Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý Phối hợp giữa công đoàn với chính quyền hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn trong các trường Đại học thuộc Đại học Thái Nguyên dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đại học Thái Nguyên được thành lập theo Nghị định số 31/CP ngày 04 tháng 4 năm 1994 của Chính phủ trên cơ sở tổ chức lại các trường đại học trên địa bàn thành phố Thái Nguyên, nhằm hình thành một trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, trung tâm NCKH&CGCN tiên tiến trong các lĩnh vực giáo dục, nông lâm ngư nghiệp, y tế, kinh tế, công nghiệp, CNTT&TT; nơi tư vấn và phản biện các chính sách phát triển nhằm đóng góp cho sự nghiệp phát triển bền vững kinh tế, văn hóa, xã hội của khu vực Trung du và miền núi Bắc Bộ. Để hoàn thành tốt vai trò, sứ mệnh của mình, ĐHTN luôn kiên trì mục tiêu: “Hướng tới chất lượng, đẳng cấp và trở thành một trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ hàng đầu ở Việt Nam và có uy tín trong khu vực” [4].
Đại học Thái Nguyên là một trong những Đại học trọng điểm của cả nước (một trong ba đại học vùng trực thuộc Bộ GD&ĐT: ĐH Huế, ĐH Đà Nẵng, ĐH Thái Nguyên). ĐHTN là Đại học vùng, đa cấp, đa ngành, đa lĩnh vực, có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao cho các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc nhằm đáp ứng nhu cầu tại chỗ về nguồn nhân lực của các địa phương trong khu vực, đặc biệt là các tỉnh miền núi còn nhiều khó khăn về nguồn nhân lực và tạo cơ hội, điều kiện thuận lợi cho người học, con em các dân tộc thiểu số. Vấn đề đặt ra cho ĐHTN là làm thế nào để phát huy các thế mạnh của Đại học vùng để đáp ứng yêu cầu xã hội. Một trong những nhiệm vụ trọng tâm chính là nâng cao chất lượng đào tạo, NCKH&CGCN, nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động chuyên môn, đặc biệt là hoạt động chuyên môn tại các trường đại học trực thuộc ĐHTN.
Nhằm góp phần thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ chung của ĐHTN, các tổ chức công đoàn xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của mình phối hợp với chính quyền thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của ĐHTN và các cơ sở giáo dục đại học thành viên, các đơn vị trực thuộc ĐHTN. Luận văn: Quản lý Phối hợp giữa công đoàn với chính quyền.
“Công đoàn là tổ chức chính trị – xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động, được thành lập trên cơ sở tự nguyện, là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đại diện cho cán bộ, công chức, viên chức, công nhân và những người lao động khác, cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế – xã hội, tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp; tuyên truyền, vận động người lao động học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” [24].
Tổ chức công đoàn tại các trường thuộc ĐHTN (chính là các công đoàn cơ sở trực thuộc Công đoàn ĐHTN) là nền tảng của tổ chức Công đoàn, là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện các chức năng công đoàn. Trong ba chức năng của tổ chức công đoàn thì chức năng phối hợp với chính quyền tham gia quản lý là chức năng đặc biệt. Công đoàn nhà trường có vai trò quan trọng giúp Hiệu trưởng hoàn thành nhiệm vụ chính trị của nhà trường, Công đoàn tham gia quản lý (trong đó tham gia quản lý hoạt động chuyên môn là nòng cốt) là một hoạt động không thể thiếu được trong hoạt động công tác công đoàn vì tổ chức công đoàn thông qua việc phối hợp với chính quyền để quản lý các hoạt động của nhà trường nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Cán bộ, nhà giáo và người lao động.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi lựa chọn vấn đề “Phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn trong các trường Đại học thuộc Đại học Thái Nguyên” làm đề tài nghiên cứu của luận văn.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đề xuất biện pháp phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn ở các trường Đại học thuộc ĐHTN góp phần nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động chuyên môn ở các trường Đại học thuộc ĐHTN.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Công tác phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn ở các trường đại học thuộc Đại học Thái Nguyên. Luận văn: Quản lý Phối hợp giữa công đoàn với chính quyền.
3.2. Khách thể nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Phối hợp giữa công đoàn và chính quyền ở trường đại học.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận về phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn ở trường đại học.
- Khảo sát thực trạng phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn ở các trường đại học thuộc Đại học Thái Nguyên.
- Đề xuất biện pháp phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn ở các trường đại học thuộc ĐHTN.
5. Giả thuyết khoa học
Hiện nay công tác phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn ở các trường đại học thuộc Đại học Thái Nguyên đã được triển khai cụ thể bằng một số hoạt động tuy nhiên còn hạn chế, chưa được cán bộ quản lý các nhà trường quan tâm đúng mức nên chưa có những biện pháp phù hợp trong việc phối hợp quản lý hoạt động này. Nếu đề xuất được các biện pháp phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn, đảm bảo phù hợp với vị trí, vai trò, chức năng, quy chế hoạt động của công đoàn, phù hợp với đặc điểm của nhà trường và xu hướng phát triển giáo dục sẽ nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường đại học thuộc ĐHTN.
6. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu chủ yếu trong thời gian từ năm học 2024 – 2025 đến năm học 2025 – 2026.
- Việc khảo sát thực trạng được tiến hành tại Trường Đại học Sư phạm, Trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông thuộc ĐHTN.
7. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Quản lý Phối hợp giữa công đoàn với chính quyền.
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các tài liệu, văn bản, chỉ thị nghị quyết, sách báo, các công trình khoa học liên quan đến vấn đề nghiên cứu để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài.
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp phỏng vấn, đàm thoại
Trao đổi với cán bộ quản lý, giảng viên nhằm thu thập những thông tin phục vụ nghiên cứu đề tài.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Sử dụng bảng hỏi nhằm thu thập những thông tin về thực trạng hoạt động phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn hiện nay phục vụ quá trình nghiên cứu đề tài.
- Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến ý kiến của các chuyên gia, các nhà khoa học trong lĩnh vực công đoàn, lãnh đạo Đại học và các ban của ĐHTN, lãnh đạo nhà trường và các phòng chức năng của một số trường đại học về các biện pháp đề xuất của đề tài.
7.3. Nhóm phương pháp hỗ trợ khác
Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học. Sử dụng các công thức toán thống kê để xử lý kết quả, khảo sát tỉ lệ trung bình, tỉ lệ %…
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn được chia làm ba chương như sau: Luận văn: Quản lý Phối hợp giữa công đoàn với chính quyền.
- Chương 1: Cơ sở lý luận về phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn ở trường đại học.
- Chương 2: Thực trạng phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn ở các trường đại học thuộc Đại học Thái Nguyên.
- Chương 3: Biện pháp phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn ở các trường đại học thuộc Đại học Thái Nguyên.
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHỐI HỢP GIỮA CÔNG ĐOÀN VỚI CHÍNH QUYỀN TRONG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
- Hiện nay trên thế giới có 3 tổ chức công đoàn quốc tế:
Liên hiệp Công đoàn thế giới (WFTU) thành lập 3/10/1945 đây là tổ chức của lao động thế giới đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít. Hiện nay, tổ chức này có 102 tổ chức công đoàn thành viên ở 74 nước với tổng số đoàn viên khoảng 407 triệu người.
