Luận văn: Thực trạng phối hợp giữa công đoàn với chính quyền

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng phối hợp giữa công đoàn với chính quyền hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn ở các trường đại học thuộc Đại học Thái Nguyên dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát về khảo sát thực trạng

2.1.1. Vài nét về Đại học Thái Nguyên, Công đoàn ĐHTN và đơn vị khảo sát

  • Vài nét về Đại học Thái Nguyên, Công đoàn ĐHTN

Đại học Thái Nguyên được thành lập ngày 04 tháng 4 năm 1994 theo Nghị định số 31/CP của Chính Phủ trên cơ sở tổ chức sắp xếp lại các trường đại học trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, nhằm hình thành một trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, trung tâm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ tiên tiến trong các lĩnh vực giáo dục, nông lâm ngư nghiệp, y tế, kinh tế, công nghiệp, công nghệ thông tin và truyền thông; nơi tư vấn và phản biện các chính sách phát triển nhằm đóng góp cho sự nghiệp phát triển bền vững kinh tế, văn hóa, xã hội của khu vực Trung du và miền núi Bắc Bộ. Để hoàn thành tốt vai trò, sứ mệnh của mình, ĐHTN luôn kiên trì mục tiêu: “Hướng tới chất lượng, đẳng cấp và trở thành một trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ hàng đầu ở Việt Nam và có uy tín trong khu vực” [6]. ĐHTN được tổ chức theo mô hình 4 cấp: ĐHTN, cơ sở giáo dục đại học thành viên và đơn vị trực thuộc, khoa (bộ môn) thuộc trường, bộ môn thuộc khoa [7].

Trải qua hơn 20 năm xây dựng và phát triển, ĐHTN đã không ngừng phát triển và hoàn thiện theo mô hình đầy đủ của một đại học vùng, đa cấp, đa ngành bao gồm: các đơn vị quản lý, các đơn vị đào tạo, các đơn vị nghiên cứu và các đơn vị phục vụ đào tạo. Từ lúc ban đầu chỉ có 05 đơn vị thành viên, đến nay ĐHTN có tổng số 29 đơn vị trực thuộc gồm:

  • 11 đơn vị đào tạo (8 cơ sở giáo dục đại học thành viên, 01 trường cao đẳng và 02 Khoa trực thuộc).
  • 06 Viện nghiên cứu. Luận văn: Thực trạng phối hợp giữa công đoàn với chính quyền.
  • 12 đơn vị phục vụ đào tạo và dịch vụ (gồm Khối cơ quan ĐHTN, Bệnh viện thực hành và các Trung tâm).

Công đoàn ĐHTN là công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở trực thuộc CĐGD Việt Nam, đồng thời lại quản lý 12 CĐCS (trong đó có 7 công đoàn cơ sở trường đại học). Qua hơn 20 năm xây dựng và phát triển, Công đoàn ĐHTN đã không ngừng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng. Cán bộ, nhà giáo và người lao động trong Đại học đã đoàn kết nỗ lực phấn đấu, khẳng định được vai trò, vị trí của tổ chức công đoàn, tham gia đóng góp tích cực trong quá trình xây dựng ĐHTN.

Khi mới thành lập Công đoàn ĐHTN có 07 Công đoàn Cơ sở trực thuộc với 1.514 đoàn viên công đoàn. Đến nay, Công đoàn ĐHTN có 12 công đoàn cơ sở trực thuộc với 4.190 công đoàn viên, gồm:

  1. Công đoàn Trường Đại học Sư phạm
  2. Công đoàn Trường Đại học Nông lâm
  3. Công đoàn Trường Đại học Y – Dược
  4. Công đoàn Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp
  5. Công đoàn Trường Đại học Kinh tế & Quản trị kinh doanh
  6. Công đoàn Trường Đại học Khoa học
  7. Công đoàn Trường Đại học Công nghệ thông tin & Truyền thông
  8. Công đoàn Trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật
  9. Công đoàn Khối cơ quan Đại học Thái Nguyên
  10. Công đoàn Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh
  11. Công đoàn Trung tâm Học liệu – Nhà xuất bản
  12. Công đoàn Phân hiệu ĐHTN tại tỉnh Lào Cai

Trong suốt qua trình hoạt động, Công đoàn ĐHTN luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy, của Công đoàn cấp trên và sự phối hợp tạo điều kiện của Ban Giám đốc ĐHTN. Cấp ủy, chính quyền và các công đoàn cơ sở đã quán triệt đầy đủ các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng, của Nhà nước, của cấp trên, vận dụng đúng đắn và phù hợp với điều kiện thực tiễn của đơn vị, nhà trường.

Ban Giám đốc và BCH Công đoàn ĐHTN luôn có sự đoàn kết thống nhất trong việc chỉ đạo xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai nhiệm vụ chính trị của Đại học; có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền với các tổ chức đoàn thể trong công tác chỉ đạo, tổ chức động viên Cán bộ, nhà giáo và người lao động phấn đấu hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao.

  • Vài nét về Trường Đại học Công nghệ thông tin & Truyền thông và Trường Đại học Sư phạm

Trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông (tiền thân là Khoa Công nghệ thông tin) thuộc ĐHTN, một đơn vị đào tạo đa lĩnh vực được coi là “Hạ tầng của hạ tầng” xã hội với sứ mạng là “đào tạo nguồn nhân lực có trình độ đại học, sau đại học; nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Trải quan hơn 15 năm xây dựng và phát triển, đến nay, nhà trường có 01 chuyên ngành đào tạo Tiến sĩ; 02 ngành đào tạo Thạc sỹ và 17 ngành đào tạo trình độ đại học với quy mô gần 6000 sinh viên, học viên sau đại học. Đội ngũ giảng viên của Trường ngày một lớn mạnh, đáp ứng tốt những yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay [32]. Tính đến 11/2026, Trường có 462 cán bộ, giảng viên, trong đó có 237 giảng viên, 28 người có trình độ Tiến sĩ và 300 Thạc sĩ [30].

