Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn Quốc, trường Đại học Hà Nội dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Người VN từ xưa vẫn quan niệm: “Trăm hay không bằng tay quen”, “Học đi đôi với hành”, “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” để nhấn mạnh yếu tố thực hành và vận dụng thực tế.
Hơn 2000 năm trước, Khổng Tử (551 – 479 TCN) đã nói: Những gì tôi nghe, tôi sẽ quên. Những gì tôi thấy, tôi sẽ nhớ. Những gì tôi làm, tôi sẽ hiểu.
Những tư tưởng của các nhà GD, các nhà triết học thời cổ đại có thể coi là nguồn gốc tư tưởng đầu tiên của học qua TN.
Theo quan điểm về GD thế kỷ XXI của UNESCO: “học để biết, học để làm việc, học để làm người và học để chung sống với nhau” mục tiêu hướng tới “một xã hội học tập”. GD ĐH không chỉ ĐT sinh viên có kiến thức vững chắc và biết sáng tạo trong hoàn cảnh hiện thời và cả cho tương lai. Đứng trước thách thức của cơn bão toàn cầu hóa, GD đứng ở vị trí trung tâm của sự phát triển con người, GD có sứ mạng giúp con người phát huy được tất cả tài năng và mọi năng lực sáng tạo. Trong xu thế toàn cầu hóa, xây dựng một nền GD “mọi người đều được học và học tập suốt đời”. Tư tưởng học tập suốt đời là học không giới hạn độ tuổi, không gian và thời gian. Để làm được điều này, con người cần phải không chỉ học kỹ năng về nghề nghiệp mà cần phải trau dồi kỹ năng sống. Học để phát triển tối đa nhất khả năng sáng tạo của con người. Học để biết cách chung sống với nhau thông qua sự hiểu biết của mình và của người khác và cảm nhận sự phụ thuộc lẫn nhau. Điều này đòi hỏi GD ĐH ngoài việc nâng cao chất lượng về kiến thức chuyên ngành mà còn phải nâng cao cả về kỹ năng cho SV.
Hội nghị lần thứ VIII Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2019 “Về đổi mới căn bản, toàn diện GD & ĐT”, đã xác định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học…”[8, tr.6] Luận văn: Quản lý trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn.
Bên cạnh nhiệm vụ đào tạo SV có chuyên môn giỏi, trình độ tri thức vững vàng, có khả năng tư duy, giải quyết các vấn đề thực tiễn đòi hỏi thì nhà trường không ngừng tìm tòi biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo. Một trong các biện pháp đó là các hoạt động ngoại khoá, HĐTN cho SV.
Trải nghiệm là một phương thức giúp cá nhân lĩnh hội được những giá trị mới, kiến thức và kỹ năng mới. Vì vậy mà phương thức này ngày càng được chú trọng và quan tâm trong các nhà trường. Với học sinh, HĐTN đã và đang được quan tâm nhiều, tuy nhiên với SV đại học thì vấn đề này chưa được quan tâm đúng mức, ngay từ góc độ người quản lý.
HĐTN có ý nghĩa to lớn đối với sinh viên trong quá trình học tập, đặc biệt đối với SV học ngoại ngữ càng có ý nghĩa thiết thực hơn. HĐTN giúp SV nắm vững được kiến thức lí thuyết đã được học, củng cố và thực hành những kỹ năng cần thiết. Đối với SV khoa tiếng HQ, trường ĐHHN hoạt động trải nghiệm sẽ giúp các em ghi nhớ từ vựng, ngữ pháp và có nhiều cơ hội để rèn luyện các kỹ năng ngoại ngữ: nghe, nói, đọc, viết và kỹ năng dịch.
Bên cạnh đó, hiện nay HQ được coi là đối tác quan trọng hàng đầu của VN, quan hệ hữu nghị giữa VN và HQ ngày càng được tăng cường thể hiện qua những chuyến thăm cấp cao giữa lãnh đạo hai nước. Điều này cho thấy cả hai quốc gia đều rất coi trọng mối quan hệ hợp tác chiến lược này. Để tiếp tục duy trì và nâng cao mỗi quan hệ của hai quốc gia cần tiếp tục đẩy mạnh giao lưu văn hóa cũng như công tác giảng dạy ngôn ngữ của HQ ở VN và ngược lại. Do vậy, cần những cử nhân ngoại ngữ không chỉ thông thạo tiếng mà còn phải am hiểu nền văn hoá của hai nước để trở thành cầu nối quan trọng trong việc phát triển quan hệ hai nước nói chung và hợp tác kinh tế nói riêng.
Xuất phát từ những quan điểm chỉ đạo của Trung Ương, dựa trên mối quan hệ hợp tác chiến lược giữa hai nước và với những trăn trở, mong muốn nâng chất lượng GD toàn diện, đề ra những biện pháp QL nhằm giúp SV đáp ứng yêu cầu đổi mới GD và nâng cao chất lượng, tự tin để tham gia vào thị trường lao động ngày càng đòi hỏi khắt khe. Do vậy, nhà trường cần chú trọng hơn nữa về HĐTN và nghiên cứu để tìm ra các biện pháp QL HĐTN một cách có hiệu quả sẽ góp phần vào việc nâng cao chất lượng đào tạo trong nhà trường, giúp SV có những trải nghiệm thật bổ ích, tích lũy thêm kiến thức và các kỹ năng thiết thực giúp SV sau khi tốt nghiệp dễ dàng hòa nhập vào xã hội.
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi chọn đề tài: “Quản lý hoạt động trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn Quốc, trường Đại học Hà Nội” làm đề tài luận văn.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận văn: Quản lý trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn.
HĐTN trong trường ĐH giúp SV làm quen với môi trường học tập mới, ổn định tư tưởng, xác định được mục đích và hình thành động cơ học tập đúng đắn, là một HĐ quan trọng và không thể ups thiếu trong quá trình ĐT. Nó còn giúp kết nối SV với thực tiễn, đưa HĐ ĐT gần hơn với nhu cầu xã hội bằng những chương trình tham quan thực tế, hội thảo chuyên đề, gặp gỡ doanh nghiệp… Đây cũng là nơi quan tâm, đồng hành và chia sẻ những khó khăn trong quá trình học tập của SV thông qua HĐ huy động các nguồn lực xã hội. Hỗ trợ về mặt tinh thần cho SV bằng những HĐ tư vấn, tổ chức các chương trình ngoại khóa để SV có thể cân bằng về tâm lý. Giúp SV hình thành những kỹ năng cần thiết cho hành trang lập nghiệp và tạo cầu nối cho các em tiếp cận những vị trí thực tập, việc làm sau khi tốt nghiệp… HĐTN cũng là một trong những hình thức GD giúp SV mở rộng, nâng cao và khắc sâu kiến thức.
Theo Trung tâm quốc gia về các thống kê GD của Hoa Kỳ [36] thì một nửa số SV tham gia các HĐ ngoại khoá trong những năm đầu sẽ không bỏ học, trong khi tỷ lệ SV không tha gia các HĐ bỏ học là khoảng 65%. Những SV luôn tham gia vào các chương trình HĐ ngoại khoá có chất lượng có kết quả học tập cao hơn. Và kết quả cho thấy 68.2% SV tham gia các HĐ ngoại khoá sẽ tốt nghiệp và tiếp tục học lên các bậc học cao hơn, trong khi đó tỷ lệ này ở các SV không tham gia các HĐ này chỉ là 48.2%. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu về GD ĐH của Mỹ đã chỉ ra rằng những SV tham gia các HĐ ngoại khoá này không chỉ giúp các em cải thiện được kết quả học tập tốt hơn, thái độ, cảm xúc, cách cư xử của bản thân SV mà còn giúp các em rèn luyện các kỹ năng cơ bản.
Trong bài nghiên cứu của tác giả Lê Thị Thu Hà [11] cũng chỉ ra được GD kỹ năng sống cho SV đại học nhằm đạt được những mục tiêu nhất định, trong đó có các mục tiêu như: trang bị cho người học những kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ năng phù hợp, tạo cho người học những thói quen tốt, loại bỏ được những thói quen tiêu cực. Giúp người học thực hiện tốt nhất quyền, bổn phận của mình và phát triển hài hoà cả về thể chất lẫn trí tuệ, tinh thần và đạo đức…
Các tác giả Hà Thế Ngữ – Đặng Vũ Hoạt trong tài liệu GD học đã viết “HĐ GD ngoài giờ lên lớp là việc tổ chức GD thông qua HĐ thực tiễn của học sinh về khoa học kỹ thuật, lao động công ích, HĐ xã hội, HĐ nhân văn, văn hóa văn nghệ, thẩm mỹ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí… để giúp các em hình thành và phát triển nhân cách” [21, tr.16], tác giả cũng nhấn mạnh vai trò và tác dụng của hình thức hoạt động ngoài giờ và coi đây là một trong những hình thức GD có khả năng tạo cho SV hứng thú học tập, giúp các em mở rộng, nâng cao và ghi nhớ kiến thức. Luận văn: Quản lý trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn.
Nghị quyết Hội nghị Trung Uơng VIII khoá XI chỉ rõ quan điểm: “tiếp tục đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại, phát huy tích cực, chủ động, sáng tạo, vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học, khắc phục lối truyền thụ một chiều, ghi nhớ máy móc, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, phát triển năng lực, chuyển từ hình thức học tập chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú trọng các HĐ xã hội, ngoại khoá…”[8, tr.6]
Như vậy, ta thấy được đã có nhiều thống kê nói rằng HĐTN là một trong những hình thức tổ chức GD quan trọng, không thể thiếu trong quá trình ĐT. Đóng vai trò quan trọng trong HĐ GD, HĐTN là HĐ ngoại khóa được quan tâm rất nhiều, đặc biệt trong những năm gần đây, khi Đảng và Nhà nước luôn yêu cầu GD toàn diện cho thế hệ trẻ nhằm đáp ứng xu thế hội nhập.