Liên hiệp quốc tế các công đoàn tự do (CFTU), thành lập vào năm 1949 tại Luân Đôn. Hiện nay CFTU có khoảng 140 triệu thành đoàn viên thuộc 160 trung tâm công đoàn ở 120 nước trên thế giới.
Liên hiệp Công đoàn thế giới (WCL) thành lập năm 1920 tại Hà Lan có khoảng 25 triệu đoàn viên ở 60 quốc gia [34].
Công đoàn Việt Nam là thành viên của tổ chức Liên hiệp Công đoàn Thế giới (WFTU).
Trong thời gian qua, có một số nhà khoa học đã bố những công trình nghiên cứu liên quan đến việc phối hợp giữa công đoàn với chính quyền như phối hợp với chính quyền trong chăm lo đời sống cho cán bộ, giáo viên, phối hợp với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn, …. Luận văn: Quản lý Phối hợp giữa công đoàn với chính quyền.
Tác giả Vũ Thị Thanh Tâm với nghiên cứu“Phối hợp giữa Công đoàn với Chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên” đã nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng phối hợp giữa Công đoàn với Chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn và đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phối hợp giữa Công đoàn với Chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn tại Trường Đại học Sư phạm – ĐHTN. Luận văn mới chỉ nghiên cứu trong phạm vi của một trường đại học Sư phạm chứ chưa nghiên cứu trong phạm vi các trường đại học thuộc ĐHTN (một đại học vùng) [11].
Công trình của tác giả Phùng Văn Cao với đề tài“Phối hợp quản lý giữa Ban giám hiệu với tổ chức Công đoàn trong chăm lo đời sống cho giáo viên ở các trường THPT huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình” đã nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động phối hợp giữa Ban giám hiệu và tổ chức công đoàn trong chăm lo đời sống cho giáo viên hiện nay và đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp giữa Ban giám hiệu với tổ chức công đoàn trong chăm lo đời sống cho giáo viên ở các trường THPT huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình [3].
Bài báo của tác giả Lương Thị Việt Hà với chủ đề “Biện pháp tăng cường phối hợp giữa Công đoàn với Nhà trường trong xã hội hóa giáo dục ở các trường Trung học phổ thông” đã đưa ra một số biện pháp tăng cường hơn nữa sự phối hợp giữa Công đoàn và nhà trường THPT trong xã hội hóa giáo dục (XHHGD), thống nhất mục tiêu, yêu cầu và nội dung XHHGD giữa CĐ với nhà trường; hình thành bộ máy phối hợp giữa CĐ với nhà trường; xác định rõ trách nhiệm của từng bên và hình thành cơ chế phối hợp giữa CĐ với nhà trường; phát huy vai trò của tổ chức CĐ ở các cấp, từng CĐ viên, CĐ tổ chuyên môn và CĐ trường; huy động sự giúp đỡ của các tổ chức xã hội khác thông qua sự vận động, thuyết phục của tổ chức Công đoàn [9].
Các nghiên cứu tập trung phân tích, bàn luận đến việc phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong chăm lo đời sống cho cán bộ, giáo viên; quản lý hoạt động bồi dưỡng cán bộ công đoàn; quản lý hoạt động giảng dạy; hoạt động nghiên cứu khoa học tại các cơ sở giáo dục của một tỉnh; quản lý hoạt động chuyên môn ở một trường đại học cụ thể nhưng chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về việc phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn ở các trường Đại học thuộc một Đại học vùng như Đại học Thái Nguyên.
Tuy nhiên, những công trình khoa học, bài báo của các nhà nghiên cứu đi trước là những ý kiến gợi mở quý báu để tác giả tiếp thu và hoàn thiện đề tài “Phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn ở các trường Đại học thuộc Đại học Thái Nguyên”.
1.2. Một số khái niệm có liên quan Luận văn: Quản lý Phối hợp giữa công đoàn với chính quyền.
1.2.1. Quản lý
Khái niệm quản lý được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khoa học (khoa học tự nhiên, khoa học xã hội nhân văn, …). Do vậy, có nhiều cách định nghĩa về khái niệm quản lý. Các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu nhiều góc độ tiếp cận để có những quan điểm khác nhau về khái niệm này. Dù tiếp cận ở góc độ nào đi chăng nữa, quản lý vẫn phải dựa trên những cơ sở, nguyên tắc đã được định sẵn và nhằm đạt được hiệu quả của việc quản lý, tức là mục đích của quản lý.
Theo từ điển tiếng Việt, thuật ngữ ”quản lý” được định nghĩa là tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan.
Theo nghĩa chung nhất từ góc độ Tâm lý học, Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó” [5].
Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế, … bằng một hệ thống các luật lệ, chính sách, nguyên tắc, phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng. Đối tượng quản lý có thể trên quy mô toàn cầu, khu vực, quốc gia, ngành, đơn vị, có thể là một con người cụ thể, sự vật cụ thể.
- Về khái niệm quản lý có nhiều cách định nghĩa khác nhau:
Quản lý là các hoạt động được thực hiện nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của người khác.
Quản lý là sự cộng tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những người cộng sự khác cùng chung một tổ chức.
Koontz và O Donnell cho rằng: Không có lĩnh vực hoạt động nào của con người quan trọng hơn là công việc quản lý, bởi vì mọi nhà quản lý ở mọi cấp độ và trong mọi cơ sở đều có một nhiệm vụ cơ bản là thiết kế duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định.
James Stiner và Stephen Robbins quan niệm: Quản lý là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hoạt động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đề ra [19].
Qua các định nghĩa trên, có thể thấy, tuy khác về cách diễn đạt nhưng đều gặp nhau ở những nội dung cơ bản.
Như vậy có thể khái quát: Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt được mục tiêu đã đề ra.
Hay nói cách khác: Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng việc thực hiện các chức năng quản lý như lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. Luận văn: Quản lý Phối hợp giữa công đoàn với chính quyền.
Trong các nhà trường, nói đến quản lý là nói đến quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, khái niệm quản lý giáo dục, quản lý nhà trường được định nghĩa như sau:
Quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống, có mục đích, hợp quy luật của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống giáo dục, nhằm đảm bảo cho hệ thống giáo dục vận hành, phát triển, thực hiện mục tiêu của nền giáo dục”.
Quản lý nhà trường là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhà trường giúp cho nhà trường vận hành theo đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng, thực hiện được mục tiêu, tính chất của nhà trường Việt Nam đó là hình thành phát triển nhân cách người học theo yêu cầu xã hội” [14].
1.2.2. Công đoàn
Kể từ khi phát hành cuốn Lịch sử Chủ nghĩa Công đoàn (History of Trade Unionism) (1984) của Sidney và Beatrice Webb, quan điểm lịch sử rằng công đoàn là “một hiệp hội của những người làm công ăn lương có mục đích duy trì hay cải thiện các điều kiện thuê mướn họ”. Có một định nghĩa hiện đại khác của Cục Thống kê Úc Đại Lợi rằng công đoàn là “… một tổ chức hợp thành chủ yếu bởi những người làm thuê, hoạt động cơ bản là thương lượng về lương bổng và điều kiện thuê mướn cho các thành viên của nó”. Trong nghiên cứu lịch sử gần đây, Trade or Mystery (2001), Tiến sĩ Bob James trình bày rằng công đoàn là một phần của một phong trào rộng lớn hơn của các cộng đồng chung lợi ích, nó bao gồm cả các phường hội trung cổ, các hội Tam điểm, hội ái hữu Oddfellow, các hiệp hội bạn thợ và các hội kín khác [35].
