Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng hiệp ước Basel II ở Techcombank hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản trị rủi ro tín dụng theo hiệp ước Basel II tại ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Tiêu đề: “Quản trị rủi ro tín dụng theo hiệp ước Basel II tại ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam”.
Tại Techcombank, việc triển khai áp dụng hiệp ước Basel II không chỉ để đáp ứng theo yêu cầu và sự kỳ vọng của NHNN mà còn là sự hội nhập của hệ thống quản trị rủi ro tại Techcombank với tiêu chuẩn của quốc tế. Vận dụng một cách khoa học các nguyên tắc và phương pháp quản trị rủi ro theo hiệp ước Basel II giúp ngân hàng xây dựng được một môi trường hoạt động tín dụng lành mạnh, được kiểm soát chặt chẽ từ đó làm giảm thiểu các tổn thất cho không chỉ cho ngân hàng mà còn góp phần ổn định nền kinh tế. Chính sự đầu tư và hành động nghiêm túc mà Techcombank đã được NHNN phê duyệt chấp thuận áp dụng chuẩn Basel II trước hạn. Đó chính là lý do tôi lựa chọn nghiên cứu luận văn với đề tài “Quản trị rủi ro tín dụng theo hiệp ước Basel II tại ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam” với mục đích nghiên cứu phân tích thực trạng việc áp dụng hiệp ước Basel II vào quản trị rủi ro tại Techcombank trong giai đoạn 2018-2023, chỉ ra được những khó khăn và hạn chế còn tồn đọng hoặc những điều mà ngân hàng có thể cải thiện ở mức tốt hơn. Thông qua đó, luận văn đưa ra một số gợi ý tham khảo về những giải pháp cho các nhà quản lý tại Techcombank để hoàn thiện hơn hoạt động quản trị rủi ro tín dụng và hướng đến là giúp ngân hàng đáp ứng các phiên bản cao hơn của hiệp ước Basel.
Từ khóa: Quản trị rủi ro tín dụng, Basel II, nguyên tắc Basel II, Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam.
ABSTRACT Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng hiệp ước Basel II ở Techcombank.
Tilte: “Application of Basel II treaty in credit risk management at Vietnam Technological And Commercial Joint Stock Bank”.
At Techcombank, the application of Basel II Agreement is not only to meet the requirements and expectations of the State Bank of Vietnam, but also to integrate Techcombank’s risk management system with international standards. Scientifically applying the principles and methods of risk management under the Basel II Pact helps the bank to build a healthy and strictly controlled credit operating environment, thereby minimizing losses not only for Techcombank but also for economy’s stability. Such serious investment and action that Techcombank has been approved by the State Bank to apply Basel II standards before deadline. That is the reason why I chose to research the thesis with the topic “Credit risk management under the Basel II Pact at Vietnam Technological and Commercial Joint Stock Bank” with the aim of studying and analyzing the current status of the application of Basel II on risk management at Techcombank in the 2018-2023 period, pointing out unsold difficulties and limitations or things the bank can improve for a better extent. By that, the thesis provides some reference suggestions on solutions for managers at Techcombank to further improve credit risk management and aims to help the bank to meet higher standards than the Basel Pact.
Keywords: Credit risk management, Basel II, Basel II principles, Vietnam Technological And Commercial Joint Stock Bank.
LỜI PHẦN MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực của một nền kinh tế trẻ, năng động, hoạt động sản xuất kinh doanh sôi nổi, kim ngạch xuất nhập khẩu cao, nhu cầu giao thương, giao dịch và đầu tư tích lũy lớn,… tạo nên điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của hệ thống các ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng thương mại tại Việt Nam.
Kết thúc năm 2023, sau khi trải qua một năm chứng kiến nền kinh tế chịu nhiều tác động tiêu cực do đại dịch Covid 19 thì ngược lại với dự đoán, hàng loạt các NHTM tại Việt Nam đã công bố kết quả kinh doanh với mức lợi nhuận khủng. Điều này được xem là một điểm sáng trong bức tranh kinh tế 2023 có phần tẻ nhạt của hầu hết các nhóm ngành, tuy nhiên từ quý 1/2024 tỷ lệ các ngân hàng rao bán nợ, thanh lý tài sản đảm bảo xử lý nợ tăng cao khiến chủ đề về quản trị rủi ro tín dụng trong ngân hàng một lần nữa cần được đánh giá lại một cách thận trọng. Có thể nói rủi ro về tín dụng chính là một loại rủi ro thường trực nhất trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng, là một loại rủi ro mà nếu ngân hàng không có những chính sách quản trị phù hợp có thể gây ra hậu quả nặng nề cho không chỉ một ngân hàng mà có thể có những tác động tiêu cực đến cả nền kinh tế.
Chính vì thế, để nâng cao hiệu quả trong công tác quản trị rủi ro và hội nhập với các thông lệ quốc tế mà ngay từ cách đây hơn 8 năm NHNN đã có những chỉ đạo lựa chọn hiệp ước Basel là chuẩn mực quốc tế để định hướng hệ thống các NHTM tại Việt Nam hướng đến nhằm tăng cường an toàn và hiệu quả hoạt động. Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng hiệp ước Basel II ở Techcombank.
Theo đó, Techcombank là một trong mười ngân hàng tiên được NHNN lựa chọn triển khai thí điểm Basel II tại Việt Nam. Trong thời gian đó Techcombank đã thực hiện một cách nghiêm túc và quyết tâm nhất thông qua việc đưa mục tiêu về QTRR tín dụng vào chiếc lược trọng yếu của ngân hàng. Kết quả là vào ngày 01/07/2021 Techcombank được NHNN phê duyệt áp dụng trước hạn thông tư 41 về Basel II, điều này sẽ tạo điều kiện rất lớn giúp Techcombank có cơ hội tiệm cận các chuẩn mực QTRR nói chung và QTRR tín dụng nói riêng của mình theo các tiêu chuẩn của quốc tế. Nhận thấy được tầm quan trọng này và mong muốn tìm hiểu sâu hơn và có thể đóng góp những giải pháp góp phần hoàn thiện hơn công tác QTRR tín dụng tại Techcombank từ những hạn chế mà tôi nhận thấy được trong quá trình công tác. Đó chính là lý do tôi lựa chọn đề tài “Quản trị rủi ro tín dụng theo hiệp ước Basel II tại ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam” làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tính cấp thiết của đề tài
Techcombank là một trong mười ngân hàng đầu tiêu tại Việt Nam được NHNN xem xét chủ trương triển khai thí điểm áp dụng các tiêu chuẩn của hiệp ước Basel II từ tháng 02/2018. Nhận thấy được tầm quan trọng đó mà ngay từ sớm Techcombank đã thành lập riêng một nhóm dự án về Basel, phục vụ phân tích và lên kế hoạch và thực thi triển khai áp dụng Basel II vào hoạt động QTRR của ngân hàng. Tuy nhiên, với một bộ máy và quy mô hoạt động lớn như ngân hàng thì để chuyển đổi một mô hình quản trị để áp dụng một tiêu chuẩn mới thay cho phương thức quản lý đã hình thành từ lâu thì ngân hàng cũng gặp khá nhiều khó khăn, thách thức nhất là trong giai đoạn đầu triển khai.
Sau thời gian triển khai áp dụng, đến nay ngân hàng cũng đã có những thành công nhất định và cũng đã được NHNN ghi nhận, tuy nhiên bên cạnh đó là không ít những khó khăn, thách thức buộc ngân hàng phải tìm giải pháp và hoàn thiện từng ngày để có thể áp dụng một cách tối ưu nhất Basel vào QTRR tín dụng tại ngân hàng. Nếu áp dụng tốt các yêu cầu của Basel II vào QTRR tín dụng sẽ giúp gia tăng năng lực phòng thủ của ngân hàng, bảo vệ ngân hàng trước những biến cố, gia tăng vị thế cạnh tranh mà hơn hết đảm bảo được thành quả đã xây dựng được từ kinh doanh và từ đó gia tăng lợi ích cho cổ đông. Đồng thời, việc hoàn thiện một cách tối ưu các tiêu chuẩn của Basel II vào quản trị rủi ro tín dụng cũng góp phần tạo tiền đề giúp ngân hàng hướng đến mục tiêu cao hơn là Basel III theo xu hướng của ngành ngân hàng trên thế giới.
Chính vì sự quan trọng đó mà việc nghiên cứu vấn đề “Quản trị rủi ro tín dụng theo hiệp ước Basel II tại Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam” có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận lẫn thực tiễn. Nghiên cứu được thực hiện với mong muốn hoàn thiện lý luận chuyên môn, nghiên cứu được thực trạng áp dụng và từ đó đưa ra những đề xuất góp phần hoàn thiện mô hình quản trị rủi ro tín dụng theo hiệp ước Basel II tại Techcombank trong điều kiện và bối cảnh hội nhập như hiện nay. Tạo điều kiện cho Techcombank hướng đến hoàn thiện phiên bản nâng cao của hiệp ước Basel II và tiền đề hướng tới hiệp ước Basel III trong tương lai gần.
3. Mục tiêu của đề tài Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng hiệp ước Basel II ở Techcombank.
3.1 Mục tiêu tổng quát
Phân tích thực trạng QTRR tín dụng theo hiệp ước Basel II tại ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp giúp ngân hàng hoàn thiện và triển khai tốt hơn việc áp dụng hiệp ước Basel II trong hoạt động QTRR tín dụng.
3.2 Mục tiêu cụ thể
Nghiên cứu hướng đến 3 mục tiêu cụ thể như sau:
Một là phân tích thực trạng hoạt động QTRR tín dụng theo hiệp ước Basel II tại ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam.
Hai là đánh giá những kết quả đạt được cũng như hạn chế trong việc thực hiện QTRR tín dụng theo hiệp ước Basel II tại ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam.
Ba là đề xuất những giải pháp giúp ngân hàng hoàn thiện mô hình QTRR tín dụng theo hiệp ước Basel II tại ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam. Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng hiệp ước Basel II ở Techcombank.