Tuy nhiên, do đặc thù là một khoa đào tạo ngôn ngữ, một ngôn ngữ đang được sử dụng khá nhiều tại VN, nên việc khoa tiếng HQ tổ chức và QL HĐTN của SV sao cho có hiệu quả nhất thì vẫn còn nhiều suy nghĩ cần phải có sự nỗ lực và chung tay thực hiện giữa Nhà trường, Khoa, Đoàn – Hội và các tổ chức bên ngoài. Việc phải nghiên cứu, tìm hiểu và đưa ra một số BP để giúp cho các HĐ này đạt kết quả tốt hơn là việc rất cần thiết.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng về QL HĐTN cho SV khoa tiếng HQ, trường ĐHHN luận văn đề xuất các BP QL HĐTN cho SV khoa tiếng HQ, trường ĐHHN nhằm nâng cao chất lượng ĐT của khoa và của nhà trường trong những năm tới.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận về QL HĐTN cho
- KS, đánh giá thực trạng việc QL HĐTN cho SV ở khoa tiếng HQ, trường ĐHHN.
- Đề xuất các BP QL HĐTN cho SV ở khoa tiếng HQ, trường ĐHHN cho phù hợp với điều kiện hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Biện pháp QL HĐTN cho SV tại khoa Tiếng HQ, Trường ĐHHN .
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài luận văn của người viết tập trung nghiên cứu “QL HĐTN cho SV khoa tiếng HQ, trường ĐHHN ” thông qua các HĐTN của SV.
- Tiến hành KS thực trạng TN tại khoa tiếng HQ, trường ĐHHN . Nghiên cứu: – 120 SV của khoa tiếng HQ, trường ĐHHN ;
- 23 cán bộ QL và GV trường ĐHHN . Luận văn: Quản lý trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
QL là một hệ thống bao gồm nhiều yếu tố có mối quan hệ mật thiết với nhau như QL công tác giảng dạy, QL cơ sở vật chất, QL con người. Trong đó, QL HĐTN cho SV là một nội dung quan trọng trong công tác giảng dạy nhằm đạt được mục tiêu GD đặt ra. QL HĐTN cho SV có mối quan hệ mật thiết và tác động qua lại với các yếu tố khác. Vì vậy, các BP QL HĐTN cho SV phải được xem trong một hệ thống các tác động QL của Nhà trường đến các lĩnh vực QL nhằm đat mục tiêu đề ra. Ngoài ra người nghiên cứu phải xem thực trạng QL HĐTN của SV gồm những yếu tố nào.
Xuất phát từ thực trạng QL HĐTN cho SV tại khoa tiếng HQ, trường ĐHHN còn có những tồn tại đề ra những BP nhằm nâng cao hiêu quả HĐ này.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, tác giả sử dụng 5 phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản
Để thực hiện phương pháp này, tác giả sau khi thu thập tài liệu, văn bản thì tiến hành phân loại, đọc và phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các văn kiện, Nghị quyết của Đảng, các văn bản quy định của Nhà nước và của ngành GD và ĐT; các tài liệu lý luận về QL, QL GD và các tài liệu liên quan đến đề tài để tổng quan các vấn đề lý luận giúp cho đề tài luận văn. Trên cơ sở đó, tác giả nghiên cứu hệ thống hoá được vấn đề nghiên cứu cơ bản của luận văn. Từ đó xác định được những khái niệm cơ bản, những vấn đề lý luận của đề tài làm cơ sở cho điều tra thực tiễn
- Phương pháp quan sát
Tác giả tiến hành quan sát trực tiếp các bước QL HĐTN của khoa tiếng HQ từ đó đưa ra những đánh giá về ưu và nhược điểm của từng HĐ để đưa ra các đề xuất phù hợp.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Tác giả tiến hành xây dựng bảng hỏi, phát phiếu KS để thu tập thông tin từ các SV người trực tiếp tham gia các HĐ đó, nhà QL, cán bộ GV để đánh giá được thực trạng QL HĐTN cho SV khoa tiếng HQ trường ĐHHN
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Tác giả tiến hành phương pháp thu thập và tổng kết lại các kinh nghiệm của người tổ chức, QL trực tiếp các HĐTN được giao để từ đó đánh giá được ưu và nhược điểm của các HĐ, những được và chưa được của người phụ trách và QL.
- Phương pháp thống kê toán học
Tác giả sử dụng phần mềm phân tích thống kê số liệu SPSS để xử lý các số liệu về thực trạng và thu thập ý kiến của các nhà QL, GV và SV đang học tại khoa từ bảng hỏi nhằm khẳng định độ tin cậy của những số liệu đã thu thập được.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn Luận văn: Quản lý trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn.
6.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung và làm phong phú hơn lý luận về QL HĐTN nói chung và HĐTN cho SV nói riêng từ góc độ QL GD. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của đề tài cũng hệ thống hóa các lý luận và thực tiễn về QL HĐTN của khoa tiếng HQ và đồng thời đánh giá thực trạng công tác QL HĐTN, giúp hoàn thiện lý luận về công tác QL HĐTN ở khoa tiếng HQ, trường ĐHHN.
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn đã KS, đánh giá thực trạng của QL HĐTN cho SV tại khoa tiếng HQ trường ĐHHN và đã chỉ ra những ưu điểm và hạn chế cũng như nguyên nhân của hạn chế. Trên cơ sở đó đề xuất một số BP thực hiện công tác QL HĐTN theo hướng phát triển GD toàn diện.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn được chia làm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động trải nghiệm cho sinh viên.
- Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn Quốc, trường Đại học Hà Nội.
- Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn Quốc, trường Đại học Hà Nội.
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM CHO SINH VIÊN
1.1. Lý luận về hoạt động trải nghiệm cho sinh viên đại học
1.1.1 Các khái niệm
- Khái niệm sinh viên Luận văn: Quản lý trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn.
Theo từ điển Bách khoa toàn thư: “SV là người học tập tại các trường ĐH, cao đẳng. Ở đó họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của họ. Họ được xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt được trong quá trình học. Quá trình học của họ theo phương pháp chính quy, tức là họ đã phải trải qua bậc tiểu học và trung học”[33]
Theo Quy chế công tác SV đôi với chương trình ĐT ĐH hệ chính quy ban hành kèm theo Thông tư số 10/2022/TT-BGDĐT ngày 05 tháng 4 năm 2022 của Bộ trưởng Bộ GD và Đào tạo, SV là: “người đang theo học chương trình ĐT trình độ ĐH hệ chính quy tại các cơ sở GD ĐH”[4, điều 2.1]
- Khái niệm hoạt động trải nghiệm cho sinh viên
Theo từ điển “TN là tiến trình hay là quá trình HĐ năng động để thu thập kinh nghiệm”.
GD TN có thể hiểu là một tư tưởng GD trong đó đề cao và chủ yếu thông qua HĐTN của người học. Việc nghiên cứu vận dụng lí thuyết GD TN, học tập TN hay học qua TN đã được thực hiện ở nhiều nước, trong đó có VN, ở nhiều cấp học, bậc học, cho nhiều đối tượng khác nhau.
Luật GD năm 2011 cũng có ghi: “HĐ GD phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, GD kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, GD nhà trường kết hợp với GD gia đình và GD xã hội” [19, điều 3.2]
Điều này cho thấy học phải đi đôi với hành. Mục đích của học là để thực hành, để sống và để phát triển. HĐTN còn gọi là HĐ ngoại khoá hay HĐ GD ngoài giờ lên lớp. Đây là một HĐ GD được thực hiện một cách có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm góp phần thực thi quá trình ĐT học sinh, đáp ứng những nhu cầu đa dạng của đời sống xã hội.
HĐ này do nhà trường quản lý, tiến hành ngoài giờ dạy học trên lớp. Các HĐ này được tiến hành xen kẽ hoặc nối tiếp chương trình dạy học trong phạm vi nhà trường hoặc trong đời sống xã hội, được diễn ra trong suốt cả năm học và cả thời gian nghỉ hè để khép kín quá trình GD, làm cho quá trình đó có thể được thực hiện mọi nơi, mọi lúc.
Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt: hoạt động GD ngoài giờ là việc tổ chức GD qua HĐ thực tế của học sinh về khoa học kỹ thuật, lao động công ích, HĐ xã hội, hoạt động nhân văn, văn hoá nghệ thuật, thẩm mỹ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí… để giúp các em hình thành và phát triển nhân cách [12] Luận văn: Quản lý trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn.
Theo nhóm tác giả Nguyễn Thúy Hồng, HĐTN là HĐ mang tính xã hội, thực tiễn đến với môi trường GD trong nhà trường để học sinh tự chủ TN trong tập thể, qua đó hình thành và thể hiện được phẩm chất, năng lực, nhận ra năng khiếu, sở thích, đam mê, bộc lộ và điều chỉnh cá tính, giá trị; nhận ra chính mình cũng như khuynh hướng phát triển của bản thân và cùng với các HĐ dạy học trong chương trình GD thực hiện tốt nhất mục tiêu GD. HĐ này nhấn mạnh sự trải nghiệm, thúc đẩy năng lực sáng tạo của người học và được tổ chức thực hiện một cách linh hoạt sáng tạo [15].
Từ đó chúng ta hiểu bên cạnh HĐ dạy và HĐ học, HĐ ngoại khoá hay còn gọi là HĐTN là một trong ba HĐ quan trọng, là ba bộ phận hợp thành của GD, góp phần thực hiện mục tiêu GD của Nhà trường. Những HĐ lao động, sinh hoạt tập thể, HĐ xã hội đã một phần góp sức trong việc hoàn thiện nhân cách cho học sinh, SV. HĐ này giúp các em mở rộng kiến thức, bồi dưỡng tư tưởng tình cảm, nâng cao năng lực, thể lực, thể chất, tinh thần giúp các em tự biết hoàn thiện bản thân hơn. Ngoài ra tổ chức HĐTN giúp SV tăng thêm các mối quan hệ giữa bạn bè trang lứa, giữa cô với trò, SV biết cách xây dựng kế hoạch, quản lý thời gian, HĐ hướng tới có mục đích, có nội dung biết cách biến các nhu cầu khách quan của xã hội thành những nhu cầu, mong muốn của bản thân.
Theo nhiều nhà nghiên cứu GD thì nên hiểu HĐTN là HĐ rất cần thiết trong GD. HĐTN mặc dù không đặt sự giảng dạy của GV lên hàng đầu tuy nhiên cũng rất cần có sự quan tâm của GV và các nhà QL để có một chương trình mà mọi SV đều thấy cần và có thể vận dụng kiến thức của SV.
