Luận văn: Thực trạng QL trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng QL trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn Quốc, trường Đại học Hà Nội dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát chung về khảo sát thực trạng

Để nghiên cứu thực trạng về các HĐTN cho SV khoa tiếng HQ tại trường ĐHHN , tác giả đã tiến hành KS để làm rõ các vấn đề sau:

2.1.1 Mục đích khảo sát

Với mục đích giúp tác giả có những số liệu nghiên cứu một cách khách quan và chính xác tác giả đã tiến hành KS ý kiến của các đối tượng liên quan về vấn đề QL HĐTN cho SV khoa tiếng HQ, trường ĐHHN .

2.1.2 Đối tương khảo sát

Để tìm hiểu thực trạng vấn đề nghiên cứu, tác giả thực hiện KS 120 SV và 23 cán bộ GV tại khoa và cán bộ QL cấp Nhà trường, BCN khoa, Trưởng bộ môn, các GV chủ nhiệm để thu thập số liệu nhằm làm rõ kết quả nghiên cứu của đề tài.

2.1.3 Nội dung khảo sát

Tác giả luận văn sử dụng ba bảng hỏi ứng với 03 đối tượng: cán bộ QL; cán bộ GV tại khoa và SV trong khoa tiếng HQ.

Có thể mô tả chi tiết từng mẫu nghiên cứu như sau:

  • Mẫu 1: Dành cho cán bộ QL cấp trường, BCN khoa, Tổ bộ môn và chủ nhiệm gồm 7 câu hỏi.

Từ câu 1 đến câu 4: là câu hỏi có các mức độ khác nhau và người trả lời chỉ được chọn một mức độ. Dựa vào những lựa chọn này tác giả sẽ biết được tác dụng, mức độ cần thiết của HĐTN đối với SV, mức độ ảnh hưởng của các yếu tố.

Từ câu 5 đến câu 7 cho thấy để HĐTN của SV đạt kết quả tốt thì những giải pháp nào là cần thiết.

  • Mẫu 2: Dành cho cán bộ GV trong khoa, KS gồm 8 câu hỏi.

Cũng giống như mẫu 1 dành cho cán bộ QL, phiếu KS này dành cho đối tượng là GV, từ KS này tác giả sẽ đánh giá được thực trạng của HĐTN của SV Mẫu 3: Dành cho SV, nội dung bảng KS gồm 10 câu hỏi

Câu 1: câu hỏi có nhiều lựa chọn, tác giả muốn KS xem nhận thức của SV hiểu thế nào là HĐTN.

Từ câu 2 đến câu 4: KS mức độ tham gia của SV ở cảc HĐ này.

Từ câu 5 đến câu 9: có các mức độ khác nhau và người trả lời chỉ được chọn một mức độ. Từ những câu trả lời này nhấn mạnh đến nội dung của câu hỏi. Từ đó tác giả đánh giá được mức độ phù hợp của thời gian, địa điểm, nội dung, cách thức tổ chức, chất lượng của HĐ và đánh giá được mức độ ảnh hưởng của các yếu tố.

2.1.4 Thời gian và địa điểm KS

  • Từ tháng 4 năm 2025 tại khoa tiếng HQ, trường ĐHHN

2.2. Giới thiệu chung về trường Đại học Hà Nội Luận văn: Thực trạng QL trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn.

Trường ĐHHN ngày nay, tên cũ là trường ĐH Ngoại ngữ, được thành lập theo Nghị định số 376/NĐ – BGD do Thứ trưởng Bộ GD Nguyễn Khánh Toàn ký ngày 16 tháng 7 năm 1959 với nội dung: “Nay thành lập Trường Ngoại ngữ thuộc Bộ với nhiệm vụ đào tạo những phiên dịch và GV sinh ngữ để cung cấp cho nhu cầu cần thiết của các ngành và bản thân Ngành GD”. Với nhiệm vụ ban đầu được giao đến nay trải qua 60 năm xây dựng và phát triển, trường ĐHHN đã và đang từng bước khẳng định vị thế là trường ĐH công lập uy tín đào tạo ngoại ngữ ở cả ba cấp độ: Cử nhân, Thạc sĩ, Tiến sĩ. Đây cũng là trường ĐH đầu tiên của VN ĐT chính quy 08 chương trình cử nhân chuyên ngành hoàn toàn bằng tiếng Anh và 01 chương trình ĐT bằng tiếng Pháp. Đến ngày 15 tháng 9 năm 2012, trường được đổi tên chính thức thành ĐHHN như ngày nay.

Ngay từ thời gian mới thành lập, nhà trường đã luôn quan tâm đẩy mạnh các HĐTN để SV có nhiều cơ hội được tiếp xúc với ngoại ngữ. Trong cuốn ĐHHN 50 năm xây dựng và phát triển 1959 – 2015 có ghi lại các HĐTN lúc đó như: giao lưu trao đổi bởi các lớp kết nghĩa “đi sứ”, hay chương trình phát thanh “kể chuyện đêm khuya bằng ngoại ngữ”[31] .

Đến nay được sự ủng hộ và chỉ đạo của Ban giám hiệu nhà trường, Đoàn thanh niên, Hội sinh viên và các đơn vị vẫn kết hợp duy trì và đẩy mạnh các HĐTN cho SV. Nhà trường đánh giá các HĐTN là những hoạt động bổ ích, thiết thực giúp các em mở rộng và nâng cao kiến thức, hoàn thiện kỹ năng giúp SV nhanh chóng hòa nhập vào thị trường lao động ngày càng khắt khe. Hàng năm Đoàn thanh niên – Hội SV vẫn tích cực thực hiện các HĐ như: HĐ Tình nguyện Mùa hè xanh, Mùa đông ấm, hiến máu nhân đạo… hướng SV có cơ hội sẻ chia, đóng góp sức lực của bản thân cho cộng đồng. Bên cạnh các hoạt động thường niên thì nhà trường còn có những HĐ mang tầm quốc gia và quốc tế như: tham gia tình nguyện viên hướng dẫn du lịch phố cổ cho khách du lịch nước ngoài do Thành đoàn tổ chức, Hội nghị Bộ trưởng Thương mại APEC, Hội nghị thượng đỉnh Mỹ – Triều; tham gia tích cực vào các cuộc thi văn nghệ, thể thao, hùng biện bằng các thứ tiếng trong nước và quốc tế. Nhà trường luôn ủng hộ và tạo điều kiện cho các câu lạc bộ do SV thành lập như: HanuTimes (kênh thông tin SV trường ĐHHN), DEL HANU (CLB phát triển năng lực lãnh đạo hiệu quả), Dynamic HANU (CLB kinh doanh và khởi nghiệp), CLB HAC (CLB kế toán), HGC (CLB Guitar), CLB HMC (CLB âm nhạc), CLB tình nguyện… Luận văn: Thực trạng QL trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn.

2.3. Giới thiệu về khoa tiếng Hàn Quốc

Trong kế hoạch mở rộng quy mô ĐT và đáp ứng hội nhập quốc tế ngày một mạnh mẽ, năm 2002 ĐHHN đã thành lập khoa tiếng HQ. Sau gần 20 năm hình thành và phát triển, khoa tiếng HQ đã và đang khẳng định được vị thế là cơ sở đào tạo tiếng HQ bậc ĐH có quy mô lớn tại khu vực phía Bắc tại VN với chỉ tiêu xét tuyển đầu vào hàng năm là 150 chỉ tiêu. Điều này có được là nhờ đội ngũ cán bộ và GV của khoa. Hiện tại, lực lượng cán bộ GV người VN đang làm việc tại khoa hiện có 2 tiến sĩ, 14 thạc sĩ được đào tạo các chuyên ngành ngôn ngữ HQ. Ngoài ra có một số lượng khá đông cán bộ GV chuyên gia và tình nguyện viên người HQ có trình độ chuyên môn đang giảng dạy, giúp sức tại khoa.