Ở các nước trên thế giới, Công đoàn là tổ chức đại diện cho quyền, lợi ích của người lao động, Công đoàn cũng có thể tham gia vào các hoạt động chính trị hợp pháp để bảo vệ quyền, lợi ích của các thành viên trong tổ chức, Công đoàn là hiệp hội tự nguyện được hình thành để đại diện bảo vệ quyền, lợi ích của các thành viên về kinh tế, chính trị và xã hội nhằm duy trì, cải thiện điều kiện làm việc và cuộc sống của họ. Công đoàn có thể đại diện người lao động thương lượng với chủ thuê mướn lao động về lương bổng và các điều kiện làm việc; hoặc có thể tác động đến luật lệ có lợi cho toàn thể người lao động, họ có thể tiến hành tiến hành những chiến dịch chính trị, vận động hành lang hay hỗ trợ tài chính cho những cá nhân hay chính Đảng ứng cử vào các vị trí công quyền. Ở mỗi quốc gia, có thể có một tổ chức công đoàn thống nhất hoặc nhiều tổ chức công đoàn.
Ở Việt Nam hiện nay, chỉ có duy nhất một tổ chức Công đoàn, luật pháp không thừa nhận tính hợp pháp của bất kỳ tổ chức nào khác đại diện người lao động trong quan hệ lao động ngoài tổ chức Công đoàn.
Theo Luật Công đoàn Việt Nam, khái niệm Công đoàn được định nghĩa: “Công đoàn là tổ chức chính trị – xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động, được thành lập trên cơ sở tự nguyện, là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đại diện cho cán bộ, công chức, viên chức, công nhân và những người lao động khác (sau đây gọi chung là người lao động), cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế – xã hội, tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp; tuyên truyền, vận động người lao động học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” [23].
1.2.3. Chuyên môn Luận văn: Quản lý Phối hợp giữa công đoàn với chính quyền.
Theo từ điển tiếng Việt, chuyên môn là lĩnh vực kiến thức riêng của một ngành khoa học, kỹ thuật. Chuyên môn là tổ hợp các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo thực hành mà con người tiếp thu được, qua đó tạo lập để có khả năng thực hiện một loạt công việc trong một phạm vi ngành nghề nhất định theo phân công xã hội. Hay nói cách khác, chuyên môn là học vấn và nghiệp vụ của con người trong lĩnh vực họ được đào tạo và làm việc. Chuyên môn là một dạng lao động đặc biệt, mà qua đó con người dùng sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần của mình để tác động vào những đối tượng cụ thể nhằm biến đổi những đối tượng đó theo hướng phục vụ mục đích, yêu cầu và lợi ích của con người. Chuyên môn là một lĩnh vực lao động sản xuất hẹp mà ở đó, con người bằng năng lực thể chất và tinh thần của mình làm ra những giá trị vật chất (thực phẩm, lương thực, công cụ lao động…) hoặc giá trị tinh thần (sách báo, phim ảnh, âm nhạc, tranh vẽ…) với tư cách là những phương tiện sinh tồn và phát triển của xã hội [36].
Chuyên môn trong trường học là những hiểu biết tinh thông về kiến thức bộ môn, phương pháp, kỹ thuật lên lớp của giáo viên; là những quy định về nề nếp dạy học, về việc tổ chức nề nếp dạy học và những tài liệu hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ của ngành GD&ĐT; là yêu cầu chuẩn kiến thức của mỗi cấp học để học sinh phấn đấu đạt được về kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo trong các yêu cầu giáo dục khác.
1.2.4. Hoạt động chuyên môn ở trường đại học
Với mỗi cơ sở giáo dục khác nhau, hoạt động chuyên môn sẽ khác nhau về mục tiêu, tính chất, nội dung gắn với từng lĩnh vực giáo dục và đào tạo ngành nghề khác nhau.
Hoạt động chuyên môn ở trường đại học bao gồm hoạt động đào tạo, hoạt động khoa học và công nghệ, hoạt động hợp tác quốc tế, giảng viên và người học, … Trong trường đại học, nói đến hoạt động chuyên môn là nói đến hoạt động chuyên môn tại các Khoa (đơn vị chuyên môn trực thuộc trường đại học) và bộ môn (đơn vị chuyên môn trực thuộc Khoa trong trường đại học) [13].
1.2.5. Quản lý hoạt động chuyên môn ở trường đại học
Quản lý của nhà trường có nhiều nội dung, song quản lý hoạt động chuyên môn là nhiệm vụ trung tâm và luôn được đặt lên vị trí hàng đầu, bởi vì hoạt động chuyên môn tác động trực tiếp tới chất lượng giảng dạy của giảng viên và chất lượng học tập của sinh viên, góp phần quan trọng trong việc thực hiện các nhiệm vụ giáo dục và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo của nhà trường. Do vậy, quản lý hoạt động chuyên môn là yêu cầu tất yếu, là nội dung quan trọng trong quản lý trường học. Quản lý hoạt động chuyên môn ở trường đại học là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhà trường (hiệu trưởng) đến đối tượng quản lý (hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học, quản lý, tư vấn, hỗ trợ Cán bộ, nhà giáo và người lao động, …) nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo của nhà trường, giúp cho nhà trường vận hành theo đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng, thực hiện được mục tiêu, tính chất của nhà trường, đó là hình thành và phát triển nhân cách người học theo yêu cầu xã hội [14]. Luận văn: Quản lý Phối hợp giữa công đoàn với chính quyền.
1.2.6. Khái niệm phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn ở trường đại học
Theo từ điển tiếng Việt, phối hợp là cùng hành động hoặc hành động hỗ trợ lẫn nhau. Theo nghĩa đơn giản, phối hợp là hoạt động cùng nhau của hai hay nhiều cá nhân, tổ chức để hỗ trợ cho nhau thực hiện một công việc chung. Xét từ khía cạnh quản lý nhà nước, phối hợp là một phương thức, một hình thức, một quy trình kết hợp hoạt động của các cơ quan, tổ chức lại với nhau để bảo đảm cho các cơ quan, tổ chức này thực hiện được đầy đủ, hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, nhằm đạt được các lợi ích chung. Phối hợp tồn tại trong suốt quá trình quản lý, từ hoạch định chính sách, xây dựng thể chế, đến việc tổ chức thực thi cơ chế, chính sách, pháp luật, ở đâu có quản lý thì ở đó có nhu cầu phối hợp. Mục tiêu cuối cùng của phối hợp là tạo ra sự thống nhất, đồng thuận, bảo đảm chất lượng và hiệu quả trong quản lý. Nói khác đi, phối hợp là phương thức thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể trong quản lý nhà nước [33].