Trong suốt thời gian học tập dưới môi trường ĐH, SV có thể tham gia rất nhiều HĐTN, đó là các HĐ như sau:
- HĐ tự học: Là những HĐ cá nhân, đơn lẻ với mục đích hoàn thành nhiệm vụ học tập mà SV được GV giao cho và các HĐ mang tính tập thể, sinh hoạt theo các câu lạc bộ hay giao lưu vă hoá…
- HĐ chính trị xã hội: Theo quy chế của Bộ GD & ĐT chính trị, xã hội là một trong các nhiệm vụ của SV. Ngoài mục đích GD, các HĐ này còn có mục đích phục vụ vì cộng đồng, vì xã hội.
- HĐ nghiên cứu khoa học: Là những HĐ như nghiên cứu khoa học, tiểu luận, nói chuyện chuyên đề, thăm quan doanh nghiệp…
- HĐ thể thao, văn hoá, văn nghệ, vui chơi giải trí: Là các HĐ không chỉ nhằm nâng cao thể chất, thể lực mà còn cả đời sống tinh thần cho SV giúp các em giải toả những căng thẳng trong cuộc sống. Các HĐ này được tổ chức khá đa dạng, phong phú. Luận văn: Quản lý trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn.
- HĐ tạo thu nhập: Là những HĐ mà SV thực hiện thông qua các công việc làm thêm, HĐ thực tập… để có thu nhập trang trải cho các chi phí sinh hoạt và tích luỹ thêm kinh nghiệm cho công việc sau này.
Theo Quy chế Công tác SV đối với chương trình ĐT hệ chính quy đã quy định rõ nhiệm vụ của sinh viên là “Học tập rèn luyện theo chương trình, kế hoạch giáo dục, đào tạo của cơ sở giáo dục đại học; chủ động, tích cực tự học, nghiên cứu, sáng tạo và rèn luyện đạo đức, lối sống” [4, điều 4.2]. Như vậy HĐTN là một phần bắt buộc trong chương trình ĐT mà SV có nghĩa vụ tham gia.
Cũng có thể nói HĐTN là một phần của chương trình ĐT ĐH nó vừa mang tính chất tự nguyện lại vừa mang tính bắt buộc tùy thuộc vào yêu cầu của đơn vị ĐT đối với từng loại HĐ. HĐTN giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao kiến thức và hoàn thiện các kĩ năng cho SV giúp SV tự tin hơn, biết cách chung sống với người khác và sẵn sàng công cuộc hội nhập.
Từ việc phân tích các khái niệm nêu trên, tác giả sử dụng khái niệm: HĐTN cho SV là HĐ GD trong đó, dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà GD, từng cá nhân SV được trực tiếp HĐ thực tiễn trong nhà trường hoặc trong xã hội dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà GD, qua đó phát triển tình cảm, đạo đức, phẩm chất nhân cách, các năng lực và tích luỹ kinh nghiệm riêng cũng như phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân làm khái niệm công cụ của luận văn.
1.1.2 Vai trò của hoạt động trải nghiệm đối với sinh viên
Xu thế hội nhập đang diễn ra mạnh mẽ hàng ngày, hàng giờ trên khắp thế giới, vì vậy VN không thể không tham gia vào quá trình thay đổi này. Trong xu thế hội nhập, con người thích ứng được thì phải là những công dân toàn cầu, là những người có tư duy, tầm nhìn mang tính toàn cầu đề có thể thích nghi và đáp ứng được với điều kiện làm việc ở những môi trường khác nhau trên toàn thế giới. Người có lợi thế về ngôn ngữ, hiểu biết về văn hoá thì có nhiều cơ hội khẳng định và nâng tầm giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc mình sánh với văn hoá chung nhân loại.
Cùng với sự thay đổi của xã hội đòi hỏi GD cũng phải thay đổi. Một trong các yếu tố cần thay đổi đó là thay đổi về con người. Bản thân con người cần thay đổi trên mọi khía cạnh để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong xu thế hội nhập toàn cầu. Điều này đòi hỏi ngành GD phải ĐT ra những cử nhân phải có ý thức về bản thân, dân tộc và đất nước mình, có nền tảng tri thức và học thuật, có khả năng sử dụng ngoại ngữ, tin học thành thạo, cũng như có khả năng tư duy phản biện cũng như biết lắng nghe, có kỹ năng làm việc nhóm để có thể giải quyết những vấn đề mang tính toàn cầu. Những điều này giúp SV VN nhanh chóng thích nghi tại nơi làm việc có nền văn hoá mới mà không bị mất đi giá trị của bản thân.
Như trên phân tích, ta thấy HĐTN là một HĐ GD cần thiết và quan trọng, là một trong những con đường để thực hiện phương pháp dạy học đổi mới theo định hướng “phát huy tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của SV bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức đó vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho SV” [26, điều 24.2]. Luận văn: Quản lý trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn.
Như vậy, HĐTN là một HĐ có tầm quan trọng trong GD, góp phần đổi mới mạnh mẽ phương pháp GD đào tạo, nâng cao chất lượng GD toàn diện cho người học để bắt kịp xu thế hội nhập đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu bởi những lý do sau: HĐTN giúp SV mở rộng, nâng cao và cập nhật kiến thức, rèn luyện kỹ năng.
Ngày nay khối lượng tri thức của nhân loại được cập nhật và biến động từng ngày, từng giờ, nếu chúng ta không tự cập nhật thì sẽ sớm tụt hậu với thế giới. Với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin các nguồn tri thức này dễ dàng được chia sẻ rộng rãi và ngày càng được tiếp cận một cách dễ dàng. Để có kiến thức sâu, rộng SV không chỉ học tập ở trên lớp mà cần phải học tập dưới nhiều hình thức khác nhau. Ở môi trường ĐH, giờ trên lớp GV chỉ đóng vài trò cung cấp và định hướng cho SV những kiến thức cơ bản của ngành học mà không đi sâu vào mọi vấn đề do thời gian trên lớp bị hạn hẹp. Chính vì vậy chương trình giảng dạy cũng đang theo xu hướng giảm dần thời lượng lý thuyết mà tăng thời lượng cho thực hành và tự học. Vì vậy, để hiểu rõ hơn nội dung bài học yêu cầu SV phải có ý thức tự học, phải có hứng thú tự tìm hiểu, tự đào sâu nghiên cứu. Từ thực tế này, vai trò của các HĐTN ngày càng được coi trọng với nhiều HĐ đa dạng, được tổ chức hấp dẫn, giúp SV lĩnh hội được kiến thức một cách tự nhiên và hiệu quả nhất. Trong các HĐTN vai trò của SV sẽ được phát huy tối đa, giúp các em ghi nhớ và có cơ hội thực hành kiến thức đã học trên lớp một cách gần gũi thông qua các HĐ tập thể và cùng chia sẻ cho nhau. Với khả năng nhanh chóng nắm bắt được, SV sẽ sớm thích ứng và tự trang bị cho mình các kiến thức bổ ích để từ đó khơi gợi niềm đam mê, tìm tòi, khám phá, nghiên cứu với mục đích tự làm giàu vốn kiến thức của chính bản thân.
Thông qua các HĐ tập thể này SV cũng trang bị thêm cho mình nhiều kỹ năng khác nhau như: kỹ năng tổ chức QL, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng làm việc độc lập và kỹ năng diễn thuyết trước đám đông… Cùng với năng lực ngoại ngữ và tin học thì những kỹ năng này là tiền đề quan trọng để rèn luyện SV trở thành nguồn nhân lực có trình độ, có khả năng thích ứng cao và hoà nhập thành công vào thị trường lao động không chỉ trong nước mà còn cả khu vực quốc tế.
HĐTN còn giúp phát hiện ra những năng khiếu của SV, hướng SV vào các hoạt động bổ ích giúp SV có động lực trong học tập và tu dưỡng đạo đức.
Khi tham gia các HĐTN SV có khả năng bộc lộ những tiềm năng cũng như các hiểu biết của bản thân do tính sáng tạo, độc lập của SV được tôn trọng ở mức cao nhất. Có nhiều HĐ do SV chủ động lập kế hoạch, lên chương trình và trực tiếp thực hiện, từ đó phát hiện được sở trường và năng khiếu của sinh viên. Với sự năng động và tự tin của bản thân, SV sẽ nhanh chóng nhận ra sở trường và thế mạnh của bản thân để nhanh chóng trở thành những cá nhân tích cực trong các hoạt động tập thể. Đây là nhân tố thu hút và thúc đẩy các SV khác tham gia tích cực hơn. Luận văn: Quản lý trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn.
HĐTN còn là nơi tạo ra môi trường lành mạnh giúp SV rèn luyện nhân cách, hình thành cho bản thân một lối sống lành mạnh, có trách nhiệm với bản thân, cộng đồng, biết yêu thương và sẻ Các hình thức HĐ đa dạng mang lại cho SV nhiều cơ hội giao lưu, mở rộng các mối quan hệ với bạn bè, thầy, cô, với những cá nhân tiêu biểu được cộng đồng thừa nhận hay cơ hội được sẻ chia khó khăn với những hoàn cảnh khó khăn khi tham gia các HĐ tình nguyện như hiến máu, quyên góp từ thiện, mùa hè xanh… Từ các hoạt động này các em hiểu hơn về giá trị đích thực của cuộc sống từ đó giúp các em có thái độ và hành động đúng mực, phát triển và hoàn thiện nhân cách phù hợp với chuẩn mực xã hội.