4. Câu hỏi nghiên cứu
Luận văn đặt ra 3 câu hỏi nghiên cứu để giải quyết mục tiêu nghiên cứu:
- Thực trạng hoạt động QTRR tín dụng theo hiệp ước Basel II tại Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam hiện nay như thế nào?
- Trong bối cảnh áp dụng Basel II vào QTRR tín dụng thì ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam đã đạt được những thành tựu và hạn chế nào?
- Những giải pháp nào giúp hoàn thiện QTRR tín dụng theo hiệp ước Basel II tại ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam?
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Công tác QTRR tín dụng theo hiệp ước Basel II tại Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam.
- Thời gian: Giai đoạn 2018-2023 nhằm nghiên cứu thực trạng việc QTRR tín dụng tại ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam.
6. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sẽ thực hiện phương pháp nghiên cứu định tính để giải đáp cho các câu hỏi nghiên cứu đã đặt ra xoay quanh việc QTRR tín dụng theo tiêu chuẩn Basel II tại Techcombank. Luận văn sẽ tập trung sử dụng các phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, mô tả và tư duy logic để làm rõ những quan điểm, những vấn đề đặt ra. Trong đó:
Phương pháp tổng hợp, phân tích: Tác giả thực hiện thu thập và tổng hợp dữ liệu từ các nguồn thông tin công khai của ngân hàng và các dữ liệu đáng tin cậy (Báo chí, internet, nội bộ tại cơ quan công tác,…). Tổng hợp dữ liệu và các nghiên cứu để tạo ra hệ thống lý thuyết chuẩn cho chủ đề nghiên cứu. Phân tích rõ thực trạng việc QTRR tín dụng trong thời gian qua tại Techcombank cũng như nhưng thành quả đạt được và khó khăn gặp phải.
Phương pháp mô tả: Mô tả về thực tế mô hình áp dụng Basel II trong QTRR tín dụng tại Techcombank như là mô hình cấp và quản lý tín dụng, mô hình xếp hạng nội bộ, mô hình phê duyệt và cơ chế quản lý kiểm soát sau,…. giúp làm rõ cụ thể hóa quy trình và mô hình của Techcombank trong QTRR tín dụng.
Phương pháp so sánh: Phân tích những điểm tương đồng và tìm hiểu sự khác biệt từ nguồn dữ liệu thu thập được để đánh giá mức độ phù hợp, phát hiện sự đột biến để bóc tách rõ nguyên nhân từ đó là sáng tỏ chủ đề nghiên cứu. So sánh và đối chiểu mô hình QTRR ro tín dụng tại Techcombank với những tiêu chuẩn của Basel II và tham chiếu một số ngân hàng khác để có góc nhìn rộng hơn về đối tượng nghiên cứu.
Phương pháp suy luận, logic: Tổng hợp vấn đề từ những dữ liệu, quan sát và thực tiễn, từ đó rút ra kết luận làm rõ chủ đề và mục tiêu nghiên cứu.
7. Nội dung nghiên cứu Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng hiệp ước Basel II ở Techcombank.
Nội dung nghiên cứu của đề tài hướng đến hoạt động QTRR tín dụng theo hiệp ước Basel II tại ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam. Luận văn tập trung vào đánh giá thực trạng triển khai, những thành tựu đạt được và cả những hạn chế còn tồn đọng để từ đó đưa ra các kiến nghị giúp ngân hàng hoàn thiện hơn, nâng cao chất lượng QTRR phù hợp với thông lệ quốc tế nói chung và Basel II nói riêng. Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, nội dung luận văn được chia làm 3 phần như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng theo hiệp ước Basel II tại NHTM.
- Khái quát khung lý thuyết về rủi ro tín dụng của NHTM (Khái niệm, nguyên nhân, hậu quả , các yêu tố tác động, tiêu chí đo lường).
- Tổng quan khung lý thuyết về rủi ro tín dụng của NHTM (Khái niệm, nguyên nhân, hậu quả , các yêu tố tác động, tiêu chí đo lường).
- Tổng quan về Basel II và QTRR tín dụng theo hiệp ước Basel II (Định nghĩa QTRR tín dụng trong NHTM và QTRR tín dụng theo Basel II, giới thiệu về Ủy ban Basel và hiệp ước Basel II, các nguyên tắc QTRR, chiến lược QTRR, tổ chức bộ máy QTRR, chính sách QTRR, quy trình và thủ tục QTRR).
- Kinh nghiệm về việc triển khai hiệp ước Basel II trong QTRR tín dụng tại một số NHTM tại Việt Nam và bài học kinh nghiệm cho ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam. Phân tích lấy bài học kinh nghiệm từ 2 ngân hàng là Vietcombank và MB (Hai ngân hàng cùng thời gian triển khai và có nhiều điểm chung với Techcombank).
Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng theo hiệp ước Basel II tại ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam.
- Thực trạng QTRR tín dụng theo hiệp ước Basel II tại Techcombank trong giai đoạn 2018-2023.
- Đánh giá kết quả áp dụng Basel II vào QTRR tín dụng tại Techombank (Thành tựu, hạn chế và nguyên nhân).
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng theo hiệp ước Basel II tại ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam.
- Đề xuất các giải pháp dựa trên những hạn chế được chỉ ra góp phần hoàn thiện QTRR tín dụng theo hiệp ước Basel II tại Techcombank.
- Đưa ra những kiến nghị liên quan đổi với NHNN, với Hiệp hội ngân hàng và đối với Techcombank.
8. Đóng góp của đề tài
Luận văn góp phần chỉ ra thực trạng, những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế còn tồn đọng trong quá trình áp dụng hiệp ước Basel II trong QTRR tín dụng. Từ đó giúp đưa ra những giải pháp góp phần hoàn thiện khung QTRR tín dụng theo hiệp ước Basel II tại Techcombank, qua đó giúp ngân hàng cân bằng giữa tối ưu hóa lợi nhuận và môi trường QTRR tạo nên sự phát triển vượt trội và mang tính bền vững.
9. Các nghiên cứu liên quan
- Một số nghiên cứu của tác giả trong nước
Nghiên cứu của Trần Thị Việt Thạch (2018) với đề tài nghiên cứu “Quản trị rủi ro tín dụng theo hiệp ước Basel II tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam”. Trong nghiên cứu này, tác giả đã hệ thống lại những vấn đề cơ bản về QTRR tín dụng theo Basel II tại NHTM và phân tích thực trạng trong công tác QTRR tín dụng tại Agribank để đối chiếu và đánh giá mức độ đáp ứng của ngân hàng theo Basel II. Tác giả đã thể hiện một cách chi tiết các nguyên tắc QTRR tín dụng theo Basel II từ chiến lược, khẩu vị về rủi ro, tổ chức bộ máy, chính sách, đến quy trình và thủ tục QTRR tín dụng. Trên cơ sở khung lý thuyết, thực tế công tác quản trị và bài học kinh nghiệm trong quá trình triển khai Basel II vào QTRR tín dụng tại một số NHTM trong và ngoài nước tác giả cũng đưa ra những đề xuất giải pháp triển khai QTRR tín dụng theo tiêu chuẩn Basel II tại Agribank trong thời gian từ 2018-2022. Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng hiệp ước Basel II ở Techcombank.
Bài viết của tác giả Vũ Ngọc Điệp (2019) với chủ đề “Hiệp ước Basel và giải pháp áp dụng hiệp ước Basel II trong quản trị rủi ro tại các ngân hàng thương mại Việt Nam” đăng trên tạp chí công thương số 10 tháng 09/2019. Bài viết được tác giả xoay quanh khung lý thuyết của 3 hiệp ước Basel và những nguyên tác áp dụng cơ bản. Liên hệ thực tế, tác giả đã phân tích về hiện trạng áp dụng Basel II tại các NHTM tại Việt Nam và chỉ ra rằng các nghiệp vụ và công nghệ giám sát toàn bộ thị trường tài chính, cảnh báo sớm và ngăn ngừa rủi ro theo Basel II còn rất yếu, vai trò và chức năng thanh tra – giám sát NHTM tại Việt Nam cũng còn có khoảng cách khá xa trong việc đáp ứng yêu cầu của các trụ cột QTRR theo chuẩn Basel II. Thông qua đó, tác giả cũng đưa ra một số giải pháp, khuyến nghị đối với hệ thống các NHTM tại Việt Nam, Ủy ban giám sát tài chính quốc gia và NHNN để gia tăng hiệu quả và tạo điều kiện thuận lợi trong việc áp dụng các tiêu chuẩn của Basel II trong hoạt động QTRR tại các NHTM Việt Nam. Tác giả cũng nhấn mạnh tại Việt Nam việc đưa các tiêu chuẩn Basel II, Basel III vào QTRR là hết sức cấp bách và quan trọng.
Bài viết của tác giả Tô Ngọc Hưng và Phạm Quỳnh Trang (2020) với chủ đề “Những vấn đề quan tâm để triển khai Basel II trong quản trị rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam” đăng trên tạp chí Khoa học và đào tạo ngân hàng số 197 tháng 10/2020. Nội dung của bài nghiên cứu đã hệ thống lại các nguyên tắc, yêu cầu của Basel II trong QTRR tín dụng theo Basel II đối với các NHTM và phân tích chỉ ra thực trạng QTRR tín dụng tại 10 ngân hàng được lựa chọn triển khai đầu tiên, từ đó nghiên cứu đã đưa ra các vấn đề cần chú trọng nhằm nâng cao hiệu quả triển khai QTRR tín dụng theo Basel II trong hệ thống NHTM Việt Nam bao gồm: Vấn đề thiếu vốn trong dài hạn cần được quan tâm giải quyết, nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin, nâng cao chất lượng nhân sự, hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ và cuối cùng hoàn thiện nâng cấp cơ sở hạ tầng, nâng cao khả năng tài chính hỗ trợ cho quá trình ứng dụng hiệp ước Basel II vào QTRR của hệ thống ngân hàng.