Phối hợp giữa Công đoàn với Chính quyền trong trường đại học được xây dựng trên quan điểm: Công đoàn là yếu tố cấu thành hệ thống chính trị, là tổ chức chính trị- xã hội của người lao động; Khi thực hiện chức năng quản lý Nhà nước của nhà trường mà có liên quan đến trách nhiệm, quyền và lợi ích của Cán bộ, nhà giáo và người lao động, chính quyền cần có sự phối hợp với Công đoàn chăm lo và bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của Cán bộ, nhà giáo và người lao động; tổ chức động viên người lao động thực hiện một cách tốt nhất nhiệm vụ công tác chính trị của nhà trường.
Trong phạm vi nghiên cứu của một luận văn thạc sĩ, chúng tôi nhận thức rằng, sự phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn là hoạt động của tổ chức công đoàn trong phạm vi quyền hạn, chức năng của mình cùng với chính quyền tham gia quản lý hoạt động chuyên môn theo quy định.
1.3. Một số vấn đề cơ bản về hoạt động công đoàn và chính quyền ở trường đại học Luận văn: Quản lý Phối hợp giữa công đoàn với chính quyền.
1.3.1. Một số vấn đề cơ bản về hoạt động công đoàn ở trường đại học
- Vị trí, vai trò của công đoàn
Vị trí của Công đoàn là địa vị của Công đoàn giữa các tổ chức khác trong hệ thống chính trị – xã hội và mối quan hệ của Công đoàn với các tổ chức đó” [20].
Vị trí của công đoàn được thể hiện trên cơ sở pháp lý trong các văn bản luật. “Công đoàn là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều đó khẳng định Công đoàn có mối quan hệ với Đảng Cộng sản Việt Nam, với Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, với Mặt trận tổ quốc Việt Nam, với các tổ chức chính trị – xã hội trong hệ thống chính trị” [18].
Đảng Cộng sản Việt Nam tôn trọng tính độc lập về mặt tổ chức của các đoàn thể, trong đó có công đoàn trong hệ thống chính trị Việt Nam.
Nằm trong hệ thống tổ chức Công đoàn Việt Nam được tổ chức từ Trung ương đến cơ sở, công đoàn cơ sở các trường đại học là mắt xích trong hệ thống tổ chức công đoàn.
Vị trí của tổ chức Công đoàn trong các Đại học Vùng:
- Sơ đồ 1.1. Cơ cấu tổ chức quản lý trong Đại học Vùng
Đối với công đoàn cơ sở tại các trường đại học, vị trí của Công đoàn khác nhau trong mối quan hệ với các tổ chức khác nhau. Với Đảng, Công đoàn chịu sự lãnh đạo của Đảng ủy Trường, là chỗ dự vững chắc và là sợi dây nối liền quần chúng với Đảng; Với Chính quyền, Công đoàn là người cộng tác đắc lực, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và phối hợp chặt chẽ với nhau trong mọi hoạt động, tham gia quản lý các hoạt động của nhà trường liên quan đến Cán bộ, nhà giáo và người lao động góp phần xây dựng và phát triển nhà trường; Cũng như các tổ chức đoàn thể khác trong nhà trường, Công đoàn là thành viên của hệ thống chính trị trong nhà trường, cùng bình đẳng, tôn trọng, tạo điều kiện cho nhau hoạt động.
Vị trí của công đoàn các trường đại học thuộc Đại học Vùng: Luận văn: Quản lý Phối hợp giữa công đoàn với chính quyền.
- Sơ đồ 1.2. Cơ cấu tổ chức quản lý các trường ĐH thuộc ĐH Vùng
Vai trò của tổ chức Công đoàn Việt Nam không ngừng phát triển, mở rộng qua các thời kỳ. Ngày nay trong giai đoạn đất nước bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại, vai trò của Công đoàn Việt Nam tác động trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa – tư tưởng và xã hội.
Đối với công đoàn cơ sở tại các trường đại học, vai trò của Công đoàn trong tham gia quản lý hoạt động chuyên môn là phối hợp xây dựng kế hoạch chuyên môn của Khoa và nhà trường trong từng giai đoạn công tác; Động viên, khích lệ, tạo động lực để Cán bộ, nhà giáo và người lao động thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn của Khoa, của nhà trường trong từng giai đoạn công tác; Phối hợp với chính quyền kiểm tra đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn; Tham gia xây dựng đội ngũ Cán bộ, nhà giáo và người lao động vững mạnh cả về số lượng và chất lượng, không ngừng nâng cao trình độ chính trị, tính tổ chức kỷ luật, trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật, …
Như vậy, tương ứng với mỗi cấp quản lý của chính quyền đều có tổ chức công đoàn cùng phối hợp với chính quyền để thực hiện nhiệm vụ của chính trị của Đại học vùng và của các trường đại học.
- Sơ đồ 1.3. Sơ đồ phân cấp quản lý giữa công đoàn và chính quyền
- Chức năng của công đoàn
Chức năng của Công đoàn là sự phân công tất yếu, sự quy định chức trách một cách tương đối ổn định và hợp lý trong điều kiện lịch sử – xã hội nhất định để phân biệt tổ chức Công đoàn với các tổ chức khác trong hệ thống chính trị” [20].
Công đoàn cơ sở trong các trường đại học thực hiện các chức năng chung của Công đoàn Việt Nam, do đó cũng có ba chức năng là: chăm lo bảo vệ lợi ích; tham gia quản lý và tuyên truyền giáo dục.
- Chức năng đại diện và bảo vệ lợi ích: Luận văn: Quản lý Phối hợp giữa công đoàn với chính quyền.
Đại diện và bảo vệ lợi ích là chức năng quan trọng nhất, chức năng trung tâm, là mục tiêu hoạt động công đoàn. Luật Công đoàn đã ghi rõ: ”Công đoàn đại diện, bảo vệ quyền, lợi hợp pháp, chính đáng của người lao động”.
Để thực hiện chức năng bảo vệ lợi ích trong trường đại học, Công đoàn chủ động tham gia cùng chính quyền tìm việc làm và tạo điều kiện làm việc cho Cán bộ, nhà giáo và người lao động; Công đoàn tham gia trong lĩnh vực tiền lương, tiền thưởng, nhà ở, trong việc ký kết hợp đồng lao động của Cán bộ, nhà giáo và người lao động; đại diện Cán bộ, nhà giáo và người lao động trong vấn đề thương lượng, giải quyết tranh chấp lao động; quản lý và sử dụng quỹ phúc lợi tập thể và nhà trường; bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; bảo hộ lao động; tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo của Cán bộ, nhà giáo và người lao động; phát huy dân chủ, bình đẳng, công bằng xã hội; phát triển các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao, du lịch, thăm quan nghỉ mát, … trong nhà trường.
- Chức năng tham gia quản lý:
Công đoàn tham gia quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế – xã hội, là một thay đổi về chất của tổ chức Công đoàn trong điều kiện Nhà nước của giai cấp công nhân và nhân dân lao động” [20].
Tham gia quản lý là thể hiện quyền của Công đoàn. Thực hiện chức năng tham gia quản lý không có nghĩa là làm thay hay là sự can thiệp làm cản trở công việc quản lý của Nhà nước. Tham gia quản lý chính là thiết thực bảo vệ lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài của công nhân, viên chức và lao động, của tập thể, của Nhà nước một cách căn bản, từ gốc và có hiệu quả … [26].