HĐTN còn tạo ra sự gắn bó, đoàn kết trong tập thể. Ngày nay, khi xã hội ngày càng phát triển, thêm vào đó là sự phát triển vượt bậc của công nghệ khiến cho điều kiện sống và học tập của SV được cải thiện rất nhiều. SV được học trong những ngôi trường hiện đại, mạng internet phủ sóng khắp nơi giúp cho các em tiếp cận thường xuyên với công nghệ, mang lại những TN mới mẻ với vô số các tiện ích để nhanh chóng tìm kiếm và nắm bắt thông tin về những vấn đề đang quan tâm. Bên cạnh đó, công nghệ hiện đại còn giúp cho việc kết nối giữa mọi người với nhau trở nên dễ dàng hơn không giới hạn bởi không gian và thời gian. Tuy nhiên nếu không được tiếp thu thông tin một cách có chọn lọc sẽ trở thành con dao hai lưỡi khiến SV bị cuốn vào những trò chơi, những mối quan hệ bạn bè ảo, những trang thông tin không lành mạnh, ảnh hưởng đến nhận thức, đạo đức và tư tưởng chính trị. Nhiều SV không thấy tự tin trong cuộc sống, giao tiếp với bạn bè. Do vậy để tạo sự gắn bó, đoàn kết trong tập thể thì cần nơi để các em được cùng nhau trực tiếp trao đổi, chia sẻ, hợp tác để giải quyết những vấn đề cùng quan tâm đó chính là mục đích tổ chức ra các HĐTN. Tại đây các em cùng nhau TN những HĐ có ý nghĩa, tạo mối quan hệ tình cảm bạn bè thực sự, giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn, có tinh thần trách nhiệm, ý thức với tập thể, với cộng đồng, giúp các em biết cảm thông, chia sẻ với những hoàn cảnh khó khăn và chung tay góp phần làm cho xã hội phát triển tốt hơn. Khi SV nhận thấy mình thực sự là một phần của HĐ, của tập thể thì sẽ cố gắng vì mục tiêu chung, vì sự phát triển của tập thể từ đó phát triển các kỹ năng và kiến thức của cá nhân.
Qua các HĐTN, tình cảm giữa cô trò cũng được gắn kết hơn. GV sẽ hiểu được tâm tư, tình cảm cũng như các diễn biến tư tưởng của SV để kịp thời động viên, khích lệ giúp SV có động lực phấn đấu trong học tập. SV khi cảm nhận được sự quan tâm của thầy, cô, của nhà trường thì cũng sẽ cố gắng học tập để đạt đựơc kết quả cao hơn. Từ đó tạo nên một sức mạnh tập thể: sức mạnh của sự đoàn kết.
HĐTN không chỉ đơn thuần là các HĐ diễn ra trong nhà trường, mà còn là các HĐ vượt ra cả môi trường bên ngoài xã hội. Vì vậy HĐ này huy động các lực lượng xác hội tham gia vào việc GD sinh viên. Chất lượng HĐ phụ thuộc rất nhiều vào sự hợp tác tích cực của các nhà tuyển dụng trong việc hướng nghiệp cho SV, các cơ quan doanh nghiệp nơi mà sau khi SV tốt nghiệp sẽ ra làm việc ở đó. Các HĐ giữa đơn vị GD với các đơn vị tuyển dụng sẽ giúp nhà trường điều chỉnh chương trình ĐT ngày càng phù hợp hơn với thực tế. SV được cung cấp những kiến thức, kỹ năng cần thiết, quan trọng phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp; doanh nghiệp thông qua HĐ này cũng giới thiệu, quảng bá được hình ảnh của mình nhằm thu hút được nhiều SV ưu tú và có kỹ năng phù hợp của nhà tuyển dụng.
Tóm lại, HĐTN là một hình thức GD mang tính tích hợp cao, có tác dụng làm giàu vốn kiến thức, giúp hoàn thiện nhân cách và rèn luyện kỹ năng để SV phát triển toàn diện, nâng cao chất lượng sản phẩm đầu ra của GD, từng bước đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá – hiện đại hoá của đất nước và hội nhập với thế giới.
1.1.3 Đặc điểm của hoạt động trải nghiệm ở trường đại học Luận văn: Quản lý trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn.
- HĐTN mang tính tích hợp
HĐTN là các HĐ rất đa dạng như văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao, tình nguyện đến các HĐ nghiên cứu khoa học hay là các HĐ tham quan doanh nghiệp, thực tập… Vì vậy, nói đến HĐTN ta thấy được HĐ này mang tính tích hợp cao từ nội dung cho đến hình thức thực hiện, từ phương pháp tiếp cận cho đến vai trò ý nghĩa của HĐ này. Điều này đòi hỏi đối tượng tổ chức HĐTN và cả đối tượng tham gia trải nghiệm đều cần phải nhận thức rõ ràng về sự khác nhau giữa HĐTN và HĐ học tập trên lớp để từ đó thấy được tầm quan trọng của HĐTN.
- HĐTN chủ yếu mang tính tự nguyện, tự giác.
Nếu như HĐ học tập trên lớp là bắt buộc SV phải tham gia đủ số giờ trên lớp theo quy định và hoàn thành đủ số đơn vị học phần theo yêu cầu của khung chương trình ĐT thì HĐTN lại là HĐ cần SV có tinh thần tự giác, tự nguyện tham gia. Khi SV nhận thức được vai trò của HĐ này và tự nguyện tham gia thì SV mới tự tin thể hiện sở trường và năng khiếu của bản thân.
Tuy nhiên, với những HĐTN mang tính học thuật như hội thảo khoa học SV thì bên cạnh tính tự giác cũng cần có sự khơi gợi, động viên, khích lệ tham gia của GV. Vì bản thân SV nhiều khi nghĩ rằng chỉ có người trong ngành như các thầy, cô hay các nhà khoa học mới có khả năng nghiên cứu mà không nhận ra khả năng nghiên cứu của bản thân. Vì vậy, nhiều khi GV phải đặt SV vào các tình huống nghiên cứu dựa vào năng lực nổi trội về một lĩnh vực hay về một chủ đề nào đó khi học trên lớp. Vì khi thực sự đi vào nghiên cứu thì lúc đó SV mới tự nhận ra và biết được đích xác bản thân mình có khả năng nghiên cứu hay không? Là tiền đề giúp SV hăng say, tìm tòi, khám phá để trở thành nhà nghiên cứu khoa học trong tương lai.
- HĐTN dựa trên trình độ chuyên môn, tâm – sinh lý của
HĐTN ngoài việc đa dạng, phong phú trong hình thức HĐ mà còn phải để ý đến nội dung của các HĐ. Nội dung HĐTN phải dựa vào trình độ chuyên môn của từng đối tượng khối – lớp và tâm – sinh lý của các đối tượng SV khác nhau. Dựa vào lượng kiến thức được cung cấp ở từng khóa SV khác nhau mà các HĐ được thiết kế phải đảm bảo SV có thể tự tin tham gia. Bên cạnh đó, tùy theo là SV các khối, năm khác nhau mà công tác tổ chức HĐTN cũng cần được nghiên cứu hợp lý, vì rõ ràng là có sự khác nhau giữa tâm – sinh lý của các độ tuổi SV. Các HĐTN đáp ứng được vấn đề này thì sẽ tạo được hứng thú, giúp SV tự tin tham gia và thể hiện mình. Do vậy, công tác tổ chức HĐTN cần phải lưu ý khi xây dựng nội dung phải sinh động, hấp dẫn, hình thức phong phú và phù hợp với các đối tượng SV khác nhau. Nếu khi xây dựng nội dung người tổ chức không quan tâm, xem trọng đến vấn đề này thì dễ dẫn đến tâm lý chán chường, thiếu hứng thú của sinh viên. Đòi hỏi người tổ chức HĐTN luôn phải tìm tòi, làm mới nội dung, sáng tạo cách thức tổ chức sao cho phù hợp trình độ và tâm – sinh lý của SV giúp các em thấy được lợi ích khi tham gia các HĐTN. Luận văn: Quản lý trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn.
1.1.4 Mục tiêu hoạt động trải nghiệm ở trường đại học
Về tri thức: HĐTN vừa giúp SV nhớ và thực hành kiến thức đã học trên lớp vừa mở rộng kiến thức, nâng tầm hiểu biết, biết tiếp thu văn hoá, văn minh của thế giới và hiểu hơn, biết gìn giữ giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc.
Về kỹ năng: HĐTN giúp SV được củng cố những kỹ năng đã được hình thành từ trong giờ học như: kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, kỹ năng dịch trong học ngoại ngữ cũng như kỹ năng nghiên cứu khoa học. Ngoài ra thông qua các HĐTN này SV được phát triển và hoàn thiện hơn với các kỹ năng như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng tổ chức QL, kỹ năng thuyết trình…
Về thái độ: HĐTN giúp SV hướng tới các HĐ tích cực, lành mạnh và có thái độ đúng đắn với chuyên môn được ĐT để sau này ra đời có thái độ tích cực với các vấn đề xã hội, sống có trách nhiệm với bản thân và tập thể…
1.1.5 Nội dung của hoạt động trải nghiệm ở trường đại học
Nội dung của HĐTN cho SV có thể là những vấn đề kiến thức không nằm trong chương trình nhưng phải dựa vào hoặc liên quan đến kiến thức SV đã được học trên lớp để từ đó SV mở rộng, đào sâu và nhằm củng cố, khắc ghi kiến thức.
Tuỳ vào từng HĐTN mà chủ thể QL đưa ra các nội dung cho phù hợp và cần có sự thống nhất với các tổ chức như Đoàn thanh niên, Hội sinh viên, Phòng công tác SV ngay từ đầu năm học để có kế hoạch triển khai. Với những hoạt động mang tính học thuật, chuyên môn, chủ thể QL cần phối hợp với tổ chuyên môn, GV chủ nhiệm, trợ lý khoa học, phòng công tác SV đưa ra những nội dung thích hợp với kiến thức đã học. Các HĐ này cần tổ chức khách quan, có tính thực tiễn gắn liền với nhu cầu của SV, nhu cầu của xã hội.
1.1.6 Hình thức tổ chức các hoạt động trải nghiệm ở trường đại học
- HĐTN được tổ chức bằng nhiều hình thức thông qua các HĐ cụ thể sau:
Thông qua HĐ câu lạc bộ: Qua mô hình HĐ CLB tại đây sẽ tập hợp được những SV có cùng sở thích và đam mê hoạt động thành những nhóm nhỏ. Vì là HĐ ở những nhóm nhỏ nên các thành viên trong CLB dễ dàng gắn bó và chia sẻ với nhau những vấn đề quan tâm hay khó khăn gặp phải trong cuộc sống cũng như trong học tập. Thông qua các HĐ này sẽ giúp sớm phát hiện ra những SV tích cực và ưu tú cho HĐ khác. Ví dụ câu lạc bộ Nói giỏi tiếng Hàn, câu lạc bộ Dịch, câu lạc bộ nhảy, câu lạc bộ múa truyền thống… Hình thức này thường do các em SV tự lên kế hoạch HĐ, nội dung và hình thức dưới sự tư vấn, định hướng của. Luận văn: Quản lý trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn.
