyền địa phương việc tổ chức các chương trình và hình thức học phù hợp với từng loại đối tượng.
Thứ ba, tổ chức các lớp học theo các chương trình giáo dục thường xuyên cấp Trung học cơ sở và Trung học phổ thông dành riêng cho các đối tượng được hưởng chính sách xã hội, người tàn tật, khuyết tật, theo kế hoạch hằng năm của địa phương.
Thứ tư, tổ chức dạy và thực hành kỹ thuật nghề nghiệp, các hoạt động lao động sản xuất và các hoạt động khác phục vụ học tập.
Thứ năm, nghiên cứu, tổng kết rút kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động nhằm nâng cao chất lượng giáo dục góp phần phát triển hệ thống giáo dục thường xuyên” [5].
Quyền hạn của các Trung tâm GDNN – GDTX: Khi thực hiện hoạt động quản lý liên kết đào tạo bên cạnh những chức năng, nhiệm vụ thì các Trung tâm này có những quyền hạn cụ thể như sau:
Một là, với tư cách là chủ thể tham gia vào quá trình quản lý đào tạo các Trung tâm GDNN- GDTX cần chủ động tổ chức điều tra nhu cầu về nguồn nhân lực của thị trường lao động và nhu cầu được đào tạo của người học. Sau khi đã tìm hiểu kỹ nhu cầu của thị trường cũng như người học, các Trung tâm và các đơn vị liên kết cảm thấy phù hợp có thể lựa chọn đối tác phù hợp để liên kết đào tạo nếu đủ các điều kiện quy định.
Hai là, tiến hành các thủ tục về pháp lý, hành chính như đề nghị các cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu, chấp thuận việc liên kết đào tạo, nếu có đủ các điều kiện quy định.
Ba là, các bên tham gia liên kết cần thống nhất mức thu lệ phí tuyển sinh, học phí, tài liệu, giáo trình và phí bảo hiểm (tự nguyện) theo quy định của bảo hiểm.
Bốn là, Các bên tham gia liên kết cần chủ động và trực tiếp tham gia để ký hợp đồng liên kết đào tạo mà không qua bất kỳ một đối tác trung gian nào. Luận văn: Quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.
Với tư cách là chủ trì các đơn vị đào tạo, lúc này Trung tâm GDNN – GDTX có một số quyền hạn: Đầu tiên, đơn vị chủ trì đào tạo được hoàn toàn chủ động trong việc tổ chức quá trình đào tạo bao gồm: đưa ra chương trình đào tạo, chuẩn bị và đảm bảo các điều kiện đảm bảo chất lượng tham gia quá trình đào tạo như đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, trang thiết bị; thiết lập kế hoạch đào tạo; tổ chức tuyển sinh; phân công giảng dạy; hợp đồng thỉnh giảng; xét những học viên đủ điều kiện tốt nghiệp, công nhận kết quả và cấp bằng tốt nghiệp cho người học. Đồng thời, với đơn vị phối hợp đào tạo trước nhu cầu của thị trường lao động có thể đề nghị hoặc đề xuất với đơn vị chủ trì đào tạo bổ sung những nội dung cần thiết vào chương trình đào tạo; Mặt khác, theo thỏa thuận của hợp đồng liên kết đào tạo, đơn vị cử đại diện tham gia quản lý, nhận xét, đánh giá người dạy và người học.
Đối với các bên tham gia liên kết đào tạo: cần xây dựng chỉ tiêu tuyển sinh và lên kế hoạch tổ chức tuyển sinh cụ thể với từng ngành nghề, bậc đào tạo, tổ chức tuyển sinh học nghề và quản lý người học. Sau khi tuyển sinh đủ số lượng yêu cầu thì tiến hành tổ chức quá trình đào tạo tại đơn vị, cần đáp ứng các điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học cho hoạt động LKĐT. Thống nhất mức thu học phí, các khoản lệ phí phát sinh trong quá trình đào tạo, công khai mức thu lệ phí và các khoản lệ phí cho người học biết. Trong quá trình đào tạo, quản lý người học theo các quy định của Bộ GD &ĐT, cấp bằng tốt nghiệp khi người học đáp ứng chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo.
Các đơn vị LKĐT phối kết hợp nhau để theo dõi, giám sát hoạt động của giảng viên trong thực hiện chương trình giảng dạy và kế hoạch đào tạo. Thực hiện các chế độ chính sách đối với người học theo quy định.