Để thực hiện chức năng tham gia quản lý trong trường đại học, Công đoàn cần đẩy mạnh các nội dung cụ thể, như tham gia với chính quyển nhà trường xây dựng chính sách, pháp luật về những vấn đề liên quan đến người lao động như: lao động, việc làm, tiền lương, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hộ lao động và chính sách, pháp luật khác liên quan đến tổ chức Công đoàn, quyền nghĩa vụ của Cán bộ, nhà giáo và người lao động; phối hợp với nghiên cứu ứng dụng khoa học, công nghệ, kỹ thuật bảo hộ lao động, xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn an toàn, vệ sinh lao động; tham gia với nhà trường quản lý bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, giải quyết khiếu nại, tổ cáo của người lao động theo quy định của pháp luật; tham gia xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong nhà trường; tham gia xây dựng quy chế dân chủ trong nhà trường; phối hợp tổ chức các phong trào thi đua, công tác, lấy đó làm biện pháp tổng hợp nhất để Cán bộ, nhà giáo và người lao động trực tiếp tham gia quản lý. Luận văn: Quản lý Phối hợp giữa công đoàn với chính quyền.
Công đoàn vận động và tổ chức cho Cán bộ, nhà giáo và người lao động tham gia xây dựng và thực hiện kế hoạch, nhiệm vụ công tác của nhà trường. Tham gia trong lĩnh vực tiền lương, tiền thưởng, quản lý tốt vật tư, kỹ thuật, tài chính. Tham gia kiểm tra, giám sát việc thực hiện chế độ, chính sách pháp luật về lao động như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và chế độ, chính sách, pháp luật khác có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động, điều tra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Kiểm tra, giám sát hoạt động của của chính quyền, chống quan liêu, tham nhũng.
- Chức năng tuyên truyền, vận động:
Công đoàn tuyên truyền, vận động Cán bộ, nhà giáo và người lao động nhận thức đầy đủ về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nội quy, quy định của nhà trường; tuyên truyền, vận động Cán bộ, nhà giáo và người lao động tích cực học tập nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, nâng cao kiến thức và ý thức chấp hành pháp luật, nội quy, quy chế của nhà trường; tuyên truyền, vận động Cán bộ, nhà giáo và người lao động thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, hiểu rõ lợi ích cá nhân gắn liền với lợi ích của tập thể, của nhà trường, đòi hỏi Cán bộ, nhà giáo và người lao động phải thực hiện tốt nghĩa vụ, làm tròn trách nhiệm của mình, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, nội quy, quy định của nhà trường.
Công đoàn các trường đại học chính là các công đoàn cơ sở trong sơ đồ tổ chức hệ thống Công đoàn Việt Nam, là nền tảng của tổ chức Công đoàn Việt Nam, do đó, cũng là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện các chức năng của Công đoàn Việt Nam. Công đoàn cơ sở chỉ vững mạnh khi thực hiện tốt các chức năng trên của tổ chức công đoàn. Chức năng Công đoàn là một chỉnh thể, một hệ thống đồng bộ, trong đó chức năng bảo vệ lợi ích mang ý nghĩa trung tâm, là mục tiêu hoạt động của Công đoàn; chức năng tham gia quản lý mang ý nghĩa phương tiện; chức năng giáo dục mang ý nghĩa tạo động lực tinh thần để đạt được mục tiêu.
1.3.2. Một số vấn đề cơ bản về hoạt động của trường đại học Luận văn: Quản lý Phối hợp giữa công đoàn với chính quyền.
Mỗi trường đại học có một vị trí, chức năng khác nhau tùy thuộc vào nhiệm vụ cụ thể của mỗi trường.
Tuy nhiên, nhiệm vụ và quyền hạn chung của các trường đại học được thực hiện theo Luật Giáo dục Đại học như sau:
- Xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển cơ sở giáo dục đại học.
- Triển khai hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ, hợp tác quốc tế, bảo đảm chất lượng giáo dục đại học.
- Phát triển các chương trình đào tạo theo mục tiêu xác định; bảo đảm sự liên thông giữa các chương trình và trình độ đào tạo.
- Tổ chức bộ máy; tuyển dụng, quản lý, xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý, viên chức, người lao động.
- Quản lý người học; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của giảng viên, viên chức, nhân viên, cán bộ quản lý và người học; dành kinh phí để thực hiện chính sách xã hội đối với đối tượng được hưởng chính sách xã hội, đối tượng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; bảo đảm môi trường sư phạm cho hoạt động giáo dục.
- Tự đánh giá chất lượng đào tạo và chịu sự kiểm định chất lượng giáo dục.
- Được Nhà nước giao hoặc cho thuê đất, cơ sở vật chất; được miễn, giảm thuế theo quy định của pháp luật.
- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực; xây dựng và tăng cường cơ sở vật chất, đầu tư trang thiết bị.
- Hợp tác với các tổ chức kinh tế, giáo dục, văn hóa, thể dục, thể thao, y tế, nghiên cứu khoa học trong nước và nước ngoài.
- Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo và chịu sự kiểm tra, thanh tra của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các bộ, ngành có liên quan và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi cơ sở giáo dục đại học đặt trụ sở hoặc có tổ chức hoạt động đào tạo theo quy định.
- Các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật. [25]
1.4. Phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn ở trường đại học
1.4.1. Mục tiêu phối hợp Luận văn: Quản lý Phối hợp giữa công đoàn với chính quyền.
Mục tiêu phối hợp giữa công đoàn và chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn ở trường đại học không ngoài mục đích huy động sự tham gia tối đa của các nguồn lực tham gia thực hiện hoạt động chuyên môn, bởi lẽ mục tiêu hoạt động chuyên môn của trường đại học hướng đến chất lượng đào tạo, sản phẩm đầu ra (người học sau tốt nghiệp) của giáo dục đại học phải đáp ứng tối ưu đòi hỏi của xã hội.
1.4.2. Nội dung phối hợp trong quản lý hoạt động chuyên môn ở trường Đại học
Công đoàn phối hợp với chính quyền tham gia quản lý nhà trường theo quy định. Tham gia với chính quyền về các chủ trương, xây dựng chiến lược phát triển nhà trường; về các vấn đề có liên quan đến việc làm, đời sống của Cán bộ, nhà giáo và người lao động. Tổ chức và vận động Cán bộ, nhà giáo và người lao động tham gia các hoạt động xã hội, các biện pháp chăm lo đời sống, cải thiện điều kiện làm việc, đấu tranh ngăn chặn tiêu cực, tham nhũng và các tệ nạn xã hội, …
Công đoàn tham gia xây dựng và kiểm tra, giám sát việc thực hiện nội quy, quy chế về tiền lương, tiền thưởng, bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, các chế độ chính sách khác và các quy định có liên quan đến Cán bộ, nhà giáo và người lao động.Phối hợp với Ban giám hiệu nhà trường hướng dẫn thực hiện công tác bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các chế độ, chính sách ngành, nghề có liên quan đến quyền, nghĩa vụ, lợi ích của Cán bộ, nhà giáo và người lao động trong nhà trường.
Công đoàn tham gia giải quyết tranh chấp lao động, giải quyết khiếu nại, tố cáo của Cán bộ, nhà giáo và người lao động. Phối hợp với Ban giám hiệu giải quyết tranh chấp lao động, giải quyết khiếu nại, tố cáo của Cán bộ, nhà giáo và người lao động. Tham gia tố tụng bảo về lợi ích hợp pháp, chính đáng của Cán bộ, nhà giáo và người lao động.