Bài viết của Lê Thị Thu Trang (2022) với chủ đề “Giải pháp đáp ứng tiêu chuẩn Basel II về quản trị rủi ro tại các ngân hàng thương mại Việt Nam” đăng trên tạp chí Tài chính doanh nghiệp số 12/2022. Nghiên cứu của tác giả thực hiện nhằm đánh giá thực trạng đáp ứng yêu cầu Basel II của các NHTM Việt Nam, chỉ ra một số khó khăn trong thực tế triển khai. Thông qua đó, tác giả đề xuất một số khuyến nghị và hai nhóm giải pháp bao gồm nhóm giải pháp đối với cơ quan quản lý Nhà nước và nhóm giải pháp đối với các ngân hàng thương mại nhằm tăng cường mức độ đạt chuẩn so với yêu cầu của Basel II theo chuẩn mực quốc tế.
Ngoài ra, còn rất nhiều công trình nghiên cứu khác liên quan như: Nghiên cứu của tác giả Đinh Ngọc Linh (2019) với đề tài “Basel II ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp” đăng trên cổng thông tin điện tử Viện Chiến lược và chính sách tài chính; Nghiên cứu của tác giả Lê Thị Hạnh (2019) với đề tài “Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam theo tiêu chuẩn Basel II”; Nghiên cứu của tác giả Vũ Thị Vân Hồng (2022) với đề tài “Quản trị rủi ro tín dụng theo Hiệp ước Basel II tại Agribank” đăng trên tạp chí Tài chính kỳ 2 – Tháng 8/2022,… cũng đã thể hiện đến nhiều vấn đề và các khía cạnh khác nhau trong việc triển khai các tiêu chuẩn Basel II trong QTRR tín dụng của các NHTM.
- Một số nghiên cứu của các tác giả nước ngoài
Nhóm tác giả Constantinos Stephanou và Juan Carlos Mendoza (2007) với đề tài “Credit Risk Measurement Under Basel II: An Overview and Implementation Issues for Developing Countries” (Đo lường RRTD theo Basel II: Tổng quan và các vấn đề triển khai đối với các nước đang phát triển) đăng trên tạp chí nghiên cứu chính sách của World Bank số 3556. Nghiên cứu cung cấp một cái nhìn tổng quan về những thay đổi trong cách tính yêu cầu vốn tối thiểu (CAR) đối với rủi ro tín dụng đã được soạn thảo bởi Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (Basel II) và sự hệ thống hóa trong đo lường rủi ro tín dụng. Nghiên cứu cũng chỉ ra những vấn đề cần quan tâm và hạn chế trong triển khai quản trị RRTD theo Basel II tại các NHTM ở các nước đang phát triển, đặc biệt trong đó là cần ưu tiên hoàn thiện về cơ sở hạ tầng. Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng hiệp ước Basel II ở Techcombank.
KPMG (2010) với công trình nghiên cứu mang tên “Managing Credit Risk: Beyond Basel II”. Nghiên cứu tập trung làm sáng tỏ các vấn đề cốt lõi trong quản trị RRTD tại các NHTM theo hướng tiếp cận hiện đại, bao gồm các nội dung: dữ liệu hoạt động tín dụng, hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, kiểm tra sức chịu đựng, quản lý danh mục tín dụng, xử lý nợ xấu, giảm thiểu rủi ro… Đồng thời nghiên cứu cũng chỉ ra những cơ hội, thách thức và lợi ích cho các NHTM khi áp dụng Basel II vào mô hình QTRR tín dụng.
Nghiên cứu của nhóm tác giả Apanga, M. A.-N., Appiah, K. O., & Arthur, J. (2018). Credit risk management of Ghanaian listed banks. International Journal of Law and Management (Hoạt động quản lý rủi ro tín dụng của các ngân hàng niêm yết ở Ghana). Nghiên cứu phân tích thực trạng quản lý RRTD tại các ngân hàng niêm yết ở Ghana trong giai đoạn từ 2008-2015 và cho thấy mô hình QTRR tín dụng của nhóm ngân hàng khảo sát là phù hợp theo tiêu chuẩn của Basel II. Đồng thời bài nghiên cứu cũng chỉ ra những khó khăn thách thức và từ đó đưa ra một số khuyến nghị như: Các ngân hàng nên xem xét nghiên cứu sử dụng các công cụ phái sinh tín dụng, cơ chế kiểm soát hoạt động cấp tín dụng và thu hồi nợ thông qua điểm tín dụng hoặc xác suất vỡ nợ. Ngoài ra, các ngân hàng nên điều chỉnh các nguyên tắc theo yêu cầu của hiệp ước Basel II để phù hợp với quy mô, tính chất và mức độ phức tạp của hoạt động cho vay của từng ngân hàng.
Nghiên cứu của tác giả Manlagnit, M. C. V. (2017). “Basel regulations and banks’ efficiency: The case of the Philippines” (Những quy định của Basel và hiệu quả của ngân hàng: Trường hợp tại Philippines) đăng trên tạp chí Kinh tế Châu Á (journal of asian economics). Nghiên cứu đã phân tích việc áp dụng triển khai các tiêu chuẩn của Basel II và phân tích những tác động của chúng đến chi phí và hiệu quả của các ngân hàng tại Philippines giai đoạn 2003-2013 như yêu cầu tăng vốn (trụ cột 1), yêu cầu giám sát (trụ cột 2) và yêu cầu minh bạch thông tin (trụ cột 3) và phân tích các mối tương quan khác về QTRR và chất lượng tài sản của ngân hàng. Nghiên cứu cũng đánh giá mức độ sẵn sàng của các NHTM tại Philippines hướng tới triển khai tiêu chuẩn Basel III. Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng hiệp ước Basel II ở Techcombank.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG THEO HIỆP ƯỚC BASEL II TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Một số vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng
1.1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng
Khái niệm rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của các NHTM, đã được nhiều nhà nghiên cứu, quản lý và kinh doanh đề cập ở nhiều khía cạnh khác nhau.
Theo nghiên cứu của Joel Besis (2017) thì cho rằng RRTD chính là rủi ro phát sinh khi bên đi vay không thể thực hiện các nghĩa vụ tín dụng đến hạn của mình. Đây chính là loại rủi ro chiếm tỷ lệ lớn nhất trong hoạt động của các NHTM bởi đặc thù của ngân hàng là kinh doanh trên rủi ro. Bên cạnh đó tác giả A.Saunders (2010) cho rằng RRTD chính là những biến động về dòng tiền và thu nhập của bên vay dẫn đến người vay không có khả năng thanh toán hoặc thanh toán không đúng nghĩa vụ nợ đến hạn bao gồm cả gốc và lãi.
Theo thông tư 02/2015/TT-NHNN có định nghĩa về RRTD như sau: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Còn theo thông tư 57/2021/TT-BTC của Bộ Tài chính thì có định nghĩa về RRTD của NHTM như sau: “Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động của các ngân hàng thương mại do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ theo cam kết”.
Tổng quát lại tuy khái niệm rủi ro tín dụng có thể được phát biểu, định nghĩa và biểu hiện dưới nhiều góc độ khác tuy nhiên chúng đều có điểm chung đó chính là RRTD chính là sự không chắc chắn về khả năng và thiện chí thực hiện nghĩa vụ tín dụng đến hạn giữa người đi vay và bên cho vay. Và đây được xem là rủi ro đặc thù trong hoạt động của các NHTM, không có cách nào xóa bỏ mà chỉ có thể giảm thiểu nó thông qua cơ chế quản trị và kiểm soát bởi kinh doanh của ngân hàng vốn được xem là ngành kinh doanh trên rủi ro. Nên nhiệm vụ chính của ngân hàng là cần có chính sách và tiêu chuẩn quản lý phù hợp để tối ưu hóa giữa lợi nhuận và rủi ro.
1.1.2 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng hiệp ước Basel II ở Techcombank.
- Nguyên nhân bên ngoài ngân hàng
Nguyên nhân môi trường tự nhiên: Đây là nhóm nguyên nhân đến từ các yếu tố bất lợi của tự nhiên như dịch bệnh, thiên tai, thời tiết, khí hậu,… có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động kinh doanh và thu nhập của đối tượng được ngân hàng cấp tín dụng. Đây là nguyên nhân mang tính chất thất thường và khó lường trước được, khi xảy ra có thể để lại hậu quả và hệ lụy lớn cho cả nền kinh tế nói chung và lĩnh vực ngân hàng nói riêng.
Nguyên nhân đến từ môi trường pháp lý: Bắt nguồn từ việc môi trường pháp lý thiếu sự đồng bộ và chưa hoàn thiện gây ra những rào cản cho hoạt động của các KH và ngân hàng (bao gồm các vấn đề như thủ tục, quy trình, điều kiện, cơ chế,…). Sự chưa thông thoáng về pháp lý và đồng nhất này có thể là nguyên nhân gây ra sự khó khăn cho một số nhóm KH từ đó ảnh hưởng đến khả năng trả nợ và thanh toán của họ đối với ngân hàng.
Nguyên nhân môi trường chính trị – xã hội: Đây nhóm nguyên nhân chung, mang tính chất như rủi ro quốc gia. Ví dụ: khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng quân sự, xung đột, nội chiến,…
Nguyên nhân đến từ khách hàng: Khách hàng sử dụng vốn vay không hiệu quả và yếu kém trong công tác quản lý khi sử dụng vốn vay để kinh doanh (KHDN) hoặc đối với KHCN thì đến từ ảnh hưởng nguồn thu nhập do mất việc, bệnh tật, kinh doanh đầu tư thua lỗ dẫn đến mất khả năng trả nợ cho ngân hàng. Ngoài ra, còn một số lý do đến từ sự cố ý, trục lợi của người đi vay như: cung cấp hồ sơ giả, khai báo thông tin không trung thực, tạo các phương án kinh doanh giả, cố ý sử dụng vốn sai mục đích hoặc đơn giản là khách không có thiện chí trả nợ.
- Nguyên nhân bên trong ngân hàng
Mức độ tập trung quá cao vào 1 nhóm đối tượng: Dựa vào thế mạnh, am hiểu và định hướng phát triển mà một số ngân hàng hay một số chi nhánh thường tập trung tín dụng vào một nhóm KH, nhóm ngành nghề hay lĩnh vực hay khu vực nào đó.
Chính sự tập trung này, mà khi có rủi ro xảy ra liên quan đến rủi ro ngành hay nhóm KH đó thì sẽ tác động trực tiếp đến chất lượng tín dụng của cả nhóm.
Chính sách tín dụng: Nguyên nhân này đến từ việc ngân hàng ban hành các chính sách tín dụng chưa phù hợp, rườm rà và thiếu chặt chẽ. Tạo ra những kẽ hở đến KH thực hiện những hành vi gian lận, thiếu trung thực hoặc nhân viên cấu kết để tạo điều kiện cho các hồ sơ không phù hợp và yếu kém được cấp tín dụng.
Năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của nhân viên tín dụng: Do hoạt động cấp tín dụng phụ thuộc khá nhiều vào yếu tố con người trong việc thu thập hồ sơ KH, thẩm định, giải ngân, kiểm tra sử dụng vốn, thu nợ,… nên rủi ro rất dễ phát sinh đến từ sự thiếu chuyên nghiệp và năng lực nghiệp vụ yếu kém nhân viên tín dụng hoặc yếu tố chủ quan khác đó chính là đạo đức nghề nghiệp. Chính vì thế mà hoạt động ngân hàng đòi hỏi nguồn nhân lực phải đáp ứng đủ trình độ chuyên môn và quan trọng là yếu tố về tuân thủ và đạo đức nghề nghiệp.
Thiếu hoặc chưa giám sát sau vay phù hợp: Bên cạnh việc cấp tín dụng thì hoạt động kiểm tra, giám sát sau của ngân hàng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nhận diện cảnh báo và phát hiện các gian lận, sử dụng vốn sai mục đích của KH.
1.1.3 Hậu quả của rủi ro tín dụng Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng hiệp ước Basel II ở Techcombank.
Khi rủi ro tín dụng xảy ra thì hậu quả đôi khi không chỉ ảnh hưởng riêng lẻ đến NHTM (Bên cấp tín dụng) và Bên vay vốn mà thậm chí những hậu quả tiêu cực đến từ rủi ro tín dụng có thể ảnh hưởng đến cả hệ thống nền kinh tế.
- Hậu quả đối với ngân hàng thương mại
Thứ nhất, khi xảy ra RRTD, các NHTM đối mặt nguy cơ không thể nhận được tiền gốc đã phát vay và tiền lãi trong khi ngân hàng vẫn phải thanh toán chi phí lãi suất huy động đầu vào vào theo cam kết từ đó trực tiếp làm âm vào thu nhập của ngân hàng. RRTD có thể kéo theo hàng loạt vấn đề kèm theo như làm giảm uy tín của ngân hàng, mất thanh khoản, giảm niềm tin của công chúng,… từ khó gây khó cho hoạt động huy động vốn và tiền gửi của ngân hàng để cấp vốn cho hoạt động. Ngoài ra, ngân hàng cũng gia tăng thêm các chi phí như: tố tụng, đi lại, án phí, vận hành xử lý nợ,….
Thứ hai, khi đối mặt RRTD thì bắt buộc NHTM phải trích lập dự phòng và bù đắp giảm trừ vào phần lợi nhuận của ngân hàng. RRTD có thể phá vỡ hết mọi thành quả kinh doanh của ngân hàng, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận thực tế của ngân hàng. Điều này làm vốn lưu động của ngân hàng giảm xuống nếu đến mức thiệt hại từ rủi ro tín dụng quá lớn vượt quá khả năng tự bồi thường của ngân hàng thì có thể làm ngân hàng bị phá sản.
Cuối cùng, rủi ro tín dụng có tác động lớn đến xếp hạng tín nhiệm của một ngân hàng thông qua yếu tố về nợ xấu. Ngân hàng xếp hạng tín nhiệm càng thấp thì càng khó hội nhập và hợp tác trong kinh doanh, luôn yếu thế trong khâu đàm phán, sản phẩm sẽ ít được cạnh tranh và luôn gặp khó trong quá trình huy động vốn hoặc phải huy động vốn với một chi phí cao hơn. Điều này như một trở ngại cho các ngân hàng có thể có đủ vốn và vươn lên hoạt động mạnh mẽ. Chưa dừng lại đó, chỉ số nợ xấu cao cũng ảnh hưởng đến việc NHTM có thể bị kiểm soát đặc biệt, kiểm soát giới hạn tăng trưởng tín dụng ở mức rất thấp hay có thể bị giới hạn một số hoạt động cho đến khi ổn định trở lại.
- Hậu quả đối với bên đi vay
Thứ nhất, khi bên đi vay không thể thanh toán đúng hạn gốc/lãi của khoản vay khi đến hạn (Bất kể nguyên nhân của việc không thanh toán hoặc thanh toán không đúng hạn đến từ yếu tố chủ quan hay khách quan) thì uy tín của người vay sẽ bị suy giảm nghiêm trọng. Tùy thuộc vào hình thức cấp tín dụng, thời gian chậm thanh toán mà bên đi vay có thể bị ảnh hưởng lưu vết chất lượng dụng không tốt trên cổng thông tin tín dụng quốc gia (CIC). Bên cạnh đó, căn cứ vào mức độ nợ xấu theo quy định, thiện chí hợp tác mà KH có thể đối mặt với các nguy cơ như: bị ngân hàng kiện tụng, tài sản đảm bảo (nếu có) bị tịch thu và phát mại để thực hiện nghĩa vụ trả nợ,…. điều này có thể làm bên đi vay bị phá sản, tổn hại uy tín nghiêm trọng hay ít nhất bên đi vay sẽ bị lưu lại thông tin tín dụng xấu trên CIC, ảnh hưởng đến KH sẽ không vay được hoặc rất khó tiếp cận tín dụng tại bất kỳ ngân hàng nào khác. Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng hiệp ước Basel II ở Techcombank.
- Hậu quả đối với nền kinh tế
Có thể nói hoạt động cấp tín dụng của NHTM như một mắt xích trung gian trong quá trình luân chuyển tiền tệ phục vụ cho hoạt động của nên kinh tế. Ngân hàng thương mại làm vai trò huy động tiền gửi từ nơi thừa và thực hiệp cấp tín dụng cho nơi thiếu để phục vụ cho nhiều nhu cầu khác nhau như: tiêu dùng, đầu tư, sản xuất kinh doanh,…. từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế được thuận lợi. Nếu RRTD xảy ra thì dòng lưu thông này cũng sẽ bị gián đoạn, từ đó có thể tác động kìm hãm hay thậm chí là làm giảm sự phát triển của nền kinh tế.
Ngoài ra, như đã phân tích rủi ro tín dụng có nguy cơ làm cho ngân hàng bị phá sản mà ngân hàng lại được ví như là nơi chứa tiền nhàn rỗi lớn và an toàn trong công chúng nên nếu xảy ra hiện tượng ngân hàng phá sản thì có thể dẫn đến tâm lý hoan man trong công chúng và xảy ra hiệu ứng dây chuyền đến cả hệ thống ngân hàng, KH đồng loạt rút tiền làm cho các ngân hàng rơi vào tình trạng mất thanh khoản và có thể gây ra hiệu ứng đổ vỡ hàng loạt ngân hàng, từ đó ảnh hưởng rất tiêu cực đến nền kinh tế và thậm chí là an ninh, xã hội.
1.1.4 Các yếu tốc tác động đến rủi ro tín dụng
Lê Thanh Tâm, Đoàn Minh Ngọc (2023) rủi ro tín dụng có liên quan chủ yếu đến các yếu tố có nguồn gốc vĩ mô như: Mức độ tăng trưởng của thị trường bất động sản, lãi suất thực, biến động tỷ giá, … Nghiên cứu cho thấy, các yếu tố này có tác động cùng chiều đến RRTD tại các NHTM ở Việt Nam trong giai đoạn từ 2014-2022. Trong đó, tăng trưởng nóng của thị trường bất động sản tạo nên cơn sốt đất ảo đến khi thị trường nhà đất suy giảm khiến người kinh doanh bất động sản và người vay tiền mua nhà đất gặp nhiều khó khăn, hệ quả là để lại các khoản nợ xấu lớn phát sinh trong các NHTM. Về yếu tố lãi suất thực thì khi lãi suất thực của KH tăng dẫn đến việc tăng chi phí các khoản vay của KH và đồng thời cũng gia tăng áp lực trả nợ trong khi khả năng tài chính của KH thì không thể áp ứng kịp nên dẫn đến quá hạn và phát sinh nợ xấu. Điều này cũng phù hợp với các nghiên cứu trước đó của các tác giả như Lê Bá Trực (2017) và Nguyễn Thùy Dương & Trần Thị Thu Hương (2019). Cuối cùng là các yếu tố vĩ mô về biến động của tỷ giá cũng có tác động đến rủi ro tín dụng, kết luận này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Castro, Vítor (2015) và Lê Bá Trực (2020). Biến động tỷ giá tăng chủ yếu có tác động đối với các doanh nghiệp nhập khẩu, làm cho chi phí của các doanh nghiệp tăng cao, lợi nhuận giảm và kéo theo đó là mất khả năng thanh toán theo cam kết tại các ngân hàng. Ngoài ra, trong nghiên cứu của mình tác giả cũng chỉ ra một yếu vi mô duy nhất có tác động cùng chiều với RRTD đó chính là lãi suất vay danh nghĩa. Việc tăng lãi suất của ngân hàng nằm bù đắp các khoản rủi ro dự kiến, tuy nhiên lãi suất tăng có thể gây ra tăng áp lực trả nợ cho KH từ đó làm tăng RRTD.
1.1.5 Tiêu chí đo lường rủi ro tín dụng Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng hiệp ước Basel II ở Techcombank.
- Chỉ tiêu nợ quá hạn
Theo thông tư 02/2015/TT-NHNN thì “Khoản nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn”. Khái niệm này được định nghĩa bổ sung làm rõ hơn trong Thông tư 11/2023/TT-NHNN nhưng về bản chất thì vẫn không có thay đổi. Theo Nguyễn Văn Tiến (2012) thì “Tỷ lệ nợ quá hạn hiện tại được duy trì ở mức dưới 2 đang được đánh giá là quản trị nợ quá hạn rất tốt, tỷ lệ 2% đến 5% được cho là tốt, từ 5% đến 10% là chấp nhận được và trên 10% là có vấn đề.” Công thức:
Ngoài ra, một công thức liên hệ từ tỷ lệ nợ quá hạn đó chính là tỷ lệ KH nợ quá hạn được xác định theo công thức:
Công thức
- Chỉ tiêu nợ xấu
Theo Thông tư 02/2015/TT-NHNN và Thông tư 09/2016/TT-NHNN thì “Nợ xấu (NPL) là nợ thuộc nhóm 3, 4 và 5”. Trong đó nợ nhóm 3 là nợ dưới chuẩn, nợ nhóm 4 là nợ nghi ngờ và nợ nhóm 5 là nợ có khả năng mất vốn.
- Công thức tính toán NPL như sau:
Ý nghĩa của việc sử dụng thang đo tỷ lệ nợ xấu là giúp thấy rõ bản chất và chất lượng danh mục tín dụng của một ngân hàng và tương tự hệ số này có thể tính cho toàn hệ thống ngân hàng. Hệ số này tỷ lệ ngịch với chất lượng phê duyệt và quản lý tín dụng tại nhà băng, nếu càng cao thì đỏi hỏi ngân hàng phải xem xét và đánh giá lại về quy trình và quy chế quản lý.
- Trích lập dự phòng theo nhóm nợ
Theo Thông tư 02/2015/TT-NHNN và Thông tư 11/2023/TT-NHNN thì “Dự phòng rủi ro là số tiền được trích lập và hạch toán vào chi phí hoạt động để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Dự phòng rủi ro gồm dự phòng cụ thể và dự phòng chung.” Công thức:
1.2 Tổng quan về quản trị rủi ro tín dụng theo hiệp ước Basell II Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng hiệp ước Basel II ở Techcombank.
1.2.1 Khái quát về quản trị rủi ro tín dụng
Theo Basel thì QTRR tín dụng là tổng thể các biện pháp được thực hiện nhằm để tối đa hóa tỷ suất sinh lời theo giới hạn rủi ro tín dụng bằng cách duy trì số dư tín dụng trong một phạm vi các tham số phù hợp. Mục tiêu của QTRR tín dụng là tối đa hóa lợi suất và hiệu quả của ngân hàng bằng việc kiểm soát mức độ rủi ro ở một tỷ lệ phù hợp và chấp nhận được.
Cơ quan tiền tệ thuộc chính phủ Singapore (Moneytary Authority of Singapore) định nghĩa “Quản trị rủi ro tín dụng là thiết lập quá trình quản trị rủi ro tín dụng để nhận diện, đo lường, đánh giá, giám sát, kiểm soát và báo cáo rủi ro tín dụng trong một khoảng thời gian nhất định, đảm bảo đủ vốn để chống đỡ rủi ro tín dụng”.
Tại Việt Nam, thông tư 13/2020/TT-NHNN cũng có quan điểm tương đồng “Quản lý rủi ro là việc nhận dạng, đo lường, theo dõi và kiểm soát rủi ro trong hoạt động của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài”.
Như vậy, có thể tổng quát QTRR tín dụng chính là việc xây dựng, thực thi và quản lý mô hình, chính sách để kiểm soát rủi ro tín dụng trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng theo một tiêu chuẩn hoặc chuẩn mực nhất định phù hợp nhằm tối ưu hóa lợi nhuận trên cơ sở điều tiết và giữ các giới hạn về RRTD ở mức độ phù hợp, nhận diện các dấu hiệu rủi ro và xử lý giảm thiểu thiệt hại khi RRTD phát sinh.
1.2.2 Quản trị rủi ro tín dụng theo hiệp ước Basel II Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng hiệp ước Basel II ở Techcombank.
1.2.2.1 Vài nét về Ủy ban Basel và Hiệp ước Basel II
Năm 1974, Ủy ban Basel được thành lập tại thành phố cùng tên ở Thụy sĩ với sứ mệnh đầu tiên là giúp ngăn chặn sự sụp đổ của hàng loạt các ngân hàng trong khủng hoảng ở thập kỷ 80 và giải cứu thị trường tài chính tại 10 quốc gia thành viên. Mục tiêu hoạt động của Ủy ban Basel là nâng cao chất lượng giám sát hoạt động ngân hàng trên toàn cầu, trở thành 1 tổ chức với những tiêu chuẩn riêng trong lĩnh vực ngân hàng và được công nhận trên trường quốc tế. Tính đến cuối năm 2024 thì Ủy ban Basel có 45 thành viên của về giám sát ngân hàng.
Hiệp ước Basel I được Ủy ban Basel giới thiệu lần đầu vào năm 1998, sửa đổi vào năm 1999 tuy nhiên do là hiệp ước đầu tiên và còn sơ khai nên Basel I sớm bộc lộ những hạn chế không đủ sức chống đỡ với các cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Chính vì thế, ngày 26/06/2006 hiệp ước Basel II chính thức được ban hành. Đây là phiên bản nâng cấp của Hiệp ước Basel để phù hợp hơn với thời thế, trong đó đưa ra các nguyên tắc chung và các luật ngân hàng của ủy ban Basel về giám sát ngân hàng.
Basel II đưa ra một chuỗi các cách tiếp cận RRTD phức tạp và tập trung mới vào rủi ro vận hành. Basel II sử dụng khái niệm “3 trụ cột”.
Hình 1.1 Tổng quát về các trụ cột của Basel II
- Trụ cột 1: Yêu cầu vốn tối thiểu
Trụ cột 1 quy định 1 tỷ lệ an toàn vốn (CAR- Capital Aquadecy Ratio) 8%.
- Công thức:
Trong đó rủi ro được đề cập tại Basel II bao gồm: Rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành và rủi ro thị trường. Trọng số rủi ro của Basel II chia làm 5 mức tương ứng với 5 nhóm nợ: 0%, 20%, 50%, 100% và 150%.
Tài sản có rủi ro (RWA) được xác định bằng phương trình:
RWA = Tổng Tổng (Tài sản Mức rủi ro phân định cho từng tài sản trong bảng cân đối kế toán) + Tổng (Nợ tương đương x Rủi ro ngoại bảng).
Để đánh giá RRTD từ đó xác định hệ số rủi ro tài sản, Basel II giới thiệu và cho phép 3 cách tiếp cận đó chính là: Phương pháp tiếp cận tiêu chuẩn hóa (SA); Phương pháp tiếp cận cơ bản dựa vào xếp hạng tín dụng nội bộ (FIRB) và phương pháp tiếp cận nâng cao dựa vào xếp hạng tín dụng nội bộ (AIRB).
- Trụ cột 2: Kiểm tra và giám sát ngân hàng Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng hiệp ước Basel II ở Techcombank.
Trụ cột 2 đề cập đến quá trình rà soát giám sát của khung QTRR của tổ chức và cuối cùng là an toàn vốn. Nó đưa ra trách nhiệm giám sát cụ thể đối với HĐQT và quản lý cấp cao, do đó tăng cường nguyên tắc của kiểm soát nội bộ và quản trị doanh nghiệp khác do cơ quan quản lý ở các quốc gia khác nhau trên toàn thế giới thực hiện.
Liên quan đến việc hoạch định chính sách thì Basel II cũng giới thiệu cho các nhà hoạch định chính sách ngân hàng những “công cụ” tốt hơn so với phiên bản trước đó và đồng thời cũng cung cấp một khung giải pháp cho các rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt bao gồm: rủi ro hệ thống, rủi ro danh tiếng, rủi ro chiến lược, rủi ro thanh khoản và cả rủi ro về pháp lý.
Basel II cũng giới thiệu về quy trình đánh giá tính đầy đủ vốn nội bộ (ICAAP) và đây cũng được xem là một trong những vấn đề trọng tâm trọng trụ cột 2 nhằm bảo đảm ổn định tài chính. Theo đó nó yêu cầu các NHTM nên thiết lập quy trình đo lường vốn để đảm bảo việc xác định, đo lường rủi ro tổng, rủi ro cá biệt từ đó tính số vốn kinh tế cần thiết để bù đắp rủi ro đó.
- Trụ cột 3: Nguyên tắc thị trường
Nguyên tắc thị trường củng cố các nỗ lực để thúc đẩy an toàn và minh bạch trong các ngân hàng. Công khai các thông tin cơ bản và các thông tin liên quan đã làm cho nguyên tắc thị trường hiệu quả hơn. Trụ cột 3 cũng yêu cầu ngân hàng phải công khai về cơ cấu vốn tự có, mức độ rủi ro hoạt động, chính sách quản lý rủi ro và các biện pháp hạn chế rủi ro…
1.2.2.2 Nguyên tắc quản trị rủi ro tín dụng
Ủy ban Basel đưa ra bộ nguyên tắc QTRR tín dụng bao gồm 17 nguyên tắc được khái quát vào 5 nhóm nội dung cơ bản như sau:
- Nhóm thứ nhất là nhóm các nguyên tắc về “Thiết lập môi trường rủi ro tín dụng phù hợp” (Bao gồm nguyên tắc: 1,2,3)
- Nhóm thứ hai là nhóm các nguyên tắc về “Hoạt động theo một quy trình cấp tín dụng lành mạnh” (Bao gồm nguyên tắc: 4,5,6,7)
- Nhóm thứ ba là nhóm các nguyên tắc “Duy trì việc cấp tín dụng hiệu quả”
(Bao gồm nguyên tắc: 8,9,10,11,12,13)
- Nhóm thứ tư là nhóm các nguyên tắc về “Hệ thống kiểm soát rủi ro tín dụng”
(Bao gồm nguyên tắc: 14,15,16)
- Nhóm thứ năm là nguyên tắc về “Giám sát rủi ro tín dụng” (Nguyên tắc 17).