Mục tiêu của nhà trường là “Phấn đấu đến năm 2030, Trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông sẽ trở thành trường đại học điện tử đạt đẳng cấp quốc gia, là một trong những Trung tâm hàng đầu của Việt Nam về đào tạo trình độ đại học, sau đại học, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế” [31].

Trường Đại học Sư phạm tiền thân là Trường ĐH Sư phạm Việt Bắc. Trải qua 50 năm xây dựng và phát triển, nhà trường luôn kiên định với sứ mạng “là cơ sở đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục có chất lượng cao; là trung tâm nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ, phục vụ sự nghiệp giáo dục – đào tạo, phát triển kinh tế – xã hội của cả nước, đặc biệt là khu vực Trung du, miền núi phía Bắc”. Luận văn: Thực trạng phối hợp giữa công đoàn với chính quyền.

Những ngày đầu thành lập, Trường ĐH Sư phạm chỉ là cơ sở đào tạo giáo viên trung học phổ thông cho con em đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc với 07 chuyên ngành đào tạo, đến nay, nhà trường đã có 13 chuyên ngành tiến sĩ, 23 chuyên ngành thạc sĩ, 27 chương trình đại học [27]. Đội ngũ giảng viên của Trường ngày một lớn mạnh, đáp ứng tốt những yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. Tính đến 10/2026, Trường có 547 cán bộ, giảng viên, trong đó: 309 giảng viên; 33 người có học hàm Giáo sư, Phó Giáo sư; 131 Tiến sĩ; 227 Thạc sĩ [29].

Mục tiêu của nhà trường là “Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực có trình độ cao, đáp ứng yêu cầu của đổi mới giáo dục phổ thông; NCKH phục vụ sự nghiệp giáo dục – đào tạo, phát triển kinh tế – xã hội của cả nước. Người học sau khi tốt nghiệp có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt; có kiến thức cơ bản, chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng; có khả năng tự học, tự nghiên cứu, sáng tạo và giải quyết những yêu cầu của lý luận, thực tiễn giáo dục đặt ra; có năng lực ngoại ngữ, tin học đủ đáp ứng yêu cầu công việc và hội nhập quốc tế” [28].

2.1.2. Mục đích, nội dung, đối tượng và phương pháp khảo sát

Mục đích khảo sát

  • Đánh giá các nội dung phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn ở các trường đại học thuộc ĐHTN đã tiến hành, từ đó làm cơ sở đề xuất các biện pháp quản lý phù hợp.

Nội dung khảo sát

  • Khảo sát nhận thức của CBQL, CBCĐ và giảng viên về việc phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn. Luận văn: Thực trạng phối hợp giữa công đoàn với chính quyền.
  • Khảo sát các nội dung phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn.

Đối tượng khảo sát

  • Chúng tôi tiến hành khảo sát 50 CBQL và CBCĐ (Ban giám hiệu; Trưởng, phó phòng và tương đương; Trưởng, phó Khoa; Trưởng bộ môn trực thuộc trường; BCH Công đoàn trường, Chủ tịch công đoàn bộ phận); 60 giảng viên của 2 trường đại học thuộc ĐHTN là Trường Đại học Sư phạm và Trường Đại học Công nghệ thông tin &Truyền thông.

Phương pháp khảo sát

  • Chúng tôi thiết lập hệ thống câu hỏi vào phiếu. Đối tượng khảo sát căn cứ vào các nội dung câu hỏi, các ý hỏi để đưa ra duy nhất một phương án trả lời cho các ý hỏi.

Xử lý kết quả khảo sát

Tùy thuộc vào nội dung cần khảo sát mà chúng tôi xử lý kết quả bằng tính tỉ lệ phần trăm (%) hay tính điểm (quy đổi điểm tương ứng với mức độ: Mức độ 1 ứng với 1 điểm, mức độ 2 ứng với 2 điểm, mức độ 3 ứng với 3 điểm, mức độ 4 ứng với 4 điểm, mức độ 5 ứng với 5 điểm).

Cách xử lý tính điểm: sau khi quy đổi điểm ứng với các mức độ tương ứng, chúng tôi tính điểm trung bình của từng nội dung, sau đó tính điểm trung bình chung các nội dung.

Cách tính điểm trung bình của từng nội dung theo công thức sau:

  • Trong đó: X là điểm trung bình (1< X < 5); Xi là điểm ở mức độ i;
  • Ki là số người đánh giá ở mức độ i; N là số người tham gia đánh giá.

Theo thang Likert 5 mức độ thì các khoảng của X được chia ra như sau:

  • X = 1,00 – 1,80 điểm là mức thấp nhất trong thang đo (ứng với mức độ: Hoàn toàn không đồng ý / Không bao giờ / …);
  • X = 1,81 – 2,60 điểm là mức thấp thứ hai trong thang đo (ứng với mức độ: Không đồng ý/ Đôi khi / …);
  • X = 2,61 – 3,40 điểm là mức trung bình (ứng với mức độ: Đồng ý một phần/Thỉnh thoảng / …);
  • X = 3,41 – 4,20 điểm là mức tương đối cao (ứng với mức độ: Cơ bản đồng ý/ Thực hiện thường xuyên / …);
  • X = 4,21 – 5,00 điểm là mức cao nhất trong thang đo (ứng với mức độ: Hoàn toàn đồng ý/ Thực hiện rất thường xuyên/ …).

Theo thang Likert 3 mức độ thì các khoảng của X được chia ra như sau:

  • X = 1,00 – 1,67 điểm là mức thấp nhất trong thang đo (ứng với mức độ: Không đồng ý / Không quan tâm / Không cần thiết / Không khả thi / Không ảnh hưởng /…);
  • X = 1,68 – 2,33 điểm là mức trung bình (ứng với mức độ: Phân vân / Quan tâm/ Cần thiết / Khả thi / Ảnh hưởng / …);
  • X = 2,34 – 3,00 điểm là mức cao nhất trong thang đo (ứng với mức độ: Đồng ý/ Rất quan tâm / Rất cần thiết / Rất khả thi / Rất ảnh hưởng /…).

2.2. Kết quả khảo sát thực trạng phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên ở một số trường đại học thuộc ĐHTN Luận văn: Thực trạng phối hợp giữa công đoàn với chính quyền.