Thông qua HĐ văn hóa, văn nghệ, thể thao: Đây là hình thức HĐ thu hút đông đảo số lượng SV tham gia nhất. HĐ này mang tính quy mô lớn hơn HĐ CLB ví dụ như HĐ ngày hội tiếng Hàn, tuần lễ văn hóa, liên hoan văn nghệ, cuộc thi Quiz Korean, giải thi đấu thể thao…
Thông qua các HĐ tình nguyện, các HĐ mang tính chính trị, xã hội: Theo quy chế đào tạo của Bộ GD & ĐT, HĐ chính trị, xã hội là nhiệm vụ của SV. Những HĐ này ngoài mục đích GD thì mục đích chính là vì cộng đồng, phục vụ cộng đồng, phục vụ xã hội. Chủ thể QL các HĐ này phải kết hợp với Đoàn thanh niên và hội SV tổ chức để thu hút đông đảo SV tham gia, tạo thành những phong trào chung của trường. Ví dụ như các HĐ hiến máu nhân đạo, HĐ xanh- sạch – đẹp; HĐ tình nguyện mùa hè ..
Thông qua các HĐ định hướng, thực tế: Qua những HĐ như thực tập, giao lưu với các doanh nghiệp, thăm quan thực tế, tham gia phục vụ các sự kiện lớn bên ngoài nhà trường mang lại nguồn kiến thức thực tiễn cho Tại đây SV có các HĐTN nghề nghiệp như một phiên dịch viên, một nhà ngoại giao, một hướng dẫn viên du lịch… Giúp cho SV hiểu biết hơn về ngành, nghề mình lựa chọn và có thêm động lực học tập, nuôi dưỡng tình yêu gắn bó với nghề.
Thông qua hoạt động thăm quan, dã ngoại: như là hoạt động MT (membership training). Thông qua hoạt động này SV không chỉ hiểu nhau hơn, biết chia sẻ những khó khăn và những thành quả mà mình đạt được mà các em sẽ học được cách làm việc nhóm, làm việc tập thể sao cho có hiệu quả nhất. Bên cạnh đó, SV cũng có cơ hội tìm hiểu văn hóa, phong cảnh của các vùng, miền thực hiện HĐ này.
1.2. Lý luận về quản lý hoạt động trải nghiệm cho sinh viên Luận văn: Quản lý trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn.
1.2.1 Quản lý
- Khái niệm quản lý
QL là một trong những HĐ cần thiết, cơ bản cho tất cả các lĩnh vực của con người. Ở đâu con người tạo nên nhóm xã hội là ở đó cần đến sự QL, dù đó là nhóm không chính thức hay chính thức, là nhóm nhỏ hay nhóm lớn, là nhóm ban bè, nhóm gia đình, đoàn thể, tổ chức xã hội, quốc gia hay nhóm quốc gia, bất kể mục đích, nội dung hoạt động của nhóm là gì. HĐ QL mang ý nghĩa quyết đ̣inh tới sự tồn tại và thành bại của chủ thể tham gia vào các HĐ xã hội. QL đúng dẫn đến thành công, ổn đ̣inh và phát triển bền vững. Ngược lại, nếu QL sai dẫn đến thất bại, suy thoái, biến chất, tan giã và sụp đổ.
QL là vấn đề được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi xã hội, mọi quốc gia và mọi thời đại. QL chứa đựng nhiều nội dung, đa dạng và phức tạp, nó luôn vận động, biến đổi, phát triển không ngừng theo sự biến đổi của xã hội.
Thuật ngữ “Quản lý” ngày càng trở nên gần gũi nhưng vẫn chưa có một khái niệm chung nhất. Chính vì vậy QL là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học. Mỗi ngành khoa học khi tiếp cận và nghiên cứu từ cách nhìn nhận của ngành mình mà đưa ra những khái niệm khác nhau. Sau đây, tác giả xin đưa ra một số định nghĩa, khái niệm về QL:
Theo Frederick.W.Taylor (1856-1915), người đề xuất thuyết “Quản lý khoa học” cho rằng: QL là biết được điều bạn muốn người khác làm, và sau đó thấy được họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất.
Theo Mary Parker Follet (Mĩ): QL là cách thức, tổ chức, là nghệ thuật khiến công việc được thực hiện bởi người khác.
Theo nhóm tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Trọng Hậu, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Sĩ Thư: Hoạt động QL là HĐ có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL (người QL) đến khách thể QL (người bị QL) trong một tổ chức nhắm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức [20].
Theo tác giả Vũ Dũng và Nguyễn Thị Mai Lan: “QL là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó” [7, tr.52]. Luận văn: Quản lý trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn.
Những quan niệm về QL của các tác giả trên tuy có khác nhau về cách tiếp cận nhưng đều thể hiện một số điểm chung nhất về QL như sau:
QL là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể QL lên khách thể QL nhằm đạt mục tiêu chung của tổ chức.
- Bản chất của quản lý
HĐ QL dù ở lĩnh vực hoặc mức độ nào cũng là sự biểu hiện của mối quan hệ giữa con người với con người, giữa chủ thể QL (người QL) và khách thể QL (người bị QL). Con nguời là tổng hoà các mối quan hệ xã hội. Điều đó cho thấy con người không thể tồn tại và phát triển nếu không tương tác với người khác. Khi con người tương tác với nhau thì tất yếu phải có một ý chí điều khiển hay phải có yếu tố QL nếu muốn đạt được kết quả mong đợi. Ngoài ra, con người thông qua HĐ để thoả mãn nhu cầu của cá nhân tại thời điểm nào đó. Sau khi thoả mãn nhu cầu này lại phát sinh nhu cầu khác do vậy con người luôn tham gia vào nhiều hình thức, tổ chức HĐ khác nhau. Chính vì vậy, HĐ QL tồn tại như một điều hiển nhiên, một thực thể trong các tổ chức khác nhau.
- QL là dạng HĐ riêng của con người nên đây là HĐ có ý thức, mục đích rõ ràng của chủ thể QL.
Bên cạnh đó, HĐ QL bao gồm tất cả những khó khăn, phức tạp giữa các chủ thể QL. Các chủ thể QL có sự tương tác qua lại với nhau làm cho việc QL càng trở nên phức tạp và khó khăn hơn, đòi hỏi QL phải vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật. Tính khoa học của HĐ QL thể hiện ở chỗ các nguyên tắc QL, phương pháp QL và các quyết định QL phải được xây dựng trên cơ sở những tri thức, kinh nghiệm mà nhà QL có được thông qua quá trình nhận thức và TN trong thực tiễn. Tính nghệ thuật thể hiện sự vận dụng hết sức khéo léo, linh hạt và sáng tạo những tri thức, kinh nghiệm để tác động đến đố tượng QL. Mỗi con người là một nhân cách, một thế giới tâm lý phong phú và phức tạp.
Tuy nhiên hiệu quả HĐ QL lại phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức. vì vậy, cần phải lưu ý đến việc đổi mới cơ cấu tổ chức để phù hợp với hoàn cảnh và mục tiêu QL và cũng phải tuân theo các nguyên tắc nhất định.
QL nói khác đi chính là QL con người. QL con người không chỉ là một nghệ thuật mà còn là một khoa học. Khoa học thì cần phải học, học để giải quyết mọi vấn đề liên quan và phát sinh từ con người. Mọi thất bại hay thành công của tổ chức đều liên quan tới việc giải quyết mọi vấn đề liên quan tới quan hệ giữa người với người.
- Chức năng của quản lý Luận văn: Quản lý trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn.
Trong các khái niệm trên, QL thể hiện tác động của một quy trình chung tới tất cả các nhà QL và tất cả các lĩnh vực được QL. Các HĐ được thực hiện trên cơ sở kiến thức chuyên môn và kỹ năng. Các HĐ trong quá trình này là một chức năng cơ bản của quản lý. Thông qua các quy trình này, các HĐ QL, là một hình thức của lao động gián tiếp và tích hợp. HĐ này không tự tạo ra sản phẩm, mà gián tiếp tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng và hiệu quả tốt hơn bằng cách chỉ đạo, thiết kế, duy trì, phát huy và điều chỉnh vai trò. Nhà QL muốn QL tốt thì phải thực hiện tốt việc QL vì đây là một trong những vấn đề cơ bản của chức năng khoa học QL. Chức năng QL là một HĐ chuyên biệt để hình thành một quy trình QL hoàn chỉnh. Chức năng của QL tác động có chủ ý đến nhóm người mà chủ thể QL nên thực hiện ở mọi cấp độ QL với tất cả các loại QL. QL bao gồm các tính năng cơ bản sau:
- Chức năng lập kế hoạch
Lập kế hoạch là chức năng chính của QL để đưa ra quyết định về các mục tiêu cụ thể, kế hoạch thực hiện và các bước trong một khoảng thời gian cụ thể trong một hệ thống được QL. Kế hoạch bao gồm dự báo, xác định mục tiêu, xác định kế hoạch hành động và các bước phát triển nhằm đạt được mục tiêu thiết lập. Đây là bước đầu tiên trong hệ thống chức năng QL và đóng vai trò quan trọng đối với tổ chức. Kế hoạch này là cầu nối giữa hiện tại và tương lai và sẽ giúp tổ chức có khả năng đạt được kết quả mong muốn. Kế hoạch này giúp tổ chức nhận ra và tận dụng các cơ hội trong môi trường xung quanh và giúp các nhà QL đối phó với các thay đổi môi trường và dự đoán các sự kiện và xu hướng trong tương lai. Từ đó, xác định các mục tiêu và chọn một chiến lược để hiện thực hóa các mục tiêu đã đề ra. Nhờ kế hoạch này, người được QL có thể thấy họ đang ở đâu, họ cần làm gì và nếu vậy, kết quả là nhờ đó thúc đẩy sức mạnh tập thể
- Chức năng tổ chức
Một tổ chức là xác định cơ cấu chính thống về vai trò hoặc nhiệm vụ hợp pháp. Tổ chức là chức năng được thực hiện sau khi lập kế hoạch để thực hiện kế hoạch. Chức năng này là một hoạt động nhịp nhàng như một sự thống nhất, tích hợp và liên kết các bộ phận riêng lẻ thành một hệ thống. Sự phát triển của xã hội đã chứng minh rằng các tổ chức cần phải không thể thiếu đối với mọi hoạt động kinh tế xã hội. Luận văn: Quản lý trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn.