1.3.2. Chức năng của trung tâm GDNN – GDTX trong quản lý hoạt động liên kết đào tạo Luận văn: Quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.
Khi ban hành quy định về liên kết đào tạo trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quy định rõ quyền hạn và trách nhiệm của các Trung tâm GDNN – GDTX tham gia quản lý hoạt động liên kết đào tạo. Theo Quyết định 01/2014/QĐ-BGDĐT, Quy chế tổ chức và hoạt động của trung tâm giáo dục thường xuyên [7], cụ thể:
- Đơn vị chịu trách nhiệm chính trong đào tạo bao gồm: Các Học viện; Trường Đại học; Trường Cao đẳng chuyên nghiệp, Cao đẳng nghề.
- Đơn vị phối hợp đào tạo bao gồm các Học viện, cao đẳng, đại học, các trường trung cấp chuyên nghiệp, và trung tâm GDTX cấp huyện, Trung tâm giáo dục thường xuyên Tỉnh, Thành phố (Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp Tỉnh).
- Đối với trường hợp liên kết đào tạo ở trình độ trung cấp, chuyên nghiệp, trong văn bản quy định rõ nhiệm vụ của các bên tham gia liên kết đào tạo: Đơn vị đào tạo bao gồm các cơ sở giáo dục được giao nhiệm vụ đào tạo trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề; Các cơ sở giáo dục Đại học, Cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, Trung tâm giáo dục thường xuyên huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện) có nhiệm vụ là đơn vị phối hợp đào tạo.
Để thực hiện liên kết đào tạo đạt được hiệu quả cần đảm bảo những điều kiện sau: (trích điều 7, chương 1 – quyết định về liên kết đào tạo ngày 23/08/2015 của Bộ trưởng bộ GD – ĐT).
Thứ nhất. Đối với đơn vị là cơ sở đào tạo cần:
- Đảm bảo có văn bản cho phép mở ngành đào tạo đối với ngành dự định liên kết.
- Văn bản chứng thực là đơn vị đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt chỉ tiêu đào tạo.
- Đảm bảo yêu cầu về đội ngũ giảng viên (giáo viên): Như là trình độ chuyên môn, số lượng giảng viên, trình độ và số lượng cán bộ quản lý, đảm bảo đủ cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy theo quy định, phù hợp với mục tiêu đào tạo của khóa học.
Thứ hai, Đối với đơn vị phối hợp tham gia đào tạo:
- Đơn vị phải xác định nhu cầu số lượng, chất lượng, ngành nghề và trình độ đào tạo.
- Xác định được địa điểm đặt lớp: Tùy trình độ khác nhau mà có địa điểm khác nhau. Đối với các khóa liên kết đào tạo cấp bằng tốt nghiệp hệ trung cấp chuyên nghiệp, địa điểm đặt phải là các trường, các Trung tâm GDNN – GDTX cấp huyện.
- Đối với các lớp liên kết đào tạo để cấp bằng tốt nghiệp hệ đại học, cao đẳng địa điểm đặt lớp phải là các trường, các Trung tâm GDTX cấp tỉnh. Luận văn: Quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.
- Đơn vị phối hợp tham gia đào tạo cần đảm bảo yêu cầu về cơ sở vật chất, trang thiết bị cần thiết để phục vụ trong quá trình dạy học, thực hành, thực tập, đảm bảo môi trường sư phạm, có đội ngũ cán bộ quản lý phù hợp với mục tiêu đào tạo của khóa học.
Thứ ba, Việc bảo quản và lưu giữ hồ sơ liên kết đào tạo:
- Hồ sơ được bảo quản và lưu trữ tại đơn vị chủ trì đào tạo, gồm có: Hồ sơ xin mở lớp liên kết; Hồ sơ tuyển sinh (bao gồm tập lý lịch trích ngang có dán ảnh của học sinh, học viên, số lượng học sinh, học viên, quyết định trúng tuyển); hồ sơ quản lý khóa đào tạo (Bao gồm nội dung chương trình đào tạo, kế hoạch đào tạo, mục tiêu đào tạo); kế hoạch giảng dạy (của giảng viên); sổ theo dõi học tập của học viên; các loại hồ sơ có liên quan (thi, kiểm tra học phần, tốt nghiệp); sổ cấp phát văn bằng, chứng chỉ.
- Đơn vị phối hợp đào tạo cần lưu giữ và bảo quản hồ sơ: Các văn bản giao nhiệm vụ của cơ quan quản lý có liên quan đến liên kết đào tạo khóa học; hồ sơ quản lý đào tạo; các loại hồ sơ có liên quan.