Chi tiết về nội dung 17 nguyên tắc được thể hiện tại phụ lục 1 của luận văn.
1.2.2.3 Chiến lược quản trị rủi ro tín dụng và khẩu vị rủi ro tín dụng
- Chiến lược quản trị rủi ro tín dụng Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng hiệp ước Basel II ở Techcombank.
Chiến QTRR tín dụng đề cập đến các nội dung bao gồm: mục tiêu, nguyên tắc và các lĩnh vực kinh doanh trọng yếu. Theo đó chiến lược QTRR đạt chuẩn phải thể hiện được các mục tiêu tổng quát về định hướng phát triển tín dụng của ngân hàng bao gồm các nội dung cụ thể về: Loại hình cho vay, đối tượng KH mục tiêu, tập ngành trọng tâm ưu tiên, địa bàn (địa lý), đơn vị tiền tệ cấp tín dụng, kỳ hạn khoản vay, biên lợi nhuận, tỷ suất sinh lời kỳ vọng và đặc điểm về rủi ro của danh mục tín dụng. Chiến lược QTRR tín dụng phải được xây dựng trên cơ sở khả năng vốn tự có của ngân hàng, mục tiêu phát triển tín dụng, chất lượng tín dụng, lợi nhuận dự kiến, sự biến động của môi trường kinh tế vĩ mô, chu kỳ nền kinh tế và sự tác động của chúng đến các tỷ lệ thành phần và chất lượng của danh mục tín dụng.
- Khẩu vị rủi ro tín dụng
Khẩu vị RRTD là khả năng, cách thức, mức độ, phạm vi chấp nhận rủi ro tín dụng của một ngân hàng nhằm đạt được mục tiêu trong hoạt động tín dụng.
Xác định khẩu vị rủi ro được coi là vấn đề có ý nghĩa quyết định cả quá trình và kết quả quản trị RRTD của một ngân hàng. Khẩu vị RRTD của ngân hàng được xác định và tính toán phụ thuộc vào năng lực quản lý rủi ro của ngân hàng, kỳ vọng của cổ đông, cơ quan quản lý nhà nước và các bên có lợi ích liên quan khác. Khi xác định khẩu vị RRTD, cần tuân thủ các nguyên tắc cơ bản: (1) đảm bảo tính toàn diện, bao hàm mọi rủi ro ngân hàng có thể gặp phải trong hoạt động tín dụng, (2) Phải đo lường được sự tác động của RRTD: mô tả cụ thể hướng tác động và mức độ ảnh hưởng của RRTD lên hoạt động kinh doanh của ngân hàng, (3) phải phù hợp với chiến lược kinh doanh của ngân hàng, (4) Phải thường xuyên đánh giá lại, đảm bảo khẩu vị luôn phù hợp với sự biến động của các yếu tố bên ngoài cũng như tình hình hiện tại của ngân hàng. Khẩu vị RRTD phải được cụ thể hóa thông qua: (i) Tiêu chuẩn thực hiện cấp tín dụng cho từng phân nhóm KH, loại sản phẩm tín dụng, địa bàn cung ứng dịch vụ, nhóm ngành lĩnh vực kinh tế trọng tâm, loại đơn vị tiền tệ, thời hạn khoản tín dụng, (ii) Nhóm đối tượng mục tiêu trong mỗi phân đoạn thị trường, mức độ tập trung, mở rộng sự đa dạng của danh mục tín dụng, (iii) Chiến lược về giá (lãi suất tín dụng).
1.2.2.4 Tổ chức bộ máy quản trị rủi ro tín dụng Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng hiệp ước Basel II ở Techcombank.
Hoạt động QTRR tín dụng cần phải được tổ chức theo một bộ máy hoàn chỉnh với đầy đủ các bộ phận chức năng và mỗi bộ phận ấy đều có vai trò kiểm soát, quản lý RRTD ở những khía cạnh khác nhau. Mục tiêu hướng đến của việc tổ chức này là giúp ngân hàng kiểm soát RRTD một cách độc lập, khách quan và hiệu quả nhất, chính lẽ đó mà việc xây dựng bộ máy QTRR tín dụng cần phân rõ quyền hạn, trách nhiệm và chức năng để tránh sự trùng lặp, chồng chéo và nhất là gây xung đột đến quyên và lợi ích giữa các bộ phận thực hiện chức năng kiểm soát. Cùng với bộ “17 nguyên tắc QTRR tín dụng”, Trụ cột 1 và 2 của hiệp ước Basel II đã bổ sung thêm 1 bước cụ thể hóa các chức năng kiểm soát RRTD. Theo đó mà yêu cầu quan trọng nhất của một bộ máy QTRR tín dụng hoàn thiện và tuân thủ theo Basel II đó chính là cần đảm bảo sự độc lập giữa 3 nhóm kiểm soát, cụ thể là: thứ nhất độc lập giữa bộ phận điều hành – bộ phận giám sát, thứ hai là độc lập giữa bộ phận kinh doanh – bộ phận thẩm định, tái thẩm định lại và cuối cùng là sự độc lập giữa bộ phận kinh doanh, bộ phận quản lý RRTD – bộ phận kiểm toán nội bộ.
Để đáp ứng theo các yêu cầu của Basel, hầu hết các NHTM đều lựa chọn mô hình tổ chức thực hiện hoạt động QTRR tín dụng theo “Mô hình 3 vòng kiểm soát” hay tên gọi khác là “Mô hình 3 tuyến bảo vệ” của NHTM.
Hình 1.2: Mô hình 3 tuyến bảo vệ
Anil Kuma Parimoo (2016) có tổng quản về khái niệm và chức năng, nhiệm vụ của từng tuyến trong mô hình 3 tuyến bảo vệ trong hoạt động của các NHTM như sau:
Tuyến bảo vệ thứ nhất là tập hợp bao gồm các lực lượng trực tiếp kinh doanh, vận hành và quản lý hoạt động kinh doanh hàng ngày tại ngân hàng. Tuyến 1 tại các NHTM bao gồm: Các chuyên viên quan hệ khách hàng, bộ phận bán hàng, giao dịch viên, kiểm soát quản lý tại đơn vị kinh doanh, các đơn vị vận hành tại hội sở, ….. Các đơn vị này được xem là đơn vị tiền tuyến của ngân hàng, trực tiếp xúc và làm việc với khách hàng, có nhiệm vụ chính là nhận diện, đánh giá, phòng ngừa, báo cáo và theo dõi các rủi ro phát sinh trong hoạt động kinh doanh (cho vay) và các quy trình vận hành khác; mục đích là bảo vệ lợi ích của ngân hàng thông qua tự đánh giá rủi ro và kiểm soát tính hiệu quả của từng đơn vị.
Tuyến bảo vệ thứ hai bao gồm các bộ phận, phòng ban chuyên môn có chức năng về quản lý rủi ro, trong đó đứng đầu là khối quản trị rủi ro và các bộ phận chuyên môn khác như: bộ phận tuân thủ và quản trị rủi ro hoạt động, bộ phận cảnh báo sớm, bộ phận giảm thiểu rủi ro, pháp chế, phòng chống rửa tiền, gian lận … và các bộ phận liên quan khác như đảm bảo chất lượng, đảm bảo hoạt động, an ninh,…. Nhiệm vụ quan trọng nhất của tuyến này chính là việc độc lập đánh giá và kiểm soát (kiểm tra và cân đối) tính hiệu quả và hoạt động của tuyến phòng thủ 1; Tuyến 2 thực hiện quản lý rủi ro thông qua việc thiết lập chính sách cho vay, khẩu vị rủi ro, xây dựng quy trình, hướng dẫn tín dụng và cho vay, theo dõi, quản trị danh mục, cảnh báo sớm…; giám sát công tác các hoạt động kiểm soát nội bộ, tuân thủ… Đồng thời, các đơn vị tại tuyến 2 sẽ chính là bộ phận trực tiếp hỗ trợ xử lý vướng mắc, tư vấn, định hướng cho tuyến 1 khi tuyến 1 gặp khó khăn.
Tuyến bảo vệ thứ ba là bộ phận kiểm toán nội bộ. Bộ phận kiểm toán nội bộ được tổ chức trực thuộc HĐQT hoặc Ban kiểm soát và độc lập với Ban điều hành của ngân hàng với mục tiêu đánh giá một cách khách quan, độc lập và trung thực nhất hoạt động quản trị của ngân hàng. Đây cũng là tuyến cuối cùng vói chức năng chốt chặn quan trọng trong mô hình phòng thủ của ngân hàng. Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng hiệp ước Basel II ở Techcombank.
1.2.2.5 Chính sách quản trị rủi ro tín dụng
Chính sách QTRR tín dụng là khung chính sách được ban hành với mục tiêu định hướng, hướng dẫn công tác QTRR tín dụng tại ngân hàng. Chính sách QTRR tín dụng bao gồm các quy định, quy trình cấp tín dụng, hướng dẫn về việc QTRR tín dụng và chúng được thiết lập một cách đầy đủ, rõ ràng, dễ dàng tiếp cận với cán bộ nhân viên dưới dạng là văn bản. Đây được xem chính là một phiên bản sau, một phiên bản cụ thể hóa các định hướng trong chiến lược QTRR tín dụng cho nên có thể xem đây là một công cụ giúp thực thi chiến lược QTRR tín dụng. Thông thường các nội dung cơ bản của sách QTRR tín dụng bao gồm các cấu phần:
- Tiêu chuẩn cấp tín dụng:
Đây chính là bộ các tiêu chí tối thiểu theo chính sách và mức độ chấp nhận rủi ro của từng ngân hàng mà bắt buộc khách hàng đi vay phải đáp ứng để được ngân hàng xem xét cấp tín dụng. Ngoài mức độ chấp nhận rủi ro từ phía ngân hàng thì các tiêu chí này cần đáp ứng theo quy định pháp luật về hoạt động kinh doanh ngân hàng. Một bộ tiêu chí cấp tín dụng thông thường phải có các nội dung chính như sau: Năng lực hành vi dân sự và năng lực pháp lý dân sự của bên đề nghị cấp tín dụng, tình hình tài chính, nguồn trả nợ và khả năng trả nợ của người đi vay, mục đích vay vốn, phương án sử dụng vốn và tính khả thi của phương án sử dụng vốn vay và tài sản đảm bảo cho khoản tín dụng. Các điều kiện và tiêu chuẩn phải được thiết kế phù hợp với từng sản phẩm tín dụng, loại hình tín dụng và theo từng loại khách hàng khác nhau. Việc xây dựng bộ tiêu chuẩn này rất quan trọng bởi nếu xây dựng được một bộ tiêu chí kiểm duyệt đầu vào tốt sẽ giúp tạo điều kiện để có thể ra quyết định phê duyệt tín dụng tốt và an toàn. Bởi vì, đây không chỉ đơn giản là xác định loại KH hay đặc điểm của KH mà nó còn quyết định đến chất lượng rủi ro của món tín dụng và lớn hơn là cả danh mục tín dụng.
- Giới hạn cấp tín dụng: Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng hiệp ước Basel II ở Techcombank.
Giới hạn cấp tín dụng là công cụ được xây dựng nhằm giúp ngân hàng có thể kiểm soát RRTD thông qua việc đặt ra các giới hạn tối đa về phạm vi, quy mô và quyền hạn cấp tín dụng. Cụ thể là các giới hạn tín dụng và quyền quyết tín dụng.
Giới hạn tín dụng: là việc chặn trần mức cấp tín dụng cho một KH nhất định. Giới hạn này cần phải được xem xét, thiết lập cụ thể cho từng đối tượng KH và nhóm KH liên quan, từng loại hình tín dụng, từng kỳ hạn, từng lĩnh vực kinh doanh, từng nhóm ngành, từng đơn vị tiền tệ và cả giới hạn theo khu vực địa lý.
Giới hạn quyền quyết tín dụng: là giới hạn trong công tác giao quyền về việc thực hiện hoạt động phê duyệt tín dụng tại ngân hàng (Trong đó bao gồm cả quyền phê duyệt các yếu tố khác biệt và ngoại lệ về tín dụng). Giới hạn quyền quyết định tín dụng phải được ban hành dựa vào: Năng lực chuyên môn, kinh nghiệm và khả năng của người được giao thực thi công tác phê duyệt tín dụng; vai trò, vị trí, công việc chuyên môn của người đó tại ngân hàng, bộ máy QTRR tín dụng của ngân hàng, giá trị phê duyệt và mức độ rủi ro của khoản vay và các trường hợp cá biệt khác theo từng KH.
1.2.2.6 Quy trình và thủ tục quản trị rủi ro tín dụng
Theo Trần Thị Việt Thạch (2018) quy trình QTRR tín dụng gồm 4 khâu: Nhận biết RRTD, đo lường rủi ro, kiểm soát rủi ro, giám sát và báo cáo RRTD. Yếu tố mang đến sự hiệu quả cho quy trình đó chính là sự phối hợp nhịp nhàng giữa các công đoạn từ bước phát hiện một cách kịp thời, đến xác định rủi ro, sau đó tiến hành phân tích, định lượng để từ đó đưa ra những giải pháp xử lý kịp thời, phù hợp. Sự kết hợp của 4 khâu sẽ tạo ra một chu trình khép kín và liên tục giúp kiểm soát, quản lý đảm bảo chất lượng danh mục tín dụng trong ngân hàng
Nhận biết RRTD: Đây là bước đầu tiên trong quá trình QTRR tín dụng nhằm đánh giá rủi ro đối với các khoản nợ. Công việc nhận biết rủi ro cần được thực hiện liên tục và có hệ thống. Công tác nhận biết rủi ro đóng vai trò vô cùng quan trọng bởi đây là bước đầu tiên trong quy trình nên nếu có sai sót, chậm trễ hoặc không nhận diện đúng, đủ sẽ ảnh hưởng đến các bước sau của quy trình.
Đo lường RRTD: Là việc sử dụng các công cụ, kỹ thuật, phương pháp nhằm định mức độ của rủi ro sau khi nhận diện, từ đó giúp ngân hàng có cơ sở tính toán cho tổn thất có thể gây ra do rủi ro tín dụng này, từ đó giúp ngân hàng xây dựng hoạch ứng phó và có biện pháp xử lý kịp thời nhằm giảm tổn thất ở mức thấp nhất cho ngân hàng. Theo đó Ủy ban Basel (06/2006) đã đưa ra 3 sự lựa chọn về cách tiếp cận để đo lường và tính toán hệ số rủi ro đối với khoản mục tài sản có khi xem xét RRTD đó là:
Phương pháp chuẩn hóa: Đây là phương pháp tiếp cận đơn giản và khá giống Basel I khi cho phép ngân hàng dùng kết quả xếp hạng tín dụng của các tổ chức xếp hạng tín dụng độc lập bên ngoài.
Phương pháp tiếp cận xếp hạng nội bộ – cơ bản (FIRB): Phương pháp này sử dụng dữ liệu nội bộ để xây dựng mô hình xác suất KH vỡ nợ – PD, và các tham số khác như tỷ trọng tốn thất ước tính – LGD, tổng dư nợ của KH tại thời điểm KH vỡ nợ – EAD do NHNN cung cấp để tính toán vốn
Phương pháp tiếp cận xếp hạng nội bộ – nâng cao (AIRB): Ngân hàng tự xây dựng các mô hình PD, LGD, EAD để tính toán vốn cho RRTD. Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng hiệp ước Basel II ở Techcombank.
Kiểm soát RRTD: Ngân hàng sử dụng các công cụ, biện pháp, kỹ thuật nhằm mục đích là đảm bảo RRTD luôn nằm trong giới hạn khẩu vị rủi ro bằng cách ban hành khung chính sách, chiến lược về QTRR tín dụng mà cụ thể là sử dụng tiêu chuẩn để sàn lọc KH hoặc các biện pháp kỹ thuật giúp giảm thiểu rủi ro. Công tác kiểm soát RRTD được bắt đầu ngay khi quyết định cấp tín dụng được thông qua và cần thực hiện một cách thường xuyên. Theo Ủy ban Basel, để hoạt động kiểm soát được thực hiện hiệu quả thì ngân hàng cần thiết lập quy trình đầy đủ, rõ ràng và ngân hàng cần có đủ vốn, dự phòng RRTD để đảm bảo nguồn trả nợ khi RRTD xảy ra.
Giám sát và báo cáo RRTD: Theo Basel II, thì các NHTM cần phải xây dựng một hệ thống giám sát và báo cáo RRTD. Việc giám sát và báo cáo phải được thực hiện thường xuyên trên các thông tin chính xác, đầy đủ và kịp thời để xác định các mức độ rủi ro, phát hiện các cảnh báo hay dấu hiệu có thể dẫn đến rủi ro. Chính vì thế, hoạt động giám sát RRTD thường xuyên còn vai trò quan trọng trong việc phát hiện, nhận diện RRTD và quá trình này lại tiếp tục xoay vòng như một chu trình khép tín. Thông qua các báo cáo và kết quả của công tác giám sát sẽ giúp nhà quản lý, ban điều hành của ngân hàng có đủ thông tin một cách kịp thời và đủ am hiểu về thực trạng của mức độ RRTD để từ đó có phương án hành động để kiểm soát một cách phù hợp.
1.3 Kinh nghiệm triển khai quản trị rủi ro tín dụng theo hiệp ước Basel II
1.3.1 Kinh nghiệm tại Vietcombank và MB
- a) Kinh nghiệm tại Vietcombank
Tương tự như Techcombank, Vietcombank (VCB) là 1 trong 10 ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam được NHNN chỉ đạo thí điểm Basel II. Trên cơ sở đó Vietcombank cũng đã có những chỉ đạo, hành động từ rất sớm trong thực thi chuẩn mực của hiệp ước Basel II trong quản trị hoạt động nói chung và quản trị rủi ro tín dụng nói riêng với mục tiêu giúp ngân hàng sớm hội nhập xu thế với ngành ngân hàng trên toàn thế giới.
Ngay từ năm 2016, Vietcombank đã triển khai dự án phân tích chênh lệch giữa yêu cầu của Basel II và Vietcombank. Chương trình Basel II đã đưa ra tổng cộng 82 sáng kiến với mục tiêu giúp ngân hàng hướng đến 2 mục tiêu:
- Vietcombank có thể cơ bản đáp ứng các tiêu chí cơ bản theo phương pháp tiêu chuẩn của Basel II trong năm 2020.
- Hoàn thiện và đạt mức nâng cao trong năm 2022.
Với quá trình thực thi được Vietcombank chia ra làm 2 giai đoạn:
| Giai đoạn | Thời gian | Nội dung | Mục tiêu |
| GĐ 1 | 02/2018 đến 2020 | Thực hiện thí điểm trong áp dụng các tiêu chuẩn của hiệp ước Basel II vào QTRR. | Hoàn thành cơ bản |
| GĐ 2 | Từ năm 2021 | Tiến tới thực thi các phương pháp nâng cao theo Basel II | Đáp ứng yêu cầu các phương pháp nâng cao |
Đồng thời, ngay từ đầu giai đoạn 1 HĐQT của Vietcombank cũng đã thành lập bộ máy riêng phục vụ cho triển khai Basel II tại ngân hàng với sự tham gia của lượng lớn nhân sự (hơn 160 người) từ các phòng ban tại hội sở đến đơn vị kinh doanh và có cả sự tham gia của HĐQT và cử riêng 1 phó tổng giám đốc làm trưởng ban về Basel.
Kết quả: Vietcombank đã đáp ứng tất cả các trụ cột trong Basel II theo quy định tại thông tư 41/2018/TT-NHNN và thông tư 13/2020/TT-NHNN. Trong đó trụ cột 1 và trụ cột 3 hoàn thành từ tháng 11/2020, trụ cột 2 hoàn thành từ 7/2022.
- Trụ cột 1: Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR):
Vietcombank đã thực hiện cách tính CAR theo các văn bản hướng dẫn trong từng thời kỳ của NHNN. Trong giai đoạn 2017-2019, CAR được Vietcombank tính toán theo quyết định số 475/2055/QĐ-NHNN, sang giai đoạn từ 2020-2022 việc tính CAR được Vietcombank thực hiện theo thông tư 41/2018/TT-NHNN và cho thấy cách tính CAR theo Basel II quy định trong thông tư 41 sẽ phù hợp hơn khi phản ánh thêm 2 rủi ro là rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động. Trong giai đoạn 2018-2023 thì tỷ lệ CAR của Vietcombank luôn đạt mức yêu cầu cẩu Basel II và quy định của NHNN.
- Trụ cột 2: Công tác thanh tra giám sát: Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng hiệp ước Basel II ở Techcombank.
Vietcombank đã phối hợp với đối tác Ernst & Young (Big4 kiểm toán) để thực hiện và xây dựng lộ trình nâng cao năng lực QTRR cho ngân hàng. Vietcombank cũng cho thành lập các bộ phận quản lý rủi ro chuyên biệt, chuyển từ quản lý rủi ro thụ động sang quản lý rủi ro một cách chủ động. Qua đó, chất lượng tài sản và nợ xấu của Vietcombank luôn được kiểm soát tốt qua các năm. Nợ xấu giảm từ mức 1,5% năm 2018 xuống chỉ còn mức 0,63% trong năm 2023 thuộc nhóm tốt nhất ngành.
- Trụ cột 3: Minh bạch thông tin:
Vietcombank thực hiện công tác công bố thông tin theo nguyên tắc minh bạch, rõ ràng và đều đặn tuân thủ theo đúng quy định của NHNN và pháp luật. Tỷ lệ báo cáo xuất tự động tăng thay vì phải xử lý thủ công từ đó giúp gia tăng độ chính xác cho dữ liệu và thông tin công bố. Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng hiệp ước Basel II ở Techcombank.
- b) Kinh nghiệm tại Ngân hàng TMCP Quân đội (MB)
Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) cũng chính là 1 trong 10 ngân hàng đầu tiên cùng nhóm với Vietcombank và Techcombank trong danh sách thí điểm Basel II tại Việt Nam của NHNN từ 02/2018.
Theo BCTC của MB trong năm 2022, cho thấy ngân hàng đã hoàn thành sớm các trụ cột của Basel II theo quy định của NHNN. (Báo cáo được kiểm định và đánh giá độc lập từ cơ quan kiểm toán uy tín hàng đầu Ernst & Young. Hoạt động tăng trưởng tín dụng nhanh và kiểm soát rủi ro tốt của ngân hàng trong thời gian qua là do ngân hàng chú trọng và đã xây dựng được cho riêng mình hệ thống kiểm soát nội bộ, QTRR thông minh và khoa học. Phương thức triển khai tại MB là thống nhất, đồng bộ, toàn diện và chủ động nghiên cứu vừa làm vừa thử nghiệm để rút kinh nghiệm từ thực tiễn.
Basel II đã góp phần giúp MB đạt được các kết quả và chỉ số hiệu quả kinh doanh khá ấn tượng với mức tăng trưởng tín dụng trên 20% trong những năm gần đây, tỷ lệ nợ xấu được ngân hàng kiểm soát ở mức nhỏ hơn 1%, tỷ lệ bao phủ nợ xấu cao: 300%, tỷ lệ an toàn vốn xấp xỉ 11%. Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng hiệp ước Basel II ở Techcombank.
MB thực hiện tính toán tỷ lệ an toàn vốn CAR và xác định tài sản có rủi ro (RWA) theo thông tư 41/2018/TT-NHNN. MB thực hiện đặt mức an toàn vốn mục tiêu của ngân hàng ở mức 11% (>10% phản ánh mức độ mức đảm bảo an toàn cao cho ngân hang theo Basel II). MB ưu tiên cấp tín dụng vào nhóm các đối tượng và lĩnh vực được Chính phủ ưu tiên phát triển như: Các doanh nghiệp vừa và nhỏ, phát triển nông nghiệp nông thôn, năng lượng sạch và tái tạo,… và các đối tượng có hệ số rủi ro thấp như KH cá nhân, mảng bán lẻ tiêu dùng, doanh nghiệp vừa và nhỏ có hệ số đòn bẩy thấp.
Ngân hàng cũng lựa chọn đối tác đáng tin cậy là Ernst & Young trong công tác kiểm toán hoạt động và tư vấn QTRR cho nhà băng. MB cũng cho ứng dụng mô hình xếp hạng.
MB xây dựng và cho ứng dụng mô hình chấm điểm tín dụng (Scoring) đối với KH cá nhân và doanh nghiệp có độ tin cậy cao, được kiểm nghiệm, tăng cường tự động hóa quy trình cấp tín dụng cho KH. Kết quả của quá trình này là có đến 30% số lượng khoản vay của các sản phẩm chủ lực của MB được áp dụng phê duyệt tự động, giảm đến 42% thời gian so với cách làm truyền thông trong khi rủi ro vẫn được kiểm soát phù hợp. (Nợ xấu danh mục này chỉ 0,04%).
MB cũng cho ra mắt mô hình cảnh báo sớm tín dụng giúp ngân hàng nhận diện sớm được các KH có dấu hiệu rủi ro, suy giảm khả năng trả nợ để kịp thời co phướng án ứng xử phù hợp (Giúp KH tái cấu trúc hoặc thu hồi nợ), từ đó giảm bớt rủi ro cho ngân hàng. Kết quả là hệ thống có thể nhận diện 40% dư nợ có vấn đề trước 6 tháng và hỗ trợ quản trị chất lượng danh mục tín dụng.
1.3.2 Bài học kinh nghiệm cho Techcombank
Trên cơ sở lựa chọn 2 ngân hàng có nhiều nét tương đồng và nhiều điểm chung với Techcombank như Vietcombank và MB trong công tác triển khai áp dụng hiệp ước Basel II vào QTRR tín dụng, có thể rút ra được một số bài học kinh nghiệm cho Techcombank như sau:
Một là, các NHTM cần phải định hướng và xây dựng lộ trình triển khai Basel II một cách rõ ràng từ ban đầu, cụ thể đến từng mục tiêu và hành động trong những giai đoạn nhất định để kịp thời đánh giá, rút kinh nghiệm triển khai phù hợp. Việc xây dựng chiến lược và lộ trình của mỗi ngân hàng là khác nhau, cần phù hợp với hiện trạng và năng lực đáp ứng của mỗi ngân hàng.
Hai là, nội dung Basel II đã đưa ra 3 trụ cột và có nhiều phương pháp tiếp cận sử dụng để đo lường vốn cho QTRR tín dụng, do đó mỗi ngân hàng cần phải căn cứ vào năng lực, quy mô cung khả năng quản lý của mình để có thể lựa chọn cách tiếp cận phù hợp nhất. Tuy nhiên, cần tránh việc gián đoạn khi chuyển đổi qua lại nhiều phương pháp khác nhau.
Ba là, các NHTM cần lựa chọn cho mình một đối tác tín cậy, có uy tín và năng lực trong khâu tư vấn, giám sát và hoạch định chính sách QTRR tín dụng, kiểm toán nội bộ. Minh chứng là đứng sau thành công của Vietcombank và MB chính là sự hỗ trợ đầy hiệu quả của công ty kiểm toán Ernst & Young (1 trong 4 công ty kiểm toán lớn và uy tín nhất thế giới).
Bốn là, các NHTM cần chủ động trong khâu chuẩn bị. Công việc đầu tiên đó chính là các NHTM nên thành lập một ủy ban/bộ phận chuyên biệt để phục vụ riêng cho quá trình triển khai và áp dụng Basel II tại ngân hàng. Ủy ban/bộ phận này sẽ chịu trách nhiệm chính trong công tác chuẩn bị, điều hành mọi công việc và quản lý các dự án về Basel II tại ngân hàng.
Năm là, Basel II được chia ra nhiều phương pháp tiếp cận từ đơn giản đến phức tạp nên các NHTM không nhất thiết phải tuân thủ từ phương pháp phức tạp mà có thể đi từ cơ bản đến phức tạp để đảm bảo tính khả thi cũng như việc này sẽ phù hợp hơn với đại đa số các ngân hàng. Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng hiệp ước Basel II ở Techcombank.
Sáu là, theo Basel thì các ngân hàng nên hướng đến tiếp cận IRB của QTRR tín dụng, đặc biệt là IRB nâng cao. Tuy nhiên, để đạt được các yêu cầu tối thiểu theo IRB là rất khó nên các NHTM tại Việt Nam có thể cân nhắc theo hướng tiếp cận IRB theo nguyên tắc sẽ hướng tới tuân thủ các phân khúc KH mà ngân hàng có lợi thế trước, sau đó sẽ hoàn thiện dần.
Tổng kết chương 1
Trong chương 1 của luận văn đã chỉ ra những vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng (Đặc điểm, nguyên nhân, hậu quả, yếu tố ảnh hưởng, đo lường) và tổng quan về hoạt động quản trị rủi ro tín dụng theo hiệp ước Basel II (Một hiệp ước với các tiêu chuẩn được quốc tế công nhận và được NHNN lựa chọn để triển khai áp dụng tại Việt Nam). Với cùng thời gian thí điểm từ 2018, trong chương 1 cũng khái quát về thành tựu và bài học kinh nghiệm từ Vietcombank và MB để các NHTM khác trong đó có Techcombank đúc kết được bài học để đưa vào vận dụng phù hợp.
Với nội dung lý thuyết của chương 1 sẽ là cơ sở để tiến hành đánh giá về thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại Techcombank theo hiệp ước Basel II trong chương 2 của luận văn. Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng hiệp ước Basel II ở Techcombank.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Techcombank

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