2.2.1. Thực trạng nhận thức

2.2.1.2. Nhận thức về chức năng của tổ chức công đoàn

Để tìm hiểu về thực trạng nhận thức của CBQL, CBCĐ và giảng viên về nội dung này, chúng tôi sử dụng câu hỏi số 1 (Phụ lục 1) để khảo sát ý kiến của cán bộ quản lý, cán bộ công đoàn. Kết quả được thể hiện ở Bảng 2.1.

  • Bảng 2.1. Nhận thức về chức năng của tổ chức công đoàn trong trường ĐH

Qua bảng 2.1 chúng tôi thấy dữ liệu thu được được xử lý thành điểm trung bình; Và được hiển thị thành 2 vùng dữ liệu chính theo thang khoảng 3 mức độ; Điểm trung bình thu được cho thấy hầu hết các nội dung đều có điểm trung bình ở mức 3, mức cao nhất trong thang đo; Điểm trung bình chung X = 2,81 cho thấy nhận thức của CBCĐ, CBQL về chức năng của công đoàn là ở mức cao.

Cả 4 nội dung khảo sát đều nhận được ý kiến đồng ý rất cao. Cao nhất là ở nội dung 1 “Đại diện, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng cho Cán bộ, nhà giáo và người lao động” với X = 2,96 và nội dung 3 “Giáo dục, tuyên truyền, vận động Cán bộ, nhà giáo và người lao động học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật” với X = 2,94.

Thấp hơn một chút là nội dung 4 “Tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của nhà trường” với X = 2,74 và nội dung 2 “Tham gia với chính quyền quản lý các hoạt động của nhà trường (hoạt động chuyên môn, công tác nhân sự, tài chính, tham gia các hội đồng do nhà trường thành lập liên quan đến Cán bộ, nhà giáo và người lao động,…)” với X = 2,6.

Qua phỏng vấn sâu đồng chí VĐT, là ủy viên BCH CĐ trường, chúng tôi được biết, trên thực tế, nội dung 1 “Đại diện, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng cho Cán bộ, nhà giáo và người lao động” là chức năng quan trọng nhất, chức năng trung tâm, là mục tiêu hoạt động công đoàn; nội dung 3 “Giáo dục, tuyên truyền, vận động Cán bộ, nhà giáo và người lao động học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật” là chức năng giáo dục mang ý nghĩa tạo động lực tinh thần để đạt được mục tiêu. Cả hai chức năng này đều liên quan trực tiếp đến Cán bộ, nhà giáo và người lao động trong hoạt động công đoàn từ tổ công đoàn đến công đoàn bộ phận và công đoàn cơ sở như thăm hỏi, hiếu hỉ, thăm quan nghỉ mát, khám sức khỏe định kỳ, chăm lo nghỉ lễ, nghỉ tết, tổ chức trung thu, 1/6 và trao phần thưởng cho con Cán bộ, nhà giáo và người lao động trong nhà trường và tổ chức tuyên truyền, vận động Cán bộ, nhà giáo và người lao động dưới nhiều hình thức thực hiện nội quy, quy chế của nhà trường, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, … Do đó, hai chức năng này nhận được sự đánh giá cao của cán bộ quản lý và cán bộ công đoàn trong nhà trường.

Ở hai nội dung 2 và 4 được đánh giá ở mức thấp hơn bởi đối những đơn vị sự nghiệp công lập như các trường đại học thuộc ĐHTN thì hoạt động tham gia quản lý quản lý, tham gia kiểm tra, giám sát về cơ bản chưa được thể hiện rõ nét nên vẫn còn có ý kiến phân vân về hai nội dung này. Luận văn: Thực trạng phối hợp giữa công đoàn với chính quyền.

Như vậy, đại đa số CBQL, CBCĐ đã nhận thức đúng đắn về các chức năng của tổ chức công đoàn. Điều này cho thấy các trường đại học thuộc ĐHTN đã thực hiện đầy đủ các chức năng của tổ chức công đoàn, nó có ý nghĩa hết sức quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động công đoàn trong các nhà trường. Tuy vẫn còn có một số ý kiến phân vân và chưa hiểu rõ về các chức năng của công đoàn nên thời gian tới trong quá tŕnh hoạt động công đoàn, cần phải xây dựng kế hoạch và đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao nhận thức của Cán bộ, nhà giáo và người lao động về hoạt động công đoàn, bởi công đoàn là tổ chức quần chúng rộng lớn của người lao động, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động, cho chính những Cán bộ, nhà giáo và người lao động trong nhà trường. Khi nhận thức đúng chức năng của công đoàn không chỉ nâng cao nhận thức mà còn đảm bảo chính quyền lợi cho chính bản thân Cán bộ, nhà giáo và người lao động đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động, thiết thực góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ của tổ chức công đoàn và xây dựng nhà trường ngày càng phát triển.

  • Nhận thức về vai trò của công đoàn trong quản lý hoạt động chuyên môn trong trường đại học

Khảo sát về nhận thức của CBQL, CBCĐ và giảng viên chúng tôi sử dụng câu hỏi số 2 (Phụ lục 1) để khảo sát ý kiến của 50 CBQL, CBCĐ. Kết quả được thể hiện ở Bảng 2.2.

Qua bảng 2.2 chúng tôi thấy dữ liệu thu được được xử lý thành điểm trung bình; Và được hiển thị thành 2 vùng dữ liệu chính theo thang khoảng 5 mức độ; Điểm trung bình thu được cho thấy 2/4 nội dung có điểm trung bình ở mức 4 và 2/4 nội dung có điểm trung bình ở mức cao nhất trong thang đo, mức 5; Điểm trung bình chung X = 4,15 cho thấy nhận thức của CBCĐ, CBQL về vai trò của công đoàn trong tham gia quản lý hoạt động chuyên môn trong trường đại học là ở mức rất cao.

Trong đó, vai trò 2 “Động viên, khích lệ, tạo động lực để Cán bộ, nhà giáo và người lao động thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn của Khoa, của nhà trường trong từng giai đoạn công tác” với X = 4,44 điểm và vai trò 4 “Tham gia xây dựng đội ngũ Cán bộ, nhà giáo và người lao động vững mạnh cả về số lượng và chất lượng, không ngừng nâng cao trình độ chính trị, tính tổ chức kỷ luật, trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật, …” với X = 4,42 được đánh giá ở mức cao nhất trong thang đo; Vai trò 3 “Phối hợp với chính quyền kiểm tra đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn” với X = 3,88 điểm và X = 3,86 điểm với vai trò 1 “Phối hợp xây dựng kế hoạch chuyên môn của Khoa và nhà trường trong từng giai đoạn công tác” được đánh giá ở mức điểm tương đối cao của thang đo (mức 4). Luận văn: Thực trạng phối hợp giữa công đoàn với chính quyền.

Nhưng bên cạnh đó, đánh giá trên cũng chưa thật đảm bảo khi có tới 12% cán bộ được khảo sát hoàn toàn không đồng ý và 16% cán bộ không đồng ý với một hoặc 1 đến 2 vai trò trong 4 vai trò của công đoàn trong tham gia quản lý hoạt động chuyên môn. Đây là cơ sở để đề ra các biện pháp cải thiện, nâng cao nhận thức của CBQL, CBCĐ về vai trò của công đoàn với chính quyền trong tham gia quản lý hoạt động chuyên môn.

Như vậy, vai trò của công đoàn trong tham gia quản lý hoạt động chuyên môn ở trường đại học được hầu hết CBQL, CBCĐ đánh giá ở mức tương đối cao và rất cao, chứng tỏ vai trò của công đoàn trong tham gia quản lý hoạt động chuyên môn là rất quan trọng, rất cần thiết. Đây là điều kiện thuận lợi cho hoạt động tham gia quản lý hoạt động chuyên môn của công đoàn.

  • Bảng 2.2. Nhận thức về vai trò của công đoàn trong tham gia quản lý hoạt động chuyên môn ở trường đại học
  • Nhận thức về nội dung phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn

Chúng tôi sử dụng câu hỏi số 3 (Phụ lục 1) để khảo sát ý kiến của cán bộ quản lý, cán bộ công đoàn. Kết quả được thể hiện ở Bảng 2.3.

Qua bảng 2.3 chúng tôi thấy dữ liệu thu được được xử lý thành điểm trung bình; Và được hiển thị thành 2 vùng dữ liệu chính theo thang khoảng 3 mức độ.

Nội dung phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong hoạt động giảng dạy Điểm trung bình thu được cho thấy hầu hết các nội dung đều có điểm trung bình ở mức 3, mức cao nhất trong thang đo; Điểm trung bình chung X = 2,43 cho thấy nhận thức của CBCĐ, CBQL về nội dung phối hợp giữa công đoàn và chính quyền trong quản lý hoạt động giảng dạy là ở mức cao.

Trong đó, nội dung 6 “Chủ động hoặc đề xuất với chính quyền khen thưởng các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giảng dạy” là cao nhất với X = 2,72 và nội dung 5 “Kiểm tra nề nếp lên lớp và nhiệm vụ giảng dạy của giảng viên” với X = 2,46; 3 nội dung 1,3,4 có được đánh giá khá đồng đều và X từ 2,36 đến 2,38 nhưng vẫn ở mức cao nhất của thang đo. Chỉ có nội dung 2 “Biên soạn đề cương môn học, đề cương bài giảng” với X = 2,32 được đánh giá ở mức độ trung bình.

Như vậy, về cơ bản phần lớn ý kiến cho rằng công đoàn và chính quyền có sự phối hợp với trong triển khai các nội dung về hoạt động giảng dạy. Nhưng vẫn có ý kiến phân vân về các nội dung này chiếm tỷ lệ từ 20% – 34%, tỷ lệ không đồng ý là 4% – 20%. Do đó, cần phải có biện pháp nâng cao nhận thức cho CBQL, CBCĐ về công tác phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động giảng dạy nói riêng, quản lý hoạt động chuyên môn nói chung.

  • Bảng 2.3. Nhận thức về nội dung phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn
  • Nội dung phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong hoạt động nghiên cứu khoa học

Điểm trung bình thu được cho thấy hầu hết các nội dung đều có điểm trung bình ở mức 3 với 4/5 nội dung ở mức cao nhất trong thang đo; Điểm trung bình chung X = 2,67 cho thấy nhận thức của CBCĐ, CBQL về nội dung phối hợp giữa công đoàn và chính quyền trong quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học là ở mức cao.

Trong đó cao nhất là nội dung 10 “Động viên, khuyến khích Cán bộ, nhà giáo và người lao động tích cực tham gia các hoạt động NCKH và chuyển giao công nghệ” với X = 2,94; nội dung 9 “Phối hợp đề xuất, khen thưởng và vinh danh các cán bộ quan lý, giảng viên, nghiên cứu viên, sinh viên có kết quả nghiên cứu xuất sắc” với X = 2,86, nội dung 8 “Động viên Cán bộ, nhà giáo và người lao động chủ động, tích cực tham gia các hội nghị, hội thảo khoa học, seminar, các dư án, chương trình về khoa học công nghệ” với X = 2,8 và nội dung 11 “Phối hợp kiểm tra, đánh giá, tổng kết việc thực hiện kế hoạch hoạt động khoa học và công nghệ” với = 2,5 đều có điểm trung bình ở mức cao nhất trong thang đo.

Nội dung được đánh giá thấp nhất là nội dung 7 “Xây dựng kế hoạch và tổ chức hoạt động NCKH” với = 2,24,được đánh giá thấp hơn cả nhưng vẫn ở mức trung bình của thang đo. Đây là nội dung mà các ý kiến phân vân nhiều nhất.

Mặt khác, ở nhóm hoạt động này tỷ lệ phân vân khá thấp từ 6% – 30% và tỷ lệ không đồng ý chỉ có ở nội dung 8 là 24% và nội dung 12 là 10%. Luận văn: Thực trạng phối hợp giữa công đoàn với chính quyền.

Như vậy, phần lớn các ý kiến đồng ý cho rằng công đoàn và chính quyền cần có sự phối hợp trong quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, vẫn có những ý kiến cho rằng không có sự phối hợp trong hoạt động NCKH, do đó vấn đề đặt ra là làm thế nào để nâng cao nhận thức của CBQL, CBCĐ về sự phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động NCKH nói riêng, quản lý hoạt động chuyên môn nói chung. Nâng cao nhận thức thôi chưa đủ mà phải tạo một hành lang pháp lý để việc phối hợp thực sự dài lâu, bền vững.

2.2.2. Thực trạng nội dung phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên ở một số trường đại học thuộc ĐHTN

Để khảo sát thực trạng phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn, chúng tôi sử dụng câu hỏi số 4 (Phụ lục 1) để xin ý kiến về các nội dung: phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động giảng dạy; hoạt động nghiên cứu khoa học; hoạt động tư vấn, hỗ trợ Cán bộ, nhà giáo và người lao động.

  • Thực trạng nội dung phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động giảng dạy
  • Khảo sát trên CBQL, CBCĐ

Để tìm hiểu về thực trạng phối hợp giữa Công đoàn và Chính quyền trong quản lý hoạt động giảng dạy, chúng tôi đã tiến hành khảo sát về vấn đề này bằng việc đưa ra câu hỏi 4 (phụ lục 1). Kết quả qua xử lý thể hiện ở bảng 2.4.

Qua bảng 2.4 sẽ thấy dữ liệu thu được được xử lý thành điểm trung bình; Và được hiển thị thành 2 vùng dữ liệu chính theo thang khoảng 5 mức độ; Điểm trung bình thu được cho thấy 5/6 nội dung đều có điểm trung bình ở mức 3; riêng nội dung 6 có điểm trung bình ở mức 4. Điểm trung bình chung X = 3,31 cho thấy mức độ thực hiện việc phối hơp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động giảng dạy là ở mức trung bình.

Trong đó, nội dung 6 “Chủ động hoặc đề xuất với chính quyền khen thưởng các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giảng dạy” với X = 3,76 là nội dung được đánh giá tương đối cao và ở mức 4.

Các nội dung còn lại từ nội dung 1 và 3 với X = 3,26; nội dung 2 với X = 3,0; nội dung 4 và 5 với X = 3,3. Các nội dung này đều được đánh giá ở mức trung bình. Luận văn: Thực trạng phối hợp giữa công đoàn với chính quyền.

Như vậy, qua phân tích cho thấy việc phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động giảng dạy chưa được thường xuyên.

  • Bảng 2.4. Thực trạng nội dung phối hợp giữa Công đoàn và Chính quyền trong quản lý hoạt động giảng dạy

Từ bảng ta có sơ đồ sau:

  • Biểu đồ 2.1. Thực trạng nội dung phối hợp giữa Công đoàn và Chính quyền trong quản lý hoạt động giảng dạy

Khảo sát trên Giảng viên

Chúng tôi tiến hành khảo sát xin ý kiến đối với 60 giảng viên về các nội dung phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động giảng dạy, bằng việc đưa ra câu hỏi 1 (Phụ lục 2) và kết quả khảo sát qua xử lý thể hiện ở bảng 2.6.

Qua bảng số liệu 2.5 ta thấy, nội dung 6 “Chủ động hoặc đề xuất với chính quyền khen thưởng các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giảng dạy” được giảng viên đánh giá là có mức độ phối hợp cao nhất với tỷ lệ 85%. Kết quả này hoàn toán phù hợp với kết quả khảo sát đối với CBQL, CBCĐ ở trên. Luận văn: Thực trạng phối hợp giữa công đoàn với chính quyền.

Nội dung 5 với tỷ lệ 46,7%; nội dung 3 và 4 với tỷ lệ 35%; nội dung 1, 2 có tỷ lệ thấp hơn và đều có tỷ lệ là 28,3%. Kết quả này khá tương thích với kết quả khảo sát đối với CBQL, CBCĐ ở trên.

Ta thấy, việc phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động giảng dạy được giảng viên đánh giá ở mức độ chưa được cao chứng tỏ hoạt động phối hợp chưa được thực hiện thường xuyên.

  • Bảng 2.5. Thực trạng phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động giảng dạy

Tóm lại: Khảo sát trên cả 2 nhóm đối tượng thì nội dung 6 được cả đối tượng CBQL, CBCĐ và giảng viên đánh giá có mức độ phối hợp cao nhất. Qua trao đổi với thầy NTT, chúng tôi được biết, điều này cũng dể hiểu bởi xuất phát từ chức năng của tổ chức công đoàn luôn động viên khích lệ về vật chất, tinh thần, quan tâm chăm lo cho Cán bộ, nhà giáo và người lao động nên ngay cả trong thực tế thế nội dung này luôn được công đoàn coi trọng và chủ động phối hợp với chính quyền khen thưởng cho những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc không chỉ trong hoạt động giảng dạy mà trong cả các hoạt động chung của nhà trường. Các nội dung còn lại (ở nội dung 1, 2, 3, 4, 5, 6) tuy kết quả khảo sát có sự tương đồng giữa 2 nhóm đối tượng nhưng lại có khoảng cách khá lớn. Trong khi CBQL, CBCĐ đánh giá cao sự phối hợp của công đoàn với chính quyền đối với hoạt động giảng dạy thì giảng viên lại cho rằng các hoạt động này chủ yếu do chính quyền triển khai. Điều đó được thể hiện trong bảng đánh giá, có tới 51,67% – 70% giảng viên cho rằng các nội dung này do Chính quyền triển khai, có 28,33% – 46,67% giảng viên cho rằng các nội dung này là công đoàn cùng với chính quyền phối hợp triển khai và chỉ có 1 số ít giảng viên cho rằng các nội dung này do công đoàn triển khai với tỷ lệ từ 1,67% – 5%.

Qua trao đổi với 1 số thầy cô trong BCH công đoàn, chúng tôi được biết, sở dĩ có kết quả chênh lệnh này là do hầu hết giảng viên cũng chính là các công đoàn viên trong nhà trường khi thực hiện nhiệm vụ giảng dạy của mình cũng như khi thực hiện nhiệm vụ của công đoàn thì vẫn chính là những con người ấy nên việc phân biệt đâu là công đoàn, đâu là chính quyền đối với 1 số giảng viên vẫn còn mơ hồ. Hiện nay, ở một số Khoa, phòng, bộ môn, khi sinh hoạt tổ chuyên môn thường kết hợp sinh hoạt tổ công đoàn, công đoàn bộ phận; cùng một con người, cùng một thời gian họ làm hai nhiệm vụ và triển khai cùng một lúc. Cũng do thường xuyên họp triển khai hoạt động cùng lúc nên một số giảng viên chưa rõ về hoạt động công đoàn cũng như cách thức hoạt động của tổ chức công đoàn nên thường nhầm lẫn giữa hoạt động nào là của chính quyền, hoạt động nào là của công đoàn.

Vấn đề đặt ra là làm thế nào để phân định rõ đâu là nhiệm vụ của công đoàn, đâu là nhiệm vụ của chính quyền trong các hoạt động phối hợp và trách nhiệm của mỗi bên đến đâu trong quá trình phối hợp quản lý hoạt động chuyên môn. Đây cũng là vấn đề chung trong hoạt động phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn nói chung, bởi hầu hết tại các khoa, phòng, bộ môn trong các trường chưa có cơ chế phối hợp giữa công đoàn với chính quyền, nhất là cơ chế phối hợp để thực hiện quản lý hoạt động chuyên môn để phận định rõ trách nhiệm của mỗi bên khi phối hợp thực hiện, … mà chỉ có Quy chế phối hợp công tác giữa BCH Công đoàn trường với Ban giám hiệu nhà trường. Trong quá trình xây dựng kế hoạch hoạt động chuyên môn cấp Khoa/ Bộ môn vẫn chưa có sự tham gia của công đoàn hoặc sự tham gia chưa đúng với chức năng nhiệm vụ của tổ chức công đoàn; Hàng năm công đoàn với chính quyền có phối hợp trong quản lý hoạt động chuyên môn nhưng chưa đánh giá được tính hiệu quả của công tác phối hợp để tìm ra nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém và các biện pháp khắc phục trong quá trình phối hợp quản lý hoạt động chuyên môn.

  • Thực trạng nội dung phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học
  • Khảo sát trên CBQL, CBCĐ Luận văn: Thực trạng phối hợp giữa công đoàn với chính quyền.

Để tìm hiểu về thực trạng phối hợp giữa Công đoàn và Chính quyền trong quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, chúng tôi đã tiến hành khảo sát trên 50 CBQL, CBCĐ bằng việc đưa ra câu hỏi 4 (Phụ lục 1). Kết quả khảo sát qua xử lý thể hiện qua bảng 2.6 như sau:

  • Bảng 2.6. Thực trạng nội dung phối hợp giữa Công đoàn và Chính quyền trong quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học
  • Biểu đồ 2.2. Thực trạng nội dung phối hợp giữa Công đoàn và Chính quyền trong quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học

Nhìn bảng 2.6 sẽ thấy dữ liệu thu được được xử lý thành điểm trung bình; Và được hiển thị thành 2 vùng dữ liệu chính theo thang khoảng 5 mức độ; Điểm trung bình thu được cho thấy các nội dung đều có điểm trung bình ở mức 4 là chủ yếu; riêng nội dung 4 có điểm trung bình ở mức 5. X = 3,79 điều này cho thấy mức độ thực hiện việc phối hơp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học là ở mức tương đối cao.

Trong đó, nội dung “Động viên, khuyến khích Cán bộ, nhà giáo và người lao động tích cực tham gia các hoạt động NCKH và chuyển giao công nghệ” được đánh giá ở mức cao với X = 4,3; Các nội dung “Động viên Cán bộ, nhà giáo và người lao động chủ động, tích cực tham gia các hội nghị, hội thảo khoa học, seminar, các dư án, chương trình về khoa học công nghệ” với X = 3,98, “Phối hợp đề xuất, khen thưởng và vinh danh các cán bộ quản lý, giảng viên, nghiên cứu viên, sinh viên có kết quả nghiên cứu xuất sắc” với X = 4,02 và nội dung “Phối hợp kiểm tra, đánh giá, tổng kết việc thực hiện kế hoạch hoạt động khoa học và công nghệ” với X = 3,52 đều được đánh giá ở mức tương đối cao trong thang đo. Nội dung “Xây dựng kế hoạch và tổ chức hoạt động NCKH” với X = 3,14 được đánh giá ở mức trung bình trong thang đo.

Như vậy, đa số CBQL, CBCĐ đánh giá nội dung phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong hoạt động nghiên cứu khoa học được đánh giá tương đối cao chứng tỏ có sự phối hợp thường xuyên giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động NCKH. Luận văn: Thực trạng phối hợp giữa công đoàn với chính quyền.

  • a) Khảo sát trên Giảng viên

Chúng tôi tiến hành khảo sát xin ý kiến đối với 60 giảng viên về các nội dung phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học bằng việc đưa ra câu hỏi 1 (Phụ lục 2) và kết quả khảo sát qua xử lý thể hiện ở bảng 2.7 như sau:

  • Bảng 2.7. Thực trạng phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học

Từ bảng số liệu 2.7 ta có thể thấy, nội dung 2, 3, 4 cũng được nhận được nhiều đánh giá đồng tình nhất của giảng viên về các hoạt động phối hợp giữa công đoàn với chính quyền có tỷ lệ từ 63,33% – 75% và tương đối cao; Nội dung 1, 5 được giảng viên đánh giá thấp hơn với tỷ lệ từ 35% – 36,67%. Tỷ lệ % ở các nội dung này đều có sự tương thích với kết quả khảo sát đối với CBQL, CBCĐ ở trên.

Một số giảng viên lại cho rằng, các hoạt động nghiên cứu khoa học là do chính quyền triển khai, thể hiện trong bảng số liệu tỷ lệ giảng viên từ 11,7% – 63,3% đánh giá như vậy, nhất là nội dung “Xây dựng kế hoạch và tổ chức hoạt động NCKH” với 63,3% và nội dung “Phối hợp kiểm tra, đánh giá, tổng kết việc thực hiện kế hoạch hoạt động khoa học và công nghệ” với 55%. Một số ít còn lại cho rằng, công đoàn triển khai các hoạt động nghiên cứu khoa học với tỷ lệ từ 1,67% – 13,33%. Trên thực tế, việc công đoàn đứng ra chủ trì triển khai các hoạt động NCKH là rất ít, việc triển khai này nếu có phải xây dựng kế hoạch ngay từ đầu năm học, đầu nhiệm kỳ.

Tóm lại: Kết quả khảo sát ở hai nhóm đối tượng cho thấy, công đoàn với chính quyền đã có sự phối hợp chặt chẽ với nhau trong quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, đặt biệt là trong việc động viên, khuyến khích Cán bộ, nhà giáo và người lao động tích cực, chủ động tham gia các hoạt động NCKH&CGCN, các hội thảo khoa học, seminar, chương trình, dự án khoa học công nghệ và đề xuất, khen thưởng những tập thể, cá nhân tiêu biểu trong NCKH. Đối với phần lớn giảng viên được khảo sát cho rằng việc xây dựng kế hoạch và tổ chức cũng như kiểm tra, đánh giá hoạt động NCKH không có sự phối hợp của chính quyền và công đoàn mà do Chính quyền triển khai thực hiện.

Chúng tôi đã phỏng vấn NHT và được biết, sở dĩ như vậy là do nhận thức của giảng viên về nội dung này chưa được đầy đủ vì trên thực tế có sự phối hợp giữa công đoàn với chính quyền ở các nội dung này. Công đoàn cử đại diện tham gia đóng góp ý kiến xây dựng kế hoạch, tham gia với tư cách là thành viên đoàn kiểm tra, đánh giá và chủ yếu là một vài người trong BCH Công đoàn đại diện tham gia. Mặt khác, vì chưa có cơ chế phối hợp giữa công đoàn với chính quyền nên giảng viên cũng mơ hồ vì không phân định được trách nhiệm của mỗi bên trong hoạt động chung của đơn vị. Khi xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động chuyên môn của đơn vị cũng chưa quy định rõ vai trò tham gia của công đoàn và cũng chưa đánh giá được hiệu quả của việc phối hợp giữa công đoàn với chính quyền. Luận văn: Thực trạng phối hợp giữa công đoàn với chính quyền.

  • Thực trạng hoạt động của Công đoàn bộ phận về phát triển chuyên môn cho giảng viên

Chúng tôi tiến hành khảo sát xin ý kiến đối với 60 giảng viên về các nội dung này bằng việc đưa ra câu hỏi 2 (Phụ lục 2) và kết quả khảo sát qua xử lý thể hiện ở bảng 2.8.

  • Bảng 2.8. Thực trạng hoạt động của CĐBP về phát triển hoạt động chuyên môn cho giảng viên

Qua bảng 2.8 chúng tôi thấy dữ liệu thu được được xử lý thành điểm trung bình; Và được hiển thị thành 2 vùng dữ liệu chính theo thang khoảng 3 mức độ; Điểm trung bình thu được cho thấy tất cả các nội dung đều có điểm trung bình ở mức 2 (với X = 1,83 – 2,1), mức trung bình trong thang đo; Điểm trung bình chung X = 1,93 cho thấy nhận công đoàn bộ phận đã có sự quan tâm đến phát triển hoạt động chuyên môn cho giảng viên.

Như vậy về cơ bản, các hoạt động phát triển chuyên môn cho giảng viên đã được công đoàn bộ phận quan tâm, đó là cơ sở, điều kiện thuận lợi để giảng viên không ngừng nâng cao trình độ, kỹ năng, năng lực nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của ngành và xã hội. Đồng thời khẳng định được vai trò của công đoàn trong tham gia quản lý hoạt động chuyên môn.

2.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn Luận văn: Thực trạng phối hợp giữa công đoàn với chính quyền.

Trong quá trình triển khai thực hiện các hoạt động phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn của nhà trường chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố. Để tìm hiểu thực tế vấn đề này, chúng tôi đã tiến hành khảo sát trên 50 CBQL, CBCĐ về vấn đề này bằng việc đưa ra câu hỏi 6 (phụ lục 1). Kết quả qua xử lý thể hiện ở bảng 2.9.

  • Bảng 2.9. Đánh giá thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn

Qua bảng 2.9 ở trên cho thấy, các yếu tố được đánh giá ở mức độ ảnh hưởng và rất ảnh hưởng là chủ yếu. Chỉ có 4% đánh giá ở mức độ không ảnh hưởng với yếu tố ‟

Năng lực của cán bộ quản lý (cấp trường, cấp khoa, bộ môn trực thuộc)”. Mức độ ảnh hưởng được đánh giá với tỷ lệ từ 40% – 48%. Mức độ rất ảnh hưởng được đánh giá cao hơn với tỷ lệ từ 52% – 60%. Đánh giá mức chênh lệch giữa các yếu tố không quá cách xa.

Như vậy, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn trong trường đại học với mức độ khác nhau nhưng đều ảnh hưởng đến hoạt động phối hợp này. Những đánh giá này là cơ sở để đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn ở các trường đại học thuộc ĐHTN.

2.4. Đánh giá chung

Qua nghiên cứu thực trạng phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn ở một số các trường đại học học thuộc ĐHTN thời gian qua có thể đánh giá như sau:

2.4.1. Những ưu điểm

Đối với hoạt động phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn trong trường đại học, phần lớn CBQL, CBCĐ và giảng viên đã nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động này cũng như chức năng của công đoàn và vai trò của công đoàn trong quản lý hoạt động chuyên môn.

Nội dung phối hợp giữa công đoàn với chính quyền chủ yếu trong quản lý hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học,… Công đoàn và chính quyền nhà trường, công đoàn bộ phận và các phòng chức năng, các khoa cũng như các tổ công đoàn với các bộ môn đã có sự phối hợp chặt chẽ trong quản lý hoạt động chuyên môn của các khoa, bộ môn; có sự quan tâm đến phát triển hoạt động chuyên môn cho giảng viên.

Kết quả khảo sát thực trạng phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn ở các trường đại học thuộc Đại học Thái Nguyên cho thấy, hoạt động phối hợp giữa công đoàn với chính quyền đã được quan tâm và đạt được những thành công đáng kể góp phần hoàn thành nhiệm vụ chính trị của nhà trường và ĐHTN.

2.4.2. Những hạn chế và nguyên nhân Luận văn: Thực trạng phối hợp giữa công đoàn với chính quyền.

  • Hạn chế:

Một bộ phận cán bộ quản lý, cán bộ công đoàn và giảng viên chưa nhận thức đầy đủ, sâu sắc về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của công đoàn cũng như hoạt động phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn trong nhà trường.

Trong quá trình xây dựng kế hoạch hoạt động chuyên môn cấp Khoa/ Bộ môn vẫn chưa thể hiện rõ có sự tham gia của công đoàn hoặc sự tham gia chưa đúng với chức năng nhiệm vụ của tổ chức công đoàn; chưa phân định rõ đâu là nhiệm vụ của công đoàn, đâu là nhiệm vụ của chính quyền trong các hoạt động phối hợp và trách nhiệm của mỗi bên đến đâu.

Cơ chế phối hợp giữa công đoàn với chính quyền, nhất là cơ chế phối hợp trong quản lý hoạt động chuyên môn hầu như chưa được xây dựng ở các cấp công đoàn trong nhà trường (ngoài quy chế phối hợp công tác giữa Công đoàn trường với Ban giám hiệu).

Cán bộ văn phòng công đoàn là cán bộ rất quan trọng, là người tham mưu trực tiếp giúp Ban thường vụ, Ban chấp hành Công đoàn điều hành mọi hoạt động của công đoàn tại các trường hầu hết chưa đào tạo chính quy về công đoàn mà chủ yếu hoạt động nhờ học hỏi, kinh nghiệm; trình độ, năng lực chưa theo kịp thực tiễn phát triển hiện nay.

Việc đánh giá hiệu quả phối hợp công tác giữa công đoàn với chính quyền cũng như công tác phối hợp trong quản lý hoạt động chuyên môn chưa được liên tục, thường xuyên, chưa phát huy được sức mạnh, vai trò của các công đoàn bộ phận, tổ công đoàn trong tham gia quản lý hoạt động chuyên môn tại các Khoa, phòng, tổ chuyên môn.

  • Nguyên nhân: Luận văn: Thực trạng phối hợp giữa công đoàn với chính quyền.

Phần lớn cán bộ công đoàn đều là cán bộ kiêm nhiệm, không chuyên trách nên thời gian dành cho hoạt động công đoàn không nhiều; một số được bầu vào vị trí chủ chốt công đoàn không hoàn toàn tự nguyện mà do đơn vị phân công hay một số cán bộ có sự năng nổ, nhiệt tình nhưng năng lực hạn chế, tuổi còn trẻ, kinh nghiệm hoạt động công tác chưa nhiều nên ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng, hoạt động công đoàn cũng như trong hoạt động phối hợp với chính quyền quản lý chuyên môn.

Hầu hết tại các khoa, phòng, bộ môn trong các trường chưa có cơ chế phối hợp giữa công đoàn với chính quyền, nhất là cơ chế phối hợp để thực hiện quản lý hoạt động chuyên môn để phận định rõ trách nhiệm của mỗi bên khi phối hợp thực hiện, … mà chỉ có Quy chế phối hợp công tác giữa BCH Công đoàn trường với Ban giám hiệu nhà trường.

Cán bộ văn phòng công đoàn các trường hiện nay đều do chính quyền tuyển dụng và phân công làm công tác công đoàn, đôi khi cũng chỉ kiêm nhiệm một thời gian và chuyển công tác, thường xuyên thay đổi nên rất khó khăn để nắm vững khi triển khai các hoạt động và trong công tác tham mưu giúp việc cho Lãnh đạo công đoàn.

Hàng năm công đoàn với chính quyền có phối hợp trong quản lý hoạt động chuyên môn nhưng chưa đánh giá được tính hiệu quả của công tác phối hợp để tìm ra nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém và các biện pháp khắc phục trong quá trình phối hợp quản lý hoạt động chuyên môn.

Kết luận chương 2 Luận văn: Thực trạng phối hợp giữa công đoàn với chính quyền.

Hoạt động chuyên môn tác động trực tiếp tới chất lượng giảng dạy của giảng viên và chất lượng học tập của sinh viên, góp phần quan trọng trong việc thực hiện các nhiệm vụ giáo dục và nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo của nhà trường. Công tác phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn ở các trường đại học thuộc Đại học Thái Nguyên còn rất hạn chế.

Qua khảo sát thực trạng phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn, chúng tôi nhận thấy bên cạnh những kết quả đạt được thì quản lý hoạt động phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn ở các trường đại học thuộc ĐHTN còn gặp nhiều khó khăn do: chưa xây dựng được cơ chế phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn; kế hoạch hoạt động chưa thể hiện được sự tham gia của công đoàn; việc kiểm tra đánh giá công tác phối hợp quản lý giữa công đoàn với chính quyền chưa được quan tâm thỏa đáng.

Bên cạnh đó, nhận thức của CBQL, CBCĐ và giảng viên đối với hoạt động phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn còn hạn chế, chưa đầy đủ; đội ngũ cán bộ công đoàn các trường là người tham mưu trực tiếp giúp Ban thường vụ, Ban chấp hành Công đoàn điều hành mọi hoạt động của công đoàn phần đa đều kiêm nhiệm và chưa được đào tạo bài bản về công đoàn;

Từ thực tiễn đó đòi phải có những biện pháp phối hợp giữa công đoàn với chính quyền trong quản lý hoạt động chuyên môn để nâng cao chất lượng hiệu quả quản lý, qua đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo của các trường các trường đại học. Luận văn: Thực trạng phối hợp giữa công đoàn với chính quyền.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp phối hợp giữa công đoàn với chính quyền

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993