Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Tác động của cạnh tranh và tập trung ngành đến ổn định ngân hàng nghiên cứu tại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Hệ thống ngân hàng thương mại được xem là huyết mạch của hệ thống tài chính nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung. Sự phát triển bền vững và ổn định của hệ thống ngân hàng sẽ tạo ra nền tảng vững chắc hỗ trợ sự phát triển các ngành nghề khác trong nền kinh tế, qua đó thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng một cách bền vững và ổn định. Kinh tế Việt Nam đã có một giai đoạn phát triển bùng nổ đặc biệt là những năm 2006-2007, cùng với đó là làn sóng thành lập ngân hàng mới và chuyển đổi ngân hàng nông thôn thành ngân hàng thành thị, khiến số lượng ngân hàng đã có sự tăng trưởng nóng trong giai đoạn này. Tuy nhiên, dù tăng trưởng mạnh về số lượng cũng như quy mô ngân hàng nhưng năng lực tài chính và quản trị yếu kém đã làm xuất hiện những trục trặc trên thị trường tài chính, đặc biệt là giai đoạn 2011-2012. Trước tình hình này, NHNN đã tiến hành tái cấu trúc hệ thống ngân hàng với mục tiêu giảm số lượng ngân hàng, tăng tính tập trung và tăng khả năng cạnh tranh của các ngân hàng trong nước.

Nghiên cứu này được thực hiện để cung cấp thêm các bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa tập trung ngành, cạnh tranh và sự ổn định của các NHTM. Thông qua hồi quy đa biến theo cách tiếp cận Bayes trên dữ liệu được thu thập từ 27 NHTM được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2011-2021, kết quả nghiên cứu cho thấy tập trung ngành không có vai trò quá lớn trong việc duy trì sự ổn định của hệ thống NHTM, trong khi đó năng lực cạnh tranh của các ngân hàng giữ một vị trí quan trọng trong việc duy trì sự ổn định của các NHTM. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh vai trò của quy mô ngân hàng, tỷ lệ VCSH, và đa dạng hóa thu nhập trong việc cải thiện sự lành mạnh của hệ thống ngân hàng. Ngoài ra, nghiên cứu cũng cho thấy, lãi suất chính sách có tác động tiêu cực đến ổn định ngân hàng, trong khi đó lạm phát lại có xu hướng cải thiện sự ổn định của hệ thống tài chính, tuy nhiên, tác động này chỉ đúng trong ngắn hạn. Các yếu tố còn lại như tăng trưởng tín dụng, tăng trưởng GDP và đại dịch Covid-19 có tác động tương đối mờ nhạt đối với ổn định tài chính.

Từ khóa: Tập trung ngành, cạnh tranh, ổn định ngân hàng

ABSTRACT Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

The commercial banking system is considered the backbone of the financial system in particular and the economy as a whole. Sustainable and stable development of the banking system will create a solid foundation to support the development of other industries in the economy, thereby promoting sustainable and stable economic growth. Vietnam’s economy has undergone a boom in development, especially in the years 2006-2007, along with the wave of establishing new banks and transforming rural banks into urban banks, which has led to a hot growth in the number of banks during this period. However, despite the strong growth in both the number and scale of banks, weak financial and management capacity has led to difficulties in the financial market, especially during the period of 2011-2012. In response to this situation, the SBV has restructured the banking system with the goal of reducing the number of banks, increasing concentration and enhancing the competitiveness of domestic banks.

This study is conducted to provide additional empirical evidence on the relationship between industry concentration, competition, and stability of credit institutions. Through multivariate regression using a Bayesian approach on data collected from 27 credit institutions listed on the Vietnam stock market during the period 2011-2021, the research results show that industry concentration does not play an overly important role in maintaining the stability of the credit institution system, while the competitive capacity of banks holds an important position in maintaining the stability of credit institutions. The study also emphasizes the role of bank scale, capital adequacy ratio, and income diversification in improving the soundness of the banking system. In addition, the study also shows that policy interest rates have a negative impact on banking stability, while inflation tends to improve the stability of the financial system, although this effect is only true in the short term. Other factors such as credit growth, GDP growth, and the Covid-19 pandemic have a relatively vague impact on financial stability.

Keywords: industry concentration, competition, banking stability

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU

1.1. Đặt vấn đề

Trong vài thập kỷ gần đây, bất ổn tài chính đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của các nhà hoạch định chính sách và các nhà nghiên cứu trên thế giới. Kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, các quốc gia phát triển cũng như đang phát triển đã triển khai cải cách mạnh mẽ hệ thống tài chính của quốc gia mà trọng tâm là hệ thống ngân hàng. Hoạt động ngân hàng đã trải qua những thay đổi đáng kể về cấu trúc, trạng thái và các quy định pháp lý trong môi trường cạnh tranh và thường xuyên biến động. Xu hướng sát nhập, mua lại các ngân hàng yếu kém đã diễn ra một cách thường xuyên ở nhiều quốc gia ví dụ như Việt Nam, các ngân hàng đã giảm mạnh về số lượng nhưng lại tăng đáng kể về tài sản với mục đích cải thiện sự lành mạnh của hệ thống ngân hàng. Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Ý tưởng của quá trình này đã nêu bật tầm quan trọng của việc tập trung ngân hàng và việc tạo ra các ngân hàng mạnh hơn để có hệ thống tài chính ổn định hơn. Theo đó, các tổ chức tín dụng có quy mô lớn có nhiều khả năng hơn trong việc thu thập thông tin, sàng lọc và giám sát những người đi vay và tạo dựng các mối quan hệ dài hạn giữa người đi vay và người cho vay, qua đó làm giảm các vấn đề liên quan đến rủi ro đạo đức và lựa chọn bất lợi. Đồng thời, tập trung ngân hàng có thể ngăn chặn sự bất ổn tài chính do cạnh tranh quá mức gây ra. Sự gia nhập thị trường của những người chơi mới có thể dẫn đến việc giảm thị phần của các tổ chức tài chính (TCTC) và do đó, lợi nhuận thấp hơn. Điều này thúc đẩy các ngân hàng tăng tài sản rủi ro để bù đắp tổn thất (Allen & Gale, 2000). Như vậy, các ngân hàng có tài sản lớn sẽ có khả năng kháng cự với những cú sốc tốt hơn, từ đó làm cho cả hệ thống tài chính trở nên an toàn hơn. Mặc dù vậy nhưng vẫn có nhiều nhà nghiên cứu phản đối ý tưởng này. Theo Stigler (2010), tập trung ngành ngân hàng là biểu hiện của độc quyền nhóm. Theo những giả định này, độc quyền về lĩnh vực ngân hàng không có lợi cho phát triển tài chính. Guzman (2000) cho rằng các ngân hàng có quyền lực độc quyền có xu hướng cho vay quá mức với niềm tin rằng họ “quá lớn để sụp đổ”. Những hành vi này sẽ làm xuất hiện vấn đề rủi ro đạo đức và làm cho hoạt động ngân hàng giảm hiệu quả. Cạnh tranh thấp hơn dẫn đến tăng lãi suất cho vay và do đó, những người đi vay có xu hướng chuyển sang các dự án rủi ro hơn (Leroy & Lucotte, 2017), điều này sẽ làm trầm trọng hơn rủi ro đạo đức và làm cho các ngân hàng kém hiệu quả hơn. Anginer, Demirguc-Kunt & Zhu (2014) lập luận rằng các ngân hàng có mức độ cạnh tranh cao hơn sẽ có xu hướng đa dạng hóa các khoản đầu tư của mình qua đó làm cho tính mong manh tài chính của hệ thống bị giảm.