Công đoàn tham gia với cấp ủy Đảng, Ban giám hiệu về công tác quản lý, lãnh đạo nhà trường. Phối hợp với Ban giám hiệu thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, tổ chức Hội nghị cán bộ, viên chức, người lao động; tham gia các hội đồng để giải quyết các vấn đề có liên quan đến Cán bộ, nhà giáo và người lao động. Tham gia cải cách hành chính, đấu tranh ngăn chặn tiêu cực, tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội. Luận văn: Quản lý Phối hợp giữa công đoàn với chính quyền.
Công đoàn phối hợp với chính quyền và các tổ chức đoàn thể trong nhà trường tổ chức các phong trào thi đua và các cuộc vận động mang tính chất xã hội rộng lớn trong đoàn viên công đoàn và Cán bộ, nhà giáo và người lao động. Vận động Cán bộ, nhà giáo và người lao động tham gia xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh; tham gia các hoạt động xã hội; xây dựng nếp sống văn hóa trong các cụm dân cư nơi Cán bộ, nhà giáo và người lao động sinh sống và trong nhà trường [21].
Các nội dung công đoàn phối hợp với chính quyền trong công tác quản lý hoạt động chuyên môn ở trường đại học gồm:
- Quản lý hoạt động giảng dạy
Quản lý trường đại học bao gồm nhiều lĩnh vực như: Quản lý đào tạo, quản lý hoạt động giảng dạy, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, quản lý đội ngũ cán bộ, quản lý sinh viên, quản lý tài chính, quản lý cơ sở vật chất và các điều kiện hỗ trợ, …
Để đảm bảo chất lượng sản phẩm đào tạo của trường đại học, nhà trường cần quản lý chất lượng tất cả các lĩnh vực quản lý. Trong các lĩnh vực quản lý nêu trên thì quản lý hoạt động giảng dạy là lĩnh vực quan trọng nhất bởi nó quyết định trực tiếp đến chất lượng sản phẩm đào tạo, tác động đến uy tín và thương hiệu của nhà trường, đồng thời ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực cung cấp cho xã hội.
Quản lý hoạt động giảng dạy là quản lý việc xây dựng kế hoạch giảng dạy giảng viên theo chức danh và nhiệm vụ đảm nhận, phân công giảng dạy của giảng viên; quản lý việc biên soạn đề cương môn học, đề cương bài giảng; quản lý phát triển chương trình môn học và tổ chức nghiên cứu, cải tiến phương pháp giảng dạy và học tập; việc đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, tích cực ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý và giảng dạy; kiểm tra nề nếp lên lớp và nhiệm cụ giảng dạy của giảng viên. Ngoài ra, công đoàn và chính quyền phối hợp quản lý quản lý giờ dạy, chuẩn bị giờ dạy; và hồ sơ chuyên môn; quản lý việc dự giờ, đánh giá giờ dạy và công tác thi đua giảng dạy của giảng viên; quản lý sinh hoạt tổ chuyển môn; quản lý phương tiện thiết bị dạy học; quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên; quản lý công tác bồi dưỡng sinh viên và các hoạt động năng khiếu, xã hội; quản lý việc bồi dưỡng giảng viên,…
Quản lý xây dựng kế hoạch giảng dạy giảng viên theo chức danh và nhiệm vụ đảm nhận phải căn cứ vào định hướng, mục tiêu chương trình của Bộ GD&ĐT và dựa vào tình hình thực tế của nhà trường, của ĐHTN về các mục tiêu, chỉ tiêu cần đạt, các bước thực hiện, thời gian tương ứng và các biện pháp để thực hiện. Căn cứ kế hoạch phân công của trưởng khoa hoặc trưởng bộ môn, hàng năm, giảng viên xây dựng kế hoạch giảng dạy được giao. Xây dựng kế hoạch giảng dạy là nhiệm vụ quan trọng giúp giảng viên xác định được mục tiêu công tác giảng dạy trong năm học, cụ thể là chỉ tiêu của từng lớp mà học được giao phụ trách giảng dạy đồng thời tìm ra các biện pháp để đạt được mục tiêu đề ra; mặt khác, khi xây dựng kế hoạch giảng dạy giảng viên phải căn cứ vào năng lực chuyên môn, kỹ năng sư phạm, phẩm chất của giảng viên, điều kiện cụ thể của nhà trường, quyền lợi của sinh viên, đặc điểm yêu cầu của mỗi lớp sinh viên, … Luận văn: Quản lý Phối hợp giữa công đoàn với chính quyền.
Giảng viên lên lớp thì việc biên soạn đề cương môn học, đề cương bài giảng là vô cùng quan trọng. Nó thể hiện rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, kỹ năng, trình tự giảng viên tổ chức thực hiện, các bước tiến hành trong từng tiết giảng, từng bài giảng hay chuyên đề giảng dạy và thời gian phân bố cho mỗi nội dung giảng dạy. Đề cương chi tiết bài giảng là tài liệu bắt buộc đối với giảng viên lên lớp, là căn cứ quan trọng để học viên chủ động lập kế hoạch tự tổ chức nghiên cứu, học tập, rèn luyện. Đề cương chi tiết bài giảng vừa đảm bảo kiến thức cơ bản của chương trình, giáo trình; vừa mở rộng, nâng cao và cập nhật kiến thức do giảng viên chủ động nghiên cứu. Việc quản lý biên soạn đề cương môn học, đề cương bài giảng của giảng viên nhằm đảm bảo nội dung trình bày trong đề cương bài giảng phải bám sát khung chương trình và giáo trình để tổ chức dạy học đạt hiệu quả cao nhất.
Quản lý đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, tích cực ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý và giảng dạy: Quản lý hoạt động đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học là một nội dung trọng tâm trong quản lý hoạt động giảng dạy của nhà trường. Đổi mới cách dạy của thầy là hướng đến làm thay đổi tính chất hành động nhận thức của học trò từ tái hiện sang sáng tạo, đổi mới cách học của trò từ thụ động sang chủ động, tăng cường rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn và đời sống. Để đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, cần tổ chức cho giảng viên nghiên cứu, quán triệt yêu cầu đổi mới, tổ chức cho giảng viên thực hiện đổi mới, tổ chức thao giảng, nhân điển hình các tiết dạy tốt theo hướng đổi mới phương pháp giảng dạy, kích thích giảng viên ứng dụng công nghệ thông tin, các phần mềm hỗ trợ, phương tiện nghe nhìn để góp phần đổi mới phương pháp, hình thức giảng dạy, … [12].
Bên cạnh việc lập kế hoạch, phổ biến, hướng dẫn thực hiện thì cần kiểm tra việc thực hiện kế hoạch giảng dạy, nề nếp lên lớp của giảng viên thông qua các bộ máy quản lý nhà trường (Ban giám hiệu, Khoa, Tổ chuyên môn và phối hợp với Công đoàn nhà trường, công đoàn bộ phận Khoa, Tổ công đoàn), phân công theo dõi nắm tình hình thực hiện kế hoạch, chương trình, nề nếp lên lớp, … thông qua việc thực hiện trên lớp, sổ đầu bài, dự giờ, thời khóa biểu, phân phối chương trình, … Trên cơ sở đề cương bài giảng, giáo án của giảng viên, dự giờ giảng của giảng viên, kết quả điểm môn học, kết quả kiểm tra của phòng chức năng và thăm dò ý kiến sinh viên,… Khoa đánh giá và điều chỉnh việc giảng dạy của giảng viên, ra đề thi cho phù hợp với mục tiêu và đối tượng người học, giúp giảng viên thiết kế nội dung, sử dụng phương pháp giảng dạy phù hợp nhất với người học nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy của giảng viên và tập thể giảng viên. Luận văn: Quản lý Phối hợp giữa công đoàn với chính quyền.
Đối với những tập thể và cá nhân thực hiện tốt và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giảng dạy, công đoàn chủ động hoặc đề xuất với chính quyền khen thưởng định kỳ vào dịp tổng kết năm học hoặc khen thưởng đột xuất đối với những tấm gương giảng dạy, những điển hình tiên tiến trong nhà trường nhằm động viên, khuyến khích đội ngũ cán bộ giảng viên đồng thời nhân rộng, đẩy mạnh tuyên truyền những tấm gương nhà giáo tiêu biểu.
Trong các hoạt động của chính quyền đều có sự tham góp của Công đoàn, Công đoàn tuyên truyền các chủ trương, định hướng của Nhà nước, Bộ GD&ĐT và của nhà trường để Cán bộ, nhà giáo và người lao động thực hiện tốt nhiệm vụ giảng dạy, đồng thời động viên, khích lệ, tạo động lực, phát hiện và đề nghị khen thưởng những tập thể, cá nhân là điển hình của đơn vị, tổ chức các hoạt động như thi những giờ giảng hay, thi dạy giỏi, … giúp giảng viên nâng cao kỹ năng nghề nghiệp.
- Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học
Hoạt động nghiên cứu khoa học là một nhiệm vụ hết sức quan trọng đối với các đơn vị khoa, phòng trong nhà trường, đặc biệt là các đơn vị khoa, nơi sở hữu một lực lượng cán bộ, nhà giáo có trình độ chuyên môn, được đào tạo cơ bản và có tiềm năng NCKH. Hoạt động NCKH là hoạt động hỗ trợ đắc lực cho hoạt động giảng dạy của giảng viên. Quản lý hoạt động NCKH nhằm đảm bảo cho hoạt động NCKH của giảng viên diễn ra theo đúng kế hoạch xây dựng.
Trong quản lý hoạt động NCKH thì việc xây dựng kế hoạch và tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học là khâu đầu tiên, định hướng và chi phối toàn bộ hoạt động quản lý. Để thực hiện tốt công tác quản lý các hoạt động NCKH của nhà trường thì việc chủ động xây dựng kế hoạch hoạt động của các khoa hàng năm, cụ thể hóa từng hạng mục, nội dung cũng như gắn với vai trò, trách nhiệm từng bộ phận, cá nhân sẽ giúp cho các đơn vị lãnh đạo và tổ chức thực hiện nội dung nghiên cứu khoa học. Kế hoạch sẽ không có giá trị một khi không có sự phân công, giao nhiệm vụ cho từng mảng, bộ phận và từng cá nhân trong các đơn vị cũng như việc kiểm tra, đánh giá, tổng kết việc thực hiện kế hoạch hoạt động khoa học và công nghệ.
Thông qua hoạt động khoa học, các giảng viên có điều kiện trau dồi kiến thức, kỹ năng trong lao động khoa học đồng thời bổ sung, tích lũy kiến thức thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng các hoạt động NCKH góp phần hiệu quả để nâng cao chất lượng giảng dạy. Do đó cần động viên, khuyến khích Cán bộ, nhà giáo và người lao động tích cực tham gia các hoạt động NCKH và chuyển giao công nghệ và chủ động, tích cực tham gia các hội nghị, hội thảo khoa học, seminar, các dư án, chương trình về khoa học công nghệ, các diễn đàn khoa học của Trường, của Tỉnh, của Ngành và Trung ương.
Hàng năm vào dịp tổng kết năm học hoặc khi có thành tích đặc biệt xuất sắc về NCKH, công đoàn chủ động đề xuất hoặc phối hợp với chính quyền khen thưởng và vinh danh các cán bộ quan lý, giảng viên, nghiên cứu viên, sinh viên có kết quả nghiên cứu xuất sắc. Coi đây là động lực để thúc đẩy hoạt động NCKH của các tập thể và cá nhân trong nhà trường.
Công đoàn và chính quyền động viên Cán bộ, nhà giáo và người lao động, đoàn viên tích cực tham gia nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ. Qua đó góp phần thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học cả về số lượng và chất lượng. Vận động đoàn viên tích cực tham gia và thực hiện các chương trình liên kết, hợp tác đào tạo nhằm tạo cơ hội cho cán bộ đi trao đổi, học tập nâng cao trình độ, tiếp cận với khoa học công nghệ hiện đại của các nước. Thúc đẩy hoạt động NCKH góp phần đưa các tiến bộ của khoa học kỹ thuật ứng dụng vào trong quản lý, giảng dạy của nhà trường, tăng số lượng đề tài nghiên cứu khoa học.
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn ở trường đại học
1.5.1. Định hướng phát triển hoạt động chuyên môn của trường Đại học
Xuất phát từ chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, của Bộ Giáo dục tạo, của ĐHTN, các trường đại học sẽ có những chủ trương, định hướng phù hợp phát triển nhà trường, trong đó có hoạt động chuyên môn.
Căn cứ vào các văn bản của cấp trên, các nhà trường tùy theo tình hình thực tế cụ thể hóa các văn bản phù hợp với thực tiễn đơn vị, xây dựng văn bản triển khai, có sự phối hợp công tác giữa công đoàn và chính quyền nhà trường nhằm thực hiện nhiệm vụ chính trị cũng như nhiệm vụ chuyên môn của nhà trường, xây dựng tổ chức công đoàn vững mạnh góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, đảm bảo sự ổn định và phát triển của nhà trường.
Định hướng phát triển hoạt động chuyên môn của mỗi trường Đại học, ở mỗi giai đoạn là khác nhau, do đó, công tác phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn cũng phải có sự thay đổi linh hoạt tùy theo từng giai đoạn, từng trường để phù hợp với tình hình thực tế của nhà trường, của ĐHTN và Bộ GD & ĐT.
1.5.2. Năng lực cán bộ quản lý Luận văn: Quản lý Phối hợp giữa công đoàn với chính quyền.
Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, để đáp ứng yêu cầu và đòi hỏi của nền giáo dục hiện đại, để đáp ứng được yêu cầu của tình hình mới, đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục cần phải hội tụ được những phẩm chất, năng lực hiện đại như kỹ năng hợp tác, năng lực tư duy phản biện, kỹ năng giải quyết vấn đề, tạo động lực, phải có tầm nhìn sâu rộng, … Do đó, đòi hỏi người cán bộ quản lý phải có bản lĩnh chính trị luôn kiên định với chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; phải có năng lực chuyên môn; Phải có năng lực đổi mới tư duy, năng lực thích ứng hòa nhập và hội nhập, năng lực hợp tác, năng lực kiểm tra đánh giá; phải có các kỹ năng khác nhau trong điều hành, giải quyết công việc. Biết cách làm việc với mọi người, hợp tác và tạo ra môi trường phát huy khuyến khích mọi người làm việc phát huy sáng tạo cá nhân; Biết kiểm tra, đánh giá và sử dụng đúng năng lực của từng người,…
Năng lực lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục sẽ giúp nâng cao hiệu quả lãnh đạo nhà trường, từ đó giúp nhà trường đạt được mục tiêu và sứ mệnh cao cả của mình. Cán bộ quản lý khi thực hiện và hoàn thành tốt các chức năng, nhiệm vụ của mình sẽ thúc đẩy các hoạt động phối hợp với công đoàn trong quản lý hoạt động chuyên môn.
1.5.3. Năng lực cán bộ công đoàn
“Cán bộ công đoàn là người đảm nhiệm các chức danh từ tổ phó công đoàn trở lên thông quan bầu cử tại đại hội hoặc hội nghị công đoàn, được cấp công đoàn có thẩm quyền chỉ định, công nhận, bổ nhiệm và các chức danh cán bộ công đoàn hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Công đoàn” (theo khoản 1, Điều 5, Chương I, Điều lệ Công đoàn Việt Nam lần thứ XI thông qua ngày 30/7/2022).
Cán bộ công đoàn là nhân tố quyết định hiệu quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức công đoàn. Do đó, năng lực của cán bộ công đoàn ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng hoạt động công đoàn cũng như ảnh hoạt đến hoạt động phối hợp giữa công đoàn với chính quyền. Thực tế hoạt động cho thấy, ở đâu có cán bộ công đoàn có năng lực, có bản lĩnh, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ và tâm huyết với hoạt động của công đoàn thì ở đó hoạt động được thực hiện tốt và thu hút đông đảo Cán bộ, nhà giáo và người lao động tham gia, góp phần thúc đẩy và nâng cao hiệu quả công tác, cải thiện đời sống cho Cán bộ, nhà giáo và người lao động trong các nhà trường.
Khi cán bộ công đoàn, cán bộ quản lý có sự am hiểu về lĩnh vực mình được giao thì sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ đồng thời phối hợp, hỗ trợ nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ của chuyên môn được giao.
1.5.4. Năng lực chuyên môn của đội ngũ giảng viên
Giảng viên trong nhà trường là người đảm nhiệm vai trò chủ chốt trong giảng dạy và đào tạo; giảng viên vừa là nhà giáo, vừa là nhà khoa học. Đội ngũ giảng viên có trình độ, năng lưc càng cao thì chất lượng giáo dục – đào tạo của nhà trường càng được đảm bảo.
Năng lực đội ngũ giảng viên có vai trò quan trọng trong hoạt động chuyên môn của nhà trường cũng như ảnh hưởng đến sự phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong công tác quản lý hoạt động chuyên môn, hoạt động chung của nhà trường. Vì đội ngũ giảng viên của nhà trường cũng chính là những công đoàn viên sinh hoạt trong tổ chức công đoàn của nhà trường, chính họ là những người trực tiếp tham gia vào các hoạt động của chuyên môn cũng như các hoạt động của tổ chức công đoàn. Đội ngũ giảng viên (công đoàn viên) càng có năng lực, có bản lĩnh thì việc phối hợp giữa chính quyền với công đoàn ngày càng vững mạnh, phát triển.
1.5.5. Điều kiện về cơ sở vật chất phục vụ công tác chuyên môn Luận văn: Quản lý Phối hợp giữa công đoàn với chính quyền.
Cơ sở vật chất là yếu tố tác động trực tiếp đến quá trình hoạt động của nhà trường. Nó là điều kiện quan trọng góp phần bảo đảm cho hoạt động của nhà trường bên cạnh các điều kiện đảm bảo cho hoạt động đào tạo như đội ngũ giảng viên, chương trình học tập, môi trường giáo dục,… Cơ sở vật chất mà thiếu và không theo kịp sự phát triển của nhà trường thì chưa đáp ứng được kỳ vọng nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường. Do đó, việc tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị tiên tiến, hiện đại sẽ góp phần nâng cao hiệu suất lao động, đồng thời nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường cũng như hoạt động của tổ chức công đoàn, đáp ứng tốt yêu cầu ngành giáo dục – đào tạo và của xã hội.
1.5.6. Cơ chế phối hợp giữa công đoàn và chính quyền
Chính quyền và Công đoàn đều được đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, Công đoàn là yếu tố cấu thành hệ thống chính trị, là tổ chức chính trị – xã hội của người lao động trong nhà trường. Mối quan hệ giữa Chính quyền và Công đoàn là mối quan hệ trong đó thể hiện sự tôn trọng tính độc lập trong hoạt động của mỗi tổ chức, do đó cần có sự phối hợp, bàn bạc tạo điều kiện để hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của nhà trường. Hoạt động của công đoàn có được thuận lợi hay không phụ thuộc rất lớn vào sự tạo điều kiện, hỗ trợ của chính quyền. Quy chế phối hợp quản lý giữa công đoàn và chính quyền chính là cơ sở pháp lý đảm bảo mối quan hệ công tác giữa hoạt động của công đoàn và chính quyền nhằm tăng cường trách nhiệm của mỗi bên trong thực hiện nhiệm vụ của công đoàn và nhà trường.
Kết luận chương 1 Luận văn: Quản lý Phối hợp giữa công đoàn với chính quyền.
Quản lý của nhà trường có nhiều nội dung, song quản lý hoạt động chuyên môn là nhiệm vụ trung tâm và luôn được đặt lên vị trí hàng đầu, bởi vì hoạt động chuyên môn tác động trực tiếp tới chất lượng giảng dạy của giảng viên và chất lượng học tập của sinh viên, góp phần quan trọng trong việc thực hiện các nhiệm vụ giáo dục và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo của nhà trường.
Phối hợp giữa công đoàn và chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn ở trường đại học không ngoài mục đích huy động sự tham gia tối đa của các nguồn lực tham gia thực hiện hoạt động chuyên môn, bởi lẽ mục tiêu hoạt động chuyên môn của trường đại học hướng đến chất lượng đào tạo, sản phẩm đầu ra (người học sau tốt nghiệp) của giáo dục đại học phải đáp ứng tối ưu đòi hỏi của xã hội. Việc liên kết giữa tổ chức công đoàn cùng với chuyên môn để tạo ra những động lực phát triển nhà trường giữ một vai trò quan trọng.
Công đoàn phối hợp với chính quyền trong công tác quản lý hoạt động chuyên môn ở các trường đại học để phối hợp quản lý các nội dung: Hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học, … Luận văn: Quản lý Phối hợp giữa công đoàn với chính quyền.
Quá trình phối hợp quản lý hoạt động chuyên môn giữa công đoàn với chính quyền chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, như: Định hướng phát triển của nhà trường; năng lực cán bộ quản lý, cán bộ công đoàn và năng lực chuyên môn của đội ngũ giảng viên; điều kiện cơ sở vật chất phục vụ chuyên môn; cơ chế phối hợp giữa công đoàn và chính quyền, …
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng phối hợp giữa công đoàn với chính quyền

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
