Luận văn: Thực trạng liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm GDNN – GDTX huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát tình hình phát triển kinh tế- xã hội của huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

Huyện Đại Từ có thế mạnh và tiềm năng về sản xuất nông nghiệp, trong đó chè và sản phẩm chè đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của địa phương này. Các vùng chè như La Bằng, Khuôn Gà, Hoàng Nông… là những vùng chè đặc sản, có giá trị kinh tế cao. Hiện nay, có 15 hợp tác xã chè, có 33 làng nghề truyền thống được UBND tỉnh quyết định công nhận ở huyện Đại Từ, bên cạnh đó, doanh nghiệp Núi Pháo đã hỗ trợ trên 70ha chè VietGAP, chiếm gần 10% diện tích chè VietGAP của huyện Đại Từ. Đây là thời cơ để TT GDNN – GDTX huyện Đại Từ mở các lớp liên kết đào tạo nghề nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động.

Khu du lịch quốc gia hồ Núi Cốc đang là dự án lớn của tỉnh với tiềm năng về du lịch, dự án mở rộng bãi thải Tây mỏ than Khánh Hòa, dự án mở rộng phía trước Khu Di tích lịch sử Quốc gia 27-7, Khu dân cư 1A, 1B thị trấn Hùng Sơn, dự án trường thử công nghệ nhà máy Z131, các dự án của ngành điện, dự án đường Cù Vân – An Khánh – Phúc Hà… với Khu dân cư số 1, thị trấn Hùng Sơn (giai đoạn 1) và khai trương Chợ trung tâm huyện Đại Từ sở hữu các dịch vụ và tiện ích như: Trung tâm thương mại, bệnh viện, nhà trẻ, trường mầm non quốc tế, chợ trung tâm, bể bơi ngoài trời, công viên cây xanh, quảng trường… cũng tạo ra thời cơ trong liên kết đào tạo về du lịch, dịch vụ, y tế, giáo dục.

Công ty Nui Phao Mining đã giải quyết phần lớn nhu cầu việc làm cho người dân tại huyện Đại Từ, tuy nhiên, nguồn lao động còn yếu kém về trình độ đặt ra thời cơ cho TT cần có sự liên kết đào tạo nghề với doanh nghiệp, bởi doanh nghiệp có thể sử dụng được ngay lực lượng lao động này sau khi tốt nghiệp. Mặt khác, nếu liên kết đào tạo với doanh nghiệp, doanh nghiệp còn trực tiếp đầu tư trang thiết bị cho Trung tâm GDNN – GDTX huyện Đại Từ để có thể đào tạo được những nghề ở những trình độ doanh nghiệp mong muốn.

2.2. Khái quát về Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên Luận văn: Thực trạng liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.

2.2.1. Về tổ chức bộ máy

  • Hình 2.1. Sơ đồ tổ chức bộ máy

Ban Giám đốc Trung tâm gồm Giám đốc là người lập kế hoạch tổ chức thực hiện và giám sát đánh giá việc thực hiện kế hoạch của Trung tâm. Các Phó Giám đốc Trung tâm phụ trách về công tác chuyên môn Giáo dục thường xuyên cấp THPT và THCS; Phụ trách các lớp liên kết hệ Trung cấp và xây dựng kế hoạch, tổ chức triển khai, quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng chứng chỉ trình độ A, B Tin học, ngoại ngữ, quản lý bảo vệ tài sản, thiết bị máy móc phục vụ dạy học văn hóa, thực hành, hạ tầng cơ sở vật chất điện, nước, hệ thống mạng internet… Trung tâm.

Các tổ chuyên môn gồm 04 tổ thực hiện nhiệm vụ cụ thể như sau.

  • Tổ giáo vụ gồm: 04 đồng chí, trong đó tổ trưởng làm giáo viên chăn nuôi thú y, tổ phó là giáo viên vật lý, 1 GV điện và 1 GV Giáo dục công dân, có nhiệm vụ thực hiện nhiệm vụ giáo dục thường xuyên và đào tạo nghề, liên kết đào tạo.
  • Tổ hành chính tổng hợp: 05 đồng chí, trong đó tổ trưởng là GV điện, tổ phó là GV địa lý và 2 kế toán, 1 văn thư. Nhiệm vụ chủ yếu về công tác hành chính, kiêm nhiệm giảng dạy.
  • Tổ đào tạo nghề – Hướng nghiệp gồm 05 đồng chí, trong đó tổ trưởng là GV tin học, tổ phó là GV ngoại ngữ và 1 GV cơ khí, 2 GV tin học, trong đó nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng và triển khai các chương trình liên kết đào tạo nghề trình độ sơ cấp và dạy nghề thường xuyên.
  • Tổ giáo dục thường xuyên gồm 08 đồng chí giảng dạy các môn Ngữ văn, lịch sử, toán, sinh học, hóa học, địa lý, GDCD có nhiệm vụ về lĩnh vực giáo dục thường xuyên cấp THPT, THCS của Trung tâm.

2.2.2 Cơ cấu trình độ đội ngũ cán bộ, quản lý Luận văn: Thực trạng liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.

  • Bảng 2.1. Trình độ đội ngũ CBQL, cán bộ, GV của Trung tâm GDNN – GDTX huyện Đại Từ

Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có 11.1% cán bộ có trình độ thạc sĩ, 88.9% trình độ đại học. Về trình độ lý luận chính trị, có 1 cán bộ (2.8%) đạt trình độ cao cấp lý luận chính trị, 6 cán bộ (16.7%) đạt trình độ trung cấp và 3 cán bộ đang học lớp trung cấp lý luận chính trị. Trong lĩnh vực liên kết đào tạo hiện nay, TT hiện có 7 đồng chí phối hợp với đơn vị liên kết tham gia đào tạo nghề – hướng nghiệp cho các lớp mở tại TT, tuy nhiên, về trình độ chuyên môn, có 1 đồng chí đạt trình độ thạc sĩ, do vậy, việc phối hợp giảng dạy ít khi thực hiện được với đơn vị LK. Các lớp LKĐT chủ yếu do GV tại đơn vị LK trực tiếp giảng dạy. Vì thế, trong thời gian tới, Trung tâm cần lập kế hoạch cử cán bộ đi đào tạo nâng cao trình độ nhằm nâng cao hiệu quả liên kết đào tạo.

2.2.3. Cơ sở vật chất của trung tâm

Trung Tâm có diện tích trên 500m2, giai đoạn 2017 – 2022, TT sử dụng nguồn ngân sách Nhà nước xây dựng 5 phòng làm việc, 7 phòng học văn hóa, 2 phòng được trang bị đầy đủ máy chiếu, 1 phòng máy tính, 1hội trường trên 100 chỗ ngồi. Giai đoạn 2023 – 2025, TT tiến hành sửa chữa các phòng học, làm thêm xưởng thực hành, phòng học phục vụ cho công tác liên kết đào tạo, sân phục vụ đào tạo lái xe hạng B1, A1 và các khóa học sơ cấp ngắn hạn.

Hiện nay, có 11 lớp học với trên 400 học viên học tập tại TT, số phòng học chưa đáp ứng được yêu cầu về LKĐT. TT chưa có thư viện để phục vụ học viên và giảng viên trong quá trình dạy LKĐT.

2.3. Khái quát về khảo sát thực trạng quản lý liên kết đào tạo của Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

2.3.1. Mục đích khảo sát

Đánh giá thực trạng quản lý liên kết đào tạo của Trung tâm GDNN – GDTX huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên từ đó đề xuất các biện pháp quản lý liên kết đào tạo của Trung tâm GDNN – GDTX huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

2.3.2. Đối tượng khảo sát Luận văn: Thực trạng liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.

3 cán bộ quản lý ở Trung tâm GDNN – GDTX huyện Đại Từ (gồm 1 Giám đốc, 2 phó giám đốc), 4 Tổ trưởng, tổ phó Tổ đào tạo và Tổ giáo vụ, 30 GV tại TT GDNN- GDTX, 26 GV từ các đơn vị liên kết, 100 học viên đang học tập tại TT.

2.3.3. Nội dung khảo sát

Thực trạng quản lý hoạt động liên kết đào tạo của Trung tâm GDNN – GDTX huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

2.3.4. Phương pháp khảo sát và phương thức xử lý số liệu

  • Chúng tôi sử dụng phiếu điều tra, phương pháp phỏng vấn dựa trên số lượng CBQL, GV ở GDNN – GDTX huyện Đại Từ và GV mời.
  • Chúng tôi sử dụng các phương pháp quan sát, phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phương pháp đàm thoại, phương pháp lấy ý kiến chuyên gia…

Phương thức xử lí số liệu: Các mẫu phiếu điều tra được thiết kế theo phương án lựa chọn và mức điểm đánh giá như sau:

  • Rất khả thi//Rất cần thiết/Rất thường xuyên/Rất ảnh hưởng/Tốt: 3 điểm
  • Bình thường/Thỉnh thoảng/Cần thiết/Bình thường/ Ảnh hưởng: 2 điểm
  • Không bao giờ/Không khả thi/Không tốt/Không ảnh hưởng: 1 điểm Dựa trên điểm trung bình, chúng tôi quy ước:
  • +  < 2: mức độ đánh giá thấp
  • + 2 ≤  ≤ 2,5: Mức độ đánh giá khá
  • + 2,5 ≤  < 3.5: Mức độ đánh giá cao

2.4. Thực trạng quản lý liên kết đào tạo của Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

2.4.1. Quản lý công tác tuyển sinh liên kết đào tạo của Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

  • Quy mô phát triển liên kết đào tạo
  • Công tác phối hợp liên kết đào tạo:

Bảng 2.2. Số lượng lớp, học viên liên kết đào tạo với các trường cao đẳng, đại học tại Trung tâm GDNN – GDTX huyện Đại Từ Luận văn: Thực trạng liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.

Số liệu bảng 2.2 cho thấy: số lượng lớp, học viên liên kết đào tạo với các trường cao đẳng tại Trung tâm và hoạt động liên kết đào tạo tại Trung tâm GDNN – GDTX huyện Đại Từ có hình thức phối hợp đào tạo với các trường Cao đẳng nghề để đào tạo nghề cho học viên, các nghề như: điện dân dụng, điện công nghiệp, công nghệ ô tô, may, nấu ăn, hàn… với tổng số học viên đã qua đào tạo và đang đào tạo hiện nay là 795 học viên. Hiện nay đang duy trì các lớp liên kết đào tạo với các trường CĐ nghề than – khoảng sản, CĐ Công thương và CĐ kinh tế, CĐ công thương, ĐH Việt Bắc.

Bên cạnh đó, TT còn liên kết đào tạo lái xe các hạng ô tô và xe máy với trường Trung cấp nghề của Sở Giao thông vận tải Thái Nguyên, năm 2025, số lượng đào tạo lái xe ô tô B1 là 26 học viên. Từ năm 2023 đến 2025 phối hợp đào tạo hạng A1 và cấp bằng cho 800 học viên.

Như vậy, số lượng các đơn vị thực hiện liên kết đào tạo trong đào tạo nghề rất ít, chưa có hình thức LKĐT nguồn lao động cho doanh nghiệp, phản ánh thực trạng quản lý hoạt động tuyển sinh liên kết đào tạo của TT còn chưa đạt hiệu quả, đòi hỏi Trung tâm cần đa dạng hóa các chương trình liên kết và nâng cao chất lượng tuyển sinh.

Theo quy định tại thông tư số: 29/2024/TT – Bộ LĐTB – XH, TT GDNN – GDTX huyện Đại Từ có nhiệm vụ tuyển sinh đúng số lượng mà các đơn vị liên kết giao, đảm bảo các điều kiện về phòng học, thiết bị dạy học, nhà xưởng…và phối hợp quản lý quá trình đào tạo. TT GDNN – GDTX huyện Đại Từ phối hợp với đơn vị liên kết đào tạo để tổ chức học và đánh giá, kiểm tra, thi theo đúng quy định và được chi trả theo mức giá thỏa thuận giữa hai bên. Hình thức này đáp ứng được mục tiêu tuyển sinh đúng đối tượng có nhu cầu học tập. Luận văn: Thực trạng liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.

  • Công tác tuyển sinh

Thực tế trong quá trình thực hiện nhiệm vụ liên kết đào tạo, Trung tâm đã nhận thấy việc phối hợp với các đơn vị liên kết làm công tác tuyển sinh là rất cần thiết. Từ đó, lãnh đạo Trung tâm đã định hướng, tạo điều kiện giúp cho cán bộ, giáo viên hiểu rõ vai trò và tầm quan trọng của công tác tuyển sinh. Công tác tư vấn tuyển sinh là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển Trung tâm. Bởi những lớp liên kết sẽ giúp Trung tâm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, khẳng định được thương hiệu, mặt khác tạo thêm nguồn thu nhập cho cán bộ, giáo viên.

Để đánh giá thực trạng về công tác tuyển sinh, chúng tôi sử dụng câu hỏi 1 (Phụ lục 1, 2) để điều tra, thu được kết quả như sau:

  • Bảng 2.3. Đánh giá của CBQL, GV về thực trạng quản lý hoạt động tuyển sinh ở Trung tâm GDNN – GDTX huyện Đại Từ

Thực trạng đánh giá của CBQL, GV về thực trạng quản lý hoạt động tuyển sinh ở Trung tâm GDNN – GDTX huyện Đại Từ cho thấy:

Các nội dung được đánh giá rất thường xuyên là 1,2,3,4,5,6; mức điểm đánh giá từ 2.73 đến 2.94 điểm. Hiện nay, TT đã thực hiện “Thông báo bằng văn bản, trên các phương tiện thông tin về việc mở các lớp liên kết đào tạo” và “Kiểm tra hồ sơ của thí sinh, quản lý hồ sơ của học viên trúng tuyển từ các đợt thi” và ; “TT dựa trên chỉ tiêu và số lượng đào tạo của đơn vị liên kết để xây dựng kế hoạch tuyển sinh”. Sau đó, TT tiến hành lập kế hoạch làm việc với cơ sở liên kết đào tạo hoạch của đơn vị liên kết, hai bên ký kết hợp đồng, thẩm định kế hoạch mở lớp, Thống nhất mức thu lệ phí tuyển sinh, học phí, học liệu.

Từ kế hoạch đào tạo của đơn vị liên kết, TT cùng đơn vị liên kết ký kết hợp đồng, trong hợp đồng nêu rõ phần giảng dạy lý thuyết do đơn vị liên kết cử GV tiến hành giảng dạy, phần hướng dẫn thực hành nghề, đơn vị liên kết cung cấp máy móc, thiết bị phục vụ cho thực hành, GV thực hành tại TT và GV thực hành của đơn vị liên kết phối hợp thực hiện tại TT GDNN – GDTX huyện Đại Từ. Phần chi phí đào tạo, hai bên thống nhất, phía đơn vị liên kết đào tạo sẽ thanh toán tổng chi phí đào tạo cho trường, phần chi phí do phía TT đảm nhận sẽ được nhà trường thanh toán ngược lại.

Các nội dung 7, 8, 9 được đánh giá ở mức điểm trung bình từ 2.22 đến 2.46 điểm.

Đối với nội dung “Lên kế hoạch ôn tập các môn văn hóa để tổ chức thi đầu vào” CBQL, GV đánh giá thấp (1.95 điểm). Trao đổi với CBQL ở TT, chúng tôi được biết, đối với các đơn vị liên kết như các trường cao đẳng nghề thì hiện nay tuyển sinh theo hình thức kiểm tra hồ sơ của học viên có nhu cầu đào tạo, vì vậy, không cần thiết phải lên kế hoạch ôn tập các môn văn hóa để thi đầu vào. Đơn vị liên kết phối hợp với TT GDNN – GDTX thống nhất về mặt văn bản quy định hồ sơ hợp lệ, thủ tục tuyển sinh và phía Trung tâm chủ động tổ chức tuyển sinh, sau đó tiến hành lập danh sách trích ngang, hồ sơ sau khi kiểm tra theo đúng thủ tục quy định sẽ chuyển đến đơn vị liên kết để rà soát lại, kiểm tra và thống nhất danh sách tuyển sinh. Với các nội dung này, có hạn chế là chưa đánh giá được chất lượng đầu vào của học viên, trong quá trình học tập học viên không tiếp thu được kiến thức cơ bản và các kiến thức chuyên môn. Ngoài ra khi vào học tập học viên đa phần chưa tìm hiểu kỹ hoặc không biết được sau khi học tập xong mình sẽ được làm việc gì và làm ở đâu. Luận văn: Thực trạng liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.

Đối với nội dung “TT thành lập bộ phận tuyển sinh khảo sát nhu cầu học tập, bồi dưỡng; điều tra nhu cầu về nguồn lực của các doanh nghiệp trên địa bàn” được đánh giá ở mức 2.22 điểm, xếp thứ bậc 9. Hiện nay, Trung tâm GDNN – GDTX huyện Đại Từ đã thành lập Ban tuyển sinh hàng năm với số lượng 10 người để phối hợp với các đơn vị liên kết xây dựng kế hoạch tuyển sinh của đơn vị theo từng năm, tổ chức thực hiện công tác tuyển sinh theo quy định về đào tạo nghề, lao động nông thôn với các trường cao đẳng nghề. Tuy nhiên, theo tìm hiểu của tác giả thì một bộ phận cán bộ, GV cho rằng thông tin về liên kết đào tạo đã được thông báo bằng văn bản trên các phương tiện thông tin, vì vậy, nếu người học có nhu cầu học tập sẽ chủ động liên hệ tới TT. Việc điều tra nhu cầu về nguồn lực của các doanh nghiệp trên địa bàn là không cần thiết. Mặt khác, khi phỏng vấn GV được cử làm công tác tuyển sinh thì tác giả được biết, GV vừa làm công tác tuyển sinh vừa tham gia giảng dạy vì vậy không có thời gian để tìm hiểu nhu cầu về đào tạo và nguồn lực của các doanh nghiệp trên địa bàn. Phỏng vấn CB tại TT chúng tôi được biết: “Tổ Giáo vụ, Tổ dạy nghề – hướng nghiệp có kế hoạch chi tiết thu thập thông tin dự báo nhu cầu nhân lực để kết nối với các đơn vị liên kết đào tạo để phối hợp tuyển sinh”. Đây là cơ sở để chúng tôi đề xuất biện pháp.

Kết quả điều tra của tác giả về các hoạt động tuyển sinh cho thấy: TT đã có các văn bản quy định, quy trình tuyển sinh như: lập kế hoạch tuyển sinh, thành lập hội đồng tuyển sinh, thông báo, phát hành hồ sơ, hướng dẫn đăng ký… nhằm thực hiện tuyển sinh hiệu quả, thu hút người học đến đăng ký học tập. Như vậy, các khâu của quá trình tuyển sinh đều được TT tiến hành đúng chức năng và nhiệm vụ. Tuy nhiên, việc tìm hiểu nhu cầu của doanh nghiệp để mở rộng nguồn tuyển sinh cũng ít được quan tâm, thiếu kế hoạch tuyển sinh liên tục cho tất cả các đối tượng, trình độ trong cả năm nên kết quả tuyển sinh chưa cao.

2.4.2. Quản lý mục tiêu, chương trình đào tạo Luận văn: Thực trạng liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.

Để đánh giá thực trạng về quản lý mục tiêu, chương trình đào tạo, chúng tôi sử dụng câu hỏi 2 (Phụ lục 1, 2) để điều tra, thu được kết quả như sau:

Số liệu kết quả khảo sát cho thấy, các nội dung 1,2,3,4, đều được đánh giá ở mức độ rất thường xuyên chiếm tỷ lệ đánh giá cao. Theo đó, Phối hợp quản lý việc xây dựng mục tiêu, triển khai xây dựng các nhiệm vụ và yêu cầu đào tạo riêng với mỗi chương trình; Xây dựng mục tiêu, quản lý quá trình giảng dạy thực tế của giảng viên và học viên sao cho các kế hoạch đào tạo, nội dung chương trình giảng dạy thể hiện tính mềm dẻo, linh hoạt; Đơn vị chủ trì đào tạo đã xây dựng chỉ tiêu tuyển sinh và tổ chức tuyển sinh, tiến hành tổ chức quá trình đào tạo với các điều kiện về cơ sở vật chất và Xây dựng chương trình với chuẩn đầu ra cho người học đáp ứng mục tiêu đào tạo, có đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý, giáo trình tài liệu, các thiết bị phục vụ dạy học. Các nội dung 6,7 được đánh giá ở mức độ thực hiện thấp. Tiến hành phỏng vấn CB tại TT, chúng tôi được biết: “Hiện nay, Tổ Giáo vụ chưa giám sát sát sao giảng viên của đơn vị liên kết trong việc thực hiện chương trình giảng dạy, một số giảng viên chưa thực hiện kế hoạch giảng dạy đúng chương trình”. Mặt khác, quan sát của chúng tôi cho thấy, TT vẫn chưa phối hợp với đơn vị liên kết kiểm tra giáo án, dự giờ, đánh giá giờ giảng của giảng viên, phối hợp với đơn vị liên kết đào tạo thực hiện nhận xét, đánh giá đối với những giảng viên theo định kỳ.

2.4.3. Quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên

Để đánh giá thực trạng về công tác tuyển sinh, chúng tôi sử dụng câu hỏi 3 (Phụ lục 1, 2) để điều tra, thu được kết quả như sau:

  • Bảng 2.4. Đánh giá của CBQL, GV về thực trạng thực hiện quản lý hoạt động giảng dạy giảng viên ở Trung tâm GDNN – GDTX huyện Đại Từ Luận văn: Thực trạng liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.

Qua tìm hiểu thực trạng đánh giá của CBQL, GV về thực trạng thực hiện quản lý hoạt động giảng dạy giảng viên ở Trung tâm cho thấy, CBQL, GV đánh giá ở mức độ rất thường xuyên gồm các nội dung 1,2,3,4,5. Tiêu chí “Quản lý thực hiện kế hoạch giảng dạy của giảng viên qua phiếu báo giảng” và “Kiểm tra, giám sát công tác kiểm tra, kết thúc môn học của giảng viên” và “Phối hợp thường xuyên giữa cán bộ phòng giáo vụ, giáo viên chủ nhiệm lớp với giảng viên trong việc quản lý học viên học LKĐT tại trung tâm” và “Qua số theo dõi học tập, quản lý nội dung giảng dạy”, “Xác nhận số ngày thực dạy” được đánh giá ở mức rất thường xuyên thực hiện, mức điểm đánh giá từ 2.63 đến 2.81 điểm.

Các tiêu chí còn lại được đánh giá ở mức trung bình, đối với nội dung “Quản lý thời gian lên lớp của GV, quản lý hoạt động tổ chức giảng dạy của GV” đánh giá ở mức 2.27 điểm. Tìm hiểu về nội dung này, chúng tôi trao đổi với CB tại TT thì được biết: “Trong quản lý hoạt động tổ chức giảng dạy của giảng viên về phương pháp và hình thức giảng dạy giáo viên còn nặng về lý thuyết và sử dụng phương pháp thuyết trình, hình thức nghe – giảng là chủ yếu, chưa phát huy tính tích cực của học viên phần lớn trong thời lượng giảng dạy”. Tổ giáo vụ chưa phối hợp với đơn vị liên kết kiểm tra thường xuyên, định kỳ giờ giảng của giảng viên nên chưa đánh giá được chính xác chất lượng giờ giảng.

Các nội dung 8,9,10 được CBQL, GV đánh giá ở mức điểm trung bình từ 2.11 đến 2.22 điểm.

Để đánh giá thực trạng về quản lý giảng dạy giảng viên, chúng tôi sử dụng câu hỏi 4 (Phụ lục 1, 2) để điều tra, thu được kết quả như sau:

  • Bảng 2.5. Đánh giá của CBQL, GV về thực trạng đạt được trong quản lý hoạt động giảng dạy giảng viên ở Trung tâm GDNN – GDTX huyện Đại Từ

Tìm hiểu thực trạng đánh giá của CBQL, GV về thực trạng đạt được trong quản lý hoạt động giảng dạy giảng viên ở Trung tâm cho thấy, các nội dung thực hiện rất tốt là 1, 2,3,4 với điểm đánh giá từ 2.73 đến đến 2.81 điểm. Các nội dung còn lại ở mức độ trung bình và yếu.

Đối với nội dung “Kết hợp với phòng đào tạo của đơn vị chủ trì đào tạo nhận xét đánh giá giảng viên khi kết thúc môn học và khóa đào tạo” chưa thực hiện thường xuyên, trò chuyện với giảng viên của đơn vị liên kết, thì công việc này chủ yếu do đơn vị chủ trì đào tạo quản lý giảng viên tiến hành. Luận văn: Thực trạng liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.

Về thực hiện thời gian giảng dạy trong nội dung “Quản lý thời gian lên lớp của GV, quản lý hoạt động tổ chức giảng dạy của GV”, vẫn còn hiện tượng một số giảng viên đi muộn về sớm. Tìm hiểu về nội dung này, chúng tôi phỏng vấn CB tại TT, được biết “một số giảng viên bị lỡ xe, một số giảng viên có lịch công tác đột xuất nhưng thông tin này đến học viên chậm trễ, dẫn đến học viên phải chờ giảng viên hoặc phải ra về do giảng viên không thể đến giảng dạy được”. Do tình hình khó khăn về nguồn kinh phí nên việc bố trí chỗ ăn, ở cho giảng viên mời còn chưa đáp ứng được nhu cầu của giảng viên. Theo đánh giá của CBQL, phòng thực hành, nhà xưởng còn thiếu thốn về trang thiết bị phục vụ cho việc học tập và giảng dạy…; Tổ giáo vụ chưa kết hợp với phòng đào tạo của đơn vị chủ trì đào tạo nhận xét đánh giá giảng viên khi kết thúc môn học và khóa đào tạo.

Tìm hiểu về các nội dung quản lý giảng viên “Qua số theo dõi học tập, quản lý chương trình giảng dạy”, chúng tôi trò chuyện với giáo viên tại TT GDNN – GDTX huyện Đại Từ và giảng viên mời của đơn vị liên kết, nhận thấy, đối với các đơn vị liên kết yêu cầu giảng viên ghi vào sổ theo dõi học tập để tiện quản lý, tuy nhiên, khi tiến hành kiểm tra sổ theo dõi học tập thì một số giảng viên vẫn chưa ghi đầy đủ thông tin về bài giảng, số lượng học viên nghỉ học, một số giảng viên chưa ký xác nhận vào sổ theo dõi học tập. Mặt khác, về phía Trung tâm GDNN – GDTX huyện Đại Từ không theo dõi giảng viên qua sổ theo dõi học tập hay sổ đầu bài.

Các nội dung “Kiểm tra thường xuyên, định kỳ giờ giảng của GV” ở TT GDNN- GDTX không thực hiện, hiện nay, cán bộ quản lý giảng viên tại Trung tâm thực hiện kiểm tra số tiết học, giờ học và các giáo viên giảng dạy mà đơn vị chủ trì đào tạo cử đến. Thông báo với giáo viên phụ trách phải chịu trách nhiệm việc dạy đủ số tiết bằng cách kết luận trước khi trình lãnh đạo Trung tâm xác nhận vào lịch giảng; việc dạy dồn phải được lãnh đạo Trung tâm đồng ý nếu thật hợp lý.

Nội dung “Sắp xếp nơi ở cho GV và tạo điều kiện thuận lợi về CSVC, thiết bị đảm bảo tốt cho công việc giảng dạy, thực hành” được đánh giá ở mức độ thấp (1.81 điểm), hiện nay, TT phụ thuộc vào ngân sách Nhà nước và mới sáp nhập từ năm 2023 đến nay nên về cơ sở vật chất như phòng ở, phòng học, xưởng thực hành còn thiếu, chưa đáp ứng được hoạt động LKĐT.

2.4.4. Quản lý hoạt động học tập của học viên Luận văn: Thực trạng liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.

Để đánh giá thực trạng về quản lý quá trình học tập của học viên, chúng tôi sử dụng câu hỏi 5 (Phụ lục 1, 2) để điều tra, thu được kết quả như sau:

  • Bảng 2.6. Đánh giá của CBQL,GV về thực trạng quản lý hoạt động học tập của học viên ở TT GDNN – GDTX huyện Đại Từ

Tìm hiểu thực trạng đánh giá của CBQL,GV về thực trạng quản lý hoạt động học tập của học viên ở TT cho thấy, các nội dung 1,2,3,4,5,6,7,8, CBQL và GV đánh giá ở mức tốt, mức điểm đánh giá đạt từ 2.70 đến 3.00 điểm.

Về quản lý hoạt động học tập của học viên ở TT thì ngay từ đầu năm học, học viên được CB tổ Giáo vụ và GVCN thông báo cho học viên kế hoạch học tập của học viên và kế hoạch làm việc của trung tâm, để học viên có thể chủ động trong công việc. Sau khi đã ổn định tổ chức lớp, GVCN xây dựng đội ngũ cán bộ lớp, họp lớp sau mỗi kỳ học để quản lý học viên, GVCN thông tin quy chế học tập, mục tiêu, nội dung chương trình học đến học viên. Khi kết thúc môn học, Tổ Giáo vụ phân công GV ở TT phối hợp cùng giảng viên ở đơn vị liên kết tổ chức giám sát công tác kiểm tra, thi học phần, thi hết môn theo đúng quy chế. Tìm hiểu về nội dung này, tác giả phỏng vấn một số học viên thì được biết, GVCN đã hướng dẫn cho học viên nắm vững các quy chế đào tạo của TT và đơn vị liên kết, cung cấp thêm thông tin về chương trình, mục tiêu học tập, hướng dẫn học viên đăng kí học phần môn học, giải quyết các khó khăn trong quá trình học tập, nhắc nhở khi thấy kết quả học tập của HS, SV giảm sút; căn cứ vào tình hình học tập của học viên mà tư vấn, điều chỉnh kế hoạch học tập phù hợp với năng lực của từng em.

Việc quản lý sau tốt nghiệp cũng được quan tâm bằng cách lưu lại hồ sơ của học viên đồng thời tại các đơn vị chủ trì đào tạo và Trung tâm, hồ sơ sau khi tốt nghiệp được bảo quản và lưu giữ tại Trung tâm, gồm có: Văn bản quản lý hoạt động học tập của học viên, Kế hoạch giảng dạy của giảng viên; Sổ theo dõi học tập; Sổ đăng ký học sinh, học viên (tập lý lịch trích ngang có dán ảnh của học sinh, học viên). Hồ sơ của từng học viên về kết quả thi, kiểm tra học phần, tốt nghiệp. Điều này giúp học viên có thể tìm lại các thông tin học tập của mình khi cần hoặc cung cấp cho các cơ quan quản lý, doanh nghiệp khi phát sinh vấn đề cần đến.

Các nội dung “Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học viên theo kế hoạch giảng dạy, đào tạo của đơn vị liên kết” và “Thường xuyên kiểm tra, theo dõi số tiết học trên lớp của từng học viên để làm căn cứ, cơ sở xét duyệt điều kiện dự thi môn học” CBQL, GV đánh giá ở mức độ trung bình, điểm đánh giá từ 2.10 đến 2.29 điểm. Trong đó, nội dung “Duyệt điều kiện dự thi từng môn học đối với học viên” CBQL, GV đánh giá ở mức độ thấp. Chúng tôi phỏng vấn một số GVCN, được biết việc phối hợp với giảng viên của đơn vị liên kết để kiểm tra việc tham gia học tập của học viên bằng cách kiểm tra, theo dõi số ngày, số tiết học tập của từng học viên trên lớp trong từng buổi học và từng môn học chưa được thường xuyên. Một số GVCN cho rằng, theo dõi số tiết học trên lớp của từng học viên để làm căn cứ, cơ sở xét duyệt điều kiện dự thi môn học là công việc của GV đơn vị liên kết, GVCN chỉ trao đổi để nắm được thông tin, chưa có biện pháp mang tính răn đe đối với học viên nghỉ học nhiều môn, nghỉ học không có lý do. Luận văn: Thực trạng liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.

Để đánh giá thực trạng về mức độ thực hiện trong quản lý hoạt động học tập của học viên, chúng tôi sử dụng câu hỏi 1 (Phụ lục 3) để điều tra, thu được kết quả như sau:

  • Bảng 2.7. Đánh giá của học viên về thực trạng quản lý hoạt động học tập của học viên ở TT GDNN – GDTX huyện Đại Từ

Đa số học viên đánh giá các nội dung trên thực hiện tốt, tuy nhiên, đối với nội dung 10,11, 12 học viên đánh giá ở mức trung bình, thấp, điểm đánh giá từ 1.81 đến 2.43 điểm.

Tìm hiểu về thực trạng quản lý hoạt động học tập của học viên ở TT cho thấy, các nội dung “Thường xuyên kiểm tra, theo dõi số tiết học trên lớp của từng học viên để làm căn cứ, cơ sở xét duyệt điều kiện dự thi môn học”; “Duyệt điều kiện dự thi từng môn học đối với học viên”; “Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học viên theo kế hoạch giảng dạy, đào tạo của đơn vị liên kết”, chúng tôi phỏng vấn một số học viên họ cho biết GVCN có tiến hành kiểm tra, theo dõi số tiết học trên lớp của học viên nhưng ở mức độ không thường xuyên, tuy nhiên xét điều kiện dự thi môn học, duyệt điều kiện dự thi môn học, kiểm tra và đánh giá kết quả học tập do giảng viên ở đơn vị liên kết đảm nhiệm.

Các nội dung còn lại, học viên đánh giá ở mức độ cao, khá cao cho thấy việc thông báo cho học viên kế hoạch học tập của học viên và kế hoạch, thông tin quy chế học tập, mục tiêu, nội dung chương trình học, xây dựng đội ngũ cán bộ lớp, họp lớp sau mỗi kỳ học… TT GDNN – GDTX thường xuyên tiến hành thực hiện.

2.4.5. Thực trạng quản lý nề nếp dạy, học

Để đánh giá thực trạng về quản lý nề nếp dạy, học, chúng tôi sử dụng câu hỏi 6 (Phụ lục 1, 2) để điều tra, thu được kết quả như sau: Luận văn: Thực trạng liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.

  • Bảng 2.8. Đánh giá của CBQL, GV về thực trạng quản lý nề nếp dạy, học ở TT GDNN – GDTX huyện Đại Từ

Qua tìm hiểu thực trạng đánh giá của CBQL, GV về thực trạng quản lý nề nếp dạy, học ở TT cho thấy CBQL, GV đánh giá các nội dung 1 và 2 thực hiện mức độ khá và tốt, điểm trung bình từ 2.56 đến 2.71 điểm. Các nội dung 3,4,5,6 CBQL và GV đánh giá ở mức độ trung bình ( điểm đánh giá từ 2.35 đến 2.38 điểm), nội dung “Hướng dẫn học viên xây dựng kế hoạch tự học, phương pháp tự học” được đánh giá ở mức độ thấp (1.98 điểm).

Tìm hiểu thêm về về thực trạng quản lý nề nếp dạy, học ở TT GDNN – GDTX huyện Đại Từ, chúng tôi nghiên cứu qua hồ sơ, sổ sách của GVCN, nhận thấy, GVCN tại TT đã tiến hành thống kê lại danh sách lớp theo năm học; Thông báo tình hình rèn luyện và kết quả học tập của học viên, học sinh theo từng kỳ học, năm học; Tiến hành kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học viên theo kế hoạch giảng dạy, đào tạo của đơn vị liên kết. Trò chuyện với GVCN tại TT, giáo viên cho biết: “Đối với HS vi phạm quy chế học tập, GVCN đã trao đổi trực tiếp với giảng viên giảng dạy; đối với học viên có thành tích, thực hiện khen thưởng theo quy định hiện hành”.

Để đánh giá thực trạng về quản lý nề nếp dạy, học, chúng tôi sử dụng câu hỏi 2 (Phụ lục 3) để điều tra, thu được kết quả như sau:

  • Bảng 2.9. Đánh giá của học viên về thực trạng quản lý nề nếp dạy, học ở TT GDNN – GDTX huyện Đại Từ

Qua tìm hiểu thực trạng đánh giá của học viên về thực trạng quản lý nề nếp dạy, học ở TT cho thấy, các nội dung “Thực hiện nghiêm túc thời gian lên lớp, nề nếp dạy học” và “Phối hợp thường xuyên giữa cán bộ phòng giáo vụ, giáo viên chủ nhiệm lớp trong việc quản lý học viên”, “Xác định cho học viên động cơ, thái độ học tập đúng đắn với môn học” và “Kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện nề nếp học tập của học viênhọc viên đánh giá trung bình, điểm đánh giá từ 2.41 đến 2.48 điểm. Mặc dù đơn vị chủ trì đào tạo chịu trách nhiệm toàn diện về quá trình đào tạo, đội ngũ giảng viên, nhưng Trung Tâm sẽ có trách nhiệm phối hợp quản lý quá trình đó. Nhìn chung việc phối hợp quản lý quá trình giảng dạy của giảng viên đối với các lớp liên kết đào tạo tại Trung Tâm tương đối chặt chẽ. Tuy nhiên một số ít giảng viên thực hiện chưa thật nghiêm túc thời gian biểu, vào muộn, về sớm, chưa đảm bảo đủ thời gian thực hiện bài giảng, một số học viên chưa nêu cao ý thức tham gia học tập, nghỉ quá số buổi quy định, không đủ điều kiện dự thi, phải học lại. Hiện nay, TT và đơn vị LK đều cử cán bộ đồng quản lý học viên, nhưng chưa có sự phân định rõ ràng về trách nhiệm và quyền hạn của mỗi bên dẫn đến lúc thì chồng chéo, lúc thì buông lỏng trong quản lý học viên.

Nội dung “Hướng dẫn học viên xây dựng kế hoạch tự học, phương pháp tự học” được học viên đánh giá ở mức độ đánh giá thấp (1.78 điểm), GV ở các đơn vị LK vẫn chưa chú trọng xây dựng kế hoạch tự học cho học viên, qua phỏng vấn học viên Đ.V.H, học viên cho biết vẫn còn lúng túng chưa tìm ra phương pháp tự học hiệu quả, mặt khác, theo một số giảng viên thì một số học viên chưa ý thức tự giác trong học tập, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến chất lượng học tập các lớp LKĐT chưa đạt hiệu quả cao.

2.4.6. Quản lý kiểm tra đánh giá kết quả của các khóa liên kết đào tạo Luận văn: Thực trạng liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.

Để đánh giá thực trạng về quản lý kiểm tra đánh giá kết quả của các khóa liên kết đào tạo, học, chúng tôi sử dụng câu hỏi 7 (Phụ lục 1,2) để điều tra, thu được kết quả như sau:

  • Bảng 2.10. Đánh giá của CBQL, GV về thực trạng quản lý kiểm tra đánh giá kết quả của các khóa liên kết đào tạo ở TT GDNN – GDTX huyện Đại Từ

Qua tìm hiểu thực trạng đánh giá của CBQL, về thực trạng quản lý kiểm tra đánh giá kết quả của các khóa liên kết đào tạo ở TT cho thấy:

Nội dung “Kiểm tra, đánh giá đối với thi hết môn, thi tốt nghiệp, cấp phát văn bằng, chứng chỉ” CBQL, GV đánh giá ở mức độ cao cho thấy, TT đã phối hợp với đơn vị LK thực hiện tốt nội dung này và “Kiểm tra, đánh giá công tác tuyển sinh” CBQL, GV đánh giá kết quả thực hiện là khá tốt, điểm đánh giá đạt 2.70 điểm.

Đối với nội dung “Kiểm tra, đánh giá công tác tuyển sinh”, CBQL, GV đánh giá ở mức khá, đạt 2.54 điểm. Chúng tôi trao đổi với CBQL, theo nhận định của CBQL, hiện nay kiểm tra, đánh giá công tác tuyển sinh vẫn chưa đạt hiệu quả cao, vẫn chỉ dừng lại ở kiểm tra, đánh giá mà chưa đưa ra biện pháp cụ thể để nâng cao chất lượng tuyển sinh như tìm hiểu nhu cầu của nhân dân ở huyện Đại Từ, nắm bắt cơ hội và thách thức về nguồn nhân lực ở huyện Đại Từ.

Nội dung “Kiểm tra, đánh giá nội dung, kế hoạch dạy học của giảng viên” CBQL, GV đánh giá ở mức trung bình. GV N.M.T ở đơn vị liên kết cho biết, TT chưa thực hiện lấy ý kiến của học viên về công tác giảng dạy của giảng viên đặc biệt là về việc thực hiện nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy, nghiệp vụ sư phạm.

Nội dung “Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học viên để có biện pháp tác động phù hợp đối với học viên chưa có ý thức học tập, chưa xác định động cơ và thái độ học tập đúng đắn” CBQL, GV đánh giá ở mức độ thấp (1.98 điểm). Trao đổi với cán bộ quản lý N.H.M thì công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học viên chưa hiệu quả, mới chỉ dừng lại ở hình thức nhắc nhở, chưa có biện pháp duy trì tính tự giác học tập của học viên.

Kết quả đánh giá trên cho thấy, TT GDNN – GDTX huyện Đại Từ cần thiết phải có biện pháp phối hợp với đơn vị liên kết đào tạo tiến hành đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả liên kết đào tạo. Luận văn: Thực trạng liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.

2.5. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên huyện Đại Từ

Để đánh giá thực trạng về yếu tố ảnh hưởng đến quản lý liên kết đào tạo, ở Trung tâm GDNN- GDTX, chúng tôi sử dụng câu hỏi 8 (Phụ lục 1,2) để điều tra, thu được kết quả như sau:

  • Bảng 2.11. Đánh giá của CBQL, GV về thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên huyện Đại Từ

Qua tìm hiểu thực trạng đánh giá của CBQL, GV về thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm cho thấy, các yếu tố được CBQL, GV đánh giá rất ảnh hưởng và ảnh hưởng, trong đó yếu tố là yếu tố “Nhu cầu học tập của xã hội, địa phương” được đánh giá ở mức độ ảnh hưởng nhất (2.92 điểm).

Nội dung “Năng lực quản lý của CBQL” xếp thứ bậc 2 (2.71 điểm), như vậy, CBQL và GV khi có năng lực tốt đã nắm chắc và hiểu sâu sắc mục tiêu, chương trình, nội dung đào tạo, tổ chức giảng dạy, học tập có hiệu quả. Chủ động liên kết với đơn vị liên kết đào tạo trong điều tra khảo sát, xây dựng quy hoạch liên kết đào tạo và tổ chức thực hiện liên kết đào tạo. Mặt khác, các chủ trương, chính sách về liên kết đào tạo đã và đang góp phần ủng hộ, hỗ trợ hình thức liên kết đào tạo thực hiện đào tạo nhân lực trình độ đại học phục vụ phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương.

Nội dung “Ý thức, động cơ, thái độ học tập của học viên” xếp thứ bậc 3 (2.71 điểm) cho thấy, nếu học viên có ý thức và động cơ học tập tốt không những nâng cao chất lượng học tập của học viên mà còn góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của TT GDNN – GDTX huyện Đại Từ.

Bên cạnh đó, chính sách của ngành về liên kết đào tạo và cơ sở vật chất có ảnh hưởng nhất định đến LKĐT và quản lý LKĐT tại TT GDNN – GDTX huyện Đại Từ. Cần có các chính sách về đầu tư đối với GDNN và GTX để xây dựng cơ sở vật chất cho hoạt động LKĐT. Hiện nay, tài sản và tài chính của TT GDNN – GDTX huyện Đại Từ hiện nay đang sở hữu quản lý được quy định quản lý của hệ thống các trường công lập theo quy định. Theo đó, tài sản của Trung tâm gồm có: đất xây dựng Trung tâm được UBND huyện Đại Từ giao cho sử dụng, quản lý; các thiết bị phục vụ đào tạo và hoạt động khác của Trung tâm được các sở trang bị, các dự án hoặc từ các nguồn tài trợ hoặc tự mua sắm. Về quỹ tài chính của Trung tâm hiện có được từ các nguồn như: Ngân sách nhà nước; học phí, lệ phí tuyển sinh, liên kết đào tạo, tuy nhiên, CBQL và GV đánh giá ở mức độ thấp. Nói chung hiện nay, nguồn kinh phí thu được từ mọi nguồn của Trung tâm chưa đáp ứng đủ được tích lũy đầu tư cho sự phát triển cơ sở vật chất, trang thiết bị máy móc vào nhà xưởng, phòng thực hành, xây dựng phòng ở, phòng làm việc thuận tiện đối với những giáo viên ở các đơn vị liên kết xa, xây dựng thư viện.

2.6. Đánh giá chung Luận văn: Thực trạng liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.

2.6.1. Điểm mạnh

Ban Giám đốc Trung tâm GDNN – GDTX huyện Đại Từ có nhiều năm kinh nghiệm trong quản lý liên kết đào tạo, vì vậy trong quá trình quản lý đã thúc đẩy công tác tuyển sinh với các trường Cao đẳng, Đại học ở tỉnh Thái Nguyên nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của người học. Công tác đào tạo hiện nay có các lớp đào tạo thường xuyên và liên kết đặt lớp đào tạo nhằm đào tạo nghề cho một bộ phận nhân dân có nhu cầu học tập. TT phối hợp với đơn vị liên kết tuyển sinh đúng số lượng mà các đơn vị liên kết giao, đảm bảo các điều kiện về phòng học, thiết bị dạy học, nhà xưởng… và phối hợp quản lý quá trình đào tạo. Ban tuyển sinh phối hợp với các đơn vị liên kết xây dựng kế hoạch tuyển sinh của đơn vị theo từng năm, tổ chức thực hiện công tác tuyển sinh theo quy định về đào tạo nghề, lao động nông thôn với các trường cao đẳng nghề.

Bên cạnh đó, Trung tâm còn phối hợp với các trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, trường Đại học Nông lâm… tổ chức thi các chứng chỉ chuẩn chức danh nghề nghiệp, chứng chỉ tin học, chứng chỉ ngoại ngữ cho một số lượng lớn cán bộ, giáo viên các trường tiểu học, THCS, THPT ở huyện Đại Từ. Trong huy động nguồn kinh phí, thiết bị phục vụ dạy học liên kết đào tạo, Trung tâm phối hợp với các đơn vị liên kết để đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả liên kết đào tạo.

Trung tâm GDNN – GDTX huyện Đại Từ đã tích cực, chủ động hơn trong việc tìm các trường đại học, cao đẳng thích hợp để liên kết đào tạo. Hiện nay, các trường cao đẳng, đại học đã tiến hành điều chỉnh mục tiêu, nội dung CTĐT ngày càng sát hơn với nhu cầu học tập của người học. Bên cạnh đó, chất lượng liên kết đào tạo được nâng lên và mối quan hệ hợp tác giữa Trung tâm TT GDNN – GDTX huyện Đại Từ với các đơn vị lên kết đào tạo ngày càng được gìn giữ, nâng niu và từng bước nâng lên một tầm cao mới. Trong công tác tuyển sinh, TT đã thông báo thông tin tuyển sinh trên các phương tiện thông tin đại chúng về các ngành, nghề liên kết đào tạo, đáp ứng được nhu cầu người học. Cơ sở vật chất tại TT đã đáp ứng một phần nhu cầu của hoạt động liên kết đào tạo như phòng học, nhà xưởng, nhà thực hành… Luận văn: Thực trạng liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.

Trong quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên, TT kiểm tra thông qua phiếu báo giảng và qua số theo dõi học tập, quản lý nội dung giảng dạy. Bên cạnh đó, TT cũng kiểm tra, giám sát chặt chẽ công tác kiểm tra, kết thúc môn học của GV và phối hợp thường xuyên tổ giáo vụ, giáo viên chủ nhiệm lớp với giảng viên trong việc quản lý học viên học LKĐT tại trung tâm. GVCN đã hướng dẫn cho học viên nắm vững các quy chế đào tạo của TT và đơn vị liên kết, cung cấp thêm thông tin về chương trình, mục tiêu học tập, hướng dẫn học viên đăng kí học phần môn học, giải quyết các khó khăn trong quá trình học tập, nhắc nhở khi thấy kết quả học tập của HS, SV giảm sút; căn cứ vào tình hình học tập của học viên mà tư vấn, điều chỉnh kế hoạch học tập phù hợp với năng lực của từng em. Trong việc quản lý học viên Trung tâm phối hợp với đơn vị liên kết tiến hành giám sát quá trình học tập của học viên tại các lớp liên kết, kịp thời chấn chỉnh những hành vi, vi phạm nề nếp học tập, quy chế học tập và phản ảnh kịp thời với đơn vị chủ trì đào tạo kịp thời chấn chỉnh những học viên vi phạm quy chế học tập. Trong quá trình thực hiện giảng dạy thì việc kiểm tra mức độ chuyên cần của học viên cũng được Trung tâm quan tâm. Việc quản lý sau tốt nghiệp được thực hiện chặt chẽ bằng cách lưu lại hồ sơ của học viên như bảng điểm của học viên, lý lịch của học viên, kết quả thi học phần, thi tốt nghiệp.

Luôn nhận thức rõ tầm quan trọng của liên kết đào tạo hiện nay, Trung tâm TT GDNN – GDTX huyện Đại Từ sẵn sàng đáp ứng nguyện vọng người học ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng, vì vậy Ban Giám đốc Trung tâm một mặt không ngừng nâng cao, đổi mới công tác quản lý liên kết đào tạo, mặt khác thường xuyên quan tâm và mở rộng các mối quan hệ hợp tác với các cơ sở giáo dục ở tỉnh Thái Nguyên. Luận văn: Thực trạng liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.

2.6.2. Hạn chế

Về công tác tuyển sinh còn gặp nhiều khó khăn do giáo viên kiêm nhiệm làm công tác tuyển sinh tham gia giảng dạy nên không có thời gian để tìm hiểu nhu cầu về đào tạo và nguồn lực của các doanh nghiệp trên địa bàn. Đội ngũ cán bộ, GV kiêm nhiệm làm công tác tuyển sinh còn thiếu, chất lượng, số lượng đội ngũ GV chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới CTĐT, thiếu kinh nghiệm thực tế, GV luôn tự hài lòng với bản thân mình, ít chịu học tập nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực tự học yếu. Hiện nay, TT tuyển sinh theo hình thức kiểm tra hồ sơ của học viên có nhu cầu đào tạo, có hạn chế là chưa đánh giá được chất lượng đầu vào của học viên, vì vậy dẫn đến trong quá trình học tập học viên không tiếp thu được kiến thức cơ bản và các kiến thức chuyên môn. Một số học viên chưa định hướng được mục tiêu học tập, do vậy chưa xác định cho mình được phương pháp học tập khoa học.

Trong quản lý hoạt động tổ chức giảng dạy của GV, một số GV vẫn chưa ghi đầy đủ thông tin về bài giảng, số lượng học viên nghỉ học, một số GV chưa ký xác nhận vào sổ theo dõi học tập, về phương pháp và hình thức giảng dạy giáo viên còn nặng về lý thuyết và sử dụng phương pháp thuyết trình, hình thức nghe – giảng là chủ yếu, chưa phát huy tính tích cực của học viên. Phần lớn trong thời lượng giảng dạy. Tổ giáo vụ chưa kiểm tra thường xuyên, định kỳ giờ giảng của GV nên chưa đánh giá được chính xác chất lượng giờ giảng. Một số ít giảng viên thực hiện chưa thật nghiêm túc thời gian biểu, vào muộn, về sớm, chưa đảm bảo đủ thời gian thực hiện bài giảng, một tỷ lệ nhỏ học viên chưa nêu cao ý thức tham gia học tập, nghỉ quá số buổi quy định, không đủ điều kiện dự thi, phải học lại. Hiện nay, TT và đơn vị LK đều cử cán bộ đồng quản lý học viên, nhưng chưa có sự phân định rõ ràng về trách nhiệm và quyền hạn của mỗi bên dẫn đến lúc thì chồng chéo, lúc thì buông lỏng trong quản lý học viên.

Công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học viên chưa hiệu quả, mới chỉ dừng lại ở hình thức nhắc nhở, chưa có biện pháp tạo ra và duy trì tính tự giác học tập của học viên. Kiểm tra, đánh giá công tác tuyển sinh vẫn chưa đạt hiệu quả cao, vẫn chỉ dừng lại ở kiểm tra, đánh giá mà chưa đưa ra biện pháp cụ thể để nâng cao chất lượng tuyển sinh như tìm hiểu nhu cầu của nhân dân ở huyện Đại Từ, nắm bắt cơ hội và thách thức về nguồn nhân lực ở huyện Đại Từ. Để đánh giá giảng viên, TT chưa thực hiện lấy ý kiến của học viên về công tác giảng dạy của giảng viên đặc biệt là về việc thực hiện nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy, nghiệp vụ sư phạm. Như vậy, công tác kiểm tra, đánh giá chưa đổi mới, chưa đảm bảo chất lượng đào tạo, chưa phát huy khả năng tư duy sáng tạo của người học.

Về đội ngũ giảng viên: Đối với TT GDNN – GDTX huyện Đại Từ thì số lượng giảng viên cơ hữu rất hạn chế, trong khi giảng viên các trường cao đẳng, đại học tham gia giảng dạy tại các trung tâm hầu hết là trẻ, chưa có kinh nghiệm giảng dạy, chưa am hiểu nhiều về đặc thù kinh tế xã hội của huyện Đại Từ.

2.6.3. Nguyên nhân của hạn chế Luận văn: Thực trạng liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.

Việc huy động nguồn kinh phí đầu tư cho hoạt động liên kết đào tạo còn phụ thuộc vào ngân sách Nhà nước và trang thiết bị, máy móc của các trường liên kết đào tạo. Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ liên kết đào tạo tại Trung tâm GDNN – GDTX cò nghèo nàn, lạc hậu, chưa đáp ứng được yêu cầu của người học. Đội ngũ cán bộ, GV kiêm nhiệm làm công tác tuyển sinh còn thiếu, chất lượng, số lượng đội ngũ GV chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới CTĐT, thiếu kinh nghiệm thực tế, GV luôn tự hài lòng với bản thân mình, ít chịu học tập nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực tự học yếu.

Trong công tác nhân lực quản lý thì hiện nay công tác này đang còn khá nhiều hạn chế, phải nhờ sự hỗ trợ của các đơn vị chủ trì đào tạo.

Trong công tác quản lý, một số CBQL còn chịu ảnh hưởng của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chưa thực sự năng động, linh hoạt trong việc cải tiến chất lượng đào tạo theo hướng “cung” sang “cầu”, chưa bắt kịp yêu cầu phát triển của thị trường và xã hội. Quy mô, cơ cấu các nghề đào tạo chậm đổi mới theo nhu cầu của TTLĐ, chủ yếu là tập trung vào các ngành nghề truyền thống, đào tạo theo khả năng hiện có. Luận văn: Thực trạng liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.

Năng lực trình độ của đội ngũ CBQL, GV còn nhiều hạn chế, chưa được chuẩn hóa hoàn toàn, và còn thiếu. Đội ngũ CBQL, GV chưa đồng bộ, chưa tương xứng với nhiệm vụ và quy mô của các trường.

Kết luận chương 2

Qua tìm hiểu hoạt động liên kết đào tạo của Trung tâm GDNN – GDTX huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên cho thấy các hình thức liên kết như đặt lớp đào tạo thì đơn vị liên kết phối hợp để quản lý với TT GDNN – GDTX huyện Đại Từ và GV của đơn vị liên kết trực tiếp tham gia giảng dạy. Thực tế hoạt động liên kết đào tạo tại Trung tâm GDNN – GDTX huyện Đại Từ cho thấy, hiện nay có các chương trình liên kết đào tạo với các đơn vị liên kết hiện nay đã và đang đào tạo các ngành như: điện dân dụng, điện công nghiệp, công nghệ ô tô, may, nấu ăn, hàn;… LKĐT về bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ, tin học, công nghệ thông tin; các chương trình bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan Nhà nước. CBQL và GV khi có năng lực tốt đã nắm chắc và hiểu sâu sắc mục tiêu, chương trình, nội dung đào tạo, tổ chức giảng dạy, học tập có hiệu quả. Chủ động liên kết với đơn vị liên kết đào tạo trong điều tra khảo sát, xây dựng quy hoạch liên kết đào tạo và tổ chức thực hiện liên kết đào tạo. Mặt khác, các chủ trương, chính sách về liên kết đào tạo đã và đang góp phần ủng hộ, hỗ trợ hình thức liên kết đào tạo thực hiện đào tạo nhân lực trình độ đại học phục vụ phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương.

Thực trạng quản lý liên kết đào tạo cho thấy, bên cạnh những kết quả đạt được, hiện nay giữa TT và đơn vị liên kết vẫn chưa có sự phối hợp một cách hiệu quả về quản lý mục tiêu, nội dung chương trình liên kết đào tạo như mục tiêu, chương trình liên kết đào tạo đi sâu thực hành, gắn với nghề nghiệp; TT phối hợp với đơn vị liên kết kiểm tra, đánh giá xây dựng mục tiêu, chương trình liên kết chưa đào tạo… TT đã phối hợp chặt chẽ trong quản lý hoạt động học tập của học viên, quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên và quản lý nề nếp dạy, học, kiểm tra đánh giá kết quả của các khóa liên kết đào tạo. Tuy nhiên, một số học viên chưa hình thành được phương pháp học tập khoa học, ý thức học tập còn kém, giảng viên chưa có sự đổi mới về phương pháp giảng dạy,… TT chưa thường xuyên có sự trao đổi thông tin với các đơn vị liên kết đào tạo và chưa tổ chức Hội nghị về liên kết đào tạo với các đơn vị hợp tác đào tạo cùng chia sẻ những kinh nghiệm, thuận lợi và khó khăn trong quá trình hợp tác và triển khai công tác quản lý liên kết đào tạo.

Như vậy, trong các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên huyện Đại Từ cho thấy các CBQL và GV tại TT TT GDNN – GDTX huyện Đại Từ có năng lực tốt đã nắm chắc và hiểu sâu sắc mục tiêu, chương trình, nội dung đào tạo, tổ chức giảng dạy, học tập có hiệu quả để từ đó chủ động liên kết với đơn vị liên kết đào tạo trong điều tra khảo sát, xây dựng quy hoạch liên kết đào tạo và tổ chức thực hiện liên kết đào tạo. Mặt khác, các chủ trương, chính sách về liên kết đào tạo đã và đang góp phần ủng hộ, hỗ trợ hình thức liên kết đào tạo thực hiện đào tạo nhân lực trình độ đại học phục vụ phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương. Đây là cơ sở cần thiết để đẩy mạnh hoạt động liên kết đào tạo tại Trung tâm. Luận văn: Thực trạng liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp liên kết đào tạo ở Trung tâm Giáo dục

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993