Như vậy, về chức năng của trung tâm GDNN – GDTX đã được Bộ GD-ĐT quy định rất chi tiết. Khi tiến hành thực hiện các cơ sở đào tạo phải luôn đảm bảo làm đúng, đủ các thủ tục cũng như các trình tự.
1.4. Quản lý liên kết đào tạo tại các trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên cấp huyện
1.4.1. Mục đích của quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên
Hiện nay, các trung tâm GDNN – GDTX cung ứng cơ hội học tập suốt đời nhằm thúc đẩy sự phát triển tài nguyên con người. Với nguồn tài nguyên con người được cải thiện sẽ góp phần tác động đến việc sự phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn hiện nay. Chính vì vậy, xu thế phát triển của các Trung tâm GDNN – GDTX là tất yếu và ngày càng được khẳng định là một bộ phận quan trọng trong hệ thống giáo dục của các nước. Luận văn: Quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.
Trên con đường chinh phục thế kỷ XXI, sự phát triển của các Trung tâm GDNN – GDTX như là một chìa khóa quan trọng để mở các tri thức, khoa học của nhân loại. Ngay từ những năm 70 của thế kỷ XX, trong khi xây dựng chiến lược mới để phát triển giáo dục, Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO) đã thể hiện rõ hệ thống quan điểm khoa học, tiến bộ, khẳng định đóng góp có ý nghĩa tích cực của giáo dục nói chung đối với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và các trung tâm GDNN – GDTX nói riêng, những quan điểm đó cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
Những định hướng mang tính chiến lược này của UNESCO có ý nghĩa quan trọng không chỉ riêng với Việt Nam, mà có tác động to lớn đối với hệ thống giáo dục trên thế giới.
1.4.2. Nội dung quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên
- Phối hợp quản lý mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo
- Quản lý công tác tuyển sinh:
Đơn vị chủ trì đào tạo: Đơn vị công bố thông tin tuyển sinh công khai về các ngành, nghề LKĐT trên báo chí, truyền hình, mạng xã hội như: Số lượng chỉ tiêu, thời gian đào tạo, hình thức đào tạo, học phí, tiền giáo trình, tài liệu. Tổ chức tuyển sinh theo quy chế tuyển sinh và quy định hiện hành. Luận văn: Quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.
Đơn vị phối hợp đào tạo ( TT GDNN – GDTX cấp huyện): Phối hợp với đơn vị chủ trì đào tạo để thông báo chỉ tiêu tuyển sinh trên các phương tiện thông tin đại chúng, dự báo nhu cầu nguồn nhân lực của địa phương để đề xuất kế hoạch LKĐT với các trường cao đẳng, đại học nhằm chuẩn bị công tác tuyển sinh; Nhận hồ sơ đăng kí dự thi của thí sinh, đối với các ngành, nghề LKĐT không qua thi tuyển, tổ chức xét hồ sơ của người dự tuyển. Đối với các ngành, nghề phải thi tuyển, phối hợp với các trường cao đẳng, đại học LKĐT để lập kế hoạch thi tuyển, lên danh sách để chuyển cho bộ phận tuyển sinh của trường ĐH, CĐ thành lập Hội đồng tuyển sinh. Sau đó, phối hợp tổ chức thi tuyển sinh, đối với người học trúng tuyển, tiến hành quản lý hồ sơ của học viên trúng tuyển.
Phối hợp quản lý mục tiêu đào tạo: Mục tiêu đào tạo là đáp ứng nhu cầu nhân lực và đáp ứng nhân lực tại địa phương, nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động và đổi mới giáo dục, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp và giảm lãng phí xã hội, nhằm đào tạo nguồn nhân lực có trình độ, đủ số lượng, có phong cách lao động chuyên nghiệp. Quản lý việc xây dựng mục tiêu, quản lý quá trình giảng dạy thực tế của giảng viên và học viên sao cho các kế hoạch đào tạo, nội dung chương trình giảng dạy thể hiện tính mềm dẻo, linh hoạt, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho người học trong quá trình đăng ký môn học, lựa chọn khối lượng học tập từng kỳ phù hợp với các điều kiện học tập riêng của bản thân. Triển khai xây dựng các nhiệm vụ và yêu cầu đào tạo riêng với mỗi chương trình để đảm bảo sau khi ra trường người học sẽ phải đáp ứng các yêu cầu về kiến thức, về kỹ năng, về thái độ, về khả năng làm việc của người học sau khi tốt nghiệp, về khả năng học tập, nâng cao trình độ sau khi tốt nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu và những đòi hỏi của thị trường luôn luôn biến động.