1.2. Tính cấp thiết của đề tài

Như vậy, có thể thấy mối quan hệ giữa mức cạnh tranh ngân hàng, tập trung ngân hàng và sự ổn định của hệ thống ngân hàng đã nhận được rất nhiều sự quan tâm và gây ra rất nhiều sự tranh cãi giữa các nhà nghiên cứu. Tại Việt Nam, hệ thống ngân hàng đang giữ một vị trí vô cùng quan trọng và được xem là động lực phát triển của nền kinh tế. Theo số liệu World Bank, tín dụng khu vực tư nhân của Việt Nam năm 2020 lên đến 137,9% GDP, con số này của các quốc gia có trình độ phát triển tương đương như Indonesia là 38,7%; Philippines 51,9%; Ấn Độ 55,3%… Đặc biệt trong năm 2021 vừa qua, ngay khi dịch bệnh bùng phát ở nước ta, ngành ngân hàng đã đi đầu ban hành triển khai các chính sách hỗ trợ người dân và doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh. Ngành ngân hàng có vai trò rất quan trọng và then chốt trong việc ổn định vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế. Ngân hàng Nhà nước đã điều hành chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa; giảm mặt bằng lãi suất, triển khai đồng bộ và quyết liệt nhiều giải pháp mở rộng tín dụng hiệu quả nhằm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh trong bối cảnh dịch bệnh hết sức phức tạp; giữ ổn định tỷ giá, thị trường ngoại hối. Điều này đã khẳng định rằng sự ổn định của hệ thống ngân hàng Việt Nam đóng vai trò then chốt cho đối với sự tăng trưởng cho nền kinh tế Việt Nam, vì lý do này, tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Tác động cạnh tranh và tập trung ngành đển ổn định ngân hàng nghiên cứu tại Việt Nam” nhằm xác định mức độ tác động của cạnh tranh và tập trung ngành đến ổn định tài chính tại Việt Nam và đưa ra các khuyến nghị nhằm cải thiện sự ổn định của hệ thống ngân hàng.

1.3. Mục tiêu nghiên cứu Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

1.3.1. Mục tiêu tổng quát

Nghiên cứu được thực hiện để đánh giá tác động của cạnh tranh và tập trung ngành đến ổn định ngân hàng của Việt Nam. Đề xuất một số hàm ý chính sách để cải thiện ổn định tài chính hệ thống ngân hàng Việt Nam.

1.3.2 Mục tiêu cụ thể

Để đạt được mục tiêu tổng quát là đánh giá tác động của cạnh tranh và tập trung ngành đến ổn định ngân hàng, tác giả sẽ giải quyết các mục tiêu cụ thể như sau:

  • Mục tiêu 1: Xác định các yếu tố tác động và đo lường sự tác động bởi cạnh tranh và mức độ tập trung ngành đến ổn định ngân hàng.
  • Mục tiêu 2: Đánh giá chiều hướng tác động từ cạnh tranh và mức độ tập trung ngành đến ổn định ngân hàng tại Việt Nam
  • Mục tiêu 3: Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đề xuất các hàm ý chính sách nhằm cải thiện ổn định của hệ thống ngân hàng Việt Nam

1.4. Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu cụ thể, luận văn trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:

  • Các yếu tố nào tác động và đo lường sự tác động bởi cạnh tranh và mức độ tập trung ngành đến ổn định ngân hàng?
  • Cạnh tranh tác động đến ổn định ngân hàng như thế nào?
  • Tập trung ngành tác động đến ổn định ngân hàng như thế nào?
  • Từ kết quả nghiên cứu, các hàm ý chính sách nào nên được thực thi để cải thiện ổn định hệ thống ngân hàng Việt Nam

1.5. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên nghiên cứu: Tác động của tập trung ngành, cạnh tranh ngành đến ổn định ngân hàng.

  • Phạm vi nghiên cứu: Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Phạm vi về không gian: 27 ngân hàng thương mại Việt Nam được niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam. Khi một doanh nghiệp hay ngân hàng đã niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán thì tính minh bạch càng cao, điều này làm cho doanh nghiệp hay ngân hàng bắt buộc phải đáp ứng yêu cầu tuân thủ trong hoạt động. Báo cáo tài chính năm của những ngân hàng được niêm yết là báo cáo đã được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán, được chấp thuận theo các nguyên tắc quy định nên độ tin tưởng và khả năng tiếp cận báo cáo tài chính cao hơn.

Phạm vi về thời gian: Thời gian nghiên cứu từ năm 2011 – 2021, đây là giai đoạn mà hệ thống ngân hàng Việt Nam bắt đầu tiến hành quá trình tái cơ cấu.

  • Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu là đánh giá tác động của tập trung ngành và cạnh tranh đến ổn định ngân hàng, luận văn sẽ kết hợp cả phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu.

Để đạt mục tiêu 1, tác giả sẽ tiến hành lược khảo các nghiên cứu trước và đề xuất các phương pháp phù hợp cho việc đo lường tập trung ngân hàng, cạnh tranh ngân hàng và ổn định ngân hàng. Ngoài ra, thông qua lược khảo các nghiên cứu trước tác giả sẽ đề xuất mô hình nghiên cứu để đánh giá tác động của tập trung ngành, cạnh tranh ngành, một số yếu tố thuộc nội tại của ngân hàng và một số yếu tố thuộc vĩ mô đến ổn định ngân hàng.

Đối với mục tiêu 2, tác giả sẽ sử dụng phương pháp hồi quy theo cách tiếp cận Bayes để ước tính chiều hướng tác động của tập trung ngành và cạnh tranh ngành đến ổn định ngân hàng Việt Nam. Từ những kết quả thu được thông qua hồi quy Bayes, tác giả sẽ tiến hành phân tích, đánh giá. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đạt được, tác giả sẽ đề xuất một số hàm ý chính sách để nâng cao sự ổn định của hệ thống ngân hàng.

1.6 Nội dung nghiên cứu

Luận văn bao gồm 5 chương

Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu

Trong phần này tác giả sẽ sự kiến trình bày tính cấp thiết của đề tài, khoảng trống nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu,

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu trước

Chương này tác giả sẽ lược khảo lý thuyết nền tảng và tổng quan các nghiên cứu trước, chứng minh khoảng trống tri thức đã trình bày tại phần mở đầu, cũng cố các luận điểm về các mục tiêu nghiên cứu đã được tác giả đề cập. Từ các mục tiêu nghiên cứu tác giả sẽ phát triển thành các giả thuyết nghiên cứu và thiết lập mô hình nghiên cứu.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Trong chương này, tác giả sẽ tiến hành đo lường mức độ ổn định ngân hàng, cạnh tranh ngân hàng, tập trung ngành và tiến hành mô phỏng mô hình hồi quy Bayes để phân tích tác động của tập trung ngành, cạnh tranh ngành tới ổn định ngân hàng Việt Nam. Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Dựa vào kết quả xác suất hậu nghiệm, tác giả sẽ tiến hành phân tích các kết quả nghiên cứu, so sánh với những nghiên cứu trước đã thực hiện và phân tích các phát hiện của nghiên cứu.

Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách

Trong chương này, tác giả sẽ tóm lược lại kết quả nghiên cứu chính của đề tài. Từ kết quả nghiên cứu, tác giả sẽ đề xuất các hàm ý chính sách để củng cố sự ổn định của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam. Ngoài ra, trong chương này tác giả sẽ trình bày các hạn chế của nghiên cứu và phương hướng nghiên cứu tiếp theo trong tương lai.

1.7. Đóng góp đề tài

Luận văn sẽ hệ thống hóa lại các nghiên cứu trước về ổn định ngân hàng, tác động của cạnh tranh ngân hàng, tập trung ngành và đến ổn định ngân hàng. Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu để làm rõ tác động của tập trung ngành, cạnh tranh ngân hàng đến ổn định ngân hàng trong điều kiện thực tiễn Việt Nam từ năm 2011 đến năm 2021. Từ kết quả nghiên cứu được, đề tài sẽ đề xuất các hàm ý chính sách để củng cố sự ổn định hệ thống ngân hàng Việt Nam.

Kết luận chương 1

Chương 1 đã trình bày được tính cấp thiết trong việc nghiên cứu tác động của tập trung ngành, cạnh tranh ngành đến ổn định hệ thống ngân hàng, và đặc biệt là khi NHNN tiến hành tái cơ cấu, tái cấu trúc lại hoạt động ngân hàng với trọng tâm là sáp nhập, mua lại các ngân hàng nhỏ, yếu kém, nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng để đảm bảo và duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng. Ngoài ra, trong chương này, tác giả cũng đã chỉ ra khoảng trống nghiên cứu, từ đó có thể xác định được mục tiêu nghiên cứu, phạm vi và phương pháp nghiên cứu, cũng như những kỳ vọng về đóng góp của nghiên cứu. Như vậy, chương 1 sẽ là cơ sở để tác giả tiếp tục thực hiện các nội dung tiếp theo.

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRƯỚC

2.1. Cơ sở lý thuyết

2.1.1.  Lý thuyết cạnh tranh

Từ trước cho đến nay có lẽ chưa có khái niệm cạnh tranh nào làm thỏa mãn được các nhà khoa học. Bởi vì cạnh tranh xuất hiện ở mọi nơi, mọi giai đoạn, mọi lĩnh vực trong quá trình sản xuất kinh doanh và luôn gắn liền với các chủ thể trên thị trường. Tùy vào góc nhìn, quan niệm và hướng tiếp cận của các nhà khoa học mà có các định nghĩa khác nhau về cạnh tranh.

Theo OECD (1993) đưa ra khái niệm rằng “Cạnh tranh là một tình huống trong một thị trường mà tại đó người bán hoặc các công ty cố gắng có được sự quan tâm, chú ý của người mua để đạt được mục tiêu kinh doanh nhất định như doanh thu, lợi nhuận, thị phần”. Trong quá trình cạnh tranh, các công ty bắt buộc phải đưa ra nhiều sản phẩm, dịch vụ với giá thấp hơn nhưng hoạt động phải hiệu quả hơn nhằm thu hút nhiều khách hàng hơn, và từ đó làm gia tăng phúc lợi cho nền kinh tế.

Nhắc đến cạnh tranh thì theo lối tiếp cận cổ điển của Frank & Bernanke (2004) lại chỉ ra rằng cạnh tranh được tiếp cận với cấu trúc thị trường tài chính theo bốn dạng: cạnh tranh độc quyền, cạnh tranh hoàn hảo, độc quyền và độc quyền nhóm. Khi giá cả thị trường sản phẩm không bị nhà cung cấp hay người bán nào tác động đáng kể lên được gọi là cạnh tranh hoàn hảo. “Cạnh tranh hoàn hảo” là cụm từ được đề cập đến cạnh tranh như một điều kiện thị trường lý tưởng trong các quan điểm kinh tế truyền thống. Đối lập với sự cạnh tranh hoàn hảo chính là độc quyền. Còn cạnh tranh độc quyền là hình thức cạnh tranh mà trong đó sản phẩm của nhiều nhà cung cấp, nhà sản xuất bán ra được phân biệt với nhau và hầu như có thể thay thế được sản phẩm khác. Khi không có sản phẩm thay thế mà chỉ có một nhà sản xuất duy nhất thì gọi là độc quyền. Còn độc quyền nhóm là một sản phẩm được sản xuất bởi một nhà cung cấp mà chỉ có một nhóm vài đối thủ có sản phẩm thay thế. Như vậy, độc quyền không làm cho nền kinh tế phát triền do không đạt được hiệu quả sản xuất vì không có áp lực cạnh tranh.

Hayek (1978) thì cho rằng không có cạnh tranh hoàn hảo mà cạnh tranh chỉ đơn giản là hành vi giữa các cá nhân ganh đua với nhau và là động lực để nhà cung cấp đưa ra những phương pháp hoàn hảo hơn, tốt hơn so với đối thủ cạnh tranh.

Theo Black’Law Dictionary thì cạnh tranh với tư cách là động lực nội tại trong mỗi một chủ thể kinh doanh lại được hiểu là “sự nỗ lực hoặc hành vi của hai hay nhiều thương nhân nhằm tranh giành những lợi ích giống nhau từ chủ thể thứ ba”.

Nordhaus & Samuelson (2000) là hai nhà kinh tế học lại cho rằng cạnh tranh đồng nghĩa với cạnh tranh hoàn hảo, “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng hoặc thị trường”. Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Tuy nhiên, cạnh tranh hoàn hảo và độc quyền là gần như không tồn tại, do đó các lý thuyết dựa trên nó không cung cấp được những hướng dẫn đáng tin cậy cho việc hoạch định chính sách, từ đó dẫn đến việc các chủ đề nghiên cứu đã chuyển sang tập trung vào sức mạnh thị trường. Sự cạnh tranh ngân hàng có thể hiểu như là sự phủ định của sức mạnh thị trường (Badarau & Lapteacru, 2020). Nói cách khác, Berger, Klapper & Ariss (2009) cho rằng càng có nhiều sự cạnh tranh ngân hàng thì sẽ càng làm xói mòn sức mạnh thị trường. Thị trường cạnh tranh hoàn hảo được xem là không có sức mạnh thị trường và ngược lại thị trường độc quyền có sức mạnh thị trường cao nhất (Church & Ware, 2000).

Mặc dù cạnh tranh được nhìn từ nhiều góc độ khác nhau nhưng về bản chất thì  cạnh tranh chính là sản phẩm của nền kinh tế thị trường và có thể được mô tả thông qua các dấu hiệu vốn có của nó. Thứ nhất, cạnh tranh là một hiện tượng xã hội được diễn ra giữa các chủ thể kinh doanh, khi các chủ thể kinh doanh được tự do hành xử trên thị trường thì cạnh tranh mới tồn tại được. Thứ hai, cạnh tranh là phương thức giải quyết xung đột lợi ích tiềm ẩn giữa các doanh nghiệp với nhau trong đó vai trò quyết định là của người tiêu dùng, cạnh tranh thể hiện sự ganh đua giữa các doanh nghiệp. Thứ ba, mục đích của cạnh tranh chính là tranh giành thị trường để mua bán các dịch vụ, hàng hóa. Như vậy, cạnh tranh vừa thúc đẩy kinh tế phát triển vừa buộc các nhà cung cấp phải hoạt động một cách có hiệu quả từ đó đưa ra nhiều lựa chọn về sản phẩm, dịch vụ cùng với giá rẻ và chất lượng tốt hơn dành cho khách hàng.

2.1.2. Lý thuyết tập trung

Berle & Means (1932) đã phân tích mô hình “doanh nghiệp quản lý” xuất hiện trong các doanh nghiệp lớn tại Mỹ. Tùy theo tỷ lệ phân chia vốn giữa các cổ đông thì tác giả đã phân ra năm hình thức sở hữu cơ bản: sở hữu hầu như toàn bộ, cổ đông lớn, quyền sở hữu được thông qua các quy trình hợp pháp, cổ đông nhỏ và sở hữu rải rác. Nghiên cứu về cấu trúc sở hữu, các nhà khoa học cũng đã chỉ rõ mối quan hệ hữu cơ giữa mức độ phân tán về sở hữu (vốn) của các cổ đông và quyền lực của nhà quản lý trong doanh nghiệp. Ở các doanh nghiệp có cấu trúc sở hữu tập trung nghĩa là những cổ đông có tỷ lệ sở hữu cổ phiếu cao nhất sẽ chịu ảnh hưởng nhiều nhất khi có phát sinh rủi ro cũng như chi phí giám sát (Pedersen & Thomsen 1999). Sở hữu tập trung là việc thể hiện việc phân chia quyền sở hữu giữa các cổ đông khác nhau sẽ có vai trò quan trọng trong giám sát hoạt động điều hành và quản lý doanh nghiệp của nhà quản lý một cách chặt chẽ nhằm đạt được lợi ích cao nhất. Nhóm này cũng chính là những người có quyền lực cao nhất trong quy trình ra quyết định, từ đó có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của nhà quản lý. Theo Jensen & Meckling (1976) cho rằng sự sở hữu tập trung cao có thể mang lại lợi ích cho công ty hay nói một cách khác thì công ty có cổ đông lớn sẽ giúp làm tăng hiệu quả hoạt động và giá trị của công ty. Các nghiên cứu dựa trên giả thuyết cổ đông giám sát (SMH- Shareholder Monitoring Hypothesis) thì cho rằng ở các công ty có sở hữu tập trung cao sẽ khuyến khích các cổ đông tăng cường giám sát hoạt động của công ty cũng như hoạt động của ban điều hành, từ đó nâng cao hiệu quả kiểm soát công ty. Ngược lại, ở những công ty có sở hữu phân tán thì các cổ đông có ít động cơ để thực hiện việc giám sát (Edwards & Nibler, 2000; Shleifer & Vishny, 1986). La Porta & cộng sự (1999) và Shleifer & Vishny (1997) cho rằng sở hữu tập trung cao trong doanh nghiệp thường xuất hiện ở những nước đang phát triển, đó là nơi mà quyền lợi của nhà đầu tư nhỏ lẻ được quy định không đầy đủ trong các luật liên quan hoặc không được bảo vệ do chưa có quy định. Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Theo Iannotta & cộng sự (2007) thì trong hoạt động ngân hàng hình thức tập trung sở hữu là một khía cạnh hết sức quan trọng. Bởi vì ngân hàng đóng vai trò trung gian tài chính trong nền kinh tế cho nên hoạt động của ngân hàng có khác biệt so với các công ty phi tài chính. Ngân hàng nhận nghiệp vụ tiền gửi của khách hàng sau đó thực hiện nghiệp vụ cho vay, lúc này cổ đông của ngân hàng có thể cùng với các nhà quản lý thực hiện sử dụng các nguồn vốn huy động đầu tư, tài trợ cho các dự án rủi ro cao để gia tăng lợi ích của họ, từ đó làm tăng khả năng nợ xấu của ngân hàng. Chính vì vậy, vấn để sở hữu ngân hàng ở Việt Nam luôn được Nhà nước giám sát chặt chẽ và đã được quy định trong các văn bản pháp luật.

Cấu trúc hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam thay đổi qua từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế và so với thời điểm mới chuyển đổi từ hệ thống ngân hàng một cấp sang hai cấp từ năm 1990 thì hiện nay cấu trúc hoạt động của hệ thống ngân hàng phát triển đáng kể. Cụ thể là quy mô của hệ thống ngân hàng giảm từ 45 NHTM xuống còn 38 NHTM từ sau năm 2011 và hiện nay còn 31 Ngân hàng TMCP. Đồng thời, các NHTM nhà nước cũng dần cổ phần hóa nhằm cải thiện sức cạnh tranh cho các NHTM Việt Nam. Việc tham gia vốn của Ngân hàng Nhà nước ở các NHTM có quy mô lớn cũng làm ảnh hưởng đến mức độ canh tranh của các ngân hàng. Việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng cũng làm tăng vốn điều lệ của các ngân hàng lên và cũng chính quá trình tái cơ cấu, sáp nhập các ngân hàng yếu kém cũng giúp giảm khả năng vỡ nợ của các ngân hàng. Thông qua hoạt động sáp nhập thì Nhà nước cũng sẽ yên tâm hơn và sẽ không mất nhiều nguồn lực để khắc phục hậu quả từ việc phá sản của các NHTM – việc mà có thể ảnh hưởng lớn đến thị trường tài chính quốc gia. Ta có thể thấy hoạt động sáp nhập và mua lại (M&A) cũng là một hình thức tập trung ngân hàng, nó trở thành một phương pháp hay dùng của các ngân hàng trung ương trong quá trình xử lý các ngân hàng yếu kém nhằm ổn định, duy trì thị trường tài chính quốc gia.

2.1.3. Lý thuyết ổn định ngân hàng Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Mặc dù có nhiều nghiên cứu đưa ra các khái niệm về ổn định ngân hàng nhưng chưa có một định nghĩa nào chính xác về ổn định tài chính và cuộc tranh luận vẫn còn tiếp tục. Theo Jahn & Kick (2011) cho rằng “sự ổn định tài chính của ngân hàng chính là sự ổn định mà khi đó ngân hàng thực hiện hiệu quả các chức năng của nó như phân phối nguồn lực, phân tán rủi ro và phân phối thu nhập”. Crockett (1997) đã cân nhắc sự ổn định tài chính trong các ngân hàng lại liên quan đến việc không có mặt sự căng thẳng tài chính, điều mà có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế dẫn đến sự phá sản ở các ngân hàng nhỏ hơn hay tổn thất ở các ngân hàng lớn hơn.

Ngân hàng Trung ương Đức cho rằng ổn định tài chính là khả năng vận hành tốt các chức năng chính của hệ thống tài chính, kể cả trong thời kỳ kinh tế căng thẳng và thời kỳ điều chỉnh cơ cấu nhằm giúp phân bổ một cách có hiệu quả các nguồn lực và rủi ro tài chính cũng như tạo nền tảng hạ tầng tài chính hiệu quả.

Ngân hàng Trung ương Úc lại cho rằng ổn định hệ thống tài chính là một trạng thái mà trong đó các trung gian tài chính, thị trường và hạ tầng tài chính phân bổ tốt các luồng vốn giữa tiết kiệm và đầu tư, nhờ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Trong khi đó Ngân hàng Trung ương Thụy Sỹ định nghĩa ổn định hệ thống tài chính nghĩa là một hệ thống tài chính mà trong đó các chủ thể tài chính: trung gian tài chính, thị trường tài chính và hạ tầng tài chính thực hiện tốt các chức năng của mình và có khả năng chống đỡ được các cú sốc tiềm ẩn.

Ngân hàng Trung ương Anh cho rằng ổn định tài chính hàm ý việc xác định rủi ro trong hệ thống tài chính và hành động để giảm thiểu chúng. Đứng từ góc độ của tổ chức Ngân hàng Trung ương Châu Âu thì ổn định tài chính là một trạng thái trong đó hệ thống tài chính gồm các trung gian tài chính, thị trường và hạ tầng tài chính có thể hỗ trợ liên tục, có khả năng chống đỡ được các cú sốc và những rủi ro do sự mất cân đối tài chính gây ra từ đó làm giảm bớt khả năng sụp đổ của các trung gian tài chính vốn có tác động tiêu cực đối với việc phân bổ tiết kiệm và đầu tư.

Borio (2003) thì lại xem xét ổn định tài chính là mô hình dựa trên hai yếu tố thận trọng vĩ mô và vi mô. Chẳng hạn như trong khi các cố gắng thận trọng vi mô nhằm để giảm bớt khả năng phá sản ở các ngân hàng thì sự thận trọng vĩ mô lại tập trung vào hệ thống kinh tế nói chung nhằm mục tiêu hạn chế các tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính. Ổn định tài chính còn được định nghĩa dựa trên sự bất ổn tài chính, theo Jokipii & Monnin (2013) thì sự bất ổn tài chính của các ngân hàng sẽ xảy ra khi các ngân hàng đó có thể mất đi khả năng thanh toán trong các kỳ tiếp theo và khi tình trạng mất khả năng thanh toán bị giảm đi thì lúc đó sự ổn định tài chính tăng lên hoặc ngược lại là nếu tình trạng mất khả năng thanh toán tăng lên thì chính là lúc sự ổn định tài chính ngân hàng giảm đi. Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Định nghĩa ổn định tài chính cũng có thể được hiểu rộng hơn đó là trạng thái mà trong đó sự mất cân đối tài chính được phát sinh từ những cú sốc kinh tế có khả năng được phát hiện bởi hệ thống tài chính và chính hệ thống tài chính cũng có thể tạo điều kiện thuận lợi hơn để cho các hoạt động kinh tế thực được diễn ra một cách suôn sẻ.

Mặc dù có nhiều định nghĩa về ổn định tài chính nhưng ta có thể hiểu rằng ổn định tài chính sẽ bao gồm các nội dung sau:

Thứ nhất, tính ổn định của các tổ chức tài chính được hiểu là trạng thái mà các tổ chức tài chính riêng lẻ đủ mạnh để thực hiện đầy đủ các chức năng trung gian tài chính của họ góp phần phân bổ có hiệu quả nguồn lực của nền kinh tế.

Thứ hai, rủi ro ở cấp độ hệ thống cần được quản lý hiệu quả và đánh giá chính xác để tránh việc hệ thống tài chính bị sụp đổ.

Cuối cùng, cần có sự phối hợp của các cơ quan nhà nước trong hệ thống giám sát tài chính quốc gia để mục tiêu duy trì ổn định được đảm bảo. Trong đó Ngân hàng Trung ương chính là cơ quan có chức năng chính, chủ đạo trong việc thực hiện chức năng ổn định tài chính.

2.1.4. Lý thuyết về tác động cạnh tranh và tập trung ngành đến ổn định ngân hàng

Có rất nhiều lý thuyết khác nhau đưa ra các dự báo khác nhau khi đề cập đến mối quan hệ giữa tập trung ngành, cạnh tranh ngân hàng và ổn định ngân hàng, một trong số đó là Lý thuyết sức mạnh thị trường (Market power theory). Theo OECD (2002) Lý thuyết sức mạnh thị trường đề cập đến một công ty (hoặc một nhóm công ty) không phải chịu sức ép cạnh tranh đáng kể nào do vậy họ có khả năng duy trì giá cả trên mức giá cạnh tranh hoặc giảm chất lượng hoặc sản lượng xuống dưới mức cạnh tranh mà vẫn thu được lợi nhuận. Hiện tại có hai cách tiếp cận trái ngược nhau khi đề cập đến lý thuyết sức mạnh thị trường là lý thuyết cấu trúc – hành vi – hiệu quả (structure – conduct – performance (SCP)) và lý thuyết sức mạnh thị trường tương đối (relative market power (RMP)) (Chortareas & cộng sự 2011).

Lý thuyết SCP được phát triển bởi Bain (1951), lý thuyết này xác định tương quan cấu trúc ngành và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. Mặc dù các doanh nghiệp cố gắng tạo ra sự khác biệt với đối thủ cạnh tranh, nhưng cuối cùng cấu trúc ngành sẽ quyết định lợi nhuận của doanh nghiệp. Lý thuyết này hàm ý rằng việc tập trung quá mức của các doanh nghiệp sẽ làm giảm sự cạnh tranh trên thị trường do có sự khuyến khích về hợp tác giữa các doanh nghiệp để thao túng thị trường (Chortareas & cộng sự 2011). Mishkin (1999) nhận định rằng các ngân hàng trong một thị trường tập trung cao thường nhận được sự tín nhiệm của công chúng, điều này có thể dẫn đến các vấn đề về rủi ro đạo đức và các ngân hàng có xu hướng tìm kiếm các khoản đầu tư rủi ro hơn (increased risk-taking). Caminal & Matutes (2002) cho rằng trong thị trường kém cạnh tranh hơn, các ngân hàng có xu hướng giảm hạn chế tín dụng quá mức (exercise lower credit rationing), mở rộng các khoản cho vay, điều này có thể dẫn đến đổ vỡ ngân hàng. Van Hoose (2010) khẳng định rằng, mức độ tập trung ngành cao sẽ tạo điều kiện các ngân hàng thao túng thị trường bằng cách áp đặt lãi suất huy động thấp và lãi suất cho vay cao. Lãi vay tăng sẽ gây ra các tác động tiêu cực cho người đi vay, và điều này có thể làm gia tăng tỷ lệ vỡ nợ từ đó dẫn tới một cuộc khủng hoảng (Goodhart, Tsomocos & Vardoulakis, 2009). Soedarmono, Machrouh & Tarazi (2013) với mẫu nghiên cứu tại các nước châu Á cũng phát hiện ở các nước có mức độ quyền lực thị trường cao hơn liên quan đến tỷ lệ vốn cao hơn có sự biến động trong lợi nhuận ngân hàng và rủi ro mất khả năng thanh toán cao hơn. Fu & cộng sự (2014) tìm thấy bằng chứng cho thấy sự tập trung cao hơn làm tăng sự mong manh tài chính (increases financial fragility) của các ngân hàng. Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác đã bác bỏ giả thuyết này thông qua giả thuyết quyền lực thị trường tương đối (relative-market-power – RMP). Lý thuyết này cho rằng, ngân hàng càng lớn thì càng trở nên độc quyền và giành được lợi nhuận cao hơn trên thị trường. Thị phần lớn và nguồn thu nhập đa dạng đã tạo ra lợi nhuận lớn hơn cho từng ngân hàng riêng lẻ (Berger, 1995) và việc đa dạng hóa thu nhập cũng giúp giảm rủi ro cho các ngân hàng. Berger (1995) cũng cho rằng tập trung thị trường là một quá trình cực kỳ hiệu quả, thể hiện các giai đoạn doanh nghiệp mở rộng thị phần và gia tăng quy mô, khả năng tạo ra lợi nhuận cao hơn của họ sẽ luôn dẫn tới mức độ tập trung thị trường cao hơn. Các ngân hàng lớn mạnh hơn sẽ cải thiện khả năng ngân hàng trong việc thu thập thông tin, sàng lọc và giám sát những người đi vay qua đó làm giảm nợ xấu. Ngoài ra, các ngân hàng lớn có khả năng cung ứng nhiều dịch vụ đa dạng tạo dựng các mối quan hệ dài hạn giữa người đi vay và người cho vay, nhờ vậy làm giảm các vấn đề liên quan đến rủi ro đạo đức và lựa chọn bất lợi.

Thông qua mô hình động về cạnh tranh không hoàn hảo, Matutes & Vives (1996, 2000) tìm thấy bằng chứng sức mạnh thị trường cao hơn làm giảm xác suất vỡ nợ của ngân hàng. Dựa trên mô hình động rủi ro đạo đức (moral hazard dynamic model) Hellmann & cộng sự (2000) khẳng định rằng cạnh tranh ngân hàng có tác động tiêu cực đến sự thận trọng trong việc ra quyết định các khoản đầu tư rủi ro của ngân hàng.

Nhiều nghiên cứu gần đây đã tiến hành phân tích các yếu tố quan trọng trong mối quan hệ giữa cấu trúc thị trường cho vay và một số khía cạnh hoạt động của ngành ngân hàng củng cố mối quan hệ cùng chiều giữa tập trung ngành và ổn định ngân hàng. Một trong số đó là hướng nghiên cứu tác động của các khía cạnh của lựa chọn bất lợi và vấn đề rủi ro đạo đức đối với tính mong manh của thị trường. Nakamura (1993) cho rằng mức độ cạnh tranh cao hơn có thể làm cho các vấn đề lựa chọn bất lợi trở nên nghiêm trọng hơn khi những người đi vay bị từ chối tại một ngân hàng có thể vay vốn tại các ngân hàng khác, điều này sẽ khiến các ngân hàng trên thị trường cạnh tranh tính mức lãi suất cao hơn so với các ngân hàng độc quyền.

2.2. Tổng quan các nghiên cứu gần đây Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Nền tảng lý thuyết phần 2.1 cho thấy có sự mâu thuẩn về tác động của tập trung ngành, mức độ cạnh tranh đến sự ổn định của ngân hàng, tương tự vậy, các nghiên cứu thực nghiệm đưa ra các bằng chứng đối nghịch nhau về mối quan hệ này.

  • Tác động của tập trung ngành đến ổn định ngân hàng

Ijtsma, Spierdijk & Shaffer (2017) với dữ liệu là 1051 ngân hàng tại 25 quốc gia EU, giai đoạn 1998-2014, các tác giả đã nghiên cứu tác động của tập trung ngân hàng đến ổn định ngân hàng ở cả cấp độ quốc gia lẫn từng ngân hàng riêng lẻ. Trong nghiên cứu này, các tác giả cũng sử dụng hệ số Z-score để đo lường mức độ ổn định của từng ngân hàng cụ thể, trong khi đó để đo lường mức độ ổn định của hệ thống ngân hàng cấp độ quốc gia, các tác giả sử dụng Z-score tổng hợp theo cấp độ quốc gia, bằng cách tính Z-score bình quân có trọng số theo tổng tài sản của các ngân hàng trong hệ thống. Để đo lường mức độ tập trung ngành, các tác giả sử dụng Chỉ số Herfindahl-Hirschman (HHI). Để ước lượng mức độ tác động của tập trung ngành đến ổn định ngân hàng các tác giả đã sử dụng mô hình tác động cố định (Fixed effect) và tác động ngẫu nhiên (Random effect), ngoài ra, để xử lý vấn đề nội sinh nhóm tác giả này cũng ước lượng bình phương nhỏ nhất hai giai đoạn (2SLS). Kết quả nghiên cứu cho thấy HHI có tác động tiêu cực đến hệ số Z-score cả cấp độ ngân hàng riêng lẽ lẫn quốc gia, điều này hàm ý rằng mức độ tập trung ngành làm tăng mức độ rủi ro của hệ thống ngân hàng. Bên cạnh đó, trong nghiên cứu này, các tác giả cũng đánh giá tác động của tập trung ngành đến ổn định ngân hàng trước (1998-2007) và sau (2008 – 2014) khủng hoảng thông qua cách tiếp cận khác biệt trong khác biệt (Difference in Difference – DID), kết quả cho thấy sự khác biệt về tác động của tập trung ngành đến ổn định ngân hàng giữa hai giai đoạn này không có ý nghĩa thống kê. Bên cạnh xem xét mức độ tập trung ngành, JItsma, Spierdijk & Shaffer (2017) cũng đánh giá tác động của yếu tố vĩ mô như tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP), lạm phát và lãi suất thực, tuy nhiên, kết quả hồi quy cho thấy tác động của các yếu tố này không có ý nghĩa thống kê. Các yếu tố thuộc về đặc thù ngân hàng, cụ thể tổng tài sản, nợ xấu trên tổng tài sản, tỷ lệ nợ xấu trên thu nhập, tỷ lệ nợ trên tổng tài sản làm giảm sự ổn định của ngân hàng, trong khi lãi suất biên giúp cải thiện sự ổn định của các ngân hàng.

  • Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng

Cạnh tranh không chỉ là vấn đề trong ngành ngân hàng mà là vấn đề tất yếu ở tất cả các ngành nghề trong nền kinh tế. Cạnh tranh ngân hàng chính là một trong những yếu tố quan trọng có thể gây ra rủi ro trong hệ thống ngân hàng. Vấn đề cạnh tranh ngân hàng sẽ tác động như thế nào đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng để đề xuất các chính sách phù hợp vẫn là một vấn đề gây tranh cãi.

Leroy & Lucotte (2017) thông qua bộ dữ liệu 97 ngân hàng được niêm yết tại khu vực liên minh châu Âu (European Union – EU) trong giai đoạn 2004-2013, các tác giả đã phân tích liệu có sự đánh đổi giữa cạnh tranh và ổn định ngân hàng tại khu vực này. Để đo lường mức độ cạnh tranh của các ngân hàng trong khu vực Leroy & Lucotte (2017) sử dụng hệ số Lerner index, trong khi đó mức độ rủi ro ngân hàng được đo lường thông qua hệ số Z-score và hệ số DD (distance-to-default) của các ngân hàng thương mại. Để phân tích mối quan hệ này, Leroy & Lucotte (2017) đã áp dụng mô hình tác động cố định (Fixed effect) và tác động ngẫu nhiên (Random effect), ngoài ra để xử lý vấn đề nội sinh, các tác giả này đã sử dụng ước lượng bình phương nhỏ nhất hai giai đoạn (two stage ordinary least squares – 2SLS). Kết quả hồi quy cho chỉ số Lerner có tác động cùng chiều đến hệ số Z-score và DD. Điều này hàm ý rằng mức độ cạnh tranh càng cao thì rủi ro càng lớn. Ngoài ra, tốc độ tăng trưởng GDP giúp cải thiện mức độ ổn định ngân hàng; quy mô ngân hàng và tỷ trọng tổng khoản vay (trên tổng tài sản) tác động cùng chiều đến DD nghĩa là nó làm gia tăng mức độ mỏng manh của ngân hàng. Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Nghiên cứu của Leroy & Lucotte (2017) đã cung cấp bằng chứng cho các nhận định của Keeley (1990) và Marcus (1984) khi cho rằng cạnh tranh sẽ làm suy yếu tính ổn định của hệ thống ngân hàng. Theo Berger, Klapper & Turk-Ariss (2009) thì khi mức độ cạnh tranh gia tăng sẽ làm giảm sức ảnh hưởng thị trường của ngân hàng, từ đó sẽ làm giảm giá trị thương hiệu của ngân hàng (Keeley, 1990). Khi giá trị thương hiệu thị trường thấp sẽ làm cho khả năng chấp nhận rủi ro của các ngân hàng cao dẫn đến nguy cơ phá sản cao. Khi tình hình cạnh tranh trở nên gay gắt hơn thì các ngân hàng sẽ có cuộc đua về lãi suất. Chính điều này có thể sẽ mang lại nhiều lợi ích cho khách hàng nhưng lại làm tăng nguy cơ rủi ro của ngân hàng.

Dư Thị Lan Quỳnh & Lê Hoàng Anh (2023) sử dụng mẫu từ 96 ngân hàng ở sáu quốc gia ASEAN nghiên cứu về tác động của cạnh tranh ngân hàng đến ổn định ngân hàng trong giai đoạn 2010-2021. Để phân tích tác động này, các tác giả thực hiện hồi quy SGMM. Kết quả thực nghiệm cho thấy, sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng làm giảm sức mạnh thị trường sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến sự ổn định của ngân hàng, hay nói cách khác các ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh sẽ tốt hơn cho ổn định ngân hàng ở các quốc gia này.

González, Razia, Búa & Sestayo (2017) tiến hành kiểm định mối quan hệ giữa cạnh tranh và sự ổn định của ngân hàng với mẫu là 356 ngân hàng hoạt động tại các nước Trung Đông Bắc Phi (MENA) giai đoạn 2005-2012. Để thực hiện nghiên cứu này, các tác giả đã sử dụng hồi quy bình phương nhỏ nhất (Pool OLS) tác động động ngẫu nhiên, tác động cố định, hồi quy GMM (Generalized Method of Moments). Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng đối với toàn bộ mẫu thì mức độ cạnh tranh có tác động hình chữ U đối với đối với rủi ro ngân hàng, nghĩa là trong giai đoạn đầu, mức độ cạnh tranh làm giảm sự bất ổn của hệ thống ngân hàng, tuy nhiên khi mức độ cạnh tranh ngành vượt qua một ngưỡng nhất định thì sự cạnh tranh sẽ làm gia tăng mức độ rủi ro ngành. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy các ngân hàng tại các quốc gia Hồi Giáo có mức độ rủi ro cao hơn so với các ngân hàng thuộc các quốc gia phi Hồi Giáo tại khu vực MENA, các tác giả này cho rằng sự phức tạp mô hình hợp đồng tài chính và quy định giới hạn khoản phạt do vỡ nợ (limited default penalties) quy định bởi đạo luật Chia sẻ lợi nhuận và thu lỗ (Profit and Loss Sharing – PLS) đã khuyến khích hành vi chấp nhận rủi ro với mong muốn thu được lợi nhuận lớn đã làm xói mòn sự ổn định hệ thống ngân hàng các quốc gia Hồi Giáo khu vực MENA. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu còn cho thấy quy mô ngân hàng làm tăng mức độ ổn định ngân hàng, các yếu tố khác gồm dư nợ, lạm phát và GPD đầu người làm suy giảm mức độ ổn định của ngân hàng. Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

  • Tác động của tập trung và cạnh tranh đến ổn định ngân hàng

Saif-Alyousfi, Saha & Md-Rus (2018) sử dụng bộ dữ liệu 70 ngân hàng được niêm yết trên thị trường chứng khoán các quốc gia thuộc Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh (Gulf Cooperation Council – GCC) giai đoạn 1998-2016 để đánh giá mức độ tập trung ngành và cạnh tranh đến rủi ro của hệ thống ngân hàng khu vực GCC. Trong nghiên cứu này, để đo lường được mức độ rủi ro của hệ thống ngân hàng, tác giả đã sử dụng chỉ tiêu nợ xấu, độ lệch chuẩn ROA và độ lệch chuẩn ROE. Thông qua hồi quy GMM hệ thống hai giai đoạn (Two-step System GMM) các tác giả đã đề xuất các kết quả: (i) mức độ tập trung ngành đo lường thông qua chỉ số HHI càng cao thì sẽ càng làm hệ thống ngân hàng mong manh hơn, nghĩa là ít ổ n định hơn; (ii) sức mạnh thị trường đo lường thông qua chỉ số Lerner càng cao giúp cải thiện hơn sự ổn định của hệ thống ngân hàng; (iii) mức độ cạnh tranh ngành đo lường thông qua chỉ số Boone, kết quả hồi quy đã khẳng định sự cạnh tranh dẫn đến sự gia tăng chấp nhận rủi ro của các ngân hàng và do vậy, mức độ ổn định của ngân hàng giảm xuống; (iv) các yếu tố thuộc nội tại ngân hàng là quy mô vốn chủ sở hữu, quy mô ngân hàng và thanh khoản giúp cải thiện mức độ ổn định của ngân hàng trong khi thu nhập ngoài lãi và tỷ lệ chi phí trên thu nhập tác động tiêu cực đến ổn định ngân hàng; (v) đối với các yếu tố vĩ mô thì tốc độ tăng trưởng GDP làm tăng mức độ ổn định của hệ thống ngân hàng và ngược lại lạm phát thì làm suy giảm sự ổn định của hệ thống ngân hàng. Bên cạnh các kết quả trên, trong nghiên cứu này, các tác giả cũng chia khoảng thời gian nghiên cứu thành 3 giai đoạn: trước khủng hoảng (1998-2006), giai đoạn khủng hoảng (2007-2008) và giai đoạn hậu khủng hoảng (2009-2016). Thông qua ước lượng tác động cố định thời gian và tác động cố định quốc gia, kết quả cho thấy mức độ biến động ROA và ROE trong giai đoạn khủng hoảng là cao hơn và có ý nghĩa thống kê, điều này hàm ý rằng hệ thống ngân hàng giai đoạn khủng hoảng tài chính thế giới những năm 2007-2008 tại khu vực GCC rủi ro hơn so với các giai đoạn khác. Đáng chú ý, Saif-Alyousfi, Saha & Md-Rus (2018) phát hiện rằng, trung bình nợ xấu trong giai đoạn khủng hoảng lại thấp hơn so với các giai đoạn khác, họ cho rằng, trong giai đoạn này, các ngân hàng đã thu hẹp hoạt động cho vay và điều này khiến nợ xấu bình quân trong hệ thống ngân hàng cũng giảm xuống.

Goetz (2018) sử dụng bộ dữ liệu của 8412 NHTM tại Hoa Kỳ trong giai đoạn 1978-2006 để đánh giá mối quan hệ giữa cạnh tranh và ổn định ngân hàng. Trong nghiên cứu này, Goetz (2018) đo lường ổn định của hệ thống ngân hàng thông qua hệ số Z-score và mức độ tập trung ngành thông qua chỉ số HHI. Thông qua ước lượng Pool OLS và tác động cố định theo năm và quốc gia, Goetz (2018) đưa ra các kết luận chính là mức độ cạnh tranh gia tăng sẽ (i) cải thiện khả năng sinh lợi của ngân hàng thương mại, (ii) giảm bớt sự biến động của lợi nhuận, (iii) nâng cao chất lượng tài sản của ngân hàng; kết quả là cạnh tranh giúp củng cố sự lành mạnh của hệ thống ngân hàng. Ngoài ra, các phát hiện quan trọng khác trong nghiên cứu này là quy định “giới hạn chi nhánh ngân hàng trên một bang” được gỡ bỏ giúp nâng cao mức độ ổn định của ngân hàng, trong khi ngân hàng có sự đa dạng về mặt địa lý và có chi nhánh trên thị trường ngân hàng khác thì mức độ ổn định của các ngân hàng này lại giảm xuống. Các kết quả khác là quy mô tổng tài sản, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản và tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người có tác động tích cực đối với ổn định ngân hàng.

Bảng 2.1. Tổng hợp các nghiên cứu có liên quan

Tác giả Phạm vi nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu Kết quả nghiên cứu
Leroy & Lucotte (2017) 97 ngân hàng được niêm yết tại khu vực EU, giai đoạn 20042013. Fixed effect Random effect Bình phương nhỏ nhất hai giai đoạn (two stage ordinary least squares – 2SLS) Kết quả hồi quy cho chỉ số Lerner có tác động cùng chiều đến hệ số Z-score và khoảng cách vỡ nợ (distance-to-default). Điều này hàm ý rằng mức độ cạnh tranh càng cao thì rủi ro càng lớn.
Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng. Thứ hai, tốc độ tăng trưởng GDP giúp cải thiện mức độ ổn định ngân hàng, còn quy mô ngân hàng và tỷ trọng tổng khoản vay (trên tổng tài sản) tác động cùng chiều đến khoảng cách vỡ nợ nghĩa là nó làm gia tăng mức độ mỏng manh của ngân hàng.

González, Razia, Búa & Sestayo (2017)

356 ngân hàng hoạt động tại 19 nước Trung Đông-Bắc Phi (MENA) giai đoạn 2005- 2012 Pool OLS Fixed effect Random effect GMM Tập trung ngành có tác động hình chữ U ngược đối với mức độ rủi ro ngành ngân hàng, nghĩa là trong giai đoạn đầu, mức độ tập trung ngành càng cao thì rủi ro ngân hàng càng giảm, tuy nhiên khi vượt quá một điểm nhất định thì sự mức độ tập trung ngành càng cao sẽ càng làm gia tăng mức độ rủi ro của ngành ngân hàng.

Cạnh tranh ngân hàng có tác động hình chữ U đối với rủi ro ngành ngân hàng.

Ngân hàng Hồi giáo có mức độ rủi ro cao hơn.

Ngoài ra quy mô ngân hàng làm tăng mức độ ổn định ngân hàng, các yếu tố khác gồm dư nợ, lạm phát và GDP đầu người làm suy giảm mức độ ổn định của ngân hàng.

JItsma, Spierdijk & Shaffer (2017) 1051 ngân hàng tại 25 quốc gia EU, giai đoạn 1998-2014 Fixed effect Random effect Không tìm thấy bằng chứng tác động của tập trung ngân hàng đo lường thông qua chỉ số HHI đến ổn định ngân hàng ở cả cấp độ quốc gia (country-level aggregate z-score) và ở cấp độ từng ngân hàng riêng lẽ (bank-level zscore).
Saif-Alyousfi, Saha & Md-Rus (2018) 70 ngân hàng được niêm yết trên thị trường chứng khoán các quốc gia thuộc Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh (Gulf Cooperation Council – GCC) giai đoạn 19982016. Two-step System GMM Kết quả cho thấy mức độ tập trung ngành, đo lường thông qua chỉ số HHI, càng cao thì càng làm hệ thống ngân hàng mong manh hơn, nghĩa là ít ổn định hơn.

Thứ hai, sức mạnh thị trường đo lường thông qua chỉ số Lerner giúp cải thiện sự ổn định của hệ thống ngân hàng.

Thứ ba, mức độ cạnh tranh ngành đo lường thông qua chỉ số Boone.

Kết quả hồi quy đã khẳng định sự cạnh tranh dẫn đến sự gia tăng chấp nhận rủi ro của các ngân hàng và do vậy, mức độ ổn định của ngân hàng giảm xuống.

Thứ tư, các yếu tố thuộc nội tại ngân hàng là quy mô vốn chủ sở hữu, quy mô ngân hàng và thanh khoản giúp cải thiện mức độ ổn định của ngân hàng trong khi thu nhập ngoài lãi và tỷ lệ chi phí trên thu nhập tác động tiêu cực đến ổn định ngân hàng.

Goetz (2018) 8412 ngân hàng thương mại tại Hoa Kỳ, giai đoạn 1978- 2006. Pool OLS Fixed effect

Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ cạnh tranh gia tăng sẽ (a) cải thiện hơn khả năng sinh lợi của NHTM, (b) giảm bớt sự biến động của lợi nhuận, (c) nâng cao chất lượng tài sản của ngân hàng; kết quả là cạnh tranh giúp củng cố sự lành mạnh của hệ thống ngân hàng.

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Như vậy, hiện tại có khá nhiều nghiên cứu về tác động của tập trung ngành, cạnh tranh đến ổn định ngân hàng, tuy nhiên, kết quả nghiên cứu vẫn còn nhiều khác biệt. Goetz (2018) cho rằng cạnh tranh sẽ giúp hệ thống ngân hàng ổn định hơn, ngược lại, nghiên cứu của Leroy & Lucotte (2017) và Saif-Alyousfi, Saha & Md-Rus (2018) đưa ra các bằng chứng cho thấy, cạnh tranh là gia tăng sự bất ổn của hệ thống ngân hàng. Nghiên cứu González, Razia, Búa & Sestayo (2017) đề xuất tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng lại có hình chữ U, nghĩa là giai đoạn đầu, cạnh tranh giúp cải thiển ổn định ngân hàng, tuy nhiên, khi vượt qua một ngưỡng nhất định, sự gia tăng về mức độ cạnh tranh sẽ làm xói mòn mức độ lành mạnh hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, đối với mức độ tập trung ngành, các nhà nghiên cứu đạt mức đồng thuận cao khi cho rằng tập trung ngành làm giảm sự ổn định của hệ thống ngân hàng (SaifAlyousfi, Saha & Md-Rus, 2018 và JItsma, Spierdijk & Shaffer, 2017). Ngoài ra, theo mức độ lược khảo của tác giả thì hiện nay chưa nhiều nghiên cứu về tác động của tập trung ngành, cạnh tranh ngành đến ổn định ngân hàng với nguồn dữ liệu tại Việt Nam, vì vậy, nghiên cứu này sẽ cung cấp thêm các bằng chứng thực nghiệm về vấn đề này để làm thông tin tham khảo cho những nhà hoạch định chính sách cũng như những nhà quản lý trong lĩnh vực ngân hàng trong việc thực thi các chính sách tiền tệ cũng nhưng các hoạt động giám sát nhằm duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng.

Kết luận chương 2

Chương 2 của đề tài đã trình bày các cơ sở lý thuyết về tập trung ngân hàng, cạnh tranh ngân hàng, ổn định ngân hàng cùng với tác động của cạnh tranh và tập trung ngành đến ổn định ngân hàng. Trong chương 2 này, tác giả cũng trình bày những nghiên cứu trước về tác động của tập trung, cạnh tranh ngành đến ổn định ngân hàng, theo đó, kết quả nghiên cứu cũng còn nhiều mâu thuẫn với nhau. Ngoài ra nghiên cứu về chủ đề này hiện tại đối với dữ kiện tại Việt Nam còn chưa nhiều, do vậy, luận văn được kỳ vọng sẽ lấp khoảng trống nghiên cứu này. Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: PPNC Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993