Cơ cấu tổ chức được coi là hợp lý khi tuân theo nguyên tắc thống nhất của mục tiêu và mỗi cá nhân đóng góp vào mục tiêu chung của hệ thống.
Kết quả của chức năng tổ chức phụ thuộc nhiều vào yếu tố năng lực và tổ chức của chủ thể QL.
- Chức năng chỉ đạo
Chỉ đạo là một HĐ sử dụng các kỹ năng QL của QL để tác động đến hành vi của QL một cách có chủ ý và nhiệt tình để đạt được các mục tiêu chung của tổ chức.
Nội dung của chức năng chỉ đạo là người được QL phải đưa ra quyết định và việc thực hiện quyết định đó. Để làm tốt điều này người QL cần hiểu nhân viên trong tổ chức của họ để họ có thể đưa ra quyết định quản lý đúng đắn. Trước khi có tình huống phát sinh, phải có một tầm nhìn chiến lược để đưa ra dự đoán và kế hoạch để đối phó với nó. Người QL cần xác định các yếu tố thúc đẩy người được QL mong muốn đóng góp có hiệu quả cho hệ thống.
Do đó, chức năng định hướng là chức năng QL cho phép các nhà QL ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến mục tiêu của QL, để thực hiện kế hoạch cho kết quả tốt nhất.
- Chức năng kiểm tra
Kiểm tra nhằm đánh giá hiệu suất của hệ thống, bao gồm đo lường các lỗi xảy ra trong quy trình HĐ và là một chức năng liên quan đến tất cả các cấp QL dựa trên các mục tiêu và kế hoạch. Kế hoạch hướng dẫn việc sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu và đảm bảo rằng nó HĐ theo mục tiêu và kế hoạch. Nó cũng là một quá trình tự điều chỉnh của tổ chức. Đây cũng là một tính năng quan trọng để đánh giá hiệu quả QL của nhà QL. Điều này ứng với kết quả của các HĐ của QL và dự đoán kết quả có thể xảy ra. Luận văn: Quản lý trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn.
HĐ này được thực hiện bởi một người, một nhóm người hay một tổ chức theo dõi, kiểm tra và giám sát kết quả của HĐ, đảm bảo rằng kế hoạch được thực hiện với hiệu quả cao để thực hiện các quyền hạn của QL. Dẫn dắt và giúp đỡ các tổ chức theo dõi và ứng phó với hoàn cảnh thay đổi.
Để chức năng kiểm tra đạt được kết quả tốt nhất, việc kiểm tra phải được lên kế hoạch, đồng bộ hóa, công khai, chính xác, khách quan và phù hợp với tổ chức và con người của tổ chức.
Ngoài ra, kiểm tra phải tập trung vào các mối quan hệ, các lĩnh vực thiết yếu có tác động đáng kể đến sự tồn tại và phát triển của tổ chức.
Các bước chức năng kiểm tra bao gồm: Thiết lập hệ thống tiêu chuẩn kiểm tra; Đo lường và đánh giá hiệu suất hợp đồng và điều chỉnh hợp đồng cho phù hợp.
Có nhiều hình thức kiểm tra khác nhau. Khi xem xét quá trình kiểm tra thì có: kiểm tra trước, kiểm tra đồng thời hoặc nhận phản hồi. Khi xét ở mức độ chung của nội dung kiểm tra thì có các hình thức kiểm tra toàn diện, kiểm tra bộ phận hoặc kiểm tra cá nhân. Còn khi xét ở tần số kiểm tra thì có các kiểm tra không thường xuyên, thường xuyên hoặc liên tục.
Tóm lại, chức năng kiểm tra là yêu cầu cơ bản để hoàn thành các quyết định QL.
Đây là chức năng cuối cùng và quan trọng của quy trình QL cho tất cả hệ Bốn chức năng QL trên tạo thành một thể thống nhất, quan hệ chặt chẽ, không chức năng là quan trọng hơn hay ít quan trọng hơn chức năng nào.
1.2.2 Quản lý giáo dục
GD là một HĐ xã hội đặc biệt, quyết đ̣inh đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Ngay từ khi đất nước được độc lập, Đảng và Nhà nước ta đã luôn dành sự quan tâm đặc biệt dành cho ngành GD và coi “GDục là quốc sách hàng đầu”. Vì vậy đòi hỏi việc QL GD phải đi trước một bước để xây dựng một nền GD VN tiên tiến và hội nhập với nền GD tiên tiến trên thế giới đang không ngừng phát triển.
QL GD là việc thực hiện các chức năng tổ chức QL GD trong GD để đạt được các mục tiêu GD. Đây là tác động có ý thức đối với đối tượng được QL để tối đa hóa các nguồn lực của hệ thống GD, các nguồn lực của cấu trúc GD giúp các HĐ GD đạt được các mục tiêu GD chất lượng và hiệu quả.
Theo nhóm tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Trọng Hậu, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Sĩ Thư: QL GD là hoạt động có ý thức bằng cách vận dụng các quy luật khách quan của các cấp QL GD tác động đến toàn bộ hệ thống GD nhằm làm cho hệ thống đạt được mục tiêu của nó. [20]
Trong thời đại “GD cho mọi người” như hiện nay, mục tiêu của GD là cụ thể hoá việc nâng cao dân trí, ĐT nhân lực, nhân tài. Mục đích của QL GD là các HĐ liên quan đến QL giáo viên, học sinh, sinh viên, cơ sở hạ tầng, thiết bị GD và việc thực hiện các chức năng GD.
QL GD là tác động có ảnh hưởng hệ thống, có chủ ý và có ý thức, mục đích của nó được thực hiện tới tất cả các liên kết của toàn hệ thống để đảm bảo sự hình thành nhân cách của thế hệ trẻ.
1.2.3 Quản lý hoạt động trải nghiệm cho sinh viên Luận văn: Quản lý trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn.
- Khái niệm
QL các HĐTN là HĐ có ý thức nhằm thực hiện những tác động tích cực của chủ thể QL tới mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp và các hình thức tổ chức HĐTN để sử dụng hiệu quả những nguồn lực giúp cho các HĐTN có được chất lượng HĐ đạt hiệu quả giúp SV mở rộng kiến thức, trang bị các kỹ năng và tự tin để tham gia vào thị trường lao động sau khi tốt nghiệp.
- Nội dung quản lý hoạt động trải nghiệm cho sinh viên
Theo cách tiếp cận chức năng QL HĐTN và nội dung HĐTN cho SV gồm các nội dung sau:
- Lập kế hoạch các HĐTN cho SV
Trong QL kế hoạch thì QL mục tiêu HĐTN là rất quan trọng, bao gồm việc xây dựng và tổ chức thực hiện mục tiêu của các HĐ này một cách đầy đủ, toàn diện, cân đối với cả 3 yêu cầu về kiến thức, kĩ năng và thái độ trên cơ sở quán triệt nguyên lí GD, đổi mới phương pháp – hình thức GD, bảo đảm các yêu cầu GD toàn diện nhưng thiết thực và có trọng tâm, nâng cao chất lượng GD.
Để thiết lập mục tiêu không chung chung, lí thuyết thì người QL phải dựa vào mục tiêu chương trình giảng dạy, yêu cầu của nhà trường về chất lượng học tập, phát triển nhân cách và thể chất của SV do mình QL.
Nhiệm vụ phải đưa vào kế hoạch và tổ chức thực hiện. Nhà trường càng tổ chức nhiều HĐTN thì SV và GV càng có nhiều cơ hội tích lũy vốn sống, trình độ thể hiện trong các lĩnh vực: kiến thức, kỹ năng và thái độ. Nhưng để tổ chức các HĐ hợp lý và tránh chồng chéo, hỗ trợ nhau thì người QL phải dành thời gian lên kế hoạch HĐ từ đầu năm học.
Tóm lại, HĐTN ở nhà trường càng QL chặt chẽ về mục tiêu thì chất lượng và kết quả càng hiệu quả.
- QL việc xây dựng nội dung, chương trình HĐTN cho SV Luận văn: Quản lý trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn.
Để QL tốt nội dung và chương trình HĐTN chủ thể QL cần nắm vững yêu cầu của chuyên ngành ĐT, có nhận thức đúng đắn về vai trò của các HĐTN đối với việc đảm bảo chất lượng GD, từ đó chỉ đạo sao cho chương trình HĐTN không bị coi là HĐ phụ, bị cắt xén hay làm cho có, mà phải được thực hiện đầy đủ, toàn diện và bài bản. Nội dung phải được thực hiện phù hợp với chương trình ĐT nhằm đảm bảo theo sát nội dung giảng dạy và mở rộng kiến thức dựa trên các hình thức HĐ khác nhau để SV thấy được lợi ích thiết thực khi tham gia các HĐTN. Từ đó SV sẽ hứng thú học tập hơn, yêu thích ngành học của mình hơn. Việc chỉ đạo chương trình và nội dung GD phải đảm bảo tính nguyên tắc, tính hệ thống nhưng cũng phải linh hoạt, sáng tạo, tránh máy móc, giáo điều khiến SV cảm thấy việc tham gia HĐTN như việc lên lớp thứ hai.
Bên cạnh các nội dung giúp bổ sung kiến thức và các kỹ năng, các HĐTN còn có nội dung GD tư tưởng, đạo đức. Điều này rất quan trọng vì trong tương lai SV tốt nghiệp và đi làm thì cũng cần có đạo đức nghề nghiệp, có lý tưởng sống biết chia sẻ với những người xung quanh, với xã hội và có tư tưởng chính trị vững vàng để trở thành những người lao động có ích trong xã hội.
- Chủ thể QL HĐTN phải có nội dung để đảm bảo những yêu cầu sau:
Có tính chính xác: Tri thức truyền đạt phải có độ tin cậy cao, nếu là trích dẫn phải nắm rõ nguồn gốc, xuất xứ, gọi tên đúng bản chất sự vật, hiện tượng.
Có tính khoa học: Các HĐTN đưa ra phải có quy luật HĐ, có căn cứ logic, có tính ứng dụng và sự kế thừa và tiếp nối. Có tính khoa học nên yêu cầu phải học, học để tiếp thu kiến thức.