- Phối hợp quản lý nội dung chương trình đào tạo:
- Đơn vị chủ trì đào tạo có trách nhiệm về liên kết đào tạo như sau:
Đơn vị xây dựng chỉ tiêu tuyển sinh và tổ chức tuyển sinh, tiến hành tổ chức quá trình đào tạo với các điều kiện về cơ sở vật chất đáp ứng chương trình đào tạo. Khi người học đủ điều kiện tốt nghiệp, tiến hành đánh giá kết quả và cấp bằng tốt nghiệp cho người học. Các quy định về học phí, lệ phí theo quy định hiện hành, chịu sự giám sát, kiểm tra của các cơ quan có thẩm quyền trên địa bàn đặt lớp về hoạt động LKĐT. Luận văn: Quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.
Về tổ chức đào tạo: Xây dựng chương trình với chuẩn đầu ra cho người học đáp ứng mục tiêu đào tạo, có đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý, giáo trình tài liệu, các thiết bị phục vụ dạy học; Có kế hoạch giảng dạy và đề cương chi tiết môn học, thực hiện phân công giảng dạy giáo viên qua phiếu báo giảng, đánh giá, công nhận kết quả rèn luyện của người học, cấp phát văn bằng, chứng chỉ. Cơ quan quản lý Nhà nước thực hiện kiểm tra, giám sát về các hoạt động tuyển sinh, tổ chức đào tạo, thu học phí theo quy định, cấp bằng tốt nghiệp cho người học.
Thực hiện quản lý người học theo các quy định hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo khi học tập tại đơn vị, đáp ứng các yêu cầu về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, giáo trình, tài liệu nhằm đảm bảo quyền lợi của người học
- Đơn vị phối hợp đào tạo (các Trung tâm GDNN – GDTX) chịu trách nhiệm:
Dựa trên chương trình đào tạo của các trường cao đẳng, đại học LKĐT cung cấp, các TT GDNN – GDTX phối hợp với các trường để thống nhất lập lịch giảng dạy của giảng viên và lịch học của học viên, thống nhất lịch thi hết môn. Ký hợp đồng đào tạo khóa học với trường LKĐT; Phối hợp với phòng đào tạo các trường LKĐT thực hiện kiểm tra, giám sát hoạt động giảng dạy của giảng viên và hợp đồng giảng dạy để thanh lý, chuyển phòng tài chính – kế toán thanh toán cho GV các trường LKĐT.
Trong hoạt động LKĐT, cùng với đơn vị LK đáp ứng yêu cầu về cơ sở vật chất cho hoạt động LKĐT như phòng học rộng, đủ ánh sáng, trang bị máy chiếu, thiết bị dạy học. Nhà xưởng, nhà thực hành trang bị các máy móc, thiết bị đáp ứng việc thực hành của học viên. Luận văn: Quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.
Phối hợp theo dõi, giám sát thực hiện nền nếp dạy học và tiến độ thực hiện trong kế hoạch đào tạo đối với các lớp LKĐT và nếu phát hiện sai phạm, kịp thời báo cho đơn vị LKĐT để điều chỉnh. Phối hợp với đơn vị chủ trì đào tạo quản lý người học và thực hiện các chính sách ưu đãi đối với người học theo quy chế hiện hành.
Tiếp nhận và nắm bắt các thông tin về giảng viên đến từ đơn vị LKĐT để phối hợp thực hiện kế hoạch lên lớp, phối hợp giám sát thi hết học phần các môn học. Giải quyết những yêu cầu của học viên trong phạm vi quyền hạn, trách nhiệm.
Các bên LKĐT có trách nhiệm ký kết các hợp đồng và thực hiện các cam kết trong hợp đồng liên kết, phối hợp, theo dõi giám sát lẫn nhau trong thực hiện tuyển sinh, thực hiện chương trình đào tạo, quản lý quá trình giảng dạy của giảng viên, phối hợp nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo, tôn trọng quyền lợi của người học trong suốt quá trình thực hiện khóa đào tạo.
- Phối hợp quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên và hoạt động học tập của học viên
Trong hoạt động quản lý liên kết đào tạo của các trung tâm GDNN – GDTX ngoài sự phối hợp của các bên tham gia vào quá trình xây dựng mục tiêu, chương trình đào tạo; còn cần có sự phối hợp của những người trực tiếp tham gia vào quá trình đào tạo, quyết định chất lượng của người học, đó là quản lý các hoạt động giảng dạy của giảng viên và học tập của học viên.
- Quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên
Thực hiện theo Quyết định số 42 /2015/QĐ-BGDĐT ngày 28 tháng 7 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Một là, khi các trường liên kết cử giáo viên đến giảng dạy: khi đến địa điểm liên kết cần xuất trình giấy báo giảng cho trung tâm. (Trên giấy báo giảng cần có đầy đủ các thông tin về giảng viên, môn học, thời gian thực hiện môn học, số tiết của môn học, số bài thi và kiểm tra của môn học), bố trí nơi ăn ở thuận tiện và tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất, thiết bị đảm bảo tốt cho công việc giảng dạy, thực hành.
Hai là, trong quá trình dạy học, theo dõi giám sát việc thực hiện kế hoạch đào tạo và lịch lên lớp qua sổ theo dõi giảng dạy, duy trì nề nếp dạy – học của giảng viên, giáo viên và học viên, quản lý thời gian lên lớp của GV, kiểm tra thường xuyên, định kỳ giờ giảng của GV, kiểm tra, giám sát công tác kiểm tra, kết thúc môn học của GV. Phối hợp thường xuyên giữa cán bộ phòng giáo vụ, giáo viên chủ nhiệm lớp với giảng viên trong việc quản lý học viên, học sinh tham gia học khóa học LKĐT tại trung tâm. Để nắm bắt tâm tư nguyện vọng, diễn biến tâm lý của học viên cần thông qua nhiều kênh thông tin như qua giáo viên chủ nhiệm, qua những người phục vụ để điều chỉnh kịp thời. Luận văn: Quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.
Ba là, Khi môn học kết thúc, trung tâm phải xác nhận số tiết giảng viên lên lớp theo thực tế, nhận xét quá trình thực hiện quá trình dạy của giảng viên, lưu một bản sao; thanh toán chế độ hợp đồng theo hợp đồng thỏa thuận. Kết hợp với phòng đào tạo của đơn vị chủ trì đào tạo nhận xét đánh giá giảng viên khi kết thúc môn học và khóa đào tạo.
- Quản lý hoạt động học tập của học viên
Một là, thông báo cho học viên kế hoạch học tập của học viên và kế hoạch làm việc của trung tâm, để học viên có thể chủ động trong công việc. Trong quá trình học tập, theo dõi đánh giá ý thức học tập, việc chấp hành các nội quy, quy chế của nhà trường chủ trì đào tạo và của trung tâm đối với học viên theo học tại trung tâm; phối hợp với đơn vị chủ trì đào tạo tổ chức sơ kết, tổng kết, khen thưởng cũng như xử lý kỷ luật học viên vi phạm.
Hai là, thường xuyên kiểm tra, theo dõi số tiết học trên lớp của từng học viên để làm căn cứ, cơ sở xét duyệt điều kiện dự thi môn học.
Ba là, xây dựng đội ngũ cán bộ lớp, họp lớp sau mỗi kỳ học
Bốn là, duyệt điều kiện, tư cách dự thi môn học vào buổi học cuối cùng của môn học.
Năm là, tổ chức giám sát công tác kiểm tra, thi học phần, thi hết môn theo đúng quy chế.
Sáu là, hàng năm duyệt lại danh sách lớp, sàng lọc học viên không đủ tư cách. Xây dựng ban cán sự có khả năng tự quản tốt. Tổ chức họp sơ kết lớp sau mỗi môn học, đợt học, kỳ học.
Bảy là, luôn thông báo tình hình rèn luyện và kết quả học tập của học viên theo từng kỳ học, năm học đến cơ quan, đơn vị và địa phương có người đi học để cơ quan, đơn vị có người tham gia học tập tạo điều kiện để học viên đảm bảo các yêu cầu theo quy định và thực hiện tốt nhiệm vụ của người học. Luận văn: Quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.
- Phối hợp quản lý nề nếp dạy, học
Quản lý nề nếp dạy học là quản lý việc chấp hành các quy định về nề nếp dạy, học như nội quy, quy chế… theo một nề nếp nhất định, ổn định, có kỷ cương và tự giác. Nội dung, quy chế thực hiện nề nếp dạy, học cho giảng viên và học viên là những quy định tại TT GDNN – GDTX và đơn vị LKĐT. TT GDNN – GDTX quy định về nề nếp dạy học đối với GV và học viên như ra vào lớp đúng giờ, dạy và học nghiêm túc theo đúng phân phối chương trình.