Cơ cấu tổ chức của khoa gồm BCN khoa và 4 tổ bộ môn (tổ Thực hành tiếng, tổ Lý thuyết tiếng, tổ Thực hành dịch và tổ Vãn hóa, vãn minh và các môn chuyên đề).

Từ khi được thành lập, khoa tiếng HQ luôn nhận được sự quan tâm của nhà trường, các phòng – khoa – ban chức năng. Bên cạnh đó không thể không kể tới sự hỗ trợ vật chất từ Đại sứ quán HQ tại HN cũng như sự ủng hộ của các tổ chức, doanh nghiệp, cơ quan HQ tại VN. Từ đó, khoa tiếng HQ đã khẳng định được vai trò, vị thế và năng lực đào tạo, QL của mình.

Ngôn ngữ HQ được đánh giá là hệ thống chữ viết độc đáo, hiếm có trên thế giới và là ngôn ngữ đứng thứ 10 được sử dụng trên internet nhiều nhất trên thế giới và số người theo học thứ tiếng này ngày càng đông. Gần đây ở VN, trào lưu ngôn ngữ HQ đã tăng lên chóng mặt. Đây một phần là do sự ảnh hưởng mạnh mẽ của làn sóng văn hoá HQ, một phần là do sự đầu tư, hợp tác từ phía HQ vào VN đã mở ra nhiều cơ hội việc làm cho người dân VN. Hiện nay, SV khoa tiếng HQ ngoài việc học tập tại khoa, có rất nhiều cơ hội để giao lưu, tiếp xúc và học hỏi tiếng HQ từ người HQ hay giao lưu, trao đổi với SV các trường đại học ở VN và HQ. Tuy nhiên hầu hết SV đầu vào của khoa đều chưa từng làm quen với tiếng HQ khi ở trường trung học phổ thông mà chỉ biết đến nước HQ thông qua phim ảnh, ca nhạc, thời trang…

Trước thực tế này, khoa tiếng HQ đã xây dựng cho SV những cơ hội để được học hỏi và nâng cao kỹ năng tiếng bằng việc tổ chức đa dạng các HĐTN sao cho phù hợp với trình độ, khả năng của SV.

2.4. Thực trạng về các hoạt động trải nghiệm và sự tham gia cho sinh viên tại khoa tiếng Hàn Quốc, trường Đại học Hà Nội Luận văn: Thực trạng QL trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn.

Hiện nay, khoa tiếng HQ, trường ĐHHN hiện đang duy trì và thực hiện các HĐTN thông qua các hoạt động sau:

  • Hoạt động câu lạc bộ

Các hoạt động của CLB cũng giúp SV có nhiều cơ hội được giao lưu học hỏi, trao đổi kiến thức và nâng cao năng lực học tập của bản thân. Hiên nay, khoa tiếng HQ đang duy trì các CLB sau: CLB Nói giỏi tiếng Hàn, CLB Dịch, CLB những người yêu thích đọc sách, CLB Múa quạt truyền thống, CLB nhảy K.Pop.

CLB Nói giỏi tiếng Hàn: Là CLB dành cho SV các khóa, khuyến khích các em SV từ năm thứ nhất tham Phụ trách CLB Nói thường là GV người HQ giúp SV phát âm, diễn đạt và dùng từ đúng văn phong người Hàn. GV sẽ đưa ra chủ đề để của buổi sinh hoạt CLB và sẽ xoay quanh chủ đề đó qua các HĐ như đóng kịch, chơi trò chơi… giúp SV hình thành, phát triển kỹ năng tư duy và phát âm chuẩn tiếng Hàn.

CLB Dịch: Là CLB dành cho SV năm thứ ba, năm thứ tư. CLB do một chuyên gia người HQ và một GV hướng dẫn kỹ năng dịch Nói và dịch Viết. Trong mỗi buổi sinh hoạt các GV sẽ đưa ra các chủ đề dịch cho SV làm quen và thực hành giúp SV hình thành và phát triển phản xạ dịch.

CLB Múa quạt truyền thống, nhảy Pop ra đời do làn sóng Hanryu du nhập vào VN quá mạnh mẽ. CLB này có một số lượng đông đảo thành viên. Ngay khi vừa mới biết điểm đỗ vào khoa đã có những thành viên đăng ký gia nhập vào CLB. CLB với mong muốn giúp SV ngành tiếng Hàn nói riêng và những người hâm mộ đất nước, con người HQ nói chung đến gần hơn thông qua môn nghệ thuật múa quạt truyền thống của HQ và các điệu nhảy K.pop hơn nữa giúp các em thư giãn, tiếp thêm động lực thêm yêu ngôn ngữ mà mình đã lựa chọn sau những giờ học vất vả.

Từ lâu các HĐ này đã trở thành HĐ tinh thần không thể thiếu của các bạn SV khoa tiếng HQ.

  • Hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao Luận văn: Thực trạng QL trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn.

HĐ văn hóa, văn nghệ, thể thao là những HĐ do BCN khoa kết hợp với đoàn thanh niên của khoa tổ chức. Hàng năm, để hưởng ứng ngày hội Chữ Hàn của HQ được tổ chức trên toàn thế giới tại các nước có giảng dạy tiếng Hàn, tổ chức Korean Foundation có tổ chức ngày hội chữ Hàn tại HN luân phiên tại các trường ĐH Ngoại ngữ – ĐH Quốc gia HN, ĐH khoa học xã hội và Nhân văn và ĐHHN. Bên cạnh đó, tại khoa tiếng Hàn ĐHHN cũng tổ chức “Tuần lễ văn hoá HQ” của khoa. Đây được coi là HĐ chính trong năm của khoa. HĐ này gồm nhiều HĐ khác nhau như chiếu phim, hội chợ ẩm thực, gian trưng bày đồ vật liên quan đến văn hóa đặc sắc của HQ, đêm tổng kết văn nghệ. Hàng năm, Ban chấp hành Đoàn thanh niên khoa sẽ chọn một chủ đề riêng cho HĐ này và các HĐ sẽ xoay quanh chủ đề của năm. Đây là HĐ luôn nhận được sự ủng hộ giúp đỡ nhiệt tình của tổ chức Korean Foundation, Trung tâm văn hoá HQ, Đại sứ quán HQ tại HN và các doanh nghiệp HQ tại VN. Qua việc tham gia các HĐ trong tuần lễ SV sẽ có thêm hiểu biết về ngôn ngữ, văn hóa HQ, thêm yêu ngôn ngữ mình lựa chọn thông qua những món ăn do tự tay các em làm, những bài hát, bộ phim và những bản nhạc, vở kích mà các em tự dàn dựng và biểu diễn. Tuần lễ Văn hóa HQ là HĐ lớn, quy tụ nhiều SV nên HĐ này sẽ giúp tăng cường tình đoàn kết, gắn bó giữa SV các khóa, các lớp trong khoa.

HĐ thể thao là mặt yếu của khoa một phần do khoa chiếm phần đông là nữ giới. Có khoá không có một nam SV nào cả. Tuy nhiên không vì thế mà khoa tiếng HQ không tham gia HĐ thể thao này. Mặc dù số lượng nam giới trong khoa là hiếm nhưng Đoàn thanh niên khoa đã biết kết hợp với khoa khác như khoa tiếng Trung Quốc để lập nên một đội bóng Trung – Hàn. Với số lượng ít nhân lực nhưng luôn nhận được sự quan tâm, ủng hộ từ BCN khoa và Đoàn thanh niên với tinh thần ủng hộ, cổ vũ luôn khí thế nên nhiều năm liền đội bóng Trung – Hàn đã đạt được thành tích tốt: vô địch giải bóng đá nam, vô địch kéo co nữ…

Bên cạnh các HĐ văn hoá, văn nghệ, thể thao trên khoa còn có HĐ MT (Membership training), đây là một hoạt động đặc thù của khoa. HĐ này mỗi năm tổ chức 01 lần vào khoảng đầu tháng 4 hàng năm với ý nghĩa chính thức chào đón năm thứ nhất và gửi lời chào, tình cảm của các khoá dưới với năm thứ tư, là buổi SV năm thứ tư gửi lời tri ân tới các GV trong khoa… Thông qua HĐ này SV trau dồi thêm khả năng làm việc nhóm, kết nối tình đoàn kết với các bạn trong lớp, trong khoá và các bạn trong khoa. Tạo nên một tập thể khoa tiếng HQ, một cộng đồng SV tiếng Hàn đoàn kết. Đây có thể nói là văn hoá của SV khoa tiếng HQ, trường ĐHHN .

  • Hoạt động tình nguyện 

HĐ tình nguyện của khoa chia ra làm hai mảng chính: Luận văn: Thực trạng QL trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn.

Tham gia các HĐ tình nguyện vì cộng đồng như mùa hè xanh, mùa đông ấp, hiến máu nhân đạo cùng với BCH Đoàn thanh niên Nhà trường tổ chức. Bên cạnh các hoạt động của Đoàn thanh niên Trường tổ chức chung cho toàn trường thì BCH Đoàn khoa phối hợp với BCN khoa tổ chức HĐ “mùa hè xanh” trong thời gian nghỉ hè. Với sự hỗ trợ một phần tài chính của khoa, các em SV đăng ký tham gia sẽ lên các địa bàn khó khăn để giúp đỡ người dân địa phương trong một thời gian ngắn khoảng 15 ngày đến 01 tháng.

Bên cạnh các HĐ vì cộng đồng, các HĐ tình nguyện giúp Nhà trường, khoa trong các hoạt động, nhiệm vụ phục vụ cho các sự kiện của Nhà trường, của khoa như: lễ tân, hậu cần, giữ trật tự…. giúp cho các HĐ được diễn ra thành công.

  • Hoạt động định hướng, thực tế

HĐ thực tập của SV, HĐ thăm quan doanh nghiệp chính là HĐ thực tế cho Đây cũng là HĐ thường niên được khoa duy trì từ năm 2011 đến nay. HĐ này chỉ áp dụng cho đối tượng là SV năm thứ tư. Ngay từ đầu năm học, BCN khoa đã thông báo cho SV kế hoạch tổ chức thực tập để SV biết được kế hoạch và thời gian để chủ động liên hệ nơi thực tập mà mình mong muốn. Bên cạnh đó từ đầu năm học BCN luôn tổ chức các thuyến thăm quan doanh nghiệp hay các buổi doanh nghiệp tới tiếp xúc với SV có nhu cầu thực tập để SV có sự lựa chọn tốt nhất. Nếu như trên lớp SV được trang bị kiến thức về ngôn ngữ, kỹ năng dịch… thì HĐ thực tập thực tế sẽ cho SV có một cái nhìn toàn cảnh về HĐ của một doanh nghiệp, những công việc thực tế rồi các mối quan hệ trong một tổ chức làm việc đặc biệt là doanh nghiệp nước ngoài. Các công ty của tập đoàn Samsung, Hyundai, Lotte, và các công ty vender của họ … là những doanh nghiệp đã gắn bó và hỗ trợ khoa ngay từ những năm mới thực hiện HĐ này.

Các buổi nói chuyện chuyên đề tại khoa tiếng HQ cho đến nay được tổ chức thường về như các chủ đề văn hoá, chủ đề giao lưu giữa hai nước; chủ đề kinh tế… được tổ chức giữa SV của khoa và các nhà ngoại giao, các tổ chức của chính phủ như đại sứ, tổ chức Korean Foundation, các doanh nghiệp là chuỗi HĐ đã được duy trì trong vài năm trở lại đây. Tổ chức các HĐ này là để SV có thêm cơ hội được tiếp cận với các doanh nghiệp, với các tổ chức mang tính chuyên ngành hơn. Qua các buổi nói chuyện, giao lưu này SV sẽ hiểu hơn về văn hoá, chính sách hợp tác giữa hai nước và nắm bắt được nhiều cơ hội việc làm và những đòi hỏi về chất lượng của ứng viên khi tham gia tuyển dụng vào các doanh nghiệp của HQ. Từ đó, SV sẽ thấy được những điểm yếu, kỹ năng còn thiếu mà mình cần phải bổ sung. Trong các buổi nói chuyện, trao đổi này SV được trực tiếp đặt câu hỏi cho khách mời giúp các em giải đáp mọi vướng mắc mà bản thân chưa hiểu rõ và có động lực học tập và sớm tốt nghiệp để ra trường, cống hiến cho xã hội. Qua những buổi giao lưu này, doanh nghiệp, tổ chức cũng phần nào biết được chất lượng ĐT, năng lực sinh viên của khoa, của nhà trường giúp cho khoa tạo được thương hiệu. Đây là các HĐ thực tế và rất có ý nghĩa với SV. Các sự kiện này thường được triển khai ở cuối học kỳ 1 và cuối kỳ hai mỗi năm học và diễn ra khoảng 4 hoặc 5 lần trong một năm học. Luận văn: Thực trạng QL trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn.

  • Hoạt động thăm quan, ngoại

Tham quan, dã ngoại là một hình thức tổ chức học tập hấp dẫn đối với SV. Mục đích của tham quan, dã ngoại là để SV được đi thăm, tìm hiểu và học hỏi kiến thức về danh lam, thắng cảnh, các di tích ḷich sử, văn hóa… trên tổ quốc của chính bản thân các em đang sống, học tập, … giúp các em có được những kinh nghiệm từ thực tế, cách tổ chức cũng như cách hoạt động nhóm, hoạt động tập thể.

Thông qua các chuyến tham quan, dã ngoại giúp SV có cơ hội được giao lưu, chia sẻ và thể hiện những khả năng, năng lực nổi trội của bản thân, đồng thời giúp các em cảm nhận được vẻ đẹp của quê hương đất nước, thêm yêu quê hương đất nước mình hơn và thêm hiểu biết các giá tṛi truyền thống và hiện đại.

Một nội dung nữa của khoa tiếng HQ, trường ĐHHN khi tổ chức hoạt động tham quan, dã ngoại là giúp cho SV toàn khoa hiểu nhau hơn, có sự gắn kết giữa khóa trên, khóa dưới, có sự sẻ chia các kinh nghiệm trong học tập cũng như trong cuộc sống. Tham quan, dã ngoại là điều kiện và môi trường tốt cho các em tự khẳng đ̣inh mình, thể hiện tính sáng tạo và biết đánh giá sự cố gắng, sự trưởng thành của bản thân cũng như tạo cơ hội để các SV thực hiện phương châm “học đi đôi với hành”, “lí luận đi đôi với thực tiễn”, đồng thời là môi trường để thực hiện mục tiêu “xã hội hóa” công tác giáo dục.

Theo quan sát của người viết nhận thấy các HĐTN được tổ chức tại khoa Tiếng HQ được đông đảo SV tham gia, tuy nhiên theo kết quả KS thì không phải tất cả SV đều nhận biết được những HĐ này là HĐTN của SV.

  • Bảng 2.1.Kết quả KS đánh giá của SV về nhận biết hoạt động nào là HĐTN

Từ kết quả của bảng 2.1 ta nhận thấy, các HĐ liên quan đến văn hoá, văn nghệ (tuần lễ văn hoá 54.2%, ngày hội Hanguelnal: 47.2%), trải nghiệm du lịch (Hoạt động MT: 49.2%) là HĐ được đông đảo SV lựa chọn để tham gia nhất.

  • Bảng 2.2 Kết quả KS đánh giá mục đích tham gia các HĐTN của SV

Tuy nhiên, theo kết quả bảng 2.2 cho thấy SV tham gia với mục đích tham gia các HĐ này của SV rất cụ thể. Phần lớn SV tham gia với mục đích giao lưu, kết bạn (89.2%), tham gia học hỏi kiến thức (65%), khám phá năng lực bản thân (55.8%), nâng cao năng lực tiếng (54.2%). Từ đó nhận thấy tuy nhận thức của SV về hoạt động này chưa đồng đều nhưng khi được hỏi ý kiến về việc có giới thiệu cho bạn bè về các HĐ này không thì có tới 85% số SV tham gia KS xác nhận sẽ giới thiệu. Từ đó cho thấy các HĐTN của khoa tiếng HQ được nhiều SV đánh giá tốt. Luận văn: Thực trạng QL trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn.

  • Biểu đồ 2.1. Kết quả KS khả năng giới thiệu của SV về HĐTN

2.5. Thực trạng quản lý của Nhà trường đối với hoạt động trải nghiệm cho sinh viên tại khoa tiếng Hàn Quốc

Hiện tại, các HĐTN của SV khoa tiếng HQ chịu sự QL của Hiệu trưởng trường ĐHHN với chức năng định hướng, phê duyệt và chỉ đạo các đơn vị chức năng hỗ trợ khoa tiếng HQ trong công tác tổ chức thực hiện. Ngoài ra, các HĐTN của khoa chịu sự QL trực tiếp của trưởng khoa tiếng HQ. Trưởng khoa có chức năng lập kế hoạch cho các hoạt động rồi trình hiệu trưởng phê duyệt ngay từ đầu năm học, tổ chức phối hợp với các đơn vị bên ngoài như Đại sứ quán HQ tại VN, Trung tâm văn hoá HQ, các doanh nghiệp…và các đơn chức năng trong nhà trường để triển khai các HĐ, đồng thời chỉ đạo sát sao GV được phân công QL các HĐ, Đoàn thanh niên, Hội SV để đảm bảo các hoạt động được diễn ra đúng theo kế hoạch và mục tiêu đã đề ra, từ đó có cơ sở để đánh giá chất lượng các HĐ.

2.5.1 Lập kế hoạch hoạt động trải nghiệm

Khoa tiếng HQ là một trong những khoa có nhiều HĐTN cho SV, với các hình thức HĐ phong phú, đa dạng, trải dài cả năm học. So với số lượng SV hiện đang học tập tại khoa, lực lượng nhân sự, đội ngũ GV của khoa vẫn còn ít, thêm vào đó là đối tượng đều là nữ và đang ở độ tuổi có con nhỏ nên việc cố gắng duy trì các HĐ thường niên cho SV là cả một sự nỗ lực to lớn của BCN khoa và đội ngũ GV, chuyên gia người HQ. Để QL tốt các HĐTN cho SV, tránh bị động do có sự thay đổi đột xuất, BCN khoa đã phải lên kế hoạch cho một số HĐ chính, cần huy động nhân sự là GV và SV từ cuối năm học trước, đưa các HĐ vào phương hướng HĐ của năm học sau.

Đầu năm học, BCN sẽ tiến hành các cuộc họp với cán bộ GV, với Đoàn thanh niên và Hội SV để phổ biến kế hoạch tổng thể các HĐTN cho SV trong năm học. Với tiêu chí thực hiện theo đúng kế hoạch đề ra tuy nhiên vẫn có thể thay đổi nếu thấy cần thiết. Một số HĐ phụ thuộc vào chuyên gia, khách mời hoặc lịch trình giảng dạy trùng vào thời gian nhiều môn học đang được thực hiện hoặc có thi, kiểm tra thì sẽ có sự điều chỉnh cho phù hợp. Sau khi họp và đi đến thống nhất về từng HĐ, BCN khoa sẽ làm tờ trình gửi Ban giám hiệu và các phòng ban liên quan để xin ý kiên tổ chức cho SV.

Trong buổi khai giảng chào đón tân SV, BCN khoa phối hợp với Đoàn thanh niên và Hội SV phổ biến cho các em SV năm thứ nhất về các HĐ Đoàn – Hội, HĐTN của SV.

  • Biểu đồ 2.2. Kết quả KS cán bộ GV về thực hiện bước lập kế hoạch HĐTN

Từ kết quả khảo sát trên cho thấy hiện nay công tác lập kế hoạch vẫn chưa thực sự làm tốt vì có đến 50% cán bộ giáo viên đánh giá là chưa tốt và chỉ ở mức trung bình thôi. Chính vì vậy, các nhà QL thực sự cần phải lưu ý về bước này.

2.5.2 Chỉ đạo xây dựng nội dung, chương trình hoạt động trải nghiệm Luận văn: Thực trạng QL trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn.

Việc chỉ đạo xây dựng nội dung, chương trình HĐ là việc làm cần được tiến hành liên tục và sát sao của BCN khoa bởi những lý do sau:

Vì là một khoa ngoại ngữ nên không tránh được các HĐTN mang yếu tố nước ngoài nên việc QL nội dung và chỉ đạo thực hiện phải luôn lưu ý sao cho vừa đảm bảo nhiệm vụ đối ngoại vừa không đi ngược với phong tục tập quán của VN và chủ trương đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Các HĐTN tổ chức với mục đích giúp SV tích lũy kiến thức, giao lưu học hỏi và rèn luyện kỹ năng. Với các HĐTN tại khoa tiếng HQ thường có nội dung liên quan đến ngôn ngữ, văn hóa HQ vì vậy nội dung HĐ phải đảm bảo tính GD, phù hợp với thuần phong mỹ tục VN không gây hiểu nhầm hay định hướng sai cho SV. Ngoài ra, nội dung cũng phải đảm bảo tính khoa học và tính thực tiễn sao cho SV có cơ hội áp dụng những kiến thức mà các em được học, từ đó các em thấy được lợi ích khi tham gia các HĐTN. Nội dung các HĐTN đưa ra phải từ dễ đến khó và luôn luôn đổi mới kích thích tính chinh phục của SV.

Trong các HĐTN ngoại khóa của SV, có một số HĐ như “nói chuyện chuyên đề, thăm quan doanh nghiệp, thực tập” do BCN khoa trực tiếp lên nội Nội dung của HĐ “Ngày hội chữ Hàn” BCN khoa kết hợp với tổ chức Korean Foundation và trung tâm văn hoá HQ, còn HĐ “Tuần lễ văn hóa HQ”, “MT” do BCN khoa kết hợp với Đoàn thanh niên và Hội SV lên nội dung. Các hoạt động CLB do người QL câu lạc bộ thống nhất nội dung với các thành viên. Do vậy, việc định hướng về nội dung cho mỗi HĐTN của BCN khoa là rất quan trọng.

Theo kết quả khảo sát SV về nội dung hoạt động dưới đây cho thấy các hoạt động được đưa ra ở khoa tiếng HQ, trường ĐHHN được đánh giá khá là phù hợp. Tất cả các HĐ đều được đánh giá trên 50% về tiêu chuẩn rất phù hợp, HĐ được đánh giá cao nhất là HĐ ngày hội Hanguelnal, HĐ được đánh giá thấp nhất là 52.5% là các hoạt động văn nghệ, thể thao. Điều đó đã chứng tỏ được công tác xây dựng nội dung cho các chương trình HĐ là tương đối tốt và đang đi đúng hướng.

  • Bảng 2.3. Kết quả KS đánh giá của SV về nội dung các HĐ
  • Biểu đồ 2.3. Kết quả KS cán bộ GV về bước chỉ đạo xây dựng nội dung chương trình HĐTN

Tiếp theo kết quả khảo sát về bước QL chỉ đạo thực hiện do cán bộ GV đánh giá cũng khẳng định được bước chỉ đạo xây dựng nội dung, chương trình HĐTN được trên 56% GV đánh giá là tốt, điều đó một lần nữa khẳng định các nội dung HĐTN mà khoa tiếng HQ, trường ĐHHN đang xây dựng được đánh giá tốt. Luận văn: Thực trạng QL trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn.

2.5.3 Tổ chức hoạt động trải nghiệm

Sau khi đã lên kế hoạch, xây dựng nội dung cho các HĐ thì tổ chức thực hiện theo đúng kế hoạch và nội dung đã đề ra.

HĐ đầu tiên trong năm học đó là HĐ “Chào đón tân sinh viên”. Tuy nhiên HĐ này chỉ mang tính chất chào đón và hướng dẫn và giới thiệu cho SV năm đầu các HĐ của khoa. Vì vậy HĐ “Tuần lễ văn hóa HQ” có thể coi là HĐ mở màn cho các HĐTN khác trong năm học. HĐ này thường được tổ chức vào trung tuần tháng 10 hàng năm để hưởng ứng ngày hội Chữ Hàn trên thế giới. Cùng thời gian này là sự kiện ngày hội Chữ Hàn được tổ chức bởi một trong ba trường có khoa ngôn ngữ HQ lớn nhất miền Bắc dưới sự tài trợ của Đại sứ quán HQ tại HN, tổ chức Korea Foundation, trung tâm văn hoá HQ tại HN nên các HĐ diễn ra đều có sự tham gia của đại diện các đơn vị này. Cộng đồng doanh nghiệp HQ cũng nhiệt tình tham gia sự kiện. Bên cạnh đó, tập thể GV và SV luôn coi đây là sự kiện quan trọng để giao lưu và trao đổi những mối quan tâm chung về ngôn ngữ, văn hóa HQ nên HĐ này luôn được tổ chức với nhiều HĐ như hội chợ, gian hàng lưu niệm, ẩm thực, tuần lễ chiếu phim HQ, đêm văn nghệ. BCN khoa phân công cho cán bộ GV QL các nhóm HĐ xây dựng kế hoạch hoạt động chi tiết kể cả dự trù kinh phí cho HĐ và phương án xin kinh phí. Khi có kinh phí thì sẽ tiến hành tổ chức thực hiện những công việc cụ thể theo kế hoạch. Ban chấp hành Đoàn thanh niên sẽ phân công cho các nhóm thực hiện. Nhóm truyền thông có nhiệm vụ quản bá và cập nhật tin tức của HĐ bằng việc chụp ảnh, quay phim, viết bài, đưa tin lên trang web, facebook của khoa. Nhóm chiếu phim sẽ tuyển chọn những bộ phim tiếng Hàn có phụ đề tiếng Việt do các thành viên của nhóm hoặc câu lạc bộ dịch. Đêm văn nghệ là HĐ kết thúc tuần lễ văn hóa đầy màu sắc, đậm chất SV khoa tiếng HQ qua các giai điệu âm nhạc, điệu múa và các vở kịch đậm chất HQ… HĐ này luôn là HĐ thu hút và được SV hưởng ứng nhiệt tình nhất.

Sau sự kiện Tuần lễ văn hóa để chuẩn bị cho việc đi thực tập của SV năm thứ tư vào khoảng cuối tháng 12 đầu tháng 1 hàng năm. Ngay từ đầu tháng 11 đến giữa tháng 12 BCN khoa sẽ tổ chức một chuỗi những sự kiện như gặp gỡ doanh nghiệp tại trường hay đi thăm quan doanh nghiệp, buổi nói chuyện chuyên đề… Đây là những HĐ thường dảnh cho đối tượng SV năm thứ ba và năm thứ tư. Luận văn: Thực trạng QL trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn.

Các buổi nói chuyện chuyên đề diễn ra thường kéo dài trong hai giờ. Khách mời là những nhà ngoại giao, các doanh nhân hay bộ phận nhân sự của các doanh nghiệp, tập đoàn tại VN. Phần mở đầu, khách mời sẽ giới thiệu về cơ quan và công việc họ đang phụ trách. Khi đó, khách mời sẽ đề cập đến những vấn đề như chính sách của HQ, về hợp tác với VN, những cơ hội nào khi đầu tư vào thị trường VN, những cơ hội nào cho SV khoa tiếng HQ sau khi tốt nghiệp, những kinh nghiệm khi tham gia tuyển dụng. Phần sau là phần giao lưu giữa SV và khách mời. Trong thời gian này SV có thể hỏi về các vấn đề mà chưa rõ hoặc cần quan tâm.

Song song với chuỗi HĐ của các buổi nói chuyện chuyên đề là các chuyến thăm quan 01 ngày tại các doanh nghiệp HQ đang HĐ ở khu vực miền Bắc. HĐ này thường dành cho SV năm thứ 3, năm thứ 4. Tổ chức đến thăm trực tiếp các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp cho SV thấy được thực tế về HĐ của một cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp HQ hoạt động như thế nào ở VN. Nhiều chương trình sẽ cho SV được TN sống 01 ngày như những người lao động tại doanh nghiệp, từ việc ăn bữa trưa dành cho cán bộ và công nhân của công ty, giao lưu với các cựu SV của trường, và với bộ phận tuyển dụng doanh nghiệp. HĐ thăm quan doanh nghiệp cho SV của khoa tiếng HQ được Ban giám hiệu nhà trường và Phòng Công tác học sinh SV và quan hệ doanh nghiệp đánh giá rất cao và được Phòng công tác học sinh SV và quan hệ doanh nghiệp đề xuất với nhà trường đưa HĐ này vào thực hiện ở nhiều khoa tại ĐHHN.

Cùng thời gian này thì các CLB cũng bắt đầu tuyển thêm thành viên mới và bắt đầu HĐ do thời điểm này SV năm thứ nhất đã bắt đầu ổn định việc học tập và có thể bắt đầu tham gia vào CLB. Các HĐ này sẽ diễn ra tuần một lần, dưới sự dẫn dắt của Đoàn thanh niên, cũng có CLB do GV và các chuyên gia người HQ trực tiếp hướng dẫn như CLB Nói giỏi tiếng Hàn. Về chủ trương chính các CLB sẽ do SV chủ trì, khoa chỉ có chức năng định hướng, dẫn dắt để các em tự do thể hiện bản thân và HĐ của CLB cởi mở hơn.

Hội thảo khoa học SV của khoa thường được tổ chức vào tháng 3, nhưng công tác chuẩn bị thường được tiến hành từ khoảng cuối tháng 11 năm trước thường vào cuối học kỳ một. Sở công tác này phải được chuẩn bị chu đáo là do khoa tiếng HQ là một khoa ĐT, nên hội thảo khoa học SV là một HĐ để đánh giá chất lượng ĐT của khoa. Theo kế hoạch, Hội đồng khoa học của khoa sẽ phổ biến kế hoạch cho các GV chủ nhiệm, cố vấn học tập và thông báo rộng rãi trên trang web của khoa để SV nắm được thông tin. GV chủ nhiệm, cố vấn học tập các khoá động viên, khuyến khích các em đăng ký đề tài. Hội đồng khoa học sẽ xét duyệt đề tài đăng ký để chọn ra các đề tài có khả năng nghiên cứu và mang tính ứng dụng cao, sau đó phân công GV hướng dẫn đề tài dựa trên cơ sở các môn GV đang đảm nhận hay điểm mạnh của mỗi GV. Khi các đề tài hoàn thiện, hội đồng khoa học sẽ họp, xét chọn ra đề tài trình bày tại hội thảo. Luận văn: Thực trạng QL trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn.

Sau sự kiện Hội thảo khoa học SV, Đoàn thanh niên đã phải bắt tay vào chuẩn bị cho sự kiện MT – du lịch toàn khoa. Có thể nói đây là chương trình độc đáo và duy nhất tại trường ĐHHN mà khoa tiếng HQ tổ chức và duy trì được từ chục năm nay. Để tổ chức được chương trình này GV phụ trách và Đoàn thanh niên phải xây dựng kế hoạch chi tiết, nội dung cụ thể, phải đi kiểm tra thực tế sao cho cả khoa có nơi để TN cùng nhau thật vui vẻ, thật thú vị và đọng lại nhiều dấu ấn riêng của khoa tiếng HQ nhưng với tiêu chí là ít tốn kém, gần để không mấy thời gian di chuyển để có thời gian cho các HĐ chung và có không gian rộng để toàn khoa có thể tổ chức các HĐ tập thể để tất cả các SV đều phải tham gia. Để chương trình này đi được vào trung tuần tháng 4 hàng năm thì Đoàn thanh niên đã phải chuẩn bị từ cuối tháng 2 đầu tháng 3. Trước tiên là đưa ra chủ đề cho chương trình này và thông báo rộng rãi đến tất cả các lớp, các khoá được biết. Lên kế hoach, nội dung chi tiết và phân chia công việc đến từng khoá, từng lớp. Chương trình MT của khoa tiếng Hàn trong 02 ngày 01 đêm thường gồm các hoạt động: trò chơi TN nhóm và cá nhân; đêm văn nghệ; một chương trình được tổ chức trong đêm văn nghệ mà toàn thể SV khoa tiếng HQ luôn mong chờ đó là chương trình vinh danh và tri ân tặng quà cho SV năm 4 trước khi ra trường. Chính vì vậy Ban chấp hành đoàn thanh niên phải lên kế hoạch và phân công cụ thể: nhóm nào phụ trách tìm địa điểm, đi thực tế để xem chỗ ăn, chỗ ở cho chuyến đi để đưa ra dự trù kinh phí tốt nhất, nhóm nào phụ trách các trò chơi trải nghiệm, nhóm nào phụ trách văn nghệ đên giao lưu, nhóm nào phụ trách tìm quà tặng và làm kỷ niệm chương để tặng cho SV năm thứ tư… Sau đó xin ý kiến của BCN khoa và Đoàn thanh niên của trưòng, phòng Công tác SV để được thực hiện. Thông qua hoạt động này SV trau dồi thêm khả năng làm việc nhóm, kết nối tình đoàn kết giữa các SV trong lớp, trong khoá và trong khoa. Tạo nên một tập thể khoa tiếng HQ, một cộng đồng SV tiếng Hàn đoàn kết. Đây có thể nói là văn hoá của SV khoa tiếng HQ, trường ĐHHN .

Các HĐ thể thao thường được tổ chức theo kế hoạch chung của BCH Đoàn trường. Để tổ chức các hoạt động này, BCH Đoàn thanh niên của khoa sẽ tuyển chọn và tập hợp các SV có năng lực về chuyên môn và thể lực tốt, đồng thời tính toán dự trù kinh phí và xin hỗ trợ từ khoa, từ nhà trường cho HĐ.

Với HĐ tình nguyện, tùy vào từng sự kiện mà BCN khoa và BCH Đoàn khoa phân công nhiệm vụ cho đội tình nguyện. Riêng hoạt động tình nguyện mùa hè xanh của khoa vào tháng 7 hàng năm, để thực hiện được việc này thì khoảng tháng 5 SV sẽ lên kế hoạch cụ thể, xin phép BCN khoa và xin ý kiến hỗ trợ từ khoa bên cạnh đó Đoàn thanh niên sẽ đi xin hỗ trợ kinh phí từ các đơn vị, tổ chức của HQ như Đại sứ quán, trung tâm văn hoá HQ hay các doanh nghiệp như Samsung, LG… và cả các mối quan hệ của cựu SV của khoa. Với một mục đích đem sức thanh niên và kiến thức của SV khoa tiếng HQ làm được nhiều việc có ích cho xã hội Luận văn: Thực trạng QL trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn.

  • Biểu đồ 2.4. Kết quả KS cán bộ GV về bước tổ chức thực hiện các HĐTN
  • Bảng 2.4. Kết quả KS đánh giá của SV về cách thức tổ chức HĐ

Từ kết quả khảo sát trên cho thấy đánh giá của GV và của SV về tổ chức các HĐ này là tương đối chính xác. Từ đó, các nhà QL cần phải chú trọng hơn nữa trong công tác tổ chức thực hiện các HĐ này.

2.5.4. Kiểm tra, đánh giá hoạt động trải nghiệm của sinh viên

Hiện tại, khoa không tiến hành đánh giá, kiểm tra cho tất cả các HĐTN mà chỉ tiến hành đánh giá rút kinh nghiệm tùy vào từng HĐ.

Với các HĐ: Tuần lễ Văn hóa HQ, Ngày hội chữ Hàn, Hội thảo khoa học sinh viên, Thực tập của SV thì sau khi các HĐ này kết thúc khoa sẽ có buổi họp với Đoàn thanh niên, Hội SV, với GV hay với SV thực hiện để cùng đánh giá lại những việc đã làm có đúng như mục tiêu và kế hoạch đề ra từ ban đầu hay chưa, nếu có những việc chưa làm tốt thì nguyên nhân từ đâu để từ đó rút kinh nghiệm cho những lần tổ chức sau.

Các CLB trước khi kết thúc năm học thường có buổi tổng kết CLB vừa để nhìn lại một năm HĐ cũng như để đánh giá và rút kinh nghiệm cho năm sau. Hiện tại, công tác kiểm tra, đánh giá các HĐTN tại khoa tiếng HQ chưa thực sự bắt buộc.

  • Biểu đồ 2.5. Kết quả KS cán bộ GV về bước QL kiểm tra đánh giá các HĐTN

Từ kết quả khảo sát trên cho thấy công tác kiểm tra, đánh giá HĐTN chưa được quan tâm dẫn đến việc QL chưa thực tốt. Các nhà QL cần phải lưu ý hơn ở đến vấn đề này.

  • Bảng 2.5. Kết quả KS về đánh giá của cán bộ QL và cán bộ GV về tác dụng của HĐTN tới SV

Từ kết quả ở bảng 2.5 cho thấy hầu hết cán bộ QL và GV đều đánh giá được tác dụng của các HĐTN tới SV.

  • Bảng 2.6. Kết quả KS mức độ cần thiết của các HĐTN

Từ kết quả ở bảng 2.6 cho thấy hầu hết cán bộ QL và cán bộ GV trong khoa nhận thấy mức độ cần thiết của các HĐTN này là rất cần thiết.

2.6. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động trải nghiệm cho sinh viên tại khoa Tiếng Hàn Quốc Luận văn: Thực trạng QL trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn.

2.6.1 Yếu tố về nhận thức

Để tổ chức tốt và duy trì dược các HĐTN thì từ hiệu trưởng đến các nhà QL cấp dưới hay các GV trực tiếp QL, hướng dẫn SV và cả ngay đến bản thân SV đều phải nhận thức được tầm quan trong to lớn của HĐTN đối với sự phát triển tích cực của SV. Đến nay, các HĐTN được tổ chức tại khoa tiếng HQ, trường ĐHHN đã nhận được nhiều sự hỗ trợ, động viên, khuyến khích từ phía Nhà trường, các phòng ban và BCN khoa, Đoàn thanh niên và Hội sinh viên.

Hàng năm ngay từ đầu năm học, BCN khoa đã lên kế hoạch cụ thể cho một năm nhằm giúp các HĐ đạt được hiệu quả tốt nhất. BCN khoa đã phân công cho các cán bộ GV phụ trách, tuyên truyền nâng cao nhận thức của cán bộ GV cũng như SV hiểu về tầm quan trọng của các HĐ này.

  • Bảng 2.7. Kết quả KS yếu tố ảnh hưởng do nhận thức của các đối tượng liên quan tới HĐTN

Từ kết quả bảng 2.7 ở trên cho thấy để HĐ diễn ra đạt kết quả tốt yếu tố do nhận thức của chính SV là rất quan trọng, tiếp đến là yếu tố của người QL rồi đến cán bộ GV.

Vì vậy để công tác HĐTN đạt hiệu quả các nhà QL cần phải làm sao cho chính bản thân các em tự nhận thấy các hoạt động này là có ích, là thiết thực.

2.6.2 Các yếu tố ảnh hưởng khác

Bên cạnh yếu tố nhận thức của cán bộ QL, cán bộ GV, SV và các bộ phận, đoàn thể liên quan thì còn có các yếu tố khác ảnh hưởng đến chất lượng của các HĐ này như là: Nội dung HĐ, hình thức tổ chức, thời gian tổ chức, cơ sở vật chất và cả kinh phí HĐ.

  • Bảng 2.8. Kết quả KS đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố khác từ các đối tượng liên quan
  • Bảng 2.9. Kết quả KS đánh giá của SV về thời gian – địa điểm tổ chức
  • Bảng 2.10. Kết quả KS ý kiến đánh giá của SV về chất lượng HĐ

Qua các kết quả KS trên cho thấy được ngoài yếu tố ảnh hưởng do nhận thức của những người trong cuộc thì các yếu tố như thời gian, địa điểm, nội dung, cách thức tổ chức hay chất lượng của HĐ cũng ảnh hưởng rất nhiều đến các HĐ này.

2.7. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động trải nghiệm cho sinh viên tại khoa tiếng Hàn Quốc

2.7.1 Ưu điểm Luận văn: Thực trạng QL trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn.

Khoa tiếng HQ là khoa được Ban giám hiệu và các Phòng ban chức năng đánh giá là đơn vị luôn chủ động tạo ra nhiều hình thức HĐTN cho SV và luôn cố gắng duy trì các HĐ này thường xuyên. Để có được điều này là nhờ BCN khoa và tập thể GV luôn nhận thức được rằng SV đã chọn theo học tiếng HQ là chấp nhận có những vất vả, khó khăn hơn các ngôn ngữ khác do thời gian làm quen, tìm hiểu và được ĐT của các em ít hơn. Hơn nữa, số lượng SV hàng năm của khoa đi học trao đổi, chuyển tiếp tại các trường bên HQ khá nhiều nên ngoài việc trang bị các kiến thức về tiếng thì SV cũng cần phải có môi trường để rèn luyện thêm về kỹ năng tiếng cũng như các kỹ năng mềm khác. Mặc dù với lực lượng cán bộ GV trong khoa hiện nay là tương đối mỏng nếu không nói là ít nhưng khoa vẫn cố gắng duy trì các HĐTN với mục đích giúp SV có nhiều cơ hội để trau dồi nâng cao năng lực bằng ngôn ngữ mình đang theo học bằng nhiều hình thức khác nhau và tuỳ vào năng lực của mỗi

Là một khoa có đội ngũ GV có tuổi đời, tuổi nghề trẻ và rất nhiệt huyết với nghề, thêm vào đó là lực lượng GV đều được ĐT đúng chuyên ngành ngôn ngữ HQ nên luôn tự trau dồi và cập nhật các phương pháp, tài liệu mới. Hầu hết cán bộ GV đều nhận thấy rằng HĐTN giúp cho SV có thêm môi trường thực hành kiến thức đã học giúp SV mở rộng, củng cố kiến thức, phát huy được năng lực sở trường, là động lực học tập ngoài ra còn trang bị thêm kỹ năng mềm.

Bên cạnh sự ủng hộ từ phía nhà trường, khoa còn nhận được sự giúp đỡ rất nhiều từ các cơ quan của HQ tại VN như Đại sứ quán HQ tại HN, văn phòng Korea Foundation, Trung tâm văn hoá HQ… và các tập đoàn. doanh nghiệp của HQ khu vực phía Bắc như Samsung, LG, Hyundai…

Khoa luôn coi trọng công tác truyền thông cho SV về các HĐ ngoại khóa qua website của khoa cũng như trang mạng xã hội của khoa và trên bảng tin thông báo tại khoa để SV nắm được kế hoạch các HĐ. Qua KS thì phần lớn các em nắm được thông tin các HĐ thông qua ba kênh thông tin trên. Ngoài ra còn thông qua thầy cô và cán bộ lớp và bạn bè.

So với các khoa khác, khoa tiếng HQ có cơ sở hạ tầng tốt hơn. Hiện nay, khoa đang được sử dụng các không gian: 01 thư viện riêng, 01 phòng không gian văn hoá HQ; 01 trung tâm HQ; 01 phòng học trực tuyến được trang bị đầy đủ trang thiết bị như máy chiếu, ti vi, máy tính nối mạng và hàng trăm đầu sách phục vụ cho nhu cầu học tập và các hoạt động khác của SV trong

2.7.2 Nhược điểm

Bên cạnh những SV nhiệt tình, năng nổ trong các HĐ thì vẫn còn nhiều SV không coi trọng việc tham gia vào các HĐTN. Theo KS SV tại khoa thì chỉ có 15% SV tham gia tất cả các HĐ của khoa và có tới 2% SV được hỏi đã tham gia hơn một HĐTN và có 1.8% SV chỉ tham gia có một HĐ. Chỉ có 47.5% cho rằng tất cả các HĐ khoa tổ chức là HĐTN. Chỉ có các HĐ Tuần lễ văn hoá, Ngày hội chữ Hàn và hoạt động du lịch ngoại khoá toàn khoa (MT) mà khoa đang tổ chức là có trên 50% SV cho rằng đây là HĐTN. Điều này cho thấy SV chỉ quan tâm nhiều đến những HĐ như văn hóa văn nghệ còn những HĐ như nghiên cứu khoa học. nói chuyện chuyên đề thì nhiều SV lại tham gia một cách miễn cưỡng, khiến khoa phải dùng các hình thức bắt buộc SV tham gia như điểm danh để chấm điểm rèn luyện cuối kỳ hay như HĐ thực tập thì phải lấy điểm bài thu hoạch.

  • Biểu đồ 2.6. Kết quả KS số lượng HĐTN SV đã tham gia
  • Biểu đồ 2.7. Kết quả KS về tần suất SV tham gia HĐTN
  • Biểu đồ 2.8. Kết quả KS về lý do SV không tham gia HĐTN

Với kết quả của các bảng trên cho thấy trong tổng số 52.6 % SV khi được hỏi về tần suất tham gia các HĐ trả lời là hiếm khi hay thi thoảng mới tham gia. Và có tới 60.6% SV trả lời thì lý do là không thu xếp được thời gian, 23.2% cho rằng không thấy hứng thú với HĐTN. Luận văn: Thực trạng QL trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn.

Điều đó cho thấy nhiều HĐ hiện nay được tổ chức ở thời gian chưa thật hợp lý. Các nhà QL phải lưu tâm hơn đến vấn đề này.

Bên cạnh đó còn có không gian tổ chức các HĐ đôi khi cũng không thực phù hợp. Các không gian, phòng hiện nay của khoa đang sử dụng có thể nói không thực phù hợp cho các HĐ này do không gian nhỏ hẹp và gần khu vực phòng học. Do vậy, nhiều HĐ của SV phải sinh hoạt ở dưới sảnh nhà C mà cũng không thực phù hợp vì sợ ảnh hưởng đến giờ học của các khoa khác.

100% GV của khoa đều nhận thức được tầm quan trọng của HĐTN đối với SV nhưng do thời gian dành cho các HĐ này bị hạn chế nên chưa thể quan tâm được hết các HĐ mà chỉ cố gắng đảm nhận tốt HĐ được phân công.

GV là những người được ĐT về chuyên môn rất tốt nhưng về kỹ năng tổ chức các HĐTN thì vẫn còn non yếu thường được triển khai chỉ dựa vào kinh nghiệm của bản thân.

Một số HĐ do GV HQ đảm nhận nên dễ bị xáo trộn khi GV kết thúc thời gian tình nguyện hay thỉnh giảng tại

Chưa đưa ra được phương thức đánh giá chung cho các HĐ để thấy được những yếu điểm cần phải khắc phục.

2.7.3 Nguyên nhân

Điều 5 trong Quy chế Học SV các trường ĐH, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy do Bộ GD & ĐT ban hành có quy định rõ SV có nghĩa vụ: “…chủ động tích cực tự học, nghiên cứu sáng tạo…” điều này cho thấy việc tham gia vào các HĐ như viết bài nghiên cứu khoa học, tham dự các buổi nói chuyện chuyên đề, tham gia các CLB… là những HĐ tự học đều là nghĩa vụ SV phải tham gia. Tuy nhiên phần đông SV do không nắm rõ Quy chế Học sinh SV nên đa phần đều coi việc tham gia các HĐTN là tự nguyện, không phải nghĩa vụ nên và chỉ tham gia các HĐ có tính chất nhẹ nhàng, mang hình thức giải trí như văn hóa văn nghệ, thể thao, thăm quan. Các em cũng chưa nhận thức được việc tham gia các những hoạt động mang tính học thuật như nghiên cứu khoa học, nói chuyện chuyên đề là nghĩa vụ của SV và chỉ tham gia khi có yêu cầu từ phía khoa và nhà trường. Nhiều SV còn có tâm lý sợ nghiên cứu và nghĩ rằng nghiên cứu khoa học là phạm trù mang tính hàn lâm và chỉ dành cho SV giỏi và có mục đích nghiên cứu sau này. Luận văn: Thực trạng QL trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn.

SV ngày nay rất năng động các em thường kiếm việc làm thêm ngoài giờ học chính nên khó có thời gian thể tham gia các HĐTN thường diễn ra sau giờ học. Ngoài ra khi thời đại công nghệ số đang thống trị thì chỉ cần ngồi nhà các em đã có thể biết cách tự giải trí bằng phim ảnh, trò chơi điện tử lên mạng xã hội để giao lưu, kết bạn nên nhu cầu tham gia các CLB và các hình thức HĐ khác giảm sức hấp dẫn.

Hiện tại đa phần các CLB vẫn đang phải sinh hoạt trong phòng văn hoá khoa hay phòng thư viện khoa nên nhiều HĐ khó triển khai được như yêu cầu điều này làm hạn chế nội dung HĐ, hạn chế số lượng SV tham

Với lực lượng GV như hiện tại và số lượng giờ dạy của khoa rất lớn nên GV đang phải đảm nhận một khối lượng giờ dạy khá nhiều, bình quân 30 ~ 35 tiết/ tuần. Ngoài ra với nhiệm vụ nghiên cứu của GV đã tạo áp lực lớn với GV nên họ không quá tập trung năng lực vào các HĐ cho.

Một số CLB do GV HQ phụ trách thì có ưu điểm là SV được nghe và tiếp xúc với tiếng bản ngữ chuẩn. Nhưng về mặt nội dung, mỗi buổi sinh hoạt được tổ chức theo một chủ đề do GV HQ chuẩn bị. Các chủ đề nhiều khi đơn giản, kém tính hấp dẫn. GV HQ công tác tại trường thường trong thời gian ngắn, khó hiểu được hết các SV để lựa chọn chủ đề phù hợp cho các Do vậy, nội dung HĐ các buổi thường đơn điệu, tẻ nhạt, sức hấp dẫn kém.

Hình thức kiểm tra thì khi có, khi không, chưa thực hiện được. Tiêu chí đánh giá các HĐTN chưa được BCN khoa đưa ra nên để cán bô QL có thể rút kinh nghiệm, chỉnh sửa và đưa HĐTN đi đúng hướng và thực chất hơn thực sự rất khó.

TIỂU KẾT CHƯƠNG Luận văn: Thực trạng QL trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn.

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng công tác QL cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến QL HĐTN của SV khoa tiếng HQ trường ĐHHN, chương hai của luận văn tác giả đã khái quát được đặc điểm đặc trưng của SV khoa tiếng HQ cũng như bộ máy QL HĐ của khoa. Tổ chức KS đánh giá thực trạng về HĐTN của SV khoa tiếng HQ, đánh giá khả năng nhận biết của SV về HĐTN. Tác giả cũng đã KS và đánh giá về nhận thức, mức độ thực hiện và các yếu tố ảnh hưởng đến QL HĐTN tại khoa tiếng HQ, trường ĐHHN của SV, cán bộ GV và các nhà QL.

Kết quả KS cho thấy hầu hết cán bộ GV và SV đều nhận thấy sự cần thiết và quan trọng của HĐ này. Bên cạnh những nội dung đã thực hiện tốt, vẫn còn tồn tại một số hạn chế trong công tác này. Ngoài ra, chương này còn đi sâu phân tích được các nội dung về QL các HĐTN do khoa triển khai như các HĐ nghiên cứu khoa học. HĐ các CLB, HĐ xã hội cộng đồng và các HĐ văn hóa, văn nghệ thể thao… từ đó làm rõ được vai trò QL của từng cấp lãnh đạo QL, các đơn vị chức năng, đánh giá được thực trạng QL các HĐ.

Tác giả đã đánh giá được ưu điểm và hạn chế trong công tác QL HĐTN cho SV đồng thời cũng chỉ ra được nguyên nhân của vấn đề đó.

Xuất phát từ thực trạng QL HĐTN tại khoa TH trường ĐHHN tác giả cho rằng cán bộ làm công tác QL sẽ phải tìm tòi, nghiên cứu tìm ra những biện pháp QL tích cực mang tính đồng bộ, khoa học có tính khả thi, hiệu quả để nâng cao chất lượng cho các hoạt động này. Luận văn: Thực trạng QL trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp QL trải nghiệm cho sinh viên khoa tiếng Hàn

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993