Có tính ứng dụng: SV tham gia HĐTN là dựa trên sự hứng thú và tính tự nguyện, do đó GV tổ chức cần chú ý để các em được thực hành, tránh mang nặng tính “sách vở”. Cần lựa chọn những chủ đề, nội dung thích hợp cho phát triển tư duy ứng dụng, sáng tạo của sinh viên, giúp các em vận dụng kiến thức vào đời sống thực tế.
- QL việc tổ chức các HĐTN
Chủ thể QL các HĐTN muốn tổ chức tốt các HĐ này cần phải nắm vững nội dung và đối tượng các HĐ để từ đó đưa ra hình thức tổ chức phù hợp, nhằm mục đích mở rộng khả năng thu hút nhiều nhất SV vào các HĐ tập thể, cho các em có nhiều cơ hội bày tỏ những suy nghĩ, những hiểu biết của mình. Luận văn: Quản lý trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn.
Với hình thức HĐ theo CLB diễn ra trong một thời gian dài, chủ thể QL khi tổ chức HĐ cần duy trì tính bền vững của HĐ để đảm bảo HĐ được tổ chức theo đúng định kỳ, xuyên suốt năm học và từ năm học này sang các năm học sau. Do vậy, nội dung của HĐ phải phong phú, tránh đơn điệu, trùng lặp nhằm thu hút nhiều SV tham gia.
Bên cạnh đó thời gian tổ chức cũng rất quan trọng. Hiện nay, SV ngày càng năng động, các em tham gia vào nhiều hoạt động khác nhau. Để tổ chức HĐ vào thời gian thích hợp cũng sẽ thu hút được nhiều SV tham gia hơn. Ngoài ra, với sự ra đời của nhiều trang mạng xã hội thì càng cần dựa vào nội dung để có thể lựa chọn cách thức hoạt động phù hợp. Các thành viên có thể gặp gỡ trực tiếp hoặc trao đổi qua mạng.
Trong các hình thức CLB thì chủ thể QL điều động GV có khả năng phù hợp để định hướng, theo dõi chứ không nhất thiết phải trực tiếp đứng ra tổ chức các HĐ. SV sẽ chủ động tổ chức các HĐ theo các chủ đề đã được thống nhất cho SV thấy được vai trò, trách nhiệm của mình trong việc duy trì HĐ sẽ chủ động sáng tạo và tự tin hơn trong HĐ. Tuy vậy cũng cần có một số yêu cầu nhất định đối với SV khi tham gia vào CLB:
Phải có sở thích và có ít nhiều sở trường về một bộ môn để các em tham gia một cách say mê và dùng sở trường của mình để hiểu và vận dụng được vào thực tế.
Phải có trình độ, năng lực từ mức trung bình khá trở lên nếu tham gia các CLB có tính chuyên môn như CLB Nói giỏi tiếng Hàn, CLB Dịch… tránh trường hợp những SV yếu kém khi tham gia không theo kịp khiến SV khá, giỏi bị mất hứng thú, chán nản dần dẫn đến bỏ không tham gia HĐ này nữa.
Phải có tinh thần tìm tòi, ham học hỏi: Tinh thần ham học hỏi, mong được giao lưu, chia sẻ kiến thức sẽ giúp SV tiến bộ nhanh hơn. Khi các thành viên trong CLB có sự tiến bộ trong học tập, kỹ năng sẽ làm cho các SV chưa tham gia CLB thấy được lợi ích khi tham gia CLB và mong muốn tham gia vào các HĐ này. Luận văn: Quản lý trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn.
Khi tổ chức các CLB thì nhà QL, GV phụ trách cần đưa ra nội dung và hình thức HĐ phù hợp, từ đơn giản đến phức tạp; cách thức HĐ, thời gian và địa điểm có thể linh hoạt để thu hút được nhiều SV tham gia hơn.
Với các HĐTN có tính chất quần chúng SV có điều kiện để giao lưu với tập thể ở mức độ rộng hơn. Nhà QL cũng như người tổ chức phải nghiên cứu sao cho có những hình thức hợp lý, phù hợp với lứa tuổi, đặc điểm tâm sinh lý của sinh viên, giúp các em phát triển tốt các kỹ năng ứng xử và có tác dụng GD tư tưởng tình cảm. Muốn vậy cần lưu ý:
SV luôn thích những điều mới lạ, hấp dẫn vì vậy khi tổ chức loại hình này nên tổ chức kết hợp nhiều hình thức để tạo sự thoải mái, hấp dẫn cho người tiếp nhận.
Hình thức HĐ này thường diễn ra trong thời gian ngắn, cần huy động và thu hút SV nhanh nên nội dung đưa ra phải cô đọng, dễ hiểu, mang tính GD nhưng cũng phải mang tính giải trí cao, phù hợp với hầu hết SV. Dù chủ thể QL muốn tuyên truyền GD gì thì cũng cần gắn liền với đời sống SV để các nội dung mang tính thuyết phục và gần gũi hơn. Như vậy SV cũng dễ tiếp nhận và hưởng ứng cho các HĐ này.
Trong việc QL cách thức, phương pháp và hình thức tổ chức GD, HĐTN người QL lưu ý GV sử dụng phối hợp các phương pháp và hình thức tổ chức để các HĐ này mạng lại hiệu quả và chất lượng tốt nhất. Người QL đưa ra các mô hình, phương pháp tổ chức có hiệu quả; tuyên truyền, nhân rộng các mô hình, phương pháp và thường xuyên xem xét, tham dự và đánh giá chúng.
Trong QL nội dung, phương pháp và các hình thức tổ chức các HĐ GD, HĐTN cần dựa trên các nguyên tắc GD như đảm bảo tính phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, tôn trọng cá nhân SV. Song song HĐ đó luôn duy trì có sự gắn kết giữa SV – nhà trường – xã hội, sự thống nhất giữa ý thức và hành động, từ đó kết hợp nhịp nhàng vai trò hướng dẫn, chỉ đạo của GV với vai trò tích cực, chủ động của SV để chất lượng tổ chức các HĐ ngày càng được nâng cao và đi vào cuộc sống.
- Quản lý việc kiểm tra, đánh giá các HĐTN Luận văn: Quản lý trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn.
Để biết được hiệu quả HĐ của các HĐTN, chủ thể QL các HĐ này phải kiểm tra đánh giá quá trình thực hiện và kết quả đạt được so với chuẩn và mục tiêu đã đề ra.
Nhà QL tiến hành các bước để xây dựng hệ thống kiểm tra và tiêu chuẩn đo lường để có cơ sở đánh giá việc tổ chức các HĐTN. Nếu kết quả tốt thì cần được quảng bá và nhân rộng. Ngược lại nếu có HĐ còn chưa tốt, chưa thu hút được SV thì nhà QL phải xem xét lại mục tiêu, chương trình, hình thức hay nội dung để điều chỉnh cho phù hợp.
Để chức năng kiểm tra hoạt động tốt cần thực hiện theo kế hoạch. Kế hoạch đảm bảo tính đồng bộ, công khai, chính xác và khách quan, phù hợp với tổ chức và con người của tổ chức. Thêm vào đó, việc kiểm tra phải tập trung vào những lĩnh vực HĐ chính, những mối quan hệ có tác động đến sự hiện diện và phát triển của tổ chức.
Các bước của quá trình kiểm tra gồm: Xây dựng hệ thống các tiêu chuẩn kiểm tra, đo lường và đánh giá việc thực hiện các HĐ từ đó tiến hành điều chỉnh các HĐ cho phù hợp.
Các hình thức kiểm tra rất đa dạng. Nếu xét theo quá trình HĐ kiểm tra: có kiểm tra trước, đồng thời hay phản hồi; Nếu xét theo mức độ kiểm tra nội dung chung: có kiểm tra toàn diện, kiểm tra bộ phận hay kiểm tra cá nhân; Còn nếu xét theo tần suất các cuộc kiểm tra: có kiểm tra thường xuyên, không thường xuyên hay bất chợt.
Để khuyến khích, động viên GV và SV thực hiện tốt các HĐTN, các hình thức đánh giá kiểm tra phải được thực hiện liên tục. QL chất lượng của HĐTN phải dựa trên các nội dung đánh giá kết quả các HĐ. SV và cán bộ GV được tích lũy về kiến thức, làm chủ được kỹ năng và xác định được thái độ tích cực đối với các HĐTN, ngành ĐT. Đạt được các nội dung này giúp SV tự tin tham gia vào thị trường lao động, dễ dàng hòa nhập và trở thành những công dân toàn cầu.
Bên cạnh cách tiếp cận chức năng QL HĐTN thì nội dung các HĐTN cho SV phải được đưa ra phù hợp với SV mà cụ thể ở đây là SV học tiếng Hàn Quốc. Mọi HĐTN phải giúp cho SV có các cơ hội để trau dồi kiến thức đã được học trong giờ chính khóa, có khả năng để mở rộng vốn từ vựng, phát triển kỹ năng nghe, nói, đọc, viết và kỹ năng dịch…
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý hoạt động trải nghiệm cho sinh viên Luận văn: Quản lý trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn.
1.3.1 Nhận thức của các cán bộ quản lý giáo dục trường đại học
- Hiệu trưởng:
Hiệu trưởng là người QL cấp cao nhất của một cơ sở GD, là người nắm vững các chủ trương, chính sách của ngành GD. Một hiệu trưởng thành công là người hiệu trưởng luôn coi người học là trung tâm, là thứ tự ưu tiên số 1. Mọi sự kỳ vọng và HĐ của hiệu trưởng là vì sự phát triển của nhà trường, vì SV.
Một trong những nội dung để cải thiện quá trình học tập và trưởng thành của SV chính là HĐTN. Để các HĐTN được thực hiện và có số lượng SV tham gia đông phụ thuộc nhiều vào các quyết định của người hiệu trưởng. Người hiệu trưởng có cái nhìn đúng đắn về HĐTN sẽ đưa ra những quyết định và đường hướng chỉ đạo vì mọi điều tốt đẹp cho SV. Tất cả vì SV, hiệu trưởng sẽ đưa ra những quyết định đúng đắn khi ra quy định, lập kế hoạch và mức hỗ trợ tài chính phù hợp, chỉ đạo thực hiện dựa vào nguồn lực sẵn có của trường. Bên cạnh đó, tiến hành kiểm tra, đánh giá những tác động do môi trường bên ngoài ảnh hưởng tới SV trong các HĐTN. Ngoài ra, hiệu trưởng cũng đánh giá được việc xây dựng hình ảnh của nhà trường thông qua các HĐTN này. Một trong các tiêu chí mà xã hội hiện nay đánh giá một trường học có năng động hay không thông qua các HĐTN mà SV trường đó được TN. Ở vị trí lãnh đạo cao nhất, người hiệu trưởng còn có vai trò nâng cao nhận thức của những người QL cấp dưới về các HĐTN, phá vỡ các trở ngại để tất cả vì sự phát triển của SV đạt được kết quả tốt nhất.