Xây dựng bồi dưỡng động cơ và thái độ học tập, hình thành nề nếp học tập cho học viên. Hướng dẫn học viên xây dựng kế hoạch tự học để quản lý nề nếp học tập cho học viên.
Hướng dẫn học viên xây dựng phương pháp tự học để rèn nề nếp học tập. Mỗi học viên phải xác định và lựa chọn cho mình phương pháp học tập phù hợp, giảng viên hướng dẫn và tạo điều kiện đảm bảo để học viên xây dựng kế hoạch tự học để có được nề nếp học tập tốt góp phần nâng cao chất lượng dạy và học.
Kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện nề nếp học tập của học viên. Kiểm tra việc thực hiện nền nếp học tập của học viên và giảng viên theo những mục tiêu, yêu cầu đã được quy định trong nội quy của TT GDNN – GDTX và đơn vị LKĐT nhằm phát hiện những sai lệch để kịp thời điều chỉnh. Căn cứ vào lịch giảng dạy của phòng đào tạo các đơn vị LKĐT giám sát việc tổ chức giảng dạy của các lớp học. Luận văn: Quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.
- Quản lý việc kiểm tra, đánh giá quá trình đào tạo
Kiểm tra, đánh giá là quá trình thu thập, trao đổi thông tin về quá trình đào tạo có diễn ra theo đúng tiến độ, kết quả và dự kiến theo đúng mục tiêu và kế hoạch không? Vì vậy, kiểm tra, đánh giá quá trình đào tạo là cần thiết nhằm phát hiện những thiếu xót để có biện pháp điều chỉnh. Vì vậy:
Kiểm tra, đánh giá công tác tuyển sinh đã đáp ứng được nhu cầu học tập của nhân dân địa phương chưa? Tuyển sinh có đúng đối tượng không? Kiểm tra, đánh giá để tránh trường hợp xảy ra hiện tượng gian lận trong hồ sơ, thi cử. Kiểm tra, đánh giá công tác tuyển sinh để rút kinh nghiệm nhằm phối hợp với đơn vị LKĐT tuyển sinh có chất lượng hơn.
Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học viên để có biện pháp tác động phù hợp đối với học viên chưa có ý thức học tập, chưa xác định động cơ và thái độ học tập đúng đắn. Kiểm tra, đánh giá để xác định kết quả tiếp thu, vận dụng kiến thức, kỹ năng và thái độ cần có trong từng giai đoạn của quá trình học tập làm cơ sở để nâng cao trình độ người học ở giai đoạn tiếp theo, thúc đẩy người học hăng hái, chuyên cần.
Xác định kết quả đạt được của người học về tri thức, thái độ, kỹ năng, đối chiếu với mục tiêu đào tạo cuối khóa học và yêu cầu thực tiễn làm cơ sở cấp văn bằng, chứng chỉ (đánh giá đầu ra). Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện chương trình đào tạo, kiểm tra, đánh giá nội dung, kế hoạch dạy học của giảng viên, kiểm tra về quy chế chuyên môn, đối với thi hết môn, thi tốt nghiệp, cấp phát văn bằng, chứng chỉ.
Phối hợp kiểm tra, đánh giá quá trình tổ chức thực hiện liên kết đào tạo đối với các hệ đào tạo nhằm phát hiện những phát hiện những sai xót để điều chỉnh kịp thời các hoạt động như hoạt động học tập của học viên, hoạt động giảng dạy của GV.
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên cấp huyện
1.5.1. Các yếu tố chủ quan Luận văn: Quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.
Nhận thức của CBQL, GV: Để tổ chức và quản lý tốt hoạt động liên kết đào tạo đòi hỏi CBQL, GV phải nhận thức được trách nhiệm của mình trong quản lý và thực hiện tốt những nhiệm vụ được giao nhằm tổ chức phát triển hoạt động liên kết đào tạo của TT GDNN – GDTX cấp huyện, đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân ở địa phương.
Năng lực quản lý của CBQL: Năng lực của đội ngũ CBQL có ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý liên kết đào tạo và hiệu quả của hoạt động quản lý liên kết đào tạo. CBQL phải là những người đầu đàn trong tổ chức quản lý, xây dựng đội ngũ GV đạt chuẩn, nắm chắc và hiểu sâu sắc mục tiêu, chương trình, nội dung đào tạo, tổ chức giảng dạy, học tập có hiệu quả. Chủ động liên kết với đơn vị liên kết đào tạo trong điều tra khảo sát, xây dựng quy hoạch liên kết đào tạo và tổ chức thực hiện liên kết đào tạo. Thực tiễn chỉ ra rằng những TT GDNN – GDTX có bộ máy quản lý tổ chức khoa học, đồng bộ, có đội ngũ CBQL và GV đạt chuẩn, tâm quyết và có tầm nhìn sẽ biết huy động được sức mạnh tập thể trong xây dựng, quản lý tổ chức thực hiện có hiệu quả hoạt động quản lý liên kết đào tạo.
Ý thức, động cơ, thái độ học tập của học viên: Học viên là một trong những nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của hoạt động liên kết đào tạo của TT GDNN – GDTX. Sự chọn lựa học tập của học viên và ý thức, động cơ, thái độ học tập của học viên tại TT chứng minh uy tín, chất lượng của hoạt động liên kết đào tạo đối với cộng đồng, xã hội.
1.5.2. Các yếu tố khách quan
Chính sách của ngành về liên kết đào tạo: Thông tư liên tịch số: 39/2022/ TTLT-BLĐTBXH-BGDĐT-BNV (ngày 19 tháng 10 năm 2022 của Bộ LĐ-TB- XH; Bộ GD – ĐT Bộ NV) thì Trung tâm GDNN – GDTX và Thông tư liên tịch số: 39/2022/TTLT-BLĐTBXH-BGDĐT-BNV (ngày 19 tháng 10 năm 2022 của Bộ LĐ-TB – XH; Bộ GD – ĐT Bộ NV; Nghị quyết số 29/NQ-TW về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đào tạo định hướng: “Hoàn thiện mạng lưới cơ sở giáo dục thường xuyên và các hình thức học tập, thực hành phong phú, linh hoạt, coi trọng tự học và giáo dục từ xa”. Quyết định số 89/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 9/01/2020 về việc phê duyệt đề án Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2019-2027 nhấn mạnh: “Đẩy mạnh các hoạt động liên kết đào tạo ở các cơ sở giáo dục và đào tạo, đặc biệt là các cơ sở giáo dục đại học”. Các chủ trương, chính sách về liên kết đào tạo đã và đang góp phần ủng hộ, hỗ trợ hình thức liên kết đào tạo thực hiện đào tạo nhân lực trình độ đại học phục vụ phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương. Luận văn: Quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.
Văn kiện đại hội đảng khóa XI cũng đã chỉ đạo: “Đẩy mạnh đào tạo nghề theo nhu cầu phát triển của xã hội; có cơ chế và chính sách thiết lập mối liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp với cơ sở đào tạo” [15]. Đảng ta xác định trong thời gian tới xu hướng phát triển giáo dục và đào tạo là: “định hình quy mô giáo dục và đào tạo, điều chỉnh cơ cấu đào tạo, nhất là cơ cấu các cấp học, ngành nghề và cơ cấu theo lãnh thổ phù hợp với nhu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế xã hội” [13]. Xây dựng chiến lược phát triển trong giai đoạn hiện nay Đảng ta chú trọng tập trung vào nguồn nhân lực và phải gắn liền với một số ngành nghề trọng điểm, chứ không đầu tư đào tạo tràn lan, Chủ trương của Đảng xác định yêu cầu: “phải chuyển nhanh hệ thống đào tạo nhân lực sang hoạt động theo cơ chế đào tạo theo nhu cầu xã hội và thị trường nhất là các ngành nghề trọng điểm” [14].
Cơ sở vật chất: Một trong những điều kiện để hoạt động liên kết đào tạo diễn ra chất lượng và hiệu quả cao nhất cần tổng hợp của nhiều yếu tố như chủ quan, khách quan, con người và cơ sở vật chất. Trong đó cơ sở vật chất đóng vai trò hỗ trợ tích cực cho quá trình GD-ĐT, bởi lẽ khi đảm bảo đầy đủ thiết bị dạy học, cơ sở vật chất tốt thì chúng ta mới có thể tổ chức được quá trình dạy và học một cách khoa học, huy động được đa số người học tham gia thực sự vào quá trình này, họ tự khai thác và tiếp nhận tri thức dưới sự hướng dẫn của người dạy một cách tích cực. Cơ sở vật chất đầy đủ, phù hợp mới triển khai được các phương pháp dạy học một cách hiệu quả nhất.
Cơ sở vật chất trong quá trình hoạt động liên kết đào tạo bao gồm: phòng học, thư viện, phòng học bộ môn, Phòng quản lý, phòng thực hành, nhà xưởng, máy móc thiết bị dạy học, y tế, an ninh trật tự, chỗ ăn ở sinh hoạt cho giảng viên và học viên, môi trường cảnh quan… Đây là những cái cần thiết, quan trọng để hỗ trợ và phục vụ cho hoạt động LKĐT ở các trung tâm GDNN- GDTX hiện nay, ở những Trung tâm đào tạo mà thiếu những điều kiện này thì quá trình đào tạo ra nguồn lực khó có thể đạt được hiệu quả và chất lượng tốt. Luận văn: Quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.
Một điều lưu ý là ở trong các phòng học cần được trang bị tối thiểu đầy đủ bàn ghế, đối với những nơi thực hành phòng học cần trang bị máy tính và được kết nối internet, có máy chiếu, bảng tương tác; đối với những phòng học rộng cần trang bị thêm hệ thống âm thanh, quạt mát, ánh sáng đảm bảo việc dạy và học của các lớp LKĐT tại đơn vị.
Đối với các Trung tâm có liên kết với các trường ở xa cần chuẩn bị chỗ ăn, nghỉ và phòng làm việc thuận tiện cho những giáo viên. Bên cạnh đó cần thanh toán đầy đủ và kịp thời các khoản chi phí đã có cam kết trong hợp đồng để các bên tham gia liên kết đào tạo có tâm lý tốt nhất để quá trình đào tạo đạt hiệu quả.
Về quỹ tài chính của Trung tâm hiện có được từ các nguồn như: Ngân sách nhà nước; học phí, lệ phí tuyển sinh, tiền đóng góp xây dựng Trung tâm; các khoản thu từ việc tổ chức các hoạt động GD, đào tạo; liên kết đào tạo hay sự đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân.
Kết luận chương 1 Luận văn: Quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.
Quản lý liên kết đào tạo ở TT GDNN – GDTX là tác động của chủ thể quản lý (CBQL TT GDNN -GDTX) đến đối tượng quản lý (hoạt động LKĐT) để xây dựng quy chế phối hợp LKĐT với đơn vị chủ trì đào tạo nhằm quản lý tốt và hiệu quả quản lý nề nếp dạy học, quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên và hoạt động học tập của học viên. Hoạt động quản lý liên kết đào tạo là một quá trình tổ chức, điều khiển, kiểm tra, giám sát việc hoạt động của các chủ thể tham gia toàn bộ việc tạo ra những sản phẩm đáp ứng yêu cầu của xã hội và phù hợp với xu thế thời đại trong thời đại ngày nay. Để hoạt động quản lý liên kết đào tạo này diễn ra một cách thuận lợi, trước tiên đó là sự quan tâm, tạo điều kiện bằng những chủ trương chính sách rất kịp thời và phù hợp của Đảng và Nhà nước ta. Bên cạnh đó còn là sự chủ động cũng như là năng động của chính những cơ sở đào tạo hay những nhà trường trong việc tuyển sinh cũng như là đưa ra những mục tiêu, nội dung, chương trình đào tạo đáp ứng được những yêu cầu của nhà tuyển dụng, nắm bắt kịp thời xu thế phát triển của đất nước cũng như trên thế giới. Nội dung quản lý liên kết đào tạo ở TT GDNN – GDTX cấp huyện gồm phối hợp quản lý mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo, phối hợp quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên và hoạt động học tập của học viên, phối hợp quản lý nề nếp dạy học, quản lý việc kiểm tra, đánh giá quá trình đào tạo.
Ngày nay xu thế xã hội hóa ngày càng tăng, vì thế mà số lượng các cơ sở liên kết đào tạo ngày càng nhiều, mỗi cơ sở liên kết đào tạo cần có những cách thức tổ chức liên kết sao cho hợp lý, khoa học để thu được kết quả tốt nhất, góp phần thúc đẩy vào công cuộc phát triển GD-ĐT nước nhà. Vì vậy, cần chú ý đến các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên cấp huyện như nhận thức của CBQL, GV và năng lực quản lý của CBQL, ý thức, động cơ, thái độ học tập của học viên. Bên cạnh đó có các yếu tố ảnh hưởng như cơ sở vật chất, chính sách của ngành về liên kết đào tạo. Luận văn: Quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