- Ban chủ nhiệm khoa:
Cấp QL dưới hiệu trưởng là BCN khoa, lãnh đạo cấp khoa, cụ thể là trưởng khoa. Trưởng khoa là người lãnh đạo trực tiếp các GV, Đoàn Hội ở cấp khoa. Nếu lãnh đạo cấp khoa nhận thấy tầm quan trọng của HĐTN đối với SV thì họ sẽ có kế hoạch thực hiện và sắp xếp nhân sự hợp lý và tạo điều kiện cho các HĐTN này được thực hiện tốt nhất. Cũng như có kế hoạch bồi dưỡng cho cán bộ GV những kỹ năng phục vụ cho các HĐTN đạt được tốt nhất. Với sự kỳ vọng và mong muốn tất cả vì SV người trưởng khoa sẽ có kế hoạch tốt nhất trong các bước: xây dựng kế hoạch, xác định mục tiêu, nội dung HĐ, triển khai thực hiện và phương án kiểm tra, đánh giá nhằm nâng cao chất lượng HĐTN.
1.3.2 Nhận thức của đội ngũ giảng viên Luận văn: Quản lý trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn.
GV là cán bộ giảng dạy các môn học có trong chương trình và cũng chính là người QL và đưa ra các tình huống trong các HĐTN để SV áp dụng kiến thức, những sở trường, năng khiếu của bản thân vào trong các HĐTN. GV là người giúp SV biết và hiểu được ý nghĩa, mục tiêu của HĐTN. Các HĐ này cho SV nhận ra được năng lực đặc biệt của bản thân giúp cho các em dễ dàng nắm bắt cơ hội để phát triển sở trường của mình. Bên cạnh đó cũng phát hiện ra những nhân tài cần được bồi dưỡng theo chủ trương của Đảng và Nhà nước: nâng cao dân trí, phát triển nhân tài cho đất nước.
GV là những người gần nhất với SV nên sẽ ảnh hưởng lớn đến SV. Người GV nhận thức đúng đắn về HĐTN sẽ vì SV mà truyền cảm hứng và hướng dẫn, tạo cơ hội cho SV được phát huy tối đa tính tích cực, chủ động, sáng tạo của bản thân mình. Bên cạnh đó, hướng cho SV đến những HĐ có ích cho xã hội, cho cộng đồng giúp các em hoàn thiện hơn về kỹ năng và nhân cách.
1.3.3 Nhận thức của sinh viên
SV là những người học tuổi đời còn rất trẻ, giàu nhiệt huyết và đam mê theo đuổi ước mơ và hoài bão của mình. Để các HĐTN đạt được thành công thì sự tham gia của SV là yếu tố quyết định. Trong các HĐ nếu chỉ có hiệu trưởng, BCN khoa hay lực lượng GV có nhận thức đúng đắn về vai trò và tác dụng của HĐTN nhưng nếu SV không tham gia hoặc tham gia một cách hời hợt, chống đối, thiếu trách nhiệm thì những HĐ này chỉ mang tính hình thức mà không thể có chất lượng được.
Vậy để SV tham gia tích cực và lâu dài các HĐTN này bản thân SV sẽ phải nhận thức thật rõ về giá trị của các HĐ này. Trước khi SV đăng ký tham gia HĐTN các em cần phải biết được nhu cầu, nguyện vọng hay năng lực sở trường của mình là gì để lựa chọn HĐ cho phù hợp. Các HĐTN khi tổ chức đã dựa trên một số năng lực và HĐ chủ yếu của SV. Khi SV xác định được mục tiêu tham gia HĐ này để làm gì và sẽ nhận được ích lợi gì thì SV sẽ chủ động, tích cực ngay. Những SV này chính là người truyền cảm hứng cho các SV khác cùng tham gia. Tuy vậy cũng có nhiều SV tham gia chỉ vì adua theo bạn, theo phong trào, thấy bạn đăng ký thì mình cũng đăng ký. Với những SV này GV cần khuyến khích, động viên các em tham gia và chỉ rõ cho các em thấy được những lợi ích mà các em nhận được để các em chủ động và tích cực tham gia. Ngoài ra GV cũng cần hướng dẫn những SV tích cực khác quan tâm, giúp đỡ những SV này tự tin đóng góp cho HĐ chung
1.3.4 Sự phối hợp giữa các thành viên và tổ chức đoàn thể
Để QL tốt các HĐTN này tại trường ĐH cho SV đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các cá nhân, các tổ chức đoàn thể trong nhà trường để tạo nên sự thống nhất chung và tạo sức mạnh đoàn kết. Người QL cần phải sử dụng tốt đội ngũ cốt cán của đơn vị mình tạo thành bộ máy QL hoàn chỉnh HĐ có hiệu quả. Coi trọng vai trò của Đoàn, Hội tạo sự chuyển biến tích cự về QL HĐTN. Đây chính là một trong những yếu tố không thể không nhắc đến.
1.3.5 Nội dung và hình thức tổ chức hoạt động Luận văn: Quản lý trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn.
Một trong những yếu tố ảnh hưởng đến việc SV có hứng thú tham gia hay không đó là do hình thức tổ chức và nội dung của các HĐ này. Tuy nhiên các HĐ này cần phải tổ chức sao cho HĐ mang tính thực tiễn gắn liền với cuộc sống,với nhu cầu thực tế của SV và tạo hứng thú cho SV tham gia. Nếu như một chương trình HĐ nào đó tổ chức ra mà có nội dung tẻ nhạt thì khó có thể lôi kéo được SV tham gia và tham gia lâu dài.Vì vậy, hình thức tổ chức và nội dung của các HĐ này cũng đóng một vai trò khá quan trọng. Đây là yếu tố dẫn đến quyết định của SV tham gia tích cực và tham gia lâu dài.
1.3.6 Thời gian tổ chức các hoạt động
Yếu tố thời gian cũng là một yếu tố ảnh hưởng rất nhiều đến các HĐ ngoại khoá. Nếu tổ chức một HĐTN mà đúng vào thời gian toàn thể SV phải tham gia học tập trên lớp hay vào thời gian thi, cử thì như vậy chắc chắn không có hoặc rất ít SV tham gia được.
Vậy nên để tổ chức được một chương trình mà thu hút được nhiều SV tham gia đòi hỏi người phụ trách phải tìm hiểu trước thời gian tổ chức là khi nào thì phù hợp là yếu tố đầu tiên phải lưu ý.
1.3.7 Điều kiện tài chính, cơ sở vật chất, trang thiết bị
Mặc dù yếu tố tài chính và cơ sở vật chất, trang thiết bị không phải là yếu tố quyết định chính trong các HĐTN tại trường ĐH tuy nhiên lại là yếu tố ảnh hưởng nhiều đến chất lượng của các HĐ này.
HĐ mà lúc nào cũng phải nghĩ về yếu tố tài chính nhiều khi dẫn đến việc chỉ HĐ có hình thức chứ không dám nghĩ đến thay đổi hình thức, thay đổi cách làm sao cho HĐ đạt được kết quả tốt nhất. Tương tự như vậy, HĐ mà tổ chức ở một cơ sở hạ tầng thiếu thốn không đủ máy móc hỗ trợ như máy chiếu, loa đài… không gian thì chật hẹp thì chất lượng của các HĐ chắc chắn sẽ ảnh hưởng. Vì vậy, yếu tố tài chính hay cơ sở hạ tầng của đơn vị tổ chức các HĐ cũng là một vấn đề mà người QL cần phải quan tâm.
TIỂU KẾT CHƯƠNG Luận văn: Quản lý trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn.
Trên cơ sở nghiên cứu về một số vấn đề lý luận HĐTN, tác giả cho rằng: QL HĐTN cho SV ĐH chính là HĐ có ý thức nhằm thực hiện những tác động tích cực của chủ thể QL tới mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp và các hình thức tổ chức HĐTN để sử dụng hiệu quả những nguồn lực giúp cho các HĐTN có được chất lượng HĐ đạt hiệu quả giúp SV mở rộng kiến thức, trang bị các kỹ năng và tự tin để tham gia vào thị trường lao động sau khi tốt nghiệp.
Để QL HĐTN ở trường ĐH đạt kết quả tốt thì người QL cần phải quan tâm đến các yếu tố của quá trình HĐTN cũng như nội dung của HĐTN. Để tổ chức tốt và duy trì được các HĐTN ở ĐH thì từ hiệu trưởng đến các nhà QL cấp dưới hay đến GV trực tiếp QL và hướng dẫn đến bản thân SV đều phải nhận thức được tầm quan trọng to lớn của HĐTN đối với sự phát triển tích cực của từng SV, từng GV nói riêng cũng như của nhà trường nói chung. Khi tất cả SV, GV và các nhà QL đều nhận rõ vai trò và ý nghĩa của HĐTN thì hiệu trưởng sẽ có những chỉ đạo đúng đắn để hỗ trợ cho các HĐ, người GV sẽ có phương pháp làm bùng lên niềm đam mê, sự hứng thú của SV tích cực, chủ động tham gia các HĐ. Các em sẽ coi đây là những cơ hội quý báu để ghi nhớ kiến thức, phát triển kỹ năng và hoàn thiện nhân cách. Qua đó nhà trường sẽ nâng cao được chất lượng đầu ra các sản phẩm GD, đảm bảo thực hiện tốt chủ trương chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về phát triển GD toàn diện. SV sẽ tự tin và nhanh chóng thích nghi với môi trường thực tế và nhiệt tình đóng góp trí tuệ và tài năng của bản thân cho sự phát triển của xã hội, của đất nước. Luận văn: Quản lý trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng QL trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: Quản lý trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn […]